1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005

116 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Đồng Dân Sự Vô Hiệu Do Nhầm Lẫn Theo Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự Năm 2005
Tác giả Hồ Huỳnh Mỷ Linh
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Diễm Phương
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa Luận
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến vần đề này được đăng trên các tạp chí khoa học như: “Nhầm lẫn – Yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng” của tác giả Lê Thị Bích Thọ đă

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

HỒ HUỲNH MỶ LINH

HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO QUY

ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 35 (NIÊN KHÓA 2010 – 2014) Chuyên ngành: Luật Dân sự

Người hướng dẫn:

ThS LÊ THỊ DIỄM PHƯƠNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Hồ Huỳnh Mỷ Linh – sinh viên Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, khoa Luật Dân sự, khóa 35 (2010 – 2014), là tác giả của khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật – chuyên ngành Luật Dân sự

Đề tài: “HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005” được trình bày trong tài liệu này

(sau đây gọi là “khóa luận”)

Tác giả xin cam đoan tất cả những nội dung trong khóa luận này hoàn toàn được hình thành, xây dựng và phát triển từ quan điểm cá nhân của tác giả, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Lê Thị Diễm Phương – Giảng viên khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

Trong khóa luận có sử dụng trích dẫn, ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Sự trích dẫn này được thể hiện chi tiết trong Danh mục tài liệu tham khảo và tuân theo các quy định về pháp luật sở hữu trí tuệ Các bản án, tài liệu, kết quả có được trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực

Sinh viên thực hiện

Hồ Huỳnh Mỷ Linh

Trang 3

3 BLDS 2005

Bộ luật Dân sự của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm

6 Nghị quyết

04/2003/NQ-HĐTP

Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27/5/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

7 Nghị quyết

02/2004/NQ-HĐTP

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật

trong việc giải quyết các vụ án dân sự,

hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7

6 Kết cấu của khóa luận 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN 8

1.1 Khái quát về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 8

1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển của quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 8

1.1.2 Khái niệm về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 13

1.1.3 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 15

1.2 Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 18

1.3 Phân biệt hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn với trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do lừa dối 22

1.4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 26

1.4.1 Phương thức xử lý hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 27

1.4.2 Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình trong trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 33

1.5 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

37

1.6 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc quy định hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2: NHỮNG BẤT CẬP CỦA QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 43

2.1 Những bất cập trong quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 42

2.1.1 Về khái niệm nhầm lẫn 42

2.1.2 Về phạm vi của nhầm lẫn 46

2.1.3 Về tính chất của nhầm lẫn 50

2.1.4 Về vấn đề xác định lỗi trong nhầm lẫn 53

2.1.5 Về cách thức xử lý đối với hợp đồng dân sự có nhầm lẫn là chưa triệt để 56 2.1.6 Về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 61

Trang 5

2.1.7 Về cơ quan có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu 66

2.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu

do nhầm lẫn 68

2.2.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn 68 2.2.2 Những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng dân

sự vô hiệu do nhầm lẫn 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngay từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và để đáp ứng nhu cầu của con người, từ đó đã xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa thì giao dịch đã hình thành và giữ vị trí quan trọng trong xã hội Ở Việt Nam, tại Điều 121 Bộ luật Dân

sự năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (sau

đây gọi tắt là CHXHCN) Việt Nam quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc

hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Trong đó, hợp đồng dân sự là một loại giao dịch phổ biến nhất, sử dụng

thường xuyên nhất, giữ vị trí quan trọng đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị

trường hiện nay Có quan điểm cho rằng: “Pháp luật về hợp đồng được coi như hộ

chiếu cho phép đi vào tất cả các lĩnh vực pháp luật khác”1 Pháp luật ghi nhận nguyên tắc cơ bản của hợp đồng là dựa trên cơ sở thống nhất ý chí và sự bày tỏ ý chí của các bên Điều đó có nghĩa là ý chí được thể hiện ra bên ngoài phải phù hợp với nội tâm và nguyện vọng nội tại của các bên tham gia giao kết và thực hiện hợp

đồng C Mác đã từng nói: “Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao

đổi với nhau được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó” 2 Tuy nhiên trong thực tế một bên hoặc các bên trong hợp đồng có thể rơi vào trường hợp hiểu nhầm về nội dung của hợp đồng mà giao kết hợp đồng Khi đó hợp đồng dân

sự có thể bị vô hiệu do không thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Trong thời kỳ hội nhập và phát triển của nước ta hiện nay, luôn luôn đặt ra nhu cầu phải hoàn thiện và phát triển hơn nữa chế định hợp đồng Nhà xã hội học người

Pháp Plulur đã dự đoán: “Hợp đồng chiếm 9/10 dung lượng các bộ luật hiện hành,

và đến lúc nào đó tất cả các điều khoản của bộ luật, từ điều khoản thứ nhất đến điều khoản cuối cùng đều quy định về hợp đồng”3

Những vấn đề pháp lý xoay quanh hợp đồng có rất nhiều như chủ thể ký kết, thời điểm hợp đồng có hiệu lực, thực hiện hợp đồng, bồi thường thiệt hại, … Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và đi theo xu hướng trong tương lai những vấn đề này sẽ do chính nhận thức, trình độ, am hiểu về pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng được nâng cao mà họ

tự điều chỉnh chứ không mang nặng sự can thiệp của Nhà nước về những vấn đề này Nhưng theo đó quyền tự định đoạt, quyền tự do ý chí để xác định hiệu lực của hợp đồng đã và đang giữ vai trò đáng kể mà pháp luật các nước nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng đang phát triển theo hướng bảo vệ tuyệt đối về quyền tự do

ý chí, quyền tự định đoạt của các bên chủ thể Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO

Nguyễn Đức Giao (2000), “Vị trí, vai trò của chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”, Thông tin

khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, tr 2

Trang 7

(World Trade Organization) thì đối mặt với vấn đề “hòa nhập có chọn lọc” trong quan hệ dân sự, thương mại nói chung gắn theo đó là hành lang pháp lý phù hợp bảo vệ cho quan hệ dân sự, thương mại đó Theo pháp luật dân sự nguyên tắc tự do thỏa thuận, tự do cam kết là nguyên tắc đặc trưng, cụ thể nguyên tắc thỏa thuận trở thành nguyên tắc bao trùm ngành luật dân sự Việt Nam tại Điều 4 BLDS 2005 Trong pháp luật các nước như Pháp, Nhật Bản, Thái Lan cũng như pháp luật Việt Nam thừa nhận các yếu tố làm cho các bên không thực sự tự nguyện như nhầm lẫn, lừa dối, … Điều này thể hiện rõ trong các quy định của pháp luật Việt Nam về giao dịch dân sự vô hiệu Tuy nhiên, trong đó, nguyên nhân giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng rất đa dạng, được biểu hiện dưới nhiều trạng thái khác nhau Điều đó đòi hỏi phải có một cơ chế để bảo vệ các chủ thể trong quan hệ hợp đồng, tránh những hậu quả đáng tiếc gây thiệt hại cho các bên Do vậy, pháp luật Việt Nam khi điều chỉnh về hợp đồng đã đề cập tới vấn đề nhầm lẫn Dù trải qua nhiều lần sửa đổi BLDS, vấn đề hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn đã trải qua một thời gian dài hình thành và phát triển nhưng vấn đề hiểu và áp dụng các quy định này vẫn khá phức tạp Phức tạp bởi lẽ vấn đề hợp đồng vô hiệu ngoài thực tiễn rất đa dạng đặc biệt là hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn vẫn còn nhiều quan điểm chưa có cách hiểu thống nhất

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Hợp đồng dân sự vô

hiệu do nhầm lẫn theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005” làm đề tài nghiên

cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình Tác giả mong muốn sẽ đi sâu làm rõ những vấn đề quan trọng còn chưa được nghiên cứu kỹ và những vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau Hơn nữa, đây là thời điểm BLDS đang được xem xét bổ sung, sửa đổi nên cần có những đề xuất, kiến nghị Tác giả mong rằng đề tài sẽ góp một phần nhỏ trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và BLDS nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu

Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là một vấn đề khá phức tạp nhưng có ý nghĩa thực tiễn cao nên đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, khóa luận liên quan đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn cụ thể

như đề tài “Định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự

vô hiệu trong luật dân sự Việt Nam” luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Niên Hưng

(2004), đề tài “Vận dụng pháp luật quốc tế về hợp đồng trong việc hoàn thiện chế

định hợp đồng của pháp luật Việt Nam thời kỳ hội nhập” luận văn Thạc sĩ Luật học

của tác giả Kinh Thị Tuyết (2005) và đề tài “Pháp luật về hợp đồng lao động vô

hiệu – thực trạng và định hướng hoàn thiện” luận văn Thạc sĩ Luật học của Hoàng

Văn Hùng (2006) Bên cạnh đó có các đề tài khóa luận như đề tài “Hợp đồng dân

sự vô hiệu – Thực trạng pháp luật và hướng hoàn thiện” khóa luận tốt nghiệp của

Trang 8

Nguyễn Thị Lâm Nghi (2004), đề tài “Hợp đồng dân sự vô hiệu – Thực trạng và

giải pháp tại TP.HCM” khóa luận tốt nghiệp của Trần Quang Thắng (2004), đề tài

“Hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng mua bán nhà

ở vô hiệu” khóa luận tốt nghiệp của Trần Đức Hùng (2007) và đề tài “Hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối” khóa luận tốt nghiệp của Trần Thanh Tuyền (2010)

Ngoài ra, cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến vần đề này được đăng trên các

tạp chí khoa học như: “Nhầm lẫn – Yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng” của

tác giả Lê Thị Bích Thọ đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2001; Bài viết

“Bàn về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trong luật dân sự Việt Nam”

của tác giả Lưu Bình Dương đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 05/2003; Bài viết “Xử

lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu” của tác giả Nguyễn Như Quỳnh đăng trên

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 03/2005; Bài viết “Nhầm lẫn theo Bộ luật Dân sự

2005 xuất hiện không ít bất cập” của tác giả Hoàng Thư đăng trên Cổng thông tin

điện tử Bộ Tư pháp; Bài viết “Các khiếm khuyết trong sự thống nhất ý chí trong

quan hệ hợp đồng” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh đăng trên Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, tháng 11/2008; Bài viết “Nhầm lẫn trong chế định hợp đồng – Những bất

cập và hướng sửa đổi Bộ luật Dân sự” của tác giả Đỗ Văn Đại trên Tạp chí Nghiên

cứu lập pháp điện tử số 22 và 23/2009; Bài viết“Quy định của pháp luật về hợp

đồng vô hiệu do nhầm lẫn và vấn đề nâng cao vai trò giải thích pháp luật của Thẩm phán” của tác giả Dương Anh Sơn với Tạp chí khoa học pháp lý số 62 – 67, Tháng

1-6/2011; “Tham luận tổng kết thực tiễn thi hành và góp ý hoàn thiện Bộ luật Dân

sự 2005”của tác giả Hoàng Văn Sơn

Các nghiên cứu trên đã đề cập đến chế định này như một phần nghiên cứu của đề tài, bài viết và đã nêu ra những bất cập về khái niệm, nội dung, hậu quả v.v… của quy định về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về quy định này

Vì vậy, cần thiết phải có đề tài nghiên cứu về lý luận, thực tiễn của việc quy định

và áp dụng quy định về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chế định này Xuất phát từ mong muốn này, bước đầu trên cơ sở những nghiên cứu của các tác giả về các quy định liên quan đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, tác giả tiếp tục tìm hiểu, xác định và đưa

ra các quy định pháp luật liên quan một cách cụ thể, rõ ràng, đi sâu làm rõ sự khác biệt giữa hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn với trường hợp hợp đồng vô hiệu do nguyên nhân khác Đồng thời sẽ phân tích những vấn đề còn tồn tại liên quan đến những thiếu sót trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật để từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của khóa luận là dựa trên cơ sở lý luận và tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, tìm hiểu thực tiễn áp

Trang 9

dụng để xác định những bất cập, thiếu sót của pháp luật hiện hành khi quy định về vấn đề này Từ đó, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

Đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau đây:

Một là, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hợp đồng vô hiệu do nhầm

lẫn như: làm rõ khái niệm, bản chất của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn; làm rõ cơ sở

lý luận, các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng vô hiệu cũng như điều kiện dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm và ảnh hưởng pháp luật của nó tới các chủ thể tham gia; hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, đồng thời tìm hiểu về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Hai là, nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp

đồng vô hiệu do nhầm lẫn ở Việt Nam bao gồm sự nghiên cứu so sánh văn bản pháp luật trong nước với nước ngoài về sự mâu thuẫn, bất cập Từ đó đánh giá thực trạng

về quy định pháp luật trong nước để xác định những điểm cần sửa đổi, kiến nghị hoàn thiện

