Theo quy định của pháp luật THADS, xác minh điều kiện thi hành án là một biện pháp cần thiết không thể bỏ qua trong quá trình tổ chức THADS, là cơ sở để cơ quan THADS áp dụng những biện
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG DANH
XÁC MINH TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG DANH
XÁC MINH TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự & Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Mai Hồng Quỳ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các thông tin và số liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực Những kết luận, đề xuất
và kiến nghị của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Vĩnh Long, ngày 29 tháng 10 năm 2015
Tác giả Luận văn
Nguyễn Hoàng Danh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XÁC MINH TÀI
SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án dân sự 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm 11
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác minh tài sản để thi hành án dân sự 16
1.2.1 Vài nét sơ lược về quy định xác minh tài sản để thi hành án trước khi có Luật Thi hành án dân sự 16
1.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác minh tài sản để thi hành án dân sự 17
1.2.3 Giải quyết khiếu nại liên quan đến xác minh tài sản để thi hành án dân sự 31
Kết luận chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 39
2.1 Đặc điểm, tình hình xác minh tài sản để thi hành án dân sự từ năm 2010 đến năm 2015 39
2.2 Chủ thể xác minh tài sản để thi hành án 41
2.2.1 Xác minh tài sản để thi hành án của người được thi hành án 41
2.2.2 Xác minh tài sản để thi hành án của Thừa phát lại 42
2.2.3 Xác minh tài sản để thi hành án của Chấp hành viên 44
2.3 Đối tượng xác minh 45
2.4 Thủ tục xác minh 49
2.5 Hậu quả pháp lý do xác minh tài sản để thi hành án 56
2.6 Giải quyết khiếu nại liên quan đến xác minh tài sản để thi hành án 58
Kết luận chương 2 63
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Cụm từ tiếng việt
- THADS: Thi hành án dân sự;
- VKSND: Viện kiểm sát nhân dân;
- VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa;
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là giai đoạn cuối của quá trình tố tụng, THADS là hoạt động của cơ quan Thi hành án nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành được thi hành trên thực tế nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan,
tổ chức, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự, đồng thời, thông qua việc thi hành án, cơ quan Thi hành án phát hiện sai sót của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật từ đó kiến nghị Tòa án có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc lập pháp Nhận thức tầm quan trọng của công tác thi hành án, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về
thi hành án dân sự, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá VII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1997), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (2004) và nhất là Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nhằm thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
Việt nam đã lần lượt ban hành các Pháp lệnh THADS năm 1989, Pháp lệnh THADS năm 1993, Pháp lệnh THADS năm 2004, Luật THADS năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS (năm 2014) để điều chỉnh hoạt động THADS
Để đảm bảo cho hoạt động thi hành án đạt hiệu quả cao, cơ quan THADS bắt buộc phải tiến hành xác minh tài sản của người phải thi hành án
Trang 7Theo quy định của pháp luật THADS, xác minh điều kiện thi hành án là một biện pháp cần thiết không thể bỏ qua trong quá trình tổ chức THADS, là cơ sở
để cơ quan THADS áp dụng những biện pháp cưỡng chế phù hợp đối với từng vụ việc cụ thể; kết quả xác minh tài sản là căn cứ để quyết định những hoạt động tiếp theo trong quá trình thi hành bản án, quyết định, góp phần đảm bảo cho các bản án, quyết định được thi hành trên thực tế, nâng cao chất lượng và hiệu lực xét xử
Để hoạt động xác minh điều kiện thi hành án đạt được kết quả chính xác, bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, vấn đề nâng cao trách nhiệm của chủ thể tiến hành xác minh tài sản thi hành án cũng rất quan trọng và cần thiết Do đó, bên cạnh quy định người được thi hành án phải cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành
án, pháp luật THADS Việt Nam còn quy định trách nhiệm của Chấp hành viên, Thừa phát lại trong việc xác minh địa chỉ, tài sản, thu nhập của người phải thi hành án
Dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, pháp luật về THADS đang ngày càng được chú trọng và hoàn thiện, công tác xác minh tài sản để thi hành
án từng bước được quy định đầy đủ và ngày càng chặt chẽ là cơ sở pháp lý cho hoạt động THADS; bên cạnh đó, đội ngũ Chấp hành viên làm công tác THADS đã rất nỗ lực cố gắng, dành hết nhiệt tình và tâm huyết cho công tác, thế nhưng vì nhiều lý do, kết quả công tác THADS vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện ở tỷ lệ thi hành án đạt thấp, số việc tồn đọng của các năm còn nhiều, có những việc kéo dài qua hàng chục năm vẫn chưa thi hành được từ đó gây ra những tác động trực tiếp đến chỉ tiêu công tác THADS của từng địa phương, của toàn ngành THADS và gây ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với hiệu quả, hiệu lực của bộ máy công quyền Một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến kết quả công tác THADS là hệ thống pháp luật về THADS nói chung và quy định về việc xác minh tài sản để THADS vẫn còn tồn tại một số
Trang 8bất cập dẫn tới việc hiểu và thực hiện những quy định này trên thực tế còn vướng mắc; các cá nhân, cơ quan, tổ chức nắm giữ tài sản của người phải thi hành án vẫn chưa hỗ trợ một cách đắc lực khiến hoạt động xác minh điều kiện THADS trở thành gánh nặng và gây bức xúc cho người được thi hành án; trong khi đó, ở Việt Nam, Nhà nước chưa quản lý được tài sản công dân nên vấn đề xác minh tài sản để THADS càng khó khăn, phức tạp, tốn nhiều thời gian, công sức, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tác nghiệp của Chấp hành viên, thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Với tình hình trên, tác giả chọn đề tài “Xác minh tài sản để thi hành án
dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ của mình
Với kết quả nghiên cứu này, tác giả mong muốn góp một đề xuất trong việc sửa đổi, bổ sung quy định về biện pháp xác minh tài sản để THADS đặt trong bối cảnh hoàn thiện pháp luật THADS để phát triển và hội nhập với thế giới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài trên một số công trình được các tác giả nghiên cứu:
- Hồ Quân Chính "Những vấn đề thực tiễn về xác minh, cung cấp thông
tin và hướng hoàn thiện”1 Trong bài viết của mình, tác giả đã phân tích về trách nhiệm của người được thi hành án đối với việc xác minh, cung cấp thông tin tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Mặc
dù, công trình đã chỉ ra những bất cập và đề xuất những kiến nghị song thời điểm công bố là khi chưa ban hành Luật THADS sửa đổi năm 2014 Hiện nay, biện pháp xác minh tài sản để thi hành án dân sự phát huy hiệu quả thì các văn bản hướng dẫn thi hành, cũng như các ngành luật khác có liên quan cần có những sửa đổi bổ sung phù hợp, tạo nên sự thống nhất, đồng bộ làm cơ
