1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong pháp luật việt nam

41 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 865,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của các phương pháp khoa học, cũng như nhu cầu của các chủ thể áp dụng phương pháp khoa học đã khiến cho quy định về xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ

Trang 1

BÁO CÁO TÓM TẮT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON ĐƯỢC SINH RA

BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: ThS Ngô Thị Anh Vân Thành viên đề tài: ThS Nguyễn Nhật Thanh

TP HỒ CHÍ MINH – 2018

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm của sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 5

1.1.1 Khái niệm về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 5

1.1.2 Đặc điểm của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 5

1.2 Ý nghĩa của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 7

1.3 Cơ sở hình thành và phát triển các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 9

1.3.1 Cơ sở khoa học 9

1.3.2 Cơ sở hạ tầng - xã hội 9

1.3.3 Cơ sở pháp lý 10

1.4 Nguyên tắc thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 10

1.4.1 Nguyên tắc tự nguyện 10

1.4.2 Nguyên tắc bảo mật thông tin 10

1.4.3 Nguyên tắc tuân thủ quy trình kỹ thuật 11

1.5 Các trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 11

1.5.1 Thụ tinh nhân tạo 11

1.5.2 Thụ tinh trong ống nghiệm 12

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 14

Chương 2 NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON ĐƯỢC SINH RA BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 15

2.1 Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật hiện hành 15

2.1.1 Đối tượng áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 15

2.1.2 Trường hợp biện pháp hỗ trợ sinh sản được áp dụng với người phụ nữ độc thân hoặc cặp vợ chồng vô sinh khi người phụ nữ có khả năng mang thai và sinh con 15

Trang 5

2.1.3 Trường hợp hỗ trợ sinh sản đối với cặp vợ chồng vô sinh khi người vợ không có khả năng mang thai và sinh con 16

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 18

2.2.1 Xác định quan hệ cha, mẹ - con trong trường hợp mang thai hộ 18 2.2.2 Vấn đề xác định cha cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản sau 300 ngày kể từ ngày người chồng chết 26 2.2.3 Xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thông qua sự thoả thuận 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 34 KẾT LUẬN 35

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ có thể phát huy hết ý nghĩa nếu như dưới góc độ pháp lý, quan hệ giữa người áp dụng kỹ thuật và trẻ sinh ra được thừa nhận Xác định quan hệ cha, mẹ - con vì thế luôn là nội dung quan trọng, tạo tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể sau đó (đặc biệt là với người con) Sự phát triển của các phương pháp khoa học, cũng như nhu cầu của các chủ thể áp dụng phương pháp khoa học đã khiến cho quy định về xác định cha, mẹ cho con được sinh

ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã không còn đáp ứng được một số vấn đề mà thực tiễn đặt ra Xuất phát từ sự quan tâm đối với một vấn đề phức tạp, đan xen giữa yếu tố khoa

học, đạo đức và pháp lý, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “Xác định cha, mẹ cho con

được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong pháp luật Việt Nam” để tìm hiểu và

báo cáo trong hoạt động nghiên cứu khoa học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu trong nước

Sự ra đời của Luật HN&GĐ năm 2000 đã mang đến các quy định mới về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Điều này đã nhận được sự quan tâm của các học giả Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

- Vũ Ngọc Huy (2017), “Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội Tác giả Vũ Ngọc Huy

- Phan Thị Lan Anh (2017), “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh

trùng từ ngân hàng tinh trùng theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, Đại học

quốc gia Hà Nội

- Hoàng Thị Thu Hằng (2017), “Pháp luật Việt Nam về sinh con bằng kỹ thuật

thụ tinh trong ống nghiệm”, Luận văn thạc sỹ, Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 8

- Trương Hồng Quang (2015), “Tìm hiểu quy định về sinh con bằng kỹ thuật

thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội

- Lê Thị Kim Chung (2004), “Những vấn đề nảy sinh từ quy định về xác định

cha, mẹ cho con sinh ra nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật,

số 9 (150)/ 2004; Nguyễn Hồ Bích Hằng – Ngô Thị Anh Vân (2015), “Một số góp ý về người thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự - Bàn về tư cách hưởng thừa kế của

người được thành thai và sinh ra sau thời điểm mở thừa kế”, Tạp chí Khoa học pháp lý,

số 5/2015; Ngô Thị Anh Vân (2017), “Xác định quan hệ cha mẹ, con khi có sự vi phạm

pháp luật về mang thai hộ và xử lý hậu quả”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 13/

