Trong các nhà nước đại nghị kể cả các nước theo mô hình quân chủ hạn chế, Nguyên thủ quốc gia là người đứng trung lập giữa các nhánh quyền lực, bảo đảm cho sự ổn định của bộ máy nhà nướ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -*** -
LÊ THỊ NGA MSSV: 3250120
CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM –
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I:
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ
QUỐC GIA
1.1 Lịch sử phát triển của chế định Nguyên thủ quốc gia trên thế giới 4
1.1.1 Mô hình Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước quân chủ trước cách mạng tư sản 2
1.1.2 Các mô hình Nguyên thủ quốc gia sau cách mạng tư sản 6
1.1.2.1 Đối với Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước quân chủ hạn chế 3
1.1.2.2 Đối với Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước theo chính thể cộng hòa 7
1.2 Lịch sử phát triển của chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam 14
1.2.1 Nguyên thủ quốc gia trước khi lập nên nhà nước Việt nam dân chủ Cộng hòa.14 1.2.2 Nguyên thủ quốc gia từ khi lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 16
1.2.2.1 Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1946 16
1.2.2.2 Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1959 20
1.2.2.3 Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1980 23
1.2.2.4 Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1992 đến nay 26
CHƯƠNG II: CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ QUỐC GIA – CHỦ TỊCH NƯỚC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 2.1 Nội dung chế định Chủ tịch nước theo Pháp luật Việt Nam hiện hành 28
2.1.1 Vị trí, tính chất pháp lý, cách thành lập và nhiệm kỳ của Chủ tịch nước 28
2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước 31
2.2 Thực trạng về chế định Chủ tịch nước và kiến nghị 46
2.2.1 Thực trạng về chế định Chủ tịch nước 46
2.2.1.1 Về những kết quả hoạt động thực tiễn của Chủ tịch nước 46
2.2.1.2 Về thực trạng những vấn đề pháp lí còn tồn tại của chế định Chủ tịch nước
48 2.2.2 Những nguyên tắc, định hướng đổi mới và những kiến nghị cụ thể về chế định chủ tịch nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 55
2.2.2.1 Những nguyên tắc, định hướng đổi mới chế định Chủ tịch nước 55
2.2.2.2 Những kiến nghị cụ thể về chế định Chủ tịch nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 61
KẾT LUẬN 69
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguyên thủ quốc gia là một thiết chế quan trọng trong bộ máy nhà nước, là bộ mặt của một quốc gia Hiện nay, trên thế giới có nhiều mô hình Nguyên thủ quốc gia, mỗi mô hình đều có những mặt tích cực, hạn chế và chỉ phù hợp với một số quốc gia với những đặc điểm nhất định
Ở Việt Nam, Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, là một chức danh trong bộ máy quyền lực Hiện nay, bộ máy nhà nước đang được nghiên cứu đổi mới một cách toàn diện để phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu và với điều kiện kinh tế, xã hội trong nước Tuy nhiên, khoa học pháp lý chủ yếu tập trung vào nghiên cứu đổi mới cơ quan quyền lực nhà nước và bộ máy hành pháp tinh gọn, hiệu quả Nguyên thủ quốc gia – Chủ tịch nước Việt Nam giai đoạn hiện nay là người đại diện chính thức cho toàn dân về phương diện nhà nước lại không được tập trung nghiên cứu nhiều bằng Quốc hội và Chính phủ Vì vậy, nghiên cứu chế định Nguyên thủ quốc gia ở nước ta là một tất yếu, để vừa phù hợp với nhu cầu đổi mới trong nước, tạo được tính đồng bộ của các cơ quan nhà nước ở trung ương, vừa tiếp thu kinh nghiệm tổ chức Nguyên thủ quốc gia của các nước trên thế giới để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn trong thời đại mới
Để góp phần vào khoa học pháp lý hoàn thiện chế định Chủ tịch nước – Nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam, tác giả chọn đề tài: “Chế định Nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, bên cạnh vấn đề Quốc hội và Chính phủ, Chủ tịch nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu, trong đó có hai công
trình viết riêng về Chủ tịch nước: Nguyễn Văn Hải (2003), Chế định Chủ tịch nước
theo Hiến pháp năm 1946 – sự kế thừa và phát triển qua các bản Hiến pháp Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh;
Lê Thị Hải Châu (2006), Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 và sự
phát triển qua các bản Hiến pháp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại
học luật thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, hai công trình nghiên cứu này chủ yếu
Trang 4viết về Nguyên thủ quốc gia theo Hiến pháp năm 1946 và những giá trị được kế thừa qua các bản Hiến pháp
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu liên quan đến Chủ tịch nước
như: Bùi Xuân Đức (2004), Đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn
hiện nay, NXB Tư pháp, Hà Nội; Lê Quốc Hùng, Thống nhất phân công và phối hợp quyền lực nhà nước Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Đăng Dung, Tìm hiểu các bản Hiến pháp Việt Nam, NXB Tư pháp… Những bài viết này chỉ đề cập đến
Chủ tịch nước trong tổng thể các cơ quan nhà nước ở trung ương
Nói chung, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về Nguyên thủ quốc gia trong giai đoạn hiện tại và hướng hoàn thiện trong tương lai
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu chung về chế định Nguyên thủ quốc gia trên thế giới qua các giai đoạn; nghiên cứu sơ lược về lịch sử Nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam từ khi lập nên nhà nước sơ khai đầu tiên, cho đến những hình thức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, và chủ yếu tập trung nghiên cứu về chế định Nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Từ sau khi lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước Hiến pháp năm 1992, Nguyên thủ quốc gia chủ yếu được nghiên cứu thông qua các bản Hiến pháp Nhưng trong giai đoạn hiện nay, Nguyên thủ quốc gia được nghiên cứu trong pháp luật nói chung, nghĩa là không chỉ được nghiên cứu trong Hiến pháp mà còn được nghiên cứu trong các văn bản pháp luật có liên quan
Đề tài thực hiện nhằm những mục đích sau:
- Lí giải các mô hình Nguyên thủ quốc gia trên thế giới, ưu điểm, nhược điểm
và xu hướng phát triển của mỗi mô hình
- Làm sáng tỏ cách thức tổ chức chế định Nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam qua các giai đoạn và những vấn đề về Chủ tịch nước ở hiện tại
- Nêu được những kết quả mà Chủ tịch nước đã thực hiện trên thực tế, những vấn đề còn tồn tại và hướng khắc phục
Trang 54 Ý nghĩa khoa học và và giá trị ứng dụng của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học toàn diện về chế định Chủ tịch nước theo pháp luật hiện hành, là sự tổng hợp những phân tích, bình luận của nhiều nhà nghiên cứu về các quy định pháp luật và những kiến nghị trong thời kỳ đổi mới
Đề tài góp phần vào khoa học pháp lý hoàn thiện chế định Chủ tịch nước trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập toàn cầu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Để thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận đã dựa trên cơ sở là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để xem xét, đánh giá các mặt của vấn đề trong mối liên hệ với nhau và trong sự xuyên suốt từ lịch sử đến hiện tại Ngoài ra, còn dựa trên các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước ta
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, liệt kê…
Trang 6CHƯƠNG I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ
QUỐC GIA 1.1 Lịch sử phát triển của chế định Nguyên thủ quốc gia trên thế giới
Từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp, xuất hiện nhà nước thì nhu cầu cần có một người lãnh đạo nhà nước xuất hiện Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, dù có sự khác nhau về tên gọi, cách thức thành lập, nhiệm vụ và quyền hạn nhưng người lãnh đạo – người đứng đầu nhà nước đó được gọi chung là Nguyên thủ quốc gia
Trong từ điển bách khoa toàn thư giải thích “Nguyên thủ quốc gia là người
đứng đầu nhà nước, đại diện cho quốc gia về đối nội và đối ngoại Tuỳ theo chế độ
và Hiến pháp của mỗi nước, Nguyên thủ quốc gia có thể là cá nhân với tên gọi khác nhau như Chủ tịch, Tổng thống, Quốc vương, Quốc trưởng, Vua, Nữ hoàng, Thiên hoàng, Hoàng đế, Xuntan (sultân), Pharaông (pharaon) … hoặc một tập thể Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Tổng thống, Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Quyền hạn của Nguyên thủ quốc gia được quy định trong luật pháp mà chủ yếu là Hiến pháp của các nước Tuỳ theo quy định của mỗi nước, Nguyên thủ quốc gia có thể chỉ giữ vai trò đại diện về nghi thức, không có quyền lực và trách nhiệm thực sự hoặc có thể
có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm với mức độ khác nhau Ở những nước theo chế độ cộng hòa Tổng thống thì Nguyên thủ quốc gia có quyền hạn rất lớn Ví dụ ở Hoa Kì, Nguyên thủ quốc gia là Tổng thống, là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang
và vừa là người đứng đầu ngành hành pháp, tức đứng đầu Chính phủ Ở những nước theo chế độ quân chủ chuyên chế, Nguyên thủ quốc gia có quyền hành không hạn chế; song ở nước theo chế độ quân chủ lập hiến như Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ailen, Na Uy, Thụy Điển thì Nguyên thủ quốc gia chỉ là biểu tượng quốc gia, không có thực quyền Nguyên thủ quốc gia khi hoạt động đối ngoại không đòi hỏi phải có thư uỷ nhiệm và khi thăm nước ngoài được hưởng mọi quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao”1
