1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính phủ điện tử, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học với việt nam

71 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[28] Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới World Bank “Chính phủ điện tử là việc các cơ quan của Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin – truyền thông để thực hiện q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

VÀ BÀI HỌC VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2007 – 2011

GVHD:Th.S Nguyễn Thị Thiện Trí

TP HCM – Năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 6

1.1 Khái quát về Chính phủ điện tử 6

1.1.1 Khái niệm Chính phủ điện tử 6

1.1.2 Đặc điểm của Chính phủ điện tử 7

1.1.3 Vai trò của Chính phủ điện tử trong quản lí nhà nước và trong phát triển kinh tế xã hội 8

1.1.4 Các hình thức cung cấp dịch vụ chính của Chính phủ điện tử 11

1.2 Tình hình phát triển Chính phủ điện tử trên thế giới 13

1.3 Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước trên thế giới 17

1.3.1 Phát triển Chính phủ điện tử ở Mỹ 17

1.3.2 Phát triển Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc 26

1.3.3 Phát triển Chính phủ điện tử ở Singapore 33

1.4 Bài học kinh nghiệm trong phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước trên thế giới 39

1.4.1 Những cơ hội được tạo ra khi phát triển Chính phủ điện tử 39

1.4.2 Những thách thức mà các quốc gia phải giải quyết khi phát triển Chính phủ điện tử 40

CHƯƠNG 2: CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 42

2.1 Nhu cầu xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam 42

2.2 Phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam 44

2.2.1 Quá trình phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam 44

2.2.2 Những thành tựu đạt được 49

2.2.3 Những vướng mắc trong quá trình xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam 54

2.3 Những kiến nghị nhằm phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam 62

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghệ thông tin và truyền thông đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống hằng ngày của chúng ta, trở thành một cuộc cách mạng thực sự trong công việc, đời sống và thay đổi các quy tắc trong kinh doanh Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc sử dụng các ứng dụng của công nghệ thông tin không còn là một khái niệm xa lạ

và thậm chí nó đã trở thành một công cụ để nhà nước quản lí xã hội Việc Nhà nước sử

dụng công nghệ thông tin để thực hiện các hoạt động quản lí được gọi là “Chính phủ

điện tử”

Cho đến nay, phát triển Chính phủ điện tử đã trở thành xu hướng chung của các quốc gia phát triển trên thế giới và cũng là một chiến lược với các nước đang phát triển Đối với các nước phát triển như Mỹ, Canada, Úc , khái niệm Chính phủ điện tử

đã trở nên quen thuộc đối với người dân bởi vì mô hình Chính phủ điện tử của các nước này đã được đưa vào sử dụng trong hơn thập kỉ qua và ngày càng đáp ứng được nhu cầu xây dựng một nhà nước hiện đại, dân chủ Ở Việt Nam, khái niệm này mặc dù không mới mẻ nhưng vẫn chưa phổ biến và chưa được nhiều ngươi biết đến Mặc dù thời gian qua chúng ta cũng đã triển khai các đề án về việc thành lập mô hình Chính phủ điện tử (những năm đầu của thế kỉ 21) Rất nhiều dự thảo đã được tiến hành và nhiều đề án được đưa ra, tuy nhiên đến nay vì nhiều lý do khác nhau mô hình Chính phủ điện tử nước ta vẫn chưa thể thực hiện được Chính phủ điện tử là xu thế chung của thời đại và là biểu trưng của một nhà nước phục vụ, dân chủ, hiện đại, nghiên cứu lại một cách cơ bản về Chính phủ điện tử là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã chọn

đề tài “Chính phủ điện tử, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học

với Việt Nam” với hy vọng nâng cao hiểu biết của mình về vấn đề này cũng như đề

xuất một số kiến nghị nhằm phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài sẽ bắt đầu bằng việc nghiên cứu khái quát về những nội dung cơ bản về Chính phủ điện tử nhằm giúp cho người đọc có một cái nhìn tổng quan nhất về Chính phủ điện tử Từ đó, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu sự phát triển Chính phủ điện tử ở một

số nước trên thế giới, cụ thể là Mỹ, Hàn Quốc và Singapore Với Chính phủ điện tử ở các nước này, tác gia tập trung làm rõ quá trình phát triển và khung pháp lí mà các nước đã chuẩn bị cho việc phát triển mô hình Chính phủ điện tử cũng như những thành tựu mà Chính phủ điện tử mang lại cho nước họ, bên cạnh đó là những hạn chế có thể

Trang 4

có; cuối cùng, đề tài không thể không đề cập đến quá trình phát triển Chính phủ điện

tử ở Việt Nam và hiệu quả của quá trình xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử trong thời gian qua

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với nhiều phương pháp cụ thể ở các chương như:

- Chương 1: ở chương này, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, trong đó chủ yếu là phương pháp so sánh

- Chương 2: tổng hợp, phân tích và so sánh là ba phương pháp tác giả sử dụng ở chương này trong đó chủ yếu là phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu

4 Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu là một khóa luận dày 71 trang Qua nghiên cứu về phát triển Chính phủ điện tử ở ba nước Mỹ, Hàn Quốc và Singapore, khóa luận đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho các nước đang trong giai đoạn chuẩn bị phát triển Chính phủ điện tử nói chung và Việt Nam nói riêng Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển Chính phủ điện tử phù hợp với điệu kiện của Việt Nam

5 Nội dung nghiên cứu

Khóa luận bao gồm hai chương:

 Chương I: Khái quát về Chính phủ điện tử Trong chương này, tác giả sẽ nêu khái quát chung về Chính phủ điện tử để người đọc hiểu rõ hơn về thuật ngữ này thông qua các nội dung như khái niệm, đặc điểm, vai trò và các giao dịch chính của Chính phủ điện tử Sau phần khái quát chung, tác giả sẽ giới thiệu tình hình phát triển của Chính phủ điện tử trên thế giới trước khi đi sâu phân tích về phát triển Chính phủ điện tử ở ba nước cụ thể là Mỹ, Hàn Quốc và Singapore

 Chương II: Xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Ở phần đầu của chương này, tác giả sẽ làm rõ nhu cầu xây dựng Chính phủ điện tử

ở Việt Nam đồng thời phân tích quá trình phát triển Chính phủ điện tử qua hai thời kỳ,

từ đó đánh giá các thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại Qua kinh nghiệm phát triển Chính phủ điện tử của các nước đã phân tích ở chương 1 cùng với các bài học rút ra trong quá trình xây dựng, tác giả trình bày một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trang 5

Em xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Thiện Trí, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các bạn đã giúp em trong việc thu thập các tài liệu để hoàn thành khóa luận

Trang 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

1.1 Khái quát về Chính phủ điện tử

1.1.1 Khái niệm Chính phủ điện tử

Đối với một thuật ngữ vừa ra đời và phát triển trong hơn thập kỉ qua như Chính phủ điện tử thì thật là không dễ dàng để có thể đưa ra một khái niệm thống nhất, rõ

ràng và thỏa mãn tất cả các đối tượng Thật sai lầm khi cho rằng Chính phủ điện tử là mạng máy tính trang bị cho các cơ quan Chính phủ và việc sử dụng mạng này của các quan chức Chính phủ từ cấp cao nhất đến các chuyên viên để thực hiện công việc của mình.[10-tr.12] Chính phủ điện tử tuyệt nhiên không phải là điện toán hóa các cơ

quan Chính phủ mặc dù điện toán hóa các cơ quan Chính phủ là việc cần làm trong quá trình tạo dựng từng bước Chính phủ điện tử, nó chỉ là phương tiện chứ không phải

là mục tiêu Để có được một khái niệm Chính phủ điện tử đúng đắn và thống nhất nhiều tác giả và nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm khác nhau về Chính phủ điện tử

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, Chính phủ điện tử là khái niệm chỉ các cơ quan Chính phủ sử dụng công nghệ thông tin như mạng diện rộng, Internet, các phương tiện di động để giao dịch với người dân, với doanh nghiệp và bản thân các cơ quan trong Chính phủ [28]

Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới (World Bank) “Chính phủ điện tử là việc các cơ quan của Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin – truyền thông để thực hiện quan hệ với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, nhờ đó giao dịch của các cơ quan Chính phủ với người dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng Lợi ích thu được sẽ giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí” [29]

Theo Sally Katzen, Phó giám đốc điều hành cơ quan quản lý ngân sách thời Tổng thống Bill Clinton thì “Chính phủ điện tử là việc người dân và doanh nghiệp có thể truy cập thông tin và sử dụng dịch vụ Chính phủ 24/24 giờ, 7 ngày mỗi tuần Chính phủ điện tử chủ yếu dựa vào các cơ quan Chính phủ sử dụng Internet và các công nghệ tiên tiến khác để nhận và cung cấp thông tin, dịch vụ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và rẻ hơn” [31]

Tuy có nhiều khái niệm về Chính phủ điện tử được đưa ra nhưng cách hiểu về Chính phủ điện tử theo Sally Katzemn như trên đã được nêu trong nhiều chiến lược về Chính phủ điện tử của các quốc gia và có thể coi đây là khái niệm đúng nhất về Chính phủ điện tử tính đến thời điểm hiện tại Khái niệm này đã nêu bật lên được bản chất

Trang 7

của Chính phủ điện tử là sự giao tiếp hai chiều giữa Chính phủ với công dân, các doanh nghiệp và các tổ chức khác thông qua việc sử dụng Internet và các công nghệ tiên tiến Theo đó, Chính phủ là người cung cấp dịch vụ, còn công dân, các doanh nghiệp và các tổ chức là người sử dụng dịch vụ, một khi sự giao tiếp này được hiện thực hóa thì đó chính là Chính phủ điện tử Đây là điểm tiến bộ so với các khái niệm khác về Chính phủ điện tử trong khi các khái niệm khác về Chính phủ điện tử chỉ nêu lên mối quan hệ một chiều trong việc cung cấp dịch vụ của Chính phủ cho người dân

và các doanh nghiệp cũng như các tổ chức khác

1.1.2 Đặc điểm của Chính phủ điện tử

Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về Chính phủ điện tử và thậm chí còn có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm chung về

Chính phủ điện tử như sau:

Thứ nhất, Chính phủ điện tử là Chính phủ sử dụng công nghệ thông tin và viễn

thông để tự động hoá và triển khai các thủ tục hành chính Đây được xem là một trong những ứng dụng quan trọng của công nghệ thông tin và viễn thông trong hoạt động nhà nước, góp phần giảm gánh nặng cho các cơ quan hành chính cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công dân khi tiếp xúc với cơ quan công quyền

Thứ hai, Chính phủ điện tử cho phép các công dân có thể truy cập các thủ tục hành

chính thông qua các phương tiện điện tử như Internet, điện thoại di động, truyền hình tương tác Qua đó, người dân có thể cập nhật thông tin về các thủ tục hành chính, giao dịch với các cơ quan hành chính nhà nước mà không cần phải trực tiếp đến các cơ quan đó