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là một vấn đề khá rộng và còn nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu, làm rõ Trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu những quy định trong BLDS và những quy định trong pháp luật dân sự một số nước để tạo cơ sở lý luận cũng nhưng pháp lý làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của vấn đề Từ đó, đề tài chỉ ra những hạn chế bất cập của pháp luật khi quy định về vấn đề này cũng như thực tiễn áp dụng của Tòa án Qua đó, tác giả đưa ra giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật, những kiến nghị này phải xuất phát từ thực tiễn và nguyên nhân đã phân tích trước đó

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được hình thành trên nền tảng cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lê nin và duy vật lịch sử Hơn nữa, để làm rõ những vấn

đề trong khóa luận, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể:

 Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Mục 1.1 Khái quát về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn: gồm 2 tiểu mục với các

Trang 10

- Phương pháp phân tích, suy diễn logic, diễn giải, giải thích: là phương pháp được sử dụng nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các quy

định của pháp luật

 Tiểu mục 1.1.2 Khái niệm về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

và Tiểu mục 1.1.3 Phân loại hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn: Phương pháp

chung sử dụng cho 2 tiểu mục này cụ thể là:

- Phương pháp phân tích, liệt kê, suy diễn logic, giải thích, dẫn chiếu: là phương pháp chủ yếu nhằm làm rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Đồng thời, thể hiện sự lập luận, suy luận và liên kết từ các quy định của pháp luật để thấy sự mâu thuẫn, không thống nhất, không rõ nghĩa của các quy định đó

- Phương pháp so sánh: là phương pháp được tác giả sử dụng để làm rõ điểm tiến bộ của quy định điều chỉnh hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn của BLDS hiện hành so với quy định về vấn đề đó trong văn bản trước đây Mặt khác, phương pháp này cũng hỗ trợ tác giả trong việc so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước

- Phương pháp đánh giá: từ nội dung của những quy định đã được phân tích, tác giả đưa ra một số đánh giá ở các khía cạnh khác nhau như: tính hợp lý, khả thi cũng như hiệu quả áp dụng trên thực tiễn

Mục 1.2 Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

- Phương pháp liệt kê, dẫn chiếu, phân tích, suy diễn logic, giải thích, đánh giá: đây là những phương pháp được sử dụng chủ yếu nhằm trình bày một cách khái quát về các nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Đồng thời đánh giá quy định pháp luật về vấn đề này

- Phương pháp so sánh: là phương pháp được tác giả sử dụng để làm rõ điểm tiến bộ của quy định của pháp luật về nguyên nhân hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn của BLDS 2005 so với quy định BLDS 1995 Mặt khác, phương pháp này cũng hỗ trợ tác giả trong việc so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước về nguyên nhân hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Mục 1.3 Phân biệt hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn với trường hợp hợp đồng

vô hiệu do lừa dối

- Phương pháp chủ yếu của mục này tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phân tích và đánh giá để thấy được sự khác biệt của hai quy định này

Mục 1.4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn: gồm 2

tiểu mục:

 Tiểu mục 1.4.1 Phương thức xử lý hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và Tiểu

mục 1.4.2 Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình trong trường hợp hợp đồng

vô hiệu do nhầm lẫn: Phương pháp chung sử dụng cho 2 tiểu mục này cụ thể là:

Trang 11

- Phương pháp liệt kê, phân tích, giải thích, logic, dẫn chiếu: là những phương pháp sử dụng nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng để làm rõ quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Mục 1.5 Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

- Phương pháp phân tích, giải thích, logic, đánh giá: là những phương pháp hỗ trợ tác giả làm sáng tỏ vấn đề, lập luận từ các quy định của pháp luật để hiểu rõ các quy định đó Đồng thời đánh giá ở các khía cạnh khác nhau như tính hợp lý hay chưa hợp lý của quy định hiện hành và hiệu quả áp dụng trên thực tiễn các quy định đó

 Chương 2: Những bất cập trong quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và kiến nghị hoàn thiện

Mục 2.1 Những bất cập trong quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu

do nhầm lẫn

- Tác giả sử dụng các bản án, quyết định của Tòa án để phân tích các hạn chế

về mặt pháp luật và thực trạng áp dụng thông qua phương pháp phân tích, giải thích, suy diễn logic, đánh giá Kết hợp với phương pháp so sánh để làm rõ điểm tiến bộ trong quy định của pháp luật về nguyên nhân hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn của BLDS 2005 so với quy định BLDS 1995 Mặt khác, phương pháp này cũng hỗ trợ tác giả trong việc so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước về nguyên nhân hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Từ đó, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá nhằm đưa ra các khía cạnh hợp lý, khả thi của các quy định

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Với việc phân tích những quy định của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, làm rõ thực trạng và vướng mắc trong quá trình áp dụng, thực tiễn xét xử của Tòa án, trên

cơ sở có sự đối chiếu của pháp luật một số nước

Hiện nay, việc áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn còn nhiều vướng mắc xuất phát từ những quy định không rõ ràng, đầy đủ của pháp luật Khóa luận chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật và đưa ra kiến nghị cụ thể về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Đồng thời có giá trị là nguồn tham khảo hữu ích cho các

Trang 12

bên khi tham gia trong quan hệ hợp đồng, hạn chế tình trạng vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho các bên và đóng góp cho quá trình hoàn thiện quy định của pháp luật dân sự sửa đổi trong tương lai

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục; nội dung của khóa luận được chia thành hai chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Trong chương này, tác giả giới thiệu khái quát về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, cụ thể là phân tích khái niệm, làm rõ nguyên nhân của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Đồng thời, tác giả cũng phân tích hậu quả pháp lý, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Chương 2: Những bất cập trong quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và kiến nghị hoàn thiện

Trong chương này, tác giả phản ánh thực tiễn xét xử của trường hợp hợp đồng

vô hiệu do nhầm lẫn, thông qua việc phân tích các bản án, quyết định của Tòa án

Từ đó, tác giả đưa ra những bất cập và các kiến nghị để hoàn thiện quy định hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Trang 13

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN

1.1 Khái quát về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Quan hệ hợp đồng phải dựa trên sự thỏa thuận để thống nhất ý chí các bên đi đến việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp các giao dịch được xác lập không dựa trên cơ sở sự bàn bạc, thỏa thuận của các bên và thậm chí có sự bàn bạc thỏa thuận nhưng không xuất phát từ ý chí, từ nguyện vọng đích thực mà các bên hoặc một trong các bên thực sự mong muốn dẫn đến giao dịch không đạt được mục đích, không phù hợp với quy định của pháp luật

Theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 thì “người tham gia

giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện” Điều này được hiểu là phải có sự thống nhất

giữa ý chí và bày tỏ ý chí của người tham gia giao dịch Tuy nhiên, có trường hợp giao dịch thiết lập trên cơ sở không có sự tự nguyện Có quan điểm cho rằng, trường

hợp này là “khiếm khuyết của sự thống nhất ý chí” 4 do đó, giao dịch sẽ không có

hiệu lực pháp luật Như vậy, sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí của các bên giao kết

là yếu tố cơ bản thiết lập hợp đồng với điều kiện sự thỏa thuận không bị “khiếm khuyết” Còn nếu như có “khiếm khuyết” sẽ dẫn đến hợp đồng không có hiệu lực Chính vì thế, trong luật thực định, tại các Điều 131, 132 của BLDS 2005 có quy định rằng, bên xác lập giao dịch do bị nhầm lẫn, bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu Vì vậy, sẽ kéo theo hậu quả pháp lý là hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên trao trả cho nhau những gì đã nhận

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập tới trường hợp do nhầm lẫn dẫn đến hợp đồng vô hiệu

1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển của quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu

do nhầm lẫn

Cách đây khoảng hơn 2000 năm, trong luật La Mã đã sử dụng thuật ngữ “error”

để diễn tả sự nhầm lẫn của các bên trong ký kết hợp đồng Khi nghiên cứu về luật

La Mã có quan điểm cho rằng “khó khăn nhất theo quan niệm của các luật gia là

lúc mà mâu thuẫn giữa hình thức thể hiện ý chí và thực chất bên trong của ý chí biểu hiện ở một bên ký hợp đồng, và không được biểu hiện rõ ở bên kia …(…)… Vấn đề này xuất hiện khi có sự nhầm lẫn (error)”5 Rõ ràng, trong luật La Mã đã xác định nhầm lẫn là nhân tố tạo nên mâu thuẫn giữa ý chí đích thực với thể hiện ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng

Trang 14

Luật La Mã dù đã ra đời từ thời kỳ cổ đại nhưng thực sự là hình mẫu lý luận về hợp đồng dân sự cho các nước thuộc hệ thống Dân luật (Civil law) cho tới tận bây giờ Theo đó, luật La Mã đề cao “sự ưng thuận”, hay nói cách khác là sự thống nhất

ý chí của các bên giao kết hợp đồng, và xem là điều kiện đầu tiên để hình thành hợp đồng Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, một bên hoặc các bên giao kết hợp đồng

mà bị nhầm lẫn thì hợp đồng có thể vô hiệu Vậy nên, xuất phát từ thực tế đó, các luật gia La Mã đã phân loại nhầm lẫn khá chi tiết6 để các chủ thể khi giao dịch với nhau rơi vào trường hợp bị nhầm lẫn còn tùy tính chất, mức độ mà kết luận hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn hay không để bảo vệ cho các bên trong giao kết hợp đồng

Pháp luật Việt Nam cũng có những thay đổi thăng trầm theo tiến trình lịch sử nên

để dễ tiếp cận khi tìm hiểu về quy định hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, tác giả sẽ trình bày qua từng giai đoạn sau:

 Thời kỳ phong kiến: pháp luật phong kiến Việt Nam thời bấy giờ theo quan

điểm nhân trị, bị ràng buộc ý thức hệ của đạo Khổng các tiêu chí đánh giá người quân tử là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Vì lẽ đó pháp luật thời kỳ này không cần can thiệp phạm vi hành động cá nhân khi xét thấy trật tự xã hội ổn định Trong các đạo luật thời kỳ này có khái niệm về hợp đồng dưới dạng các loại khế ước như khế ước mua bán, khế ước cho thuê, khế ước thừa kế, … khế ước chỉ liên quan đến hoạt động nhu cầu bình thường của đời sống cá nhân Do tôn trọng quan niệm quân tử nên khế ước đặt trong sự tồn tại của xã hội, tuy nhiên cũng tồn tại nguyên tắc tự do khế ước

“luật phong kiến không quy định được phép hay cấm đoán quyền của chủ thể tham gia khế ước, nhưng chỉ can thiệp khi kết lập khế ước vi phạm thuần phong mỹ tục hay làm rối loạn trật tự xã hội” 7 Nếu như làm trái với “thuần phong mỹ tục” ấy thì khế ước vô hiệu Trong số đó thì sự nhầm lẫn trong luật phong kiến không là điều kiện dẫn đến khế ước vô hiệu Cụ thể, nổi bật ở thời kỳ này, đỉnh cao của lịch sử lập pháp là Quốc triều hình luật (còn gọi là Luật hình triều Lê hay Bộ luật Hồng Đức) (thế kỷ XV) chỉ quy định xử lý lừa dối hay đe dọa trong giao kết hợp đồng8, chưa

quy định về trường hợp nhầm lẫn Theo các nhà nghiên cứu thì khái niệm nhầm lẫn không được ghi nhận trong cổ luật, “nhà lập pháp không quy định trường hợp lầm

lẫn như một hà tì riêng biệt của sự ưng thuận Sự lầm lẫn chỉ được nhà làm luật quan tâm đến khi nào sự lầm lẫn ấy là một hậu quả hay một thành tố của sự lừa dối” 9 Tương tự trong Hoàng Việt luật lệ cũng chỉ quy định khế ước vô hiệu do

6

Phần này tác giả sẽ phân tích rõ hơn ở mục 1.1.3

7

Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng (2011), Giao dịch về quyền sử dụng đất vô hiệu – Pháp luật và

thực tiễn xét xử, NXB Thông tin và truyền thông, tr 88

8

Theo Viện sử học (2013), Quốc triều hình luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 106 và tr 110: cụ thể tại Điều

187 Bộ luật Hồng Đức có quy định: “Trong các chợ tại kinh thành và thôn quê, những người mua bán không

theo đúng cân, thước, thăng, đấu của nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì xử tội biếm hoặc đồ” 8 , còn như Điều 198 Bộ luật này về đe dọa“… xử tội biếm và bắt diễu đi trước công chúng 3 ngày…

Những người cậy quyền mua hàng ức hiếp, thì cũng bị tội như thế”

9

Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam dân luật lược khảo, NXB Luật khoa đại học đường Sài Gòn, tr.19

Trang 15

hành vi lừa dối và cưỡng bách10 Như vậy, trong thời kỳ này, hợp đồng dân sự chưa phổ biến, đồng thời, trường hợp nhầm lẫn khó phát hiện hơn lừa dối, cưỡng bách Ở thời điểm đó, số lượng của trường hợp nhầm lẫn hầu như không có nên nhầm lẫn không được coi là nhân tố làm cho hợp đồng vô hiệu