2017

- Nguyễn Quế Anh (2015), “Quy định về mang thai hộ - một nội dung mới

trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Số 08/ 2015; Nguyễn Văn Cừ (2016), “Pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam”, Tạp chí Luật

học, số 6/ 2016; Nguyễn Huy Cường (2016), “Một số bất cập trong các quy định về

mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí

Nhà nước và pháp luật, số 09/ 2016; Trần Đức Thắng (2016), “Một số vấn đề về thực

hiện quy định pháp luật hiện hành về mang thai hộ ở Việt Nam”, Tạp chí nghề Luật, số

tháng 3/ 2016; Nguyễn Văn Lâm (2016), “Bàn về mang thai hộ trong pháp luật Việt

Nam”, Tạp chí Viện kiểm sát, số 04/ 2016…

- Nguyễn Thị Lan (2016), “Thụ tinh trong ống nghiệm và những vấn đề pháp

lý phát sinh”, Tạp chí Luật học, số 02/2016 Bài viết phân tích các điều kiện về mặt chủ

thể, cũng như hệ quả pháp lý khi áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Tác giả

đã có sự nhìn nhận và nghiên cứu chuyên sâu về các quy định của Nghị định 10/2015/NĐ–CP, qua đó nêu ra một số điểm bất hợp lý và đề xuất quan điểm giải quyết của mình

2.2 Các nghiên cứu trên thế giới

Trang 9

- Richard Jonh Blauwhoff (2009), “A comparative law study on children’s right

to know their genetic origins” (Nghiên cứu quyền được biết về cha mẹ sinh học của trẻ

em), Intersentia

- John De Witt Gregory, Peter N Swisher, Robin Fretwell Wilson (2013),

Understand family law, LexisNexis, 4th edition

- Jonathan Hering (2013), Family law, Pearson, 4th edition

- Patrick Parkinson, Juliet Behrens (2004), “Australian Family law in context “

Commentary and Materials“, Tomson lawbook co, 3rd edition

- Kirsty Horsey (2010), Challengeing presumptions: Legal parenthood and

surrogacy arrangements ( Tư cách cha mẹ và thoả thuận mang thai hộ), Child and

Family Law Quarterly, Vol 22;

- Jennifer Rimm (2009), Booming Baby Business: Regulateing Commercial Surrogacy in India (Sự điều chỉnh về mang thai hộ vì mục đích thương mại tại Ấn Độ),

University of Pennsylvania Journal of International Law;

- Tuininga, Kevin (2008), “The ethics of surrogacy contracts and Nebraska's surrogacy law” (Đạo đức trong thoả thuận mang thai hộ và pháp luật Nebraska về mang thai hộ), Creighton Law Review, Vol 41;

- Brigitte Clark (2012), “A balancing act? The rights of donor – conceived children to know their biological origins” (sự cân bằng trong luật pháp, quyền được

biết nguồn gốc của trẻ sinh ra từ nguồn được hiến), Georgia journal of international

and comparative law, Volume 40

- Jenna H Bauman (2001), Discovering Donors: Legal Rights to Access Information About Anonymous Sperm Donors Given to Children of Artifcial

Insemination in Johnson v Superior Court of Los Angeles County, Issue 2 Forum on

Law & Social Change, Volume 31…

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với mục đích tìm ra những bất cập trong pháp luật hiện hành (nếu có) và đưa ra các giải pháp tương ứng

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là các quy định pháp luật về sinh con bằng

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Đề tài nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu trong việc tìm hiểu, phân tích và đưa ra các kiến nghị liên quan đến việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở áp dụng đan xem các phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, chứng minh, khảo sát thực tiễn

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài cũng mang đến cái nhìn đa chiều trong việc nhìn nhận và đánh giá căn cứ làm hình thành nên quan hệ cha mẹ - con Nội dung đề tài cung cấp các luận điểm, luận

cứ liên quan đến việc xác định cha mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Trong khuôn khổ là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, đề tài có giá trị là nguồn tài liệu tham khảo, phục vụ hữu ích cho quá trình học tập và giảng dạy một học Luật hôn nhân và gia đình nói riêng, cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học diễn ra trong và ngoài trường nói chung Các đề xuất, kiến nghị được thể hiện trong đề tài là

cơ sở để các nhà lập pháp có thể xem xét, cần nhắc và điều chính các quy định pháp luật phù hợp hơn trong tương lai