Như vậy, Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, thực hiện những công việc nhân danh nhà nước trong cả hai lĩnh vực đối nội và đối ngoại Mỗi nhà
1 http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=24D2aWQ9MjE0MDQmZ3JvdXBpZD0ma2lu ZD0ma2V5d29yZD1OZ3V5JWMzJWFhbit0aCVlMSViYiVhNytxdSVlMSViYiU5MWMrZ2lh&page=1
Trang 7nước ở từng giai đoạn lịch sử sẽ chọn cho mình một mô hình Nguyên thủ quốc gia với những tên gọi, vị trí, tính chất và nhiệm vụ, quyền hạn thích hợp Việc chọn lựa này không những phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội (các yếu tố thuộc về nội tại của quốc gia) mà còn chịu ảnh hưởng từ mô hình của các quốc gia trên thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu mô hình nguyên thủ quốc gia các nước có hình thức chính thể khác nhau, ở những giai đoạn lịch sử khác nhau có một ý nghĩa nhất định trong việc lí giải sự chọn lựa mô hình người đứng đầu của nhà nước ta ở những thời điểm lịch sử nhất định Ngoài ra, kinh nghiệm tổ chức Nguyên thủ quốc gia ở các nước là những giá trị bổ ích cho việc hoàn thiện chế định Nguyên thủ quốc gia ở nước ta
Qua các giai đoạn phát triển có thể thấy mô hình Nguyên thủ quốc gia thay đổi theo từng chính thể nhà nước
Mô hình Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước quân chủ trước cách mạng tư sản
Ở giai đoạn nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến, Nguyên thủ quốc gia
là Vua, được lập nên theo nguyên tắc thế tập, nắm mọi quyền hành trong tay, nhà Vua là tối cao Khi Vua chết thì ngôi vị được truyền cho con Ở phương Đông, quyền lực tập trung cao độ vào trong tay nhà Vua; còn ở phương Tây, do tính chất phân quyền cát cứ nên quyền lực nhà Vua có phần hạn chế hơn nhà Vua ở các nhà nước phong kiến phương Đông Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước phong kiến giai đoạn này tập trung quyền lực để xây dựng một nhà nước vững mạnh, chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược mở rộng thuộc địa Tuy nhiên, việc mọi quyền lực tập trung vào trong tay nhà Vua đã dẫn đến những khủng hoảng về kinh tế, chính trị của các quốc gia phong kiến lúc bấy giờ Cụ thể là ở những nước phong kiến phương Đông, với chính sách cai trị hà khắc của nhà Vua, người dân không có quyền dân chủ, mọi quyết định đều dựa trên ý chí chủ quan của một người, dẫn đến những chính sách cai trị chuyên quyền, độc đoán: không áp dụng chính sách mở cửa để thương nghiệp phát triển và chỉ chú trọng vào nông nghiệp, hạn chế sự phát triển của mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhằm mục đích bảo vệ những lợi ích của giai cấp cầm quyền Kết quả là kinh tế lạc hậu, đất nước trì trệ, kém phát triển hơn so với các quốc gia phương Tây, dẫn đến sự cai trị của chế độ thực dân Ở phương Tây, cũng bởi
Trang 8những chính sách cai trị hà khắc, phi dân chủ đã dẫn đến những cuộc cách mạng tư sản
Các mô hình Nguyên thủ quốc gia sau cách mạng tư sản
Khi cách mạng tư sản nổ ra và thành công ở các nước phong kiến phương Tây, chế độ Nguyên thủ quốc gia của nhà nước quân chủ chuyên chế không còn nữa, quyền lực không tập trung vào tay của một người đứng đầu nhà nước mà thay vào đó
là cách thức tổ chức nhà nước dân chủ hơn Tùy thuộc vào thành công của cách mạng mà chế định Nguyên thủ quốc gia có sự khác biệt về vị trí, tính chất pháp lý Những nước cách mạng nổ ra triệt để thì thành lập nhà nước cộng hòa với chế định Nguyên thủ quốc gia hoàn toàn khác nhà nước phong kiến chuyên chế Những nước làm cuộc cách mạng tư sản không triệt để hoặc đấu tranh bằng phương pháp ôn hòa thì quyền lực nhà nước cũng được tổ chức một cách khác Quyền lực nhà nước không còn tập trung vào trong tay một người nhưng vẫn tồn tại chế độ quân chủ Tuy nhiên, Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước quân chủ kiểu này không giống với giai đoạn trước vì quyền lực của Nguyên thủ đã bị hạn chế bởi Hiến pháp Chế định Nguyên thủ trong nhà nước quân chủ giai đoạn này được gọi là quân chủ hạn chế
Như vậy, sau cách mạng tư sản, các nhà nước trên thế giới tồn tại hai hình thức chính thể là cộng hòa (ở những nước mà cách mạng thành công triệt để) hoặc quân chủ hạn chế (ở các nước cách mạng tư sản nổ ra nhưng không thành công triệt để) Theo đó, Nguyên thủ quốc gia ở những loại hình nhà nước này có vị trí, tính chất pháp lý cũng như nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau
Đối với Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước quân chủ hạn chế
Ở nhà nước quân chủ hạn chế, Nguyên thủ quốc gia được tổ chức theo mô
hình quân chủ nhị nguyên hoặc quân chủ đại nghị Người đứng đầu ở những nước này được hình thành theo nguyên tắc thế tập, tức là cha truyền con nối và có các tên gọi như Vua, Hoàng đế, quốc Vương, Nữ hoàng Thông thường ở những nước này, ngôi vị được truyền cho con trai, một số nước nếu không có con trai thì có thể truyền lại cho con gái Nếu không có người thừa kế ngôi vị thì quốc Vương có thể được lập
ra theo đạo luật của Nghị viện và phải đáp ứng được những điều kiện khắt khe như
“là người mang tôn giáo là Quốc giáo, phải tuân thủ các lễ giáo phong kiến, có nếp
Trang 9sống, tư cách đạo đức trong sạch, không tham gia các Đảng chính trị…” 2 Nhà Vua
thường giữ chức vụ đến suốt đời Quyền hạn của nhà Vua trong nhà nước quân chủ hạn chế bị hạn chế hơn nhiều so với quyền hạn của nhà Vua trong nhà nước quân chủ chuyên chế Nhà Vua trong nhà nước quân chủ hạn chế tuy là Nguyên thủ quốc gia, đại diện nhà nước về đối nội, đối ngoại nhưng không có thực quyền
Ở nhà nước quân chủ nhị nguyên của giai đoạn mới lập nên nhà nước quân chủ, quyền lực được chia đều cho Vua và Nghị viện Nhưng qua lịch sử, do yêu cầu dân chủ lên cao mà mô hình quân chủ hạn chế chủ yếu được tổ chức theo mô hình quân chủ đại nghị Ở nhà nước quân chủ đại nghị, quyền hạn của nhà Vua bị giới hạn bởi Hiến pháp và phần lớn không thực quyền, quyền lực thật sự nằm trong tay Nghị viện nắm quyền lập pháp, Nội các nắm quyền hành pháp và hệ thống cơ quan tư pháp nắm quyền tư pháp Nhà Vua là người trung lập về mặt chính trị, không nắm thực quyền, hầu hết những quyết định của nhà Vua đều có “chữ ký phó thự” của Thủ tướng hoặc các Bộ trưởng và Thủ tướng hoặc Bộ trưởng chịu trách nhiệm về những quyết định này Nhà vua không phải chịu trách nhiệm nào trừ tội phản quốc hoặc tội nghiêm trọng được quy định trong Hiến pháp Sự tồn tại của nhà Vua - Nguyên thủ quốc gia đứng trên mọi thiết chế quyền lực, trên mọi đảng phái, mọi giai cấp tượng trưng cho sự ổn định của xã hội, sự đoàn kết dân tộc, là biểu tượng tinh thần của quốc gia Nhà Vua có nhiệm kỳ suốt đời mà lại không nắm quyền lực chính trị nhằm hạn chế khả năng lạm quyền, thủ tiêu dân chủ và tranh giành quyền lực gây mất ổn định của chế độ xã hội Khi đất nước có chiến tranh, Vua đứng ra kêu gọi nhân dân bảo vệ tổ quốc
Quyền lực lập pháp thuộc về Nghị viện Tuy nhiên, nhà Vua cũng có một vai trò nhất định thông qua quyền phủ quyết luật Quy định này nhằm đảm bảo cho Nghị viện có sự thận trọng hơn trong việc ban hành các đạo luật Mặt khác, quy định Nguyên thủ quốc gia có quyền phủ quyết luật cũng góp phần bảo đảm sự ổn định của chế độ chính trị, vì Nghị viện không thể ban hành Luật để hủy bỏ vị trí của Nguyên thủ quốc gia trong bộ máy nhà nước Tại Anh, Bỉ… thì nhà Vua hoặc Nữ hoàng có
2
Nguyễn Đăng Dung – Nguyễn Chu Dương (2007), Lược giải tổ chức bộ máy nhà nước của các quốc gia, NXB Tư pháp, Hà Nội tr 146
Trang 10quyền phủ quyết tuyệt đối, tức khi bị phủ quyết thì dự luật đó sẽ không trở thành Luật Tuy nhiên, trên thực tế thì đã rất lâu rồi người đứng đầu nhà nước tại các nước theo chế độ quân chủ không sử dụng tới quyền này3
Mô hình Nguyên thủ quốc gia ở các nước theo hình thức quân chủ hạn chế được lập nên do cách mạng tư sản không triệt để, nhưng mô hình này không chỉ tồn tại ở thời điểm cách mạng mới thành công mà đến thời đại ngày nay, vẫn còn nhiều quốc gia tổ chức theo mô hình này Thậm chí có một số nước thiết lập nền quân chủ sau khi đã trải qua mô hình cộng hòa Ví dụ như Anh, nền cộng hòa được thiết lập sau cách mạng tư sản năm 1949 nhưng đến năm 1960 đã khôi phục chế độ quân chủ
Ở Campuchia, nền cộng hòa được thiết lập năm 1979, nhưng đến năm 1993 đã thông qua Hiến pháp mới thiết lập chế độ quân chủ lập hiến Điều này cho thấy, mô hình Quân chủ có những điểm tích cực của nó, phù hợp với điều kiện phát triển của một vài quốc gia Mô hình này chủ yếu còn tồn tại ở những nước có lịch sử hình thành và phát triển của chế độ quân chủ từ lâu đời nên đã đi sâu vào tư tưởng của người dân, rất khó thay đổi4 Như vậy, sự tồn tại của chế độ quân chủ dựa trên những yếu tố tinh thần nên tạo ra những khả năng cho sự phát triển ổn định, bền vững của dân tộc
Ở vương quốc Anh, đứng đầu nhà nước là Nữ hoàng Nữ hoàng Anh là một thiết chế nhà nước không có thực quyền, do đó không làm sai và không phải chịu trách nhiệm Mọi hoạt động của Nữ hoàng đều có bảo đảm từ phía cơ quan hành pháp Sự tồn tại của Nữ hoàng Anh đúng với câu ngạn ngữ “trị vì nhưng không cai trị” Nữ hoàng đại diện cho nhân dân, trung lập về mặt chính trị và rất được sự ủng
hộ của người dân
Sự tồn tại của nhà Vua – Nguyên thủ quốc gia là biểu hiện của nhà nước phong kiến, nhưng không phải quốc gia nào có Nguyên thủ quốc gia là Vua đều thể hiện sự lạc hậu và kinh tế kém phát triển Trên thực tế, chế định Nguyên thủ này đã phát huy vai trò tích cực của mình Trên thế giới, một số nước vẫn theo mô hình này: Anh, Nhật Bản, Tây ban nha, Canada, Niudilan … Ngày nay, mô hình quân chủ hạn chế được cải thiện cho phù hợp với tình hình mới, những mặt tiêu cực dần được hủy