sở cho việc thi hành án và áp dụng pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân được thuận lợi, dễ dàng hơn
1
http://moj.gov.vn/ThiHanhAn/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemId=393 (truy cập ngày 28/8/2015)
Trang 9- Trần Hoàng Đoán (2010), “Cần xử lý triệt để hành vi chiếm lại đất sau
khi cưỡng chế thi hành án”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 05/2010, Hà
Nội, tr 23 – 27
- Phạm Văn Hưng (2010), “Về nghĩa vụ của người được thi hành án trong trường hợp cơ quan thi hành án tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng
chế”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 02/2010, Hà Nội, tr 46 – 47
- Nguyễn Thị Khanh (2010), “Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành
luật thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 05/2010, Hà Nội,
tr 13 - 16
- Nguyễn Văn Nghĩa (2009), “Thực hiện cải cách tư pháp trong lĩnh vực
thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 07/2009, Hà Nội, tr 33
– 41
- Phan Tấn Pháp (2009), “Về việc uỷ quyền thi hành án trong thi hành án
dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 08/2009, Hà Nội, tr 50 – 51
- Trần Đại Sỹ (2009), “Quy định về xác minh điều kiện thi hành án còn
bất cập”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 03/2009, Hà Nội,
tr 2 – 6
- Vũ Văn Tiếu (2008), “Một số ý kiến về xác định quyền sở hữu tài sản đối với người có liên quan khi thi hành án dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 10/2008, Hà Nội, tr 42 – 43
- Hoàng Quốc Vận (2010), “Xác minh thi hành án những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 03/2010, Hà Nội, tr 43 – 45
- Lương Thanh Tùng, “Xác minh điều kiện thi hành án theo Luật Thi
Trang 10là nội dung bắt buộc phải có trong đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án Nếu đơn yêu cầu thi hành án thiếu nội dung này, cơ quan Thi hành
án có thể căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 58/2009/NĐ - CP thông báo cho người được thi hành án bổ sung trước khi ra quyết định thi hành án Do đó, việc áp dụng quy định này trên thực tế dẫn đến những quan điểm khác nhau, cách áp dụng khác nhau
Trong phạm vi hiểu biết của tác giả, hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu về biện pháp xác minh tài sản để THADS theo pháp luật Việt Nam ở phạm vi Luận văn, nhất là sau khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014 Điều này cho phép tác giả
được khẳng định tính cấp thiết và quyết định chọn đề tài “Xác minh tài sản
để thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm Luận văn Cao học
Luật, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Xác minh điều kiện THADS là việc thu thập thông tin về tiền, tài khoản, tài sản (động sản, bất động sản) của tổ chức, cá nhân là người phải thi hành án
để tổ chức việc thi hành án Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến xác minh tài sản để THADS từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp để sửa đổi, bổ sung những quy định hiện hành nhằm hoàn thiện pháp luật về THADS liên quan đến xác minh tài sản để thi hành án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về xác minh tài sản để THADS theo quy định của pháp luật Việt Nam và từ đó có những đề xuất hoàn thiện pháp luật
- Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Trong phạm vi đề tài, Luận văn trình bày những vấn đề chung về xác minh tài sản để THADS theo pháp luật Việt Nam, thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hiện hành và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp;
để THADS, phục vụ cho việc hoàn thành Luận văn
6 Các vấn đề dự kiến giải quyết
- Phân tích làm rõ một số vấn đề pháp lý về thủ tục xác minh tài sản để THADS
- Chỉ ra một số bất cập trong quy định của pháp luật về xác minh tài sản
để THADS
- Đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật THADS phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước
7 Kết cấu Luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, Lời cam đoan, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục từ viết tắt, Luận văn gồm có 02 chương sau:
Chương I: Những vấn đề pháp lý về xác minh tài sản để thi hành án dân
sự trong pháp luật Việt Nam
Trang 12Chương II: Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác minh tài sản để thi hành
án dân sự theo pháp luật Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ XÁC MINH TÀI SẢN
ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động xác minh tài sản để thi hành
án dân sự
1.1.1 Khái niệm
- Khái niệm về Thi hành án dân sự
Khi cá nhân, tổ chức phát sinh tranh chấp và được Tòa án giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định dân sự; phán quyết của Tòa án chỉ là kết quả
về mặt pháp lý Để bảo vệ quyền lợi của mình trên thực tế, đương sự phải yêu cầu cơ quan Thi hành án thi hành bản án, quyết định của Tòa án Việc tổ chức
thi hành bản án, quyết định của Tòa án chính là hoạt động thi hành án
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa khoa học chính thống nào về
khái niệm THADS Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là: "thực hiện điều
đã chính thức quyết định" [55, tr 1559]; còn “án” có nghĩa là bản án, quyết
định giải quyết vụ án Từ đó, có thể hiểu thi hành án là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế
Theo tác giả, bản án, quyết định về dân sự của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước ban hành nhằm giải quyết các vấn đề trong
vụ án Chỉ khi bản án, quyết định được thi hành đầy đủ, kịp thời trên thực tế thì mới thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, sự tôn trọng của xã hội
và công dân đối với phán quyết của Tòa án, mặt khác thi hành bản án, quyết định cũng là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại Vì lẽ đó, tại Điều 106 Hiến pháp
năm 2013 đã quy định rõ: "Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu
lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành"
Trang 14Như vậy, THADS là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử, gắn liền với giai đoạn xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử để nhằm thực hiện mục tiêu chung của quá trình tố tụng là đảm bảo cho chân lý (được làm sáng
tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án) được thực hiện trên thực tế Hoạt động THADS do cơ quan THADS (hiện nay ở một số tỉnh, Thành phố có thêm Văn phòng Thừa phát lại) tiến hành trên cơ sở những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo cho các bên đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự được xác lập từ các bản án, quyết định của Tòa
án Hiểu theo nghĩa rộng, THADS là hoạt động của cơ quan THADS, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực
hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; theo nghĩa hẹp
thì THADS là hoạt động do cơ quan THADS tiến hành theo những trình tự, thủ tục pháp luật quy định, nhằm đưa các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu
lực thi hành của Toà án ra để thi hành
Từ những vấn đề trên, tác giả có thể khái niệm THADS như sau:
Thi hành án dân sự là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm
quyền trong cơ quan, tổ chức, tiến hành theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự trên thực tế (bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo quy định pháp luật) nhằm bảo vệ quyền lợi
của cá nhân, cơ quan, tổ chức; góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp
luật và pháp chế XHCN; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước
Để có căn cứ bảo đảm cho việc thi hành trên thực tế các bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan Thi hành án phải thực hiện những cách thức, những biện pháp theo những thủ tục nghiêm ngặt
do pháp luật THADS quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
Trang 15đương sự Một trong những biện pháp mà cơ quan THADS phải thực hiện chính là xác minh tài sản để thi hành án
- Khái niệm về xác minh tài sản để thi hành án dân sự
Xác minh là một động từ, có ý nghĩa là “làm cho rõ sự thật qua thực tế
và chứng cứ cụ thể”,3 như xác minh lý lịch, lời khai, xác minh tài sản
Xác minh tài sản để THADS là hoạt động của người có trách nhiệm nhằm truy tìm, xác định tài sản, bất động sản, tài sản hiện có của người phải thi hành án tại các tổ chức kinh tế - doanh nghiệp, tài sản tại Ngân hàng và các nguồn thu, các tài sản khác để làm căn cứ yêu cầu và giải quyết thi hành
án
Hiện nay trong lĩnh vực THADS đang tồn tại hai thuật ngữ “xác minh tài
sản để thi hành án” và “xác minh điều kiện để thi hành án” Cả hai thuật ngữ
này đều chỉ hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của những người
có thẩm quyền; thực hiện theo những thủ tục do pháp luật THADS; dù là hoạt
động “xác minh tài sản” hay “xác minh điều kiện thi hành án” thì kết quả của
xác minh đều được sử dụng vào việc xác định người phải thi hành án có đủ điều kiện để thi hành nghĩa vụ được ấn định trong bản án hay không, giúp cho
cơ quan THADS ra một quyết định kịp thời, đúng pháp luật, như trả đơn yêu cầu, hoãn thi hành án hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Nói cách khác, khái niệm “xác minh tài sản để thi hành án” và “xác minh điều kiện thi hành án” đều là hoạt động của Chấp hành viên hoặc Thừa phát lại trong việc truy tìm, xác định tài sản, bất động sản, tài sản hiện có của người phải thi hành án tại các tổ chức kinh tế - doanh nghiệp, tài sản tại Ngân hàng, các nguồn thu, các tài sản khác và những điều kiện khác để làm căn cứ giải quyết thi hành án
Về bản chất, thuật ngữ “xác minh tài sản để thi hành án” cũng chính là xác minh điều kiện thi hành án nhưng là xác minh điều kiện về tài sản; đây là
3
http://tratu.soha.vn/dict/vn : Tra từ-Soha
Trang 16hoạt động của Chấp hành viên trong việc làm rõ tình trạng về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án để xác định họ có đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ
về tài sản theo quyết định của bản án, quyết định được đưa ra thi hành hay
không, từ đó cơ quan THADS có những quyết định tiếp theo trong quá trình thi hành án
“Xác minh điều kiện thi hành án” cũng là hoạt động của Chấp hành viên trong việc làm rõ, xác định rõ các vấn đề về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, xác minh nhân thân và những điều kiện khác để thi hành nghĩa vụ không phải là tài sản (nghĩa vụ giao con cho người khác nuôi, nhận người lao động trở lại làm việc ) của người phải thi hành án để chứng minh điều kiện thực hiện nghĩa vụ đã được quyết định trong bản án, quyết định được đưa ra
thi hành Như vậy, khái niệm xác minh điều kiện thi hành án có phạm vi rộng hơn, bao trùm cả khái niệm xác minh tài sản để thi hành án
Vậy xác minh tài sản để THADS là hoạt động của những người có quyền
và nghĩa vụ (còn gọi là các chủ thể theo quy định pháp luật), thực hiện theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm thu thập tài liệu, chứng
cứ xác định tài sản, quyền về tài sản, các nguồn thu nhập của người phải thi hành án để làm căn cứ thi hành nghĩa vụ của họ đã được quyết định trong các
bản án, quyết định được đưa ra thi hành
1.1.2 Đặc điểm
Xác minh tài sản để thi hành án có một số đặc điểm sau đây:
- Xác minh tài sản để THADS là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể do
pháp luật quy định
Hoạt động xác minh tài sản để thi hành án phải do những người có quyền
và có trách nhiệm thi hành theo luật định Người có quyền và trách nhiệm xác minh phải thực hiện những công việc pháp luật cho phép (hoặc buộc phải làm) để xác minh tài sản thi hành án Quy định về chủ thể của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án của các quốc gia không giống nhau do mô hình tổ
Trang 17chức THADS các quốc gia có sự khác nhau Theo quy định của pháp luật THADS nước Cộng hòa Singapore, người được thi hành án, Chấp hành viên
là chủ thể của hoạt động xác minh điều kiện thi hành án; còn pháp luật của nước Cộng hòa Indonesia lại quy định Chấp hành viên là người chịu trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Chấp hành viên là người có thẩm quyền thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án và khi cần thiết thì Chấp hành viên có thể tổ chức cưỡng chế
Theo Luật THADS Việt Nam, người được thi hành án có thể tự mình xác minh hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện hành vi xác minh tài sản của người phải thi hành án4 để giảm thiểu áp lực công việc cho Chấp hành viên, giảm tải một phần công việc cho cơ quan THADS và góp phần bảo đảm cho hoạt động THADS đem lại hiệu quả cao hơn (tuy nhiên, Luật THADS không bắt buộc người được thi hành án phải xác minh điều kiện THADS) Chấp hành viên có trách nhiệm chủ động xác minh tài sản để thi hành án trong trường hợp thi hành án chủ động hoặc xác minh tài sản để thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự Khi thực hiện nhiệm vụ, Chấp hành viên có quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật5
Như vậy, xác minh tài sản để thi hành án là quyền và cũng là nghĩa vụ của các chủ thể theo quy định của pháp luật, tiến hành theo những biện pháp, cách thức do pháp luật quy định
- Xác minh tài sản để THADS phải được thực hiện khách quan, trung
thực
Xác minh tài sản để THADS là hoạt động của những người có thẩm quyền do pháp luật quy định (Chấp hành viên, Thừa phát lại, người được thi hành án ), tiến hành theo những trình tự, thủ tục, thời hạn, phạm vi mà pháp
Trang 18luật quy định để thu thập những tài liệu, chứng cứ nhằm xác định quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án cũng như các nguồn thu nhập của họ
Do kết quả xác minh tài sản để thi hành án là cơ sở pháp lý để làm phát sinh một số sự kiện pháp lý do cơ quan THADS thực hiện, cho nên hoạt động xác minh tài sản phải được tiến hành một cách khách quan, trung thực
Trong trường hợp người được thi hành án tự mình xác minh và cung cấp cho cơ quan THADS những thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, những thông tin này được sử dụng làm cơ sở để ra quyết định thi hành án, chính thức xác định trách nhiệm của cơ quan THADS trong việc thi hành bản án, quyết định theo đơn yêu cầu của đương sự; đồng thời, thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nếu chính xác, trung thực sẽ là cơ sở để xét miễn giảm phí thi hành án cho người được thi hành án6
