1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của viện trưởng việm kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

110 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong giai đoạn nước ta đang tiến hành cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thờ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

VÕ VĂN TÀI

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM

CỦA VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Trang 3

Luận văn là công trình nghiên cứu của chính Tác giả, là kết quả của quá trình lao động, sáng tạo trên cơ sở tham khảo các sách, báo, tài liệu pháp lý và các công trình nghiên cứu có liên quan của các Nhà khoa học, từ đó Tác giả xây dựng nên công trình khoa học của bản thân mình Tác giả cam kết danh dự không sao chép bất kỳ ý tưởng của các Nhà khoa học khác, nếu sai trái xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Người cam đoan

Võ Văn Tài

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá xây dựng đề tài, quí thầy cô Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là thầy Nguyễn Duy Hưng đã hướng dẫn tận tình và các đồng nghiệp trong Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tạo điều kiện thuận lợi cho Tác giả tiếp xúc các báo cáo, tài liệu có liên quan nên Tác giả mới hoàn thành được công trình khoa học này Vì vậy, Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quí thầy

cô, thầy Nguyễn Duy Hưng và các đồng nghiệp đã hỗ trợ cho Tác giả trong thời gian qua

Trang 5

1- CQĐT: Cơ quan điều tra

2- BLHS: Bộ luật hình sự

3- KTBC: khởi tố bị can

4- KTVA: khởi tố vụ án

5- TTHS: tố tụng hình sự

6- UBKS: Uỷ ban kiểm sát

7- UBTVQH: Uỷ ban thường vụ Quốc hội

8- VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VỀ CHỨC DANH VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 4

1.1 Hệ thống và chức năng của Viện kiểm sát nhân dân 4

1.1.1 Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân 4

1.1.2 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân 5

1.2 Khái niệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân 13

1.3 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao 15

CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 20

2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong quản lý, điều hành hoạt động tố tụng hình sự 20

2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng khi trực tiếp tiến hành tố tụng hình sự 44

2.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

44

2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

47

2.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự 50

2.2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 51

2.2.5 Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 59

2.3 Trách nhiệm của Viện trưởng trong tố tụng hình sự 62

Trang 7

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH

SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 67 3.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 67

3.1.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 67 3.1.2 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 72 3.1.3 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự 78 3.1.4 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 81 3.1.5 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 86

3.2 Một số kiến nghị 88

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn nước ta đang tiến hành cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị

quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư

pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ chính trị nhằm phát triển nền tư pháp Việt

Nam ngang tầm với thế giới, thì việc tiến hành sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống tổ chức

và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cũng như xác định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự là một nhu cầu khách quan Để thực hiện được vấn đề trên, thì trước hết phải làm rõ quy định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện trưởng và thực tiễn thực hiện những thẩm quyền của Viện trưởng trong tố tụng hình sự, từ đó tìm ra những mặt tích cực, hạn chế để tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra những kiến giải lập pháp và những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác trong thực tiễn Qua đó, đảm bảo mọi quyết định, hành

vi tố tụng của Viện trưởng trong thực tiễn luôn chính xác, khách quan và đúng luật,

góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp về hình sự của Viện kiểm sát đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền

Từ nhu cầu về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong trong

tố tụng hình sự” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Qua những quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự cho thấy địa vị pháp lý của Viện trưởng trong tố tụng hình sự rất quan trọng Nhưng thực tiễn chỉ có các nghiên cứu liên quan đến chức năng của Viện kiểm sát trong tố

tụng hình sự như: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thái Phúc về “Địa vị pháp lý của

Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự”, Luận văn thạc sĩ của Võ Phước

Long về “Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự” hay Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hữu Khoa về “Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”, Luận văn thạc sĩ của Trần Xuân

Quang về “Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử phúc

thẩm vụ án hình sự”… đối với nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm

của Viện trưởng thì hiện chỉ có Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của Lê Vũ Huy,

Trang 9

nhưng chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu cơ bản quy định của pháp luật hiện hành, chưa phân định được thẩm quyền nào của Viện trưởng là thuộc thẩm quyền trong lĩnh vực hành chính tư pháp, thẩm quyền nào thuộc lĩnh vực tố tụng hình sự, những bất cập trong quy định của pháp luật về thẩm quyền của Viện trưởng và thực tiễn thực hiện các thẩm quyền đó trong tố tụng hình sự

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những quy định của pháo luật tố tụng

hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp về hình sự cũng như quá trình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nói trên trong thực tiễn tố tụng hình sự

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: đề tài giới hạn nghiên cứu về nhiệm vụ,

quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân trong các giai đoạn tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện nhiện vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án

hình sự từ năm 2006 - 2010 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

4 Mục đích nghiên cứu đề tài

Luận văn phân tích, làm rõ quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong quản lý, điều hành công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ đó làm rõ thẩm quyền về hành chính và tư pháp của Viện trưởng, mối quan hệ giữa Viện trưởng và Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ tiến hành tố tụng hình sự; Thông qua khảo sát thực tiễn thực hiện chức trách của Viện trưởng địa phương để nêu lên những bất cập trong quy định của pháp luật và những hạn chế trong thực tiễn vận dụng để đưa ra những kiến giải lập pháp và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác và kết hợp với sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, tổng kết, thống kê… để làm sáng tỏ các vấn cần nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

- Về mặt lý luận: việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ phương diện

lý luận khoa học về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, làm rõ giới hạn thẩm quyền của Viện trưởng khi thực hiện việc chỉ đạo hoặc trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hình

sự, xác định rõ hơn về vai trò cũng như địa vị pháp lý của Viện trưởng trong tố tụng

Trang 10

hình sự

- Về mặt thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng trong tố tụng hình sự nhằm chỉ ra nhu cầu và sự cần thiết hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề trên; Đề tài cũng đưa ra những kiến nghị lập pháp góp phần đảm bảo quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân vừa mang tính kế thừa và vừa phù hợp với một nền tư pháp hiện đại

Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung đề tài dự kiến cơ cấu thành ba chương cụ thể như sau:

Chương I: Những vấn đề nhận thức về chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát

nhân dân;

Chương II: Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm

của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự;

Chương III: Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện

kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và một số kiến nghị

Trang 11

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VỀ CHỨC DANH

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 Hệ thống và chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.1 Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một trong bốn hệ thống cơ quan nhà nước trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960 Trải qua nhiều lần sửa đổi Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND, hệ thống VKSND vẫn được đảm bảo là một hệ thống độc lập trong bộ máy Nhà nước ta từ trung ương đến địa phương Hệ thống VKSND được tổ chức thành ba cấp tương ứng với ba cấp đơn vị hành chính gồm: VKSND tối cao, các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Viện kiểm sát cấp tỉnh) và các VKSND quận, huyện, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Viện kiểm sát cấp huyện) và các Viện kiển sát quân sự (Điều 30 Luật Tổ chức VKSND năm 2002) Vì phạm vi của đề tài giới hạn nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng VKSND trong tố tụng hình sự nên chúng tôi không nghiên cứu về hệ thống Viện kiểm sát quân sự

Trong cơ cấu tổ chức của VKSND tối cao gồm có Ủy ban kiểm sát, các Cục,

Vụ, Viện, Văn phòng, Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát và Viện kiểm sát quân sự trung ương; các chức danh tư pháp trong Viện kiểm sát tối cao gồm Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, kiểm sát viên và Điều tra viên (Điều 31 Luật Tổ chức VKSND năm 2002)

Đối với cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát cấp tỉnh gồm có Ủy ban kiểm sát, các phòng nghiệp vụ và văn phòng; các chức danh tư pháp trong Viện kiểm sát cấp tỉnh gồm Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên; đối với Viện kiểm sát cấp huyện cũng có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và kiểm sát viên, nhưng bộ máy của Viện kiểm sát cấp huyện chỉ gồm có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, các Phó Viện trưởng phụ trách (Điều 34, Điều 36 Luật Tổ chức VKSND 2002)

Viện kiểm sát hoạt động theo nguyên tắt tập trung, thống nhất lãnh đạo trong Ngành, Viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên, Viện trưởng Viện kiểm sát địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao (Điều 8 Luật Tổ chức VKSND 2002)

Trên cơ sở Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020 (gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW) và Kết luận số

Trang 12

79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa

án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra (gọi tắt là Kết luận số KL/TW), hệ thống Viện kiểm sát nhân dân sẽ được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ vào đơn vị hành chính Viện kiểm sát sẽ được đổi mới tổ chức bộ máy thành bốn cấp: Viện kiểm sát tối cao, Viện kiểm sát cấp cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh và Viện kiểm sát khu vực1 Về nguyên tắc hoạt động vẫn theo nguyên tắt tập trung, thống nhất, Viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao2

79-1.1.2 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

Từ khi thành lập ngày 26/7/1960, mặc dù qua nhiều lần tiến hành đổi mới tổ chức, hoạt động nhằm không ngừng nâng cao hơn nữa hiệu quả, chất lượng công tác và về mặt khoa học pháp lý còn nhiều tranh cãi về chức năng của Viện kiểm sát, nhưng pháp luật thực định luôn quy định cho Viện kiểm sát các nhiệm vụ và quyền hạn để thực hiện chức năng giám sát việc tuân thủ pháp luật (của các cơ quan, tổ chức và công dân) và thực hiện các quyền năng theo quy định nhằm truy tố hành vi phạm tội ra trước Tòa án Đến năm 2001, khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung và sự ra đời của Luật tổ chức VKSND năm 2002 (gọi tắt Luật tổ chức VKSND) thì việc quy định VKSND có hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp một cách rõ ràng hơn (Điều 137 Hiến pháp và Điều

1 Luật tổ chức VKSND)

Xuất phát từ nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát có thể khẳng định những nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật quy định nhằm đảm bảo cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng chính là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Vì vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu về hai chức năng trên để từ đó làm cơ sở khoa học, pháp lý cho việc nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND trong tố tụng hình sự