Thứ ba, Chính phủ điện tử là Chính phủ làm việc với người dân 24/24 giờ, 7 ngày

mỗi tuần và 365 ngày mỗi năm Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của Chính phủ điện tử bởi vì người dân có thể thụ hưởng các dịch vụ công bất kể thời gian nào và

dù họ ở bất cứ đâu

Từ những đặc điểm trên ta thấy rằng Chính phủ điện tử có nhiều điểm khác so với Chính phủ truyền thống Với Chính phủ truyền thống, quá trình quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước diễn ra mang tính thủ công, tốn nhiều công sức, thời gian và tiền bạc Người dân không thể liên lạc với Chính phủ ngoài giờ hành chính, không thể

ở bất cứ nơi nào ngoài trụ sở của các cơ quan nhà nước, trừ các trường hợp khác được pháp luật quy định Người dân không thể đăng ký lấy giấy phép kinh doanh, làm khai sinh cho con mình hay đóng thuế trước bạ hoặc bất cứ giao dịch nào khác 24/24 giờ,

Trang 8

7/7 ngày và ở bất cứ đâu Chính phủ điện tử có thể khắc phục được những hạn chế này của Chính phủ truyền thống

Ngoài ra, sự khác biệt chủ yếu giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ truyền thống

là sự khác biệt về tốc độ xử lý giữa các thủ tục hành chính được tự động hóa so với các thủ tục hành chính được xử lý thủ công Việc tự động hoá thủ tục hành chính của Chính phủ điện tử cho phép xử lý các thủ tục nhanh hơn, gọn hơn, đơn giản hơn rất nhiều Không những thế, thông tin được cung cấp cho người dân còn đầy đủ, chính xác

và dễ dàng hơn, người dân cũng đỡ mất nhiều chi phí để thu thập các thông tin này.[12-tr17]

Như vậy, Chính phủ điện tử là một Chính phủ hiện đại hơn nhiều so với Chính phủ truyền thống Chính phủ điện tử là mục tiêu mà các cơ quan hành chính nhà nước các cấp nói riêng và cơ quan nhà nước nói chung cần hướng đến xây dựng và phát triển

1.1.3 Vai trò của Chính phủ điện tử trong quản lí nhà nước và trong phát triển kinh tế xã hội

Trong thời đại ngày nay, mọi công dân có thể được hưởng các dịch vụ của Chính phủ mọi lúc, mọi nơi, với chi phí thấp hơn và được phục vụ nhiệt tình hơn Chính phủ điện tử cũng ảnh hưởng rất lớn lên giới doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ Các công ty giờ đây có thể hoàn thành các yêu cầu của Chính phủ trên mạng, tìm kiếm các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, thực hiện các giao dịch hoặc nộp thuế ngay trên mạng Chính phủ điện tử có thể khiến cho các cá nhân truy cập thông tin và dịch vụ liên quan đến mình qua một cửa duy nhất Các thông tin được cung cấp của Chính phủ điện tử luôn đảm bảo đáp ứng mọi nhu cầu của từng cá nhân riêng lẻ

Nói chung, Chính phủ điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho cộng đồng bao gồm người dân và các doanh nghiệp cũng như cho chính Chính phủ của quốc gia đó Cụ thể bao gồm các lợi ích sau:

a) Lợi ích về mặt kinh tế

Về mặt kinh tế, Chính phủ điện tử là một ý tưởng nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch để tăng hiệu quả của nền hành chính công quyền Đồng thời, Chính phủ điện tử là một công cụ giảm thiểu những “chi phí bôi trơn” không cần thiết giữa các đối tác trong quá trình giao dịch

Đối với cộng đồng

Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc xây dựng Chính phủ điện tử là giúp người dân dễ dàng trong việc tiếp cận với các thông tin cũng như sử dụng các

Trang 9

dịch vụ của Chính phủ Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên thì Chính phủ phải để người dân cũng như các doanh nghiệp thấy rõ lợi ích của Chính phủ điện tử đối với chính họ bao gồm:

Một là, Chính phủ điện tử giúp giảm thiểu lãng phí thời gian và chi phí của người

sử dụng dịch vụ của Chính phủ Cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lí và cung cấp các dịch vụ của Chính phủ, người dân và các doanh nghiệp có thể trực tiếp sử dụng các dịch vụ của Chính phủ thông qua mạng Internet một cách nhanh chóng mà không cần phải chờ hàng tiếng đồng hồ để được phục vụ tại các cơ quan công quyền Việc giảm thiểu thời gian phục vụ người dân, doanh nghiệp nêu trên khi truy nhập và sử dụng dịch vụ của Chính phủ kéo theo hệ quả tất yếu là việc giảm chi phí của chính người sử dụng dịch vụ, tránh lãng phí tiền của của nhân dân

Hai là, Chính phủ điện tử tăng cường cho sự phát triển kinh tế Hiệu quả của việc

triển khai dự án Chính phủ điện tử tác động rõ ràng đến nền kinh tế Tổng khối lượng mua sắm công của một nền kinh tế quốc dân thường chiếm từ 10-20% GDP Nếu mua sắm 10% của tổng số mua sắm công bằng hình thức điện tử với khả năng giảm 10% giá thành thì có thể tiết kiệm 1% GDP hằng năm Đây là lợi ích thiết thực nhất về mặt kinh tế vì Chính phủ điện tử có thể giúp tiết kiệm hàng triệu đô-la mỗi năm so với hình thức mua sắm truyền thống.[10-tr21]

Thứ hai, Chính phủ điện tử còn được kỳ vọng mang lại lợi ích quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý của Chính phủ Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản lý nhà nước góp phần làm minh bạch hóa các hoạt động của Chính phủ, công khai hóa thông tin và làm cho các giao dịch giữa Chính phủ với công dân trở nên

Trang 10

dễ dàng hơn Thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, hoạt động quản lý của Chính phủ trở nên nhất quán và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giám sát

b) Lợi ích trong hoạt động quản lí nhà nước

Ngoài việc đem lại những lợi ích thiết thực về mặt kinh tế cho cả người dân lẫn Chính phủ, Chính phủ điện tử còn đem lại những lợi ích to lớn trong hoạt động quản lý nhà nước

Thứ nhất, Chính phủ điện tử giúp tăng cường sự minh bạch trong hoạt động quản

lí nhà nước Do không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, dự án Chính phủ điện

tử tạo ra luồng thông tin thông suốt và minh bạch cũng như khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ một cách dễ dàng, thuận tiện Những thông tin này bao gồm các quy định của pháp luật, chính sách và hướng dẫn liên quan đến mua sắm công, kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, hồ sơ mời thầu, biên bản đấu thầu và kết quả đấu thầu… Ngoài các thông tin trên thì các hoạt động trong quản lí nhà nước cũng được công khai, minh bạch hóa đến mọi người dân Sự minh bạch trong thông tin sẽ giúp giảm thiểu cơ hội móc ngoặc, tham nhũng, giúp phát hiện sớm và loại trừ các hành vi này cũng như làm trong sạch bộ máy hành chính

Thứ hai, với vai trò là người làm chủ đất nước, là nhân tố chính của xã hội, người

dân luôn mong muốn được tham gia, kiểm soát các hoạt động của Chính phủ Cùng với những ưu điểm vượt trội so với Chính phủ truyền thống, Chính phủ điện tử ra đời góp phần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động của Chính phủ, đáp ứng nhu cầu và sự thỏa mãn ngày càng tăng của xã hội nói chung và mọi người dân nói riêng Từ đó xây dựng và tăng cường lòng tin giữa Chính phủ và dân chúng Đây lợi ích chính trị vô cùng quan trọng mà bất cứ Chính phủ nào cũng hướng đến Bởi lẽ một khi thiếu vắng sự tin tưởng thì vai trò của pháp luật, hiệu quả cưỡng chế của các quyết định của Chính phủ cũng như các chương trình đổi mới của Chính phủ thường bị người dân thờ ơ, không đón nhận Nếu sự tương tác của Chính phủ với người dân tăng lên, kết hợp với hiệu quả và chất lượng dịch vụ cung cấp được cải thiện thì Chính phủ điện tử sẽ là yếu tố tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Chính phủ Lợi ích chính trị này có được khi áp dụng Chính phủ điện là động cơ đầu tiên và mạnh nhất đối với các nhà làm chính sách khi họ muốn cải cách hệ thống quản

lí công của mình.[17]

Trang 11

1.1.4 Các hình thức cung cấp dịch vụ chính của Chính phủ điện tử

Trong xã hội, dù là Chính phủ truyền thống hay Chính phủ điện tử đều có 3 thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bao gồm: Chính phủ (Government) viết tắt là

G, doanh nghiệp (Business) viết tắt là B, công dân (Citizen) viết tắt là C Dù có khác nhau về phương tiện, phương thức tương tác so với Chính phủ truyền thống thì các hoạt động của Chính phủ điện tử cũng chính là sự tương tác giữa các đối tượng trên vì

đó cũng chính là các đối tượng sử dụng dịch vụ Chính phủ Sự tương tác giữa các đối tượng trên hình thành các hình thức cung cấp dịch vụ chính sau:

a) Hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ đến Chính phủ - G2G (Government to Government)

Hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ đến Chính phủ - G2G (Government to Government) được hiểu là khả năng phối hợp, chuyển giao và cung cấp các dịch vụ một cách có hiệu quả giữa các cấp, ngành, tổ chức, bộ máy của Nhà nước trong việc điều hành và quản lý nhà nước, trong đó chính bản thân bộ máy nhà nước vừa đóng vai trò là chủ thể và khách thể trong mối quan hệ này

Giao dịch G2G được triển khai ở hai cấp độ: ở địa phương hoặc Trung ương và ở cấp độ quốc tế Các dịch vụ G2G là các giao dịch giữa Chính phủ Trung ương/quốc gia và các chính quyền địa phương, giữa các vụ và các công ty, cơ quan trong bộ máy Chính phủ, giữa các cơ quan Chính phủ với nhân viên Đồng thời, các dịch vụ G2G là các giao dịch giữa các Chính phủ với nhau và có thể được sử dụng như một công cụ liên lạc, giao dịch hiệu quả trong quan hệ quốc tế và ngoại giao G2G bao gồm các hoạt động như:

- Các hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong các cấp của chính quyền Hệ thống hỗ trợ ra quyết định là các hệ thống thông tin máy tính hỗ trợ ra quyết định hoạt động tương tác dựa trên hệ thống máy tính và hệ thống phụ nhằm giúp các nhà quản lý quyết định sử dụng công nghệ thông tin, dữ liệu, kiến thức và các mô hình để hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình quyết định

- Các hệ thống thông tin quản lý trong nội bộ Chính phủ: nhân sự, tài chính, tài sản, hồ sơ, lưu trữ Đây là các hệ thống hỗ trợ rất nhiều cho quá trình làm việc của các

cơ quan Chính phủ về lĩnh vực lưu trữ và quản lý thông tin Nhờ có các hệ thống thông tin quản lý mà thông tin được quản lý thống nhất, minh bạch và dễ dàng cho việc tìm kiếm

Trang 12

- Thu thập, xử lý các thông tin quản lý như: kinh tế, an ninh, quốc phòng Đây là một trong các chức năng của các cơ quan Chính phủ Hoạt động này nhằm hỗ trợ cho quá trình ra quyết định và các chính sách của nhà nước

b) Hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ đến Doanh nghiệp - G2B (Government to Business)

Hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ đến Doanh nghiệp là những dịch vụ trao đổi giữa Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp bao gồm cả việc phổ biến các chính sách, biên bản ghi nhớ, các quy định… Các dịch vụ được cung cấp bao gồm truy xuất các thông tin về kinh doanh, tải các mẫu đơn, gia hạn giấy phép, đăng ký kinh doanh,

xin cấp phép và nộp thuế… Trang Web BusinessLaw.gov của Chính phủ Mỹ là một ví

dụ điển hình về hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ đến doanh nghiệp Qua trang Web này các doanh nghiệp có thể truy cập các thông tin, các nghị định và các văn bản pháp luật khác Cũng trên trang Web này các doanh nghiệp có thể sử dụng ngay các dụng cụ chuyên ngành để tìm hiểu xem các văn bản luật yêu cầu gì đối với công việc kinh doanh của mình

Các dịch vụ được cung cấp thông qua giao dịch từ Chính phủ đến Doanh nghiệp cũng hỗ trợ việc phát triển kinh doanh, đặc biệt là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép, hỗ trợ quá trình phê duyệt đối với các yêu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thúc đẩy kinh doanh phát triển Ở mức cao hơn, các dịch vụ dạng này còn bao gồm cả việc mua sắm điện tử và trao đổi trực tuyến giữa Chính phủ với các nhà cung cấp để mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho Chính phủ

c) Hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ đến Công dân - G2C (Government to Citizen)

Hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ tới Công dân này là để cung cấp dịch vụ trực tuyến tới mọi người dân, ví dụ tổ chức bầu cử của công dân, thăm dò dư luận, tư vấn, khiếu nại, giám sát và thanh toán thuế… Ngoài ra, G2C còn bao gồm việc phổ biến thông tin tới công chúng các dịch vụ cơ bản như gia hạn giấy phép, cấp giấy khai sinh/ khai tử/ Đăng kí kinh doanh và kê khai các biểu mẫu nộp thuế thu nhập cá nhân cũng như việc hỗ trợ người dân đối với các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, thông tin bệnh viện, thư viện và rất nhiều dịch vụ khác Dân chúng có thể thu thập các thông tin liên quan tới cuộc sống hàng ngày của mình và sử dụng các dịch vụ của Chính phủ một cách nhanh chóng và tiết kiệm thông qua việc kết nối vào mạng của Chính phủ

Trang 13

1.2 Tình hình phát triển Chính phủ điện tử trên thế giới

Theo báo cáo về tình hình phát triển Chính phủ điện tử toàn cầu của Darell M.West, giáo sư trường đại học Brown ở Providence, Rhode Island, vào tháng 8 năm

2008, tình hình phát triển Chính phủ điện tử các nước trên thế giới tiến tiến bộ hơn rất nhiều so với những năm trước Báo cáo này đánh giá tình trạng hiện tại của Chính phủ điện tử và có những đề xuất thiết thực để cải thiện việc cung cấp thông tin và dịch vụ qua mạng Internet Những dữ liệu phân tích chi tiết được thực hiện năm 2008 lấy từ

1667 trang Web của Chính phủ ở 198 quốc gia khác nhau cho thấy:

 Một phát hiện quan trọng của báo cáo này là có sự khác biệt lớn trong trong việc thực hiện Chính phủ điện tử ở các quốc gia Trong việc sử dụng công nghệ, Hoa Kỳ đã tụt xuống sau Hàn Quốc và Đài Loan Các quốc gia đứng đầu hiện nay trong phát triển Chính phủ điện tử là Hàn Quốc, Mỹ, Xin-ga-po, Ca-na-đa, Úc, Đức… Ngược lại, cũng có những quốc gia như Tuvalu, Mauritania, Guinea, Công gô, Comoros, Macedonia, Kiribati, Samoa và Tanzania hầu như không có sự hiện diện các trang web

 Trên thế giới có 50% trang web của Chính phủ đã thực hiện cung cấp dịch vụ trực tuyến, tăng 28% so với năm 2007

 96% trang web cung cấp các ấn phẩm và 75% trang web cho phép kết nối với các cơ sở dữ liệu khác

 Chỉ 30% trang web của Chính phủ có đưa ra chính ra bảo mật và 17% có chính sách an ninh

 Chỉ có 16% của các trang web của Chính phủ có một số hình thức tiếp cận cho người tàn tật, trong khi 57% cung cấp bản dịch tiếng nước ngoài cho độc giả không phải là bản địa

 Mười bốn phần trăm cung cấp khả năng cá nhân hoá các trang web của chínhphủ đến khu vực của khách hàng truy cập quan tâm, trong khi ba phần trăm cung cấp khả năng truy cập PDA.[30]

Theo khảo sát của Liên Hợp Quốc về Chính phủ điện tử trên thế giới 2010, chỉ số phát triển Chính phủ điện tử trung bình thế giới giảm nhẹ so với những năm trước Tuy nhiên, sự giảm nhẹ này không được xem như sự suy thoái của Chính phủ điện tử trên quy mô toàn cầu bởi vì chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của các quốc gia trong một năm chỉ mang tính tương đối khi so sánh với các năm khác Quan trọng hơn, sự sụt giảm của một quốc gia trong bảng xếp hạng chỉ số phát triển Chính phủ điện tử có thể

Trang 14

xem như một sự nhắc nhở cho quốc gia đó về việc cần thiết dành các nguồn lực lớn hơn để cải thiện các dịch vụ trực tuyến và mở rộng truy cập cơ sở hạ tầng viễn thông Tuy nhiên, công dân các quốc gia lại được hưởng lợi nhiều hơn từ việc được cung cấp những dịch vụ điện tử tiên tiến, tiếp cận thông tin tốt hơn, quản lý Chính phủ hiệu quả hơn và cải thiện tương tác với Chính phủ các quốc gia Những tiến bộ trên là kết quả chủ yếu của việc sử dụng ngày càng tăng công nghệ thông tin và truyền thông trong lĩnh vực công Hầu hết các nước đã đưa vào sử dụng một số lượng lớn thông tin trực tuyến, nhiều trang web được thiết kế để cung cấp cổng thông tin quốc gia phục vụ như đầu mối khởi đầu quan trọng kết nối người sử dụng với các cơ quan của Chính phủ

Theo bảng xếp hạng chỉ số phát triển Chính phủ của Liên Hợp quốc năm 2010, phần lớn các quốc gia có thu nhập cao đứng ở các vị trí đầu trong bảng xếp hạng như những năm trước đây Trong số năm quốc gia dẫn đầu trong khảo sát chỉ số phát triển Chính phủ điện tử, Hàn Quốc nhận được số điểm cao nhất (0.8785), tiếp theo là Hoa

Kỳ (0.8510), Canada (0.8448), Vương quốc Anh (0.8147), Hà Lan (0.8097)

Bảng: 20 quốc gia dẫn đầu trong phát triển Chính phủ điện tử

Xếp hạng Quốc gia

Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử

Xếp hạng Quốc gia

Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử

Phần lớn các vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng trên đây đều thuộc về các quốc gia

có thu nhập cao, đây không phải là điều đáng ngạc nhiên bởi vì đó đều là những quốc

Trang 15

gia có nguồn lực tài chính mạnh để phát triển và triển khai Chính phủ điện tử cũng như tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc tham gia của công dân mình Những quốc gia phát triển có lợi thế hơn hẳn trong việc đạt được thứ hạng cao trong cuộc khảo sát, gần hai phần ba tỷ trọng trong đánh giá chỉ số phát triển Chính phủ điện tử được phân bổ cho cơ sở hạ tầng viễn thông và nguồn nhân lực mà cả hai yếu tố trên đều đòi hỏi sự đầu tư dài hạn Đối với các quốc gia đang phát triển, thách thức được đặt ra là phải đầu

tư cả ba chiều: các dịch vụ trực tuyến, cơ sở hạ tầng viễn thông và giáo dục để có thể thu hẹp khoảng cách trong lĩnh vực kỹ thuật số hiện nay Nói cách khác, việc cung cấp một trang wed cung cấp dịch vụ trực tuyến tuyệt vời cũng không có ý nghĩa gì nhiều nếu đa số người dân trong đất nước đó không biết đọc, viết hay không thể truy cập vào Internet

Các quốc gia trên thế giới có tốc độ phát triển Chính phủ điện tử khác nhau phụ thuộc vào từng khu vực Theo báo cáo của Liên Hợp quốc về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử trung bình từng khu vực, châu Âu nhận được số điểm cao nhất (0.6227), tiếp theo là châu Mỹ (0.4790) Châu Phi tiếp tục tụt xa so với mức trung bình thế giới (0.446) vì đây là khu vực tập trung hầu hết các quốc gia kém phát triển nhất thế giới và các nước này thiếu nguồn tài chính cũng như nhân lực đủ để thực hiện Chính phủ điện

tử Khu vực châu Á chỉ trên mức trung bình một chút nhưng Hàn Quốc lại là một ngoại lệ vì đứng đầu trong bảng xếp hạng chỉ số phát triển Chính phủ điện tử 2010.[45]

Biểu đồ: Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử trung bình các khu vực trên thế

giới[45]

Trang 16

Nhiều Chính phủ đã nâng cao các trang web thuộc bộ và quốc gia của mình để kết hợp với các công cụ tương tác nhằm tăng cường sự tham gia sử dụng những ứng dụng điện tử của công dân

Các công cụ web 2.01 và kết nối mạng xã hội cho phép công dân trở nên chủ động hơn trong việc bày tỏ quan điểm của mình về nhiều vấn đề, đặc biệt là về các vấn đề liên quan đến môi trường, y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác về chính sách của Chính phủ

Công dân sử dụng công cụ web 2.0 và kết nối mạng xã hội sẽ có tác dụng kích thích các công dân cùng chí hướng khác chia sẻ ý tưởng và phát triển những phương pháp hợp tác giải quyết các vấn đề quan trọng của xã hội Vì vậy, các chính trị gia và những người ra quyết định cần phải biết tận dụng nguồn thông tin và kiến thức giàu có này

Xu hướng toàn cầu đối với việc lắng nghe tiếng nói của công dân và khuyến khích

sự tham gia của họ ngày càng tăng Xu hướng này sẽ còn tiếp tục và mở rộng trong vài năm tới và xa hơn nữa vì các công dân đang ngày càng sử dụng nhiều công cụ tham gia điện tử Thêm nữa, các chính trị gia và người ra quyết định dường như đã thiên về lắng nghe tiếng nói công dân Mặc dù phong trào này chủ yếu được phát triển tại các quốc gia có thu nhập cao nhưng những quốc gia thu nhập trung bình cũng không còn cách xa nhiều lắm

Bảng: Nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về tỷ lệ tham gia điện tử (Khảo sát về Chính

phủ điện tử của Liên Hợp Quốc năm 2010)[45]

Thứ hạng Quốc gia Chỉ số tham gia

điện tử

Thứ hạng năm 2010

Thứ hạng năm 2011

Trang 17

là những nước mới phát triển Chính phủ điện tử và đa phần trong số đó là những nước

có thu nhập trung bình Từ năm 2008, những nước có thu nhập trung bình đã điều chỉnh các trang web của mình để có được nhiều phản hồi và bắt đầu quá trình đối thoại với công dân