 Thời kỳ Pháp thuộc: Năm 1858, sự kiện Pháp xâm lược bán đảo Sơn Trà

(Đà Nẵng) đã làm bàn đạp đầu tiên cho quá trình xâm lược Việt Nam ta Thời đó, thực dân Pháp chia nước ta làm ba kỳ tương ứng ban hành Bộ luật Dân sự cho ba miền gồm: Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ (ban hành 1883), Bộ Dân luật Bắc kỳ (ban hành 1931) và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (hay Bộ dân luật Trung kỳ, ban hành năm 1936) Năm 1925, Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ được bổ sung thêm vấn

đề khế ước với tên gọi Sắc lệnh Tân điền thổ 1925 Qua nghiên cứu các Bộ luật thời

kỳ này cũng ghi nhận nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt, tự do ý chí các bên

và cũng đặt ra điều kiện để một khế ước coi là hợp pháp gồm:

Thứ nhất, phải có mặt của hai bên hay người đại diện đồng ý

Thứ hai, phải có vật nhất định tồn tại và hai bên có quyền sở hữu

Thứ ba, phải có việc chính đáng, tức là không có hiểu lầm hay cưỡng bách và

người đại diện hay người lập khế ước phải đủ tư cách pháp luật quy định

Nếu như một khế ước không đảm bảo một trong các điều kiện trên thì khế ước vô hiệu, cụ thể:

Khế ước vô hiệu do có sự hiểu lầm Xuất phát từ nguyên tắc khế ước chỉ hình thành khi có sự đồng ý của các bên, pháp luật quy định khi có

sự hiểu lầm thì coi như không có sự đồng ý Do đó, khế ước này không

có giá trị pháp lý, tức là bị vô hiệu Đó là vì một sự sai lầm nào đó mà người lập ước không chú ý lập cùng một ước như nhau, hay là không chủ định cùng một người, cùng một vật hay cùng một việc như nhau (Điều

658 Dân luật Bắc kỳ và Điều 692 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật) Ngoài

sự hiểu lầm về một trong các yếu tố như chủ thể, đối tượng hoặc nội dung khế ước, còn có sự hiểu lầm về tư cách, tài năng của một người lập ước cũng làm cho khế ước vô hiệu, nếu khế ước phải do đích thân một người cụ thể thực hiện mà người này phải có những phẩm chất nhất định

(Điều 657 Dân luật Bắc kỳ và Điều 693 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật)

Tuy nhiên, có trường hợp có sự hiểu lầm nhưng không làm cho khế ước vô hiệu,

ví dụ: hiểu lầm về một điểm không quan trọng trong khế ước Cụ thể, đoạn 2 Điều

692 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định:

10

Cụ thể, tại Điều 87 Hoàng Việt luật lệ có quy định nghiêm cấm việc bán điền sản phi pháp bằng cách lừa

dối: “Phàm đem bán trộm ruộng đất người khác, và mạo nhận đất ruộng người khác làm của mình (như

chữa trong giá tiền thiệt lập văn khế loại bán có thể chuộc lại được và xâm chiếm ruộng đất người ta) ruộng một mẫu, nhà một gian trở xuống thì phạt 50 roi, mỗi 5 mẫu ruộng, 3 gian nhà thì thêm một bậc tội, mút tội

là 80 trượng, đồ 2 năm Liên hệ đến ruộng đất của quan thì tăng 2 bậc

Còn về cưỡng bức “Pháp luật có những quy định nhằm trừng phạt những người cưỡng bức người khác phải

giao kết khế ước để thu lợi cho riêng mình, đặc biệt là đối với những người có quyền uy như nhà chức trách cai trị trong hạt cưỡng bách dân để mua rẻ”

Trang 16

Nếu trong các người lập ước, có người hiểu lầm về tính cách hiệp ước

mà chỉ lầm lời hứa hiệp ước với chính lời hiệp ước mà thôi, thời không chỉ vì thế mà làm cho hiệp ước không có giá trị Ngoài ra, sự hiểu lầm về

tư cách người lập ước có thể không làm cho khế ước vô hiệu, nếu khế ước không nhất thiết phải do một người có tư cách phẩm chất đặc biệt thực hiện mà một bên khế ước đã đòi hỏi người này phải có Sự hiểu lầm xảy ra phổ biến trong các lĩnh vực khế ước dịch vụ Trong khế ước chuyển quyền sử dụng hoặc chuyển quyền sỡ hữu vật, thì sự hiểu lầm thường là về tính cốt yếu của vật như hiểu lầm về chất lượng, giá trị sử dụng, thì mới có thể xin thủ tiêu khế ước 11

Vì vậy, có thể khẳng định rằng thời kỳ này sử dụng “hiểu lầm” tương đồng với thuật ngữ “nhầm lẫn” nên vấn đề nhầm lẫn có thể xem như đặt nền móng đầu tiên trong pháp luật dân sự Việt Nam thời bấy giờ Theo đó, “hiểu lầm” hay còn gọi là nhầm lẫn sẽ dẫn đến hợp đồng vô hiệu, mặt khác, thời kỳ này các trường hợp dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn đã được quy định tương đối cụ thể như nhầm lẫn

về chủ thể, đối tượng hoặc nội dung khế ước, tư cách, tài năng của một người lập ước v.v

 Thời kỳ từ năm 1945 đến nay:

Khái niệm hợp đồng vô hiệu được ghi nhận rõ nét qua Công văn 1477/DS ngày

11/12/1965 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) như sau “là hợp đồng không

có hiệu lực vì nó trái với pháp luật, không phù hợp với yêu cầu của chính sách và pháp luật của nhà nước” Đặc biệt nữa phải kể tới trong thời kỳ này là BLDS 1972

(của miền Nam trước kia) xuất phát từ việc phân loại nhầm lẫn để xác định hậu quả

pháp lý đối với chúng, cụ thể tại Điều 662 Bộ luật này quy định: “Sự lầm lẫn chỉ là

một nguyên nhân làm cho khế ước vô hiệu, nếu là lầm lẫn về thực chất của sở vật hay về một đặc tính cốt yếu cho sự cam kết Sự lầm lẫn về cá nhân người cộng ước không làm cho khế ước vô hiệu, trừ phi cá nhân của người ấy là yếu tố chính cho sự cam kết”

Vào thập niên 90, hàng loạt các Pháp lệnh ra đời trong bối cảnh nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có các văn bản là Pháp lệnh Thừa kế 1990, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991, Pháp lệnh Nhà ở 1991… Trong đó tại khoản 3 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991 có quy định về

trường hợp nhầm lẫn dẫn đến hợp đồng vô hiệu toàn bộ như sau “khi một bên hợp

đồng bị nhầm lẵn về nội dung chủ yếu của hợp đồng, bị đe doạ hoặc bị lừa dối, thì

có quyền yêu cầu Toà án xác định hợp đồng vô hiệu” Từ quy định này cho thấy,

quan điểm của các nhà làm luật đã khẳng định rõ nét pháp luật bảo vệ một bên trong hợp đồng khi bị nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng Theo đó, bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án xác định hợp đồng vô hiệu, có nghĩa là pháp luật trao

11

Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1995), Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế

kỷ XV đến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, tr 98 - 100

Trang 17

quyền chỉ có Tòa án mới được quyền phán xét để tuyên bố hợp đồng vô hiệu Thiết nghĩ, quy định này đã tạo tiền đề cho sự kế thừa của BLDS 1995 sau này

Xuất phát từ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng nhu cầu xây dựng thể

chế kinh tế thì BLDS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam ra đời “trong phạm vi

Bộ luật Dân sự, chế định hợp đồng có vai trò quan trọng bậc nhất” 12 Cùng với

việc bổ sung thêm các nội dung điều chỉnh hợp đồng, kế thừa pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, quy định về nhầm lẫn cũng đã được thể hiện rõ hơn, cụ thể Điều 141 BLDS 1995 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn như sau:

1 Khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch mà xác lập giao dịch, thì có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó; nếu bên kia không chấp nhận yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu 2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, thì bên có lỗi trong việc để xẩy ra nhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại

Đến BLDS 2005 các quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu đã bổ sung từ Điều

127 đến Điều 138, trong đó Điều 131 BLDS 2005 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn đã có những sửa đổi nhất định:

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu

cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này

So với BLDS 1995 thì BLDS 2005 đã có sự sửa đổi về quy định nhầm lẫn trong một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, về lỗi của các bên trong trường hợp xác lập giao dịch do nhầm lẫn

BLDS 1995 quy định giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn bất kể lỗi của bên nào gây ra Còn BLDS 2005 lại thừa nhận giao dịch chỉ bị tuyên bố vô hiệu nếu như nhầm lẫn xảy ra do lỗi vô ý của một bên Như vậy, theo BLDS 2005 thì chính bên bị nhầm lẫn có lỗi giao dịch sẽ không bị vô hiệu Ngoài ra, nếu như BLDS 1995 không quy định lỗi một bên do nhầm lẫn về nội dung là lỗi gì vô ý hay

cố ý thì BLDS 2005 khẳng định là lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn

Thứ hai, BLDS 2005 quy định loại nhầm lẫn ở đây là nhầm lẫn “về nội dung” là

khá rộng so với BLDS 1995 chỉ quy định trường hợp nhầm lẫn về “nội dung chủ yếu” của giao dịch

12

Hà Thị Mai Hiên (2005), “Sửa đổi Bộ luật dân sự Việt Nam và vấn đề hoàn thiện chế định hợp đồng”, Tạp

chí Nhà nước và Pháp luật, (3), tr 10

Trang 18

Thứ ba, BLDS 2005 lược bỏ khoản 2 Điều 141 BLDS 1995, theo đó Điều 131

BLDS 2005 chỉ đề cập nguyên nhân và quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn, còn vấn đề bồi thường thiệt hại do lỗi bên giao dịch dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn được chuyển sang quy định chung về giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu tại Điều 137 BLDS 2005

Thứ tƣ, điểm mới của BLDS 2005 so với BLDS 1995 là quy định nếu lỗi cố ý

làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung thì coi là lừa dối theo Điều 132 BLDS 2005 Theo đó có thể hiểu trường hợp một bên có lỗi cố ý (như che giấu thông tin, cung cấp thông tin sai lệch, …) để làm cho bên kia tin mà xác lập giao dịch thì sẽ là lừa

dối

Tóm lại: Từ thời cổ đại những quy định về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn trong luật

La Mã khá cụ thể và là cơ sở để các nước theo hệ thống Dân luật (Civil law) áp dụng Thực tế cho thấy ở Việt Nam cũng đã kế thừa những quy định về hợp đồng

vô hiệu do nhầm lẫn từ luật La Mã Theo pháp luật dân sự Việt Nam, về trường hợp hợp đồng dân sự do nhầm lẫn thì “sinh sau đẻ muộn” so với các quy định về vô hiệu khác như lừa dối, đe dọa Như vậy, quy định về “nhầm lẫn” chính thức xuất hiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991 đến BLDS

1995 và hiện nay là BLDS 2005 Để phù hợp với nhu cầu xã hội các văn bản này đã

có sự sửa đổi theo thời gian và thể hiện vai trò của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự

1.1.2 Khái niệm về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Khái niệm hợp đồng dân sự được ghi nhận tại Điều 388 BLDS 2005 là“sự thỏa

thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Qua khái niệm này, có thể thấy để hình thành hợp đồng dân sự phải có yếu tố

là sự thỏa thuận giữa các bên tham gia nhằm tạo ra sự ràng buộc pháp lý Sự thỏa thuận này chỉ có thể tạo được hiệu lực pháp lý của hợp đồng nếu tuân thủ các yêu cầu, điều kiện do pháp luật quy định Theo đó, hợp đồng (giao dịch) thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều 122 BLDS 200513

thì sẽ có hiệu lực pháp lý,

ngược lại “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại

Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu” (Điều 127 BLDS 200514

)

Về khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu thì Điều 127 BLDS hiện nay không quy

định cụ thể Theo giáo trình Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh “hợp đồng vô

hiệu là những hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy

13

Điều 122 BLDS 2005: “1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”

14

Theo khoản 1 Điều 410 BLDS 2005 thì “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều

138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”

Trang 19

định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên” 15

Trong khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm liên quan đến khái niệm này,

theo một số học giả thì“tính vô hiệu của một giao dịch là tính không phát sinh hậu

quả pháp lý mà các bên mong muốn” 16 Nhìn chung, thuật ngữ “hợp đồng vô hiệu” được sử dụng phổ biến trong các hệ thống pháp luật nhưng đến nay để xây dựng khái niệm về nó thì vẫn chưa có văn bản nào đề cập Vì vậy, thông thường, để tiếp cận khái niệm “hợp đồng vô hiệu” người ta xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, khi không đáp ứng một trong các điều kiện đó thì hợp đồng vô hiệu

Về khái niệm nhầm lẫn, theo từ điển Tiếng Việt nhầm lẫn (hay lầm lẫn) là “lầm

cái nọ với cái kia” 17 BLDS hiện hành tại Điều 131 có quy định:

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này

Như vậy, BLDS 2005 khẳng định nhầm lẫn là yếu tố dẫn đến hợp đồng vô hiệu Nhưng không nêu rõ nhầm lẫn là gì điều này dẫn đến khó khăn trong công tác xét

xử của Tòa án18

Trong khoa học pháp lý có nhiều quan điểm liên quan đến khái niệm này Theo

quan điểm của một tác giả “theo cách hiểu thông thường nhầm lẫn là hành vi được

thực hiện hoặc nhận thức không đúng với ý định của người thực hiện hành vi hay nhận thức, ví dụ: nhầm đường, cầm nhầm, hiểu nhầm v.v…”19 Như vậy, theo cách

hiểu thông thường nhầm lẫn là trạng thái hiểu cái này thành cái khác không đúng như nguyện vọng mong muốn của mình, nên thực hiện hành vi này thành hành vi khác

Ví dụ về nhầm lẫn: Khi ký hợp đồng mua bán chén giữa A là người miền Bắc (bên bán – hiểu là bát) với B là người miền Nam (bên mua – hiểu là chén) Khi hợp đồng được ký kết, A giao hàng cho B thì khi đó hai bên phát hiện ra nhầm lẫn do sử dụng từ địa phương Ở đây, có sự nhầm lẫn do không có sự thống nhất ý muốn thật

và ý chí bày tỏ ra bên ngoài của chủ thể

15

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 169

Trang 20

Như vậy, nhầm lẫn được hiểu chung nhất là các bên khi giao kết hợp đồng không

có sự trùng hợp giữa ý chí được thể hiện và mong muốn đích thực của mỗi bên

Tóm lại: Theo quan điểm của tác giả, hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là khi một bên

có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn, tức là không có sự trùng hợp giữa ý chí của chủ thể với thực tế của giao dịch (xuất phát từ sự hiểu lầm) vào thời điểm giao kết hợp đồng Theo đó, bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và hợp đồng không còn giá trị pháp lý không làm phát sinh quyền

và nghĩa vụ các bên

1.1.3 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Mỗi quốc gia có cách nhìn nhận về nhầm lẫn là khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, tư tưởng của các nhà làm luật và quan hệ xã hội của quốc gia đó Chúng ta có thể phân loại nhầm lẫn theo các góc độ:

Theo BLDS 2005 tại Điều 131“Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm

lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu” Từ

đó cho thấy BLDS 2005 thừa nhận nhầm lẫn về nội dung là yếu tố đưa đến sự vô hiệu của giao dịch dân sự và sự nhầm lẫn này là do một bên vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn Như vậy, nhầm lẫn về chủ thể, nhầm lẫn về luật, nhầm lẫn đa phương không là yếu tố đưa đến sự vô hiệu hợp đồng

Trong khoa học pháp lý, cũng có nhiều quan điểm liên quan đến việc phân loại

nhầm lẫn Theo một quan điểm thì “nhầm lẫn đơn phương là nhầm lẫn chỉ của một

bên và nhầm lẫn chung (nhầm lẫn từ cả hai phía) là trường hợp cùng nhầm lẫn về một hoặc một số điều khoản cụ thể của hợp đồng Cả hai bên cùng hiểu sai về cùng một vấn đề” 20

Ví dụ về nhầm lẫn đơn phương: A mua một chiếc xe Wave RX Sau đó A đến Công ty Bảo hiểm K, thành phố H mua bảo hiểm xe Nhân viên Công ty Bảo hiểm

đã tiến hành bán bảo hiểm xe máy với phí 64.000 đồng và đưa A giấy chứng nhận bảo hiểm Một thời gian sau, chiếc xe của A bị mất A đến Công ty Bảo hiểm K để làm thủ tục nhận tiền bồi thường nhưng Công ty từ chối bồi thường nên A yêu cầu Tòa án giải quyết

Trường hợp này, ta thấy căn cứ giấy chứng nhận bảo hiểm, phần các loại hình bảo hiểm có 3 loại: bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3, bảo hiểm người ngồi trên xe và bảo hiểm vật chất xe Thực tế theo quy định Công ty Bảo hiểm thì với phí 64.000 đồng A chỉ mua được bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3, bảo hiểm người ngồi trên xe chứ không gồm bảo hiểm vật chất xe, tuy nhiên giấy chứng nhận bảo hiểm xe máy lại không có dấu hiệu nào phân biệt điều

đó Ở đây, có thể nhân viên bán bảo hiểm đã sơ ý không gạch bỏ phần ghi loại hình

20

Lê Thị Bích Thọ, tlđd 19, tr 6

Trang 21

bảo hiểm vật chất xe như quy định nên đã làm cho A nhầm lẫn về đối tượng mua bán Như vậy, nhân viên bảo hiểm đã có lỗi vô ý làm cho A nhầm lẫn, trường hợp này là nhầm lẫn đơn phương

Ví dụ về nhầm lẫn chung: Chị C được bố mẹ tặng cho chiếc vòng kim cương trị giá 120 triệu đồng Thời gian đó vì khó khăn chị đã bán chiếc vòng cho D với giá

100 triệu đồng Sau đó tình cờ D đi ngang cửa hàng trang sức và thử thì mới biết chiếc vòng đó là giả chỉ đạt 30% kim cương, giá trị thật là 30 triệu đồng Rõ ràng,

cả C và D đều bị nhầm lẫn vì cả hai đều không thể biết sự thật chất lượng kim cương của cái vòng Theo đó, sự nhầm lẫn này là xuất phát từ cả hai bên không ai là người có lỗi Như vậy, trường hợp này, cả hai bên cùng nhầm lẫn về đối tượng hợp đồng

Còn nếu xem xét về nội dung của nhầm lẫn thì có nhầm lẫn về sự việc, nhầm lẫn

về luật, nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng “Nhầm lẫn về luật là sự hiểu sai luật

đưa đến một cam kết không đúng với mong muốn của người giao kết Nhầm lẫn về

sự việc là sự nhầm lẫn về nội dung của vụ việc”21 Còn nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng thường do các bên hiểu sai nội dung hợp đồng có thể do sự bất đồng ngôn ngữ, sự khác nhau về cách diễn đạt, cách soạn thảo hợp đồng, … Ngoài ra, còn có

“nhầm lẫn tương hỗ là nhầm lẫn của hai bên song mỗi bên nhầm lẫn một vấn đề khác nhau”22 Như vậy, so với nhầm lẫn chung là cả hai bên cùng hiểu sai một vấn

đề thì nhầm lẫn tương hỗ là mỗi bên hiểu sai về một vấn đề khác nhau

Ví dụ về nhầm lẫn tương hỗ: Anh M có cả 2 bức tranh Đông Hồ, một bức tên Vinh Hoa, một bức tên Phú Quý M thỏa thuận bán cho N một bức tranh Đông Hồ

M muốn bán bức tranh Vinh Hoa trong khi N nghĩ nếu mua thì sẽ mua bức tranh Phú Quý Sau đó, khi giao hàng thì N phát hiện không phải bức tranh mong muốn nên đã khởi kiện ra Tòa Theo đó, trường hợp này đã có sự xuất hiện của nhầm lẫn

Cụ thể là sự nhầm lẫn này làm các bên đều có sự hiểu lầm một vấn đề khác nhau Trường hợp này gọi là nhầm lẫn tương hỗ

Như đã trình bày trong mục 1.1.1 thì từ rất sớm các luật gia La Mã đã đề ra những tiêu chí nhất định để phân loại nhầm lẫn Cụ thể là: căn cứ mức độ nhầm lẫn

có “nhầm lẫn trong tính chất của giao dịch (error in negotio)”, “có thể có sự nhầm

lẫn tư cách chủ thể (error in persona)” 23 Hiện nay trên thế giới, pháp luật một số

nước như Pháp, Nhật Bản24

quy định các trường hợp dẫn đến hợp đồng nhầm lẫn khá đa dạng, có thể nhầm lẫn về đối tượng, chủ thể, nội dung, nhầm lẫn đơn

phương, đa phương, … Có quan điểm cho rằng “học thuyết về nhầm lẫn được hiểu

là khi một hợp đồng được giao kết có sự nhầm lẫn thì có thể bị tuyên là vô hiệu Tuy nhiên, học thuyết này khó có thể áp dụng và nghiên cứu vì một số lý do Thứ nhất, thuật ngữ “nhầm lẫn” có ý nghĩa pháp lý khác hoàn toàn so với nghĩa thông

Trang 22

thường Thứ hai, khi áp dụng nó, Tòa án thường xuyên không sử dụng các thuật ngữ tương tự để chỉ về nhầm lẫn Thứ ba, là lý luận này khá mềm dẻo nên có thể được nhiều Tòa án áp dụng khác nhau trong các trường hợp khác nhau Điều quan trọng nhất khi nghiên cứu lý luận về nhầm lẫn là phân tích cấu trúc nhầm lẫn” 25

Cụ thể, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu pháp luật Anh Mỹ cũng nêu ra quy

định nhầm lẫn có thể xảy ra trong nhiều trường hợp sau:

Không có một định nghĩa khái quát nào về nhầm lẫn cả Tuy nhiên, có những tình huống cụ thể mà hợp đồng sẽ bị vô hiệu theo pháp luật do yếu tố nhầm lẫn giữa các bên khi giao kết hợp đồng Có ba dạng nhầm lẫn:

- Nhầm lẫn chung: khi các bên cùng nhầm lẫn như nhau

- Nhầm lẫn tương hỗ: khi các bên hiểu sai mục đích của nhau nhưng lại

cho rằng đối phương đồng thuận với mình

- Nhầm lẫn đơn phương: khi một bên nhầm lẫn còn bên còn lại biết và

tận dụng lợi thế của việc đó 26

Ví dụ, theo một vụ việc:

Tranh chấp giữa Raffles với Wichelhaus (1864)

Liên quan đến: nhầm lẫn tương hỗ, điều khoản của hợp đồng

Sự kiện:

Nguyên đơn và bị đơn đã ký kết hợp đồng mua bán cotton Hợp đồng

đã nêu rõ số cotton sẽ được chở tới trên con tàu Peerless từ Bombay Nhưng thực tế có tới 2 con tàu tên Peerless tới từ Bombay, một chuyến khởi hành vào tháng 10, chuyến còn lại khởi hành tháng 12 Trong khi bị đơn đã nghĩ hợp đồng vận chuyển cotton bởi con tàu khởi hành tháng 10, thì nguyên đơn lại nghĩ hợp đồng vận chuyển số cotton trên con tàu khởi hành tháng 12 Khi con tàu Peerless khởi hành tháng 12 cập bến, nguyên đơn đã giao kiện hàng Phía bị đơn đã từ chối và cho rằng hợp đồng giữa hai bên là vận chuyển số cotton trên con tàu Peerless tháng 10 Nguyên đơn kiện bị đơn vì lý do vi phạm hợp đồng

Nguyên tắc pháp lý: Toà án sẽ xem xét rằng liệu có bên thứ ba nào hợp lý có thể giải thích bản hợp đồng phù hợp với quan niệm của một bên giao kết hoặc bên còn lại không Nếu Toà có thể tìm ra có một ý định/mục đích chung, thì khi đó bản hợp đồng sẽ có hiệu lực Ở đây, Toà

án không thể quyết định được con tàu Peerless nào mới là con tàu mà

Emily Finch and Stefan Fafinski (2003), Law Express: Contract law (3 rd edition), Pearson Education

Limited, United Kingdom, p.136 (xem Phụ lục tr 33)

Trang 23

các bên thể hiện ý định của hợp đồng Do đó, nhầm lẫn tương hỗ đã xảy

ra, vì vậy không có sự thoả thuận nào và hợp đồng vô hiệu 27

Tóm lại: Pháp luật các nước đều nhìn nhận nhầm lẫn về sự việc, nhầm lẫn về chủ

thể, nhầm lẫn đa phương là yếu tố làm hợp đồng vô hiệu Trong khi đó, BLDS Việt Nam chỉ đề cập nhầm lẫn về nội dung và nhầm lẫn đơn phương là điều kiện làm cho hợp đồng vô hiệu

Kết luận mục 1.1: Quy định hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn đã tồn tại rất sớm trong

pháp luật nhiều nước trên thế giới dựa trên sự kế thừa từ các quy định của luật La

Mã với ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ “tính ưng thuận” của các chủ thể trong hợp đồng Còn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy quy định này khá mới so với lừa dối, đe dọa nhưng nhìn chung nhầm lẫn vẫn có vị trí quan trọng Hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận nhầm lẫn là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng Ở Việt Nam cũng thừa nhận vấn đề đó tại Điều 131 BLDS hiện hành và xem hợp

đồng vô hiệu do nhầm lẫn là một trường hợp của hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên,

không phải cứ có nhầm lẫn là hợp đồng vô hiệu mà có nguyên nhân thích hợp theo luật định thì mới coi đó là hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Đây được xem là nội dung quan trọng trong việc xác định hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và tác giả sẽ trình bày vấn đề này ở mục 1.2

1.2 Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Theo quan điểm triết học “phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn

nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định”28 Theo cách hiểu thông thường,

“nguyên nhân là hiện tượng làm nảy sinh ra hiện tượng khác, trong quan hệ với hiện tượng khác” 29 Như vậy, nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo cách hiểu rõ nhất là lý do để phát sinh ra hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Theo Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh:

Nhầm lẫn là một trường hợp không có sự thống nhất giữa ý chí với sự bày tỏ của ý chí, theo đó, những gì thể hiện ra bên ngoài dưới dạng các cam kết, thỏa thuận không phản ánh đúng những điều mà chủ thể đã biết, và mong muốn đạt được khi xác lập hợp đồng BLDS 2005 chỉ xem hợp đồng bị nhầm lẫn và bị vô hiệu khi thỏa mãn 3 yêu cầu:

i Có sự nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng

ii Sự nhầm lẫn đó là do hành vi có lỗi (vô ý) của bên kia

27

Emily Finch and Stefan Fafinski (2003), Law Express: Contract law (3 rd edition), Pearson Education

Limited, United Kingdom, p.140 – 141 (xem Phụ lục tr 33)

28

Phạm Văn Sinh, Phạm Quang Phan (đồng chủ biên) (2010), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ

nghĩa Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 79

29

Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB TP Hồ Chí Minh, tr 630

Trang 24

iii Sau khi bên bị nhầm lẫn đã yêu cầu bên kia cho thỏa thuận lại nội dung của hợp đồng mà không được bên kia chấp nhận30

Cách hiểu trên về nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là khá phù hợp với quy định của BLDS hiện nay

Theo quy định tại Điều 131 BLDS 2005:

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này

Từ quy định trên của BLDS 2005 cho thấy:

Thứ nhất, theo Điều 131 BLDS 2005 thì lỗi ở đây chỉ có thể là lỗi vô ý Nếu sự

nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên đối tác thì khi đó sẽ thuộc trường hợp vô hiệu do lừa

dối tại Điều 132 BLDS 2005 Lỗi được hiểu là “yếu tố chủ quan thể hiện thái độ

của chủ thể đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình” 31

Về khái niệm lỗi vô ý nhầm lẫn thì BLDS không nêu rõ Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu trường hợp này

là do nhận thức của chủ thể không thấy trước hành vi của mình có thể gây nhầm lẫn (sơ suất, bất cẩn, cẩu thả, …) hoặc quá tự tin cho rằng hành vi của mình không gây nhầm lẫn32

Ví dụ: A bán cho B một chiếc điện thoại Iphone 5 của Trung Quốc, nhưng B cứ tưởng là của Mỹ nên mới mua Việc xác định B có nhầm lẫn hay không tùy thuộc vào A có lỗi gì đối với B? A có thực sự do sơ suất nên không cung cấp thông tin xuất xứ sản phẩm cho B biết hay A cố ý che giấu B để bán được điện thoại? Nếu A sơ suất không cung cấp đúng thông tin về xuất xứ của chiếc điện thoại hoặc do không tìm hiểu kỹ mà xác định là chiếc điện thoại của Mỹ thì A có lỗi vô ý dẫn đến B nhầm lẫn Ngược lại, A cố ý không cung cấp hoặc cung cấp thông tin xuất xứ sai lệch nhằm mục đích bán được điện thoại thì A đã có hành vi lừa dối Theo quy định Điều 131 BLDS 2005 thì vai trò của lỗi vô ý là khá quan trọng trong việc xác định nguyên nhân hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Hơn nữa, lỗi vô ý còn là tiêu chí quan trọng để phân biệt với lừa dối Điều 132 BLDS 2005 mà tác giả sẽ phân tích cụ thể ở mục 1.3 Tuy nhiên, thực tế về giao dịch dân sự hiện nay cũng có trường hợp khi các bên bị nhầm lẫn không thể xác định được bên nào có lỗi mà tác giả sẽ phân tích cụ thể ở Chương 2

Đoạn 2, khoản 2 Điều 308 BLDS 2005: “Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước

hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”

Trang 25

Thứ hai, cũng theo quy định của điều luật nói trên thì chỉ có những nhầm lẫn của

một bên có lỗi vô ý mới được xem là yếu tố vô hiệu Nhưng cũng có ngoại lệ, theo

quan điểm một số tác giả “một câu “phóng đại” trong các chương trình quảng cáo

hoặc trong các cuộc đàm phán thường không được coi là lý do chính đáng để vô hiệu do nhầm lẫn, vì không người bình thường nào có thể dễ dàng tin các câu nói phóng đại trong các quảng cáo cả” 33

Nói khác đi, không phải bất kỳ trường hợp nào mà một bên làm cho bên kia hiểu sai sự thật cũng coi là nhầm lẫn mà phải hiểu

là một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự có nhầm lẫn hay không và sẽ làm gì nếu biết sự thật vào thời điểm giao kết hợp đồng Hiện nay, theo Điều 131 BLDS 2005 chỉ thừa nhận lỗi vô ý của một bên mà không phải là của hai bên (nhầm lẫn song phương) như tác giả đã nêu trong mục 1.1.3 Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay đã có trường hợp nhầm lẫn song phương mà nếu dựa vào quy định Điều

131 BLDS 2005 thì sẽ tạo “lỗ hổng” giữa luật định với thực tiễn Do vậy, tác giả sẽ trình bày cụ thể bất cập này ở Chương 2

Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là về nội dung của

giao dịch dân sự Về vấn đề “nội dung” mà BLDS 2005 đề cập đến có nhiều quan

điểm Cụ thể, theo Giáo trình Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: “Nội

dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản, điều kiện của hợp đồng” 34

Như vậy,

nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận và ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng, tùy từng loại hợp đồng mà các bên sẽ thỏa thuận những điều khoản tương ứng Ví dụ: Hợp đồng mua bán tài sản sẽ bao gồm những điều khoản như: đối tượng mua bán, mô tả đặc điểm và tình trạng pháp lý; giá cả và phương thức thanh toán; thời hạn thực hiện hợp đồng; địa điểm và phương thức giao nhận tài sản, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, giải quyết tranh chấp trong hợp đồng; các thỏa thuận khác (theo yêu cầu của các bên)

Tuy nhiên, vấn đề này có sự khác biệt lớn trong cách quy định giữa BLDS 1995 với BLDS 2005 Theo đó, Điều 141 BLDS 1995 sử dụng thuật ngữ “nội dung chủ yếu của giao dịch” còn Điều 131 BLDS 2005 đề cập đến nhầm lẫn “về nội dung” của giao dịch dân sự Thiết nghĩ, sự thay đổi này là phù hợp nhằm đề cao sự tự nguyện của các bên trong giao dịch dân sự Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 402

BLDS 2005, nội dung của hợp đồng dân sự bao gồm: “1 Đối tượng của hợp đồng

là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; 2 Số lượng, chất lượng; 3 Giá, phương thức thanh toán; 4 Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; 5 Quyền, nghĩa vụ của các bên; 6 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; 7 Phạt vi phạm hợp đồng; 8 Các nội dung khác” Phải khẳng định rằng, việc

phân loại nội dung của hợp đồng chưa được đề cập trong các văn bản quy phạm

Trang 26

pháp luật Tuy nhiên, trong khoa học luật dân sự, theo một số quan điểm cho rằng

“nội dung của hợp đồng gồm nhiều loại như điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ và điều khoản tùy nghi” 35

Theo tác giả, tinh thần Điều 141 BLDS 1995

thừa nhận chỉ có nhầm lẫn về “nội dung chủ yếu” tức là thiếu nó thì hợp đồng không thể giao kết được36

mới là nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu là khá hẹp

Theo đó, nếu như nhầm lẫn về “nội dung không chủ yếu” (về điều khoản thường lệ

hay điều khoản tùy nghi) thì theo quy định này không thể coi là nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu Chính vì vậy, tác giả cho rằng thừa nhận tinh thần Điều 141 BLDS 1995 sẽ không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị nhầm lẫn

Ví dụ: A (đại diện bên bán) và B (bên mua) giao kết hợp đồng mua bán lô hàng nước hoa chiết suất từ cánh hoa hồng Tuy nhiên, do sơ suất A đã đề ra điều khoản bảo hành mùi hương nước hoa là “sẽ cam kết đổi hàng mới 100% nếu nước hoa bị

mất mùi sau 24 ngày kể từ lúc mua hàng” Thời hạn bảo hành cho sản phẩm này thực chất là 24 giờ nhưng do sơ suất A đã ghi 24 ngày như trên làm cho B bị nhầm

lẫn Khoảng 1 tuần sau, B phát hiện mùi hương nước hoa không còn như ban đầu nên đến cửa hàng thì mới biết mình bị nhầm lẫn Tuy nhiên, A vẫn không khắc phục, như vậy căn cứ theo quy định tại Điều 141 BLDS 1995 thì B không thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Nhưng rõ ràng, vì sự nhầm lẫn về điều khoản bảo hành mà B đã mua loại nước hoa không như mong muốn Ngoài ra, nếu sau 1 tuần B bán lại nước hoa đó cho người khác mà đã hết thời hạn bảo hành trên thực tế (24 giờ), rõ ràng điều này làm B khó thực hiện được giao dịch, thậm chí có thể bị bồi thường do vi phạm hợp đồng giữa B với người thứ ba (nếu có) Từ ví dụ trên cho thấy, điều khoản về bảo hành không được coi là điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán nước hoa Tuy nhiên, việc bên bán đã làm cho bên mua nhầm lẫn

về điều khoản này đã ảnh hưởng lớn đến lợi ích của bên mua Trong khi đó, nếu áp dụng Điều 141 BLDS 1995 trong trường hợp này sẽ không có cơ sở để tuyên hợp đồng giữa A và B vô hiệu Mặt khác, điều khoản bảo hành ở đây dù chỉ là một điều khoản không chủ yếu nhưng suy cho cùng cũng thuộc nội dung của hợp đồng Vì thế, áp dụng Điều 131 BLDS 2005 trong trường hợp này sẽ có cơ sở để tuyên hợp đồng này vô hiệu do nhầm lẫn Thiết nghĩ, như vậy mới đảm bảo được quyền lợi cho bên bị nhầm lẫn cũng như tạo môi trường kinh doanh lành mạnh của các bên khi giao kết hợp đồng

Về giới hạn của sự thỏa thuận các bên: Hiện nay, pháp luật cho phép tùy thuộc vào tính chất hợp đồng nên không quy định cứng nhắc rằng mỗi hợp đồng cần bao nhiêu điều khoản Nhìn chung, pháp luật luôn dành cho các bên quyền thỏa thuận tất cả các điều khoản ghi trên hợp đồng Các bên cũng có thể bổ sung vào hợp đồng những điều khoản không có trong quy định nhưng các bên cảm thấy cần thiết

35

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd 15, tr 154

36

Khoản 1 Điều 401 BLDS 1995 quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng “là những điều khoản mà thiếu

những điều khoản đó, thì hợp đồng không thể giao kết được Nội dung chủ yếu của hợp đồng do pháp luật quy định; nếu pháp luật không quy định, thì theo thoả thuận của các bên”

Trang 27

Bên cạnh đó, về bản chất, nhầm lẫn là một trường hợp điển hình về vô hiệu hợp đồng vì đã vi phạm nguyên tắc thống nhất ý chí giữa các bên Vì thế, nội dung dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn được hiểu là nội dung mà các bên thỏa thuận khi giao kết hợp đồng Theo đó, dựa trên tiêu chuẩn khách quan và chủ quan, nếu đặt trường hợp một người bình thường trong cùng hoàn cảnh tương tự thì cũng rơi vào trường hợp nhầm lẫn như bên bị nhầm lẫn Hơn nữa, nếu nội dung nhầm lẫn đó không thuộc nội dung hợp đồng đã thỏa thuận thì không có lý do gì lại từ chối tiếp tục thực hiện hợp đồng mà yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Như vậy, theo tinh thần pháp luật quy định vấn đề nhầm lẫn “về nội dung” giao dịch như hiện nay tương đồng cách hiểu về nội dung hợp đồng tại Điều 402 BLDS 2005 Chính vì thế, nhầm lẫn “về nội dung” là khái niệm rất rộng, bao gồm cả chất lượng, tính chất, đối tượng của hợp đồng, … Ví dụ: Nhầm lẫn hợp đồng mua bán thành hợp đồng tặng cho thì có thể xem là nhầm lẫn về tính chất hợp đồng; công ty A muốn mua trà xanh loại A để chế biến, kinh doanh nhưng cuối cùng lại mua trà xanh loại B có thể xem là nhầm lẫn về đối tượng hợp đồng; giao kết hợp đồng mua bán sầu riêng với

số lượng xác định theo kilogam nhưng lại giao kết theo đơn vị tính là trái (quả) thì

có thể xem là nhầm lẫn về số lượng …

Kết luận mục 1.2: BLDS 2005 chỉ đề cập nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu

do nhầm lẫn là của một bên có lỗi vô ý khi tham gia giao dịch làm cho bên kia nhầm lẫn và nhầm lẫn này chỉ là nhầm lẫn về nội dung của giao dịch Tuy nhiên, trong thực tiễn, nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là khá đa dạng

mà các quy định của BLDS 2005 chưa đề cập đến Vì thế, tác giả sẽ phân tích rõ hơn sự bất cập này của quy định pháp luật trong Chương 2

1.3 Phân biệt hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn với trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do lừa dối

Nhầm lẫn và lừa dối trong giao dịch dân sự có điểm giống nhau cơ bản là bên bị lừa dối hay nhầm lẫn đều hiểu sai lệch nội dung hoặc chủ thể Do đó, dẫn đến hệ quả là hợp đồng có thể bị vô hiệu Như đã phân tích ở phần trên, có giai đoạn từng quy định rằng nhầm lẫn chỉ là yếu tố xem xét coi hợp đồng đó có tới mức bị lừa dối hay không, tức là nhầm lẫn chỉ là cơ sở để nhận dạng lừa dối Tuy nhiên, về sau, các nhà làm luật đã xem xét nhầm lẫn cũng là một trường hợp dẫn đến hợp đồng vô hiệu

Theo cách hiểu thông thường, “lừa dối là lừa bằng thủ đoạn nói dối” 37 , tức là

lừa dối phải bằng thủ đoạn còn những lời nói dối bình thường không coi là lừa dối

Theo Điều 132 BLDS 2005:“Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên

hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” Như

thế, lừa dối trong giao dịch dân sự có hai điều kiện: Một là, một bên phải sử dụng

37

Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 576

Trang 28

thủ đoạn để lừa người khác; Hai là, người kia vì bị lừa dối nên đã hiểu sai lệch (nội dung hoặc chủ thể) và phải nghe theo, làm theo một việc nào đó (giao kết hợp đồng)

Trong khi đó, tại khoản 2 Điều 131 BLDS 2005 là “trong trường hợp một bên do

lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này” Ở đây, cần làm rõ sự khác biệt giữa

nhầm lẫn và lừa dối vì suy cho cùng nhầm lẫn và lừa dối khác nhau về tính chất, mục đích gây hậu quả

Ví dụ, theo một vụ việc: Ngày 03-6-2005, bà Liễu và ông Nhường đã giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông Nhường đứng tên là chủ sở hữu Nhưng sau đó vợ ông Nhường là bà Cúc cho rằng bất động sản mà ông Nhường giao dịch là tài sản chung vợ chồng nên bà đã yêu cầu Tòa án giải quyết Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà Cúc Theo nhận định của Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) phúc thẩm: “Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất số 9023/QSDĐ/CQ ngày 31-12-2001 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho ông Nhường đối với 1426 m2, tuy tài sản này do một mình ông Nhường đứng tên quyền sử dụng nhưng về mặt khách quan thì đã có bằng chứng cho thấy đây là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân của ông Nhường và bà Cúc …” và rõ ràng ông Nhường đã cố ý che giấu bà Liễu nhằm đạt được mục đích hợp đồng nên Tòa phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm và tuyên hợp đồng giữa ông Nhường bà Liễu vô hiệu do lừa dối38

 Thứ nhất về lỗi, trong nhầm lẫn và lừa dối thì sự khác biệt lớn nhất là tính

chất của lỗi Nếu như lỗi trong nhầm lẫn là sự vô ý của một bên hay của các bên trong giao kết hợp đồng thì lỗi trong lừa dối mà BLDS 2005 quy định là lỗi cố ý của một bên nhằm đưa thông tin sai lệch hoặc cố ý không cung cấp thông tin Cụ thể:

lỗi sơ suất, cẩu thả của chính bên

bị nhầm lẫn hoặc là lỗi vô ý của

bên kia

Sự nhầm lẫn có thể gây ra do lỗi cố

ý (nghĩa là thực hiện hành vi lừa dối một cách có ý thức với mong muốn đạt được sự chấp nhận giao kết hợp đồng của người bị lừa dối39

) của bên kia hoặc của bên thứ ba gây ra

Vụ việc trên cho thấy, đã có căn cứ chứng minh bất động sản này là tài sản chung của vợ chồng ông Nhường bà Cúc nên tác giả không phân tích ở đây Tuy nhiên, vấn đề mà tác giả muốn dựa vào ví dụ này để phân tích là xem xét yếu tố lỗi làm

38

Bản án số 2557/2009/DS-PT ngày 30-12-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (xem Phụ lục

số 3, tr 11)

39

Theo đoạn 1, khoản 2 Điều 308 BLDS 2005: “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ

hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”

Trang 29

cho hợp đồng giữa ông Nhường bà Liễu vô hiệu, có thể có một trong hai khả năng sau:

Một là, ông Nhường đã biết rõ nhưng cố tình che giấu sự thật về quyền sở hữu

chung bất động sản này nhằm để bà Liễu thiết lập giao dịch với mình Chính vì thế, hành vi đó được xác định là lỗi cố ý

Hai là, ông Nhường biết mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng ông Tuy nhiên,

vì thiếu hiểu biết, tự tin rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một mình ông nên ông có quyền một mình giao kết hợp đồng với bà Liễu mà không cần

sự tham gia của bà Cúc Bên cạnh đó, ông Nhường cho rằng hành vi đơn phương giao dịch với bà Liễu là không ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Chính vì thế, ở đây, ông Nhường đã có lỗi vô ý làm cho bà Liễu bị nhầm lẫn là bất động sản này có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nhường Do đó, về mặt thủ tục, việc sang tên quyền sử dụng đất là hợp pháp nên tiến hành giao kết hợp đồng với ông

 Thứ hai về nguyên nhân, nhầm lẫn theo Điều 131 BLDS 2005 chỉ có thể

phát sinh từ một phía, còn lừa dối theo Điều 132 BLDS 2005 thì có thể phát sinh từ một bên hoặc do bên thứ ba Như đã trình bày ở mục 1.2 về nhầm lẫn, BLDS 2005 chỉ thừa nhận nguyên nhân gây nhầm lẫn xuất phát từ một bên trong hợp đồng Nhưng lừa dối theo BLDS 2005 có thể do chính một bên giao kết hợp đồng hoặc do người thứ ba thực hiện BLDS 2005 ở Điều 132 đã dự liệu được thiếu sót của BLDS

199540 khi đưa thêm hành vi của người thứ ba làm bên kia hiểu sai mà giao kết hợp đồng Theo đó, dù một người giao kết hợp đồng và người thứ ba không trực tiếp thực hiện hành vi lừa dối nhưng đã tham gia hoặc “đồng lõa” với hành vi lừa dối đó thì hành vi này cũng được coi là do chính người giao kết hợp đồng thực hiện

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

DO NHẦM LẪN

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO

LỪA DỐI Nguyên nhân Xuất phát từ một bên

Về hợp đồng vô hiệu do lừa dối, như tác giả đã trình bày, người thứ ba ở đây được pháp luật công nhận khi người này đóng vai trò giúp sức với người giao kết Các nhà lập pháp đã đưa bên thứ ba vào trường hợp lừa dối là hợp lý, phù hợp với thực tiễn của loại hành vi này thường là có động cơ vụ lợi nên không chỉ một bên

mà cần thêm bên thứ ba cùng dùng thủ đoạn che giấu sự thật để bên kia thực hiện

40

Điều 142 BLDS 1995 quy định: “Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm

cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó”

Trang 30

hợp đồng với mình Ví dụ: Tháng 2-2009, ông Hồ Đình Tuấn thế chấp căn nhà và đất tọa lạc tại số 19 đường 23/10, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa cho Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài Quốc doanh Nha Trang (nay là Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng – VP Bank) để vay tiền Đến kỳ đáo hạn, ông Tuấn không có khả năng trả nợ tiền gốc và lãi nhưng VP Bank không phát mãi căn nhà và thửa đất trên mà lại tìm người mua lại nhà và đất của ông Tuấn Nhân viên tín dụng của VP Bank đã tìm gặp ông Nguyễn Thanh Phong, thường trú tại tổ 20 Thanh Minh 2, Diên Lạc, Diên Khánh, Khánh Hòa để tư vấn cho ông mua nhà và đất của ông Tuấn có tổng diện tích đất là 165 m2 Do tin lời các nhân viên tín dụng của VP Bank nên ông Phong đã đồng ý mua căn nhà và đất trên của ông Tuấn với giá 1.250.000.000 đồng Ông Phong đã nộp tiền trả VP Bank thay cho ông Tuấn số tiền 970.000.000 đồng theo yêu cầu của các ông Đạt, Minh (hai nhân viên tín dụng của VP Bank) để được lấy Giấy chứng nhận quyền sử đất về

để làm thủ tục sang tên Lúc này ông Phong mới biết được diện tích đất thực tế chỉ còn 85 m2, đất bị quy hoạch giao thông và không được phép xây dựng Ông Phong cho rằng, sở dĩ nhân viên tín dụng VP Bank “tích cực” như vậy là vì toàn bộ thửa đất trên không thể phát mãi được nên đã tư vấn lừa dối khách hàng để bán thu hồi

nợ xấu41

Trong ví dụ trên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Tuấn và ông Phong có cơ sở cho là vô hiệu do lừa dối Bởi lẽ, ông Tuấn biết bất động sản trên không thể phát mãi được nhưng che giấu điều đó và cùng với Đạt, Minh (hai nhân viên tín dụng ngân hàng) lừa dối ông Phong mua lại căn nhà Từ đó, rõ ràng, ông Tuấn đã thu được khoản lợi chênh lệch trong việc bán bất động sản cho ông Phong, đồng thời Đạt, Minh (người thứ ba) cũng được lợi ích trong việc giúp Ngân hàng thu hồi nợ xấu Ở đây, có sự xuất hiện của người thứ ba là Đạt, Minh với vai trò là đồng phạm, nhờ đó nên ông Phong tin tưởng mà chấp nhận giao kết với ông

Tuấn

 Thứ ba về phạm vi, nhầm lẫn với lừa dối là khác nhau Quy định hiện nay

chỉ có nhầm lẫn về nội dung mới được Tòa án tuyên bố là vô hiệu Trong khi đó, lừa dối có phạm vi rộng hơn, bởi lẽ, tính chất lỗi của lừa dối là sự cố ý nguy hiểm hơn là nhầm lẫn nên pháp luật quy định phạm vi rộng để không bỏ lọt hành vi sai trái đó nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên bị lừa dối

Theo Điều 132 BLDS 2005 thì phạm vi mối quan tâm cần được pháp luật bảo vệ rộng hơn, gồm: chủ thể, tính chất của đối tượng

41

Vương Thế Hùng (2012), “Hệ quả của hợp đồng dân sự vô hiệu do lừa dối”, ban-doc/tu-van/he-qua-cua-hop-dong-dan-su-vo-hieu-do-lua-doi.html (truy cập ngày 16/6/2014)

Trang 31

http://phaply.net.vn/phap-luat-hoặc nội dung của giao dịch dân

Nếu xem hợp đồng này là vô hiệu do lừa dối thì như cách giải quyết của Tòa án chỉ cần thấy có hành vi cố ý của bên bán làm cho bên mua hiểu sai lệch về chủ thể, đối tượng mà giao kết hợp đồng thì hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu do lừa dối

Kết luận mục 1.3: Sự nhầm lẫn do bị lừa dối được hình dung trong phạm vi khá

rộng so với sự nhầm lẫn theo Điều 131 BLDS 2005 Người nhầm lẫn theo Điều 131 BLDS 2005 chỉ được bảo vệ trong trường hợp nhầm lẫn về nội dung; trong khi người nhầm lẫn do bị lừa dối có thể được bảo vệ cả trong chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch Hơn nữa, yếu tố quan trọng nhất phân biệt trường hợp nhầm lẫn và lừa dối là lỗi Nếu như nhầm lẫn là do một bên có lỗi vô ý thì lừa dối là do một bên hoặc người thứ ba có lỗi cố ý làm cho bên kia hiểu sai lệch vấn đề để giao kết hợp đồng

1.4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo Điều 131 BLDS 2005 như sau: “… bên bị

nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch

vô hiệu” Theo đó, khi phát hiện bị nhầm lẫn thì trước tiên bên bị nhầm lẫn có

quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung Sau đó, chỉ khi nào bên kia không chấp nhận mà bên bị nhầm lẫn thấy bị ảnh hưởng quyền lợi thì mới yêu cầu Tòa án tuyên

bố giao dịch vô hiệu Theo đó, hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn sẽ phát sinh những hậu quả cũng giống như hậu quả chung của hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên, Điều 137 BLDS 2005 và Điều 138 BLDS 2005 cũng như các văn bản hướng dẫn vẫn còn nhiều quan điểm cho rằng chưa bao quát hết các trường hợp xử lý hậu quả hợp đồng

vô hiệu trong thực tế Trong phạm vi khóa luận này, tác giả chỉ trình bày khái quát những hậu quả pháp lý nổi bật có liên quan đến hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn trong hai khía cạnh:

