1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005

96 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 Theo Điều 405 BLDS năm 2005 thì: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

Trang 2

Cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, cũng như thời gian làm khóa luận

Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Lê Thị Hồng Vân Cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian viết khóa luận

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Bộ luật dân sự BLDS

Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại

Công ước Viên về mua bán hàng hóa

Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10

tháng 08 năm 2004 hướng dẫn áp dụng

pháp luật trong việc giải quyết các vụ án

dân sự, hôn nhân và gia đình

Nghị quyết 02/2004

Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính

phủ về giao dịch bảo đảm Nghị định 163/2006

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM

2005 5 1.1 Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 5 1.2 Các thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 7 1.3 So sánh thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS năm

1995 với BLDS năm 2005 22 1.4 So sánh thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân

sự năm 2005 với pháp luật nước ngoài 26 1.5 Ý nghĩa của việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 36

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 38 2.1 Thực tiễn áp dụng quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo BLDS năm 2005 38 2.2 Nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 53 2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 59 KẾT LUẬN 69

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là một vấn đề pháp lý có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ hợp đồng Bởi vì kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng mới phát sinh và được pháp luật bảo vệ Do đó, khi xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng luôn được quy định ở những Điều luật cụ thể Tuy nhiên, quy định về thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng trong các văn bản này luôn có sự thay đổi Đầu tiên, trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, nhà làm luật đã dành Điều 14 của Pháp lệnh để quy định về thời điểm mà hợp đồng có hiệu lực Sau đó, BLDS năm 1995, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được quy định cụ thể tại hai điều luật là Điều 403 và Điều 404 với nhiều nội dung được đề cập hơn Đến BLDS năm 2005, dù vẫn dành Điều 404 và Điều 405 và một số điều luật ở phần hợp đồng thông dụng để quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhưng về hình thức và nội dung đã có sự thay đổi nhất định Sau gần 9 năm BLDS năm 2005 được áp dụng, thì trong dự thảo sửa đổi BLDS gần đây, quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lại tiếp tục có sự thay đổi

Xem xét những quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS hiện hành sẽ thấy được nhiều quy định không rõ ràng và thiếu tính nhất quán Bên cạnh

đó, một số vấn đề vẫn để ngỏ Hơn nữa, quy định trong BLDS năm 2005 đã không thể hiện hết vai trò trong việc xây dựng một quy định mang tính nền tảng cho các luật chuyên ngành Hiện nay, khi các tranh chấp về hợp đồng ở Tòa án ngày càng tăng, tính chất của các tranh chấp ngày càng phức tạp thì vai trò của những quy định về thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS hiện hành quan trọng hơn bao giờ hết Bởi vì, để

có thể giải quyết những tranh chấp về hợp đồng thì việc đầu tiên cần phải xác định được hợp đồng của các bên đã có hiệu lực hay chưa? Hiệu lực đó phát sinh từ thời điểm nào? Kể từ thời điểm đó quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ra sao? Do đó, Tòa án cần phải có những căn cứ pháp lý vững chắc để có thể đưa ra hướng giải quyết phù hợp Vì vậy, những bất cập trên của BLDS năm 2005 đã dẫn đến những khó khăn cho công tác xét xử, Tòa án có nhiều hướng giải quyết khác nhau trong cùng một vấn đề, không đảm bảo được quyền và lợi ích cho các chủ thể

Từ những phân tích trên, tác giả nhận thấy được tầm quan trọng của thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng và mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu một cách tổng thể về vấn đề trên để trang bị thêm kiến thức cho bản thân cũng như đưa ra một số kiến nghị

Trang 6

nhằm góp phần hoàn thiện quy định này trong BLDS sửa đổi sắp tới Do đó, tác giả đã

chọn đề tài “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự

năm 2005” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp cử nhân tại trường Đại học

Luật Tp Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu

Do những quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng rất quan trọng nên vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình Sau đây là công trình nghiên cứu của một số tác giả có liên quan đến đề tài “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005”:

Trong Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án của tác giả Đỗ Văn

Đại đã nghiên cứu những quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dựa trên sự phân tích từ thực tiễn xét xử thông qua các bản án Đồng thời, tác giả còn có bài viết trên tạp chí về “Thời điểm hợp đồng tặng cho có hiệu lực ở Việt Nam” đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân năm 2009 Bài viết đưa ra những vấn đề còn vướng mắc liên quan đến quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho

Bài viết “Hiệu lực của chấp nhận giao kết hợp đồng theo BLDS năm 2005-Nhìn

từ góc độ so sánh” của tác giả Ngô Huy Chương được đăng trên tạp chí nghiên cứu lập

pháp số 24/2010 Một phần trong bài viết này, tác giả đã tiến hành phân tích quy định thời điểm giao kết của BLDS năm 2005 so với quy định của pháp luật một số nước để đưa ra một số nhận định và đánh giá đối với quy định tại Điều 404 năm BLDS Việt Nam

Năm 2011, luận án của NCS Lê Minh Hùng với đề tài: “Hiệu lực của hợp đồng

theo quy định của pháp luật Việt Nam” Trong luận án này, tác giả đã dành một

chương để đề cập đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005 Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu phân tích một cách rất chi tiết

về những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Đồng thời, tác giả đã đưa ra giải pháp cụ thể để hoàn thiện Điều 404 và Điều 405 BLDS năm 2005

Với luận văn cử nhân “Giao kết hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp

luật hiện hành- những vấn đề lý luận và thực tiễn”, tác giả Đặng Thị Diệu Vân đã có

những phân tích về quy định thời điểm giao kết hợp đồng thông qua hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản

Trang 7

Tác giả Phạm Văn Tuyết có bài viết “Các thời điểm trong hợp đồng dân sự” đăng trên Tạp chí Luật học số 5/2011 Với bài viết này, tác giả đã lý giải một số vấn đề

lý luận cơ bản liên quan đến thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Từ đó, đưa ra một số đóng góp nhằm hoàn thiện các quy định trên

Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005”, nhưng có thể thấy, những công trình này chưa phân tích đề tài trên như một công trình nghiên cứu độc lập Các tác giả đều tập trung nghiên cứu ở một khía cạnh hoặc theo một loại hợp đồng cụ thể hay đề cập về đề tài thông qua một phần trong công trình nghiên cứu của mình Hơn nữa, vẫn còn rất nhiều quan điểm tồn tại xung quanh quy định của BLDS năm 2005 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Vì thế, tác giả thực sự muốn tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ thống về đề tài này, để có thể đưa ra những đánh giá cũng như giải pháp của bản thân góp phần hoàn thiện một trong những chế định quan trọng của pháp luật hợp đồng

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của BLDS năm 2005 liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Đồng thời, có sự liên hệ với những quy định của pháp luật chuyên ngành và pháp luật nước ngoài

Tác giả tập trung nghiên cứu đề tài trong phạm vi xem xét những bất cập phát sinh trên thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu tác giả mong muốn đạt được thông qua nghiên cứu đề tài “thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005” là:

- Phân tích những quy định của BLDS năm 2005 liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Qua đó, thấy được những bất cập còn tồn tại trong những quy định này

- Tìm hiểu về thực tiễn xét xử thông qua các bản án cũng như báo cáo trong công tác ngành Tư pháp để dưới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật, nhận thấy những vướng mắc đang tồn tại

- Nêu lên được nguyên nhân của những bất cập trên Từ đó, kiến nghị những giải pháp phù hợp

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp như phương pháp phân tích, tổng hợp, sưu tầm, bình luận, so sánh,… Tuy nhiên, để đạt được kết quả tốt nhất, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phối hợp các phương pháp trên Chẳng hạn, tác giả kết hợp phương pháp phân tích, bình luận và so sánh để đưa ra những nhận định, đánh giá các quy định của BLDS về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

6 Bố cục của đề tài

Đề tài gồm có hai chương:

Chương 1: Khái quát về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005

Chương này tác giả tập trung nghiên cứu về các vấn đề lý luận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS như khái niệm, căn cứ xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và ý nghĩa Đồng thời, tác giả còn tiến hành so sánh quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo BLDS năm 2005 với BLDS năm

1995 và pháp luật nước ngoài để có cái nhìn khái quát nhất về mặt lý luận của đề tài đang nghiên cứu

Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo BLDS năm 2005 và một số kiến nghị

Từ những vấn đề lý luận ở chương 1, tác giả nêu những bất cập còn tồn tại trong quy định của BLDS năm 2005 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, tiến hành phân tích chúng trên cơ sở thực tiễn giải quyết tranh chấp Qua đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLDS về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Trang 9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNHCỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

NĂM 2005 1.1 Khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự Trong cuộc sống, chúng ta thường

thực hiện rất nhiều loại giao dịch này, từ những hợp đồng có giá trị rất nhỏ như mua

một bó rau hay bán một con vịt đến những hợp đồng có giá trị lớn như hợp đồng mua,

bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất Có thể nói, hợp đồng là công cụ hữu hiệu

giúp các chủ thể đạt được những lợi ích mà họ mong muốn Tuy nhiên, hợp đồng chỉ

đáp ứng nguyện vọng của chủ thể một cách đầy đủ nhất khi và chỉ khi thỏa thuận trong

hợp đồng được thực hiện trên thực tế Ví dụ, người bán hàng nhận được tiền từ việc

bán hàng cho khách, người mua thì có thể sở hữu được món hàng mình mong muốn

Để đạt được điều này thì trước tiên, hợp đồng phải có hiệu lực Hiệu lực của hợp đồng

sẽ bắt đầu tại một thời điểm hay gọi là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

BLDS năm 2005 không đưa ra khái niệm thế nào là thời điểm có hiệu lực của

hợp đồng Điều 405 BLDS chỉ quy định “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu

lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy

định khác” Điều luật này cho biết các thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, nhưng

không thể hiện một cách khái quát nội dung thời điểm hợp đồng có hiệu lực Vì vậy,

một ý kiến đã nhận xét “sự ngắn gọn quá mức của điều luật đã làm nó thiếu những

thông tin cần thiết”1

Theo Từ điển Tiếng Việt giải thích: “Thời điểm là khoảng thời gian cực ngắn

được hạn định một cách chính xác, coi như một điểm trên trục thời gian, ví dụ ở thời

điểm 9 giờ 30 phút”2 Hợp đồng có hiệu lực được định nghĩa “là giá trị pháp lý của hợp

đồng làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên và giá trị

pháp lý ràng buộc các bên phải tuân thủ và nghiêm túc thực hiện hợp đồng”3 Bên cạnh

đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

1

Lê Minh Hùng, Nghiên cứu tổng quát về những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định chung về hợp

đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005, tài liệu Hội thảo quốc tế sửa đổi Bộ luật dân sự Việt nam năm 2005 và kinh

nghiệm nước ngoài, 2013, tr.174

2

Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr 956

3

Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật Hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, 2013, tr.246

Trang 10

như “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là mốc để xác định thời điểm khởi lưu của hiệu lực hợp đồng.”4

hay “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm mà kể từ

đó các bên trong hợp đồng buộc phải thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết”5

Những ý kiến này đều có điểm chung là khi xem xét thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chính

là lúc các bên trong hợp đồng chịu sự ràng buộc với những thỏa thuận mà họ đã thống nhất

Về mặt pháp lý, để một hợp đồng được xác lập, thỏa thuận của các bên phải tuân thủ những quy định của pháp luật về hợp đồng Vì thế, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cũng chính là thời điểm pháp luật thừa nhận hợp đồng đó Đồng thời, đánh dấu sự ràng buộc của hợp đồng đối với các bên Có thể dẫn một ví dụ như sau: Ngày 15/01/2014, A và B thỏa thuận về việc A sẽ chuyển nhượng cho B 500m2

quyền sử dụng đất Hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng bằng văn bản và cùng thỏa thuận ngày 01/02/2014 là ngày hợp đồng có hiệu lực Theo đó, ngày 01/02/2014, A giao giấy

tờ về quyền sử dụng 500m2 đất của mình cho B B cũng tiến hành trồng hoa màu trên mảnh đất đã nhận chuyển nhượng được từ A Tuy nhiên, Điều 692 Bộ luật Dân sự quy

định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử

dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai” Khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai

2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng

cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính” Xét ví

dụ trên thấy rằng, hợp đồng của A và B chỉ được lập bằng văn bản, chưa công chứng, chứng thực và cũng không đăng ký vào sổ địa chính Đối chiếu với quy định tại Điều

122 BLDS năm 2005 thì hợp đồng của A và B chưa đáp ứng đủ điều kiện để hợp đồng

có hiệu lực Mặc dù trên thực tế, A và B đã thực hiện đúng như thỏa thuận với nhau từ ngày 01/02/2014 Hai bên đã ràng buộc mình vào thỏa thuận để thực hiện hợp đồng, nhưng pháp luật vẫn chưa thừa nhận thời điểm hai bên đã thỏa thuận là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Vì thế, hợp đồng chưa có hiệu lực do nó chưa tạo ra sự ràng buộc pháp lý

Từ những phân tích trên, có thể hiểu thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời

điểm hợp đồng có giá trị pháp lý, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự và ràng buộc các bên phải tuân thủ và nghiêm túc thực hiện hợp đồng

Trang 11

Qua định nghĩa trên, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng thể về khái niệm thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Tuy nhiên, khi muốn xác định thời điểm có hiệu lực của những hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể thì cần phải dựa vào các thời điểm được quy định trong BLDS năm 2005

1.2 Các thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005

Theo Điều 405 BLDS năm 2005 thì: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có

hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Điều luật này đã thể hiện khi hợp đồng được giao kết hợp pháp thì

thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định dựa trên ba thời điểm sau đây:

+Thời điểm hợp đồng được giao kết;

+ Thời điểm do các bên thỏa thuận;

+ Thời điểm theo quy định của pháp luật

1.2.1 Thời điểm giao kết

Thời điểm giao kết là một trong ba thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Để xác định thời điểm giao kết là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì cần có hai điều kiện Điều kiện thứ nhất, các bên không có thỏa thuận khác hay pháp luật không có quy định khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mà các bên đã giao kết6 Điều kiện thứ hai,

là hợp đồng phải được giao kết hợp pháp Hiện nay, BLDS năm 2005 chưa có một quy định rõ ràng về hợp đồng được giao kết hợp pháp Về mặt pháp lý, hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự Vì vậy, khi xem xét hợp đồng có được giao kết hợp pháp có thể dựa vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 122 BLDS năm 20057

: “1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:a)

Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện 2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”

Để hợp đồng có hiệu lực thì cần đáp ứng những điều kiện về năng lực chủ thể giao kết hợp đồng là phải có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của hợp

6

Đối với vấn đề này, tác giả sẽ đi nghiên cứu sâu ở những phần 1.2.1 và 1.2.3

7

Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia

TP.HCM, 2007, tr.341: “Tuy nhiên, thế nào là hợp đồng được giao kết hợp pháp? Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã đề cập trong BLDS lần đầu trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và được phân tích dưới đây”

Trang 12

đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; người tham gia hợp đồng tự nguyện trong giao kết và đáp ứng yêu cầu hình thức khi pháp luật quy định và khi đáp ứng những điều kiện này thì hợp đồng được giao kết hợp pháp Như vậy, “kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng giao kết và nếu vào thời điểm đó mà hợp đồng thỏa mãn các điều kiện về hiệu lực hợp đồng, thì hợp đồng có giá trị ràng buộc các bên nếu không có thỏa thuận khác”.8

Giao kết hợp đồng là bước đầu tiên trong quá trình xác lập quan hệ hợp đồng BLDS năm 2005 không đưa ra định nghĩa về giao kết hợp đồng, nên có thể xem xét định nghĩa này theo Từ điển luật học “Giao kết hợp đồng là việc các bên chủ thể bày tỏ

ý chí với nhau để cùng xác lập hợp đồng thông qua sự bàn bạc, trao đổi, thương lượng với nhau theo các nguyên tắc và trình tự do luật định nhằm xác lập, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”9

Để hợp đồng được giao kết thì cần trải qua hai bước: đề nghị giao kết và chấp thuận đề nghị giao kết Việc giao kết hợp đồng sẽ được xác định

ở thời điểm cụ thể “là thời điểm hợp đồng được coi là đã giao kết xong Tức là vào

thời điểm hợp đồng được giao kết, các bên đã hoàn thành các trình tự của quá trình giao kết hợp đồng và đi đến những thỏa thuận thống nhất”.10

Điều 404 BLDS năm

2005 đã quy định các thời điểm hợp đồng được giao kết như sau: “1 Hợp đồng dân sự

được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết; 2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết; 3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng; 4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng

ký vào văn bản”

1.2.2.1 Thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết

Theo như quy định khoản 1 Điều 404 BLDS năm 2005 thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết Tuy nhiên, nội dung của trả lời chấp nhận giao kết này phải là sự chấp nhận toàn bộ nội

Đặng Thị Diệu Vân, Giao kết hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật hiện hành- những vấn đề lý

luận và thực tiễn- khóa luận tốt nghiệp cử nhân, năm 2012, tr.11

Trang 13

dung đề nghị của bên đề nghị Quy định về thời điểm giao kết đã thể hiện, BLDS Việt Nam cũng như một số nước thuộc hệ thống pháp luật Châu âu lục địa, xem hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết Trong khi đó, các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ theo “thuyết tống phát”- coi thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng gửi chấp nhận đề nghị đi Chẳng hạn, Điều 526 BLDS Nhật Bản quy định: “Hợp đồng được ký kết giữa những người vắng mặt có hiệu lực từ thời điểm thông báo chấp nhận

đã được gửi đi” Ví dụ, ngày 5/1/2014, A gửi đề nghị bán cho B một lô hàng Ngày 10/1/2014, B gửi thư qua bưu điện cho A về việc đồng ý mua lô hàng mà A đã đề nghị Ngày 13/1/2014, A mới nhận được thư chấp nhận của B Theo quy định của BLDS năm 2005 thì thời điểm giao kết là ngày 13/1/2014, đây là một quy định phù hợp vì việc áp dụng nguyên tắc “nhận” thích hợp hơn so với nguyên tắc “gửi” là do rủi ro trong quá trình truyền đạt thông tin thường xảy ra đối với người nhận hơn là người đưa

ra đề nghị Đối với vấn đề này, một chuyên gia đã nhận định về quy định thời điểm giao kết này “BLDS năm 2005 xác định thời điểm giao kết hợp đồng trên cơ sở công nhận hiệu lực của cam kết, thỏa thuận giữa các bên, không phụ thuộc vào hình thức, thủ tục của hợp đồng Xuất phát từ đó, BLDS quy định nguyên tắc chung đó là hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết”.11

Như vậy, các bên giao kết có quyền lựa chọn bất kỳ hình thức giao kết nào xem là phù hợp để tiến hành giao kết hợp đồng vì “hình thức của hợp đồng được hiểu là phương thức ký kết, phương tiện ghi nhận nội dung thỏa thuận của các bên Nó có thể là thủ tục

ký kết hợp đồng hoặc hình thức thể hiện thỏa thuận của các bên”.12

Tuy nhiên, quy định thời điểm giao kết hợp đồng dựa trên hình thức đôi khi đem lại kết quả không như mong muốn

1.2.2.2 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói

Khoản 3 Điều 404 đã quy định thời điểm giao kết bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung hợp đồng Tuy nhiên, khi nào thì đã thỏa thuận nội dung của hợp đồng Điều 402 BLDS năm 2005 đã đưa ra bảy nội dung cơ bản của hợp đồng Ngoài bảy nội dung này, hợp đồng có thể thỏa thuận thêm những nội dung khác,

“nhưng có điều lưu ý là, quy định tại Điều 402 BLDS năm 2005 chỉ mang tính hướng

Trang 14

dẫn thuần túy mà thôi”13 Như vậy, khi thỏa thuận xong tất cả các nội dung thì hợp đồng mới có hiệu lực hay chỉ khi đã thỏa thuận các nội dung các bên cho là cần thiết Cách diễn đạt ở khoản 3 Điều 404 sẽ khó thống nhất về cách hiểu Nhìn lại khoản 2 Điều 14 của Pháp lệnh hợp đồng 1991 đã quy định cụ thể hơn BLDS năm 2005: “Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên thoả thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng” Pháp lệnh này đưa ra thời điểm giao kết hợp đồng là khi thỏa thuận về nội dung chủ yếu chứ không phải thỏa thuận nội dung một cách chung chung như BLDS năm 2005 Có thể làm rõ vấn đề này thông qua ví dụ sau: Bình có ý định bán một con

bò, Nam biết được và hẹn Bình gặp để xem bò và thỏa thuận Ngày 1/2/2014, hai bên gặp nhau, Nam đồng ý mua con bò của Bình với giá 15 triệu đồng Ngày 5/2/2014, Nam gọi điện cho Bình để hỏi chi tiết về việc giao tiền và nhận bò Trong trường hợp này thời điểm giao kết hợp đồng là ngày 1/2/2014 khi các bên thống nhất mua bán con

bò hay ngày 5/2/2014 khi các bên trao đổi chi tiết về vấn đề thực hiện hợp đồng Thiết nghĩ, thời điểm giao kết hợp đồng giữa Bình và Nam là ngày 1/2/2014 Ngày các bên thỏa thuận xong những nội dung cần thiết đối với các bên để giao kết hợp đồng Theo như một quan điểm nhận định về sự quan trọng của nội dung chủ yếu: “Nếu như chỉ thiếu một vài điều khoản tại Điều 402 BLDS năm 2005 nhưng điều khoản đó là thuộc nội dung chủ yếu của hợp đồng (như điều khoản về đối tượng hợp đồng chẳng hạn) thì không thể hình thành hoặc giao kết hợp đồng”14

Vì vậy, thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói nên được xem là thời điểm các bên thỏa thuận nội dung chủ yếu của hợp đồng theo ý kiến của một chuyên gia “khi các bên chưa nói chi tiết về phương thức cụ thể của việc thực hiện hợp đồng và các phương thức này có pháp luật quy định thì coi như hợp đồng đã được giao kết tại thời điểm các bên đã thỏa thuận những nội dung cơ bản của hợp đồng chứ không phụ thuộc vào thời điểm các bên nêu chi tiết các phương thức thực hiện hợp đồng”15

1.2.2.3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản

Khi giao kết hợp đồng bằng văn bản thì thời điểm giao kết là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (khoản 4 Điều 404) Tuy nhiên, quy định tại khoản 4 Điều 404 là không rõ ràng dẫn đến khi áp dụng sẽ có hai cách hiểu khác nhau Theo cách hiểu thứ

Trang 15

nhất, thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản chỉ được áp dụng với trường hợp mà quy định pháp luật bắt buộc loại hợp đồng đó phải lập thành văn bản Điều này có nghĩa các loại hợp đồng mà hình thức không bắt buộc lập thành văn bản thì không dùng điều khoản này để xác định thời điểm giao kết hợp đồng Ví dụ, hợp đồng thuê nhà ở dưới 6 tháng phải lập thành văn bản Trong trường hợp này, thời điểm nào bên sau cùng ký vào hợp đồng thuê nhà sẽ được xem là thời điểm giao kết hợp đồng Cách hiểu thứ hai, không phân biệt loại hợp đồng có bắt buộc bằng văn bản hay không, mà phụ thuộc vào hình thức của lời đề nghị do người đề nghị đưa ra Nếu người đề nghị đưa ra đề nghị bằng văn bản cho người được đề nghị, thì hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản Tuy nhiên, xét với thực tế thì cách hiểu này không hợp lý Bởi vì, đôi khi bên đưa ra đề nghị bằng văn bản Ngược lại, người nhận được đề nghị có thể vì sự thuận tiện đã thể hiện sự chấp nhận bằng một cuộc điện thoại thể hiện sự chấp nhận giao kết của mình mà không phải trả lời bằng văn bản cho bên

đề nghị Hơn nữa, có thể bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị dưới hình thức bằng văn bản như qua email hay tin nhắn trên điện thoại mà không phải là ký vào văn bản do bên đề nghị đưa ra Nếu đối chiếu với khoản 4 Điều 404 thì trong trường hợp này, hợp đồng chưa được giao kết Mặc dù, ý chí của hai bên đã thống nhất trong việc giao kết hợp đồng Trong khi khoản 1 Điều 404 khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị thì từ thời điểm đó hợp đồng được giao kết Điều này sẽ tạo nên sự mâu thuẫn trong cùng một Điều luật

Hiện nay, việc đề nghị, trao đổi, thỏa thuận giữa các chủ thể thường thông qua các phương tiện điện tử hiện đại như fax, email, tin nhắn,… Bởi vì, có thể khoảng cách các bên rất xa nhau, để tiết kiệm chi phí và thời gian việc giao kết thông qua các phương tiện điện tử này là rất phổ biến Loại giao kết hợp đồng này rất đặc thù theo quy định của luật chuyên ngành là Luật giao dịch điện tử 2005 Tuy nhiên, Điều 404 BLDS năm 2005 lại không đề cập đến thời điểm giao kết của hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử Điều 36 Luật Giao dịch điệu tử 2005 quy định: “trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” Trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, thông báo dưới dạng thông điệp dữ liệu

có giá trị pháp lý như thông báo bằng phương pháp truyền thống Thời điểm nhận thông điệp dữ liệu được quy định: “Trường hợp người nhận đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận là thời điểm thông điệp dữ liệu

Trang 16

nhập vào hệ thống thông tin được chỉ định; nếu người nhận không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào của người nhận”16

1.2.2.4 Thời điểm giao kết trong trường hợp khác

Khoản 2 Điều 404 cũng chấp nhận hợp đồng được giao kết, khi hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị giao kết vẫn im lặng thì sự im lặng này cũng là thể hiện đồng

ý giao kết hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận im lặng là đồng ý Vấn đề đặt ra trong trường hợp này thời điểm giao kết hợp đồng là khi nào? Khoản 1 Điều 460 BLDS năm

2005 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua được dùng thử vật mua

trong một thời hạn gọi là thời hạn dùng thử, trong thời hạn dùng thử, bên mua có thể lời mua hoặc không mua; nếu hết thời hạn dùng thử mà bên mua không trả lời thì coi như đã chấp nhận mua theo các điều kiện đã thỏa thuận trước khi nhận vật dùng thử”

Như vậy, có thể suy luận nếu hai bên thỏa thuận thì khi hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị im lặng coi như là hợp đồng được giao kết Thời điểm kết thúc trả lời chấp nhận là thời điểm giao kết hợp đồng Ngược lại, hai bên không có thỏa thuận thì khi hết thời hạn trả lời chấp nhận mà bên đề nghị vẫn im lặng thì hợp đồng không được giao kết

Trên thực tế, có trường hợp khi được đề nghị việc giao kết hợp đồng, bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nhưng vẫn thể hiện ý định giao kết của mình qua việc thực hiện hành vi cụ thể như gửi hàng, thanh toán tiền… theo lời đề nghị đưa ra Nếu xem xét quy định của Điều 404 BLDS năm 2005 thì trong trường hợp này, không thể xem hợp đồng được giao kết, do không phải là một trong các thời điểm giao kết hợp đồng Đây thực sự là thiếu sót của BLDS năm 2005 bởi giao kết hợp đồng là phương tiện giúp các bên trao đổi lợi ích Các bên có thể thông qua bất cứ hình thức gì để đạt được

sự thống nhất trong thỏa thuận mà không xâm phạm lợi ích của bên nào Quy định thời điểm giao kết trong trường hợp thể hiện sự giao kết thông qua hành vi của bên nhận đề nghị sẽ giúp ghi nhận giá trị pháp lý trong giao kết của các bên Ví dụ: A đưa ra đề nghị qua mail cho B về việc đặt mua của B 5 tấn cà chua với giá 8 triệu đồng/ tấn B

16 Điều 19 Luật Giao dịch điện tử 2005

Trang 17

nhận được lời đề nghị của A nhưng vẫn im lặng không trả lời cho A biết đồng ý hay không Tuy nhiên, vẫn tiến hành chở đến trước cho B 1 tấn cà chua theo địa điểm mà A

đã yêu cầu Sau đó, giá thị trường thay đổi, cà chua tăng đến 16 triệu/ tấn Vì thế, khi A yêu cầu B giao 4 tấn cà chua còn lại thì B từ chối, với lý do hợp đồng chưa được giao kết B không có trách nhiệm giao hàng cho A Bởi vì, B chưa từng thông báo cho A về việc đồng ý giao kết với đề nghị của A đưa ra Trong trường hợp này, nếu căn cứ vào Điều 404 BLDS năm 2005 sẽ thiếu cơ sở pháp lý xác định thời điểm giao kết hợp đồng giữa A và B do Điều 404 không dự liệu thời điểm giao kết của hợp đồng khi việc giao kết được thực hiện bằng hành vi cụ thể Như vậy, việc giao kết hợp đồng của A và B không tồn tại B không có nghĩa vụ giao 4 tấn cà chua còn lại cho A Giữa A và B không tồn tại một hợp đồng nào để ràng buộc trách nhiệm của B Từ đó, quyền lợi cho

A sẽ không được đảm bảo trong khi việc giao hàng của B đã chứng tỏ B muốn giao kết hợp đồng với A nhưng sau đó thay đổi ý định vì giá mặt hàng thay đổi Nếu xem xét Điều 401 khi quy định về hình thức hợp đồng, Điều luật này cho phép hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản và trong đó có hành vi cụ thể Điều 404 quy định

về thời điểm giao kết, lại không quy định thời điểm đối với hình thức giao kết này trong khi vẫn quy định thời điểm giao kết của các hình thức như giao kết bằng lời nói, văn bản Từ đó cho thấy, tính thiếu chặt chẽ giữa các Điều luật trong BLDS năm 2005 Thiết nghĩ, Điều 404 BLDS nên bổ sung quy định này để phù hợp với thực tiễn cuộc sống và với thông lệ quốc tế.17

Với BLDS năm 2005, thời điểm hợp đồng có hiệu lực bị ràng buộc bởi điều kiện là hợp đồng “được giao kết hợp pháp” và như đã phân tích ở trên thì hợp đồng giao kết đáp ứng những điều kiện tại Điều 122 BLDS năm 2005 không quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đối với hợp đồng giao kết nhưng chưa hợp pháp, sau

đó, lại đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định Như vậy, thời điểm hợp đồng có hiệu lực là vào thời điểm giao kết hay vào thời điểm đáp ứng đủ điều kiện của một giao dịch hợp pháp Chẳng hạn, với hợp đồng cần tuân thủ những điều kiện

bắt buộc như khoản 2 Điều 464 BLDS năm 2005: “Hợp đồng trao đổi tài sản phải lập

thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký nếu pháp luật có quy định khác” Hiện nay, có hai quan điểm về vấn đề này: Theo quan điểm thứ nhất, sau khi

đáp ứng điều kiện để hợp đồng hợp pháp “hợp đồng có hiệu lực một cách “hồi tố” từ

17

Quy định về thể hiện sự chấp nhận thông qua hành vi cụ thể đã được quy định trong Bộ nguyên tắc Unidroit, Công ước Viên 1980

Trang 18

thời điểm giao kết: ví dụ, các bên ký hợp đồng văn bản tay ngày 1-4 và công chứng theo yêu cầu của pháp luật ngày 8-4 thì từ ngày 8-4 hợp đồng được giao kết hợp pháp nhưng một khi được giao kết hợp pháp thì hợp đồng có hiệu lực ngày 1-4”18

Quan điểm thứ hai cho rằng, “Đối với dạng hợp đồng này mà các bên thỏa thuận sẽ yêu cầu công chứng chứng nhận vào hợp đồng thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sẽ được xác định theo khoản 3 Điều 4 Luật Công chứng ( ) theo khoản 3 Điều 4 Luật Công chứng thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà ở không phát sinh từ thời điểm giao kết hợp đồng mà được xác định kể từ khi các bên hoàn thành thủ tục công chứng”19

Theo quan điểm này, dù hợp đồng đó là của các bên tự thỏa thuận về việc công chứng, chứng thực hay pháp luật bắt buộc việc giao kết phải công chứng, chứng thực thì thời điểm giao kết hợp đồng không “hồi tố” về thời điểm giao kết như quan điểm thứ nhất mà hiệu lực hợp đồng sẽ phát sinh theo khoản 3 Điều 4 Luật Công chứng Với quy định của khoản 3 Điều 4 Luật Công chứng thì ngày công chứng viên

ký và đóng dấu vào hợp đồng là ngày hợp đồng đó có hiệu lực nhưng một vấn đề cần được làm rõ đó là hiệu lực ở đây là hiệu lực gì? Hiệu lực pháp lý của một văn bản công chứng hay là hiệu lực của một hợp đồng tạo nên sự ràng buộc pháp lý cho các bên Qua

đó cho thấy, quy định của pháp luật không rõ ràng dẫn đến những quan điểm khác nhau trên thực tế Vì vậy, để thống nhất trong việc đưa ra thời điểm trong trường hợp này cần có quy định mang tính bao quát cao và cụ thể hơn

Như vậy, BLDS năm 2005 đã dành riêng một Điều luật để quy định về thời điểm giao kết hợp đồng Tuy nhiên, qua những phân tích trên đây, có thể thấy, những quy định về thời điểm giao kết- là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vẫn còn nhiều thiếu sót Điển hình như chưa dự liệu được thời điểm giao kết, trong trường hợp trả lời chấp nhận giao kết bằng hành vi cụ thể hoặc thời điểm giao kết là lúc nào khi điều kiện của hợp đồng giao kết hợp pháp xảy ra sau khi các bên đi đến thống nhất, bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị từ bên được đề nghị Ngoài ra, sự chưa rõ ràng trong quy định về thời điểm của hợp đồng giao kết bằng lời nói hay bằng văn bản dẫn đến những cách hiểu không được nhất quán Từ những bất cập này nên yêu cầu sửa đổi, bổ sung Điều 404 BLDS là thật sự cần thiết

Trang 19

Ngoài thời điểm giao kết hợp đồng, thời điểm do các bên thỏa thuận cũng là một thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Vì vậy, việc xem xét, tìm hiểu về thời điểm này là một phần rất quan trọng

1.2.2 Thời điểm do các bên thỏa thuận

Một trong những nguyên tắc được BLDS đưa ra là các bên có thể tự do thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Dựa trên nguyên tắc này, Điều 405 BLDS năm 2005 đã quy định các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, chỉ trừ một số trường hợp không được thỏa thuận mà phải tuân theo quy định của pháp luật Thông thường các bên thỏa thuận hợp đồng có hiệu lực ở những thời điểm sau tùy từng trường hợp:

 Hợp đồng có hiệu lực ở một thời điểm nhất định Trong trường hợp này, các bên có thể thỏa thuận với nhau một thời điểm cụ thể để hợp đồng có hiệu lực và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ Ví dụ: A bán cho B một cái máy tính với giá 15 triệu đồng A và B thỏa thuận hợp đồng sẽ có hiệu lực vào ngày 8/8/2014 Từ thời điểm này,

A và B sẽ chịu sự ràng buộc của hợp đồng A sẽ phải giao máy tính cho B, đồng thời,

B phải thanh toán 15 triệu đồng cho A

 Hợp đồng có hiệu lực vào một thời điểm sau thời điểm giao kết Các bên

có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sau thời điểm giao kết Theo nội dung của Điều 405 BLDS quy định thì thời điểm do các bên thỏa thuận sẽ là thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng Có thể làm rõ qua ví dụ sau: Ngày 9/6/2014, Hoa gửi thư qua đường bưu điện cho Lan với đề nghị chào bán một lô hàng mỹ phẩm Hàn Quốc, Lan nhận được thư và gửi thư phản hồi cho Hoa về việc chấp nhận mua lô hàng mỹ phẩm của Hoa đã chào bán Ngày 20/6/2014, Hoa nhận được thư của Lan Tuy nhiên,

vì một số lý do trong vấn đề kinh doanh, nên Lan gọi điện trao đổi với Hoa Hai bên thống nhất với nhau hợp đồng hai bên đã giao kết sẽ có hiệu lực vào ngày 28/6/2014 Qua đó, ngày 20/6/2014 là thời điểm Hoa và Lan đã giao kết hợp đồng, nhưng ngày 28/6/2014 mới là ngày hợp đồng có hiệu lực Khi thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

và thời điểm giao kết khác nhau thì sự khác nhau đó có thể là thời điểm có hiệu lực sau thời điểm giao kết hoặc thời điểm có hiệu lực trước thời điểm giao kết Tuy nhiên, sự thỏa thuận này sẽ dẫn đến nhiều vấn đề Vấn đề thứ nhất, nếu thỏa thuận sau thời điểm giao kết thì từ thời điểm hợp đồng giao kết đến trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực, trong khoảng thời gian này hợp đồng chưa có hiệu lực Như vậy, trách nhiệm ràng buộc của hợp đồng đối với các bên sẽ như thế nào nếu như có một bên không muốn

Trang 20

tiếp tục hợp đồng BLDS năm 2005 chưa dự liệu vấn đề này Thiết nghĩ, khi hai bên đã giao kết hợp đồng là đã cùng nhau trải qua quá trình thương lượng đi đến thống nhất những nội dung của hợp đồng Vấn đề còn lại chỉ là chưa tới thời điểm hợp đồng có hiệu lực Nguyên tắc chung của giao dịch dân sự là phải thiện chí trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 6 BLDS năm 2005) nên theo quan điểm tác giả đây có thể là cơ sở để giải quyết trong trường hợp này Bởi vì, nguyên tắc thiện chí là “buộc một bên phải quan tâm tới lợi ích của đối tác và nếu chỉ quan tâm đến lợi ích của mình

mà bỏ qua lợi ích của đối tác là không xử sự phù hợp với yêu cầu của thiện chí”20 Một

số hệ thống luật đã có quy định về trường hợp đối tác tham gia thương lượng hợp đồng nhưng không có ý thức xác lập hợp đồng, trong khi pháp luật nước ta chưa có quy định, nên chúng ta cần có cơ sở pháp lý giải quyết và nguyên tắc thiện chí là một cơ sở phù hợp để vận dụng giải quyết trong hoàn cảnh này Vấn đề thứ hai, thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trước thời điểm giao kết hợp đồng Để xác lập một hợp đồng các bên phải tiến hành thỏa thuận đi đến thống nhất và giao kết hợp đồng, đây là tiến trình “nguyên thủy” của bất cứ hợp đồng nào Nếu thỏa thuận thời điểm có hiệu lực hợp đồng trước thời điểm giao kết sẽ đi ngược lại quá trình này Bởi vì, hợp đồng chưa được giao kết thì sao lại kể đến thời điểm hợp đồng có hiệu lực, cụ thể kể từ thời điểm giao kết hợp đồng thì các bên đã thỏa thuận xong nội dung hợp đồng bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên đối với hợp đồng đó Như vậy, khi hiệu lực hợp đồng xảy ra trước thời điểm giao kết thì cơ sở nào hợp đồng tạo nên sự ràng buộc, bởi nội dung hợp đồng không tồn tại Từ sự phân tích trên, thiết nghĩ không nên chấp nhận thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trước thời điểm giao kết Hiện nay, thực

tế xảy ra một số trường hợp là hợp đồng thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sau thời điểm thực hiện hợp đồng Về bản chất, trường hợp này khá tương tự với với việc thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trước thời điểm giao kết Thực hiện hợp đồng là thực hiện những thỏa thuận đã thống nhất, qua đó mang lại lợi ích cho nhau Tuy nhiên, khi hợp đồng có hiệu lực thì mới tạo nên giá trị pháp lý, buộc các bên trong hợp đồng chịu trách nhiệm cho thỏa thuận của mình Vậy thì khi hợp đồng có hiệu lực sau thời điểm thực hiện hợp đồng cơ chế nào sẽ đảm bảo việc thực thi đó Đặc biệt, trong trường hợp có một bên trong hợp đồng yếu thế hơn

 Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi có một sự kiện pháp lý xảy ra Điều này có nghĩa là ràng buộc hiệu lực của hợp đồng vào những sự kiện pháp lý trong tương lai,

20

Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb CTQG, 2013, tr.162

Trang 21

để đảm bảo một bên chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình, bên còn lại thường đưa ra yêu cầu hợp đồng chỉ có hiệu lực khi có sự kiện pháp lý xảy ra và thời điểm xảy ra sự kiện pháp lý đó cũng chính là thời điểm hợp đồng có hiệu lực Ví dụ, một hợp đồng thi công công trình cho một chủ xây dựng chỉ có hiệu lực nếu chủ xây dựng được ngân hàng cấp bảo lãnh, trong trường hợp này thời điểm chủ xây dựng được ngân hàng cấp bảo lãnh cũng là lúc hợp đồng thi công có hiệu lực.21

 Hợp đồng chỉ có hiệu lực tại thời điểm thực hiện điều kiện của bên yêu cầu Để hợp đồng có điều kiện phát sinh thì các bên phải thống nhất với nhau về hợp đồng nhưng sự hình thành hợp đồng còn phụ thuộc vào điều kiện xảy ra trong tương lai Ở đây, tất cả đã sẵn sàng nhưng hợp đồng chưa phát sinh vì sự phát sinh của hợp

đồng lệ thuộc vào một yếu tố chưa xảy ra Theo quy định khoản 1 Điều 125: “Trong

trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ” và khoản 6 Điều

406 BLDS: “Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc

Đây là những quy định

điển hình của BLDS năm 2005 về hợp đồng có điều kiện Tuy nhiên, Điều 125 và Điều

406 BLDS có sự mâu thuẫn Trong khi tiêu đề giao dịch dân sự có điều kiện (hợp đồng cũng là dạng giao dịch) là giống nhau nhưng nội dung không tương ứng với nhau Khoản 1 Điều 125 đề cập giao dịch có điều kiện liên quan đến việc thỏa thuận điều kiện phát sinh hay hủy bỏ giao dịch Còn Điều 406 thì quy định hợp đồng có điều kiện

là điều kiện liên quan đến việc thực hiện hợp đồng mà không phải là điều kiện phát sinh hay hủy bỏ hợp đồng Trong khi, hợp đồng phát sinh và thực hiện hợp đồng là khác nhau Đối với hợp đồng có điều kiện, đôi khi rất khó xác định thời điểm có hiệu lực Chẳng hạn, xác định điều kiện thực hiện hay chưa? Thực hiện thời điểm nào để đi đến kết luận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng? Hơn nữa, khi điều kiện đã được thực hiện nhưng giao dịch vẫn phải xem xét đến yếu tố giao kết hợp pháp Đó là những vấn

đề cần phải đặt ra Có thể dẫn một ví dụ làm rõ vấn đề này23

: Bà Tao ký hợp đồng mua bán nhà với vợ chồng ông Phương với thỏa thuận vợ chồng ông Phương phải nộp tiền hóa giá nhà, lệ phí trước bạ,… và đồng thời các bên thỏa thuận “khi bà Tao đã làm thủ tục mua bán cho bên B tại văn phòng công chứng nhà nước” Hội đồng thẩm phán xét

Trang 22

trường hợp này là hợp đồng có điều kiện Điều kiện ở đây là bên bán phải được công nhận là chủ sở hữu tài sản Tuy nhiên, khi điều kiện xảy ra, bà Tao được Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thì bà Tao không thực hiện Cụ thể, bà Tao không đến phòng công chứng, chứng thực theo thỏa thuận Do đó, hợp đồng đã không đáp ứng quy định về mặt hình thức nên trong vụ án này, hợp đồng bị tuyên vô hiệu Qua ví dụ cho thấy, thời điểm điều kiện phát sinh cũng

là lúc xác định hợp đồng các bên bắt đầu tồn tại, nhưng thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phải lúc nào cũng đồng nhất với thời điểm xảy ra điều kiện Vì còn phải tùy vào hợp đồng của các bên có đáp ứng những quy định của pháp luật yêu cầu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hay chưa

Mặc dù, BLDS năm 2005 khi quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng,

đã cho các bên có thể lựa chọn thời điểm mà hợp đồng có hiệu lực Tuy nhiên, BLDS không dự liệu hết những tình huống có thể xảy ra nên khi các bên có thỏa thuận về vấn

đề này đã dẫn đến một số khó khăn nhất định Bởi vì, quy định của Điều luật thiếu tính bao quát cho các trường hợp sẽ xảy ra nên nhiều trường hợp thiếu cơ sở giải quyết Chẳng hạn, như “khoảng trống” khi có sự thỏa thuận khác thời điểm giao kết hay các bên thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhưng với loại hợp đồng đó pháp luật cũng đã có quy định thời điểm hợp đồng có hiệu lực.24

1.2.3 Thời điểm theo quy định của pháp luật

Pháp luật tôn trọng sự tự do trong đời sống dân sự của các chủ thể Do đó, các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tùy theo mong muốn Tuy nhiên, “tôn trọng sự tự do của hợp đồng đúng chỗ và giới hạn sự tự do của hợp đồng cũng đúng chỗ”25 Vì vậy, để đảm bảo lợi ích chung và sự trật tự trong giao lưu dân sự

có một số trường hợp các bên bị giới hạn thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Nhìn chung, thời điểm hợp đồng có hiệu lực theo quy định của pháp luật được

xác định tại hai thời điểm sau đây:

Thứ nhất, thời điểm một bên nhận được đối tượng hợp đồng hoặc đối tượng hợp đồng được chuyển giao Đối với những hợp đồng được pháp luật quy định một cách minh thị tại thời điểm một bên trong hợp đồng nhận tài sản từ bên kia hoặc đối tượng của hợp đồng được chuyển giao thì hợp đồng phát sinh hiệu lực Có thể thấy, trường

Trang 23

hợp này trong quy định Điều 466 BLDS với hợp đồng tặng cho là động sản thì có hiệu lực vào thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản Trong khoản 2 Điều 467 thì đối với hợp đồng tặng cho bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản Bởi vì hợp đồng tặng cho là loại hợp đồng không có tính đền bù nên pháp luật quy định thời điểm có hiệu lực hợp đồng trùng với thời điểm chuyển giao tài sản hoặc nhận tài sản, để bên tặng cho tài sản có nhiều thời gian cho quyết định tặng cho tài sản của mình cho người khác Ngoài ra, BLDS năm

2005 cũng quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong lĩnh vực bảo đảm nghĩa

vụ dân sự Chẳng hạn, hợp đồng cầm cố, Điều 328 BLDS quy định: “Cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố” Điều này có nghĩa là hợp đồng cầm cố cũng phát sinh hiệu lực từ thời điểm tài sản được chuyển giao

Thứ hai, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là khi hoàn tất một thủ tục bắt buộc Với trường hợp này, hợp đồng sẽ có hiệu lực tại thời điểm mà các bên trong hợp đồng hoàn tất một thủ tục do pháp luật quy định Trong BLDS, có quy định nhiều loại hợp đồng phải công chứng, chứng thực và phải đăng ký như hợp đồng cho thuê nhà ở

trên 6 tháng (Điều 492 Bộ luật Dân sự); Hợp đồng thế chấp các tài sản như: Quyền sử

dụng đất, Quyền sử dụng rừng, Quyền sở hữu rừng trồng, Tàu bay, Tàu biển và các tài sản khác thế chấp bảo đảm nhiều nghĩa vụ26

; hợp đồng tặng cho bất động sản mà pháp

luật yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu (Điều 467 BLDS) và các hợp đồng khác Những hợp đồng có điều kiện hình thức là phải đăng ký, nghĩa là hợp đồng đó chỉ được xem là hoàn thiện về hình thức khi được lập bằng văn bản, được công chứng và

đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền BLDS cũng như Luật Nhà ở và các quy phạm pháp luật khác không có quy định nào trực tiếp xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dạng này (ngoại trừ quy định tại Điều 692 BLDS) Vì vậy, việc xác định thời điểm có hiệu lực cho hợp đồng trong các trường hợp trên sẽ gặp nhiều khó khăn khi không biết áp dụng thời điểm do các bên thỏa thuận, công chứng, chứng thực hay là thời điểm đăng ký Xem xét trường hợp BLDS quy định cụ thể thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm hoàn tất thủ tục bắt buộc Chẳng hạn, Điều 467 BLDS năm

26

Khoản 1 Điều 10 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP: Giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể

từ thời điểm giao kết, trừ các trường hợp sau đây:

a) Các bên có thoả thuận khác;

b) Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố;

c) Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, tàu bay, tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp;

d) Giao dịch bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực trong trường hợp pháp luật có quy định

Trang 24

2005 là một quy định điển hình cho thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật quy định Có thể dẫn ví dụ như sau: A lập hợp đồng tặng cho B quyền sử dụng đất với diện tích 100m2

Hai bênđã lập thành một văn bản, có công chứng, chứng thực Do hai bên đã ký vào hợp đồng và hợp đồng đã được công chứng xem như hợp đồng đã được giao kết, nhưng sau đó, A và B phát sinh mâu thuẫn A không cho B quyền sử dụng đất nói trên nữa B cho rằng mình có quyền nhận tài sản vì hợp đồng đã được ký kết Tuy nhiên, theo quy định của BLDS năm 2005 về thời điểm tặng cho động sản, bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm

đăng ký Cụ thể tại khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai 2013: “Việc chuyển đổi, chuyển

nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính” Như vậy, hợp đồng giữa A và B vẫn chưa phát

sinh hiệu lực Bởi vì, thời điểm đăng ký vào sổ địa chính mới là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phải thời điểm ký kết hay thời điểm công chứng

Có thể thấy rằng, hợp đồng có hiệu lực vào những thời điểm khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp trong những hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, trong ba loại thời điểm mà hợp đồng có hiệu lực được quy định tại Điều 405 BLDS năm 2005 thì khi có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hay pháp luật có quy định riêng thì việc xác định thời điểm phải dựa trên hai thời điểm này mà không dựa vào thời điểm giao kết Vấn đề đặt ra trong trường hợp các bên vừa thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và pháp luật cũng có quy định, thì dựa vào căn cứ nào để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Ví dụ, A thỏa thuận sẽ cho B 20 triệu đồng vào ngày sinh nhật của B Hai bên lập hợp đồng bằng văn bản và thỏa thuận hợp đồng có hiệu lực vào ngày ký Sau đó, A và B phát sinh mâu thuẫn, A tuyên bố không cho B 20 triệu nữa Trong tình huống này, pháp luật cũng có quy định là hợp đồng tặng cho động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì có hiệu lực vào thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản Như vậy, giữa thời điểm hai bên thỏa thuận là ngày ký hợp đồng và thời điểm pháp luật quy định là bên được tặng cho nhận tài sản thì thời điểm nào được áp dụng giải quyết trường hợp này Hiện nay, có ba quan điểm về vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất, cần phải căn cứ vào thỏa thuận trước bởi nguyên tắc của BLDS là tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, chỉ khi các bên không thỏa thuận mới áp dụng quy định của pháp luật Bởi vì hiện nay, trong BLDS cũng không có quy định nào cấm các bên trong hợp đồng thỏa thuận như vậy

Trang 25

Quan điểm thứ hai, cần xác định thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

là trước hay sau thời điểm do pháp luật quy định “Thiết nghĩ, nên cho phép các bên được thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhưng không được lùi ngược

về trước, sớm hơn thời điểm giao kết hoặc sớm hơn thời điểm có hiệu lực do pháp luật quy định”27 Theo quan điểm này, nếu thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

là sau thời điểm pháp luật quy định thì chấp nhận sự thỏa thuận và dựa vào thời điểm

do các bên thỏa thuận để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Ngược lại, thời điểm do các bên thỏa thuận trước thời điểm do pháp luật quy định thì xem thỏa thuận này là vô hiệu và dựa vào quy định của pháp luật để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

Quan điểm thứ ba, căn cứ vào quy định của pháp luật khi pháp luật có quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dù các bên có thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là ở một thời điểm khác vì thỏa thuận trong trường hợp này là trái pháp luật nên không được thừa nhận, bởi lẽ “không cho phép các chủ thể có thỏa thuận khác nên chỉ trong trường hợp pháp luật vừa có quy định cách xử sự vừa cho phép các bên có thể thỏa thuận khác thì sự thỏa thuận của các bên mới được thừa nhận”28

Về phía tác giả, tác giả cho rằng cả ba quan điểm trên đều dựa trên những cơ sở

lý luận nhất định Tuy nhiên, để có hiểu đúng vấn đề cần phải xem xét trong tổng thể các quy định của pháp luật Vì vậy, tác giả ủng hộ quan điểm thứ ba Bởi vì Điều 11

BLDS quy định: “xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải tuân theo quy định

của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật” Mặc dù tôn trọng thỏa thuận của các

chủ thể là nguyên tắc của pháp luật dân sự nhưng chỉ tôn trọng những thỏa thuận tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội Bên cạnh đó, khi pháp luật đã quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng như thời điểm đăng ký hoặc thời điểm chuyển giao tài sản thì không có một quy định nào thể hiện “trừ khi các bên có thỏa thuận khác” Điều này có nghĩa là pháp luật đã quy định một cách cụ thể

và cố định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Có thể xem xét khoản 2 Điều 397 BLDS năm 2005 quy định: “khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện thông tin khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Đây là một ví dụ cho trường hợp pháp luật vừa quy định cách xử sự vừa cho

Trang 26

phép các bên thỏa thuận Hơn nữa, nếu xét thừa nhận sự thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sau thời điểm có hiệu lực của pháp luật sẽ không tạo nên tính nhất quán Ví dụ, pháp luật quy định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có hiệu lực tại thời điểm đăng ký vào sổ địa chính tức là lúc này cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chính thức ghi nhận việc tặng cho Đồng thời, đây cũng là cách thức nhà nước thực hiện chính sách quản lý về đất đai Nếu cho phép các bên thỏa thuận thời điểm có hiệu lực sau thời điểm này thì sau khi đã đăng ký vào sổ địa chính nhưng vẫn chưa có hiệu lực theo như các bên thỏa thuận Như vậy, lại tạo ra một khoảng thời gian “trống” từ khi đăng ký đến khi hợp đồng có hiệu lực Giả sử, tại giai đoạn này, các bên phát sinh mâu thuẫn, hợp đồng không có hiệu lực tức không có giá trị ràng buộc Tuy nhiên, trên thực tế việc đăng ký vào sổ địa chính và chuyển quyền sử dụng đất đã được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vậy thì cơ chế giải quyết trường hợp này như thế nào nếu công nhận thỏa thuận của các bên thì việc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền

và hoạt động tiếp sau đó trở nên không có ý nghĩa Từ phân tích trên, thứ tự của các căn cứ xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thứ nhất dựa vào quy định của pháp luật; thứ hai, dựa vào thỏa thuận của các bên; thứ ba, dựa vào thời điểm giao kết

Như vậy, về hình thức, Điều 405 BLDS năm 2005 là một quy định rất ngắn gọn, nhưng về nội dung, nó lại chứa một phần rất quan trọng của hợp đồng, đó là căn cứ xác định thời điểm mà hợp đồng có hiệu lực Tuy nhiên, qua những phân tích trên, có thể thấy, về mặt lý luận, quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS năm

2005 vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp Điều này có thể xuất phát từ sự không nhất quán giữa các điều luật trong BLDS hoặc do nhà làm luật chưa dự liệu hết những tình huống có thể xảy ra

So với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 có những thay đổi nhất định Tuy nhiên, sự thay đổi đó có mang lại hiệu quả thực tế hay không, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ở phần tiếp sau

1.3 So sánh thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của BLDS năm

1995 với BLDS năm 2005

Điều 404, Điều 405 BLD năm 2005 và Điều 403, Điều 404 của BLDS năm

1995 là các Điều luật tương ứng liên quan đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, mặc dù, còn có các trường hợp thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được quy định cụ thể và nằm rải rác trong các chế định của hợp đồng thông dụng Tuy nhiên, quy định chung và nền tảng cho thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại những

Trang 27

điều luật nêu trên nên tác giả chỉ tập trung so sánh các Điều luật này để thấy được điểm giống và khác về quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, từ đó, làm rõ sự thay đổi về việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS năm 2005

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được BLDS năm 1995 quy định tại Điều

404 và thời điểm giao kết hợp đồng dân sự quy định ở Điều 403 Theo đó, “Điều 404

Hiệu lực của hợp đồng dân sự: 1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt

buộc đối với các bên; 2 Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; 3 Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” và “Điều 403

Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự: 1 Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề

nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hoặc khi các bên đã thoả thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng; 2 Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp thuận; 3 Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng; 4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản; 5 Đối với hợp đồng phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm được chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép”

Trong khi đó, theo BLDS năm 2005, thời điểm có hiệu lực được quy định tại Điều 405 và thời điểm giao kết được quy định tại Điều 404 Cụ thể là: “Điều 405 Hiệu

lực của hợp đồng dân sự: Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm

giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” và

“Điều 404 Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự: 1 Hợp đồng dân sự được giao kết

vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết; 2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết; 3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng;

4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”

Nhìn chung, từ các quy định trên của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005,

chúng ta có thể thấy rằng:

Về hình thức:

Trang 28

BLDS năm 2005 vẫn dành hai điều khoản quy định riêng về thời điểm giao kết

và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng29 Tuy nhiên, BLDS hiện hành đã có sự rút gọn Điều luật hơn khi bỏ đi khoản 5 Điều 403 và khoản 2, khoản 3 Điều 404 BLDS năm

1995 nên quy định tại Điều 405 BLDS năm 2005 gần như tương ứng với khoản 3 Điều

404 BLDS năm 1995 BLDS năm 2005 không quy định thời điểm các bên thỏa thuận xong toàn bộ nội dung của hợp đồng tại khoản 1 Điều 404 như quy định tại khoản 1

Điều 403 BLDS năm 1995

Về nội dung:

Xem xét từng Điều tương ứng về nội dung của BLDS năm 2005 và BLDS năm

1995 có những quy định giống nhau Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng ở cả hai Bộ luật đều quy định có ba thời điểm: thời điểm giao kết, thời điểm do các bên thỏa thuận hoặc thời điểm theo quy định của pháp luật Quy định về thời điểm giao kết hợp đồng đều được quy định dựa trên hình thức hợp đồng giao kết Chẳng hạn như dựa vào hình thức giao kết bằng văn bản hay lời nói và thời điểm giao kết trong các trường hợp này BLDS quy định không khác biệt đáng kể so với BLDS năm 1995 Bên cạnh đó, BLDS năm 2005 đã giữ nguyên quy định hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là

sự trả lời chấp nhận giao kết Một điểm tương đồng nữa, BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 đều không quy định thời điểm giao kết của hợp đồng giao kết thông qua phương tiện điện tử Trong khi BLDS năm 2005 đã có sự bổ sung được coi là hoàn thiện hơn BLDS năm 1995 Bởi vì, khoản 1 Điều 124 BLDS năm 2005 thừa nhận giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi

là giao dịch bằng văn bản Nhiều ý kiến cho rằng, Điều 404 BLDS năm 2005 cần bổ sung thời điểm giao kết trong trường hợp trên, để có căn cứ pháp lý rõ ràng trong việc xác định thời điểm giao kết của loại hợp đồng này Mặc dù vẫn giữ lại một số quy định của BLDS năm 1995, nhưng BLDS năm 2005 cũng đã có một số sửa đổi đáng kể về quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

29

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991 chỉ có một quy định cho thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp

đồng: “Điều 14 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng 1- Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, nếu các bên

không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác.2- Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên thoả thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng.Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm các bên ký vào văn bản.Nếu hợp đồng phải có chứng thực của cơ quan công chứng Nhà nước, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cơ quan công chứng Nhà nước chứng thực”

Trang 29

Thứ nhất, Điều 404 BLDS năm 2005 đã có một số thay đổi so với BLDS năm

1995, theo đó khoản 1 quy định nguyên tắc chung, còn khoản 2 trở đi quy định những trường hợp cá biệt Trong khi đó giữ lại đoạn “khi các bên đã thoả thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng” sẽ không đúng như nguyên tắc trên vì khoản 3 đã quy định: “thời điểm giao kết của hợp đồng miệng là thời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng” Do đó, khoản 1 Điều 404 BLDS năm 2005 không quy định thời điểm giao kết “khi các bên đã thoả thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng”

Thứ hai, BLDS năm 2005 đã không quy định thời điểm giao kết của hợp đồng

có công chứng, chứng thực hay đăng ký hoặc cho phép như quy định của BLDS năm

1995 Một số quan điểm cho rằng, đây là điều thiếu sót của BLDS năm 2005, nhưng có

sự lý giải về quy định này: “Việc bỏ qua quy định này xuất phát từ bản chất của hợp đồng dân sự là sự thống nhất ý chí của các bên, khi các bên đã đạt được sự thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng bằng lời nói hoặc cùng nhau ký vào văn bản thì mặc dù chưa được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép nhưng hợp đồng đã hình thành Hơn nữa, từ thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận về nội dung của hợp đồng đến thời điểm hợp đồng được đăng ký, cho phép, công chứng hay chứng thực là một khoảng thời gian (nhiều trường hợp là khá dài), với thủ tục phức tạp Trong nhiều trường hợp khi thực hiện xong các thủ tục này đã xuất hiện giao dịch khác mà từ đó sẽ dẫn đến quyền dân sự của các bên đương sự bị ảnh hưởng và các bên không tự chịu trách nhiệm với các giao dịch dân sự do chính mình xác lập và gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp sau này”30

Do đó khi, xem xét hợp đồng có chứng nhận của công chứng nhà nước, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép thì thời điểm giao kết hợp đồng xem như “một loại hợp đồng lập thành văn bản, bởi vậy thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”.31

Thứ ba, Điều 405 BLDS năm 2005 lại không quy định giá trị hiệu lực của hợp đồng như BLDS năm 1995: “hợp đồng giao kết hợp pháp thì có hiệu lực bắt buộc với các bên” hay “việc không được thay đổi hủy bỏ nếu không có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác” Nếu xem xét tiêu đề Điều luật là “hiệu lực của hợp đồng dân sự” như Điều 404 của BLDS năm 1995 và Điều 405 BLDS năm 2005 thì BLDS năm

1995 có sự phù hợp hơn giữa tiêu đề và nội dung Điều luật khi hiệu lực hợp đồng chính là tính ràng buộc các bên vào những gì đã cùng thống nhất thỏa thuận, trong khi

Trang 30

vẫn là tiêu đề luật đó nhưng nội dung Điều 405 BLDS năm 2005 lại không tương thích

vì Điều luật này nghiêng về quy định thời điểm của hợp đồng chứ không hề quy định tính ràng buộc như bản chất của hiệu lực hợp đồng vốn có BLDS năm 2005 đã có quy định đề cập đến hiệu lực của hợp đồng, nhưng nó thuộc quy định mang tính nguyên tắc cho tất chung Cụ thể là tại đoạn 4 Điều 4 BLDS năm 2005 với nội dung: “cam kết thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng” Vì vậy, để tránh trường hợp quy định không đồng nhất giữa nội dung với tiêu đề và không đề cập lại những nguyên tắc đã quy định trước

đó, thiết nghĩ Điều 405 BLDS năm 2005 cần có hướng sửa đổi phù hợp

Tóm lại, việc so sánh quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 1995 cho thấy được BLDS năm 2005 vẫn giữ lại những nội dung cơ bản của BLDS năm 1995, nhưng bên cạnh đó, cũng đã có một số thay đổi trong quy định về thời điểm mà hợp đồng có hiệu lực Sự thay đổi đó một phần là rút kinh nghiệm từ thực tiễn áp dụng BLDS năm 1995 Quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là một quy định quan trọng Vì thế, không chỉ riêng pháp luật nước ta quy định mà pháp luật các nước trên thế giới cũng đã có chế định riêng điều chỉnh về vấn

đề này Để có nhìn bao quát và đầy đủ hơn, tác giả sẽ đối chiếu quy định về quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS năm 2005 với pháp luật nước ngoài

Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện chế định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS hiện hành

1.4 So sánh thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân

sự năm 2005 với pháp luật nước ngoài

Ngày nay, việc nắm bắt các tư tưởng lập pháp tiến bộ đã được đại đa số các nước thừa nhận Qua quá trình tiếp thu, học hỏi pháp luật nước ngoài, nhìn thấy những

ưu điểm và hạn chế của quy định nước này khi được áp dụng tại nước sở tại rồi so sánh với điều kiện hoàn cảnh trong nước để rút kinh nghiệm, tham khảo trong quá trình xây dựng pháp luật quốc gia Như vậy, sẽ mang lại lợi ích vô cùng lớn, giúp tiết kiệm ngân sách vì hoạt động lập pháp rất tốn kém về tài chính, nhân lực và thời gian Đồng thời,

sẽ giảm thiểu tình trạng xung đột luật nhất là trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật

có từ hai chủ thể sự khác nhau về quốc tịch, ví dụ trong quan hệ hợp đồng giữa công dân Việt Nam với công dân quốc gia khác

Pháp luật hợp đồng là một bộ phận pháp luật quan trọng mà các nước thường dành những quy định cụ thể điều chỉnh quan hệ phát sinh từ hợp đồng Từ những Điều

Trang 31

ước quốc tế dành riêng cho hợp đồng như Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc, đến những quy định hợp đồng trong BLDS của Pháp, Liên bang Nga hay Nhật Bản, một số nước còn quy định về hợp đồng trong luật chuyên biệt như Luật Hợp đồng của Trung Quốc… So sánh quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong BLDS năm 2005 với pháp luật nước ngoài để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật nước ta với pháp luật nước ngoài qua đó, phần nào nhận thấy cái được và chưa được trong quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng của BLDS năm 2005 để có định hướng hoàn thiện trong tương lai, tạo nên “sự thay đổi của pháp luật quốc gia theo hướng phù hợp với sự thay đổi của pháp luật quốc tế”.32

1.4.3 Với Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế (Unidroit)

Theo như Điều 2.1.133 và khoản 2 Điều 2.1.6 của Bộ nguyên tắc Unidroit có quy định tương tự với BLDS năm 2005 của Việt Nam là hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết Bên cạnh đó, BLDS năm 2005 của Việt Nam và Bộ nguyên tắc Unidroit đều chọn thời điểm bên đề nghị nhận được lời chấp nhận đề nghị giao kết là lúc hợp đồng có hiệu lực Bên cạnh những quy định tương đồng, BLDS năm 2005 và Bộ nguyên tắc Unidroit cũng có những quy định khác nhau:

Thứ nhất, Bộ Nguyên tắc Unidroit không có quy định tương tự như BLDS năm

2005 Việt Nam về một quy phạm riêng biệt cho thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tại Điều 405 hay thời điểm giao kết hợp đồng ở Điều 404, mà thông qua cách thức chấp nhận đề nghị giao kết sẽ xác định được thời điểm hợp đồng có hiệu lực:

“1 Lời nói, văn bản hoặc các hành vi cụ thể của bên được đề nghị nói lên sự

đồng ý lời đề nghị giao kết, do đó được coi là chấp nhận giao kết Im lặng hay bất tác

vi tự bản thân không nói lên sự đề nghị

2 Hợp đồng có hiệu lực khi bên đề nghị giao kết nhận được sự chấp thuận lời

đề nghị giao kết

3 Mặc dù vậy, nếu lời đề nghị giao kết hay qui ước đã được xác lập giữa đôi

bên hoặc tập quán có quy định khác, bên nhận đề nghị có thể bày tỏ sự chấp nhận

32

Nguyễn Trung Tín, “Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa luật quốc tế và luật quốc gia trong bối cảnh hội nhập”, Tạp

chí Nhà nước & Pháp luật, số 10/2006, tr.67

33

Điều 2.1.1 Bộ Nguyên tắc Unidroit: “Một hợp đồng có thể được giao kết bằng việc chấp nhận một đề nghị giao kết hoặc bằng hành vi của các bên mà nó có thể bộc lộ đầy đủ nội dung của thỏa thuận”

Trang 32

bằng việc thực hiện một công việc mà không cần phải thông báo cho bên đề nghị giao kết biết, sự chấp nhận có hiệu lực khi công việc đó được thực hiện”.34

Điều 2.1.6 đã đưa ra hai thời điểm xem như hợp đồng được giao kết dựa trên sự chấp nhận giao kết là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị từ bên được đề nghị hoặc thời điểm bên được đề nghị thực hiện hành vi thể hiện sự chấp nhận

đề nghị Đối chiếu với Điều 404 BLDS năm 2005 ta thấy, Điều 404 đưa ra những thời điểm cụ thể đối với từng hình thức hợp đồng như hợp đồng giao kết bằng văn bản thì thời điểm giao kết thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản,…

Thứ hai, Điều 404 BLDS năm 2005 không quy định người được đề nghị có thể hiện sự chấp nhận của mình thông qua hành động cụ thể và đương nhiên sẽ không có quy định tương tự tại khoản 3 Điều 2.1.6 của Bộ Nguyên tắc Unidroit theo đề nghị giao kết hay quy ước hoặc tập quán, bên chấp nhận có thể bày tỏ bằng việc thực hiện một công việc và thời điểm đánh đó dấu sự chấp nhận Bởi vì trên tinh thần của Bộ nguyên tắc Unidroit, các bên có quyền tự do lựa chọn hình thức dưới dạng hành vi, lời nói, cử chỉ hay bằng văn bản… Trong quá trình ký kết hợp đồng, nhất là trong hoạt động thương mại, đối với những hợp đồng phức tạp cần sự đàm phán kỹ lưỡng, kéo dài, nếu hai bên khẳng định rằng hợp đồng chưa được giao kết cho đến khi có được sự thỏa thuận cụ thể về hình thức hợp đồng, thì hợp đồng sẽ chưa được giao kết cho đến khi các bên đạt được thỏa thuận về hình thức Vì vậy, Bộ nguyên tắc Unidroit đã dự liệu thời điểm giao kết đối với việc giao kết xảy ra với bất kỳ hình thức nào và giao kết bằng hành vi cụ thể cũng không ngoại lệ

Thứ ba, BLDS năm 2005 quy định về thời điểm giao kết dựa trên hình thức hợp đồng và không phải bất kỳ lúc nào thời điểm giao kết cũng là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Bởi vì nếu các bên thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hay pháp luật có quy định khác về thời điểm hợp đồng có hiệu lực thì phải dựa vào các căn cứ đó

để xác định Trong khi đó, Bộ nguyên tắc Unidroit chỉ đưa ra quy định “hợp đồng có hiệu lực khi bên đề nghị giao kết nhận được chấp thuận lời đề nghị giao kết”, do đó thời điểm nhận được sự chấp nhận đề nghị giao kết cũng là thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực

Cuối cùng, mặc dù cả BLDS năm 2005 và Bộ nguyên tắc Unidroit đều có quy định về im lặng trong việc chấp nhận hợp đồng, BLDS năm 2005 cũng thừa nhận im lặng là chấp nhận giao kết hợp đồng nếu hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị vẫn

34

Điều 2.1.6 Bộ nguyên tắc Unidroit

Trang 33

im lặng nếu có sự thỏa thuận giữa các bên im lặng là chấp nhận giao kết và thời điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp này là thời điểm hết hạn trả lời đề nghị giao kết

Bộ nguyên tắc Unidroit thì ngược lại, tại khoản 1 Điều 2.1.6 đã quy định bản thân sự

im lặng không thể hiện sự chấp nhận giao kết hợp đồng và Bộ nguyên tắc này cũng không thể hiện khi các bên có thỏa thuận về im lặng là sự chấp nhận thì như thế nào và thời điểm trong trường hợp này ra sao mà tại khoản 3 Điều 2.1.6 chỉ đề cập tới trường hợp người đề nghị thể hiện sự chấp nhận thông qua hành vi cụ thể

1.4.2 Với Công ước Viên 1980 (CISG)

CISG là Công ước được áp dụng phổ biến để điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hiện nay, Việt Nam vẫn đang trong quá trình xem xét gia nhập công ước Viên nên vẫn chưa là thành viên của Công ước này CISG bao gồm các quy phạm thực chất quy định một cách chi tiết và cụ thể những vấn đề liên quan đến hợp đồng

So sánh BLDS năm 2005 và CISG về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cũng là cơ

sở đánh giá sự phù hợp giữa quy định nước ta với quốc tế về vấn đề này

Điều 23 CISG quy định: “Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ lúc sự chấp

nhận chào hàng có hiệu lực chiếu theo các quy định của công ước này” và khoản 2

Điều 18 CISG “Chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được chấp nhận” Qua hai quy định này cho thấy, thời điểm hợp đồng có hiệu lực theo CISG

là thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực, có nghĩa là thời điểm người chào hàng nhận được chấp nhận vô điều kiện của người được chào hàng Quy định này tương tự với quy định BLDS năm 2005 khi thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm giao kết thì hợp đồng có hiệu lực khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị toàn bộ nội dung của hợp đồng từ bên được đề nghị Thoạt nhìn, BLDS năm 2005 có nhiều quy định dường như tương đồng với CISG nhưng thực sự lại có sự khác biệt đáng kể:

Thứ nhất, về mặt pháp lý, một chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị pháp lý khi nó gửi tới tay người chào hàng Tuy nhiên, một chấp nhận chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý nếu nó thỏa mãn yêu cầu là chấp nhận chào hàng vô điều kiện Chấp nhận vô điều kiện

là sự chấp nhận hoàn toàn của người được chào hàng với nội dung chào hàng do người chào hàng đưa ra BLDS năm 2005 cũng quy định việc chấp nhận chào hàng vô điều kiện mới là thời điểm giao kết hợp đồng Trong khi đó theo quy định của Công ước, trong một số trường hợp, mặc dù người được chào hàng không chấp nhận toàn bộ chào hàng mà chỉ đưa ra một số điều kiện mới cho việc chấp nhận thì việc chấp nhận mới

Trang 34

này cũng được xem như chấp nhận vô điều kiện, nếu những điều kiện mới cho người được chào hàng đưa ra không làm thay đổi những thông tin chủ yếu của chào hàng khoản 2 Điều 19

Thứ hai, cũng như Bộ nguyên tắc Unidroit, Công ước Viên 1980 không dành riêng quy định về thời điểm có hiệu lực hợp đồng hay thời điểm giao kết mà chỉ quy định về hiệu lực chào hàng tại khoản 2 Điều 18 CISG “Chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được chấp nhận”, đây là quy định thể hiện thời điểm chào hàng có hiệu lực cũng là lúc hợp đồng có hiệu lực, ngoài ra không có quy định nào khác như BLDS năm 2005 quy định cụ thể về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự hay thời điểm giao kết

Thứ ba, CISG cũng chấp nhận việc chấp nhận chào hàng thông qua hành vi cụ thể nếu trước đó giữa các bên có mối quan hệ tương hỗ hay tập quán và chấp nhận chào hàng có hiệu lực tại thời điểm hành vi đó được thực hiện, có thể nhận thấy rằng BLDS năm 2005 không có quy định này Bên cạnh đó, CISG không đương nhiên xem

sự im lặng là chấp nhận chào hàng, mà chỉ được xem là chấp nhận chào hàng khi “Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng”35 Trong khi quy định tại khoản 2 Điều 404 BLDS năm 2005 lại xem im lặng là chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu các bên có thỏa thuận là im lặng là chấp nhận giao kết

Cuối cùng, BLDS năm 2005 quy định thời điểm giao kết hợp đồng dựa trên hình thức giao kết hợp đồng, còn những quy định của CISG cho thấy, thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực, thời điểm chấp nhận chào hàng sẽ dựa vào những cách thức của trả lời chấp nhận chào hàng Ví

dụ, nếu người được chào hàng trả lời chấp nhận bằng hành vi cụ thể thì thời điểm có hiệu lực là thời điểm người chào hàng thực hiện hành vi thể hiện sự chấp nhận chào hàng Tuy nhiên, CISG cũng có một quy định về thời điểm giao kết dựa trên hình thức giao kết hợp đồng, nhưng cách xác định thì không giống với BLDS năm 2005 Đó là trường hợp người đề nghị chào hàng bằng miệng (khoản 3 Điều 404 quy định giao kết bằng lời nói) thì người được chào hàng phải trả lời ngay trừ trường hợp có tình tiết ngược lại, chẳng hạn các bên có thỏa thuận khác.36

Trang 35

1.4.3 Với Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga 37

Bộ luật Dân sự Liên bang Nga ban hành ngày 30 tháng 11 năm 1994 và đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và lần sửa đồi, bổ sung gần đây nhất là vào ngày 8 tháng 12 năm 2011 Tuy nhiên, những quy định về pháp luật hợp đồng thì khá ổn định, ít có sự thay đổi So với quy định của BLDS năm 2005 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

có những điểm tương đồng nhưng cũng không ít sự khác biệt:

Điểm tương đồng giữa BLDS Liên bang Nga, BLDS năm 2005, Bộ nguyên tắc Unidroit và CISG là đều xem thời điểm giao kết là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận từ bên được đề nghị Hơn nữa trong quy định của BLDS Liên bang Nga cũng không cho thấy việc phân biệt thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dựa trên việc các bên gặp gỡ giao kết trực tiếp hay giao kết khi các bên vắng mặt Tuy nhiên, BLDS năm 2005 và BLDS Liên bang Nga cũng có những quy định không giống nhau:

Thứ nhất, đối với quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, BLDS Liên bang Nga không có một chế định rõ ràng, nhưng thông qua Điều 422 Bộ Luật này có thể thấy được hợp đồng phát sinh hiệu lực từ thời điểm giao kết Đây là điểm khác biệt rất rõ so với quy định Điều 405 BLDS Việt Nam “hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Bởi lẽ, quy định hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết nên Bộ luật Dân sự Liên bang Nga đã quy định một điều luật cụ thể về thời điểm giao kết tại Điều

433, điều đáng lưu ý là những chế định hợp đồng trong BLDS nhưng BLDS Liên Bang

Nga không quy định là “thời điểm giao kết hợp đồng dân sự” như BLDS năm 2005 của Việt Nam mà quy định là “thời điểm giao kết hợp đồng”, cụ thể: “1 Hợp đồng

được coi là giao kết tại thời điểm khi người đưa ra đề nghị nhận được chấp nhận đối với đề nghị đó 2 Nếu trong việc tuân thủ pháp luật, việc chuyển giao tài sản cũng được yêu cầu đối với việc giao kết hợp đồng, thì hợp đồng được xem là giao kết từ thời điểm chuyển giao tài sản tương ứng (Điều 424) 3 Hợp đồng phụ thuộc vào đăng ký

Nguyên gốc: “Article 433 The Moment of the Conclusion of the Contract

1 The contract shall be recognized as concluded at the moment, when the person, who has forwarded the offer, has obtained its acceptance

2 If in conformity with the law, the transfer of the property is also required for the conclusion of the contract, it shall be regarded as concluded from the moment of the transfer of the corresponding property (Article 224)

Trang 36

Điều 433 BLDS Liên bang Nga đã cho thấy sự khác biệt với BLDS năm 2005 Việt Nam về quy định thời điểm giao kết hợp đồng nói riêng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nói chung Có thể thấy, Điều luật này của BLDS Liên bang Nga có mục đích “xác định việc kết lập hoặc hiệu lực của các loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng ưng thuận, hợp đồng trọng thức và hợp đồng thực tế”39 Cụ thể khoản 1 nói về hợp đồng ưng thuận; khoản 2 nói về hợp đồng thực tế và khoản 3 nói về hợp đồng trọng thức, trong khi Điều 404 BLDS năm 2005 cho thấy khoản 1 nói về hợp đồng ưng thuận, khoản 2 nói về hợp đồng ưng thuận bằng im lặng, khoản 3 nói về giao kết hợp đồng ưng thuận bằng lời nói và khoản 4 nói về giao kết hợp đồng ưng thuận bằng văn bản, còn những quy định về hợp đồng trọng thức hay hợp đồng thực tế thì được thể hiện trong các quy định của hợp đồng dân sự thông dụng

Thứ hai, tại Điều 404 BLDS năm 2005 lại dành để quy định những thời điểm

cụ thể của giao kết hợp đồng dựa trên hình thức giao kết Trong khi đó khoản 1 Điều

433 BLDS Liên Bang Nga chỉ là rút ra kết luận thời điểm giao kết là khi người đưa ra

đề nghị nhận được sự chấp thuận từ bên được đề nghị Bởi vì những quy định trường hợp cụ thể tương tự như Điều 404 BLDS năm 2005 Việt Nam đã được quy định tại các điều luật khác Chẳng hạn Điều 441 BLDS Nga: “1 Khi đề nghị bằng văn bản không quy định thời hạn chấp nhận, thì hợp đồng phải được xem là giao kết nếu chấp nhận đã được người đề nghị nhận trước khi mãn hạn được quy định bởi luật hoặc các văn bản pháp lý khác và nếu thời hạn như vậy không được quy định thì trong khoảng thời gian yêu cầu một cách bình thường 2 Khi đề nghị được lập bằng lời nói và không chỉ rõ thời hạn chấp nhận, thì hợp đồng được xem là giao kết, nếu bên kia ngay lập tức tuyên

bố việc chấp nhận”40 Theo quy định này, thời điểm giao kết hợp đồng khi đề nghị

Trang 37

bằng văn bản là khi người được đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị trước khi hết hạn trả lời Trong khi BLDS năm 2005 quy định hợp đồng giao kết bằng văn bản thời điểm giao kết là bên sau cùng ký vào văn bản Với trường hợp đề nghị là lời nói, BLDS Nga quy định hợp đồng được giao kết khi người được đề nghị tuyên bố chấp nhận đề nghị ngay lúc đó Quy định này tương tự khoản 2 Điều 397 BLDS năm 2005 nhưng khác biệt hoàn toàn với khoản 3 Điều 404 BLDS năm 2005 quy định thời điểm hợp đồng giao kết bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận nội dung hợp đồng

Cuối cùng, BLDS năm 2005 quy định thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng ở hai điều khoản khác nhau Bởi vì trên nguyên tắc chung thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng dựa vào thời điểm giao kết, nhưng khi các bên có thỏa thuận hay pháp luật có quy định khác thì phải dựa trên hai căn cứ này Ngược lại BLDS Liên bang Nga chỉ có thời điểm có hiệu lực là thời điểm giao kết và không có quy định sự thỏa thuận có hiệu lực của hợp đồng, còn pháp luật có quy định khác thì xem thời điểm pháp luật quy định cũng là thời điểm giao kết Chẳng hạn, Điều 574 BLDS Liên bang Nga, hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký với nhà nước và thời điểm đăng ký

là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho bất động sản

để thấy được sự giống và khác nhau giữa BLDS Pháp và BLDS Việt Nam năm 2005

về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

BLDS năm 2005 Việt Nam và BLDS Pháp đều thừa nhận thỏa thuận là yếu tố

cơ bản của hợp đồng, thể hiện bản chất của hợp đồng, qua đó, thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên Nhìn chung, những yêu cầu của thỏa thuận làm phát sinh hiệu lực hợp đồng theo pháp luật hai nước có nhiều điểm tương đồng nhau như về năng lực giao kết hợp đồng, sự tự nguyện khi giao kết, thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật

2 When the offer has been made orally and no term of acceptance has been indicated, the contract shall be regarded as concluded, if the other party immediately declared its acceptance

Trang 38

hay yêu cầu về hình thức hợp đồng41

Về vấn đề hiệu lực của hợp đồng BLDS Pháp có

quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên giao

kết Hợp đồng chỉ có thể bị hủy bỏ trên cơ sở có thỏa thuận chung hoặc theo những

Nếu so điều luật này với Điều 404 BLDS năm 1995 có quy định tương tự khi nêu lên tính ràng buộc của hợp đồng khi có hiệu lực, nhưng so với BLDS năm 2005 thì điểm tương đồng có thể thấy đó là quy định về giao kết hợp pháp của hợp đồng Với quy

định “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên giao kết”,

qua điều luật này, khi hợp đồng giao kết hợp pháp cũng là lúc hợp đồng có giá trị ràng buộc các bên Tuy nhiên, giao kết hợp pháp trong BLDS Pháp là gì? Thời điểm xác định hợp đồng giao kết thì Bộ luật này không có quy định cụ thể, có thể xem xét đến Điều 1108 BLDS Pháp đã đưa ra những điều kiện chủ yếu để hợp đồng có hiệu lực Đây là quy định dành riêng cho điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong khi xét giao kết hợp pháp của hợp đồng Việt Nam thì cần phải đối chiếu đến quy định về giao dịch dân sự Nhiều quan điểm cho rằng, BLDS Việt Nam chịu ảnh hưởng từ BLDS Pháp Đây không phải là quan điểm không có cơ sở, khi nước ta đã có khoảng thời gian khá dài chịu sự đô hộ của Pháp Đồng thời, pháp luật Việt Nam thuộc hệ thống pháp luật thành văn, mà pháp luật của Pháp là một trong những “đầu tàu” của hệ thống pháp luật này Vì vậy, sự ảnh hưởng là không tránh khỏi Tuy nhiên, bị ảnh hưởng không có nghĩa là giống nhau hoàn toàn, xem xét những quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng giữa BLDS Pháp và BLDS năm 2005 có thể thấy những quy định này có sự khác biệt:

Thứ nhất, BLDS Pháp “không quy định thời điểm giao kết cho tất cả các loại hợp đồng nên thời điểm giao kết hợp đồng còn có thể được xác định dựa theo án lệ”43

và “án lệ cho rằng việc xác định thời điểm và địa điểm ký kết hợp đồng thuộc thẩm quyền của thẩm phán”44 Theo đó, cơ quan xét xử có nghĩa vụ xác định thời điểm các bên chấp nhận việc giao kết hợp đồng Vì vậy có thể thấy, BLDS Pháp chưa quy định chung về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhưng quá trình xét xử trên thực tế có sự

hỗ trợ tích cực của án lệ và việc xác định thời điểm nhiều trường hợp thuộc về thẩm

Lê Minh Hùng – Trần Lê Đăng Phương, “Một số vấn đề về giao kết hợp đồng trong pháp luật Cộng hòa Pháp

và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2013, tr.54

44

Corinene Renault-Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hóa- thông tin, 2002, tr.38

Trang 39

phán nên thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trên nhiều phương diện sẽ do sự giải thích của thẩm phán dựa trên hợp đồng của các bên45

Thứ hai, có một số trường hợp thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được quy định minh thị trong BLDS Pháp trong hợp đồng Cụ thể như Điều 932 BLDS Pháp quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm người được tặng cho đã đồng ý nhận một cách rõ ràng có thể bằng cách thông qua chứng thư thể hiện sự đồng ý

“Chứng thư tặng cho chỉ ràng buộc người tặng cho và chỉ có hiệu lực kể từ ngày người

được tặng cho đã đồng ý nhận một cách rõ ràng” Theo như quy định này thì thời

điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho dựa vào sự bảy tỏ chấp nhận sự tặng cho chứ không phải là dựa trên sự chuyển giao đối tượng hay việc đăng ký như quy định của

BLDS năm 2005 hay có hiệu lực trong trường hợp im lặng ở Điều 1738 “hợp đồng

thuê nhà ở sẽ được tiếp tục ngay cả trường hợp hợp đồng thuê nhà đã hết hạn, bên thuê vẫn còn chiếm hữu chỗ thuê và bên cho thuê không có bất cứ ý kiến gì về việc tiếp tục chiếm hữu cho thuê” Đối chiếu với quy định về hợp đồng thuê nhà trong BLDS

năm 2005 không có quy định tương tự như BLDS Pháp, theo như Điều 1738 có thể suy luận rằng khi bên thuê vẫn chiếm chỗ thuê và bên cho thuê biết hợp đồng hết hạn nhưng vẫn im lặng không có ý kiến gì thì hợp đồng cho thuê vẫn tiếp tục vậy xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thuê nhà trong trường hợp này là thời điểm hết hạn của hợp đồng thuê nhà trước đó Bên cạnh đó, theo quy định BLDS Pháp, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có thể là thời điểm thỏa thuận xong những nội dung quan trọng như Điều 1589 thì hợp đồng mua bán tài sản coi như đã ký kết “khi hai bên thỏa thuận được với nhau về tài sản mua bán và giá cả”

BLDS Pháp và BLDS Việt Nam có cách tiếp cận tương đồng trong các quy định

về thời điểm giao kết hợp đồng, đó là việc phân chia các trường hợp cụ thể dựa vào hình thức trả lời chấp nhận giao kết: lời nói, văn bản Tuy vậy, quy định trong luật Pháp có vẻ sát thực tiễn hơn so với quy định BLDS năm 2005 của Việt Nam như dự liệu việc trả lời bằng hành vi cụ thể Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, trong BLDS Pháp không có những quy định chung, cụ thể như BLDS năm 2005 của Việt Nam nhưng với việc xác định thời điểm có thể dựa vào từng trường hợp cụ thể và áp

45

Trần Đức Sơn, “Tìm hiểu án lệ Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2006, tr.42: “Việc thẩm phán

tuân theo một quy phạm án là do tác động của yếu tố tâm lý chứ không phải mang hiệu lực bắt buộc mang tính pháp lý của quy phạm đó, về mặt pháp lý không công nhận án lệ là nguồn luật Tuy nhiên, trên thực tế nó luôn được vận dụng là nguồn luật”

Trang 40

dụng án lệ khéo léo sẽ giúp cho thẩm phán Pháp trong vấn đề xác định thời điểm được mềm dẻo hơn

1.5 Ý nghĩa của việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong

Bộ luật Dân sự năm 2005

Thời điểm hợp đồng có giá trị pháp lý, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự và ràng buộc các bên phải tuân thủ và nghiêm túc thực hiện hợp đồng nên việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có những ý nghĩa rất quan trọng:

 Xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Từ thời điểm này các bên phải thực hiện những quyền, nghĩa vụ mà mình đã cam kết thỏa thuận theo hợp đồng Bởi vì, hợp đồng thể hiện sự gặp gỡ và trùng hợp về ý chí tạo nên

sự đồng thuận Vì vậy, nó buộc các bên trong hợp đồng phải có trách nhiệm cho những

gì đã thỏa thuận thống nhất và trách nhiệm này có giá trị pháp lý từ thời điểm hợp đồng

có hiệu lực Các bên phải tuân theo những nguyên tắc về thực hiện hợp đồng do pháp luật hợp đồng đã đưa ra tại Điều 412 BLDS năm 2005 và các quy định khác, nếu ai đi ngược lại những gì đã thỏa thuận làm thiệt hại lợi ích của bên kia sẽ chịu chế tài tương ứng như bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng hay dẫn đến hiệu lực của các biện pháp bảo đảm nhằm để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng như đặt cọc, bảo lãnh, cầm cố,… Qua đó, đảm bảo sự an toàn trong giao lưu dân sự, đáp ứng những mong muốn mà các bên hy vọng có được thông qua hợp đồng

 Hơn nữa, trong một số trường hợp, thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng còn có liên quan đến chủ thể khác không phải là các bên tham gia hợp đồng như người thứ ba thể hiện qua quy định của BLDS năm 2005 về việc thực hiện hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba (Điều 419) hay trong việc xác lập hợp đồng khi tài sản đó đang cho thuê, thế chấp,… Một ý nghĩa quan trọng nữa là đối với hợp đồng công chứng, chứng thực hoặc đăng ký theo quy định của pháp luật, “việc xác định thời điểm có hiệu lực có giá trị đối kháng với người thứ ba, thực hiện quyền ưu tiên thanh toán, bảo vệ người thứ ban ngay tình”46 Chẳng hạn, khoản 3 Điều 323 BLDS năm 2005, giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì có giá trị đối với người thứ ba

từ thời điểm đăng ký

 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng còn là căn cứ để phân loại hợp đồng, cách phân loại này đã xuất hiện từ rất lâu trong các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực pháp

46

Lê Minh Hùng, Hiệu lực hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ, 2011, tr.88

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w