Pháp luật THADS của Việt Nam quy định, trong trường hợp kết quả xác minh tài sản của đương sự không chính xác, cơ quan THADS phải xác minh lại; hoặc trường hợp đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà đương sự không tự giác chấp hành, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh tài sản để thi hành án Kết quả xác minh của Chấp hành viên là cơ sở để ra các quyết định mang tính chất giải quyết việc THADS như: Trả đơn yêu cầu (do đương
sự không có tài sản), áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án Nếu kết quả xác minh tài sản thi hành án không chính xác sẽ dẫn đến các quyết định sai, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác thi hành án, thiệt hại đến quyền lợi của các đương sự Vì vậy, yêu cầu của hoạt động xác minh tài sản để thi hành
Trang 19Xác minh tài sản để thi hành án là một thủ tục bắt buộc, có ý nghĩa rất quan trọng, được pháp luật THADS của các quốc gia quy định Xác minh tài sản để thi hành án không chỉ là một biện pháp nghiệp vụ đơn thuần mà còn là hoạt động chấp hành quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành án7 (mang tính chấp hành - điều hành); xác minh tài sản nghĩa là xem xét vấn đề tài sản, thu nhập của người phải thi hành án nhằm xác định điều kiện thực hiện nghĩa
vụ của người phải thi hành án đã được Tòa án xác định trong bản án, quyết định, trên cơ sở đó để buộc họ phải thực hiện Như vậy, xác minh tài sản để thi hành án cũng là hoạt động chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp do pháp luật quy định nhằm buộc người có nghĩa
vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình
Khi xác minh tài sản để thi hành án, Chấp hành viên phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo kết quả xác minh thực sự khách quan, chính xác để làm cơ sở cho hoạt động tiếp theo của cơ quan THADS Chính
vì vậy, hoạt động xác minh tài sản thi hành án nói riêng và hoạt động THADS nói chung vừa là hoạt động tố tụng lại vừa mang tính hành chính
Do đối tượng của hoạt động xác minh là tài sản, quyền về tài sản, các nguồn thu nhập của người phải thi hành án nên hoạt động xác minh tài sản rất nhạy cảm, phức tạp, thường gặp nhiều trở ngại cũng như sự đối phó, phản kháng thậm chí là chống đối quyết liệt của người phải thi hành án (như tẩu tán tài sản, bất hợp tác bằng cách đóng cửa, bỏ đi làm ăn xa, lăng mạ, sỉ nhục, vu khống Chấp hành viên, kích động gia đình, quần chúng nhân dân chống đối ), trong quá trình xác minh tài sản thi hành án có rất nhiều trường hợp đương sự gửi đơn khiếu nại, tố cáo, thậm chí vì động cơ cá nhân, lợi dụng khiếu nại, tố cáo để lăng nhục người thi hành công vụ, đòi hỏi chủ thể của
7
Quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan THADS
Trang 20hoạt động xác minh tài sản thi hành án phải nắm vững quy định pháp luật và phải có bản lĩnh trong công tác
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án dân sự
Để có những quyết định chính xác trong hoạt động THADS, cơ quan Thi hành án phải tiến hành thủ tục xác minh điều kiện thi hành án Xác minh tài sản để thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng để thi hành nghĩa vụ tài sản trong các bản án, quyết định, thể hiện qua một số vấn đề sau đây:
- Kết quả của việc xác minh tài sản là căn cứ pháp lý cho phép xác định người phải thi hành án có hay không có điều kiện thi hành án; xác định bản
án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành có điều kiện hay không có điều kiện thi hành để tiếp tục thực hiện các thủ tục thi hành án tiếp theo để giải quyết việc thi hành án, góp phần đảm bảo cho bản án, quyết định được thi hành trên thực tế; xác minh điều kiện thi hành án cũng là bước kiểm nghiệm thực tiễn quá trình giải quyết vụ án, phát hiện những sai sót trong bản án, quyết định dân sự, yêu cầu đính chính, kháng nghị theo quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu lực xét xử
Như vậy, hoạt động xác minh tài sản để thi hành án có vai trò trực tiếp quyết định đến hiệu quả công tác thi hành án nói chung và đặc biệt là trong công tác cưỡng chế thi hành án; kết quả xác minh tài sản để thi hành án là cơ
sở để Chấp hành viên thực hiện việc động viên, giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án; trường hợp người phải thi hành án cố tình trốn tránh trách nhiệm, không tự nguyện thi hành nghĩa vụ thì phải quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế Kết quả xác minh tài sản để thi hành án cũng là cơ sở để cơ quan THADS ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án hoặc hoãn thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không có thu nhập, không có tài sản, tài sản không có giá trị hay tài sản thuộc loại không được kê biên, không bán
Trang 21được Vì ý nghĩa quan trọng của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án, Luật THADS quy định việc cung cấp chính xác thông tin, điều kiện thi hành
án của người phải thi hành án cho cơ quan THADS là một trong những căn cứ
để xem xét miễn giảm phí thi hành án cho người được thi hành án
- Kết quả xác minh tài sản để thi hành án còn là cơ sở để giải quyết khiếu nại, tố cáo của đương sự trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án
THADS là lĩnh vực rất nhạy cảm vì liên quan đến quyền tài sản của đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hoạt động THADS), do vậy mọi hoạt động của cơ quan THADS đều có thể bị khiếu nại, tố cáo Để kết quả giải quyết khiếu nại,
tố cáo thuyết phục được đương sự, bên cạnh việc dẫn chiếu các văn bản pháp luật hiện hành, cơ quan THADS còn phải dựa vào kết quả xác minh tài sản để thi hành án nhằm chứng minh cho các hoạt động của cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành bản án, quyết định là có căn cứ và thực sự khách quan
- Xác minh tài sản để thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của
cơ quan THADS, đây cũng chính là sự kết hợp giữa vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương và những người có thẩm quyền, là sự phối hợp chặt chẽ giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án, trên cơ sở đó giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, củng cố lòng tin của nhân dân với Nhà nước
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác minh tài sản
Trang 22chính thức có hiệu lực pháp lý cao, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Chức năng thi hành các bản án, quyết định chưa giao ổn định cho một chức danh cụ thể, trước hết là giao cho Thừa phát lại và Tư pháp xã, sau đó là Thẩm phán Tòa án, nhân viên Chấp hành án và sau này là Chấp hành viên8
Do quy định về THADS thời kỳ này chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế nên quy định về xác minh tài sản để thi hành án vẫn chưa được quy định bằng điều luật cụ thể trong các văn bản pháp luật Tuy nhiên, Thừa phát lại và Chấp hành viên, Thẩm phán vẫn phải có trách nhiệm xác minh tài sản để thi hành các bản án theo yêu cầu của đương sự và tiến hành các biện pháp cưỡng chế Pháp lệnh THADS quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ về thủ tục thi hành án, thời hạn thực hiện các hoạt động thi hành án, xác minh tài sản vẫn là trách nhiệm của Chấp hành viên mặc dù quy định về xác minh điều kiện thi hành án vẫn chưa được ghi nhận bằng điều khoản cụ thể Chỉ đến khi Luật THADS năm 2008 ra đời và được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì xác minh tài sản để thi hành án mới được quy định rõ ràng, đầy đủ làm cơ sở cho việc THADS