* Chức năng thực hành quyền công tố

Ở nước ta, thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” được đề cập chính thức lần

đầu tiên trong Hiến pháp năm 1980 (Điều 138) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân

dân năm 1981 (Điều 1, Điều 3) Như vậy, bên cạnh khái niệm truyền thống “Kiểm

Trang 13

sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “Quyền công tố” và “Thực hành quyền công tố” trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân3

Về khái niệm “Quyền công tố”, qua nghiên cứu các tài liệu về khoa học pháp

lý, chúng tôi nhận thấy trong những công trình nghiên cứu đó có những quan điểm như sau:

Quan điểm thứ 1: Tác giả đại diện quan điểm này cho rằng Quyền công tố là

quyền của Nhà nước truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án, thực hành quyền công tố

là thực hiện buộc tội tại Tòa án Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự và ngay trong tố tụng hình sự cũng chỉ ở giai đoạn xét xử mà thôi Tác giả còn kết luận, không một cơ quan Nhà nước nào có thể thay thế VKSND thực hành quyền công tố4

Quan điểm thứ 2: Xuất phát từ các quyền năng đặc biệt của Viện kiểm sát

trong tố tụng hình sự, quan điểm này đưa ra khái niệm như sau: Hai mặt kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hiện những quyền năng (như quyết định bắt giam, truy tố buộc tội tại phiên tòa, kháng nghị các bản án…) gắn chặt với nhau hợp thành quyền công tố5

Quan điểm thứ 3: Quan điểm này định nghĩa Quyền công tố là quyền của Nhà

nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân đại diện cho Nhà nước đưa các hành vi vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước6

Quan điểm thứ 4: Những người theo quan điểm này cho rằng tất cả các hoạt

động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là thực hành quyền công tố7

Khi phân tích các quan điểm nói trên chúng tôi nhận thấy các quan điểm ở những khía cạnh nhất định đều có những hạt nhân hợp lý cũng như hạn chế Quan điểm thứ nhất giới hạn phạm vi quyền công tố trong giai đoạn xét xử là quá hẹp, đồng thời không cho thấy các quyền năng mà pháp luật quy định cho Viện kiểm sát thực hiện trong giai đoạn khởi tố, điều tra cũng thuộc phạm vi thực hành quyền công tố; quan điểm thứ hai có sự nhầm lẫn giữa quyền năng mà pháp luật quy định cho Viện kiểm sát để thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật với chức năng thực hành quyền công tố; quan điểm thứ ba mở rộng phạm vi quyền công

tố trong cả lĩnh vực tố tụng dân sự và hình sự đã xóa nhòa ranh giới giữa hai lĩnh vực tố tụng thuộc hai ngành luật khác nhau và quan điểm thứ tư thì đồng nhất tất cả       

3 Nguyễn Thái Phúc (1995), Một số vấn đề về quyền công tố của VKSND, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ của Viện

kiểm sát nhân dân Tối cao, Hà Nội, tr.127

Trang 14

các hoạt động của Viện kiểm sát trong các khâu kiểm sát (như kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp, kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam…) đều là hoạt động thực hành quyền công tố

Khi làm rõ nội dung Quyền công tố, chúng tôi cho rằng Tiến sỹ Nguyễn Thái Phúc rất có lý khi đưa ra những vấn đề như sau:

- Theo nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước ta, Viện kiểm sát là cơ quan được Quốc hội giao quyền giám sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo tăng cường pháp chế Vì vậy, tất yếu Quốc hội phải thừa nhận cho Viện kiểm sát những quyền năng nhất định để Viện kiểm sát thực hiện chức năng giám sát của mình đạt hiệu quả Quyền năng đó chính là quyền công tố và cũng chỉ Viện kiểm sát mới có quyền này như phát biểu của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị ngành Kiểm sát năm

1967: “Công tố là một biện pháp chuyên chính trong bất cứ Nhà nước nào Không

có cơ quan Nhà nước nào có thể thay thế Ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố”8

- Trong hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát không chỉ giám sát hoạt động diễn ra trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn thực hiện giám sát trong lĩnh vực tố tụng dân sự, thi hành án… Mỗi lĩnh vực có những nguyên tắc đặc thù khác nhau nên trong hoạt động giám sát của mình, Viện kiểm sát tất yếu phải có những thẩm quyền, hình thức và phương pháp thích hợp Như trong tố tụng hình sự

có nguyên tắc đặc thù là “nguyên tắc công tố”9, nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng…; còn trong lĩnh vực tố tụng dân sự thì nguyên tắc đặc thù là tự định đoạt, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự

…Vì vậy, khi tham gia vào lĩnh vực tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có phương thức, thẩm quyền khác hẳn khi tham gia vào lĩnh vực tố tụng dân sự Từ đó, bất kỳ quyền năng nào của Viện kiểm sát cũng phải được xem xét trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể nào đó

- Như đã phân tích, nguyên tắc đặc thù của tố tụng hình sự là nguyên tắc công

tố, nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Sự xuất hiện, phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và chấm dứt của tố tụng hình

sự là vì lợi ích công, không phụ thuộc ý chí của người tham gia tố tụng Vì vậy, thẩm quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, hay nói cách khác, thẩm quyền buộc tội phải do cơ quan nhân danh Nhà nước tiến hành

- Mục đích của hoạt động tố tụng hình sự là nhằm phát hiện người phạm tội để buộc họ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý vì những lỗi lầm của mình Hoạt động       

8

 Trần Quốc Vượng, Sđd, tr.11

9

 Nguyễn Thái Phúc (1995), Sđd, tr.134

Trang 15

truy cứu trách nhiệm hình sự hướng đến đối tượng, chủ thể cụ thể, như vậy, “nội

dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội”10 là những thẩm quyền cụ thể, không phải là những thẩm quyền chung chung

Từ các cơ sở nêu trên, chúng tôi cho rằng Quyền công tố là quyền của Nhà

nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân nhân danh Nhà nước thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm đối với người phạm tội11

Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố hiện nay vẫn còn nhiều ý

kiến khác nhau Nhưng theo chúng tôi, quyền công tố “bắt đầu từ khi có tội phạm

xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật”12

Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi mọi tội phạm xảy ra phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự, có tội phạm xảy ra tức là đã phát sinh quyền công tố Để tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền công tố, pháp luật đã quy định cho Viện kiểm sát các quyền năng để phát hiện tội phạm và người phạm tội, bảo đảm mọi tội phạm và người phạm tội phải được khởi tố điều tra theo quy định của pháp luật Như vậy, việc cho rằng quyền công tố chỉ bắt đầu khi có quyết định khởi

tố vụ án là chưa phù hợp về mặt lý luận cũng như pháp luật thực định và không lý giải được việc Viện kiểm sát yêu cầu khởi tố vụ án, thực hiện viện phê chuẩn bất khẩn cấp, quyết định gia hạn tạm giữ, là thực hiện quyền năng gì

Trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phải không ngừng phối hợp với Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ chứng minh cho việc khởi tố vụ án, bị can là có cơ

sở nhằm tạo tiền đề cho Viện kiểm sát truy tố bị can ra trước Tòa án Tại phiên tòa

sơ thẩm hình sự, đại diện Viện kiểm sát vận dụng các quyền năng theo quy định của pháp luật để chứng minh cho quyết định truy tố và đưa ra lời luận tội đề nghị Tòa án

ra phán quyết kết tội bị cáo Khi bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát vận dụng các quyền năng của mình đề nghị Tòa án giữ nguyên, sửa hoặc hủy án đối với bản án tuyên bị kháng cáo, kháng nghị Như vậy, quyền công tố kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật là hợp lý hơn cả

Quyền công tố là tổng hợp các quyền năng khác nhau như: Quyền khởi tố vụ

án, khởi tố bị can, quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra, quyền truy tố… Với rất nhiều quyền năng được pháp luật trang bị, cơ quan được trao quyền công tố sẽ nhân danh nhà nước phát động sự buộc tội đối với những       

Trang 16

người bị cho là đã thực hiện hành vi phạm tội cũng là chính thức phát động quá trình tố tụng hình sự Tiếp theo là quá trình thu thập các chứng cứ để chứng minh hành vi và cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, làm rõ hành vi đó vi phạm điều khoản nào trong Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi gây ra cho xã hội và những vấn đề mà Viện kiểm sát phải trả lời để chứng minh cho sự cáo buộc của mình là đúng đắn Tại phiên tòa, quá trình chứng minh tiếp tục được thực hiện công khai bằng các hoạt động của Kiểm sát viên như thẩm vấn, đưa

ra chứng cứ chứng minh thông qua lời luận tội nhằm bảo vệ việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Những hoạt động nói trên của Viện kiểm sát chính là việc

“thực hành quyền công tố”

Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi mọi tội phạm xảy ra phải được phát hiện và xử lý

nghiêm minh theo pháp luật hình sự, có tội phạm xảy ra tức là có “nhu cầu pháp lý

phát động quá trình thực hành quyền công tố” Khi cơ quan chức năng tiến hành

việc tiếp nhận tin báo, tố giác, thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm và kết luận có tội phạm xảy ra thông qua quyết định khởi tố vụ án thì quá trình thực hành quyền công

tố mới chính thức bắt đầu Điều này cũng đủ chứng minh thời điểm phát sinh thực

hành quyền công tố thông thường muộn hơn thời điểm phát sinh quyền công tố

Như chúng tôi đã phân tích, trong suốt quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố

vụ án, Viện kiểm sát phải liên tục sử dụng các quyền năng nhằm đảm bảo hành vi phạm tội phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, đến khi vụ việc trên được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì mới có thể xem Viện kiểm sát đã hoàn tất vai trò, nhiệm vụ của mình đối với vụ án hình sự Thời điểm đó

cũng chính là thời điểm kết thúc quá trình thực hành quyền công tố

Tuy nhiên không phải lúc nào việc thực hành quyền công tố cũng kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, mà nó có thể bị triệt tiêu ở những giai đoạn tố tụng sớm hơn Khi quyền công tố bị triệt tiêu thì thực hành quyền công tố cũng không còn tồn tại Đó là những trường hợp phải đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án theo quy định tại các Điều 164, 169 Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự bị chấm dứt nữa chừng không có nghĩa là ở những trường hợp đó không có thực hành quyền công tố Việc thực hành quyền công tố không đi đến giai đoạn cuối cùng là do nguyên nhân khách quan Ở giai đoạn mà Viện kiểm sát thực hiện các quyền năng cùng Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm trước

khi vụ án bị đình chỉ vẫn tồn tại việc thực hành quyền công tố nhưng nó chỉ bị “đứt