42

Hiện nay, BLDS 2005 không đề cập đến nhầm lẫn về chủ thể Tuy nhiên, thực tiễn cũng đã có trường hợp Tòa án công nhận nhầm lẫn về chủ thể Do vậy, đây là bất cập của luật hiện hành mà tác giả sẽ trình bày ở Chương 2 (mục 2.1.2)

Trang 32

 Phương thức xử lý hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

 Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

1.4.1 Phương thức xử lý hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

Theo Từ điển Tiếng Việt, phương thức được hiểu là “phương pháp và cách

thức” 43, như vậy phương thức xử lý là những phương pháp, cách thức áp dụng để

xử lý Do đó, phương thức xử lý hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là phương pháp, cách thức luật định để xử lý với hợp đồng bị Tòa án tuyên vô hiệu do nhầm lẫn Đối với hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo Điều 131 BLDS 2005 thì phương thức xử lý chia làm hai trường hợp:

Trường hợp 1: Căn cứ Điều 131 BLDS 2005: “… bên bị nhầm lẫn có quyền

yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó”

Quy định cho thấy giải pháp đầu tiên là sự thỏa thuận của các bên Việc chấp nhận thỏa thuận lại nội dung hợp đồng nhằm giúp các bên một lần nữa đi tới thống nhất ý chí giao kết cũng chỉ để cho giao dịch có hiệu lực Nếu như phía bên kia từ chối thảo luận hoặc thảo luận không có kết quả như mong muốn của bên bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Thiết nghĩ, quy định về thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng là khá phù hợp Bởi

lẽ, cho phép các bên thay đổi thích ứng nội dung hợp đồng theo tùy tình hình, tức là

họ có thể sửa đổi nội dung hợp đồng trả về đúng với ý chí ban đầu mà các bên mong muốn Ví dụ: Tháng 2/2011, A và B ký hợp đồng mua bán 10 chiếc máy vi tính Vì cẩu thả nên A ghi nhầm giá của 10 chiếc máy là 45 triệu thay vì giá thật là

55 triệu Điều đó đã làm cho B nhầm lẫn về giá trị món hàng Xét thấy B mua máy tính để phục vụ công tác phổ cập tin học cho học sinh tiểu học ở địa phương nên B rất cần có máy để kịp tiến độ Đồng thời, nếu A yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng

vô hiệu trong trường hợp này có thể làm B sẽ không nhận được 10 chiếc máy tính như mong muốn đồng thời cửa hàng của A cũng mất uy tín Vì vậy, A đã yêu cầu B sửa lại giá cho đúng với giá trị thật, như thế không chỉ phù hợp mục đích của các bên mà còn phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực trong giao kết hợp đồng Dựa trên nguyên tắc là hợp đồng được sinh ra nhằm mục đích mang lại lợi ích cho các bên trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí, thỏa thuận, tự nguyện Trong giao dịch hợp đồng, xảy ra các trường hợp vì sự nhầm lẫn khiến cho các bên không đạt được mục đích mong muốn Tuy nhiên, theo nhà lập pháp không nhất thiết phải trải qua thủ tục tố tụng bằng cách Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà trước hết cho các bên thay đổi hợp đồng như ý nguyện chung các bên Quy định này là phù hợp bởi:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của hợp đồng dân sự là tự do thỏa thuận để

thống nhất ý chí các bên nhưng không được trái với quy định của pháp luật Một số người cho rằng để bảo vệ quyền tự do của người khác thì phải hạn chế tự do hợp

43

Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB TP Hồ Chí Minh, tr 724

Trang 33

đồng Tuy nhiên, cũng cần xác định sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền trong giới hạn tự do hợp đồng Vì vậy, nhà làm luật dự liệu quy định này là hết sức phù hợp, bảo vệ sự tự do hợp đồng một cách triệt để là đảm bảo thống nhất với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận tại Điều 4 BLDS 2005

Thứ hai, từ thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào việc yêu cầu Tòa án giải

quyết cũng mang lại kết quả mà các bên mong muốn Hiện nay, thủ tục tố tụng dân

sự yêu cầu Tòa án giải quyết là khá phức tạp, theo trình tự giải quyết gồm nhiều giai đoạn Quá trình này mất nhiều thời gian mà có khi so với việc các bên tự nguyện thay đổi nội dung hợp đồng thì đã mang lại lợi ích lớn hơn

Tuy nhiên, trường hợp này chưa phải là giải pháp hoàn toàn ưu việt khi xử lý hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn Bởi pháp luật tạo điều kiện cho các bên có quyền thay đổi nội dung hợp đồng khi có sự nhầm lẫn nhưng thực tế vì lý do khách quan tác động mà sự thay đổi này là không thể thực hiện được Do vậy, tác giả sẽ trình bày

cụ thể bất cập này ở Chương 2

Trường hợp 2: Bên bị nhầm lẫn yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao

dịch đó mà bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Theo quy định pháp luật dân sự, hậu quả hợp đồng vô

hiệu theo Điều 137 BLDS 2005:

1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập 2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Theo đó, hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn sẽ phát sinh những hậu quả cũng giống như hậu quả chung của hợp đồng vô hiệu:

 Không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập:

Về bản chất, hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ các bên; tức là giao dịch không có giá trị pháp lý tại thời điểm giao kết nên không có giá trị bắt buộc đối với các bên Theo khoản 1 Điều 137 BLDS 2005, đối với trường hợp giải quyết hậu quả pháp lý trong hợp đồng dân sự

mà các bên tham gia giao dịch mới xác lập, chưa thực hiện thì các bên chấm dứt thực hiện hợp đồng đó Tuy nhiên, nếu các bên đã thực hiện một phần hoặc thực hiện xong mới phát sinh tranh chấp thì hậu quả là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập Và như đã phân tích, khi quyền và nghĩa vụ không phát sinh thì cơ sở quyền sở hữu các bên là không có căn cứ pháp luật

 Khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận:

Trang 34

Theo nghĩa thông thường “tình trạng” được hiểu là“tổng thể nói chung những

hiện tượng không hoặc ít thay đổi, tồn tại trong một thời gian tương đối dài, xét về mặt bất lợi đối với đời sống hoặc những hoạt động nào đó của con người” 44

Do đó, hợp đồng vô hiệu thì không có hiệu lực pháp luật từ khi được xác lập và coi như chưa tồn tại Vì vậy, khôi phục lại tình trạng ban đầu tức là nhận gì trả lại đó Theo tác giả “tình trạng ban đầu” mà khoản 2 Điều 137 BLDS 2005 sử dụng được hiểu là tình trạng pháp lý (quyền sở hữu, quyền sử dụng, …) chứ không phải tình trạng

thực tế ban đầu Bên cạnh đó, tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng

“các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận phải được hiểu và đặt tình trạng ban đầu theo quan điểm động Cụ thể là phải lấy mối quan hệ trao đổi ngang giá lúc đó (vật đổi vật, vật đổi tiền) để làm cơ sở xem xét và phải lấy hiện vật đã trao đổi để xem xét trong mối quan hệ: Giá trị - giá trị

sử dụng – giá cả lúc giao vật – giá cả lúc giải quyết để phán quyết trên cơ sở nguyên tắc ngang giá” 45

Ví dụ: A bán cho B nhà và 200 m2 đất năm 2000 là 200 triệu đồng Phần bán cho B chỉ là một trong rất nhiều bất động sản trong khu vực đó

mà A có Vì vậy, A đã sơ suất cho rằng bất động sản nói trên nằm ở vị trí rất thuận lợi cho sinh hoạt (gần chợ, gần trường học) Khi bán cả hai bên chỉ giao dịch trên giấy tờ và không ai xác minh lại vị trí bất động sản đó Sau đó, năm 2002, A phát hiện bị nhầm lẫn Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và giá đất tại thời điểm Tòa xét xử là 400 triệu đồng nên Tòa giải quyết mức 400 triệu là tài sản A phải hoàn trả cho B Theo tác giả, khi tài sản mang ra giao dịch thì giá cả mà các chủ thể thương lượng thống nhất thông qua giá, giá trị sử dụng và quy luật cung cầu của thị trường điều đó được hiểu là nguyên tắc ngang giá Nên ở đây, Tòa án đã xem xét giá bất động sản ở thời điểm Tòa thụ lý là hợp lý Bởi vì, giao dịch này được thực hiện toàn bộ trên thực tế và bất động sản là loại tài sản có giá trị, giá trị

sử dụng thay đổi theo thời gian Về vấn đề này, tác giả đồng ý với quan điểm cho

rằng “khi giải quyết chỉ có thể căn cứ vào giá cả tại thời điểm giao dịch trong sự

xem xét với các tài sản khác có tính ổn định cao như vàng để giải quyết thì mới đảm bảo được quyền lợi của các đương sự” 46

Hơn nữa, thực tế không có sự vật nào đứng yên và khi tham gia hợp đồng bản thân các chủ thể đã tự xác định tính ngang giá trong mối quan hệ vật – tiền Do vậy, xác định giá cả khi giải quyết hoàn trả trong trường hợp này là đảm bảo tính công bằng cho giao dịch dân sự

So sánh đối chiếu pháp luật nước ngoài thường áp dụng quan điểm “được lợi không chính đáng”47, “không có căn cứ pháp luật”48, theo đó những người đã nhận

Điều 3.10 Bộ Nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 quy định: “…làm cho bên kia

được hưởng lợi thế do có sự bất bình đẳng một cách không chính đáng” và theo Viện Thống nhất Tư pháp

quốc tế - Lê Nết (dịch) (1999), Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, NXB TP Hồ Chí Minh, tr 81:

Trang 35

tài sản hoặc tiền một cách không công bằng thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu Tương

tự pháp luật Việt Nam, theo tác giả Hoàng Thế Liên thì “quyền sở hữu, quyền

chiếm hữu, quyền sử dụng mà các bên có được từ giao dịch dân sự vô hiệu bị coi là

hưởng lợi không có căn cứ pháp luật” 49

Bản chất của việc hoàn trả theo khoản 2

Điều 137 BLDS 2005 ở đây là khoản lợi bất chính (tài sản là hàng hóa và cả tài sản

là dịch vụ) chứ không phải thiệt hại hay tổn thất nên không coi là bồi thường thiệt hại, nhưng được coi là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, người được lợi

về tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả tài sản mà người đó có được không có căn cứ pháp luật, vấn đề này được quy định từ Điều 599 đến 603 BLDS

2005

Ngoài ra, theo Điều 137 BLDS 2005, có hai cách hoàn trả là hoàn trả bằng hiện vật và nếu không hoàn trả bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền:

Đối với hoàn trả hiện vật: Nếu tài sản là một vật cùng loại nhưng không còn thì

khoản 1 Điều 179 BLDS 2005 quy định có thể thay thế cho nhau nếu cùng chất

lượng Đối với khoản 2 Điều 179 BLDS 2005 về “vật đặc định là vật phân biệt

được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí” nếu vật đặc định mất thì trong trường này có thể hoàn trả

bằng tiền thay cho hoàn trả lại chính vật đó Còn đối với vật tiêu hao50

tức đối tượng của hợp đồng là tài sản không còn giữ được tình trạng ban đầu hay đối tượng của giao dịch là công việc đã thực hiện xong thì khôi phục lại tình trạng ban đầu sẽ rất khó

Đối với hoàn trả bằng tiền: Như đã phân tích ở trên, trong nhiều trường hợp

như tài sản đã bị mất, đã bị bán lại cho người khác, đã bị tiêu hao không còn như trước nữa thì hoàn trả bằng hiện vật không thể thực hiện được bởi thế sẽ hoàn trả

bằng tiền Thiết nghĩ, hợp đồng vô hiệu khi vi phạm các điều kiện có hiệu lực của

hợp đồng và khi vi phạm điều kiện ấy thì hậu quả pháp lý là hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là điều tất yếu, do vậy, không vì lẽ không hoàn trả được bằng hiện vật mà mất quyền yêu cầu hợp đồng vô hiệu được

 Vấn đề bồi thường thiệt hại:

Thiệt hại được hiểu là “sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà

họ đã có hoặc sự mất mát lợi ích vật chất mà chắc chắn họ sẽ có, tức là lợi nhuận chắc chắn sẽ thu được”51

Theo quy định Điều 137 BLDS 2005 là căn cứ vào yếu tố

“…sự bất bình đẳng giữa nghĩa vụ của các bên, làm cho một bên được lợi lớn một cách không chính

đáng”

48

Điều 1376 Bộ luật Dân sự Pháp: “Người nào vì nhầm lẫn hoặc cố ý đã nhận một vật không phải của mình,

thì buộc phải trả lại cho chủ sở hữu vật đã nhận không có căn cứ pháp luật đó”

49

Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 - Tập II, NXB Chính trị Quốc gia, tr

309

50

Khoản 1 Điều 178 BLDS 2005: “Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ

được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn”

51

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 tập II, NXB Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, tr 702