1.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xác minh tài sản để thi hành án dân sự
1.2.2.1 Chủ thể xác minh trong thi hành án dân sự
Dưới góc độ khoa học pháp lý, chủ thể của quan hệ pháp luật được hiểu
là các tổ chức, cá nhân đáp ứng được các điều kiện do Nhà nước quy định cho mỗi loại quan hệ và tham gia vào quan hệ đó Như vậy, chủ thể của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án là cá nhân, tổ chức có thẩm quyền do pháp luật quy định, tiến hành việc xác minh tài sản để thi hành án theo những trình
nếu những đạo luật ấy “không trái với các nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể
Trang 23Theo pháp luật THADS của Cộng hòa Singapore, Tòa án đảm nhiệm việc tổ chức THADS Ở mỗi Tòa án có bộ phận thi hành án (Chấp hành viên) Người được thi hành án muốn được thi hành án phải có đơn yêu cầu thi hành
án gửi Toà án và phải trực tiếp chỉ cho nhân viên thi hành án những tài sản
mà người phải thi hành án phải trả cho người được thi hành án, hoặc trong trường hợp thi hành các bản án về trả tiền thì chỉ cho nhân viên thi hành án những tài sản của người phải thi hành án để nhân viên thi hành án kiểm kê, dán niêm phong hoặc chuyển giao tài sản cho người khác giữ
Tại Vương quốc Bỉ, pháp luật THADS quy định người được thi hành án
có quyền tự xác minh tài sản thi hành án, Thừa phát lại có trách nhiệm xác
minh tài sản để thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án:“Thừa
phát lại có quyền truy cập thông tin và nhiều cơ sở dữ liệu với lý do các thẩm quyền khác nhau của mình, chủ nợ có thể liên hệ với họ để tiến hành xác minh khả năng thi hành án của con nợ Trong phạm vi này, Thừa phát lại có thể xác minh việc anh ta sở hữu các tài sản mà chủ nợ có thể thu hồi được Bằng cách này, chủ nợ có thể dùng một quyết định có trách nhiệm với chi phí thấp hơn thay vì tự mình đi tìm nguồn tài sản của người phải thi hành án” 9
Theo pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga, Cục Thi hành án Liên bang được tổ chức theo Luật Liên bang về Chấp hành viên Tòa án ngày 21/7/1997
và Quy chế Cục Thi hành án Liên bang được phê chuẩn theo Sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga ngày 13/10/2004 (đã được sửa đổi, bổ sung) Cục Thi hành án Liên bang do Chấp hành viên trưởng Liên bang Nga đứng đầu, có nhiệm vụ thi hành văn bản thi hành án, áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác theo quy định của pháp luật và quyết định thi hành án; tổ chức việc kê biên và bán tài sản kê biên; truy tìm con nợ và tài sản của họ Cục Thi hành án Liên bang có quyền yêu cầu các cơ quan quyền lực nhà nước Liên bang, các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể thuộc Liên bang Nga, các cơ quan
9
Theo bản lược dịch của Luật Phạm Nguyên – website: http://vanphongthuaphatlai.com.vn/vn
Trang 24tự quản địa phương và các tổ chức bất kể có hình thức tổ chức về pháp lý như thế nào cung cấp (cũng như nhận lại) chứng từ, tài liệu, hồ sơ khác cần thiết
để giúp quyết định các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình
Tại các quốc gia như Pháp, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Thừa phát lại là chủ thể của hoạt động xác minh điều kiện thi hành án10 Ở những nước có mô hình THADS công (Thụy Điển, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Mỹ) và phần lớn các nước trong Cộng đồng chung châu Âu (Đức, Thuỵ Điển) thì Chấp hành viên là chủ thể của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án
Như vậy, pháp luật THADS của các quốc gia đều quy định trách nhiệm xác minh tài sản để thi hành án cho các chủ thể nhất định
Theo quy định của pháp luật THADS11 Việt Nam, chủ thể của hoạt động xác minh điều kiện thi hành án là Chấp hành viên và Thừa phát lại; người
được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh
điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan THADS
Tại Điều 7 Luật THADS quy định, người được thi hành án có quyền tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan THADS hoặc gửi đơn qua bưu điện; khi nộp đơn yêu cầu thi hành án, người yêu cầu thi hành án
phải “cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải
thi hành án”12 (nếu có); ngoài ra, khi cơ quan THADS trả lại đơn yêu cầu, người được thi hành án phải theo dõi, phát hiện tài sản của người phải thi hành án để yêu cầu trở lại
Trang 25Mặc dù Luật THADS hiện hành không quy định nghĩa vụ của người được thi hành án phải cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án
của người phải thi hành án nhưng việc cung cấp thông tin, điều kiện thi hành
án của người phải thi hành án cho cơ quan THADS lại được coi là cơ sở xét miễn giảm phí thi hành án theo Luật THADS Để có được thông tin về tài sản
và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, người được thi hành án
có quyền “tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành
án của người phải thi hành án 13
Tuy nhiên, do việc tìm kiếm, thu thập thông tin về tiền, tài sản của người phải thi hành án rất khó khăn và trong nhiều trường hợp là không thể thực hiện được, pháp luật quy định cho người dược thi hành án có quyền yêu cầu Chấp hành viên hoặc Thừa phát lại tiến hành “thu thập thông tin về tiền, tài sản” của người phải thi hành án theo Điều 41 Luật THADS và các Điều 30,
31 Nghị định tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thí điểm14
Với tư cách là chủ thể của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án, Chấp hành viên có quyền và nghĩa vụ xác minh tài sản để thi hành các bản án, quyết định sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành; xác minh tài sản để thi hành án theo yêu cầu của đương sự; xác minh tài sản theo định kỳ trong trường hợp việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành và xác minh tài sản để thi hành án trong trường hợp có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành
án do đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khác cung cấp Ngoài ra, trong các
trường hợp “thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và
người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của VKSND” Chấp
hành viên phải tiến hành xác minh lại theo quy định tại Điều 44 Luật THADS,
Trang 26Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chỉnh phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS
Cụ thể, Chấp hành viên có quyền và trách nhiệm:
- “Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án”15
- “Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì
ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ
02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần”16
Thừa phát lại cũng được xác định là chủ thể của hoạt động xác minh tài sản để THADS Pháp luật THADS quy định cho Thừa phát lại có quyền tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án (trừ các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án) theo yêu cầu của đương sự, do vậy, Thừa phát lại có quyền và trách nhiệm xác minh tài sản để thi hành án trong các trường hợp:
- Khi đương sự yêu cầu xác minh (để cung cấp thông tin cho cơ quan Thi hành án hoặc để yêu cầu cơ quan THADS tiếp tục thi hành án);
- Khi Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự thì Thừa phát lại phải xác minh để thi hành án