6 Bố cục của đề tài

Đề tài khoa học được chia thành hai chương:

Chương 1 Những vấn đề cơ bản của việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Chương 2 Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ

sinh sản và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA VIỆC SINH CON RA

BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN

1.1 Khái niệm, đặc điểm của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1.1.1 Khái niệm về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies – ART) là “một hệ thống các quy trình trong phòng thí nghiệm, kết hợp với các phác đồ điều trị y học nhằm hỗ trợ trong suốt các giai đoạn của tiến trình sinh sản, để cuối cùng, tạo ra cá thể mới.”1 Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được coi là một liệu pháp điều trị vô sinh phổ biến nhất hiện nay Trong đó, thụ tinh nhân tạo (IUI), thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và tiêm tinh trùng nội bào (ICSI) là những biện pháp thường xuyên được áp dụng và mang lại những kết quả khả quan trên thực tế

Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản liên quan không còn sử dụng thuật ngữ sinh con theo phương pháp khoa học, mà thay bằng thuật ngữ “sinh con bằng

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” Theo Khoản 21 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014, “sinh con

bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm” Với khái niệm kể trên, có thể hiểu rằng sinh con bằng kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản là quá trình áp dụng các phương pháp khoa học để mang thai và sinh con Rõ ràng, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không phải là kết quả của một quá

trình sinh học tự nhiên (thông qua hành vi sinh hoạt tình dục giữa nam và nữ)

Tóm lại, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật y học hiện đại (thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm) được sử dụng để can thiệp vào quá trình sinh sản

tự nhiên, nhằm mang đến kết quả thụ thai và sinh con Quá trình sinh con bằng kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản và sinh con bằng cách thức tự nhiên luôn có sự phân biệt rất lớn Điều này mang đến những khác biệt nhất định trong cách thức xác lập quan hệ cha, mẹ - con giữa các chủ thể áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và trẻ được sinh ra

1.1.2 Đặc điểm của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1 Phạm Văn Phúc – chủ biên (2015), Công nghệ hỗ trợ sinh sản, NXB Khoa học và kỹ thuật, Tp Hồ Chí Minh, tr

14

Trang 12

Thứ nhất, dưới góc độ pháp lý, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ được áp dụng với một số chủ thể nhất định

Việc áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ được pháp luật ghi nhận với một số chủ thể đặc biệt nhằm hạn chế sự tùy tiện, gây xáo trộn, ảnh hưởng đến quy luật phát triển chung của tự nhiên và xã hội Theo đó, chỉ có những chủ thể thực sự cần thiết được hỗ trợ trong sinh sản mới được được áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm Đó chính là: cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân Trong đó, cặp vợ chồng vô sinh còn được phép nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.2

Thứ hai, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là kết quả của một quá trình áp dụng các phương pháp khoa học trên cơ thể con người

Với hai phương pháp được áp dụng chủ yếu hiện nay (thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm), việc người phụ nữ mang thai và sinh con (bằng phương pháp khoa học) luôn là kết quả của sự can thiệp y học đối với quá trình sinh sản tự nhiên Nói cách khác, mong muốn sinh con đạt được bởi sự kết hợp hàng loạt cách thành tự y học, sinh học và công nghệ vô cùng hiện đại, phức tạp Việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì thế luôn đòi hỏi sự chính xác một cách tuyệt đối ở từng giai đoạn

Thứ ba, việc sinh con bằng phương pháp khoa học luôn thể hiện sự “hỗ trợ” đối với quá trình sinh sản trên nhiều khía cạnh và góc độ

Sự “hỗ trợ” được thể hiện bởi chủ thể khác trong việc hiến trứng, tinh trùng hoặc mang thai hộ Đôi khi tình trạng vô sinh của vợ chồng không được khắc phục cho dù môi trường thụ tinh đã được tạo các điều kiện tốt Khi nguyên nhân vô sinh đến từ những hạn chế nhất định về trứng hoặc tinh trùng thì việc nhận được sự hỗ trợ từ chủ thể khác (hiến tặng trứng hoặc tinh trùng) là điều không thể thiếu Trong một số hoàn cảnh khác, người thứ ba trực tiếp thể hiện sự hỗ trợ khi mang thai hộ thay cho người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh Rõ ràng, mong muốn sinh con sẽ không thể được hiện thực hoá khi thiếu đi sự những đóng góp và giúp đỡ trực tiếp từ những chủ thể thứ ba Đây cũng là điểm khác biệt rất lớn so với trường hợp sinh con một cách tự nhiên

2

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP

Trang 13

Thứ tư, nguyên tắc xác định quan hệ cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chứa đựng sự khác biệt so với con được sinh ra một cách tự nhiên

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ

và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người trẻ được sinh ra Quy định này phù hợp với nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Điều 3 Nghị định số

10/2015/NĐ-CP): Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên

nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận Chính cặp vợ chồng vô sinh và

người phụ nữ độc thân là người đem lại sự sống cho đứa trẻ và họ cũng là người mong muốn có đứa trẻ chứ không phải là người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi3

Quy định trên cũng nhằm tránh những tranh chấp về quan hệ cha, mẹ - con của các chủ thể liên quan Đây là cơ sở đảm bảo ổn định mối quan hệ cha, mẹ - con, giúp cặp vợ chồng, người phụ nữ độc thân yên tâm nuôi dạy trẻ trong điều kiện tốt nhất.4

Thứ năm, việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ - con trong quan hệ pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản luôn đạt được sự tự nguyện từ phía các chủ thể được xác định là cha, mẹ

Việc hình thành mối quan hệ cha, mẹ - con luôn nằm trong sự dự liệu của người được xác định là cha, mẹ Khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, việc người con sinh ra không cùng huyết thống với cha, mẹ (hoặc cả hai) là điều hoàn toàn có thể xảy đến Sự tự nguyện thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và chấp nhận các kết quả về mặt huyết thống đã được dự báo từ trước là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan hệ cha, mẹ - con

1.2 Ý nghĩa của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

3

Xem thêm Phan Thị Lan Anh (2017), Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với ngân hàng tinh trùng từ ngân

hàng tinh trùng theo pháp luật Việt Nam, Đại học quốc gia Hà Nội (khoa Luật), tr 15

4 Xem thêm, Phạm Thị Hồng Đào, Quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ, con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

và kiến nghị, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2148 (Truy cập ngày

2/10/2018)

Trang 14

Thứ nhất, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mang lại cơ hội có con cho người phụ nữ độc thân và cặp vợ chồng vô sinh

Cùng với sự phát triển của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là sự điều chỉnh của các quy định tương ứng trong lĩnh vực pháp lý Theo đó, Nhà nước đã đặt ra điều kiện đối với chủ thể áp dụng kỹ thuật, với cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật, cũng như các nguyên tắc xác định quan hệ cha, mẹ - con Điều này đã đảm bảo cho sự phát triển của quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được diễn ra một cách lành mạnh, bảo vệ hiệu quả quyền lợi chính đáng của các bên tham gia

Thứ hai, việc sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản giúp đảm bảo khả

Việc tái sản xuất ra con người vừa là quy luật sinh tồn của tự nhiên, vừa là quy luật của xã hội.”6 Trong hoàn cảnh mà tỉ lệ vô sinh ngày càng tăng cao, độ tuổi của cặp vợ chồng vô sinh ngày càng trẻ hoá thì các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo chức năng duy trì nòi giống của gia đình Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nói riêng và những thành tự y học nói chung đã mang đến những giá trị thiết thực, giảm tải một khối lượng không nhỏ những trở ngại mà cuộc sống hiện đại đang đặt ra

Thứ ba, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thể hiện sự tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật, y học

Là quốc gia tiếp thu các phương pháp hỗ trợ sinh sản khá muộn so với các nước trên thế giới và trong khu vực, nhưng nền y học Việt Nam đã có những bước chuyển mình rất nhanh chóng Hiện nay, Việt Nam đã thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phổ biến trên thế giới với tỉ lệ thành công khá cao và ổn định Kết quả này xuất phát từ

sự đón nhận và phát triển các thành tựu y khoa trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản của y bác

sỹ và các nhà khoa học

5 Xem thêm Phan Thị Lan Anh (2017), Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với ngân hàng tinh trùng từ ngân

hàng tinh trùng theo pháp luật Việt Nam, Đại học quốc gia Hà Nội (khoa Luật), tr 15

6 Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, NXB Hồng Đức – Hội luật gia

Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh, tr 33

Trang 15

Thứ tư, việc sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn cao đẹp

Trong xã hội hiện đại, vô sinh và điều trị vô sinh đã trở thành một vấn đề không quá khó khăn để bày tỏ Hoàn cảnh của người phụ nữ độc thân muốn áp dụng biện pháp khoa học để sinh sản cũng dần nhận được sự cảm thông và chia sẻ Tất cả những điều trên đều là những biểu hiện quan trọng của một xã hội nhân văn, tiến bộ

1.3 Cơ sở hình thành và phát triển các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Có thể thấy rằng, các thành tựu khoa học trong lĩnh vực sinh sản đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển quan hệ pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Các bước tiến khoa học luôn gắn liền với tỉ lệ thành công trong quá trình sinh sản, đồng thời mang lại hi vọng có con cho những cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân Với những nỗ lực không ngừng của nền y khoa nước nhà, nhu cầu chữa bệnh và điều trị vô sinh (cũng như sinh con của người phụ nữ độc thân) đã có thể được đáp ứng Ngày nay, các chủ thể hoàn toàn có thể theo đuổi mong muốn sinh con của mình ở trong nước mà không cần phải đến những quốc gia phát triển với chi phí điều trị và các dịch vụ liên quan vô cùng đắt đỏ và tốn kém

Theo tinh thần Nghị Quyết 46 - NQ/TW năm 2005 của Bộ chính trị về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới”, “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” Hiện nay, Nhà nước ưu tiên phát triển nhân lực khám chữa bệnh dựa trên cơ sở thực tiễn, kế thừa

và phát huy những thành tựu, kinh nghiệm, khắc phục những bất cập và yếu kém để đáp ứng đầy đủ nhu cầu nhân lực cho việc phát triển hệ thống khám chữa bệnh, từng bước đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng của nhân dân

Có thể nói nhu cầu xã hội chính là cơ sở nền tảng dẫn dắt sự hình thành quan hệ pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật sinh sản Cũng nhờ có đó mà các phương pháp khoa học phục vụ mục đích sinh sản ngày càng được phát triển và tối ưu hoá Qua thời

Trang 16

gian, xã hội Việt Nam nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới đều có cái nhìn cảm thông và cởi mở hơn đối với việc sinh con bằng phương pháp khoa học

1.3.3 Cơ sở pháp lý

Bên cạnh các quy định điều chỉnh cụ thể về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc nguyên tắc xác định quan hệ cha, mẹ - con, Luật HN&GĐ lần đầu tiên thừa nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Đây được xem là những cơ sở quan trọng để xác lập quan hệ cha, mẹ - con và mang lại sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa chủ thể áp dụng

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và trẻ được sinh ra

Nhìn chung, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành đã có những quy định phù hợp với nhu cầu sinh con của một số chủ thể trong xã hội, cũng như trình độ phát triển của y học hiện đại Các quy định không chỉ dừng lại ở mức độ cho phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mà còn giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quá trình áp dụng các phương này Tuy vậy, trước thực tiễn phức tạp về một mối quan hệ nhạy cảm, pháp luật HN&GĐ cần có những quy định một cách chi tiết, cụ thể hơn để

có thể giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai, đồng thời bảo vệ một cách hiệu quả quyền lợi của người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1.4 Nguyên tắc thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Cũng như tất cả các mối quan hệ dân sự nói chung, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được thực hiện dựa trên sự tự nguyện Việc các chủ thể quyết định tham gia (hoặc không) trong mỗi quan hệ hoàn toàn xuất phát từ mong muốn nội tâm, chứ không phải là kết quả của sự ép buộc, lừa dối hay cản trở

Nguyên tắc bí mật trong việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhằm đảm bảo bí mật đời tư cá nhân Bất cứ thông tin nào liên quan đến đời sống riêng tư của một người cũng cần được các chủ thể khác trong xã hội tôn trọng và bảo vệ Áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không giống như việc điều trị các bệnh lý thông thường Các thông tin liên quan đến quá trình áp dụng kỹ thuật có sự liên hệ mật thiết đến quyền lợi nhân thân và rộng hơn là đời sống gia đình của một người

Trang 17

1.4.3 Nguyên tắc tuân thủ quy trình kỹ thuật

Về nguyên tắc chung, người bệnh có nghĩa vụ cung cấp trung thực thông tin liên quan đến tình trạng sức khỏe của mình, hợp tác đầy đủ với người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; chấp hành chỉ định chẩn đoán, điều trị của người hành nghề.7

Để hoạt động thăm, khám đạt được hiệu quả, người bệnh cần có thái độ hợp tác một cách tích cực với chỉ định của cơ sở y tế Điều này tạo điều kiện để các y – bác sỹ có thể thực hiện trọng trách về mặt chuyên môn của mình Đây cũng là yêu cầu tiên quyết

để việc điều trị đạt được kết quả tốt nhất

1.5 Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Thụ tinh nhân tạo – Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intra Uterine Insemination

- IUI) là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi Những tinh trùng khỏe mạnh nhất sẽ được lọc rửa và lựa chọn để bơm trực tiếp vào buồng tử cung của nữ giới (nữ giới được uống thuốc kích thích trứng rụng đúng thời điểm)

Hình 1: Mô hình quy trình thụ tinh nhân tạo (IUI) 8

7 Điều 15 Luật Khám, chữa bệnh năm 2009

8 Mô hình được tham khảo tại: https://anovafertility.com/our-services/intrauterine-insemination-iui (Truy cập ngày 15/ 10/ 2018)

Trang 18

Việc áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo phải thực hiện theo các bước cụ thể nhằm giảm thiếu tối đa những rủi ro gặp phải khi áp dụng kỹ thuật này vào việc hỗ trợ sinh sản, bao gồm:

Bước 1: Tư vấn cho các trường hợp vô sinh điều trị bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo 9

Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi (In-vitro Fertilization/ embryo transfer - IVF/ET) là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong đó tinh trùng thụ tinh với noãn trong môi trường bên ngoài cơ thể (in-vitro) Phôi thu được sẽ chuyển vào buồng tử cung để làm

tổ hoặc sẽ được đông lạnh để sử dụng sau.12

Thụ tinh trong ống nghiệm được nhiều cặp

vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân áp dụng và mang lại hiệu quả tương đối cao

9 Điều 5 Thông tư số 12/2012/TT-BYT

10 Điều 6 Thông tư số 12/2012/TT-BYT

11 Điều 7 Thông tư số 12/2012/TT-BYT

12

Khoản 1 Điều 11 Thông tư 57/2015/TT-BYT ngày 30/12/2016 của Bộ Y tế

Trang 19

Hình 2: Mô hình quy trình Thụ tinh trong ống nghiệm 13

Các trường hợp áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ-CP bao gồm: cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có thể thực hiện thụ tinh

Trang 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Vô sinh, hiếm muộn là những vấn đề mà mỗi xã hội đều phải đối mặt Tuỳ từng giai đoạn nhất định mà việc điều trị vô sinh, hiếm muộn được nhìn nhận một cách khác nhau Trong qua khứ, sinh con luôn là câu chuyện giữa vợ chồng Những khó khăn, trở ngại về sinh sản được xem là những điều thầm kín, khó chia sẻ và ít nhận được sự cảm thông Ngày nay, xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở hơn đối với vấn đề này Điều trị

vô sinh không còn được thực hiện hoàn toàn thầm lặng, mà trái lại, quá trình sinh sản giờ đây nhận được sự quan tâm và hỗ trợ bởi rất nhiều nguồn lực trong xã hội Các giải pháp y học được áp dụng một cách phổ biến để giải quyết nhu cầu sinh con của nhiều nhóm đối tượng Bên cạnh cặp vợ chồng vô sinh, việc người phụ nữ độc thân chủ động mang thai và sinh con đã không còn là điều xa lạ

Sự phát triển của khoa học – kỹ thuật nói chung và y học nói riêng đã mang lại những lợi ích thiết thực cho đời sống con người Vô sinh, hiếm muộn không còn là những căn bệnh vô phương cứu chữa, khả năng sinh sản không còn là đặt quyền mà chỉ

có tạo hoá mới có thể mang lại Khoa học đã mang đến cái nhìn sáng rõ đối với quá trình sinh sản đầy phức tạp của con người và từ đó, phát triển những giải pháp hỗ trợ khả năng sinh sản đầy hiệu quả Những khám phá, phát huy, cải tiến công nghệ thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm đã mang lại hi vọng cho hàng triệu cặp vợ chồng

về sự chào đời của hàng triệu em bé được sinh ra từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Không nằm ngoài xu hướng phát triển y học thế giới, trong hoàn cảnh còn nhiều hạn chế về kinh tế, hạ tầng, nền y học Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, bắt kịp các kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực sản khoa Mỗi năm nước ta có khoảng hơn

5000 trẻ em ra đời nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Với những chuyển mình nhanh chóng của y học và nhu cầu áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của rất nhiều đối tượng, sự hình thành và phát triển của pháp luật về sinh con bằng phương pháp khoa học đang là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý và định hướng cho sự phát triển của hàng loạt các mối quan hệ phức tạp phát sinh trong xã hội

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w