Trang 36

lỗi, theo đó, bên nào có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường nhưng lại không cho biết đây là bồi thường theo hợp đồng hay ngoài hợp đồng Việc xác định rõ loại bồi thường là hết sức cần thiết bởi lẽ cơ sở giải quyết bồi thường theo hợp đồng và cơ

sở giải quyết bồi thường ngoài hợp đồng sẽ rất khác nhau Có quan điểm cho rằng

“bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng và vi

phạm đề nghị giao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi lẽ hợp đồng chưa được giao kết giữa các bên hoặc được coi là chưa hề tồn tại” 52

Theo

đó, TS Phạm Văn Tuyết cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại (gọi tắt là

BTTH) là một dạng trách nhiệm pháp lý: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng là quy định của luật dân sự nhằm buộc người có hành vi xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra” 53

Pháp luật một số nước như Pháp, Nhật Bản cũng nhìn nhận trường hợp

này với góc độ tương tự, cụ thể khi nghiên cứu Điều 1382 Bộ luật Dân sự Pháp54

Thứ nhất, hành vi trái pháp luật thì hành vi ở đây được hiểu gồm hành động và

không hành động và nó đi ngược lại quy định của pháp luật Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn thì hành vi trái luật ở đây là do bản thân việc giao kết xác lập hợp đồng không thỏa mãn điều kiện giao dịch có hiệu lực, cụ thể là vi phạm điểm c khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện

Thứ hai, lỗi theo Từ điển Tiếng Việt là “chỗ sai sót do không thực hiện đúng

quy tắc” 56

, có quan điểm cho rằng “lỗi là yếu tố chủ quan, thể hiện thái độ của chủ

52

Nguyễn Minh Oanh (2009), “Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách

nhiệm bồi thường thiệt hại”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường đại học Luật Hà Nội “Trách nhiệm dân

sự do tài sản gây thiệt hại – Vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội

Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/04/05/4702-2/ (Truy cập ngày 27/5/2014)

Trang 37

đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình” 57

Trường hợp vô hiệu do nhầm lẫn,

theo Điều 131 BLDS 2005 là lỗi vô ý58 và lỗi được coi là “thước đo” trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn nói riêng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung Đây là một trong những hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu, bên nào có lỗi gây thiệt hại thì bồi thường Lỗi không chỉ là cơ

sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà còn là cơ sở xác định mức bồi thường Căn cứ Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP tại các điểm a gồm a1 đến a3 của tiểu mục 2.4 mục 2 phần I xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại với mức độ lỗi của mỗi bên59

Vì vậy, lỗi là một căn cứ giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Thứ ba, có thiệt hại xảy ra trên thực tế nhưng BLDS lại không cho biết thiệt hại

là gì khi hợp đồng vô hiệu Thiết nghĩ, nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở đây là người có trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất đã gây ra do vi phạm nghĩa vụ dân sự đó là những chi phí mà người bị vi phạm bỏ ra để ngăn chặn, khắc phục hậu quả do hợp đồng dân sự vô hiệu

Thứ tƣ, có mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả Trong mối quan hệ duy vật

biện chứng thì dễ xác định được rằng thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại

Tóm lại: Phương thức xử lý hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo Điều 131 BLDS

2005 gồm hai trường hợp: Bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội

Khi tuyên bố hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu, thì về nguyên tắc chung khi giải quyết hậu quả của hợp đồng

vô hiệu Toà án buộc bên mua trả lại nhà ở cho bên bán; bên bán nhận lại nhà ở và trả lại những gì đã nhận cho bên mua nhà Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 146 BLDS bên có lỗi làm cho hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia; do đó, việc xác định lỗi của một hoặc các bên như sau:

a.1 Một bên bị coi là có lỗi nếu bên đó có hành vi làm cho bên kia nhầm tưởng là có đầy đủ điều kiện để mua nhà ở hoặc bán nhà ở là hợp pháp

Ví dụ về trường hợp bên bán bị coi là có lỗi: Bên bán bị coi là có lỗi nếu làm cho bên mua tin tưởng là bên bán có quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở hoặc có hành vi gian dối để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và sử dụng các giấy tờ này làm bằng chứng để cho bên mua tin và giao kết hợp đồng mua bán nhà ở đó

Ví dụ về trường hợp bên mua bị coi là có lỗi: Bên mua bị coi là có lỗi nếu có hành vi gian dối làm cho bên bán tin tưởng là tài sản đặt cọc, tài sản để thực hiện nghĩa vụ thuộc quyền sở hữu của bên mua nên đã giao kết hoặc giao nhà ở cho bên mua

a.2 Đối với hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu theo quy định tại các điều 140, 141, 142 và 143 BLDS, thì áp dụng quy định của điều luật tương ứng để xác định lỗi của bên bán hoặc lỗi của bên mua

a.3 Trường hợp hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do lỗi của hai bên, trừ trường hợp quy định tại Điều 137 BLDS, thì Toà án phải xác định mức độ lỗi của mỗi bên để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mỗi bên”.

Trang 38

dung giao dịch và nếu bên kia không chấp nhận thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên

bố hợp đồng vô hiệu sẽ được xử lý theo Điều 137 BLDS 2005

1.4.2 Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình trong trường hợp hợp đồng dân sự

vô hiệu do nhầm lẫn

Giao dịch dân sự đã vốn phức tạp, nếu xuất hiện thêm người thứ ba ngay tình tham gia vào lại càng phức tạp hơn Bởi lẽ, lợi ích của người thứ ba có thể bị ảnh hưởng trực tiếp từ hợp đồng dân sự đã bị tuyên vô hiệu trước đó Khái niệm người

thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch dân sự vô hiệu được hiểu là “người được

chuyển giao tài sản thông qua giao dịch dân sự mà họ không biết, không buộc phải biết là tài sản đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch vô hiệu” 60 Có thể hiểu là người thứ ba ngay tình tham gia giao dịch dân sự trên cơ sở

tự nguyện, bình đẳng mà không biết đối tượng giao dịch liên quan bởi giao dịch các chủ thể trước xác lập bị vô hiệu, nếu thật sự người đó ngay tình61 Theo PGS TS Lê

Thị Bích Thọ: “về nguyên tắc, khi một hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu thì quyền và

nghĩa vụ của người giao kết không còn Vì vậy, quyền và nghĩa vụ của những người liên quan cũng không còn” 62

Nói cách khác, người liên quan ở đây là người thứ ba

và hợp đồng với người thứ ba cũng vô hiệu Thế nhưng, đối với người thứ ba ngay tình thì cần được bảo vệ Trong một số trường hợp khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu

do nhầm lẫn thì Tòa án có thể xem xét bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình và BLDS 2005 có quy định tại Điều 138 về vấn đề này như sau:

1 Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch

là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này

2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó

- Người thứ ba ngay tình đã nhận được tài sản từ hợp đồng họ xác lập

- Hội đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 122 BLDS

62

Lê Thị Bích Thọ (2004), Hợp đồng kinh tế vô hiệu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 107

Trang 39

người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa

Như đã trình bày ở trên, không những là người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ mà còn phải căn cứ vào tài sản là đối tượng giao dịch (bất động sản hoặc động sản) Theo đó, ta căn cứ vào quy định tại Điều 174 BLDS 200563

thì chủ yếu dựa vào tính chất vật lý của tài sản có di dời được không:

 Đối với tài sản là bất động sản:

Theo Điều 167 BLDS 2005 thì “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng

ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản” Vấn đề

này ngoài quy định của BLDS 2005, các luật chuyên ngành đối với các trường hợp cần đăng ký trong tương lai còn phải căn cứ quy định của Luật đăng ký bất động sản (hiện nay vẫn đang trong quá trình xây dựng) Chính vì những lẽ trên, hiện nay gây khó khăn trong cách áp dụng ở Điều 167 BLDS 2005 về quyền sở hữu đối với bất động sản, vì vậy vấn đề xác định chủ sở bất động sản hiện nay vẫn còn vướng mắc

 Đối với tài sản là động sản:

Bên cạnh đó, cần tìm hiểu thế nào là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu

Theo quy định hiện nay tại Điều 167 BLDS 2005 thì “Quyền sở hữu đối với động

sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Như vậy, tài

sản nào là động sản phải đăng ký quyền sở hữu? Hiện nay có thể dựa vào các văn bản chuyên ngành để xác định, ví dụ: ô tô, xe máy (Luật giao thông đường bộ

200864) v.v…

Từ quy định tại Điều 138 BLDS 2005 thì có 2 trường hợp để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình là công nhận và không công nhận giao dịch người thứ ba

có hiệu lực:

Trường hợp 1: Công nhận giao dịch người thứ ba có hiệu lực là “tài sản giao

dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình” (khoản 1 Điều 138) và tài sản giao dịch

là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu mà “tài sản này thông

qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải

là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa” (khoản 2 Điều 138)

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Các tài sản khác do pháp luật quy định

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”

64

Khoản 3 Điều 53 Luật Giao thông đường bộ năm 2008: “Xe cơ giới phải đăng ký và gắn biển số do cơ

quan nhà nước có thẩm quyền cấp”

Trang 40

Thứ nhất, người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ trong trường hợp

tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì giao dịch với người thứ ba ngay tình có hiệu lực Ví dụ: A và B thỏa thuận hợp đồng mua bán 10 tấn gạo dẻo Nha Trang với giá 130 triệu Sau đó B đã bán lại cho C 5 tấn gạo loại đó Do cẩu thả trong lúc cân đo nên A thực ra chỉ giao cho B 8 tấn gạo dẻo Rõ ràng B đã bị nhầm lẫn về trọng lượng gạo, B cứ tưởng là 10 tấn nhưng sau đó phát hiện gạo không đủ trọng lượng B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn và buộc A phải hoàn trả tiền cũng như bồi thường chi phí phát sinh Còn

C là người thứ ba ngay tình, giao dịch giữa B với C là hợp pháp dù giao dịch giữa B

và A là vô hiệu Theo đó, chỉ cần xác định hai điều kiện là: C ngay tình và gạo trong trường hợp này là động sản và không phải đăng ký quyền sở hữu thì C được pháp luật bảo vệ trong quan hệ hợp đồng với B

Thứ hai, hiện nay so với hợp đồng thông thường thì hợp đồng mua bán tài

sản thông qua bán đấu giá có những đặc trưng nhất định Tại Điều 456 BLDS 2005

quy định “tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý muốn của chủ sở hữu hoặc

pháp luật có quy định” Quy định này đã xác định tài sản bán đấu giá như là một tài

sản thông thường trong giao lưu dân sự, nó chỉ bị hạn chế khi bị cấm giao dịch hoặc phải tuân thủ những quy chế đặc biệt Theo đó, hợp đồng mua bán tài sản thông qua bán đấu giá thì quyền của người mua luôn được bảo đảm, chứng minh cho vấn đề này cụ thể nhất là các văn bản về bán đấu giá tài sản như: Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản65

, Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày

04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các văn bản khác có liên quan đến xác định giá khởi điểm, phí đấu giá, phí tham gia đấu giá, chế độ tài chính trong hoạt động bán đấu giá tài sản Như vậy người thứ ba ngay tình có được tài sản thông qua bán đấu giá thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực

Thứ ba, trường hợp người thứ ba ngay tình giao dịch với người mà theo bản

án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau

đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa BLDS xác định giá trị của bản án, quyết định có vai trò, giá trị pháp lý trong việc xác lập quyền sở hữu66

Bởi lẽ theo nguyên tắc hai cấp xét xử (xét xử sơ thẩm, xét

xử phúc thẩm) và các thủ tục đặc biệt giám đốc thẩm và tái thẩm thì việc bản án,

65

Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài

sản quy định về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá:“Trong trường hợp

có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sửa đổi một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ các quyết định liên quan đến tài sản bán đấu giá do có vi phạm pháp luật trước khi tài sản được đưa ra bán đấu giá nhưng trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản đó bảo đảm tuân theo đầy đủ quy định của pháp luật thì tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người mua được tài sản bán đấu giá”

66

Điều 246 BLDS 2005 quy định: “Quyền sở hữu có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định của Toà

án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác”

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 Khác
2. Bộ luật Dân sự không số ngày 28 tháng 10 năm 1995 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995 Khác
3. Bộ luật Tố tụng Dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15 tháng 06 năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 Khác
8. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 03 tháng 06 năm 2008 Khác
9. Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006 Khác
10. Luật Giao thông đường bộ số: 23/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 Khác
11. Luật Phá sản số: 21/2004/QH11 ngày 15 tháng 06 năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2004 và thay thế Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30 tháng 12 năm 1993 Khác
13. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
14. Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27/5/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
15. Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
16. Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy định về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010 và thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản Khác
17. Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Nghị định số 20/2000/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2000 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Khác
18. Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ngày 20/10/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành Khác
20. Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 Quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2011 Khác
21. Thông tư số 24/2012/TT-NHNN ngày 23/8/2012 sửa đổi bổ sung thông tư 11/2011/TT-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 23/8/2012.Văn bản quy phạm pháp luật nước ngoài Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w