đoạn” mà thôi

Như vậy, Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng

pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; thời điểm thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự

Trang 17

(hoặc có thể sớm hơn, từ khi có quyết định tạm giữ) và kết thúc khi bản án của Tòa

án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật13

* Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Để làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, chúng tôi thấy cần phải làm rõ về quyền tư pháp và hoạt động tư pháp

Theo Từ điển tiếng Việt thì Tư pháp là “việc xét xử các hành vi phạm pháp và

các vụ kiện tụng trong nhân dân”14 Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử,

là nơi mà người dân đi tìm công lý, đi tìm sự phán xét công bằng đối với những tranh chấp Như vậy, Tư pháp có nghĩa là công lý, là sự phán xét Theo ngữ nghĩa trên, thì chỉ có Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp và chỉ hoạt động xét xử của Tòa án mới là hoạt động tư pháp

Đồng ý với ý nghĩa này, có học giả cho rằng, chủ thể thực hiện quyền tư pháp không phải bất kỳ cơ quan nào khác mà chỉ là Tòa án Quyền tư pháp là năng lực và khả năng riêng của cơ quan Tòa án chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước, thực hiện để tác động đến hành vi của con người, đến các quá trình xã hội15

Quan điểm khác cho rằng, tư pháp với ý nghĩa chung nhất là ý tưởng về một nền công lý, đòi hỏi mọi việc giải quyết tranh chấp trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng, bảo đảm lòng tin của nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn về mặt pháp lý cho cá nhân cũng như cho sự ổn định và phát triển xã hội16

Ngoài ra, thuật ngữ tư pháp còn được dùng để chỉ một bộ phận của hệ thống

pháp luật quốc gia, nơi mà pháp luật được chia thành “công pháp” và “tư pháp”

Công pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất công, như luật hình sự, luật hành chính, luật tố tụng hình sự…; còn tư pháp gồm các ngành luật đều chỉnh những quan hệ xã hội có tính chất tư, như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại17

Lịch sử đấu tranh chống lại sự chuyên chế lạm quyền của xã hội loài người đã đến với tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước thành các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, mỗi lĩnh vực do một cơ quan nhà nước nắm giữ, quyền lực nhà nước có sự chế ước lẫn nhau nhằm tránh sự lạm quyền Nói đến cơ quan thực       

Trang 18

hiện quyền tư pháp là nói đến cơ quan Tòa án - Cơ quan đặc trưng của quyền tư pháp Tuy nhiên, nếu cho rằng chỉ có quyền xét xử của Tòa án mới là quyền tư pháp

là hiểu theo nghĩa hẹp Trong quá trình phát triển của lịch sử, sự đan xen trong việc

tổ chức thực hiện các lĩnh vực quyền lực nhà nước diễn ra như một tất yếu Tùy theo điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và truyền thống pháp luật của từng quốc gia mà hình thành nên quan điểm khác nhau về cơ quan tư pháp và hoạt động

tư pháp Dù hiểu theo cách nào đi nữa thì một nội dung không thể phủ nhận là các

quốc gia luôn có chung nhận định xem “Tòa án là trung tâm của hoạt động tư pháp,

nhưng Tòa án không phải là chủ thể duy nhất tiến hành hoạt động tư pháp”18 Hoạt động tư pháp còn có nhiều cơ quan khác thực hiện, như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát…, nhưng tất cả đều có chung mục đích nhằm đảm bảo cho Tòa án ra phán quyết đúng pháp luật, đúng với thực tế

Như vậy, theo chúng tôi, quyền tư pháp được hiểu là một lĩnh vực của quyền

lực nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thực hiện một số thẩm quyền về tư pháp nhằm phán xét về các tranh chấp pháp luật hoặc vi phạm pháp luật và thi hành các phán xét đó19

Nghiên cứu lịch sử các cơ quan tư pháp nước ta cho thấy, cùng với sự hình thành Tòa án các cấp, cơ quan công tố cũng dần dần hình thành trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật20 trong bộ máy nhà nước ta để cùng đấu tranh chống các hành vi phạm tội nhằm giữ vững trật tự kỷ cương, bảo vệ chính quyền cách mạng và lợi ích của nhân dân Đến năm 1960, trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được ban hành tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân thành một hệ thống cơ quan độc lập chỉ đặt dưới sự giám sát của

cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội Kể từ khi Viện công tố được thành lập và sau này là Viện kiểm sát nhân dân, trên thực tế hệ thống Viện kiểm sát tồn tại như một bộ phận hợp thành nhánh quyền lực tư pháp Các Nghị quyết của Đảng về đổi mới, cải cách tư pháp (như Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị) đã nêu rõ nội dung cải cách tư pháp bao gồm việc sắp xếp lại tổ chức và nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, kiện toàn tổ chức Cơ quan thi hành án, củng cố và tăng cường các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, tiến tới thành lập Cảnh sát tư pháp

Nội dung trên cho thấy, cơ quan tư pháp ở nước ta luôn được hiểu theo nghĩa       

Trang 19

rộng, cơ quan tư pháp không chỉ có Tòa án mà còn bao gồm cả cơ quan Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi hoạt động của các cơ quan này chính

là hoạt động tư pháp Tuy nhiên, không phải tất cả hoạt động của các cơ quan trên đều là hoạt động tư pháp, mà chỉ có hoạt động nhằm phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án được đúng đắn, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật, không làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm và mọi phán quyết của Tòa án đều được chấp hành trên thực tế thì những hoạt động đó mới được gọi là hoạt động tư pháp

Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “Kiểm sát” có nghĩa là “kiểm tra và giám

sát”21 Kiểm sát là chức năng mà pháp luật giao cho Viện kiểm sát thực hiện để kiểm tra và giám sát việc tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật của các cơ quan tư pháp Vì vậy, có thể hiểu nội dung kiểm sát các hoạt động tư pháp là kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, hoạt động của Cơ quan thi hành án, Cơ quan được giao nhiệm thực hiện một số hoạt động thi hành án

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, kiểm sát hoạt động tư pháp là chức

năng Hiến định của Viện kiểm sát, có nội dung kiểm ra và giám sát hoạt động của

cơ quan tư pháp và cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trong tố tụng hình sự, việc thực hiện chức năng kiểm sát là kiểm sát sự tuân thủ pháp luật trong khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, kiểm sát hoạt động xét xử về hình sự của Tòa án,… nhằm đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Mục đích của việc thực hiện chức năng kiểm sát nhằm góp phần vào việc giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác, tránh làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, đồng thời đảm

bảo cho bản án hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh trên thực tế

Hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện do những cá nhân có thẩm quyền, vì vậy quá trình kiểm sát phải hướng đến hoạt động của các chủ thể đó Ngoài ra, trong tố tụng hình sự còn có sự tham gia của các chủ thể khác mà vì nguyên nhân khác nhau họ đã bị cuốn vào vòng tố tụng như: bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Như vậy, hoạt động kiểm       

21

 Viện ngôn ngữ học, Sđd, tr.676

Trang 20

sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình không chỉ là kiểm sát các tuân theo pháp luật của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong tố tụng mà còn hướng đến

cả những hoạt động của người tham gia tố tụng

Như vậy, Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là một dạng

thực hiện chức năng của Viện kiểm sát để kiểm tra và giám sát các hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tránh làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm

Trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay có nhiều ý kiến đề nghị cần nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố và xem xét lại chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát Tuy nhiên, Nghị quyết số 49-NQ/TW khẳng

định: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân vẫn giữ nguyên chức năng như hiện nay

là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, đồng thời Kết luận

số 79-KL/TW tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát có hai chức năng trên Như vậy, trong thời gian tới, Viện kiểm sát tiếp tục thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

1.2 Khái niệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ Viện trưởng được hiểu là “người đứng đầu

lãnh đạo một viện”22 Như vậy, “Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân là người đứng

đầu, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân”

Xuất phát từ chức năng của VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát

các hoạt động tư pháp, có quan điểm cho rằng “Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

là người đứng đầu cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”23

Quan điểm trên đã làm rõ được những yếu tố quan trọng như đã chỉ ra được vị trí, vai trò của Viện trưởng là người đứng đầu, lãnh đạo cơ quan VKSND; nội dung lãnh đạo của Viện trưởng đối với VKSND là lãnh đạo thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật; mục đích của việc thực hiện chức năng giám sát của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Vì vậy, trong quá trình

sử dụng các quyền năng, trước hết VKSND nói chung và Viện trưởng nói riêng phải căn cứ và tuân thủ đúng quy định của Luật Tổ chức VKSND, Bộ luật tố tụng hình

sự, Bộ luật hình sự (BLHS), Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Luật thi hành án       

22

 Viện ngôn ngữ học, Sđd, tr.1427

23

 Viện khoa học pháp lý, Sđd, tr.856

Trang 21

hình sự,… và các văn bản hướng dẫn thi hành Khi có sự tuân thủ pháp luật từ phía chủ thể thực hiện quyền giám sát thì chủ thể đó mới có thể đại diện cho công quyền yêu cầu sự tuân thủ pháp luật từ đối tượng được giám sát và như vậy, hiệu quả của việc giám sát mới không ngừng được nâng lên, Pháp chế ngày càng được tăng cường

Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm trên vẫn còn có những vấn đề chưa được làm rõ như nội dung khái niệm chưa nêu lên được hình thức pháp

lý hình thành chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát, mục đích của chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Để có cơ sở đưa ra khái niệm Viện trưởng VKSND, chúng tôi thấy ngoài những vấn đề đã phân tích từ khái niệm nêu trên cần nghiên cứu thêm những nội dung như sau:

Tại Điều 84 Hiến pháp năm 1992 quy định Quốc hội có thẩm quyền bầu chức danh Viện trưởng VKSND và Điều 103 quy định Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu chức danh trên Kết hợp quy định của hai điều luật trên của Hiến

pháp, Điều 9 Luật tổ chức VKSND quy định: “Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

tối cao do Quốc hội bầu,…theo đề nghị của Chủ tịch nước”

Trên cơ sở các Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước chọn người có đủ phẩm chất

và năng lực có thể lãnh đạo, điều hành công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp để đề nghị Quốc hội bầu vào chức vụ Viện trưởng VKSND tối cao

Theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật Tổ chức VKSND, thì Viện trưởng VKSND tối cao có quyền quyết định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát địa phương; và theo quy định của Điều 29 Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND thì Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh theo đề nghị của Ủy ban kiểm sát (UBKS) cấp tỉnh, bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện theo

đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh Như vậy, trình tự bổ nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát địa phương do Viện trưởng hoặc Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát cấp tỉnh đề nghị, căn cứ nhu cầu công tác, trình độ, năng lực của Kiểm sát viên được đề nghị, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao xem xét quyết định việc bổ nhiệm chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát địa phương

Bất kỳ hệ thống pháp luật nào cho dù có tiến bộ và hoàn thiện ở trình độ nào đi nữa, nhưng nếu nó không được tuân thủ đầy đủ thì pháp luật đó cũng chỉ là hình thức, nó không đi vào thực tiễn của cuộc sống, những kỳ vọng, mục tiêu cao đẹp mà

nó hướng tới sẽ không thành hiện thực Cho nên, việc hình thành cơ quan giám sát việc chấp hành pháp luật là tất yếu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Ở Việt Nam chúng ta, cơ quan đó chính là Viện kiểm sát - Cơ quan được giao thực hiện

Trang 22

chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Mục đích của việc thực hiện chức năng trên là nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự, không làm oan sai người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Bên cạnh quá trình thực hiện công tác thực hành quyền công tố, thì Viện kiểm sát cũng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp đảm bảo việc khởi

tố, điều tra, xét xử về hình sự và quá trình giải quyết các tranh chấp về dân sự, hành chính, kinh tế,… của Tòa án, việc thi hành án và giam giữ, cải tạo người phạm tội diễn ra theo đúng trình tự thủ tục pháp luật đã quy định Vì vậy, với tư cách là người lãnh đạo VKSND, Viện trưởng phải thực hiện trách nhiệm chỉ đạo, điều hành công tác mà pháp luật giao cho Viện kiểm sát đạt hiệu quả

Từ những nội dung trên, chúng tôi nhận thấy có thể định nghĩa: Viện trưởng

Viện kiểm sát nhân dân là người đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân do được bầu hoặc được bổ nhiệm để lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đảm bảo cho quy định của pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Viện kiểm sát do Viện truởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao Vì vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu về Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao

1.3 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Như đã làm rõ ở mục 1.2, Viện trưởng VKSND tối cao do Quốc hội bầu theo

đề nghị của Chủ tịch nước để lãnh đạo VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Trong quá trình lãnh đạo ngành kiểm sát thực hiện chức năng, Viện trưởng VKSND tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn, kiến nghị của các Đại biểu Quốc hội Việc lãnh đạo Viện kiểm sát thực hiện chức năng nhằm đảm bảo cho quy định của Hiến pháp và pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Vì vậy,

theo chúng tôi: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là người đứng đầu Viện

kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu để lãnh đạo hệ thống Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đảm bảo cho quy định của pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Viện trưởng VKSND tối cao đối với ngành Kiểm sát nhân dân, chúng tôi thấy cần thiết phải tìm hiểu về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm mà pháp luật quy định cho Viện trưởng VKSND tối cao trong tố

Trang 23

tụng hình sự (TTHS)

Theo Điều 33 Luật tổ chức VKSND, thì Viện trưởng VKSND tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

Thứ nhất: Thẩm quyền lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác thực

hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự, quyết định những vấn đề

về công tác kiểm sát hình sự không thuộc thẩm quyền của Ủy ban kiểm sát

Căn cứ tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, tình hình tội phạm trong nước và quốc tế, kết hợp với việc đánh giá kết quả công tác toàn ngành trong năm, UBKS thảo luận và quyết định phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch công tác chống tội phạm trong năm tới Từ cơ sở kế hoạch công tác đã được thông qua tại UBKS, Viện trưởng tổ chức và chỉ đạo thực hiện nhằm đảm bảo đạt mục tiêu đã đề

ra Trong quá trình lãnh đạo thực hiện kế hoạch, khi tình hình kinh tế - xã hội, tình hình tội phạm có những thay đổi, biến chuyển mà kế hoạch công tác chưa dự liệu hết thì Viện trưởng có quyền điều chỉnh, bổ sung kế hoạch Ngoài những vấn đề về công tác kiểm sát được quy định tại khoản 2 Điều 32 như đã nêu trên phải được thảo luận và quyết định bởi đa số thành viên UBKS, những vấn đề khác liên quan đến công tác kiểm sát hoạt động tố tụng và thực hành quyền công tố, Viện trưởng phải quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình, như chỉ đạo hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, hợp tác quốc tế về chống tội phạm xuyên quốc gia, nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, Kiểm sát viên trong ngành, xây dựng cơ sở vật chất nhằm tạo điều thuận lợi cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự

Thứ hai: Thẩm quyền ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư; hướng dẫn thực

hiện thống nhất khâu công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự

Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao có thẩm quyền ban hành văn bản pháp quy điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật hình sự và TTHS như Quyết định về việc ban hành quy chế công tác thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, Quyết định về việc ban hành quy chế kiểm sát xét xử vụ án hình sự, Chỉ thị về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của BLHS năm 1999,… và phối hợp các cơ quan tư pháp trung ương ban hành thông tư liên ngành hướng dẫn thực hiện quy định của BLHS, Bộ luật TTHS

Thứ ba: Thẩm quyền chỉ đạo kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và

kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự trong ngành kiểm sát

Hoạt động kiểm tra có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý nhà nước, nó đảm bảo hoạt động của các cơ quan thuộc Viện kiểm sát tối cao vận hành theo phương

Trang 24

hướng đã đề ra, mọi sai sót sẽ được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời Hoạt động kiểm tra vừa là quyền và cũng là nhiệm vụ mà Viện trưởng phải thực hiện nhằm bảo đảm cho việc lãnh đạo thực hiện phương hướng, kế hoạch công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS đạt hiệu quả

Thứ tư: Thẩm quyền trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc thành

lập các vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát địa phương

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát tối cao bao gồm bao nhiêu Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với những nhiệm vụ và quyền hạn gì thì do UBKS thảo luận và quyết định theo đa số Khi cơ cấu tổ chức bộ máy được biểu quyết thông qua, Viện trưởng tiến hành trình UBTVQH phê chuẩn Đối với cơ cấu

bộ máy Viện kiểm sát địa phương (gồm Viện kiểm sát cấp huyện và tỉnh hiện nay)

do Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao quyết định Tùy theo tình hình tội phạm và tranh chấp trong nhân dân mà cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý giải quyết ở từng địa phương, Viện trưởng quyết định mỗi đơn vị Viện kiểm sát cấp tỉnh có bao nhiêu phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS, số lượng biên chế, chức vụ lãnh đạo trong từng đơn vị nghiệp vụ và quyết định số lượng biên chế, chức

vụ lãnh đạo trong từng đơn vị cấp huyện

Theo chủ trương cải cách tư pháp hiện nay, bộ máy của Viện kiểm sát sẽ được

tổ chức thành bốn cấp không theo đơn vị hành chính, gồm Viện kiểm sát tối cao, Viện kiểm sát cấp cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh và Viện kiểm sát khu vực Như vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao có thẩm quyền quyết định bộ máy làm việc gồm những Viện kiểm sát cấp nào, có Viện kiểm sát cấp cao hay không? Vấn đề này hiện nay trong đề án cải cách tổ chức bộ máy Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách

tư pháp của Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát tối cao vẫn chưa đề cập đến

Thứ năm: Thẩm quyền chỉ đạo việc xây dựng và trình dự án luật, pháp lệnh

theo quy định của pháp luật và đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích luật nhằm đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được áp dụng thống nhất

Xuất phát từ thực tiễn nhận thấy các quy định của pháp luật thực định liên quan đến công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tố tụng bộc lộ những hạn chế so với sự biến chuyển của các quan hệ xã hội hoặc có những lĩnh vực trong đời sống xã hội liên quan đến hoạt động thực hiện chức năng chưa được pháp luật điều chỉnh, theo sự phân công của Quốc hội, UBTVQH, Viện trưởng chỉ đạo xây dựng dự án luật, pháp lệnh sau đó đưa ra UBKS thảo luận và quyết định việc trình dự án luật, pháp lệnh cho Quốc hội, UBTVQH xem xét Khi đa số thành viên UBKS đồng ý, thì Viện trưởng mới trình các dự án luật, pháp lệnh theo quy

Trang 25

định Và trong quá trình áp dụng pháp luật, nhận thấy có những quy định của pháp luật tố tụng hình sự cần phải có sự giải thích chính thức mới có thể vận dụng được vào thực tiễn, thì Viện trưởng đề nghị UBTVQH giải thích luật

Tuy nhiên, trong TTHS luôn tồn tại mối quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát với Tòa án, nên mặc dù pháp luật quy định Viện kiểm sát mà cụ thể là Viện trưởng có thẩm quyền như đã nêu trên, nhưng Viện kiểm sát trong quá trình chỉ đạo xây dựng các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, UBTVQH theo quy định đều phải phối hợp các cơ quan hữu quan như Bộ công an, Tòa án tối cao,… thì văn bản quy phạm pháp luật (dự thảo) mới có thể phản ánh đầy đủ các vấn đề sinh động của thực tiễn, mới mang tính khả thi và nhận được sự đồng thuận cao

Thứ sáu: Thẩm quyền trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về những trường

hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình

Theo Điều 258 Bộ luật TTHS năm 2003 (Bộ luật TTHS), trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được bản án tử hình có hiệu lực pháp luật và hồ sơ vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án Trường hợp Viện trưởng quyết định không kháng nghị bản án tử hình thì phải trình ý kiến của mình với Chủ tịch nước Bản án tử hình chỉ được đưa ra thi hành khi cả Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao, Chánh án Tòa án tối cao quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án và Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của người

bị kết án Như vậy, việc Viện trưởng trình ý kiến của mình về những trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình là trình ý kiến về việc có kháng nghị bản án hay không và ý kiến về sự cần thiết phải thi hành án tử hình

Thứ bảy: Thẩm quyền tổ chức thống kê tội phạm

Thống kê tội phạm là hình thức báo cáo định kỳ kết quả công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát về diễn biến của tình hình tội phạm tăng, giảm như thế nào so với cùng kỳ, cơ cấu tội phạm như tội phạm tái phạm, tội chưa thành niên, giới tính, nhân thân người phạm tội,… thay đổi ra sao nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu tội phạm, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả Đồng thời, tại Điều 5 Luật tổ chức VKSND cũng quy định, VKSND chịu trách nhiệm thực hiện việc thống kê tội phạm Để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện tốt công tác thống kê tội phạm, Điều luật quy định trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng khác có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ này nhằm đảm bảo việc thu thập, tổng hợp, phân tích và công bố số liệu thống kê hình sự, thống kê tội phạm trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến

Trang 26

hành tố tụng được chính xác, giúp cho việc đề ra các chính sách phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả

Thứ tám: Thẩm quyền tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao bàn về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật tố tụng hình

sự

Điều 22 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật được thông qua phải có sự tham dự và chấp thuận của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp Trong quá trình Tòa án thực hiện hoạt động xét xử hình sự, luôn hiện hữu hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền phản ứng đối với các quyết định, hành vi của Thẩm phán được phân công xét xử vụ án mà Viện trưởng nhận thấy không đúng với quy định của pháp luật bằng hình thức kháng nghị hoặc kiến nghị Nên việc hướng dẫn áp dụng pháp luật TTHS của Tòa

án nhân dân tối cao phải có sự tham gia Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao nhằm tạo

sự thống nhất áp dụng trong thực tiễn Ngoài ra, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao còn có những thẩm quyền trong tố tụng hình sự mà chúng tôi sẽ nghiên cứu trong phần nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng trong TTHS

Kết luận: VKSND là một hệ thống cơ quan độc lập được tổ chức thành ba cấp

từ trung ương đến địa phương hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, đứng đầu là Viện trưởng - người được bầu hoặc bổ nhiệm để lãnh đạo Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đảm bảo cho quy định của Hiến pháp và pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Với vị trí là người đứng đầu cơ quan kiểm sát, pháp luật trang bị cho Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao có những thẩm quyền như lãnh đạo việc thực hiện công tác của ngành kiểm sát, ban hành các chỉ thị, quy chế công tác, chỉ đạo việc kiểm tra hoạt động thực hiện chức năng trong toàn ngành; trình Quốc hội và UBTVQH các dự án luật, pháp lệnh về tố tụng hình sự, tổ chức thống kê tội phạm nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho cơ quan chức năng xây dựng các chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, và các nhiệm vụ, quyền hạn trong TTHS để Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao thực hiện hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tố tụng

Trang 27

CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN TRƯỞNG

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong quản lý, điều hành hoạt động tố tụng hình sự

Điều 36 Bộ luật TTHS không quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn nào của Viện trưởng là thuộc công tác quản lý, điều hành và nhiệm vụ, quyền hạn nào thuộc phạm vi trực tiếp tiến hành tố tụng Nhưng theo chúng tôi, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng có hai dạng: nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý, điều hành hoạt động TTHS và nhiệm vụ, quyền hạn trong trực tiếp tiến hành TTHS

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong quản lý, điều hành phản ánh vị trí

và vai trò quan trọng của Viện trưởng trong TTHS, khi nhiệm vụ, quyền hạn trên được thực hiện đầy đủ và có trách nhiệm sẽ đảm bảo cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tố tụng đạt hiệu quả Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng là cần thiết Trước tiên, chúng tôi đi vào nghiên cứu các khái niệm, thuật ngữ có liên quan để tạo điều kiện cho việc lý giải nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong TTHS

Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ Nhiệm vụ được hiểu là “công việc phải

làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định”24 Công việc trong trường hợp này là công việc xã hội, mục đích của việc thực hiện công việc nhằm hướng đến lợi ích cộng đồng Khi chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội làm phát sinh sự ràng buộc chủ thể phải thực hiện một công việc hoặc hành vi nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác thì việc phải thực hiện đó gọi là nghĩa vụ Như vậy, công việc phải làm của nhiệm vụ thường mang tính chất “công”, còn công việc phải làm của nghĩa vụ thì thường mang tính chất “tư”

Đối với thuật ngữ Quyền hạn được hiểu là “Quyền của một cơ quan, tổ chức

hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật”25 Tùy theo nội dung hoạt động rộng hay hẹp, lĩnh vực hoạt động có tầm quan trọng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chức vụ, cấp bậc cao hay thấp trong cơ quan, tổ chức và hoạt động diễn ra trong không gian nào, thành thị, nông thôn hay biên giới, hải đảo, trong thời bình hay thời chiến tranh

mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức có những quyền hạn khác nhau Như vậy, quyền       

24

 Viện ngôn ngữ học, Sđd, tr.925

25

 Viện khoa học pháp lý, Sđd, tr.651

Trang 28

hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh vị trí, tầm quan trọng, điều kiện công tác của cơ quan, tổ chức và cá nhân đó

Nội dung hai thuật ngữ trên rõ ràng có sự khác nhau và có ranh giới nhất định Nhưng khi chúng được xem xét trong phạm vi nhiệm vụ pháp lý và quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan thì ranh giới giữa chúng hầu như không rõ ràng, những công việc mà pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan được phép làm thì đồng thời cũng là công việc phải thực hiện, chủ thể có bao nhiêu quyền thì cũng có bấy nhiêu nhiệm vụ, quyền cũng là nhiệm vụ

Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự26

Từ các thuật ngữ, khái niệm như đã nêu trên, theo chúng tôi nhiệm vụ và quyền

hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự là những hoạt động tố tụng hình sự mà Viện trưởng phải tiến hành và được quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục nhất định nhằm đảm bảo vụ án hình sự được giải quyết đúng theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ và quyền hạn (thẩm quyền) của Viện trưởng trong quản lý, điều hành công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật TTHS gồm:

Thẩm quyền thứ nhất: Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công

tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

Để tổ chức và chỉ đạo thực hiện tốt công tác trên, trước tiên Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao cần thực hiện đầy đủ thẩm quyền của mình quy định tại Điều 33 Luật tổ chức VKSND Căn cứ diễn biến của tình hình tội phạm để ban hành kế hoạch công tác kiểm sát hàng năm; qua chỉ đạo thực hiện công tác, tiến hành tổng kết kết quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế để có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình; ban hành các chỉ thị, quy chế công tác, tham gia ban hành các thông tư hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật TTHS; thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ thông qua cơ chế thỉnh thị và trả lời thỉnh thị; chỉ đạo các Vụ nghiệp vụ thực hiện việc kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS của Viện kiểm sát địa phương; Bên cạnh đó, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao cũng phải thực hiện công tác về nhân sự, thống nhất quản lý Kiểm sát viên, chỉ đạo công tác       

26 Viện khoa học pháp lý, Sđd, tr.768. 

Trang 29

thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS

Trong phạm vi thuộc quyền quản lý của mình, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có những nhiệm vụ, quyền hạn, như căn cứ kế hoạch, chỉ thị công tác hàng năm

về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS của Viện kiểm sát tối cao, Viện trưởng cấp tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện tại địa phương mình, qua kết quả công tác tổ chức tổng kết đánh giá những mặt tích cực và tồn tại làm tiền đề cho việc xây dựng kế hoạch năm sau; tổ chức thực hiện việc đào tạo, quy hoạch đội ngũ Kiểm sát viên, thống nhất quản lý và phân công Kiểm sát viên tiến hành TTHS trong địa phương mình; thực hiện điều động và biệt phái Kiểm sát viên trong phạm

vi địa giới hành chính cấp tỉnh nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS (Điều 11, Điều 30 Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002)

Đối với Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn hẹp hơn, trong quản lý, điều hành công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS ở đơn vị cấp huyện, Viện trưởng cấp huyện tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch công tác kiểm sát, chỉ thị, quyết định và chỉ đạo của cấp trên

Viện trưởng cấp tỉnh và cấp huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong

tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, nhưng nhiệm vụ, quyền hạn đó lại được quy định rãi rác trong các văn bản luật Đối với Luật tổ chức VKSND chỉ quy định chung chung là:

“Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết

định những vấn đề không thuộc thẩm quyền của Uỷ ban kiểm sát” (Điều 35) Những

vấn đề đó là gì thì pháp luật không quy định rõ

Thẩm quyền thứ hai: Quyết định phân công và kiểm tra các hoạt động của Phó

Viện trưởng, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS

Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS là công tác thực hiện chức năng của ngành kiểm sát Với vai trò là người đứng đầu, lãnh đạo Viện kiểm sát, Viện trưởng phải thực hiện công tác quản lý, điều hành nên không thể tự mình tham gia thực hiện hết tất cả các hoạt động tố tụng trong tất cả vụ án hình sự trong

địa hạt tư pháp của mình Viện trưởng tất yếu phải thực hiện việc phân công Phó

Viện trưởng, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát thực hiện công tác trên Phó Viện trưởng được phân công có những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng theo quy định; quá trình thực hiện nhiệm vụ, ngoài việc phải tuân theo pháp luật thì Phó Viện trưởng còn phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Đối với Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS có những

Trang 30

nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật TTHS Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, khi nhận thấy chỉ đạo của Viện trưởng trái pháp luật thì Kiểm sát viên có quyền từ chối, khi Viện trưởng quyết định thì Kiểm sát viên phải thực hiện theo sự chỉ đạo, nhưng có quyền báo cáo cấp trên và được miễn trừ trách nhiệm khi có thiệt hại (Điều 12, Điều 13 Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002) Trong quá trình Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên thực hiện công tác được phân công, Viện trưởng phải thường xuyên kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm của Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên cùng cấp, đảm bảo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS đạt hiệu quả (Điều 66 Quy chế 07 và Điều 74 Quy chế 960)27

Thẩm quyền thứ ba: Quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định

không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên và Viện kiểm sát cấp dưới

Mục đích của việc tiến hành kiểm tra thường kỳ, bất thường của Viện trưởng đối với Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên cùng cấp, Viện kiểm sát cấp dưới trong việc thực hiện công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm Tùy theo loại sai phạm mà Viện trưởng

có những hình thức khắc phục khác nhau Sai phạm không làm ảnh hưởng đến quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS thì chỉ cần phê bình, kiểm điểm rút kinh nghiệm Đối với những vi phạm pháp luật TTHS, những hành

vi, quyết định của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng và Viện kiểm sát cấp dưới gây cản trở việc thực hiện sự buộc tội của Viện kiểm sát đối người phạm tội, làm oan sai người vô tội hoặc làm phát sinh sự kiến nghị của cơ quan tư pháp đối Viện kiểm sát thì Viện trưởng phải ra quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định không

có căn cứ và trái pháp luật đó Viện kiểm sát hoạt động theo nguyên tắc tập trung, lãnh đạo thống nhất nên thẩm quyền này phải do Viện trưởng thực hiện, không được ủy quyền cho người khác

Thẩm quyền thứ tư: Quyết định thay đổi Kiểm sát viên

Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi và việc thay đổi Kiểm sát viên và cử Kiểm sát viên thay thế phải do Viện trưởng quyết định; đối với trường hợp người bị thay đổi là Viện trưởng thì do Viện trưởng cấp trên quyết định thay đổi và cử Kiểm sát viên khác28

Trang 31

Căn cứ quy định pháp luật về thay đổi Kiểm sát viên cơ bản là rõ ràng và dễ vận dụng trong thực tiễn Tuy nhiên, đối với tình tiết có căn cứ để cho rằng Kiểm

sát viên “có thể không vô tư khi làm nhiệm vụ” hầu như khó có thể vận dụng trong

thực tiễn Theo Điểm c mục 4 Phần I Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP29 quy định, trường hợp xem là không vô tư khi làm nhiệm vụ là ngoài các tình tiết quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 42 thì còn có căn cứ khác như Thẩm phán là con rể của bị cáo, người bị hại là Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ, chồng Thẩm phán đang công tác,…Nhưng đó là hướng dẫn của ngành Tòa án thực hiện thay đổi Thẩm phán, Hội

thẩm và Thư ký toà án Đối với ngành kiểm sát thì thế nào là “không vô tư” thì hiện

nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng Theo chúng tôi việc hướng dẫn những vấn đề trừu tượng như thế là vấn đề nan giải Vì vậy, tùy theo từng sự việc, vụ án cụ thể mà Viện trưởng xem xét kết luận Kiểm sát viên có vô tư khi làm nhiệm vụ hay không

Thẩm quyền thứ năm: Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện

kiểm sát

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp thừa nhận (Điều 74 Hiến pháp 1992) Theo quy định của Bộ luật TTHS thì khiếu nại, tố cáo trong trường hợp này là khiếu nại, tố cáo trong hoạt động TTHS Đối tượng khiếu nại, tố cáo là quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng

Theo quy định tại Điều 329 Bộ luật TTHS, những khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát gồm: khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại trong TTHS của Thủ trưởng Cơ quan điều tra; khiếu nại quyết định, hành vi của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, các quyết định tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Quyết định giải quyết của Viện kiểm sát cùng cấp đối với khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan điều tra là quyết định giải quyết cuối cùng Các trường hợp giải quyết khiếu nại khác trong TTHS của Viện kiểm sát, thì người khiếu nại có quyền khiến nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết

Điều 330 Bộ luật TTHS quy định, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên và Phó Viện trưởng do Viện trưởng cùng cấp giải quyết, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện       

29

 Xem Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật TTHS năm 2003

Trang 32

kiểm sát cấp trên trực tiếp; đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng do Viện trưởng cấp trên giải quyết Điều 337 Bộ luật TTHS quy định, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện trưởng là tố cáo hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên cùng cấp, hành vi tố tụng của Viện trưởng cấp dưới và hành

vi của người được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát được hướng dẫn trong Quy chế 5930

Về mặt kỹ thuật tuy Điều luật có khi sử dụng cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp”

và cụm từ “Viện kiểm sát cấp trên”, nhưng nội dung Điều luật quy định Viện kiểm

sát mỗi cấp chỉ được giải quyết khiếu nại, tố cáo một lần, không quy định Phó Viện trưởng có thẩm quyền giải quyết Vì vậy, có thể khẳng định thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát phải do Viện trưởng thực hiện

Thẩm quyền thứ sáu: Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của pháp luật Theo Điều 275 Bộ luật TTHS quy định Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao có quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp; đối với Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh thì có quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện Điều 293 Bộ luật TTHS quy định thẩm quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật theo trình tự tái thẩm của Viện trưởng tương tự thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại Điều 273 và Điều 291

Bộ luật TTHS khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS; có tình tiết mới làm thay đổi nội dung của vụ án;…Đây là thẩm quyền tố tụng luật định của Viện trưởng, không thể ủy quyền hay giao cho Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên

Từ những phân tích về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong quản lý, điều hành công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự cho thấy, có những thẩm quyền như rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát cấp dưới, thay đổi Kiểm sát viên (là Phó Viện trưởng), giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát, kháng       

30

 Xem Quyết định số 59/2006/QĐ-VKSTC-V7 ngày 6/2/2006 của Viện trưởng VKSND Tối cao về việc ban hành Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của VKSND

Trang 33

nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là của Viện trưởng, phải do Viện trưởng thực hiện Nhưng tại đoạn 5 Điều 9 Luật tổ chức VKSND và khoản 1 Điều 36 Bộ luật TTHS lại quy định, khi Viện trưởng Viện kiểm sát vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Việc quy định như trên rõ ràng có sự mâu thuẩn, có những thẩm quyền của Viện trưởng như chúng tôi phân tích là không thể ủy nhiệm cho người khác

Một vấn đề nữa về kỹ thuật lập pháp theo chúng tôi thấy, xét về bản chất, thẩm quyền tổ chức các hoạt động TTHS, phân công Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và thẩm quyền kiểm tra việc thực hiện công tác là thẩm quyền mang tính hành chính -

tư pháp, do vậy việc cơ cấu quy định trên vào Bộ luật TTHS là không hợp lý Trong phần kiến nghị của đề tài chúng tôi sẽ làm rõ hơn vấn đề trên

Theo khoản 2 Điều 36 Bộ luật TTHS khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động TTHS, Viện trưởng có những thẩm quyền như khởi tố vụ án, yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định, huỷ bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của Cơ quan điều tra, truy tố

bị can ra trước Toà án, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án theo trình

tự phúc thẩm,… Tuy Điều luật không phân định rõ thẩm quyền của Viện trưởng trong quản lý, điều hành và thẩm quyền của Viện trưởng khi trực tiếp tiến hành tố tụng, nhưng cách phân chia hai loại thẩm quyền trong hai điều khoản khác nhau có thể hiểu thẩm quyền của Viện trưởng quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật TTHS là thẩm quyền mà Viện trưởng được phép thực hiện khi tiến hành TTHS Nhưng theo chúng tôi, vì Viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo nên thẩm quyền của Viện kiểm sát cũng là thẩm quyền của Viện trưởng, việc pháp luật quy định Viện trưởng có những thẩm quyền của Viện kiểm sát cũng là điều dễ hiểu; khi thực hiện những thẩm quyền tại khoản 2 Điều 36, Viện trưởng ngoài việc nhân danh cá nhân, Viện trưởng còn phải nhân danh Viện kiểm sát; đồng thời trong thực tiễn mặc dù Viện trưởng không trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự nhưng Viện trưởng hoàn toàn có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện những thẩm quyền đó trong các giai đoạn TTHS Vì vậy, những thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 36 có thể xem là những thẩm quyền của Viện trưởng trong quản lý, điều hành công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tố tụng và được Viện trưởng sử dụng trong các giai đoạn tố tụng của vụ án hình sự

Thứ nhất: Thẩm quyền quyết định khởi tố, không khởi tố vụ án, khởi tố bị

can, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi

tố bị can

- Từ điển luật học định nghĩa: “Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ

Trang 34

quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội phạm”31 Quan điểm trên cho rằng chỉ có Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự bao gồm Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát và Tòa án quy định tại Điều 33 Bộ luật TTHS mới có thẩm quyền khởi tố vụ án (KTVA) Nhưng căn cứ quy định tại Điều 111 Bộ luật TTHS, ngoài cơ quan tiến hành tố tụng thì các cơ được giao thực hiện tiến hành một số hoạt động điều tra như quan Hải Quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển và các cơ quan thuộc lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân trong phạm vi quản lý của mình khi phát hiện tội phạm cũng có quyền KTVA Đồng thời, mục đích điều tra ngoài việc làm rõ diễn biến của tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm và hậu quả mà tội phạm đó gây ra cho xã hội, thì mục đích còn nhằm tìm ra người thực hiện hành vi phạm tội và trong quá trình điều tra phải tuân thủ những cơ sở pháp lý để đảm bảo tính hợp pháp trong điều tra

Vì vậy, theo chúng tôi, Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của Cơ quan điều

tra, Viện kiểm sát, Tòa án, và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra xác định có sự việc phạm tội để điều tra làm rõ tội phạm và người phạm tội theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Thẩm quyền KTVA của Viện trưởng Viện kiểm sát theo quy định của Điều

104 Bộ luật TTHS chỉ được thực hiện trong trường hợp Viện trưởng hủy bỏ quyết định không KTVA của CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp Tòa án yêu cầu KTVA Ngoài hai trường hợp trên, Viện trưởng không được KTVA hình sự trong bất kỳ trường hợp nào khác Quy định này của pháp luật không tạo ra cơ chế pháp lý nhằm đảm bảo quyền yêu cầu khởi tố được thực hiện một cách nhanh chóng trong trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, nhưng CQĐT chậm trễ trong thực hiện, thì Viện kiểm sát cũng không có quyền khởi tố nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được nhanh chóng xử lý theo pháp luật, góp phần tiết kiệm chi phí Nhà nước Đối với thẩm quyền quyết định không KTVA hình sự, Điều 103 Bộ luật TTHS không quy định Viện trưởng có thẩm quyền tiến hành xác minh tin báo, tố giác tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không KTVA; kết hợp Điều 104 Bộ luật TTHS quy định yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử được gởi cho Viện kiểm sát xem xét quyết định việc khởi tố và Điều 12 Quy chế 07 quy định nếu Viện trưởng Viện kiểm sát xét thấy yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử không có căn cứ thì ra quyết định không KTVA Như vậy, Viện trưởng chỉ ra quyết định không KTVA trong trường hợp xét thấy yêu cầu KTVA của Hội xét xử không có căn cứ

- Khởi tố bị can (KTBC) là quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng khi có đủ       

31

 Viện khoa học pháp lý, Sđd, tr.429

Trang 35

căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ32 Tương tự việc đưa ra khái niệm “khởi tố vụ án”, quan điểm này căn cứ Điều 126 Bộ luật TTHS cho rằng chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gồm CQĐT và Viện kiểm sát mới có thẩm quyền KTBC Nhưng căn cứ quy định tại Điều 111 Bộ luật TTHS thì các cơ được giao thực hiện tiến hành một số hoạt động điều tra gồm Bộ đội biên phòng, Hải Quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển trong phạm vi quản lý của mình khi phát hiện tội phạm ít nghiêm trọng, trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội có lai lịch rõ ràng thì các cơ quan trên cũng có quyền KTBC và tiến hành những hoạt động điều tra theo quy định của

pháp luật Như vậy, theo chúng tôi, khởi tố bị can là quyết định của Cơ quan điều

tra, Viện kiểm sát và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gồm Bộ đội biên phòng, Hải Quan, Kiểm lâm và Cảnh sát biển) khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình

Tại khoản 5 Điều 126 Bộ luật TTHS quy định, sau khi nhận được hồ sơ vụ án

và kết luận điều tra phát hiện có người phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định KTBC và trong 24 giờ kể từ khi khởi tố, Viện kiểm sát phải gởi quyết định khởi tố cho CQĐT tiến hành điều tra Quy định trên đòi hỏi phải hội

đủ hai điều kiện là Viện kiểm sát phát hiện có trường hợp bỏ lọt người phạm tội và

vụ án đã được CQĐT kết luận điều tra đề nghị truy tố theo pháp luật Những trường hợp khác thì Viện kiểm sát không được thực hiện thẩm quyền này Theo chúng tôi,

về nguyên tắc khi vụ án đang trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát muốn đưa vụ án quay trở lại giai đoạn điều tra thì Viện kiểm sát phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo Điều 168 Bộ luật TTHS Hình thức mà pháp luật quy định khi Viện kiểm sát KTBC phải gởi cho CQĐT tiến hành điều tra chỉ là thủ tục giao nhận quyết định KTBC, không phải là quyết định mang tính chất pháp lý nhằm chuyển vụ án từ giai đoạn truy tố trở lại giai đoạn điều tra Rõ ràng pháp luật vẫn còn bỏ ngỏ vấn đề trên tùy cá nhân có thẩm quyền quyết định theo ý chí chủ quan của mình Trong thực tiễn Viện trưởng Viện kiểm sát ít khi sử dụng thẩm quyền KTBC, Viện trưởng thường vận dụng quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo Điều 168 Bộ luật TTHS và Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC33 để yêu cầu CQĐT khởi tố bị can Vì vậy, thẩm quyền KTBC của Viện trưởng trong chừng mực nào đó chỉ tồn tại trên lý thuyết

Trang 36

- Tại Điều 6 Luật tổ chức VKSND quy định, Viện kiểm sát có quyền đề ra yêu cầu đối với CQĐT và các yêu cầu của Viện kiểm sát phải được CQĐT chấp hành nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật và Điều 114 Bộ luật TTHS cũng có quy định CQĐT có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho Viện trưởng thực hiện quyền yêu cầu KTVA, KTBC Nhưng yêu cầu trong trường hợp nào hiện pháp luật không quy định rõ

Theo chúng tôi, trong quá trình thực hiện chức năng, khi Viện trưởng phát hiện tội phạm và chuyển nội dung vụ việc cùng hồ sơ có liên quan sang CQĐT hoặc Viện trưởng có cơ sở khẳng định tin báo, tố giác mà CQĐT đang thụ lý có dấu hiệu tội phạm nhưng CQĐT chậm trễ trong việc KTVA hoặc trong quá trình kiểm sát điều tra Viện trưởng phát hiện có tội phạm chưa được khởi tố thì có quyền yêu cầu CQĐT khởi tố

- Yêu cầu KTBC là yêu cầu ra quyết định xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật TTHS Theo quy định Điều 126 Bộ luật TTHS, Viện trưởng thực hiện thẩm quyền yêu cầu KTBC khi phát hiện có người phạm tội chưa bị khởi tố Qua nghiên cứu thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát trong các giai đoạn TTHS nhận thấy Viện trưởng thực hiện thẩm quyền trên trong hai tình huống như sau:

Tình huống thứ nhất: khi vụ án đang trong giai đoạn điều tra nhưng qua thực

hiện chức năng kiểm sát điều tra, Viện trưởng phát hiện còn có trường hợp người phạm tội chưa bị khởi tố thì Viện trưởng yêu cầu CQĐT khởi tố bị can

Tình huống thứ hai: khi vụ án được CQĐT kết luận điều tra và chuyển sang

giai đoạn truy tố thì Viện trưởng phát hiện còn người phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố nên quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu KTBC theo quy định

- Đối với thẩm quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thay đổi quyết định KTVA, KTBC tuy pháp luật không quy định rõ Viện trưởng được thực hiện thẩm quyền này trong giai đoạn nào, nhưng căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong TTHS có thể khẳng định, Viện trưởng thực hiện thẩm quyền trên trong giai điều tra

và truy tố Trong giai đoạn điều tra, qua thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện trưởng nhận thấy việc KTVA và bị can chưa đúng tội danh theo quy định của BLHS thì Viện trưởng căn cứ Điều 106 và Điều 127 Bộ luật TTHS yêu cầu CQĐT thay đổi quyết định KTVA, KTBC Khi vụ án chuyển sang giai đoạn truy tố nếu phát hiện tội danh được khởi tố chưa đúng với bản chất hành vi phạm tội thì Viện trưởng vận dụng Điều 168 Bộ luật TTHS và Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi quyết định KTVA, KTBC theo quy định của pháp luật

Trang 37

Thứ hai: Thẩm quyền yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra

viên

Khi xuất hiện tình huống phải thay đổi Điều tra viên mà Thủ trưởng CQĐT không thực hiện thì Viện trưởng yêu cầu thay đổi Điều tra viên theo quy định tại Điều 44 Bộ luật TTHS Đối với căn cứ mà Điều tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi quy định tại khoản 1, 2 Điều 42 và Điểm b khoản 1 Điều 44

Bộ luật TTHS thì việc áp dụng vào thực tiễn ít gặp trở ngại Nhưng căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 42 thì thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn khi vận dụng Thế nào là

“không vô tư” thì hiện nay chỉ có Ngành toà án hướng dẫn thực hiện thay đổi Thẩm

phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP, còn việc

có vận dụng nội dung Nghị quyết trên để xem xét sự “vô tư” của Điều tra viên thì

vẫn chưa có văn bản hướng áp dụng Vì vậy, tùy theo từng sự việc, vụ án cụ thể mà các cá nhân có thẩm quyền xem xét kết luận Điều tra viên có vô tư khi làm nhiệm

vụ hay không

Thực tiễn vận dụng quy định này trong trường hợp khi phát hiện trong quá tiến hành điều tra vụ án hình sự, Điều tra viên vi phạm những điều Điều tra viên không được làm theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh điều tra hình sự năm 2004 hoặc có hành vi vi phạm pháp luật như mớm cung, dùng nhục hình, có hành vi làm sai lệch

hồ sơ vụ án…, thì có thể kết luận Điều tra viên không vô tư khi thực hiện nhiệm vụ Khi có những dấu hiệu vi phạm của Điều tra viên, bên cạnh yêu cầu thay đổi Điều tra viên, thì Viện trưởng có quyền căn cứ khoản 4 Điều 113 Bộ luật TTHS yêu cầu cung cấp hồ sơ liên quan đến vi phạm và yêu cầu xử lý Điều tra viên, nếu vi phạm của Điều tra viên có dấu hiệu của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì chuyển

vi phạm trên cho Cục điều tra Viện kiểm sát tối cao giải quyết theo quy định của pháp luật

Thứ ba: Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn

chặn

Theo quy định của Bộ luật TTHS nhận thấy, Viện trưởng có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn gồm bắt bị can để tạm giam, biện pháp tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo theo quy định tại các Điều 80, 88, 91, 92 và Điều 93 Nhưng Viện trưởng được áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên trong giai đoạn điều tra hay truy tố thì pháp luật không quy định rõ Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong TTHS và nội dung của từng điều luật có thể khẳng định Viện trưởng không có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam, biện pháp tạm giam, biện pháp cấm đi khỏi nơi

cư trú, biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo trong giai đoạn điều tra Bởi vì: căn cứ nội dung của Điều 88 Bộ luật TTHS nhận

Trang 38

thấy, ngoài những điều kiện có thể áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định thì còn một điều kiện tiền đề nữa là trước đó phải có việc áp dụng biện pháp tạm giữ người phạm tội, nhưng quy định về việc tạm giữ tại Điều 86 không quy định Viện trưởng có thẩm quyền áp dụng biện pháp này nên Viện trưởng không có điều kiện pháp lý để áp dụng biện pháp tạm giam; đối với biện pháp bảo lĩnh và biện pháp cho đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo (Điều 92 và Điều 93 Bộ luật TTHS)

là biện pháp nhằm thay thế biện pháp tạm giam, trong giai đoạn điều tra, Viện trưởng không có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam nên cũng không có quyền đơn phương áp dụng hai biện pháp ngăn chặn nêu trên Mặt khác, khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành KTBC thì việc tiếp theo là xem xét có cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can hay không, trong khi đó, thẩm quyền khởi tố bị can của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 126 Bộ luật TTHS chỉ được thực hiện khi

vụ án đã có kết luận điều tra và được chuyển sang giai đoạn truy tố Vì vậy có thể nói, Viện trưởng Viện kiểm sát chỉ có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngặn trong giai đoạn truy tố

Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, Viện trưởng có thẩm quyền thay thế biện hoặc hủy bỏ pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn (Điều 94 Bộ luật TTHS) Đối chiếu với quy định của pháp luật TTHS nhận thấy Viện trưởng có thể thực hiện việc thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: quá trình điều tra, CQĐT nhận thấy không cần thiết tiếp

tục áp dụng biện pháp tạm giam quy định tại Điều 88 và biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo quy định tại Điều 93 Bộ luật TTHS thì đề nghị Viện trưởng thay thế hoặc hủy bỏ

Tuy nhiên, thực tiễn CQĐT vận dụng quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Điều 91, biện pháp bảo lĩnh tại Điều 92 Bộ luật TTHS trong giai đoạn điều tra còn nảy sinh những vướng mắc Theo quy định của pháp luật thì CQĐT có quyền độc lập trong việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú mà không cần đến sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nên đối với trường hợp khi thời hạn tạm giam bị can đã hết mà CQĐT thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam đối với bị can thì CQĐT thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú mà không cần có sự đồng ý Viện kiểm sát Nhưng nhiều trường hợp khi CQĐT thực hiện độc lập thẩm quyền này, thì Viện trưởng cho rằng căn cứ quy định tại Điều 94 Bộ luật TTHS thì việc thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát phải do Viện kiểm sát quyết định cho dù thời hạn của biện pháp ngăn chặn đó đã hết Viện trưởng lý giải như trên là chưa đúng với quy định của Điều 94 Bộ luật TTHS, vì vậy theo chúng tôi liên ngành tư pháp cần có hướng dẫn cụ thể để tránh sự hiểu sai của người

Trang 39

có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật TTHS

Trường hợp thứ hai: trong quá trình kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn

chặn, Viện trưởng nhận thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là không còn cần thiết nhưng CQĐT vẫn không đề nghị thay thế hay hủy bỏ theo yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc Viện trưởng cho rằng việc áp dụng biện pháp trên là trái luật thì có quyền ra quyết định thay thế hoặc hủy bỏ

Điều 166 Bộ luật TTHS quy định trong giai đoạn truy tố Viện trưởng có thẩm quyền áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn gồm bắt bị can để tạm giam, biện pháp tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để đảm bảo đối với người phạm tội Quy định của pháp luật và thực tiễn

áp dụng biện pháp bắt tạm giam, tạm giam và hủy bỏ biện pháp tạm giam cũng như các biện pháp khác không có nhiều trở ngại Nhưng việc thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền, tài sản có giá trị để đảm bảo hay xem xét áp dụng các biện pháp này đối với bị can chưa bị áp dụng bất kỳ biện pháp ngăn chặn nào thì hiện nay luật chưa hướng dẫn

rõ ràng dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất trong thực tiễn

Điều kiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Điều 91 Bộ luật TTHS là bị can có nơi cư trú rõ ràng Quy định một cách chung chung như trên dẫn

đến nhiều trường hợp “không đủ cơ sở cho việc ra quyết định”34 Trường hợp có nơi

cư trú rõ ràng hiện nay trong thực tiễn được hiểu là bị can có hộ khẩu thường trú rõ ràng và có nơi ở ổn định Nơi ở ổn định có thể là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc là nơi làm việc sinh sống và chính quyền địa phương có thực hiện sự quản lý

nhân khẩu đối với họ Tuy nhiên, theo chúng tôi, “có nơi cư trú rõ ràng chỉ là điều

kiện cần, không phải là căn cứ duy nhất để áp dụng biện pháp này Chỉ áp biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú khi không có căn cứ để tạm giam”35 Vì chỉ khi có cơ

sở xác định việc không cách ly bị can với xã hội vẫn không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố và xét xử thì cơ quan có thẩm quyền mới xem xét áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú Trong quá trình chấp hành biện pháp cấm đi khỏi nơi

cư trú, khi bị can có lý do chính đáng phải tạm thời rời khỏi nơi cư trú thì phải được

sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó Theo nội dung trên của điều luật thì mọi trường hợp đi khỏi phạm vi địa giới hành chính cấp xã thì đối tượng phải xin phép chính quyền địa phương và cơ quan ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú Trường hợp cho là đi khỏi nơi cư trú hiện nay trên các sách, báo pháp lý bàn rất nhiều vấn       

Trang 40

đề này Thực tiễn người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có nhu cầu đi đến địa phương khác (xã phường, quận huyện) đặc biệt tại các thành phố lớn vì lý

do sinh hoạt, làm việc, công tác rất phổ biến Mỗi lần rời khỏi phạm vi địa giới cấp

xã, phường, thị trấn thì phải xin phép sẽ tạo ra sự rờm rà, bất tiện và tạo ra quá nhiều thủ tục xin và cho phép trong thực tiễn vận dụng Rõ ràng thủ tục trên là không cần thiết và không thể thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tiễn Một vấn đề nữa là hiệu lực của biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú Khi hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát thì lệnh cấm của CQĐT còn hiệu lực hay không? Trong thực tiễn khi Viện kiểm sát nhận thấy không cần thay đổi biện pháp ngăn chặn thì Viện kiểm sát tiếp tục sử dụng lệnh của CQĐT, lúc đó đồng nghĩa việc bị can vẫn còn bị cấm đi khỏi nơi cư trú Về nguyên tắc, hồ sơ đã chuyển sang Viện kiểm sát thì thẩm quyền cho phép là thẩm quyền của Viện kiểm sát Nhưng nghịch lý ở chỗ lệnh cấm là do CQĐT ban hành nên đã nảy sinh mâu thuẩn là lệnh của cơ quan này lại xin phép cơ quan khác Để giải quyết sự nghịch lý này, theo chúng tôi cần ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Điều 91 Bộ luật TTHS theo hướng quy định, khi vụ án ở giai đoạn nào thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét tiếp tục áp dụng hay không biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can; người bị áp dụng biện pháp này phải cung cấp cho chính quyền địa phương cấp xã và cơ quan ra lệnh về lịch trình đi lại hàng ngày trong phạm vi địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh mà họ cư trú vì mục đích sinh hoạt và làm việc để cơ quan chức năng thực hiện việc giám sát; nếu có nhu cầu chính đáng phải tạm thời đi khỏi phạm vi địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh thì họ phải thực hiện việc xin phép cơ quan ra lệnh và thông báo với chính quyền địa phương biết Khi có quy định như trên thì việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ phát huy hiệu quả tích cực, đảm bảo cho cơ quan chức năng có thể vừa giám sát chặt chẽ người bị áp dụng biện pháp này và vừa đảm bảo không gây cản trở việc lao động và sinh hoạt bình thường của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú

Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam Tổ chức, cá nhân (ít nhất hai người) có thể nhận bảo lĩnh cho bị can Trong trường hợp cá nhân,

tổ chức để bị can bỏ trốn thì phải chịu trách nhiệm (Điều 92 Bộ luật TTHS) Nhưng trách nhiệm gì, hành chính hay hình sự và việc truy cứu trách nhiệm của tổ chức như thế nào thì hiện nay luật vẫn chưa quy định Từ khoảng trống của pháp luật về trách nhiệm của cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh đã tạo ra tình trạng bảo lĩnh và thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh tràn lan trong thực tiễn

Đối với biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo theo quy định tại Điều 93 Bộ luật TTHS cũng là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam

Về thẩm quyền và thủ tục thực hiện được luật quy định tương đối rõ ràng Nhưng về

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w