Các trường hợp trên, đương sự đều ký hợp đồng dịch vụ với Văn phòng Thừa phát lại
Trang 27Khi thực hiện việc xác minh, Thừa phát lại có quyền “xác minh ngoài
địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản tại địa phương đó” 17
Quy định về chủ thể xác minh tài sản của pháp luật THADS Việt Nam là hợp lý, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đương sự, vừa động viên, khuyến khích người được thi hành án trong việc cung cấp chính xác, thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án cho cơ quan THADS; mặt khác, với
việc thực hiện thí điểm Thừa phát lại đã tạo thêm một công cụ pháp lý để
người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi yêu cầu thi hành
án, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về “xã hội hóa” hoạt động
thi hành án theo xu thế của thời đại
Trên thực tế, tài sản và nguồn thu nhập của người phải thi hành án là rất khó xác định, như trường hợp tài sản thuộc loại phải đăng ký (nhà, đất, xe ô tô ) được chuyển dịch cho người phải thi hành án trước khi có bản án, quyết định nhưng họ cố tình không đăng ký (hoặc để cho người khác đứng tên đăng ký) nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án nên chủ thể xác minh rất khó thu thập chứng cứ để xác định tài sản của người phải thi hành án Trong khi đó,
Luật THADS quy định người được thi hành án có quyền “Tự mình hoặc ủy
quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án” và “được miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án” (Điều 7), tuy nhiên Luật THADS không quy định các biện
pháp cụ thể người được thi hành án có quyền áp dụng để thu thập thông tin về tài sản của người phải thi hành án, đồng thời Luật cũng không quy định chế tài mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án phải chịu trong trường hợp không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không chính xác về nội dung, không
17
Điều 30 Nghị định về thí điểm Thừa phát lại
Trang 28đảm bảo về thời hạn pháp luật quy định cho người được thi hành án hoặc người được người thi hành án ủy quyền, do đó quy định của pháp luật về
quyền xác minh, cung cấp thông tin của người được thi hành án là không có
tính khả thi trên thực tế, vì người được thi hành án không thực hiện được quyền của mình
1.2.2.2 Đối tượng xác minh tài sản để thi hành án dân sự
Bởi mục đích của hoạt động xác minh tài sản để thi hành án chính là xác định người phải thi hành án có đủ điều kiện (về tài sản) để đảm bảo thi hành nghĩa vụ được quyết định trong các bản án, quyết định, do vậy đối tượng của hoạt động xác minh tài sản để THADS chính là tài sản và thu nhập của người phải thi hành án Tài sản để thi hành án có thể là bất động sản, động sản, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, các nguồn thu nhập hợp pháp, vốn góp, quyền
sở hữu trí tuệ, thậm chí là tài sản hình thành trong tương lai do vậy việc xác minh đối với các loại tài sản phải tuân theo những trình tự, thủ tục rất chặt chẽ nhằm thu thập các tài liệu, chứng cứ để xác định được tài sản đó thuộc sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng (đối với đất đai) của người phải thi hành án hoặc tài sản chung của người phải thi hành án với người khác
Tại khoản 4 Điều 44 Luật THADS quy định, Chấp hành viên khi xác
minh điều kiện thi hành án phải “xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều
kiện khác để thi hành án; đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó
Trường hợp người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức thì Chấp hành viên trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản; xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải thi hành án”
Để thực hiện được các quy định trên, Chấp hành viên phải yêu cầu người
phải thi hành án tự kê khai tài sản của họ một cách trung thực, “nêu rõ loại, số
Trang 29lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập”18 và buộc họ phải chịu trách nhiệm về việc kê khai tài sản; Chấp hành viên phải yêu cầu sự phối hợp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến tài sản của người phải thi hành án cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án Như vậy, đối tượng của việc xác minh tài sản để thi hành án là thông tin
về tài sản và quyền về tài sản của người phải thi hành án như các khoản tiền,
số dư tài khoản, tài sản (bất động sản, động sản), các quyền về tài sản; nguồn thu nhập của người phải thi hành án; khi làm rõ những vấn đề này, Chấp hành viên đã giải quyết được vấn đề: Việc thi hành án này có điều kiện để thi hành không, nếu có thì gồm những tài sản nào, ở đâu, có được quyền kê biên hay không ?
Hiện nay việc xác minh tài sản để thi hành án còn gặp khó khăn trong việc xác định tài sản (chung hoặc riêng) là quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án và cơ sở để định giá loại tài sản này Do việc định giá tài sản
về quyền sở hữu trí tuệ còn đang thiếu các quy định của pháp luật và thực tiễn, dẫn tới việc định giá không đúng với giá trị thực tế của nó trong quá trình thi hành án
1.2.2.3 Thủ tục xác minh tài sản để thi hành án dân sự
Các Pháp lệnh THADS trước đây không quy định về thủ tục xác minh tài sản để thi hành án, chỉ có Luật THADS năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật THADS năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới quy định, hướng dẫn đầy đủ, cụ thể về thủ tục xác minh tài sản để thi hành án
a Về điều kiện xác minh tài sản để thi hành án
Tại Điều 44 Luật THADS năm 2008 quy định xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án là trách nhiệm
18
Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP
Trang 30của Chấp hành viên Người được thi hành án có trách nhiệm phải cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án khi làm đơn yêu cầu thi hành án Trường hợp người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh
Thực tế công tác THADS những năm qua cho thấy, việc xác minh tài sản
để thi hành án do người được thi hành án thực hiện là hầu như không có kết quả, việc cung cấp tài liệu chứng minh đã thực hiện việc xác minh lại càng khó; Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS đã sửa đổi Điều 44, bỏ quy định người được thi hành án phải cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án khi yêu cầu thi hành án Luật quy định trách nhiệm xác minh tài sản để thi hành án thuộc về Chấp hành viên, người được thi hành án không cần thiết phải làm đơn yêu cầu và không phải nộp chi phí xác minh tài sản để THADS
Điều kiện để Thừa phát lại xác minh tài sản thi hành án là sự thỏa thuận của người được thi hành án với Trưởng Văn phòng Thừa phát lại về nội dung cần xác minh, thời gian xác minh, quyền, nghĩa vụ của các bên, chi phí xác minh và thỏa thuận khác (nếu có)19
b Về phạm vi và thời hạn xác minh tài sản để thi hành án
Phạm vi xác minh tài sản để thi hành án là khoảng giới hạn của việc xác
minh tài sản để thi hành án; có thể hiểu phạm vi xác minh tài sản để thi hành
án là các tài sản, các nguồn thu nhập thuộc sở hữu của người phải thi hành án Các loại tài sản và nguồn thu nhập của người phải thi hành án được quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ- CP dưới hình thức liệt kê những tài sản, nguồn thu nhập mà người phải thi hành án phải tự kê khai khi Chấp
19