1.3 Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Phát triển Chính phủ điện tử ở Mỹ

a) Mục tiêu phát triển Chính phủ điện tử ở Mỹ

Dự án phát triển Chính phủ điện tử của Mỹ nhằm mục đích ứng dụng công nghệ thông tin để tiết kiệm hàng triệu đô-la lãng phí trong chi tiêu của Chính phủ, giảm gánh nặng lên người dân và doanh nghiệp khi phải làm việc với Chính phủ, rút ngắn thời gian trả lời những câu hỏi của người dân từ hàng tuần xuống còn vài phút Mục đích quan trọng trong dự án này là phải làm sao cho người dân có thể truy cập thông

tin và sử dụng dịch vụ Chính phủ chỉ bằng ba lần nhấn chuột khi sử dụng Internet Để

thực hiện dự án trên, Chính phủ Mỹ đã cam kết thúc đẩy các chiến lược phát triển Chính phủ điện tử bằng cách hỗ trợ các cơ quan nhà nước nhiều dự án cải thiện dịch

vụ công và tăng hiệu quả thực hiện Với mục tiêu đó, nhóm thực hiện do Mitchell

Trang 18

E.Daneils2 thành lập đã phát triển một lộ trình phát triển Chính phủ điện tử đồng thời khởi xướng một liên cơ quan phát triển Chính phủ điện tử nhằm xác định các kế hoạch hành động cho việc thực hiện dự án Chính phủ điện tử của Tổng thống đương nhiệm George Bush Các mục tiêu trong chiến lược phát triển Chính phủ điện tử của nhóm thực hiện bao gồm:

- Đề ra những giải pháp giảm thiểu chi phí đầu tư cho công nghệ thông tin không cần thiết trong sáu lĩnh vực kinh doanh của Chính phủ

 Từ mục tiêu chung, Chính phủ Mỹ đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:

Thứ nhất, đối với loại hình Chính phủ - công dân (Government to Citizen) thì mục

tiêu đề ra là xây dựng các công cụ giúp công dân dễ dàng tìm kiếm, dễ sử dụng và tiếp cận với các dịch vụ chất lượng cao của Chính phủ Rút ngắn thời gian truy cập thông tin về các khoản vay, tăng số lượng công dân trình văn bản thuế và nộp thuế cũng như rút ngắn thời gian cho người dân khi phải tìm kiếm các thông tin giải trí

Thứ hai, đối với loại hình Chính phủ - doanh nghiệp (Government to Business) thì

mục tiêu chính của loại hình này là giảm gánh nặng cho các doanh nghiệp bằng cách loại bỏ việc thu thập các dữ liệu không cần thiết, tận dụng tốt công nghệ doanh nghiệp điện tử và cho phép các doanh nghiệp có thể trình văn bản thuế và nộp thuế qua mạng Ngoài ra còn tăng khả năng tìm kiếm, tiếp cận các quy tắc và các văn bản pháp luật

Thứ ba, đối với loại hình Chính phủ - Chính phủ (Government to Government) thì

mục tiêu chủ yếu của loại hình này là làm sao cho chính quyền các cấp làm việc với nhau dễ dàng hơn để phục vụ người dân ngày càng tốt hơn Để đạt được yêu cầu này phải có các biện pháp để chính quyền Liên bang và chính quyền các bang cũng như chính quyền các bang với nhau dễ dàng nhận được thông tin và đáp ứng yêu cầu của nhau

2 Một nghị sĩ của bang Indianna và là giám đốc của Văn phòng quản lý và Ngân sách dưới thời Tổng thống George Bush

Trang 19

Cuối cùng, đối với nội bộ Chính phủ thì mục tiêu là làm cho việc sử dụng cộng

nghệ hiện đại có hiệu quả hơn để giảm chi phí và nâng cao chất lượng các cơ quan hành chính bằng cách sử dụng các ứng dụng công nghiệp trong các lĩnh vực như quản

lí chuỗi cung ứng, quản lí tài chính và quản lí tri thức

Với những mục tiêu đã đề ra trên đây và với mong muốn Chính phủ điện tử sẽ cung cấp dịch vụ ngày càng tốt hơn tới người dân với chi phí thấp hơn, các cơ quan Chính phủ điện tử và công nghệ thông tin đã thực hiện những chính sách sau:

Một là đơn giản hóa quá trình hoạt động của Chính phủ nhằm cải thiện chất lượng

dịch vụ

Hai là sử dụng ngân sách hàng năm để hỗ trợ cho việc thực hiện dự án Chính phủ

điện tử

Ba là đẩy nhanh tình hình thực hiện dự án thông qua phát triển, tuyển dụng và giữ

chân lực lượng cán bộ công nghệ thông tin có trình độ

Bốn là tiếp tục hiện đại hóa quản lí thông qua ứng dụng Công nghệ thông tin trong

các cơ quan Chính phủ, bao gồm quản lí chi phí, quản lí các báo cáo tài chính, quản lí

sổ sách, cung cấp thông tin và dữ liệu liên quan tới tình hình đất nước, quản lí nguồn nhân lực,…

Liên kết lãnh đạo các cơ quan Chính phủ để hỗ trợ cho việc thực hiện dự án Chính

phủ điện tử

b) Quá trình phát triển Chính phủ điện tử ở Mỹ

Bộ máy hành chính hiện tại của Mỹ là sản phẩm của các xung đột chính trị trong suốt hai thập kỷ qua Cho đến nay hệ thống hành pháp của Liên bang Mỹ được đánh giá là khá tản mạn Hệ thống này bao gồm Tổng thống, các trợ lý, Bộ trưởng, 14 bộ và hàng loạt các cơ quan khác với khoảng ba triệu công chức Với một bộ máy chính quyền khá cồng kềnh như vậy thì sự ra đời Chính phủ điện tử thực sự là một cuộc cách mạng Người Mỹ đã sớm biết rằng khi công nghệ, khả năng sáng tạo và lãnh đạo hợp nhất thì sẽ tạo ra những kết quả mạnh mẽ Điều gì sẽ xảy ra nếu Chính phủ nắm lấy công nghệ thông tin với trí sáng tạo và sự lãnh đạo táo bạo? Điều gì sẽ xảy ra nếu tất

cả người Mỹ đều nhận thức được Chính phủ điện tử là cách để thay đổi thế giới một cách có ý nghĩa? Và điều gì sẽ xảy ra nếu căn bệnh thâm niên của Chính phủ là sự mất liên lạc giữa người dân và Chính phủ được nối lại? Khích lệ bởi những câu hỏi này, Chính phủ cùng hàng trăm nhà lãnh đạo trong các ngành, các nhà nghiên cứu và các tổ chức phi lợi nhuận đã bắt đầu hợp tác làm việc vào tháng 11/1999 để chính thức phát triển Chính phủ điện tử Công việc của họ được phát động, hướng dẫn và điều phối bởi

Trang 20

tổ chức phi lợi nhuận và phi Chính phủ CEG (Council for Excellence in Government) Theo dự án này, hai chuyên gia tư vấn Peter Hart và Robert Teeter đã thực hiện hai cuộc điều tra vào tháng 8/2000 và tháng 1/2001

Cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 1/2001 của P.Hart và R.Teeter cho thấy trong 3 người Mỹ thì có 1 người nói Chính phủ điện tử nên được Tổng thống mới ưu tiên Hai phần ba số người được trưng cầu ý kiến ủng hộ công việc của cơ quan công nghệ Nhà Trắng nhằm đổi mới Chính phủ và cải thiện dịch vụ thông qua mạng Internet Hai phần ba cho rằng sự tồn tại mối liên hệ giữa nhà nước và khu vực tư nhân bao giờ cũng tốt hơn là để hai khu vực này hoạt động độc lập với nhau Cũng 2/3 số người được hỏi ủng hộ việc sử dụng quỹ Chính phủ để giúp các bang hiện đại hoá hệ thống bầu cử, ví dụ như lắp đặt các máy bỏ phiếu điện tử tương tự như các máy rút tiền tự động đang được sử dụng rộng rãi ở các ngân hàng [34]

Năm 2001, tổng thống George Bush đã bắt đầu một vài nỗ lực cải cách Chính phủ nhằm giúp cho Chính phủ hoạt động hiệu quả hơn và lấy dân làm trọng tâm Một trong những nỗ lực này là tạo lập nên một Chính phủ điện tử ở Mỹ Vì vậy vào ngày 18/7/2001, giám đốc cơ quan Quản lý và Ngân sách (OMB: Office of Management and Budget), ông Mitchell E.Daneils đã thành lập nhóm thực hiện Chính phủ điện tử vạch kế hoạch hành động để thực hiện những bước khởi đầu cho Chính phủ điện tử Đến 27/02/2002 Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử đã hoàn thành để chuẩn bị nền tảng cho việc thực hiện các công đoạn sau này.[10-tr.202]

Để tạo điều kiện cho việc thực hiện các chính sách đã đề ra và đạt được các mục tiêu ban đầu, Chính phủ Mỹ phải tạo được một nền tảng pháp lí vững chắc cho việc thực hiện Chính phủ điện tử Đáp ứng nhu cầu bức thiết trên, tháng 12 năm 2002, luật Chính phủ điện tử đã chính thức được Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mỹ thông qua với những quy định đáng chú ý sau:

 Vấn đề về Quỹ phát triển Chính phủ điện tử:

Mục a §3604 luật Chính phủ điện tử 2002 quy định về việc thành lập quỹ Chính

phủ điện tử: “Quyết định thành lập quỹ Chính phủ điện tử trong ngân khố Chính phủ

Mỹ Quỹ này được quản lí bởi quản trị viên của tổng cục quản lí dịch vụ và sự hỗ trợ của quản trị viên văn phòng Chính phủ để ủng hộ các dự án được phê chuẩn mà cho phép Chính phủ Liên bang mở rộng khả năng điều hành các hoạt động điện tử thông qua việc phát triển và sử dụng Internet cũng như các phương pháp liên quan đến điện

tử khác”

Trang 21

Theo quy định tại §3604 tiêu đề I luật Chính phủ điện tử 2002, Quỹ Chính phủ điện tử chỉ có thể được sử dụng sau khi đã thông qua một trình tự thủ tục nghiêm ngặt, trước tiên là thủ tục khi xem xét các đề xuất sử dụng Quỹ và việc quản lí quỹ theo

§3604(b)(2) “Khi xem xét các đề xuất và quản lí Quỹ, người quản lí phải thực hiện và kết hợp các thủ tục sau đây:

(A) Một dự án lớn đòi hỏi có sự tham gia hoặc tài trợ của một cơ quan được chấp thuận bởi một quan chức cao cấp với chuyên gia của cơ quan đó thay mặt cho người đứng đầu của cơ quan va cũng là người báo cáo trực tiếp cho người đứng đầu cơ quan đó

(B) Các dự án sẽ phải tuân thủ kế hoạch vốn cơ bản và các quy trình kiểm soát đầu tư

(C) Các cơ quan phải nhận biết các cam kết về nguồn lực từ các cơ quan có liên quan và các nguồn lực này được phối hợp với sự hỗ trợ từ Quỹ như thế nào, và bao gồm cả các kế hoạch cho việc tiếp tục dự án sau khi tất cả các quỹ có sẵn từ Quỹ đã được chi tiêu

(D) Sau khi xem xét các khuyến nghị của các hội đồng liên ngành, Giám đốc, với sự hỗ trự của người quản lí, có quyền ra quyết định cuối cùng xác định các dự án được đề cử nào sẽ được Quỹ tài trợ

(E) Các cơ quan sẽ phải đánh giá kết quả của các dự án được tài trợ ”

Ngoài ra §3604(e) còn quy định về thủ thục chuyển giao để sử dụng Quỹ “Không

có bất cứ nguồn kinh phí nào từ Quỹ có thể được chuyển giao tới bất cứ cơ quan nào đến sau 15 ngày kể từ ngày người quản lí của Tổng cục quản lí dịch vụ trình Các ủy ban sau: Ủy ban về phân bổ ngân sách của Thượng viện và Hạ viện, Ủy ban về các vấn đề của Chính phủ của Thượng viện, Ủy ban Cải cách Chính phủ của Hạ viện, một thông báo và mô tả chi tiết về việc phân bổ kinh phí và cách thức chi tiêu cũng được

đệ trình.”