bỏ, những mặt tích cực được duy trì và phát huy Mô hình Nguyên thủ quốc gia này
Trang 11có thể được nghiên cứu để tham khảo, đặc biệt là đối với những quốc gia kém phát triển, chính trị bất ổn định thì việc tổ chức theo hoặc mô phỏng theo mô hình này có những yếu tố tích cực Đó là Nguyên thủ quốc gia theo mô hình này sẽ tập trung các nguồn lực trong xã hội, thúc đẩy sự thống nhất dân tộc
Trong thời đại ngày nay, với xu hướng quốc tế hóa và hội nhập hóa, việc duy trì, giữ gìn truyền thống dân tộc là một yêu cầu mang tính cấp thiết, bảo đảm cho quốc gia hòa nhập chứ không hòa tan, tạo ra bản sắc riêng của Quốc gia trong cộng đồng quốc tế Như vậy, tính truyền thống, sự trường tồn của dân tộc trong mô hình quân chủ là yếu tố mà các quốc gia còn nghiên cứu và vận dụng một cách sáng tạo để phát huy truyền thống của dân tộc mình trong xu hướng hội nhập toàn cầu
Việc nghiên cứu mô hình Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước quân chủ cũng đem lại bài học cho việc tổ chức bộ máy nhà nước ta, khi mà đất nước còn có những thách thức trong quá trình hội nhập với thế giới Trong đó, nhu cầu thống nhất và phân công giữa các thiết chế quyền lực là vô cùng quan trọng Việc nghiên cứu cách thức tổ chức quyền lực trong nhà nước quân chủ hạn chế giúp ta có được những kiến thức nhất định về tập trung nguồn lực trong nước và sự phân công quyền lực, từ đó
mà tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào điều kiện đất nước hiện nay
Đối với Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước theo chính thể cộng hòa
Như trên đã khẳng định, ở những nước mà cách mạng dân chủ diễn ra một
cách triệt để thì lập nên nhà nước cộng hòa Sự khác nhau cơ bản của nhà nước
cộng hòa và nhà nước quân chủ là chế định Nguyên thủ quốc gia Nếu chế định Nguyên thủ quốc gia ở những nước quân chủ thường giữ nhiệm kỳ suốt đời thì chế định Nguyên thủ quốc gia ở các nước Cộng hòa được bầu với nhiệm kỳ xác định
Tại đa số các nước theo hình thức chính thể cộng hòa, Nguyên thủ quốc gia là người được sự tín nhiệm của nhân dân Và ứng cử viên thắng cử chức vụ này sẽ được Nghị viện công bố Các đảng phái chính trị có quyền lựa chọn ứng cử viên để ứng cử Tổng thống, cũng có khi Tổng thống không thuộc đảng phái chính trị nào Tại hầu hết các nước, điều kiện để được ứng cử Tổng thống rất khắt khe, có nước còn quy định người ứng cử Tổng thống không được tham gia lực lượng vũ trang hoặc phải từ
bỏ chức vụ trong lực lượng vũ trang Trong một số trường hợp, Tổng thống là người
Trang 12đối lập với Chính phủ do Nghị viện lập nên để hạn chế quyền lực của Chính phủ Ngoài ra còn có điều kiện về trình độ học vấn và đạo đức
Nguyên thủ quốc gia được hình thành bằng con đường bầu cử, nhiệm kỳ của Nguyên thủ bị giới hạn, để bảo đảm cho việc ra quyết định được khách quan, công bằng, vô tư Hình thức chính thể cộng hòa được tổ chức với những mô hình khác nhau như: cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị và cộng hòa hỗn hợp Với mỗi mô hình thì chế định Nguyên thủ quốc gia cũng có những điểm khác nhau
Nguyên thủ quốc gia ở những nước chính thể cộng hòa đại nghị
Ở những nước tổ chức theo hình thức cộng hòa đại nghị, Nguyên thủ quốc
gia do Nghị viện bầu với nhiệm kỳ xác định Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, đại diện nhà nước về đối nội và đối ngoại, tham gia nhất định vào lập pháp
và nắm quyền hành pháp tượng trưng
Trong lĩnh vực hành pháp, quyền hạn của Nguyên thủ quốc gia được thể hiện bằng việc bổ nhiệm các quan chức cao cấp của Chính phủ và điều hành hoạt động của nó Nguyên thủ quốc gia lựa chọn Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, thực tế thì nhân dân đã gián tiếp thực hiện quyền này vì Thủ tướng phải được sự tín nhiệm của
đa số ghế trong Nghị viện (hạ viện) Do đó, Nguyên thủ sẽ bổ nhiệm thủ lĩnh của đảng hay liên minh đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện làm Thủ tướng Khi không
có Đảng nào chiếm đa số ghế trong Nghị viện thì thẩm quyền của Nguyên thủ trong lĩnh vực này sẽ rộng lớn hơn Nguyên thủ bổ nhiệm Chính phủ dựa trên danh sách do Thủ tướng đệ trình Khi Chính phủ từ chức hoặc bị Nghị viện bất tín nhiệm thì Nguyên thủ sẽ yêu cầu một đảng đối lập đứng ra lập nên Chính phủ mới hoặc giải tán Nghị viện và lập nên Nghị viện mới Mặc dù Nguyên thủ quốc gia không nắm quyền hành pháp nhưng vẫn thống lĩnh lực lượng vũ trang để bảo đảm sự thống nhất của lực lượng vũ trang, sự đoàn kết dân tộc, sự ổn định của chế độ chính trị Quyền của Nguyên thủ quốc gia trong lĩnh vực vũ trang chỉ mang tính hình thức, thường theo đề xuất của Chính phủ hoặc ủy quyền cho Chính phủ Chỉ trong tình huống đặc biệt, vai trò của Nguyên thủ trong lĩnh vực này mới được thể hiện Nói chung, quyền hạn của Nguyên thủ trong lĩnh vực hành pháp rất hạn chế, chỉ mang tính tượng trưng vì hầu hết các quyết định đều được đệ trình bởi Chính phủ hoặc phải được Nghị viện phê chuẩn
Trang 13Trong lĩnh vực lập pháp, Nguyên thủ quốc gia không có quyền phủ quyết luật
mà chỉ có quyền công bố luật đã được Nghị viện thông qua; Nguyên thủ còn có quyền giải tán Nghị viện theo đề nghị của Chính phủ
Trong lĩnh vực tư pháp, Nguyên thủ một số quốc gia được quy định là người bảo đảm cho tư pháp độc lập, có quyền bổ nhiệm các Thẩm phán, quyền này xuất phát từ tính trung lập và không can thiệp vào chính trị của Nguyên thủ quốc gia5
Hạn chế của mô hình Nguyên thủ quốc gia này là không thực quyền, khó có khả năng ứng biến với những tình thế cần sự nhanh chóng và quyết đoán từ người đứng đầu nhà nước Tuy nhiên, ưu điểm của mô hình là Nguyên thủ đóng vai trò trung gian giữa các nhánh quyền lực, bảo đảm cho hoạt động của Bộ máy nhà nước
được ổn định, tránh được sự độc đoán có thể xảy ra
Mô hình này được áp dụng tại phần lớn các nước tư sản như Đức, Italia, Úc và
có xu hướng gia tăng trên thế giới
Việc nghiên cứu mô hình Nguyên thủ quốc gia ở các nước theo hình thức chính thể cộng hòa đại nghị có một ý nghĩa quan trọng, từ đó rút ra những kinh nghiệm, ưu và khuyết điểm trong cách thức tổ chức quyền lực nhà nước Mô hình Nguyên thủ quốc gia này có những điểm tương đồng với mô hình Chủ tịch nước của nước ta hiện nay, vì vậy từ việc nghiên cứu mô hình các nước rút ra được những vấn
đề lý luận, pháp lý còn tồn tại để từ đó có những định hướng đúng trong việc đổi mới chế định Chủ tịch nước trong giai đoạn hiện tại
Nguyên thủ quốc gia ở những nước chính thể cộng hòa tổng thống
Nếu như ở các nước theo hình thức chính thể cộng hòa đại nghị, Nguyên thủ
quốc gia chỉ mang tính tượng trưng, hình thức thì trong mô hình cộng hòa tổng
thống, Nguyên thủ quốc gia mang một sắc thái khác, rất thực quyền Trong các nhà
nước đại nghị (kể cả các nước theo mô hình quân chủ hạn chế), Nguyên thủ quốc gia
là người đứng trung lập giữa các nhánh quyền lực, bảo đảm cho sự ổn định của bộ máy nhà nước nên không thực quyền thì ở chính thể cộng hòa tổng thống, Nguyên thủ quốc gia nghiêng hẳn về nhánh quyền hành pháp nên quyền hạn rất lớn
5
Nguyễn Đăng Dung – Nguyễn Chu Dương (2007), Lược giải tổ chức bộ máy nhà nước của các quốc gia, NXB Tư pháp,Hà Nội, tr 145-171
Trang 14Nguyên thủ quốc gia ở những nước theo chính thể cộng hòa tổng thống do nhân dân bầu ra với nhiệm kỳ xác định, là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại Nguyên thủ thường được gọi là Tổng thống và có quyền hạn rất lớn
Tổng thống có hai tính chất pháp lý, vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ Tổng thống là người đứng đầu nhánh hành pháp nên có toàn quyền đối với hành pháp: lựa chọn và bổ nhiệm các nhân viên Nội các, quyết định chính sách đối ngoại của quốc gia Về vấn đề chiến tranh và hòa bình, nếu như quyền quyết định thuộc về Nghị viện thì Nguyên thủ là người nắm quyền tổng tư lệnh quân đội Tổng thống không những là người đứng đầu nhà nước, có quyền hành rộng lớn trong lĩnh vực hành pháp mà còn có sự ảnh hưởng nhất định trong lĩnh vực lập pháp Tổng thống còn có quyền phủ quyết luật mặc dù quyền lập pháp thuộc về Nghị viện và nội dung dự luật do Nghị sỹ quyết định Mọi dự án muốn trở thành luật phải được Tổng thống thông qua Quyền phủ quyết luật của Tổng thống để kìm chế
và đối trọng với quyền lập pháp của Nghị viện Tổng thống còn có quyền triệu tập phiên họp Nghị viện để giải quyết các công việc cấp bách của đất nước Tổng thống không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện và cũng không được quyền giải tán Nghị viện Trong lĩnh vự tư pháp, Tổng thống có quyền bổ nhiệm các Thẩm phán tòa
án, có quyền ân xá
Hoa Kỳ là nhà nước điển hình cho mô hình Nguyên thủ quốc gia theo chính thể cộng hòa tổng thống và đã thành công với mô hình này Ở Hoa Kỳ, quyền lực đầu tiên được Hiến pháp quy định cho Tổng thống – Nguyên thủ quốc gia là quyền phủ quyết đối với các qui trình lập pháp của Nghị viện Bất cứ đạo luật nào mà Nghị viện thông qua đều phải được trình lên Tổng thống trước khi trở thành luật Tổng thống có ba sự chọn lựa: Một là, ký văn bản luật và đạo luật sẽ trở thành luật; Hai là, phủ quyết văn bản luật, trả về Nghị viện kèm theo lý do phản đối Đạo luật sẽ không thành luật trừ khi cả hai viện biểu quyết với tỉ lệ 2/3 phiếu thuận để gạt bỏ sự phủ quyết của Tổng thống; Ba là, Tổng thống không ký và cũng không phủ quyết văn bản luật Sau 10 ngày, không kể chủ nhật, nếu Nghị viện vẫn còn họp thì đạo luật trở thành luật, nếu Nghị viện không còn họp thì văn bản luật không thể trở thành luật được Ngoài quyền phủ quyết luật, Tổng thống Hoa Kỳ ảnh hưởng đến hoạt động lập
Trang 15pháp của Nghị viện thông qua các Nghị sỹ của mình hoặc Tổng thống có thể tạo thêm ảnh hưởng đối với ngành lập pháp bằng những báo cáo thường kỳ đọc trong hình thức "Diễn văn về Tình trạng Liên bang", trong đó Tổng thống nêu ra những đề nghị về luật của mình cho năm trước mắt6 Trong lĩnh vực hành pháp thì Tổng thống Hoa kỳ là người đứng đầu ngành hành pháp và là “viên chức hành chính trưởng” Trong khi quyền tuyên chiến là của Nghị viện thì Tổng thống là tổng tư lệnh quân đội, lập kế hoạch chiến lược quân sự Bên cạnh đó, Tổng thống cũng là người nắm giữ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ Tổng thống cũng có quyền đề cử các Thẩm phán liên bang trong đó bao gồm các Thẩm phán tòa phúc thẩm và Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ Tuy nhiên, các Thẩm phán được đề cử này phải được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận Tổng thống cũng có thể ban hành lệnh ân xá hay giảm án Chế định Nguyên thủ quốc gia này phù hợp với Hoa kỳ vì đây là một đất nước liên bang rộng lớn, dễ nảy sinh những vấn đề phức tạp, cần những quyết định nhanh chóng từ người đứng đầu nhà nước Hiện nay trên thế giới có một số quốc gia cũng tổ chức theo mô hình này như ở Brazil, Venezuala, Uganda, Mexico, Indonexia, Philippines …
Chế định Nguyên thủ quốc gia của chính thể cộng hòa tổng thống cũng có những ưu điểm và hạn chế của nó Nguyên thủ quốc gia thực quyền, mạnh mẽ, có đủ sức mạnh để quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình Các vấn đề quan trọng và cấp bách được quyết định và thông qua một cách nhanh chóng Quyết định của cá nhân, cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng nên Nguyên thủ khi ra quyết định có sự cân nhắc vì nó ảnh hưởng đến uy tín bản thân và sự tín nhiệm của người dân Tuy nhiên, với thiết chế mà quyền lực tập trung cao vào trong tay một người, rất dễ xảy ra tình trạng lạm quyền, độc đoán, thủ tiêu chế độ dân chủ
Việc nghiên cứu mô hình Nguyên thủ quốc gia ở các nước cộng hòa tổng thống góp phần tạo ra một cách nhìn toàn diện về việc tổ chức bộ máy nhà nước của các quốc gia trên thế giới, thấy được yếu tố thực quyền của người đứng đầu nhà nước
ở các nước theo chính thể này Từ đó có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo mà không máy móc, rập khuôn vào nước ta, để bảo đảm tính tập trung quyền lực của nhà nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa
6
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_Hoa_K%E1%BB%B3
Trang 16Nguyên thủ quốc gia trong nhà nước cộng hòa hỗn hợp
Tại các nước tư sản, ngoài hai mô hình là cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống, trên thế giới còn một mô hình tổ chức nhà nước mà có sự kết hợp của cả hai
mô hình trên đó là cộng hòa hỗn hợp Trong đó, thiết chế Nguyên thủ quốc gia là
một yếu tố đặc biệt trong việc tổ chức quyền lực của nhà nước này
Tại các quốc gia có chính thể cộng hòa hỗn hợp, Nguyên thủ quốc gia thường được gọi là Tổng thống Tổng thống do nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ Chế định Nguyên thủ quốc gia ở các nước cộng hòa hỗn hợp vừa có nét giống với nguyên thủ quốc gia ở các nước cộng hòa đại nghị vừa có nét giống với Nguyên thủ quốc gia ở các nước cộng hòa tổng thống, và sự ra đời của thiết chế Nguyên thủ quốc gia trong chính thể cộng hòa hỗn hợp cũng là để khắc phục nhược điểm của cả hai thiết chế Nguyên thủ quốc gia trong hai chính thể trên
Nguyên thủ quốc gia ở trong chính thể cộng hòa hỗn hợp là trung tâm của bộ máy nhà nước Cũng như Nguyên thủ quốc gia trong các nhà nước khác, Tổng thống
là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại Tổng thống trong chính thể cộng hòa hỗn hợp có quyền hạn rất lớn vì không những đứng đầu nhà nước mà còn đứng đầu Chính phủ, điều hành Chính phủ Tổng thống không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện
Nguyên thủ quốc gia có quyền rộng như trong chính thể cộng hòa tổng thống, chẳng hạn các quyền sau: bổ nhiệm các chức danh của Chính phủ; thống lĩnh lực lượng vũ trang; ảnh hưởng đến hoạt động lập pháp thông qua những thông điệp gửi cho Nghị viện, công bố luật, yêu cầu Nghị viện xem xét lại luật nếu không đồng ý và phủ quyết luật nếu đạo luật vi hiến; quyết định chính sách ngoại giao của đất nước; quyết định ân xá Tuy nhiên khác với Tổng thống trong chính thể cộng hòa tổng thống, quyền hành pháp ở trong chính thể cộng hòa hỗn hợp được chia đều cho cả Nguyên thủ và Thủ tướng, vì vậy hạn chế được nguy cơ chuyên quyền của Nguyên thủ quốc gia mà vẫn đảm bảo quyền của Nguyên thủ lớn
Mô hình này tiêu biểu là ở cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Ai cập, Balan…
Ở cộng hòa Pháp, Nguyên thủ quốc gia là Tổng thống Tổng thống Pháp có nhiều quyền lực thật sự, nhất là trong vấn đề ngoại giao Bên cạnh đó, Tổng thống còn có quyền quan trọng là chọn Thủ tướng; có thể yêu cầu một phiên họp khác của
Trang 17Hội đồng Hiến pháp trước khi thông qua một đạo luật Tổng thống có quyền yêu cầu thảo luận lại đạo luật hay một số điều khoản của đạo luật7
Ở Liên Bang Nga, hình thức chính thể nhà nước Nga xây dựng là cộng hòa hỗn hợp Người đứng đầu nhà nước là Tổng thống đồng thời đứng đầu cơ quan hành pháp Với vai trò điều hành của Tổng thống, các cơ quan nhà nước hoạt động độc lập được phối hợp với nhau trong khuôn khổ Hiến pháp Tổng thống Nga không chỉ là người điều hành chung mọi hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước mà còn là người bảo vệ quyền và sự tự do của nhân dân Nga đã được Hiến pháp quy định8
Qua nghiên cứu mô hình Nguyên thủ quốc gia theo chính thể cộng hòa hỗn hợp ta thấy rằng, mô hình này có nhiều ưu điểm và phù hợp với các nước cần có sự tập trung quyền lực để đưa đất nước phát triển Cách thức tổ chức quyền lực của người đứng đầu nhà nước theo mô hình này dân chủ hơn so với nhà nước quân chủ, duy trì quyền hành pháp mạnh như Nguyên thủ quốc gia trong cộng hòa tổng thống
mà hạn chế khả năng dẫn đến độc tài vì quyền hành pháp do cả hai chủ thể cùng nắm giữ Tuy nhiên, mô hình này phức tạp, vẫn có nguy cơ xảy ra mâu thuẫn trong nội bộ nhánh quyền hành pháp
Mô hình này đã được tổ chức rất thành công ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giai đoạn Hiến pháp 1946 Những giá trị của mô hình này vẫn được nghiên cứu
và ứng dụng trong giai đoạn hiện nay
Ngoài các mô hình trên, Nguyên thủ quốc gia còn được tổ chức một cách hoàn toàn khác, đó là nguyên thủ quốc gia tập thể ở các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Chế định Nguyên thủ quốc gia này thể hiện tư tưởng làm chủ tập thể Trên thực tế, cách thức tổ chức Nguyên thủ tập thể không khoa học nên thiết chế này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, chẳng hạn như Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao ở Liên xô, Hội đồng nhà nước ở Cuba, Bungari, Rumani, Đoàn chủ tịch Quốc hội ở Anbani …
Như vậy, qua nghiên cứu mô hình Nguyên thủ quốc gia trên thế giới có thể khẳng định, không có một mô hình nào là hoàn hảo, khuôn mẫu cho tất cả các nước
tổ chức theo Mà mỗi mô hình đều có những giá trị và hạn chế, tuỳ theo tình hình và
tư duy lập hiến của mỗi nước mà lựa chọn cho mình một mô hình phù hợp Từ đó
7 http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_Ph%C3%A1p
8
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_th%E1%BB%91ng_Nga
Trang 18biết được tại sao ở Việt nam, người đứng đầu nhà nước không hoàn toàn giống với các nước trên thế giới, và cũng không giống nhau qua các giai đoạn
1.2 Lịch sử phát triển của chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam
Nguyên thủ quốc gia trước khi lập nên nhà nước Việt nam dân chủ Cộng hòa
Trên thế giới, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, người đứng đầu nhà nước có những tên gọi khác nhau với những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau Ở Việt nam cũng vậy, từ khi lập nên nhà nước đầu tiên đến nay người đứng đầu nhà nước cũng
có những tên gọi, vị trí và nhiệm vụ, quyền khác nhau Ở giai đoạn mới lập nên nhà nước sơ khai đến những nhà nước phong kiến thì người đứng đầu nhà nước là Vua – Hoàng đế nắm nhiều quyền hành, giai đoạn bị Pháp đô hộ thì Vua bù nhìn, và từ khi lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, Nguyên thủ quốc gia – người đứng đầu nhà nước không còn là Vua nữa mà thay vào đó tùy từng giai đoạn là Hội đồng nhà nước hay là Chủ tịch nước
Khi mới dựng nên nhà nước đầu tiên là nhà nước Văn Lang, người đứng đầu nhà nước là vua Hùng Ở thời kỳ này, do mới “thoát thai” từ công xã nguyên thủy nên nhà nước còn dân chủ, vua Hùng là người đứng đầu nhà nước, nắm quyền lực và phục vụ lợi ích của người dân
Ở thời kỳ phong kiến, đứng đầu nhà nước là Vua, Vua thâu tóm mọi quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp Trải qua các triều đại phong kiến, quyền lực của Vua ngày càng lớn mạnh, tính tập quyền ngày càng cao Ở nước ta, chế độ phong kiến phát triển cực thịnh dưới các triều đại nhà Lê, Nguyễn
Thời nhà Lê, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông, nhà nước đã thực hiện các cuộc cải cách hành chính, xây dựng một chính quyền trung ương mạnh mẽ, tập trung quyền lực vào tay Vua để điều hành đất nước được hiệu quả hơn Vua trực tiếp nắm quyền chỉ đạo mọi công việc quan trọng của nhà nước mà không thông qua khâu trung gian như trước kia Trong trường hợp cần thiết, Vua mời một số đại thần đến bàn bạc hoặc thay Vua giải quyết công việc9
Đến triều Nguyễn thì bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động dựa trên nguyên tắc tập quyền một cách triệt để Hoàng đế có quyền lực rộng rãi trên mọi lĩnh
9 Tập bài giảng lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (2008), Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh,
tr 79
Trang 19vực của đời sống xã hội, nắm cả vương quyền và thần quyền “Hoàng đế là người
duy nhất có quyền ban hành, sửa đổi hoặc hủy bỏ pháp luật; Hoàng Việt luật lệ, bộ luật có tính rường cột nhất do nhà vua phúc quyết trước khi ban hành Hoàng đế là Nguyên thủ tối cao của cơ quan hành pháp, chỉ có Hoàng đế mới có quyền thành lập hay bãi bỏ các cơ quan nhà nước, các quan chức nhà nước từ Trung ương đến địa phương Vua chủ trì các hội nghị đình thần, phê duyệt và quyết định mọi việc triều chính Vua là người nắm quyền tư pháp tối cao, phán quyết của nhà Vua trong các
vụ án là quyết định cuối cùng Hoàng đế là người đứng đầu quân đội, là vị Tổng tư lệnh tối cao Trong trường hợp đất nước có chiến tranh, Vua nắm toàn quyền tổ chức quân đội, bổ nhiệm các võ quan và điều động quân đội, thống lĩnh các lực lượng vũ trang xông pha trận mạc Hoàng đế nắm độc quyền về ngoại giao, quyết định về các chính sách đối ngoại và tiếp xúc với nước ngoài Hoàng đế là chủ sở hữu tối cao đối với đất đai và thần dân trong vương quốc Chỉ có Vua mới có quyền quy định việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc với số lượng và thời gian mà nhà nước
ấn định trước” 10
Triều Nguyễn là triều đình hưng thịnh cũng là triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến ở Việt Nam Vào thời Vua Tự Đức, thực dân Pháp xâm lược nước ta, Vua lúc này không còn nắm mọi quyền hành mà Vua chỉ là bù nhìn, quyền lực thật
sự nằm trong tay thực dân Pháp Vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn là Bảo Đại
Nguyên thủ quốc gia từ khi lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, ngày 25 tháng 8, Chính phủ lâm thời buộc Bảo Đại thoái vị, chấm dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam Thay vào đó là cách thức tổ chức nhà nước dân chủ với người đứng đầu nhà nước hoàn toàn khác Nếu trong thời kỳ phong kiến, người đứng đầu nhà nước là Vua – với quyền lực tối cao mang tính siêu nhiên thì khi nhân dân ta đấu tranh giành được độc lập xây dựng một nhà nước dân chủ, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước với vị trí, vai trò của người đứng đầu cũng rất khác Quyền lực của người đứng nhà nước không còn rộng lớn như trước Một văn bản pháp lý ra đời để ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các
cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong đó có cả Nguyên thủ quốc gia (người đứng
10 Tập bài giảng Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (2008), Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, tr.189 – 190
Trang 20đầu nhà nước) đó là Hiến pháp Bản Hiến pháp đầu tiên được ra đời năm 1946, sau
đó các Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 cũng lần lượt xuất hiện cho phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế và xã hội qua từng giai đoạn lịch sử Trong các bản Hiến pháp đó, người đứng đầu nhà nước luôn được ghi nhận nhưng có
sự khác nhau về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1946
Trên thế giới có nhiều hình thức chính thể khác nhau với những mô hình nguyên thủ quốc gia khác nhau Không có một mô hình nào là khuôn mẫu cho các nhà nước với những điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khác nhau
Ở nước ta, khi mới lập nên nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên, người đứng đầu nhà nước là Chủ tịch nước Vào thời gian này, trên thế giới đã có một số mô hình Nguyên thủ quốc gia như Tổng thống ở các nước theo chính thể cộng hòa tổng thống, Tổng thống ở các nước theo chính thể cộng hòa đại nghị, Vua ở các nước quân chủ lập hiến Nhưng giai cấp cách mạng không chọn một mô hình giống như trên thế giới cũng không quay lại thời kỳ phong kiến trước đây lập nên một vị Vua đứng đầu nhà nước Vì người đứng đầu quốc gia – hình thức chính thể mà Quốc gia lựa chọn không chỉ bị ảnh hưởng bởi những mô hình đã có trên thế giới mà còn dựa vào yếu tố nội tại bên trong của quốc gia như điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội Nước ta mới thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp với sự đấu tranh bằng máu
và nước mắt của nhân dân lao động, mà một cuộc cách mạng thành công thì giai cấp lãnh đạo cách mạng sẽ nắm quyền lập nên nhà nước của mình Ở nước ta, Đảng cộng sản đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành lại chính quyền, vì vậy mà chính quyền này
là chính quyền của toàn dân, do nhân dân lao động làm chủ Vì vậy, để bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân lao động cần một người đứng đầu nhà nước có đủ sức mạnh để điều hành đất nước và tập hợp được sự thống nhất, đoàn kết toàn dân Yêu cầu đặt ra cần phải xây dựng người đứng đầu nhà nước mạnh mẽ và thực quyền
“Quyền lực chính trị ấy phải do dân chúng trao cho bằng con đường hợp pháp thì
mới thực sự mạnh mẽ và hiệu quả”11
11 Lê Thị Hải Châu (2006), Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946 và sự phát triển qua các bản Hiến pháp Việt nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21Trước khi giành lại chính quyền từ tay thực dân Pháp, nước ta đã trải qua thời
kỳ cai trị của các vị vua Trong giai đoạn này, nhân dân không có quyền tự do dân chủ mà mọi quyền hành nằm trong tay người đứng đầu nhà nước Số phận của người dân tùy thuộc vào vị Vua anh minh hay tàn bạo Cho dù người đứng đầu nhà nước là
vị Vua anh minh thì đó cũng là cách thức tổ chức quyền lực phi dân chủ vì vậy cần
có cách tổ chức quyền lực dân chủ hơn để bảo vệ quyền và lợi ích của người dân Muốn có tự do dân chủ thì phải lật đổ ngai vàng của một cá nhân, xóa bỏ chế độ
phong kiến để quyền lực là của nhân dân “Xây dựng một bộ máy chính quyền có
hiệu quả và hiệu lực thực tế là phải đổi mới về tư tưởng và nhận thức trong việc xây dựng, thành lập Nguyên thủ quốc gia bằng cách thức dân chủ - tự do bầu cử”12 Vì vậy mà sau khi giành được độc lập, những người lãnh đạo cách mạng không xác lập trở lại một vị Vua – quyền lực tối cao để đứng đầu nhà nước Trên thế giới đã có nhiều quốc gia giành được độc lập, xây dựng nhà nước cộng hòa như cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị, nhưng quyền lực thật sự không nằm trong tay nhân dân mà trong tay số ít người cầm quyền, vì vậy nhân dân lao động không thật sự được giải phóng Mặt khác, trong giai đoạn này, tuy đã giành được chính quyền nhưng nước ta lại đứng trước nạn giặc đói, giặc dốt, bên cạnh chủ nghĩa tư bản độc quyền và giặc ngoại xâm Từ yêu cầu của thực tiễn phải xây dựng nên người đứng đầu nhà nước mạnh mẽ, thực quyền vừa thoát khỏi chế độ quân chủ chuyên quyền độc đoán, vừa thoát khỏi “dân chủ giả hiệu” ở một số nước cộng hòa vừa tập hợp được sức mạnh đoàn kết toàn dân để chống lại một lúc nhiều loại giặc đang “rình rập” chính quyền non trẻ lúc bấy giờ Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và Hồ chí Minh, cách mạng nước ta đã lựa chọn và xây dựng mô hình người đứng đầu nhà nước một cách dân chủ là Chủ tịch nước với những nhiệm vụ, quyền hạn hoàn toàn khác với các vị Vua trước đó và khác với những người đứng đầu nhà nước ở các nước trên thế giới
Chính từ nhu cầu của thực tiễn và sự sáng suốt của những nhà lập hiến lúc bấy giờ đã xây dựng nên chế định Chủ tịch nước có hai tính chất pháp lý, vừa là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại, vừa là người đứng đầu Chính phủ, lãnh đạo và điều hành hoạt động của Chính phủ Với hai tính chất
12 Lê Thị Hải Châu (2006), Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946 và sự phát triển qua các bản Hiến pháp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Trang 22pháp lý trên thì nguyên thủ quốc gia trong giai đoạn này có quyền lực rất lớn, đủ điều kiện để nắm bắt thông tin một cách đầy đủ trên nhiều lĩnh vực, bảo đảm thích nghi với hoàn cảnh lịch sử của đất nước
Theo Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch nước là thành viên Nghị viện nhân dân,
do Nghị viện bầu ra với hai phần ba số phiếu thuận (Điều 45) Mặc dù do Nghị viện
nhân dân bầu ra nhưng nhiệm kỳ của Chủ tịch nước không phụ thuộc vào nhiệm kỳ của Nghị viện Nếu nhiệm kỳ của Nghị viện là ba năm thì nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là năm năm Cách thức lập nên Chủ tịch nước thông qua con đường bầu cử lần đầu tiên đã thể hiện tính chất dân chủ trong việc lập nên người đứng đầu nhà nước ở nước ta Cách thức này cũng thể hiện được sự tín nhiệm của nhân dân đối với người đứng đầu nhà nước, mặc dù Chủ tịch nước không do nhân dân trực tiếp bầu ra, vì nhân dân bầu nên Nghị viện, và Nghị viện thay mặt nhân dân để bầu ra Chủ tịch nước Với nhiệm kỳ dài hơn nhiệm kỳ của Nghị viện đã đưa Nguyên thủ quốc gia thoát khỏi sự trói buộc bình thường vào Nghị viện mà yên tâm thực hiện quyền của mình
Tính chất pháp lý của Nguyên thủ quốc gia không chỉ được thể hiện thông qua cách thức thành lập và nhiệm kỳ mà còn và chủ yếu được thể hiện rõ nét thông qua nhiệm vụ, quyền hạn và mối tương quan với các cơ quan nhà nước khác ở Trung
ương Nhiệm vụ và quyền hạn của Nguyên thủ quốc gia được quy định tại Điều 47,
Điều 49 và từ Điều 52 đến Điều 54 Chương IV của Hiến pháp 1946 Cụ thể là:
- Thay mặt cho nhà nước Thẩm quyền này thể hiện tính chất đứng đầu nhà nước, thực hiện những công việc mang tính chính thức của nhà nước;
- Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân và không quân Với quyền này thì Chủ tịch nước sẽ chủ động trong việc điều động lực lượng vũ trang, khi cần thiết thì có thể động viên toàn quân, toàn dân tham gia kháng chiến Lực lượng vũ trang được quy về một mối - trong sự kiểm soát của người nắm được đầy đủ thông tin về tình hình trong cả nước sẽ kịp thời ứng biến với mọi tình huống bất ngờ;
Trang 23- Thành lập và điều hành hoạt động của Chính phủ Quyền hạn này thể hiện tính chất đứng đầu Chính phủ của Chủ tịch nước Tuy nhiên, Chính phủ không phải là một bộ máy giúp việc cho Chủ tịch nước, mà Chính phủ là một cơ quan, có Thủ tướng đứng đầu Hay nói cách khác, Chủ tịch nước và Thủ tướng cùng đứng đầu Chính phủ Nếu Nghị viện bất tín nhiệm đối với Nội các thì Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại Mặc dù pháp luật giai đoạn này quy định ngành hành pháp lưỡng đầu, nhưng trên thực tế, Chủ tịch nước giai đoạn này kiêm luôn chức Thủ tướng Chính phủ, nên quyền hạn rất lớn, rất thực quyền Mãi đến ngày 20 tháng 09 năm 1955 mới có sự phân công giữa Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ13;
- Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện thông qua Thẩm quyền này được hầu hết pháp luật các nước quy định cho Nguyên thủ của mình
Vì Nghị viện thay mặt nhân dân ban hành luật, Chủ tịch nước đại diện chính thức cho quốc gia ban bố, đây thực chất là sự hợp thức hóa về mặt nhà nước các văn bản luật của Nghị viện
- Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự;
- Quyết định đặc xá, mặc dù quyền tư pháp thuộc về hệ thống cơ quan tư pháp độc lập;
- Ký hiệp ước với các nước, phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước;
- Cùng với Ban thường vụ quyết định tuyên chiến hay đình chiến khi mà Nghị viện không họp được
Như vậy, thẩm quyền của Nguyên thủ quốc gia trong giai đoạn này rất lớn, ảnh hưởng đến các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, chủ yếu là trong lĩnh vực hành pháp Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện mà chỉ chịu trách nhiệm trước nhân dân về tội phản quốc trong khi Chủ tịch nước là một thiết chế phái sinh từ Nghị viện Đây là sự kết hợp giữa kinh nghiệm của
mô hình Nguyên thủ quốc gia ở các nước tư sản và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước
ta lúc bấy giờ Có thể thấy rằng, quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà
13
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7_t%C6%B0%E1%BB%9Bng_Vi%E1%BB%87t_Nam
Trang 24nước khác được thiết lập theo hướng tăng cường quyền lực cho Chủ tịch nước, bảo đảm điều hoà và phối hợp các hoạt động lập pháp và hành pháp trong điều kiện các
cơ quan này độc lập tương đối với nhau
Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1959
Trong giai đoạn này, người đứng đầu nhà nước vẫn là Chủ tịch nước Tuy nhiên, Chủ tịch nước trong giai đoạn này khác với giai đoạn trước cả về vị trí, tính chất pháp lý cũng như nhiệm vụ, quyền hạn Sự khác biệt đó được quy định cụ thể tại
Chương V Hiến pháp năm 1959
Nguyên thủ quốc gia giai đoạn này chỉ có một tính chất pháp lý là người đứng đầu nhà nước, không còn đứng đầu Hội đồng Chính phủ như trong giai đoạn trước đây Việc lập nên Chủ tịch nước không khác giai đoạn trước, Chủ tịch nước vẫn phái sinh từ Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Tuy nhiên, nếu ở giai đoạn trước, Chủ tịch nước phải được Nghị viện bầu và không giới hạn độ tuổi thì ở giai đoạn này, Chủ tịch nước do Quốc hội bầu nhưng không nhất thiết là đại biểu Quốc hội và phải từ 35 tuổi trở lên Với quy định này, phạm vi lựa chọn Nguyên thủ được rộng rãi hơn iới hạn độ tuổi vì chỉ khi đạt được một độ tuổi nhất định cá nhân đó mới có đủ sự sáng suốt, chín chắn để gánh vác những công việc của đất nước Nhiệm
kỳ của Chủ tịch nước cùng với nhiệm kỳ của cơ quan lập ra chế định này là năm năm, điều này thể hiện nguyên tắc quyền lực tập trung và thống nhất vào cơ quan quyền lực nhà nước
Vị trí của Nguyên thủ quốc gia trong Bộ máy nhà nước đã có sự thay đổi so với giai đoạn trước, vì vậy mà quyền hạn của Nguyên thủ quốc gia cũng được quy định theo một hướng khác Trong giai đoạn này, quyền hạn chủ yếu tập trung vào Quốc hội và y ban thường vụ Quốc hội Những nhiệm vụ, quyền hạn rộng lớn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946 đã được chia bớt một phần cho y ban thường
vụ Quốc hội, một phần cho Thủ tướng Chính phủ, cho nên trong giai đọan này quyền hạn của Chủ tịch nước chỉ mang tính chất đại diện cá nhân và Chủ tịch nước chỉ tham gia nhất định vào hoạt động lập pháp, thành lập các cơ quan trong bộ máy nhà nước, tuyên bố chiến tranh… nhưng đều dựa trên quyết định của Quốc hội hoặc y ban thường vụ Quốc hội Các nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định
tại Chương V Hiến pháp 1959, cụ thể như sau:
Trang 25- Căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố luật, pháp lệnh;
- Bổ nhiệm, bãi miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên Hội đồng Chính phủ;
- Bổ nhiệm và bãi miễn Phó chủ tịch và các thành viên khác của hội đồng quốc phòng;
- Công bố lệnh đại xá và lệnh đặc xá;
- Tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự của Nhà nước;
- Tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố tổng động viên, động viên cục bộ, hoặc lệnh giới nghiêm;
- Tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài cử đến, căn cứ vào quyết định của quốc hội hoặc của uỷ ban thường vụ quốc hội mà phê chuẩn hiệp ước kí với nước ngoài;
- Cử và triệu hồi đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ở nước ngoài;
- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc, giữ chức chủ tịch hội đồng quốc phòng;
- Khi xét thấy cần thiết có thể tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ; triệu tập và chủ toạ hội nghị chính trị đặc biệt
So với Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch nước giai đoạn Hiến pháp năm 1959 đã không còn thực hiện quyền điều hành đất nước và chi phối đến hoạt động lập pháp của Quốc hội, có những điểm khác biệt giai đoạn trước như: chỉ có quyền “thống lĩnh” mà không còn quyền “chỉ huy” các lực lượng vũ trang; chỉ có quyền “công bố” luật thay vì quyền “ban bố” luật, không còn quyền yêu cầu Quốc hội thảo luận lại luật, không còn quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh trong cơ quan Hành chính và chuyên môn, đồng thời, Chủ tịch nước không còn quyền triệu tập, chủ toạ
các phiên họp của Hội đồng Chính phủ trừ trường hợp cần thiết Thiết chế Chủ tịch
nước giai đoạn này không chỉ khác giai đoạn trước ở vị trí pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn mà còn ở cơ chế chịu trách nhiệm Nếu ở giai đoạn trước, Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện mà chỉ phải chịu trách nhiệm trước nhân dân
về tội phản quốc thì ở giai đoạn Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước phải chịu trách
Trang 26nhiệm trước Quốc hội và có thể bị Quốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm iai đoạn Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước là cá nhân với những quyền hạn tương đối lớn, vừa đứng đầu Nhà nước vừa đứng đầu Chính phủ, chi phối nhánh quyền lập pháp do bị ảnh hưởng bởi Hiến pháp các nước tư sản và xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của nước nhà thì giai đoạn có hiệu lực của Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước vẫn là cá nhân nhưng không còn chi phối quyền lực lập pháp do bị ảnh hưởng bởi cách thức tổ chức quyền lực ở các nước Xã hội chủ nghĩa mà tiêu biểu là Liên bang Xô Viết: Nguyên tắc tập trung dân chủ và Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Do đó, tính chất
độc lập và thực quyền của Chủ tịch nước đã bị giới hạn bởi quyền lực của Quốc hội
Như vậy, chế định Chủ tịch nước trong giai đoạn này là yếu tố làm nên sự khác biệt trong việc tổ chức Bộ máy nhà nước so với giai đoạn trước Quyền hạn của Chủ tịch nước trong giai đoạn này bị hạn chế hơn rất nhiều vì chức năng của người đứng đầu Chính phủ đã được chuyển sang cho Thủ tướng chính phủ Tuy nhiên, quyền hạn của Chủ tịch nước vẫn còn rất lớn vì trong trường hợp cần thiết có quyền triệu tập và chủ tọa Hội nghị chính trị đặc biệt để xét những vấn đề lớn của nhà nước
(Điều 67) Chỉ với tính chất pháp lý là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước
về đối nội và đối ngoại làm cho Nguyên thủ quốc gia trở thành biểu tượng tinh thần của dân tộc, hướng đến sự thống nhất giữa hai miền nam bắc
Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1980
iai đoạn này thì Nguyên thủ quốc gia không còn là cá nhân nữa mà thay vào
đó là một tập thể, có tên gọi là Hội đồng nhà nước Hội đồng nhà nước là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội, đồng thời là chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua Chủ tịch hội đồng, thay mặt nhà nước về mặt đối nội và đối ngoại Thẩm quyền của Hội đồng nhà nước bao gồm thẩm quyền của y ban thường vụ Quốc hội và thẩm quyền của Chủ tịch nước Chế định Nguyên thủ quốc gia của nước ta ở giai đoạn này thể hiện tư tưởng tập trung cao độ quyền lực nhà nước vào tay tập thể và chịu ảnh hưởng bởi xu thế Nguyên thủ tập thể tại các nước xã hội chủ nghĩa iai đoạn này, nhiều nước xã hội chủ nghĩa có Nguyên thủ quốc gia tập thể, chỉ khác nhau ở tên gọi Ví dụ như Hội đồng nhà nước ở Balan, Cuba, Bungari, Rumani; Đoàn chủ tịch Quốc hội ở Anbani; đoàn chủ tịch Xô viết tối cao ở Liên xô
Trang 27Hội đồng Nhà nước được bầu ra trong số đại biểu Quốc hội, gồm có Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, các Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước và các ủy viên Hội đồng Nhà nước Thành viên của Hội đồng Nhà nước không được đồng thời là thành viên của Hội đồng Bộ trưởng Nhiệm kỳ của Hội đồng Nhà nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Hội đồng Nhà nước vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội mới bầu ra Hội đồng Nhà
nước mới (Điều 99 Hiến pháp 1980)
Trong giai đoạn này Chủ tịch tập thể có hai tính chất pháp lý như Chủ tịch nước giai đoạn 1946 đến 1959 Tuy nhiên, nếu Chủ tịch nước giai đoạn từ 1946-
1959 có hai tính chất vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ thì ở giai đoạn này, Nguyên thủ quốc gia tập thể vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là cơ quan thường trực của Quốc hội Nếu ở giai đoạn Hiến pháp 1946 Chủ tịch nước cá nhân thực quyền nghiêng về nhánh quyền hành pháp thì giai đoạn Hiến pháp 1980 lại nghiêng về nhánh quyền lập pháp Quyền của Hội đồng nhà nước trong giai đoạn này là rất lớn, lớn hơn cả Chủ tịch nước giai đoạn Hiến pháp năm
1946 vì một cơ quan mà mang hai tính chất Tuy nhiên, quyền của Hội đồng Nhà nước với tính chất là người đứng đầu nhà nước lại rất hình thức, không thực quyền
và phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội Cụ thể, các nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng Nhà nước được quy định Điều 100, 103 Hiến pháp 1980
- Tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu quốc hội, triệu tập các
kỳ họp của quốc hội;
- Công bố luật; ra pháp lệnh; giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh;
- Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân;
- Giám sát công tác của Hội đồng bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Đình chỉ việc thi hành và bải bỏ hoặc sửa đổi nghị định, nghị quyết, quyết định của Hội đồng bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật,pháp lệnh;
- iám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, nhằm phát huy chức năng cơ quan đại biểu nhân dân;
Trang 28- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, giải tán hội đồng nhân dân cấp Tỉnh trong trường hợp hội đồng đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;
- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc thành lập, bãi bỏ các bộ, các ủy ban nhà nước;
- Trong thời gian quốc hội không họp, cử và bãi miễn các phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ trưởng, các chủ nhiệm y ban Nhà nước;
- Cử và bãi miễn các phó Chánh án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tối cao;
- Bổ nhiệm, bãi miễn và triệu hồi các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và các
tổ chức quốc tế;
- Tiếp nhận các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài;
- Phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước quốc tế, trừ trường hợp xét thấy cần trình Quốc hội quyết định;
- Quy định hàm và cấp quân sự ngoại giao và những hàm cấp khác;
- Quy định và quyết định việc tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
Trang 29quyết định của một người Tuy nhiên, với chế định Chủ tịch nước tập thể cũng có những nhược điểm như: mọi vấn đề thông qua một cách chậm chạp, không kịp thời ứng biến với những tình thế khẩn cấp và trách nhiệm không r ràng Và với thể chế này, khi thực hiện trên thực tế đã được chứng minh là không phù hợp, chính sự không phù hợp trong việc tổ chức Bộ máy nhà nước ở Trung ương mà đặc biệt là vai trò mờ nhạt, hình thức của người đứng đầu nhà nước làm cho khủng hoảng kinh tế, kìm hãm sự phát triển của đất nước trong một thời kỳ Vì vậy, đổi mới là một nhu cầu cấp thiết
Nguyên thủ quốc gia ở giai đoạn Hiến pháp năm 1992 đến nay
Khi mới thành lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch nước
có vị trí đặc biệt, có sức ảnh hưởng lớn trong bộ máy nhà nước Chủ tich nước – Nguyên thủ quốc gia có hai tính chất pháp lý, vừa là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối ngoại, đối nội vừa đứng đầu Chính phủ Ở giai đoạn Hiến pháp năm 1959, thiết chế Nguyên thủ quốc gia có sự thay đổi, không còn hai tính chất pháp lý như Chủ tịch nước giai đoạn trước, mà chỉ còn một tính chất là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại Đến Hiến pháp năm 1980, chế định Nguyên thủ quốc gia lại được quy định khác với hai giai đoạn trước, không còn là một cá nhân mà là một tập thể với tên gọi là Hội đồng nhà nước Hội đồng nhà nước có hai tính chất pháp lý, vừa là nguyên thủ tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam vừa là cơ quan thường trực của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội Như trên đã khẳng định, chế định Nguyên thủ quốc gia tập thể rõ ràng không phù hợp để đứng đầu một nhà nước dẫn đến khủng hoảng về kinh tế Trước tình hình đó, đổi mới là một nhu cầu cấp thiết, và Hiến pháp năm 1992 ra đời
để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Từ giai đoạn Hiến pháp năm 1992 đến nay Nguyên thủ quốc gia là cá nhân với tên gọi là Chủ tịch nước Chủ tịch nước đã được quy định khác với giai đoạn trước, không còn tập thể người đứng đầu trong bộ máy nhà nước, không còn một cơ quan vừa là Nguyên thủ quốc gia lại vừa là cơ quan thường trực của một cơ quan trong chính bộ máy nhà nước đó
Hiện nay, chế định Nguyên thủ quốc gia được quy định tại Chương VII Hiến
pháp 1992, và được cụ thể hóa tại nhiều văn bản pháp luật khác như: Luật Ban hành văn bản pháp luật 2008, Luật Tổ chức Chính phủ 2001, Luật Tổ chức Tòa án nhân
Trang 30dân 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002, Luật Tố tụng hình sự, Luật Đặc xá 2007… Nội dung cụ thể của chế định Chủ tịch nước trong giai đoạn hiện nay
sẽ được nghiên cứu ở mục 2.1
Việc nghiên cứu chế định Nguyên thủ quốc gia ở nước ta qua các giai đoạn cho thấy một cái nhìn toàn diện về người đứng đầu nhà nước Từ đó biết được lịch
sử, nguyên nhân của những quy định pháp lý về Chủ tịch nước, có nền tảng để hiểu đúng những quy phạm pháp luật về người đứng đầu nhà nước trong giai đoạn hiện hành
Trang 31CHƯƠNG II CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ QUỐC GIA – CHỦ TỊCH NƯỚC THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 2.1 Nội dung chế định Chủ tịch nước theo Pháp luật Việt Nam hiện hành
2.1.1 Vị trí, tính chất pháp lý, cách thành lập và nhiệm kỳ của Chủ tịch nước Thứ nhất, vị trí, tính chất của Chủ tịch nước
Nguyên thủ quốc gia luôn là một thiết chế quan trọng trong bất kỳ bộ máy nhà nước nào, là trung tâm của bộ máy nhà nước Ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật hiện hành, Nguyên thủ quốc gia là Chủ tịch nước, là một khâu quan trọng trong việc phối hợp quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương… Chủ tịch nước
là một cá nhân, được quy định là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về
đối nội, đối ngoại (Điều 101 Hiến pháp 1992) Việc quy định chế định Chủ tịch nước
là cá nhân phù hợp với xu hướng thời đại và tình hình nước ta lúc bấy giờ Trên thế giới giai đoạn này, chế định Nguyên thủ quốc gia tập thể đã được thay thế dần bằng chế định Nguyên thủ cá nhân Còn ở nước ta, tập thể người đứng đầu nhà nước khi thực hiện trên thực tế đã thể hiện nhiều nhược điểm, trách nhiệm không rõ ràng, kinh
tế xã hội và mọi mặt của đời sống xã hội đi xuống Chính vì vậy, đổi mới là một nhu cầu cấp thiết Khi bước vào thời kỳ đổi mới, hệ thống pháp luật nước ta đã có sự thay đổi cơ bản mà dấu ấn là Hiến pháp 1992 quy định chế định Nguyên thủ cá nhân Với chế định Nguyên thủ quốc gia – Chủ tịch nước cá nhân đã thể hiện đúng tính chất của vị trí đứng đầu, một tập thể người không thể do một tập thể người đứng đầu thay mặt và cùng phát ngôn được, như vậy sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong chính nội bộ nguyên thủ, dẫn đến những chính sách đối nội và đối ngoại không phù hợp Nếu là một tập thể, chỉ nên quy định tập thể đó là đội ngũ cố vấn cho Nguyên thủ khi thực hiện chức năng của mình Một người đứng đầu nhà nước phù hợp với xu thế của thời đại, nhanh nhạy, linh hoạt trong lĩnh vực đối ngoại cũng như đối nội, trách nhiệm cá nhân được r ràng Điều này giúp tăng cường quyền lực cũng như phát huy được hết năng lực và trí tuệ của cá nhân Chủ tịch nước, bảo đảm điều hành hoạt động Nhà nước được hiệu quả
Trang 32Thứ hai, cách thức thành lập Chủ tịch nước
Chủ tịch nước do y ban thường vụ Quốc hội giới thiệu từ các đại biểu Quốc
hội để Quốc hội bầu (Điều 81 Luật tổ chức Quốc hội; Khoản 1 Điều 26 Quy chế hoạt
động của Quốc hội 2002; Điều 102 Hiến pháp 1992); Là đại biểu Quốc hội, tham dự
các kỳ họp Quốc hội, Chủ tịch nước nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân được mang đến từ các đại biểu Quốc hội khác, nắm bắt và kịp thời góp ý kiến vào các luật, nghị quyết của Quốc hội giống như các đại biểu Quốc hội Chủ tịch nước là đại biểu Quốc hội và được thành lập thông qua con đường bầu cử mà không do cá nhân nào
bổ nhiệm vì Chủ tịch nước là một thiết chế trung tâm trong Bộ máy nhà nước, là người đứng đầu nhà nước nên không thể có một cá nhân nào trong bộ máy nhà nước
có vị trí cao hơn Chủ tịch nước để bổ nhiệm Với quy định “bầu” nên Chủ tịch nước thể hiện tính chất dân chủ trong việc thành lập các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung và người đứng đầu nhà nước nói riêng Chủ tịch nước – Nguyên thủ quốc gia được lập nên thông qua con đường bầu cử, nhưng không phải do nhân dân trực tiếp bầu ra mà do Quốc hội bầu Khác với các nước tư sản, nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” nên nhân dân trực tiếp bầu ra người đứng đầu nhà nước Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất và là của nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các đại biểu Quốc hội – những người đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định và được sự tín nhiệm của nhân dân Các đại biểu Quốc hội là những người có trình độ và có sự hiểu biết, hoạt động bầu
cử của họ sẽ có hiệu quả hơn và cũng bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thông qua cơ cấu cán bộ Ở hầu hết các nước trên thế giới thì Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu đảng cầm quyền hay đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện Còn ở nước ta, vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện thông qua cơ cấu cán
bộ Mặt khác, nhân dân thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, trình độ và nhận thức khác nhau, nếu để nhân dân trực tiếp bầu ra Chủ tịch nước thì sẽ cảm tính và cá nhân người trúng cử cũng không thật sự thể hiện ý chí, nguyện vọng và sự tín nhiệm của nhân dân Mặc dù không do nhân dân trực tiếp bầu, nhưng thông qua đại biểu Quốc hội cũng thể hiện tư tưởng, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách gián tiếp thông qua các đại biểu Quốc hội
Trang 33Chủ tịch nước do Quốc hội thành lập nên phải chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Quốc hội (Điều 102 Hiến Pháp 1992), đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước (Điều 98 Hiến pháp 1992) Chủ tịch nước phải có trách
nhiệm trả lời trước Quốc hội, nếu cần phải điều tra thì có thể trả lời trước y ban thường vụ Quốc hội, trả lời bằng văn bản hoặc trả lời tại kỳ họp sau của Quốc hội Quốc hội có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch nước không còn xứng đáng
với sự tin tưởng của Quốc hội (khoản 7 Điều 84 Hiến pháp 1992)
Chủ tịch nước vừa là đại biểu Quốc hội, vừa do y ban thường vụ Quốc hội giới thiệu để Quốc hội bầu, vừa là người đứng đầu nhà nước nên được tham dự và
phát biểu ý kiến về những vấn đề mà y ban thường vụ Quốc hội họp (Điều 105
Hiến pháp 1992) Chủ tịch nước phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với Quốc
hội tại mỗi kỳ họp của Quốc hội nhưng không phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước y ban thường vụ Quốc hội Tại vì, Quốc hội là cơ quan đại diện cho ý chí của toàn dân, Chủ tịch nước là chức danh đại diện về mặt nhà nước của nhân dân, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội chính là một hình thức chịu trách nhiệm gián tiếp trước nhân dân Mặt khác, điều này cũng thể hiện nguyên tắc tập quyền, quyền lực nhà nước là tập trung và thống nhất Trong khi đó, y ban thường
vụ Quốc hội không có chức năng đại diện cho toàn dân mà chỉ là một bộ phận của cơ quan đại diện cho toàn dân, nên người đứng đầu bộ máy nhà nước không thể chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước một bộ phận thường trực của một cơ quan trong bộ máy nhà nước được
Ngoài việc bầu lên cá nhân Chủ tịch nước, Quốc hội còn bầu ra Phó Chủ tịch nước trong số đại biểu Quốc hội để giúp việc cho Chủ tịch nước Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài thì Phó Chủ tịch thế quyền chủ tịch Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước thì Phó Chủ tịch quyền chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới
Thứ ba, nhiệm kỳ của Chủ tịch nước
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước cùng với nhiệm kỳ của Quốc hội (Điều 102 Hiến
pháp 1992) Mà nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là năm năm (Điều 85 Hiến pháp 1992) Vì vậy mà ta biết được nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là năm năm Khi Quốc
hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội mới
Trang 34bầu Chủ tịch nước mới Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước cùng với nhiệm kỳ của Quốc hội thể hiện sự gắn bó, phụ thuộc giữa Chủ tịch nước với Quốc hội theo nguyên tắc
“tập quyền” xã hội chủ nghĩa đồng thời thể hiện sự gắn bó giữa cơ quan phái sinh từ Quốc hội với Quốc hội Quốc hội khóa XII đã rút ngắn nhiệm kỳ của mình lại là bốn năm để tạo sự phù hợp về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước ở trung ương
và địa phương, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước ở Trung ương về công tác nhân sự, vì vậy mà nhiệm kỳ Chủ tịch nước cùng nhiệm kỳ với Quốc hội khóa XII cũng rút xuống còn lại bốn năm Tuy nhiên, sự rút ngắn này không ảnh hưởng đến những nhiệm kỳ sau của Chủ tịch nước Pháp luật hiện hành không quy định giới hạn số nhiệm kỳ của Chủ tịch nước, vì vậy mà Chủ tịch nước đương nhiệm khi hết nhiệm kỳ có thể được bầu lại, điều này tạo tính chủ động cho Chủ tịch nước cố gắng hoàn thành tốt công việc của mình để có được sự tín nhiệm của nhân dân và đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ tiếp theo
Như vậy, thông qua vị trí, tính chất pháp lý, cách thức thành lập và nhiệm kỳ của Chủ tịch nước, ta có được cái nhìn sơ lược về vai trò người đứng đầu bộ máy nhà nước hiện hành Tuy nhiên, hình ảnh của Chủ tịch nước vẫn còn rất mờ nhạt Vai trò của Chủ tịch nước sẽ được thể hiện rõ nét thông qua nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ với các cơ quan nhà nước ở Trung ương
2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
Nếu như ở giai đoạn sau Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 Chủ tịch nước nghiêng về nhánh quyền hành pháp, hay là Nguyên thủ tập thể giai đoạn Hiến pháp năm 1980 nghiêng về nhánh quyền lập pháp nên có quyền hạn rộng lớn thì ở giai đoạn hiện nay Chủ tịch nước có sự độc lập tương đối với Quốc hội nên quyền hạn tương đối hẹp hơn các giai đoạn trước, những quyền hạn rộng lớn trong các giai đoạn trước đã được quy định cho Chính phủ và Quốc hội Chủ tịch nước chỉ đóng vai trò điều phối hoạt động của các cơ quan trong Bộ máy nhà nước ở Trung ương, bảo đảm cho hoạt động của Bộ máy nhà nước được thông suốt trong quá trình hoạt động
Những nhiệm vụ, quyền hạn này được thể hiện từ Điều 103 đến Điều 107 Hiến pháp
1992 và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác như: Luật ban hành văn bản pháp luật 2008, Luật tổ chức Chính phủ 2001, Luật tổ chức Tòa án nhân dân
2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002, Luật tố tụng hình sự, Luật đặc xá
Trang 352007… Thông qua quy định pháp luật, Chủ tịch nước bao gồm các nhiệm vụ, quyền
Về việc trình dự án luật và kiến nghị luật
Trình dự án luật, kiến nghị luật là giai đoạn đầu tiên, rất quan trọng của quá trình ban hành văn bản pháp luật
Trình dự án luật vừa là quyền vừa là nhiệm vụ của Chủ tịch nước Trình dự án luật là việc gửi đề nghị xây dựng luật đến y ban thường vụ Quốc hội, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, dự kiến nguồn lực, điều
kiện đảm bảo và báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản (Điều 87 Hiến pháp
1992, Điều 23 Luật Ban hành văn bản pháp luật 2008)
Kiến nghị luật là việc đại biểu Quốc hội đưa ra ý kiến về việc cần thiết phải
ban hành văn bản pháp luật, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản (Điều 87
Hiến pháp 1992, Điều 23 Luật Ban hành văn bản pháp luật 2008)
Chủ tịch nước tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội với hai tư cách, vừa là Nguyên thủ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa là đại biểu
Quốc hội Theo quy định tại Điều 87 Hiến pháp 1992 thì Chủ tịch nước có quyền trình kiến nghị luật và dự án luật ra trước Quốc hội Điều 23 Luật Ban hành văn bản
pháp luật 2008 đã mở rộng quyền trình kiến nghị luật, dự án luật của Chủ tịch nước
thành quyền trình kiến nghị luật, pháp lệnh, dự án luật, pháp lệnh Chủ tịch nước với
tư cách là Nguyên thủ quốc gia được quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh; Chủ tịch nước với tư cách là đại biểu Quốc hội được quyền trình kiến nghị luật, pháp
Trang 36lệnh Đây là một giai đoạn quan trọng trong quá trình ban hành văn bản pháp luật, vì
nó ảnh hưởng đến hiệu quả và kết quả của quá trình lập pháp Để thực hiện được quyền này một cách có hiệu quả thì chủ thể thực hiện quyền này phải có điều kiện
“tổng hợp, đánh giá, nắm bắt được nhu cầu của xã hội tức những vấn đề bức xúc cần
phải điều chỉnh bằng luật, pháp lệnh; xác định đúng nhu cầu quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực, nhận diện đầy đủ xu hướng phát triển của loại quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bằng pháp luật; xác định, làm rõ mức độ và loại văn bản pháp luật cần ban hành…” 14
Kết quả của việc trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật,
pháp lệnh là “được Quốc hội chấp thuận đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh của năm hoặc toàn khóa Quốc hội” 15 Như vậy, giai đoạn đầu tiên của quá tình ban hành văn bản pháp luật đòi hỏi kiến thức tổng hợp, hiểu biết rộng và điều kiện để
có được thông tin một cách đầy đủ, chính xác Với vị trí của mình, Chủ tịch nước có được cái nhìn toàn diện về mọi lĩnh vực hoạt động của bộ máy nhà nước, vì vậy sẽ ý thức được quan hệ xã hội nào chưa được pháp luật điều chỉnh mà có kiến nghị về luật hoặc trình dự án luật
Chủ tịch nước không có quyền ban hành luật nhưng với quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị luật, pháp lệnh đã tạo điều kiện cho Chủ tịch nước tham gia vào quá trình lập pháp Thông qua đó, ý chí, tư tưởng của Nguyên thủ được thể hiện trong nội dung đạo luật mà Quốc hội ban hành Quyền này của Chủ tịch nước ta được quy định cụ thể và lớn hơn cả Tổng thống Hoa Kỳ, vì Tổng thống Hoa Kỳ dù quyền hành pháp rộng lớn nhưng chỉ có thể ảnh hưởng đến hoạt động lập pháp thông qua các nghị sỹ của Đảng mình trong Nghị viện
Về việc công bố văn bản quy phạm pháp luật
Không chỉ tham gia vào giai đoạn đầu của quá trình lập pháp, Chủ tịch nước còn có quyền công bố các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, y ban thường
vụ Quốc hội được quy định tại Điều 87 Hiến pháp 1992 và Điều 57 Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật 2008