Điều 33 Nghị định thí điểm về Thừa phát lại
Trang 31hành viên xác minh tài sản để thi hành án: “Khi tiến hành xác minh, Chấp
hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án ” Tuy nhiên, trong mỗi
việc thi hành án, điều kiện về tài sản và nguồn thu nhập của người phải thi hành án là không giống nhau, do vậy, chủ thể xác minh phải xem xét đương
sự có tài sản gì, nguồn thu nhập nào để có thể lập kế hoạch về thời gian, địa điểm xác minh, những người có liên quan đến tài sản của người phải thi hành
án cần xác minh để kế hoạch vừa phù hợp quy định của pháp luật, vừa đạt hiệu quả cao trong công tác
Thời hạn xác minh tài sản để thi hành án đã được quy định tương đối đầy
đủ, cụ thể tại khoản 1 Điều 44 Luật THADS và Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ
– CP Thời hạn xác minh được bắt đầu trong “thời hạn 10 ngày, kể từ ngày
hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay” 20 Trường hợp kết quả xác minh
của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của VKSND thì phải xác minh lại Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương
sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của VKSND Trong trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án theo đúng trình tự, thủ tục quy định theo điểm a khoản 4 Điều 44 Luật THADS
Mặc dù quy định về thời hạn xác minh đã rõ ràng, cụ thể tuy nhiên thực
tế Chấp hành viên thường vi phạm quy định về thời hạn xác minh dẫn đến việc thi hành án tồn đọng kéo dài hoặc phân loại việc không đúng Vi phạm này VKSND đã kháng nghị, kiến nghị nhiều nhưng cơ quan THADS chưa khắc phục được
20
Điều 44 Luật THADS
Trang 32c Về biện pháp, cách thức xác minh
Việc xác minh tài sản để thi hành án có thể được thực hiện bằng cách trực tiếp xác minh hoặc được thực hiện bằng văn bản hoặc ủy quyền xác
minh Trường hợp xác minh trực tiếp, Chấp hành viên phải “xuất trình thẻ
Chấp hành viên” 21; trực tiếp yêu cầu người phải thi hành án phải tự kê khai trung thực về tài sản, nguồn thu nhập; lập biên bản xác minh nêu rõ việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án Chấp hành viên cũng có quyền trực tiếp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin về tài sản, nguồn thu nhập, tài khoản của người phải thi hành án
Trường hợp xác minh bằng văn bản, Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp
hành viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án; cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm
xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án để thực hiện việc THADS theo quy định tại Điều 4 TTLT số 02/2014/TTLT- BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THADS (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02/2014)
Theo khoản 4 Điều 44 Luật THADS thì “văn bản yêu cầu xác minh phải
nêu rõ nội dung xác minh và các thông tin cần thiết khác”; quy định này đã
được hướng dẫn chi tiết tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/201422
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác minh tài sản của Chấp hành viên,
tại Điều 9 Thông tư liên tịch số 02/2014 quy định cụ thể “Tổng Giám đốc,
21
Điểm a khoản 4 Điều 44 Luật THADS
22
Theo Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2014, văn bản yêu cầu cung cấp thông tin do người có thẩm quyền
và phải có đầy đủ các nội dung sau đây: Lý do cần cung cấp thông tin; các thông tin cần cung cấp, thời hạn
cung cấp thông tin; địa điểm cung cấp thông tin; mục đích sử dụng thông tin
Trang 33Giám đốc, người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án; cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải THADS nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác” có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin và phải
cung cấp thông tin “trung thực, chính xác” cho cơ quan THADS
Để ngăn chặn các hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án và các tổ chức, cá nhân có liên quan, pháp luật THADS quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin phải giữ bí mật về việc cung cấp thông tin và nội dung thông tin cung cấp
Trường hợp người phải thi hành án có cùng nơi cư trú với người được thi hành án, nhưng tài sản của người phải thi hành án có ở địa phương khác cách
xa hàng trăm cây số hoặc người phải thi hành án làm việc và có nguồn thu nhập ở nơi khác, do vậy cơ quan THADS có thể ủy quyền cho cơ quan THADS nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án
Thủ tục ủy quyền xác minh được quy định chặt chẽ, cơ quan THADS ủy quyền xác minh phải làm văn bản, nêu rõ bên ủy quyền, bên nhận ủy quyền, nội dung ủy quyền và nội dung cần thiết khác Cơ quan THADS nơi được ủy quyền cũng phải trả lời bằng văn bản kết quả xác minh và những nội dung cần thiết khác cho cơ quan THADS đã ủy quyền xác minh trong thời hạn quy định
tại Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ- CP
Về thời hạn cung cấp thông tin, Thông tư liên tịch số 02/2014 quy định trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền, trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thì việc cung cấp thông tin được thực hiện
ngay sau khi nhận được yêu cầu
Trang 34Thủ tục xác minh tài sản để thi hành án của Thừa phát lại được quy định tại Điều 31 Nghị định về thí điểm Thừa phát lại Trên cơ sở yêu cầu và thỏa thuận xác minh về điều kiện thi hành án, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại ra quyết định xác minh, ghi rõ căn cứ, nội dung xác minh và ghi vào sổ thụ lý Thừa phát lại có quyền tiến hành việc xác minh tài sản bằng cách gửi văn bản yêu cầu cung cấp thông tin hoặc xác minh trực tiếp23 Khi trực tiếp xác minh, Thừa phát lại xuất trình thẻ Thừa phát lại, công bố quyết định và phải lập biên bản về việc xác minh Trong trường hợp cần thiết, Thừa phát lại
có quyền mời cơ quan chuyên môn hoặc chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh
Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT- NHNNVN ngày 17/01/2014 về hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành
BTP-án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 03/2014), Thừa phát lại có thể trực tiếp xác minh tại các tổ chức tín dụng hoặc làm văn bản yêu cầu tổ chức tín dụng cung cấp thông tin về số dư tài khoản,
tiền gửi, tài sản gửi của người phải thi hành án “là khách hàng tại các tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trong thời gian thực hiện thí điểm” Các cơ quan, tổ chức liên quan đến hoạt động xác minh
tài sản như Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan đăng ký tài sản khác
và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện yêu cầu của Thừa
phát lại về xác minh 24điều kiện thi hành án và chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đã cung cấp
Việc xác minh tài sản để thi hành án được thực hiện đối với vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh, thành
23 Khoản 2 Điều 5 Nghị định về thí điểm Thừa phát lại quy định: “Khi thực hiện công việc về THADS, Thừa
phát lại có quyền như Chấp hành viên quy định tại Điều 20 của Luật THADS, trừ khoản 9, khoản 10 và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”
24
Điều 3 Thông tư liên tịch số 03/2014
Trang 35phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại hoặc “xác minh