Như vậy, Luật Chính phủ điện tử Mỹ 2002 đã quy định hết sức chặt chẽ về Quỹ phát triển Chính phủ điện tử bởi đây là một trong những yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển Chính phủ điện tử

 Các quy định về bảo mật

Các quy định về bảo mật là một phần không thể thiếu trong phát triển Chính phủ điện tử bởi lẽ một Chính phủ điện tử hoạt động hiệu quả không chỉ là việc cung cấp các dịch vụ trực tuyến cho người dân đảm bảo mối quan hệ hai chiều giữa công dân với Chính phủ mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về bảo mật thông tin - cơ sở để tạo

Trang 22

dựng lòng tin và khuyến khích công dân tham gia Chính phủ điện tử Đáp ứng yêu cầu trên Luật Chính phủ điện tử Mỹ 2002 đã dành nhiều phần để quy định về vấn đề này

mà chủ yếu tập trung tại tiêu đề III, phần 301 tiểu chương III và phần 208 tiêu đề II Trước tiên, phần 208 Luật Chính phủ điện tử 2002 quy định:

“(a) Mục đích: mục đích của phần này là đảm bảo sự bảo vệ có hiệu quả thông tin

cá nhân khi các cơ quan thực hiện Chính phủ điện tử

(b) Nội dung của đánh giá tác động bảo mật:

(A) Giám đốc sẽ ban hành hướng dẫn cho các cơ quan quy định cụ thể về nội dung của đánh giá tác động bảo mật

(B) Hướng dẫn của giám đốc sẽ:

(i) Đảm bảo một đánh giá tác động bảo mật tương xứng với quy mô hệ thống thông tin được đánh giá, sự nhạy cảm của thông tin trong hệ thống đó, các tác hại từ việc phát hành trái phép các thông tin đó và

(ii) Yêu cầu một đánh giá tác động bảo mật bao gồm:

(I) Những thông tin nào được thu thập (II) Tại sao những thông tin đó lại được thu thập (III) Mục đích sử dụng các thông tin đó

(IV) Thông tin đó được chia sẽ với những ai (V) Những thông báo nào sẽ được cung cấp cho các cá nhân về việc thông tin nào được thu thập và thông tin đó được chia sẽ như thế nào (VI) Thông tin đó sẽ được bảo vệ như thế nào và

(VII) Liệu có một hệ thống hồ sơ được tạo ra theo phần 552a tiêu đề số

5, theo mã của Mỹ, (thường được gọi là “Luật bảo mật”)”

Ngoài ra, Luật Chính phủ điện tử Mỹ năm 2002 còn dành hẳn một chương để quy định về an ninh thông tin tại tiêu đề III, phần 301 tiểu chương III, bao gồm các quy định sau:

Đầu tiên là về thuật ngữ “hệ thống an ninh quốc gia” quy định tại 3542(2)(A)(ii):

“Thuật ngữ “hệ thống an ninh quốc gia” có nghĩa là bất kì hệ thống thông tin nào (bao gồm cả hệ thống viễn thông) được sử dụng hoặc điều hành bởi một cơ quan hoặc

tổ chức đại diện cho cơ quan đó, luôn luôn được bảo vệ bởi các thủ tục được thiết lập cho các thông tin mà đã được ủy quyền một cách cụ thể theo các tiêu chuẩn được lập

ra bởi một lệnh điều hành hoặc một Đạo luật của Quốc hội.”

Bên cạnh đó, tất cả các cơ quan đang hoạt động trong hệ thống an ninh quốc gia phải tuân thủ chế độ bảo mật quốc gia theo quy định tại §3546(b): “Hệ thống an ninh

Trang 23

quốc gia - Mỗi cơ quan đang điều hành hoạt kiểm soát một hệ thống an ninh quốc gia phải chia sẻ thông tin về sự cố an toàn thông tin, những mối đe dọa cũng như các lỗ hổng với trung tâm sự cố an toàn thông tin Liên bang ở mức độ phù hợp với các tiêu chuẩn và hướng dẫn cho hệ thống an ninh quốc gia, được ban hành theo quy định của pháp luật và theo chỉ dẫn của Tổng thống ” Đồng thời §3547 còn quy định rõ hơn về

hệ thống an ninh quốc gia như sau: “Người đứng đầu của mỗi cơ quan điều hành hoạt kiểm soát một hệ thống an ninh quốc gia có trách nhiệm đảm bảo rằng cơ quan đó

(1) Cung cấp các chế độ bảo vệ an ninh thông tin tương xứng với các rủi ro và mức độ thiệt hại từ việc truy cập trái phép, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn hay phá hủy các thông tin có trong hệ thống

đó

(2) Thực hiện các chính sách an ninh thông tin theo yêu cầu của các tiêu chuẩn và hướng dẫn cho các hệ thống an ninh quốc gia, được ban hành theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tổng thống; và

(3) Tuân thủ theo các yêu cầu của Tiểu chương này”

 Về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin liên bang

Vấn đề nguồn nhân lực cũng hết sức quan trọng trọng phát triển Chính phủ điện tử bởi vì muốn quản lí và phát triển Chính phủ điện tử đòi hỏi phải có những nhà quản lí tốt và các nhân viên chuyên môn có năng lực cao, vì vậy quy định về tuyển dụng và các hình thức đào tạo nhân viên làm việc trong lĩnh vực này là yêu cầu không thể thiếu Vấn đề này được quy định trong phần 209 tiêu đề II luật Chính phủ điện tử Mỹ 2002:

“(a) Mục đích: mục đích của phần này là cải thiện kĩ năng của lực lượng lao động Liên bang trong việc sử dụng công nghệ thông tin để cung cấp các thông tin và dịch vụ Chính phủ

Trang 24

(C) Giám sát việc phát triển các chương trình giảng dạy, phương pháp đào tạo

và ưu tiên đào tạo tương ứng với nhu cầu nhân sự dự kiến của Chính phủ Liên bang liên quan đến công nghệ thông tin và quản lí nguồn nhân lực, và; (D) Đánh giá việc đào tạo các nhân viên Liên bang trong các ngành công nghệ thông tin để đảm bảo rằng các nhu cầu quản lí nguồn thông tin của Chính phủ Liên bang được giải quyết.”

Bên cạnh đó, Chính phủ Mỹ còn có các quy định về các chương trình đào tạo công nghệ thông tin quy định tại phần 209 (2) và các chương trình đào tạo như vậy sẽ:

“(A) có chương trình giảng dạy bao gồm một loạt các môn công nghệ thông tin tương ứng với nhu cầu quản lí nguồn thông tin và công nghệ thông tin của các cơ quan liên quan,

(B) được phát triển và ứng dụng theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, và

(C) được thiết kế để tối đa hóa hiệu quả, thông qua việc sử dụng các khóa học tự chọn, các khóa học trực tuyến, đào tạo tại chỗ, và sử dụng các giáo viên đào tạo từ xa,

ở bất cứ nơi nào mà các khóa học như thế có thể được áp dụng mà không làm giảm hiệu quả của việc đào tạo hay có tác động tiêu cực đến các tiêu chuẩn học thuật.”[37]

Ngoài Luật Chính phủ điện tử là đạo luật riêng quy định về phát triển Chính phủ điện tử ở Mỹ, còn có một số đạo luật khác hỗ trợ cho việc phát triển Chính phủ điện tử như Luật tự do thông tin có hiệu lực năm 2008, Luật bảo mật năm 1974… Với một hệ thống pháp lí vững chắc như trên, Chính phủ điện tử ở Mỹ đã có những bước tiến vượt bậc trong hơn 10 năm qua và đạt được những thành tựu nhất định

c) Các thành tựu đạt đƣợc của Chính phủ điện tử Mỹ

Hiện nay, Chính phủ Mỹ đã xây dựng trên 30,000 trang web Chính phủ trên phạm

vi toàn quốc Các trang mạng của Chính phủ Mỹ đứng đầu thế giới về sự hoàn thiện, điều này chủ yếu được thể hiện ở chỗ: các cơ quan thuộc cấp Chính phủ Liên bang toàn bộ truy cập mạng Internet, tất cả các chính quyền bang cũng đều lên mạng, và gần như tất cả các huyện, thị đã xây dựng các trang web cho mình Nội dung của các trang web của Chính phủ rât phong phú, vừa có thông tin trong lĩnh vực king tế, chính trị, quân sự; vừa có các thông tin về tiêu dùng… Hầu như tất cả những việc trong đời sống thường nhật có liên quan đến Chính phủ, đều có các trang mạng tương ứng cung cấp dịch vụ

Xét về cấp độ, các trang web của Chính phủ Mỹ có thể chia làm ba cấp: Liên bang, bang, thành phố (huyện), các trang web ở mỗi cấp được phân công rõ ràng, cung cấp các dịch vụ có nội dung khác nhau Chính quyền ở mỗi bang và mỗi thành phố đều

Trang 25

xây dựng trang web độc lập cho riêng mình, doanh nghiệp hoặc người dân có thể căn

cứ vào nội dung nghiệp vụ, thông qua truy cập các trang mạng của bang hoặc huyện, thị sở tại là có thể nhận được các dịch vụ khác nhau Mỗi trang web của Chính phủ đều mạng những nét đặc sắc cho riêng mình, nội dung bao gồm thu thuế, giấy phép kinh doanh, đăng kí kinh doanh, hộ chiếu và mọi thông tin đáp ứng các nhu cầu cụ thể của mỗi người dân ở các khu vực khác nhau

Ở cấp liên bang, Mỹ đã xây dựng trang mạng www.firstgov.gov, trang web này bao hàm tất cả mọi dịch vụ của Chính phủ Liên bang Đây là trang web có tới 186 triệu trang thông tin kết nối với hơn 22.000 trang web của chính quyền Liên bang và chính quyền các bang www.Firstgov.gov là một trong 50 trang web tiện ích nhất do yahoo thiết kế vào tháng 7/2002 và hiện thời, trang web này đã và đang được cải tiến

để cung cấp dịch vụ Chính phủ chỉ trong vòng “ba nháy chuột”

Ngoài ra Chính phủ Mỹ cũng đã xây dựng được một số trang web tiện ích khác đã được đưa vào sử dụng và được người dân Mỹ hưởng ứng tham gia rộng rãi bao gồm:

Hệ thống trả lương điện tử (E-Payroll): đây là hệ thống trả lương nhằm rút gọn

các cơ quan quản lý tiền lương cho nhân viên Chính phủ từ con số 22 xuống còn 2, đó

là DoD/GSA và USDA/DOI Hệ thống này đã giúp Chính phủ tiết kiệm được gần 1 tỷ

đô la trong 10 năm qua

Trang web www.Business.gov: đây là trang web chuyên cung cấp cho các doanh

nghiệp nhỏ khả năng truy cập thông tin về các quy tắc pháp luật, các công cụ hỗ trợ và khả năng thực hiện các giao dịch trên mạng Trang web này cũng là một cổng thông tin được kết nối với các trang web của chính quyền Liên bang, chính quyền bang và chính quyền địa phương

Dịch vụ trình văn bản thuế (IRS free Filling): đây là dịch vụ cho phép hơn 78

triệu người Mỹ có thể trình văn bản thuế trên mạng miễn phí Theo ước tính, đã có khoảng 3,5 triệu người Mỹ sử dụng dịch vụ này vào năm 2003 và dự đoán con số này

sẽ ngày càng tăng

Dịch vụ Integrated Acquistition Environment: dịch vụ này đã cho ra đời một số

trang web và các công cụ quan trọng như www.PPIRS.gov, đây là hệ thống phục hồi thông tin được dùng để tìm cũng như phục hồi lại những thông tin đã mất và www.FedTeDS.gov là trang web hệ thống dữ liệu kĩ thuật Liên bang

Trang web www.GoLearn.gov: đây là một trong những trang web đào tạo điện tử

được sử dụng nhiều nhất trên thế giới Trang web có thể cho phép đến hơn 45.000

Trang 26

người sử dụng đăng kí tham gia đào tạo với học phí rất thấp trong khi phương pháp đào tạo truyền thống chỉ có thể phục vụ một số ít người với học phí cao.[10-tr.210] Chính bởi các thành tựu đã đạt được, người dân Mỹ đã có nhận thức rất tốt về Chính phủ điện tử và những lợi ích của Chính phủ điện tử Điều này chứng tỏ tình hình phát triển Chính phủ điện tử ở Mỹ có dấu hiệu rất khả quan, ít nhất thì đa số người dân

Mỹ cũng biết Chính phủ điện tử là gì và tại sao phải phát triển Chính phủ điện tử Có thể nói đây là một kết quả quan trọng của chiến lược phát triển Chính phủ điện tử của Chính phủ Mỹ

1.3.2 Phát triển Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc

a) Mục tiêu phát triển của Chính phủ điện tử Hàn Quốc

Vào những năm đầu của thế kỉ 21, Chính phủ Hàn Quốc đẩy nhanh thực hiện Chính phủ điện tử và từ đây đặt ra những mục tiêu cụ thể phải đạt được từ các mục tiêu chung sau:

Một là, gia tăng các dịch vụ trực tuyến trong lĩnh vực công lên 85%

Hai là, phấn đấu để trở thành 10 nước đứng đầu trong bảng xếp hạng thế giới về

khả năng hỗ trợ doanh nghiệp

Ba là, nâng cao tỷ lệ sử dụng các chương trình Chính phủ điện tử lên đến 60%

Trong từng giai đoạn, Chính phủ Hàn Quốc đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:

- Giai đoạn 1987-2002: mục tiêu chính của giai đoạn này là số hóa các quy trình kinh doanh của Chính phủ (bằng sáng chế, hải quan, thuế…) và phát triển cơ sở hạ tầng Chính phủ điện tử (tốc độ mạng Internet)

- Giai đoạn 2003-2007: đây là giai đoạn chính thức thực hiện Chính phủ điện tử,

mở rộng các dịch vụ Chính phủ điện tử thông qua số hóa các quy trình kinh doanh của Chính phủ cũng như mở rộng và cải thiện các dịch vụ cho công dân và cho các doanh nghiệp, nâng cao minh bạch và hiệu quả hành chính thông qua cải cách phương pháp làm việc của Chính phủ, liên kết và kết nối giữa các hệ thống thông tin

- Giai đoạn 2008-2012: đây là giai đoạn nâng cao năng lực Chính phủ điện tử, tích hợp các hệ thống của Chính phủ điện tử thành một hệ thống phân phối liền mạch cho công chúng, tăng cường sự tham gia Chính phủ điện tử của công chúng, cung cấp các dịch vụ hành chính thông qua mạng lưới kĩ thuật số của Chính phủ, tăng cường hạ tầng

cơ sở Chính phủ điện tử thông qua tăng cường bảo mật và an ninh.[46]

Để thực hiện các mục tiêu trên, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện các chiến lược sau:

Trang 27

Một là chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho phát triển Chính phủ điện tử Tin học của Hàn Quốc bắt đầu từ những năm 1970, khi các quy trình kinh doanh thuộc về hành chính được vi tính hóa trong các lĩnh vực bao gồm: đăng kí cư trú, bất động sản và xe Trong những năm 1990, trọng tâm tin học chuyển sang các quy trình dựa trên chức năng hay dựa trên từng đơn vị như sang chế, hộ chiếu và quản lí mua sắm Từ năm 2000, về cơ bản đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng cho Chính phủ điện tử, trong đó 11 sáng kiến và

31 lộ trình đã được thực hiện Các xúc tiến Chính phủ điện tử trên đã đem đến hiệu quả quản lí công viêc bằng cách ổn định quy trình xử lí điện tử công việc Chính phủ; cải thiện kinh tế, chuyên môn và an ninh của Chính phủ bằng cách xây dựng cơ sở dữ liệu rộng lớn cho Chính phủ và tích hợp hệ thống thông tin Chính phủ

Hai là ứng dụng Chính phủ điện tử vào hoạt động quan lý nhà nước Căn cứ vào tiến độ xúc tiến của từng Bộ và mức độ phát triển Chính phủ điện tử, bộ máy hành chính của Tổng thống Lee Myung - Bak, bắt đầu năm 2008, đã theo đuổi kế hoạch quản lí phát triển Chính phủ điện tử thông qua một sự thay đổi từ “xúc tiến” và “xây dựng” thành “sử dụng” và “kết nối” Vấn đề này trong khuôn khổ tin học quốc gia và triển khai thực hiện Chính phủ điện tử đã được thống nhất dưới sự kiểm soát của Bộ

An Ninh và Hành Chính với những hệ thống pháp lí đã được cải thiện Ảnh hưởng và giá trị của việc thực hiện Chính phủ điện tử đã thay đổi từ tăng cường hiệu quả của hành chính công thông qua các công trình tin học của Chính phủ những năm 1990 đến tăng cường sự hài lòng và tham gia tích cực của công dân vào việc hoạch định các chính sách từ năm 2000 Ngày nay, Chính phủ điện tử đã được thiết lập và được xem như hệ thống quản lí chủ chốt phục vụ như một cơ sở hạ tầng cho phát triển và nâng cao nền tảng cho một xã hội dân chủ và khả năng cạnh tranh quốc gia

Dựa trên ý niệm rằng “Công nghệ thông tin là sức mạnh của tương lai”, Hội đồng Tổng thống đã thành lập và công bố vào tháng 9 năm 2009 “năm năm chiến lược tương lai cho công nghệ thông tin Hàn Quốc” như một kế hoạch chi tiết kết hợp Tầm nhìn tương lai của Chính phủ với các kế hoạch hành động cho ngành công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông

b) Quá trình phát triển Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc:

Dự án Chính phủ điện tử của Hàn Quốc ban đầu bắt đầu như một phần của dự án

tự động hóa văn phòng cho việc phân tích thống kê của Ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) với việc giới thiệu các máy tính vào năm 1967 Vào thời điểm đó, Ủy ban Điều phối Phát triển của tổ chức sử dụng vi tính được thành lập năm 1967 trực thuộc bộ Khoa học và Công nghệ đã cung cấp máy tính cho mỗi Bộ của Chính phủ Trong một cuộc

Trang 28

khảo sát được tiến hành một thập kỉ sau đó về việc cung cấp và quản lí các máy tính trong các cơ quan Chính phủ bởi bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy rằng máy vi tính

đã có những đóng góp to lớn cho các tính toán nhanh và chính xác trong việc tính toán đơn giản như biên chế và quản lí nhân sự, tính toán cho các hóa đơn điện thoại, chấm điểm các bài kiểm tra… trong các cơ quan trung ương như Bộ Văn hóa và Giáo dục,

Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan thuế quốc gia

Tuy nhiên, vào năm 1978, nhu cầu tin học hóa chứ không chỉ đừng lại ở các thao tác tính toán tự động đơn giản đã mang lại sự khởi đầu cho sáng kiến về Chính phủ điện tử mà có thể thực hiện một mô hình Chính phủ điện tử tiên tiến hơn Vì vậy, để cải cách Chính phủ thành một tổ chức hoạt động có hiệu quả cao, hữu ích và dân chủ, Hàn Quốc đã thực hiện đổi mới cách thức hoạt động của Chính phủ bằng cách sử dụng công nghệ thông tin được định hình từ dự án Chính phủ điện tử cho việc xây dựng cơ

sở hạ tầng cần thiết để đạt được mục tiêu trên và hoàn thành “Kế hoạch năm năm tin học hóa hệ thống hành chính công.” Những nỗ lực của Bộ Quản lí Chính phủ và Nội

vụ (MOGAHA) Hàn Quốc đã mở đường cho việc thực hiện có hiệu quả và sâu rộng các chính sách tin học hóa tiên tiến của Hàn Quốc những năm 1980

Vào những năm sau đó, Chính phủ Hàn Quốc bắt tay xây dựng những cơ sở hạ tầng quan trọng để chuẩn bị cho phát triển Chính phủ điện tử Những nỗ lực này đã dẫn đến những kế hoạch cụ thể và các cam kết dự án cho dự án “Mạng máy tính đường trục quốc gia” mà sẽ trở thành mạng lưới thông tin và truyền thông cho toàn bộ khu vực công Các dự án cho năm năm mạng lưới quốc gia - hành chính, tài chính, giáo dục và nghiên cứu, quốc phòng, an ninh - đã được khởi động theo như kế hoạch được đặt ra cho “Mạng máy tính đường trục quốc gia” Vào tháng 9 năm 1993, thuật ngữ

“Chính phủ điện tử” lần đầu tiên xuất hiện trong các tài liệu chính thức, trên trang 112 của báo cáo cải cách Chính phủ điện tử của Chính quyền Clinton Giai đoạn này cũng

là bước ngoặt cho cơ sở hạ tầng về quản trị điện tử tại Hàn Quốc Năm 1993, một kế hoạch cơ bản để xây dựng nền tảng cho các siêu lộ thông tin được công bố và được Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra nào năm 1994 Đến năm 1997, một hệ thống đánh giá các dự án tin học đã được giới thiệu trong khi các kế hoạch đã được chuẩn bị để thực hiện giai đoạn 2 của công nghệ thông tin và truyền thông tiên tiến Cũng trong giai đoạn này, từ sau năm 1995, Chính phủ Hàn Quốc đã bắt đầu xây dựng các cơ sở

pháp lí làm nền tảng, đặc biệt là “Luật khung cho việc đẩy mạnh tin học hóa” đã được Quốc hội ban hành với mục đích: “Mục đích của đạo luật này là cải thiện cuộc sống cho người dân và góp phần vào việc phát triển nền kinh tế đất nước bằng cách thúc

Trang 29

đẩy tin học và đặt nền móng cho ngành công nghiệp thông tin và truyền thông đồng thời đạt được cơ sở hạ tầng công nghiệp thông tin và truyền thông tiên tiến” (Điều 1

Luật khung cho việc đẩy mạnh tin học hóa) Đạo luật này cũng quy định cụ thể trách

nhiệm của nhà nước và chính quyền địa phương tại Điều 2-2 “Nhà nước và chính quyền địa phương phải xây dựng biện pháp, chính sách cần thiết để thúc đẩy tin học hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành công nghiệp thông tin và viễn thông” Căn cứ

vào đạo luật này, “Ủy ban xúc tiến tin học” đã được thành lập cùng với “Quỹ xúc tiến tin học” hoạt động như cơ quan đầu não cho việc phát triển tin học hóa và Chính phủ điện tử

Thế kỉ 21 bắt đầu cũng là lúc Hàn Quốc thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng Chính phủ điện tử bằng cách thông qua nhiều đạo luật làm cơ sở pháp lí và các chính sách đẩy nhanh tin học hóa trong cơ cấu hành chính Năm 2001, Chính phủ Hàn Quốc đã

chính thức thông qua “Luật Chính phủ điện tử” với mục đích được quy định tại Điều 1 Luật này: “Mục đích của đạo luật này là tạo điều kiện cho các dự án để thực hiện Chính phủ điện tử, nâng cao năng suất, sự minh bạch và dân chủ của các cơ quan hành chính và cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong thời đại thông tin bằng việc cung cấp những các nguyên tắc cơ bản, các thủ tục, phương pháp quảng bá và các vấn đề khác có liên quan cho việc giải quyết các công việc hành chính bằng điện tử” Đây cũng là đạo luật quy định khá chi tiết các vấn đề liên quan

đến phát triển Chính phủ điện tử mà sẽ được phân tích sau đây:

- Đầu tiên là vấn đề xử lí bằng điện tử các kiến nghị của công dân:

Về vấn đề này, Khoản 1 Điều 33 Luật Chính phủ điện tử Hàn Quốc có quy định rõ

“Người đứng đầu của cơ quan hành chính (bao gồm bất kì người nào được giao phó quyền hành chính cũng được áp dụng theo quy định của điều này) có thể cho phép công dân nộp đơn hoặc kiến nghị bằng văn bản điện tử ngay cả trong trường hợp một đạo luật có liên quan hoặc các văn bản dưới luật (bao gồm Pháp lệnh và các quy tắc của chính quyền địa phương) đòi hỏi phải vào tập tin, báo cáo hoặc gửi đơn đăng kí đơn khởi kiện dân sự theo quy trình của các cơ quan hành chính bằng giấy tờ tài liệu bằng văn bản.”

Ngoài ra, vấn đề xẳ lý bằng điện tử các kiến nghị của công dân cũng được quy

định rõ them theo khoản (1) Điều 34 “Để cho những kiến nghị của người kiến nghị dân sự có thể được xử lí mà họ không nhất thiết phải xuất hiện trực tiếp tại cơ quan, người đứng đầu từng cơ quan hành chính sẽ chuẩn bị các biện pháp chẳng hạn như cải thiện các Đạo luật có liên quan và các văn bản dưới luật cũng như thành lập các

Trang 30

cơ sở và hệ thống khi cần thiết.” Và theo khoản (2) điều này “Người đứng đầu cơ

quan hành chính có thể mở hoặc điều hành một cửa sổ cho việc kiến nghị dân sự điện

tử trên Internet để thực hiện một hệ thống để xử lí các kiến nghị dân sự của dân chúng

mà không cần phải có sự có mặt của họ theo khoản 1 điều này: (1) giả sử rằng nếu không có một cửa sổ được mở cho việc kiến nghị dân sự điện tử thì người đứng đầu của từng cơ quan hành chính có thể ủy quyền cho một cửa sổ kiến nghị dân sự điện tử tích hợp theo quy định tại đoạn (3) điều này để xử lí các kiến nghị điện tử dân sự.”[38]

Như vậy, Luật Chính phủ điện tử Hàn Quốc đã quy định rất rõ ràng về việc các cơ quan hành chính nhà nước phải có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân tham gia Chính phủ điện tử bằng cách thiết lập các chính sách giao dịch với các cơ quan hành chính bằng các kiến nghị điện tử cũng như giao dịch mà không cần phải có mặt trực tiếp tại các cơ quan hành chính đó

- Tiếp theo là vấn đề bảo mật:

Vấn đề về bảo mật là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong xây dựng Chính phủ điện tử vì người dân có tham gia hay không là tùy thuộc vào sự tin tưởng của người dân vào hệ thống bảo mật thông tin mà họ tham gia giao dịch, vì thế, vấn đề bảo mật đã được quy định khá chi tiết trong Luật Chính phủ điện tử Hàn Quốc:

Vấn đề bảo mật đầu tiên được đặt ra là nguyên tắc bảo mật thông tin cá nhân được

quy định tại điều 12 Luật Chính phủ điện tử Hàn Quốc 2001: “Không có bất kì thông tin của cá nhân nào mà mỗi cơ quan hành chính sở hữu hoặc quản lí được sử dụng trái với mục đích của người đó, trừ khi có quy định khác tại các Đạo luật hay văn bản dưới luật khác ”

Bên cạnh đó còn có quy định về các biện pháp bảo mật các dịch vụ điện tử cho

công dân (quy định tại điều 39-2 Luật Chính phủ điện tử Hàn Quốc): “(1) Bộ trưởng

Bộ Hành chính và An ninh sẽ chuẩn bị các biện pháp an ninh liên quan đến dịch vụ điện tử cho công dân, phải có tham vấn trước với Giám đốc dịch vụ tình báo quốc gia (2) Thủ trưởng các cơ quan Hành chính trung ương và các chi nhánh và thủ trưởng các cơ quan Hành chính ở địa phương phải thiết lập và thực hiện các biện pháp an ninh cho từng cơ quan phù hợp với các biện pháp bảo đảm quy định tại khoản (1) điều này.”

Đồng thời, Điều 39-3 còn quy định chi tiết hơn về Ủy ban bảo mật dịch vụ Chính phủ điện tử theo đó: Bộ trưởng Bộ hành chính và An ninh sẽ thành lập Ủy ban An ninh dịch vụ Chính phủ điện tử dưới sự kiểm soát của mình (Sau đây gọi tắt là “Ủy ban”)

Trang 31

để có một Uỷ ban thảo luận về các vấn đề sau kết hợp với các biện pháp đảm bảo theo Điều 39-2:

1 “Việc thành lập và điều chỉnh các biện pháp bảo mật và cải thiện các hệ thống;

2 Các biện pháp đối phó với các sự cố bảo mật có thể xảy ra;

3 Các vấn đề liên quan đến kế hoạch hợp tác giữa các cơ quan hành chính trung ương chịu trách nhiệm cho các vấn đề quy định tại điểm 1

và diểm 2 với các chi nhánh và các cơ quan ở địa phương

4 Các vấn đề khác được đưa ra bởi các chủ tịch Ủy ban để thảo luận như các chính sách lớn về các biện pháp bảo mật dịch vụ Chính phủ.”

- Kế tiếp là vấn đề nguồn nhân lực:

Về vấn đề này Điều 32 có quy định “Người đứng đầu của mỗi cơ quan hành chính có thể tiến hành chương trình giáo dục và đào tạo các nhân viên dưới quyền của mình thông qua mạng thông tin và truyền thông”

- Cuối cùng là vấn đề quỹ phát triển Chính phủ điện tử:

Theo quy định tại khoản 2 điều 45 Luật Chính phủ điện tử Hàn Quốc

“(1) Để xúc tiến các dự án Chính phủ điện tử một cách hiệu quả, Bộ Hành chính và An ninh có thể hỗ trợ về mặt Hành chính, tài chính, kĩ thuật khi cần thiết cho các cơ quan hành chính

(2) Bộ Hành chính và An ninh có thể chỉ định một cơ quan đặc biệt (sau đây gọi

là cơ quan đặc biệt) cho việc quản lí và xúc tiến có hiệu quả các dự án được hỗ trợ đề cập ở đoạn (1) (sau đây gọi là các dự án Chính phủ điện tử được hỗ trợ)

và có thể đóng góp thêm các quỹ trong phạm vi ngân sách nếu cần thiết cho công việc của cơ quan đặc biệt đó.”[38]

Ngoài luật Chính phủ điện tử đã được phân tích trên đây, Hàn Quốc cũng đã ban hành một số đạo luật khác liên quan đến công nghệ thông tin cũng đã được ban hành

để phục vụ cho phát triển Chính phủ điện tử như: Luật Chữ kí điện tử, Luật Khuyến khích sử dụng mạng thông tin và truyền thông và bảo vệ dữ liệu, Luật Doanh nghiệp viễn thông, Luật Giao dịch tài chính điện tử Như vậy có thể thấy Chính phủ Hàn Quốc đã chú tâm xây dựng một nền tảng pháp lí vững chắc cho việc phát triển Chính phủ điện tử, đâyc ũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thành công của Chính phủ điện tử Hàn Quốc ngày nay

Vào tháng 8 năm 2003, “Lộ trình Chính phủ điện tử” dựa trên tham vọng thực hiện “Chính phủ điện tử tốt nhất thế giới” được ban hành đã chính thức vạch ra kế

Trang 32

hoạch chi tiết cho việc thực hiện Chính phủ điện tử từ đó đến nay Qua 10 năm thúc đẩy phát triển Chính phủ điện tử, Hàn Quốc cũng đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận.[31]

c) Các thành tựu đạt đƣợc của Chính phủ điện tử Hàn Quốc

Sau những nỗ lực không ngừng để phát triển Chính phủ điện tử và hoàn thiện tin học hóa quốc gia, Hàn Quốc đã trở thành một trong những nước dẫn đầu về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử trên thế giới Từ những năm đầu tiến hành xây dựng Chính phủ điện tử, Hàn Quốc đã có những tiến bộ đáng kể khi nhảy vọt từ vị trí thứ 15 trên bảng xếp hạng Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc năm 2000 lên

vị trí thứ nhất - nước có chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tốt nhất theo báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 2010 Đồng thời, theo các số liệu, Hàn Quốc cũng chính là nước

có chỉ số tham gia Chính phủ điện tử cao nhất

Các trang web của Hàn Quốc có các tính năng vượt trội trong tổ chức và cung cấp

số lượng lớn thông tin và dịch vụ Các cổng thông tin trang web Chính phủ điện tử cung cấp cho người sử dụng trên 500 dịch vụ trực tuyến Các trang mạng của các cơ quan cung cấp một loạt các dịch vụ điện tử như nộp thuế, kiểm tra kết quả thi, hay tìm kiếm người thân bị mất ở Bắc Triều Tiên Tất cả các trang web được khảo sát đều có chứa các ấn phẩm và cơ sở dữ liệu, và cung cấp gần như tất cả các clip âm thanh và video 92% các trang web Chính phủ cho phép công dân đăng kí để nhận thông tin cập nhật về các vấn đề cụ thể Với tính năng này, người truy cập web có thể nhập địa chỉ thư điện tử của họ và nhận được thông tin về các vấn đề cụ thể một khi thông tin đó đã được cập nhật

Một trong nhưng ví dụ về thành công của dịch vụ công trực tuyến của Chính phủ điện tử Hàn Quốc phải kể đến trang web http://portal.custom.gov.kr, đây là hệ thống cổng giấy phép điện tử 100% đầu tiên trên thế giới, cung cấp dịch vụ PASS một cửa bằng việc thống nhất các thủ tục cấp giấy phép cho tất cả các khách hàng, bao gồm giấy phép xuất khẩu/ nhập khẩu, hạn chế thuế, kiểm soát hành khách đến/ đi và theo dõi hàng hóa ngoại quan Với hệ thống này, các thủ tục hải quan có thể được thực hiện tại nhà, tại văn phòng, trên trang web sản xuất hoặc bất cứ nơi nào có kết nối Internet

Trang 33

1.3.3 Phát triển Chính phủ điện tử ở Singapore

a) Mục tiêu và chiến lƣợc phát triển của Chính phủ điện tử Singapore

Mục tiêu: Ngay từ lúc vừa bắt tay vào dự án phát triển Chính phủ điện tử, Chính

phủ Singapore đã đặt ra các mục tiêu để vạch ra kế hoạch phát triển phù hợp với từng mục tiêu và từng giai đoạn thực hiện cũng như phù hợp tình hình phát triển thực tế ở Singapore bao gồm các mục tiêu chung sau:

Một là, xây dựng cổng thông tin điện tử và kết nối mạng Internet để mỗi người

dân Singapore đều có thể truy cập và tham gia giao dịch với Chính phủ

Hai là, tạo mối quan hệ điện tử giữa Chính phủ và doanh nghiệp hiệu quả cao,

thuận tiện và chi phí thấp

Ba là, xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông vững mạnh

Bốn là, đào tạo được một đội ngũ nhân viên Chính phủ có tri thức cao và có khả

năng áp dụng công nghệ thông tin một cách sang tạo trong Chính phủ điện tử

Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, Chính phủ Singapore đã xây dựng và thực hiện các chiến lược cụ thể bao gồm chiến lược Chính phủ với công dân (G2C), Chính phủ với doanh nghiệp (G2B) và Chính phủ với các nhân viên (G2E):

Chiến lƣợc Chính phủ với công dân (G2C):

Một trong những nguyên lí cơ bản của mối quan hệ Chính phủ - công dân trong Chính phủ điện tử là lấy khách hàng làm trung tâm Tuy nhiên, trên thực tế có không ít các quan chức Chính phủ và các chính trị gia tự xem mình là cha mẹ của dân chứ không phải công bộc của dân và từ đó đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của người dân Chính vì thế, coi công dân là khách hàng của Chính phủ là cách Chính phủ Singapore tạo lập mối quan hệ Chính phủ - công dân theo chiều hướng phục vụ lợi ích của người dân khi xây dựng Chính phủ điện tử Chính vì vậy, ngay từ đầu, Chính phủ

Singapore đã chủ trương xây dựng cổng thông tin điện tử http://www.ecitizen.gov.sg/

làm nền tảng xây dựng Chính phủ điện tử Đây là cổng thông tin cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến một cửa, qua đó mọi người dân có thể tham gia giao dịch với Chính phủ mà không cần phải thông qua bất cứ một cơ quan Chính phủ riêng rẽ nào Dịch vụ

và thông tin được cung cấp qua cổng này rất phong phú và đa dạng Thông tin và dịch

vụ được phân loại thành 16 lĩnh vực: văn hoá nghệ thuật, kinh doanh, quốc phòng, giáo dục, bầu cử, việc làm, gia đình, sức khoẻ, nhà ở, luật, thư viện, giải trí, an toàn và

an ninh, thể thao, vận tải và cuối cùng là du lịch Mọi người dân có thể truy cập cổng công dân - điện tử từ khắp mọi nơi chỉ cần kết nối Internet cho máy tính của mình Các

cá nhân không có điều kiện truy cập Internet từ nhà riêng, từ cơ quan hay những cá

Trang 34

nhân cần có sự hướng dẫn khi truy cập các dịch vụ điện tử của Chính phủ có thể yêu cầu sự trợ giúp từ Trung tâm trợ giúp công dân - điện tử Trung tâm công dân - điện tử hiện nay có hơn 2.600 dịch vụ điện tử Đồng thời, một trong các cách để thúc đẩy việc triển khai Chính phủ điện tử là phải tạo ra một phong cách sống điện tử trong mọi tầng lớp nhân dân Thành công của Chính phủ điện tử phụ thuộc vào sự chấp nhận của công chúng đối với một nếp sống mới - một phong cách sống điện tử Để nâng cao nhận

thức của công chúng về phong cách sống điện tử và để xoá bỏ "khoảng cách số" giữa

những người có kiến thức về công nghệ thông tin và viễn thông với những người chưa

có kinh nghiệm gì bằng cách người đi trước giúp đỡ người đi sau, một chiến dịch kéo dài một tháng được tổ chức hàng năm bắt đầu từ năm 2000 trong đó Chính phủ Singapore đã đầu tư 25 triệu đô la Singapore để tạo ra một động thái điện tử tập trung vào việc khắc phục khoảng cách số về thu nhập, ngôn ngữ…, đặc biệt là với bốn thành phần dân cư quan trọng là người già, người nội trợ, công nhân và người khuyết tật Chương trình này được tổ chức rộng rãi trong công chúng, nêu cao tinh thần tự nguyện, kêu gọi những người đã biết giúp đỡ những người chưa biết từng bước làm quen với phong cách sống điện tử và đã nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông trong 30.000 hộ gia đình có thu nhập thấp.[40]

 Chiến lƣợc Chính phủ với Doanh nghiệp (G2B)

Mô hình Business Town (http://www.gov.sg/singov/biz.htm) của trung tâm Công

dân điện tử là một tiến bộ quan trọng trong phương pháp lấy khách hàng làm trung tâm

để cung cấp dịch vụ điện tử Giờ đây, các doanh nghiệp trong nước và quốc tế có thể truy cập, sử dụng thông tin dịch vụ G2B phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp như lên kế hoạch kinh doanh, nghiên cứu thị trường, quản lý nguồn tài sản trí tuệ,… Một hướng dẫn gồm 10 bước được xây dựng nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp mới trở thành các doanh nghiệp thành công trên thương trường Business Town còn có các kế hoạch

và chương trình hỗ trợ để khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử cũng như hiện đại hoá, nâng cấp và mở rộng lĩnh vực kinh doanh truyền thống của công ty Thông qua công nghệ thông tin và viễn thông, Chính phủ Singapore quyết tâm không chỉ cung cấp các dịch vụ điện tử mà còn đóng vai trò ngày càng lớn trong sự phát triển của các doanh nghiệp ở nước này bằng cách áp dụng một số chính sách mới như:

- Đơn giản hóa các thủ tục đăng kí kinh doanh: đơn đăng ký kinh doanh có thể thực hiện trên mạng mà không cần phải trực tiếp đến trụ sở của Cơ quan đăng ký kinh doanh Ngoài việc đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp còn có thể nhanh chóng xin

Trang 35

giấy phép và các yêu cầu khác thông qua hệ thống xin cấp phép trực tuyến Các doanh nghiệp có thể sử dụng hệ thống này ở bất cứ đâu, miễn là nơi đó có nối mạng Internet

mà không cần phải gửi đi đơn xin cấp phép nhiều lần hoặc phải thực hiện nhiều cuộc

viếng thăm các cơ quan Chính phủ mới có thể bắt đầu công việc kinh doanh của mình

- Thực hiện thu mua trực tuyến: Thu mua trực tuyến có thể giúp các doanh nghiệp giảm chi phí quản lý và tạo được nhiều mối quan hệ với nhiều nhà cung cấp trên thế giới Chính phủ Singapore đã thiết lập hệ thống thu mua trực tuyến của Chính phủ vào tháng 12/2000, được gọi là trung tâm kinh doanh điện tử của Chính phủ.[10-tr227]

 Chiến lƣợc Chính phủ với các nhân viên (G2E)

Bên cạnh công chúng và doanh nghiệp, các nhân viên Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của Chính phủ điện tử bởi vì họ là những người chịu trách nhiệm thực thi chính sách và phân phối dịch vụ của Chính phủ điện tử Để thực hiện thành công Chính phủ điện tử, yêu cầu đầu tiên là bản thân người cung cấp thông tin

và dịch vụ điện tử phải hiểu rõ về công nghệ thông tin và viễn thông Xuất phát từ yêu cầu này, chương trình giáo dục công nghệ thông tin và viễn thông đã được tổ chức nhằm trang bị cho tất cả các nhân viên Chính phủ những kỹ năng cần thiết để tận dụng

cơ hội sáng tạo ra một Chính phủ điện tử thực sự Đồng thời để khuyến khích và ủng

hộ ý tưởng “Quản lý tri thức” của Chính phủ Singapore, một chương trình thử nghiệm

về quản lý tri thức được phát động vào tháng 7/2001 để tạo ra một môi trường làm việc tri thức trong Chính phủ

b) Quá trình phát triển Chính phủ điện tử ở Singapore

Có thể nói Chính phủ điện tử ở Singapore ra đời bắt nguồn từ quyết định tin học hóa bộ máy hành chính nhà nước vào năm 1981 Tuy nhiên, do đây là chương trình phát triển chỉ tập trung vào bộ máy hành chính nhà nước cho nên Chính phủ điện tử ở Singapore ngày nay không phát triển tới được mức độ mà đáng lẽ ra nếu với thời gian triển khai sớm như vậy thì nước này phải có một Chính phủ điện tử lớn mạnh hơn nhiều Hiện nay đối với Singapore, phát triển Chính phủ điện tử đã là một bộ phận không thể thiếu trong chiến lược phát triển đất nước Chương trình tin học hoá bộ máy hành chính nhà nước bắt đầu thực hiện vào năm 1981 đánh dấu làn sóng đầu tiên của Chính phủ điện tử ở Singapore Chương trình này nhằm mục đích tiết kiệm nguồn nhân lực, cải thiện hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính, cung cấp nguồn thông tin tốt hơn cho quá trình ra quyết định của Chính phủ và nâng cao chất lượng dịch vụ công Mục tiêu chung của chương trình này là nhằm tự động hoá các chức năng hoạt

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w