điều kiện thi hành án ngoài địa bàn quy định tại điểm a khoản này trong trường hợp người có nghĩa vụ thi hành án có tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi tại các tổ chức tín dụng ở địa phương đó”25
Trường hợp xác minh bằng văn bản, pháp luật THADS quy định văn bản xác minh phải có những nội dung cụ thể đã được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/2014 Văn bản yêu cầu cung cấp thông tin kèm theo các tài liệu liên quan được gửi cho tổ chức tín dụng, đồng thời gửi Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, VKSND cấp huyện nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại
Trường hợp trực tiếp xác minh, Thừa phát lại phải xuất trình Giấy giới thiệu của Văn phòng Thừa phát lại, thẻ Thừa phát lại kèm theo các tài liệu liên quan và phải công bố quyết định xác minh hoặc quyết định thi hành án trong trường hợp Văn phòng Thừa phát lại trực tiếp tổ chức thi hành án; việc
xác minh trực tiếp phải lập biên bản xác minh có đầy đủ chữ ký của Thừa phát lại, người cung cấp thông tin, xác nhận của tổ chức tín dụng
Về trách nhiệm cung cấp thông tin và sử dụng thông tin, Thông tư liện
tịch số 03/2014 quy định người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng có
trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu của Thừa phát lại thông qua biên bản xác minh (trong trường hợp xác minh trực tiếp) hoặc bằng văn bản cung cấp thông tin trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản
yêu cầu cung cấp thông tin; Thông tư này cũng quy định: “Thông tin cung cấp
chỉ được sử dụng cho mục đích thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được bảo quản theo chế độ mật
Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại, người yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án và các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm bảo mật
Trang 36
thông tin được cung cấp và sử dụng đúng mục đích kết quả xác minh theo quy định của pháp luật” 26
Từ những quy định trên cho thấy, pháp luật về THADS hiện chỉ mới quy
định chế tài, biện pháp xử lý đối với “cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản
của người phải thi hành án; cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án dân sự nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác”27 về trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án mà chưa quy định chế tài, biện pháp xử lý cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức khác như văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong việc cung cấp thông tin về tài sản và thu nhập của người phải thi hành án (chỉ mới quy định trách nhiệm trước pháp luật theo Điều 44 Luật THADS) Vấn đề này đã gây khó khăn cho Chấp hành viên trong quá trình xác minh tài sản của người phải thi hành án
Tóm lại, xác minh tài sản để thi hành án là hoạt động rất cần thiết trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự Luật THADS đã quy định tương đối rõ ràng, đầy đủ về thủ tục xác minh tài sản để thi hành án nhằm tạo điều kiện cho hoạt động này được thực hiện có hiệu quả Trong quá trình xác minh tài sản, Chấp hành viên phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; người phải thi hành án, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân thủ quy định của pháp luật về xác minh điều kiện THADS
1.2.3 Giải quyết khiếu nại liên quan đến xác minh tài sản để thi hành án dân sự
26
Điều 4 Thông tư liện tịch số 03/2014
27 Trích Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT – BTP- TC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/1/2014 về Hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THADS
Trang 37Khiếu nại về xác minh tài sản để thi hành án là sự phản ứng của đương
sự đối với các quyết định, hành vi của Chấp hành viên, cơ quan THADS khi
họ có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi về xác minh tài sản để thi hành
án là trái pháp luật, gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của họ
Giải quyết khiếu nại liên quan đến xác minh tài sản là trách nhiệm của
cơ quan THADS theo quy định của Luật THADS (Điều 142) để kiểm tra, xác
minh, kết luận về tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định, hành vi liên quan đến xác minh tài sản bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Nguyên nhân dẫn tới khiếu nại trong việc xác minh tài sản để thi hành án chủ yếu do việc xác minh tài sản tác động trực tiếp đến tài sản, các quyền về tài sản, các nguồn thu nhập của người phải thi hành án, do vậy người phải thi hành án có sự bức xúc, cố tình chống đối như tẩu tán tài sản, kê khai tài sản, nguồn thu nhập thiếu trung thực hoặc làm đơn khiếu nại không đúng sự thật
để kéo dài thời gian thi hành; bên cạnh đó, nhiều bản án, quyết định của Tòa
án tuyên không rõ, có sai sót, không có tính khả thi, cơ quan Thi hành án đã
đề nghị giải thích, đính chính hay xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm nhưng chậm được đáp ứng dẫn tới bản án, quyết định bị chậm thi hành hoặc không thể thi hành được, đây là lý do để đương sự có đơn yêu cầu, khiếu nại đề gửi nhiều nơi, vượt cấp Mặt khác, nhiều trường hợp Chấp hành viên cũng có vi phạm, thiếu sót trong quá trình xác minh tài sản để thi hành án; một số quy định của pháp luật còn bất cập dẫn tới việc áp dụng quy định pháp luật về xác minh tài sản để thi hành án vẫn còn lúng túng Những nguyên nhân này dẫn đến việc khiếu nại của đương sự về xác minh tài sản để thi hành án là tương đối phổ biến, phức tạp Vì vậy, Luật THADS đã dành riêng một Mục tại Chương VI để quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết
Trang 38khiếu nại, tố cáo về THADS nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo về xác minh tài sản để thi hành án
a Chủ thể khiếu nại
Theo Luật THADS, chủ thể khiếu nại là người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án28 Đối tượng khiếu nại là các quyết định, hành vi liên quan đến việc xác minh tài sản để thi hành án, bao gồm: Hành vi trực tiếp xác minh tài sản tại nơi ở của người thi hành án hoặc tại các tổ chức tín dụng, văn bản yêu cầu cung cấp thông tin tài sản về thi hành án, quyết định tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản và một số quyết định khác liên quan đến xác minh tài sản để thi hành án
b Quyền và trách nhiệm của người khiếu nại
Để đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền khiếu nại và xác định trách nhiệm của người khiếu nại, ngăn chặn hành vi lợi dụng khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp tổ chức và công dân, pháp luật quy định người khiếu nại có các quyền như: Tự mình (trực tiếp khiếu nại hoặc làm đơn khiếu nại) hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại; có thể nhờ Luật sư giúp đỡ trong quá trình giải quyết khiếu nại; được nhận Quyết định giải quyết khiếu nại (QĐGQ); được biết các bằng chứng là căn cứ giải quyết khiếu nại, được đưa ra bằng chứng và giải trình cơ sở khiếu nại; được khiếu nại tiếp nếu không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các quyền khác
Người khiếu nại cũng có trách nhiệm “trình bày trung thực sự việc, cung
cấp thông tin, tài liệu cho người GQKN; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu đó; chấp hành nghiêm chỉnh Quyết định GQKN có hiệu lực thi hành” 29
c Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại