NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CHỐNG KHỦNG BỐ VỀ TỘI PHẠM HÓA TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về nội luật hóa quy định
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-* -
NGUYỄN QUYẾT THẮNG
NỘI LUẬT HÓA QUY ĐỊNH CỦA
CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CHỐNG KHỦNG BỐ VỀ TỘI PHẠM HÓA TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 9 - NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-* -
NỘI LUẬT HÓA QUY ĐỊNH CỦA
CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾCHỐNG
KHỦNG BỐ VỀ TỘI PHẠM HÓA TRONG
BỘ LUẬTHÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: LUẬT HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Mã số:60380104
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
Học viên: NGUYỄN QUYẾT THẮNG, KHÓA 19
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng lặp với bất cứ một công trình nào khác.Các số liệu, thông tin sử dụng để phân tích, tổng hợp, thống kê trong đề tài được thu thập từ các cơ quan chức năng có thẩm quyền, từ các nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy và chính xác
Người cam đoan
NGUYỄN QUYẾT THẮNG
Trang 4UNODC: Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma tuý và Tội phạm (“United
Nations Office on Drugs and Crime”)
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA QUY
ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CHỐNG KHỦNG BỐ VỀ TỘI
PHẠM HÓA TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Một số vấn đề lý luận về nội luật hóa quy định của các
điều ước quốc tế trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Nhận thức chung về nội luật hóa quy định của các điều ước
quốc tế
1.1.2 Cơ sở của việc nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế
chống khủng bố trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.2 Tội phạm khủng bố theo các điều ước quốc tế chống khủng
bố
1.2.1 Khái quát các điều ước quốc tế chống khủng bố
1.2.2 Đặc điểm của tội phạm khủng bố
1.3 Yêu cầu tội phạm hóa của các điều ước quốc tế chống khủng
bố
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM
KHỦNG BỐ VÀ SO SÁNH VỚI CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
2.1 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội phạm khủng
bố
2.2 So sánh quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội
phạm khủng bố với yêu cầu tội phạm hóa của các điều ước
quốc tế chống khủng bố
2.2.1 Sự tương đồng
2.2.2 Sự khác biệt
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN XỬ LÝ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ Ở VIỆT
NAM, KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ NƯỚC NGOÀI VÀ
Trang 6thời gian qua
3.2 Kinh nghiệm của một số nước trong việc nội luật hóa quy
định của các điều ước quốc tế chống khủng bố về tội phạm
hóa
3.2.1 Quy định về tội phạm khủng bố trong pháp luật hình sự một số
nước trên thế giới
3.2.2 Kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khủng bố xuất hiện kể từ khi xã hội loài người phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp Hiện nay, khi mà các yếu tố tiêu cực về mâu thuẫn, xung đột sắc tộc, tôn giáo, sự bất công… kéo dài và gia tăng thì khủng bố ngày càng trở thành mối hiểm họa cho hòa bình, an ninh nhân loại Khủng bố gây ra những thiệt hại và ảnh hưởng xấu đến các quốc gia trong khu vực và thế giới Các thiệt hại đó không chỉ là những thiệt hại vật chất mà còn bao gồm cả những thiệt hại phi vật chất không thể định lượng Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa hiện nay, khủng bố xảy ra ở bất kì một quốc gia nào cũng đều tác động tiêu cực đến các quốc gia khác Tổng thư
kýLiên Hợp quốc (LHQ) Ban Ki-moon đã nhấn mạnh: “Khủng bố là một trong
những mối đe dọa thường trực đối với hòa bình và an ninh thế giới Khủng bố xâm phạm các quyền con người, quyền tự do cơ bản cũng như vi phạm các nguyên tắc
cơ bản đảm bảo sự bền vững toàn cầu cũng như mối liên kết thống nhất giữa các
là lý do tại sao vào ngày 9 tháng 12 năm 1985, LHQ đã thông qua Nghị quyết chính
thức khẳng định “… rõ ràng mọi hành vi, phương thức và biểu hiện của chủ nghĩa
khủng bố xảy ra ở bất cứ nơi đâu và do bất cứ ai thực hiện đều là tội phạm, bao gồm
cả những hành vi gây thiệt hại cho mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia cũng như
khủng bố, với vai trò của mình, LHQ đã kêu gọi cộng đồng quốc tếcùng nhau chung tay, hợp tác để cùng tạo nên “phản ứng toàn cầu” đối với tội phạm khủng bố Đặc biệt, thông qua các diễn đàn quốc tế, nhiều giải pháp được cộng đồng quốc tế đưa ra
để đối phó với khủng bố Trong số các giải pháp đó thì “pháp luật là nhân tố cốt lõi
xây dựng Chính các công cụ pháp lý này, đặc biệt là các điều ước quốc tế (ĐUQT) chống khủng bố chính là các công cụ pháp lý có giá trị nhất thể hiện“phản ứng toàn cầu”thông qua sự buộc tội hành vi khủng bố, thể hiện sự cam kết của các quốc gia trong việc đấu tranh với khủng bố Ngoài ra, các ĐUQT này còn hướng dẫn các
1Liên Hợp quốc (2008), Các công cụ quốc tế về phòng ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế (“International
Instruments related to the Prevention and Suppression of International Terrorism”), Newyork Xem (bản tiếng
Anh) tại:
https://www.unodc.org/documents/terrorism/Publications/Int_Instruments_Prevention_and_Suppression_Int _Terrorism/Publication_-_English_-_08-25503_text.pdf, truy cập ngày 20/1/2016
2 Nghị quyết của LHQ về khủng bố, Số A/RES/40/61 được thông qua tại cuộc họp thường niên lần thứ 108 (ngày 9/12/1985), xem nội dung tại: http://www.un.org/documents/ga/res/40/a40r061.htm , truy cập ngày 20/1/2016
3
Liên Hợp quốc (2008), tlđd (1) – Lời nói đầu (“Preface”)
Trang 8quốc gia cách thức tiến hành các hoạt động hữu hiệu để đấu tranh chống khủng bố… Việc các quốc gia thành viên thực thi nghiêm túc, đầy đủ, có thiện chí các yêu cầu của các công cụ pháp lý quốc tế nàycòn thể hiện vai trò và trách nhiệm của từng
quốc gia trong việc giải quyền các vấn đề có tính quốc tế
Là một quốc gia với truyền thống yêu chuộng hòa bình nhưng lại có vị trí địa
lý liền kề với một số quốc gia thường xảy ra các vụ khủng bố quốc tế (như Indonesia, Philippin, Thái Lan…), Việt Nam luôn tỏ thái độ đấu tranh không khoan nhượng với hành vi khủng bố dưới bất kỳ hình thức nào và với mục đích gì Việt Nam cũng đã và đang nổ lực cùng các nước trên thế giới tham gia vào nhiều hoạt động đấu tranh chống khủng bố, trong đó có việc ký kết, gia nhập nhiều ĐUQT chống khủng bố, cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế nêu trong các điều ước, trong đó có nghĩa vụ tội phạm hóa Chính vì vậy, việcnội luật hóa các yêu cầu của các ĐUQTnói chung, trong đó có các ĐUQT chống khủng bốvào hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là BLHSViệt Nam là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểm, đường lối, định hướngcủa Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện PLHS4 Mặt khác, nhu cầu tất yếu của hợp tác quốc tế trong bối cảnh hiện nay, nhất là hợp tác trong lĩnh vực phòng, chống khủng bố đòi hỏi sự tương đồng nhất định trong quy định pháp luật của các quốc gia về loại tội phạm này Do vậy, thực tiễn cho thấy cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá để sửa đổi BLHS Việt Nam nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót và đáp ứng được yêu cầu nội luật hóa Điều này thể hiện trực tiếp trong Báo cáo số 35/BC-BTP về Kết quả tổng kết thực tiễn thi hành BLHS (ngày 12 tháng 02 năm 2015) của Bộ Tư pháp Sự ra đời BLHS Việt Nam 20155một lần nữa thể chế hóa sâu sắc những quan điểm, chủ trương của Đảng ta về xây dựng, hoàn thiện PLHS, cải cách tư pháp, phản ánh yêu cầu cấp thiết của việc nội luật hóa quy định trong cácĐUQTmà Việt Nam là thành viên, trong đó có nhóm ĐUQT chống khủng bố BLHS 2015 ra đời trong bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp 2013, đồng thời nhiều điểm mới trong BLHS này thể hiện tinh thần thực thi một cách nghiêm túc, thiện chí các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm khủng bố nói riêng Do vậy, việc tìm hiểu đầy đủ vấn đề nội luật hóa yêu cầu của các ĐUQT chống khủng bố sẽ góp phần đảm bảo nhiệm vụ triển khai thi hành hiệu quả BLHS Việt Nam cũng nhưđưa ra các luận cứ khoa học làm định hướng góp phần tiếp tục hoàn thiện PLHS Việt Nam trong thời gian tới
Trang 9Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề“Nội luật hóa quy định của
các điều ƣớc quốc tế chống khủng bố về tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam” để nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ tính chất phức tạp và sự đe dọa đối với hòa bình và an ninh thế giới, tội phạm khủng bố đã trở thành mối quan ngại sâu sắc của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến loại tội phạm này luôn mang tính chất thời sự, có ý nghĩa lớn về mặt thực tiễn lẫn về mặt khoa học Do đó, đã có một số công trình nghiên cứu về loại tội phạm này ở nhiều góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu này có thể được phân chia thành các nhóm như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về tội phạm khủng bố dưới dạng là tài
liệu chuyên khảo, tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp những tri thức cơ bản nhất liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu Có thể kể đến một số tài liệu tiêu biểu như:
- Sách chuyên khảo “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố-
Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (năm 2011) của GS TS Nguyễn Ngọc Anh,
NXb Công an nhân dân, trong đó tác giả chủ yếu phân tích thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật về phòng, chống khủng bố ở Việt Nam
- Sách chuyên khảo “Tội phạm học Việt Nam - Tập 2” (Tội phạm học chuyên
ngành) do Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm của Học viện cảnh sát nhân dân biên soạn Vì nguyên cứu dưới góc độ tội phạm học, nên nhóm tác giả chủ yếu đưa ra đặc điểm tội phạm học và phòng ngừa tội phạm khủng
bố
- Sách chuyên khảo “Pháp luật về chống khủng bố của một số nước trên thế
giới” do TS Phạm Văn Lợi và Võ Văn Tuyển biên soạn tìm hiểu quy định của pháp
luật một số quốc gia quy định về tội khủng bố
Ngoài ra, nhiều tài liệu khác cũng chủ yếu tập trung phân tích tình hình khủng bố hiện nay trên thế giới, đưa ra đặc điểm về tội khủng bố hiện nay như thế nào
Thứ hai, các công trình nghiên cứu thể hiện qua hệ thống các luận văn cao
học có liên quan đến đề tài nghiên cứu, điển hình làLuận văn thạc sĩ “Tội khủng
bố trong luật hình sự Việt Nam” - Lê Quang Đạo (2011)
Những công trình trên có đóng góp lớn trong việc làm rõ dấu hiệu pháp lý về tội khủng bố trên cơ sở tìm hiểu quy định về tội phạm khủng bố trong luật hình sự Việt Nam, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện PLHS Một số
Trang 10công trình có đề cập đến các quy định trong các ĐUQT về hành vi khủng bố, tuy nhiên lại chưa thật sự đẩy đủ và toàn diện
Thứ ba, các công trình nghiên cứu là những bài viết trên các tạp chí chuyên
ngành, hội nghị, hội thảo Trong thời gian gần đây, có khá nhiều bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật có uy tín (như Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Viện Kiểm sát, Tạp chí Khoa học và giáo dục an ninh, Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,…) có liên quan đến tội phạm khủng bố Có thể kể ra một số bài viết điển hình như:
- Vũ Ngọc Dương (2009), “Bàn về định nghĩa khủng bố trong các điều ước
quốc tế”, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 11 (114)
- Nguyễn Ngọc Anh (2010), “Một số vấn đề về xây dựng luật phòng, chống
khủng bố”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (Văn phòng Quốc hội), số 23 (184)
- Đặng Thu Hiền (2009), “Bàn về tội khủng bố được sửa đổi, bổ sung trong
Bộ luật hình sự và một số vấn đề cần chú ý khi định tội danh”, Tạp chí Dân chủ &
pháp luật, Số 11(212)
- Phạm Minh Tuyên (2013), “Một số vấn đề về xét xử tội phạm khủng bố và tài trợ khủng bố theo điều 230a và điều 230b của Bộ luật hình sự và thực tiễn áp
dụng”, Tạp chí Kiểm sát,Số 4
- Lê Thái Sơn (2013), “Hoàn thiện pháp luật về chống khủng bố và chống tài trợ
khủng bố theo những chuẩn mực quốc tế chung”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số
23(254)
Trong phạm vi khuôn khổ của bài viết khoa học, cho nên nội dung các bài viết nêu trên cố gắng tập trung làm rõ lý luận về tội khủng bố, một số bất cập trong quy định của BLHS Việt Nam 1999 về nhóm tội phạm khủng bố; hoặc có bài viết lại đề cập một cách tổng quát công tác đấu tranh với loại tội phạm này trên thế giới,
từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam Với tư cách các bài viết khoa học nên chưa thể nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, chi tiết về vấn đề nội luật hóa quy định của các ĐUQT chống khủng bố vào PLHS Việt Nam
Tóm lại, hiện nay các công trình khoa học nghiên cứu về tội phạm khủng bố
ở các góc độ khác nhau và đã có những đóng góp nhất định Kết quả khoa học của các công trình trên được tác giả tiếp thu, kế thừa nhất là những vấn đề lý luận về nội luật hóa, dấu hiệu pháp lý của mộ số tội phạm khủng bố, tình hình khủng bố trên thế giới Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểumột cách đầy đủ, toàn tiện các yêu cầu cụ thể của các ĐUQT chống khủng bố, nhất là yêu cầu về tội phạm hóa làm cơ sở cho nội luật hóa Bên cạnh đó, các công trình chưa đánh giá mức độ tương đồng, khác biệt giữa quy định của BLHS Việt Nam về tội phạm
Trang 11khủng bố với pháp luật quốc tếcũng như PLHS các quốc gia trên thế giới về tội phạm này Đặc biệt, trong thời gian gần đây, sau khi Việt Nam nỗ lực ký kết, tham gia thêm một số ĐUQT chống khủng bốcùng với những thay đổi tích cực trong hệ thống pháp luật Việt Nam về phòng, chống khủng bố, nhất là sự ra đời của BLHS
2015 đã đặt ra yêu cầu, đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ hơn nhằm đảm bảo tính tương thích, hiệu quả trong triển khai áp dụng PLHScũng như cung cấp
luận cứ khoa học định hướng cho việc tiếp tục hoàn thiện PLHS Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài lànhằm đưa ra các kiến nghị trong việc triển khai
áp dụng BLHScũng như đưa ra các luận cứu khoa học nhằm định hướng hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về tội phạm khủng bố trên cơ sở phù hợp với yêu cầu tội phạm hóa của các điều ước đa phương chống khủng bố
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đảm bảo mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài phải giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ lý luận nội luật hóa quy định của các ĐUQT chống khủng bố về tội phạm hóa;
- Khái quát quy định của các ĐUQT chống khủng bố và đặc điểmtội phạm khủng bố trong pháp luật quốc tế;
- Đánh giá quy định của PLHS Việt Nam về tội phạm khủng bố trên cơ sở so sánh với yêu cầu tội phạm hóa trong các ĐUQT chống khủng bố;
- Kinh nghiệm của một số nước về nội luật hóa quy định củacác ĐUQT chống khủng bố vào PLHS quốc gia
5 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề nội luật hóa quy định của các ĐUQT chống khủng bốvề tội phạm hóa trong BLHS Việt Nam
Council” và một số văn kiện khác về chống khủng bố Ngoài ra, các ĐUQT
chống khủng bố đề cập đến nhiều yêu cầu bắt buộc mà các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ nội luật hóa, như: yêu cầu tội phạm hóa các hành vi khủng bố, các hình thức và biểu hiện của hành vi khủng bố; yêu cầu xác lập quyền tài phán (trong PLHS) để trừng trị hành vi khủng bố; yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế
Trang 12trong dẫn độ tội phạm khủng bố… Do vậy, khi nghiên cứu đề tài luận văn thạc
sỹ này, học viên xin giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:
- Luận văn chỉ nghiên cứu các điều ước quốc tế đa phương chống khủng bố
được xây dựng bởi LHQ và các tổ chức chuyên môn của Liên Hợp quốc
(“Universal instruments”) cùng với các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp
quốc và các tài liệu của Liên Hợp quốc hướng dẫn áp dụng các ĐUQT trên Luận văn không nghiên cứu các quy định của các điều ước khu vực, điều ước song phương
và các văn kiện quốc tế khác về phòng chống khủng bố
- Trong các yêu cầu có tính bắt buộc mà các quốc gia thành viên có nghĩa vụ
nội luật hóa, đề tài chỉ nghiên cứu yêu cầu tội phạm hóa các hành vi khủng bố cũng
như các hình thức và biểu hiện (“all forms and manifestations”)của hành vi khủng bố được quy định trong các ĐUQT
- Đối với các vấn đề thực tiễn thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài (tình hình tội phạm khủng bố xảy ra ở Việt Nam, thực tiễn áp dụng PLHS để xử lý tội phạm khủng bố), công trình sẽ khảo sát số liệu thời gian từ năm 2000 đến năm 2015
- Về khảo sát kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài, công trình sẽ lựa chọn pháp luật của một số quốc gia để nghiên cứu so sánh và tổng hợp kinh nghiệm cho Việt Nam Khi tham khảo pháp luật nước ngoài, chúng tôi lựa chọn PLHS của Nhật Bản, Liên bang Nga, Thụy Điển và Phần Lan Sự lựa chọn này dựa trên các cơ sở sau:
Thứ nhất, điều quan trọng đầu tiên chi phối sự lựa chọn của nhóm tác giả là
khả năng học tập kinh nghiệm cho Việt Nam Pháp luật Việt Nam nằm trong dòng
họ luật xã hội chủ nghĩa, vì vậy PLHS Việt Nam có những tương đồng nhất định với pháp luật của các nước trong cùng dòng họ này Sự tương đồng về quan điểm,
tư tưởng sẽ có những thuận lợi nhất định cho Việt Nam trong việc học tập kinh nghiệm Hơn nữa, dòng họ luật này cũng được coi là một nhánh trong dòng họ luật Châu Âu lục địa, vì vậy việc tham khảo PLHS của các nước có nền pháp luật phát triển và kinh điển cũng là cơ hội cho Việt Nam học tập kinh nghiệm
Thứ hai, việc lựa chọn tham khảo pháp luật nước ngoài cũng được cân nhắc
trên tính tiêu biểu, tiến bộ của PLHS của quốc gia nhất định, đặc biệt là quốc gia có nhiều kinh nghiệm đấu tranh với khủng bố Việc nghiên cứu này sẽ đem lại những
kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhất là trong lĩnh vực cải cách tư pháp
Về các phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu điển hình trong lĩnh vực pháp lý, bao gồm:
Trang 13-Phương pháp phân tích và tổng hợp sẽ được áp dụng xuyên suốt toàn bộ công trình để thực hiện tất cả các nhiệm vụ nghiên cứu
- Phương pháp so sánhđược áp dụng chủ yếu để đánh giá sự tương đồng và khác biệt giữa các quy định trong BLHS và quy định trong các ĐUQT về hành vi khủng bố
- Phương pháp thống kêđược áp dụng để làm rõ những vấn đề thực tiễn Các thông tin, số liệu thống kê được sử dụng để phân tích, đánh giá tình hình tội phạm khủng bố xảy ra ở Việt Nam, đánh giá hoạt độngxử lý tội phạm khủng bố, từ đó luận giải cơ sở thực tiễn của việc nội luật hóa cũng như định hướng cho việc nội luật hóa
- Phương pháp điều tra điển hình được sử dụng để phân tíchtình hình tội phạmkhủng bố ở nước ta, đánh giá hiệu quả cũng như hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn xử lý các tội phạm khủng bố, từ đó làm cơ sở để đưa ra đề xuất, kiến nghị
8 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Về mặt khoa học, đề tài nêu rõ các yêu cầu cụ thể trong các ĐUQT chống khủng bố
mà Việt Nam có nghĩa vụ nội luật hóa, nhất là yêu cầu tội phạm hóa, từ đó định hướng việc hoàn thiện các qui định của BLHScũng như đảm bảo hiệu quả trong triển khai thi hành BLHS
Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm khủng bố, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này
9 Nội dung nghiên cứu
Bên cạnh Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn thể hiện qua 03 Chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế
chống khủng bốvề tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam
Chương 2 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội phạm khủng bố và so
sánh với các điều ước quốc tế
Chương 3 Thực tiễn xử lý tội phạm khủng bố ở Việt Nam, kinh nghiệm pháp luật
hình sự nước ngoài và một số kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA
QUY ĐỊNHCỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CHỐNG KHỦNG BỐVỀ TỘI PHẠM HÓA TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1Một số vấn đề lý luận về nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tếtrong pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Nhận thức chung về nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế
Trong thời đại ngày nay, việc các quốc gia thiết lập và đẩy mạnh các mối quan hệ ngoại giao hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục…
và cả lĩnh vực phòng, chống tội phạm đang trở thành xu thế tất yếu Khi đó,ĐUQT trở thành công cụ pháp lý quan trọng và hữu hiệu nhằm giải quyết các vấn đề có tính quốc tế, nhất là trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Do vậy, việc các quốc gia nói riêng và chủ thể của luật quốc tế nói chung kí kết, gia nhập nhiều ĐUQT về phòng, chống khủng bố phản ánh nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc đấu tranh với các tội phạm có tính chất quốc tế Vấn đề đặt ra, đó là sau khi kí kết, gia nhập các ĐUQT, các quốc gia thành viên sẽ thực thi các điều ước đó như thế nào
Ở góc độ luật pháp quốc tế, ĐUQT và thực thi ĐUQT được quy địnhtrong Công ước Viên 1969 về luật ĐUQT (gọi tắc là Công ước Viên 1969) và Công ước Viên 1986 về luật điều ước giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế.Công ước Viên
1969 đã có hiệu lực vào ngày 27/01/1980 và hiện có 114 thành viên6, trong khiCông ước Viên năm 1986 chưa có hiệu lực và hiện chỉ có 43 thành viên7
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 12 Công ước viên Viên 19698 thì ĐUQT là văn bản thỏa thuận được ký kết giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (quốc gia và tổ chức quốc tế) và được điều chỉnh bằng luật quốc tế, bất kể tên gọi của văn bản thỏa thuận đó là gì Các cách thức thể hiện sự đồng ý ràng buộc bởi một ĐUQT của chủ thể luật quốc tế được quy định tại Điều 11 Công ước Viên 1969 bao gồm: ký, trao đổi các văn kiện hình thành điều ước, thông qua hoặc phê chuẩn (“ratification”), thừa nhận hoặc công nhận (“acceptance”), tán thành hoặc chấp
Trang 15thuận (“approval”), gia nhập (“accession”) hoặc bằng bất cứ cách thức nào được đồng thuận bởi các bên Tuy nhiên, Công ước Viên không nêu cụ thể các cách thức, biện pháp mà quốc gia thành viên áp dụng để đáp ứng yêu cầu cũng như thực thi quy định của các ĐUQT mà quốc gia đó đã ký kết, gia nhập Hơn thế, trong lời nói
đầu và tại Điều 26 Công ước Viên1969 lại quy định: “Mọi điều ước đã có hiệu lực
đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành trên tinh
thầnthiện chí” Hay tại Điều 27 Công ước Viên1969 quy định: “Một bên không thể
viện dẫn những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lý do cho việc không thi hành một điều ước” Như vậy, pháp luật quốc tế không quy định quốc gia
cần phải thực hiện ĐUQT bằng cách thức nào; các quốc gia có quyền tự do lựa chọn cách thức để thực hiện điều ước, miễn là thực hiện một cách tận tâm và thiện chí
Đây cũng là nội dung của nguyên tắc “Pacta sunt servanda”, một trong những
nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế được ghi nhận trong Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ năm 1970 về những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương LHQ, đồng thời cũng là nguyên tắc được hầu hết các quốc gia thừa nhận và chấp hành
Tinh thần nguyên tắc “Pacta sunt servanda”cũng được thể hiện đối với các ĐUQT chống khủng bố Theo tài liệu Hướng dẫn toàn cầu về việc hợp tác pháp
về Ma tuý và Tội phạm (UNODC), các ĐUQT chống khủng bốtrở thành nền tảng pháp lý trong việc đấu tranh phòng, chống khủng bố một khi được các quốc gia gia nhập và thực thi một cách thiện chí, có trách nhiệm trên thựctế Do vậy, các ĐUQT chống khủng bốđóng vai trò là nền tảng pháp lý trong công cuộc đấu tranh với chủ nghĩa khủng bố,sau khi được cộng đồng quốc tế xây dựng sẽ được các quốc gia thành viên tiến hành các bướctiếp theo nhằm thực thi nghiêm túc những quy định của ĐUQT đó trong phạm vi quốc gia mình Các bước đó bao gồm hoạt
động“chuyển hóa”quy định, yêu cầu của các ĐUQT vào pháp luật quốc gia Về mặt khoa học, hoạt độngnày gọi là nội luật hóa.Hiện nay có nhiều định nghĩa về nội luật
hóa, bao gồm nội luật hóa ĐUQT, nội luật hóa tập quán quốc tế, các phán quyết của tòa án quốc tế… Xét về ngữ nghĩa, nội luật hóa là quá trình chuyển hóa nội dung, yêu cầu trong các quy định của ĐUQT vào pháp luật quốc gianhằm thực thi ĐUQT Mục đích nội luật hoá là nhằm hướng tới việc thực thiĐUQT Theo Từ điển luật học,nội
luật hóalà việc “[c]huyển hóa quy định trong ĐUQT thành quy phạm pháp luật có
giá trị bắt buộc thực hiện đối với tổ chức, cá nhân ở một quốc gia Việc nội luật hóa
9
Văn phòng LHQ về Ma tuý và Tội phạm (UNODC) (2006), Hướng dẫn toàn cầu về việc hợp tác pháp luật
và thực thi các ĐUQT chống khủng bố (2006), NewYork, Mỹ (đoạn 244) Xem (bản Tiếng Anh) tại:
https://www.unodc.org/documents/terrorism/Publications/Guide_Legislative_Incorporation_Implementation/
Trang 16được tiến hành sau khi cơ quan có thẩm quyền của quốc gia chính thức xác nhận quy
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất, nội luật hóa là phương thức thực thiĐUQT khác biệt với việc phê chuẩn hay phê duyệt ĐUQT Nội luật hóa không nhằm mục đích thừa nhận ĐUQT mà nhằm tạo ra sự ràng buộc đối với pháp nhân, thể nhân của quốc gia kí kết với ĐUQT Rõ ràng, nội luật hóa có vai trò quan trọng
trong việc thực hiện các ĐUQT, góp phần đảm bảo nguyên tắc “Pacta sunt
servanda”
Cách thức nội luật hóa hay nói cách khác là cách thức để thực thi ĐUQT của quốc gia thành viên phụ thuộc vào cách thức giải quyết mối quan hệ giữa luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế Hiện nay trên thế giới có hai trường phái khi đề cập đến mối quan hệ giữa ĐUQT và hệ thống pháp luật quốc gia, đó là trường phái “nhất nguyên luận” (“monism”) và “nhị nguyên luận” (“dualism”)11 Trường phái “nhất nguyên luận” cho rằng ĐUQT và luật pháp của một quốc gia là hai mặt thống nhất của
hệ thống luật pháp Khi quốc gia đã ký kết hoặc tham gia ĐUQT thì có thể áp dụng trực tiếp quy định của ĐUQT đó trong lãnh thổ quốc gia Chẳng hạn, Hoa Kỳ là một nước theo thuyết nhất nguyên luận Hiến pháp Hoa Kỳ quy định: Các ĐUQT và các
luật ban hành trong nước là “luật tối cao” của đất nước Hệ quả kèm theo là quy định
của ĐUQT có thể được áp dụng trực tiếp trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ Như vậy, trường phái nhất nguyên luận xác định cách thức nội luật hóa thông qua việc áp dụng trực tiếp ĐUQT Trong khi đó, trường phái “nhị nguyên luận” cho rằng luật pháp quốc
tế và nội luật là hai hệ thống pháp luật tách biệt; ĐUQT chỉ có thể có hiệu lực thi hành trong phạm vi quốc gia sau khi đã được “chuyển hóa” một cách thích hợp bằng văn bản pháp luật Chẳng hạn, các quốc gia Đức, Cô-Oét, Kê-nya, Hy Lạp, Anh, Ma-lai-xia, Băng-la-đét… theo trường phái này12
Mỗi trường phái có ưu điểm, khuyết điểm riêng và rõ ràng các quốc gia cũng không nhất thiết buộc phải theo trường phái, cách thức nội luật hóa nào miễn sao đảm bảo việc thực thi hiệu quả các cam kết trong các ĐUQT Chính vì vậy mà khi
để cập đến việc thực thi nhóm các ĐUQT chống khủng bố, Văn phòng LHQ về Ma tuý và Tội phạm đã hướng dẫn như sau13:
10
Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp, tr.593-594
11 Tom Ginsburg, Svitlana Chernykh and Zachary Elkins (2008), “Commitment and Diffusion: How and Why National Constitutions Incorporate International Law”, University of Illinois Law Review 201, http://chicagounbound.uchicago.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=2453&context=journal_articles, truy cập ngày 20/1/2016
12
Tóm tắt thực tiễn về một số vấn đề liên quan đến kí kết và thực hiện ĐUQT, xem tại: http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU/Attachments/2007/9._Tom_tat_thuc_tien_quoc_ te_ve_DUQT.pdf, truy cập ngày 20/1/2016
13 Văn phòng LHQ về Ma tuý và Tội phạm (UNODC) (2006), tlđd (9), (đoạn 9)
Trang 17Mỗi quốc gia thành viên phải lựa chọn ra cách thức nào hợp lý, phù hợp nhất để đảm bảo thực thi các yêu cầu, nội dung cơ bản của điều ước quy định về hành vi khủng bố Sẽ không có một giải pháp cụ thể nào để áp dụng chung cho tất cả các quốc gia mà việc lựa chọn cách thức, biện pháp pháp nào là phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi quốc gia Sau hoạt động bắt buộc là ký kết, phê chuẩn ĐUQT về chống khủng bố, việc đảm bảo thực thi và áp dụng các ĐUQT này có thể được
thiết lập bằng cáchhoặc là sửa đổi, bổ sung các quy định trong PLHS của
quốc gia, hoặc là bằng cách ban hành văn bản pháp luật riêng chứa đựng tất cả các yêu cầu, nội dung của các ĐUQT (đây là cách thức nhanh và đơn giản nhất)
Điều 12 Hiến Pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng khẳng định sự cam kết của Việt Nam trong việc tham gia và thực hiện các
ĐUQT: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (…) chủ động và tích cực hội
nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương LHQ và ĐUQT mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…” Mặc dù việc cam kết thực hiện ĐUQT một cách nghiêm túc và thiện chí
nhất đã được quy định rõ nhưng Hiến pháp Việt Nam lại không quy địnhcách thức
cụ thể để áp dụng và thực thi các yêu cầu của ĐUQT.Khi tìm hiểu ở pháp luật chuyên ngành, cụ thể là Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005(Luật số 41/2005/QH11) và Luật Điều ước quốc tế 201614, mối quan hệ giữa
ĐUQT với pháp luật trong nước được quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm
pháp luật và ĐUQT mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐUQT đó, trừ
sự khác nhau thì áp dụng (trực tiếp) ĐUQT
Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế2005 và Luật Điều ước quốc tế 2016 quy định mọi điều ước Việt Nam ký kết hoặc gia nhập không được trái với Hiến pháp, và trong trường hợp ĐUQT mà Việt Nam là thành viên và pháp luật trong nước có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐUQT Các quy định cho thấy Việt Nam nghiêng về cách tiếp cận “nhất nguyên luận”, tức là ĐUQT có thể được áp dụng trực tiếp trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, việc có áp dụng trực tiếp được một điều khoản của điều ước hay
14
Ngày 9/4/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật ĐUQT (Luật số 108/2016/QH13) Với 10 chương, 84 điều, Luật ĐUQT có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2016, thay thế Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện ĐUQT năm 2005
15 Khoản 1, Điều 6 Luật ĐUQT 2016
Trang 18không còn phụ thuộc vào chính quy định đó, chẳng hạn: có quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hay không? quy định đó có đủ rõ, đủ chi tiết để áp dụng hay không? Tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016 quy định:
Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của ĐUQT, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của ĐUQT đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần ĐUQT đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của ĐUQT
đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện ĐUQT đó
Như vậy, sau khi “ký, trao đổi các văn kiện của điều ước phê chuẩn, chấp thuận,
ràng buộc của ĐUQT, các chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hànhnội luật hóa và các quy định trong các ĐUQT đó phát sinh hiệu lực đối với công dân, pháp nhân, tổ chức của Việt Nam
Qua phân tích trên, ta thấy rằng quan điểm của Việt Nam trong việc nội luật hóaĐUQTdựa trên quan điểm hỗn hợp giữa hai thuyết nhất nguyên luận và nhị nguyên luận17, tức là vừa có thể - theo thuyết nhất nguyên luận - áp dụng trực tiếp ĐUQT trong trường hợp pháp luật trong nước có quy định khác với ĐUQT hoặc trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nhà nước quyết định áp dụng trực tiếp
khi thấy ĐUQT đã đủ rõ và chi tiết; vừa có thể - theo thuyếtnhị nguyên luận - “sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện”
trong trường hợp khi thấy ĐUQT chưa đủ rõ hoặc chi tiết Như vậy, khái quát về mặt
lý luận, Việt Nam có thể nội luật hóa quy định của các ĐUQT bằng các cách thức như sau:
Thứ nhất, ban hành văn kiện cấp nhà nước thừa nhận các quy định trong ĐUQTsẽ có hiệu lực áp dụng ở trên lãnh thổ quốc gia Đây là hình thức đơn giản nhất để nội luật hóa vì không phải ban hành nhiều quy phạm pháp luật mà chỉ thuần túy quy định pháp nhân, thể nhân có nghĩa vụ thực hiện quy định trong từng ĐUQT Tuy nhiên, hạn chế hình thức này ở chỗ: do các quy định trong ĐUQT xác lập nhằm điều chỉnh hành vi của các quốc gia thành viên nên thường không đủ chi tiết để điều chỉnh hành vi của pháp nhân, thể nhân;
16 Điều 11 Công ước Viên 1969
17 Nguyễn Thị Phương Hoa (Chủ nhiệm đề tài) (2015), Nội luật hóa các quy định của Công ước chống tội
phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong BLHS Việt Nam, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, Trường Đại
học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 8 - tr.9
Trang 19Thứ hai, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung quy định trong các văn bản pháp luật để cụ thể hóa các quy định trong ĐUQT Hình thức nội luật hóa này sẽ tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới trong hệ thống pháp luật quốc gia hoặc làm thay đổi nội dung điều chỉnh của một số quy định trong văn bản pháp luật hiện hành theo yêu cầu của ĐUQT;
Thứ ba, cáchthức bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật hoặc một số quy định trong văn bản pháp luật quốc gia để phù hợp với yêu cầu của ĐUQT Đây là hình thức khắc phục sự mâu thuẫn trong nội dung điều chỉnh của pháp luật quốc gia theo yêu cầu của quy định trong ĐUQT
Cách thức nào được lựa chọn để áp dụng đối với ĐUQT cụ thể dường như sẽ được
xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền tương ứng với từng trường hợp cụ thể
Dựa trên thực tiễn nội luật hóa ĐUQT ở Việt Nam trong thời gian qua thì cách thức nội luật hóa phổ biến nhất là bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung quy định trong văn bản pháp luật để phù hợp với yêu cầu của ĐUQT18 Chính vì vậy mà theo nhóm tác
giả Hoàng Phước Hiệp, cho rằng, ở Việt Nam “nội luật hoá là quá trình cơ quan
nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hoá các quy phạm của ĐUQT thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa
Rõ ràng, không có nội luật hóa, pháp luật quốc tế sẽ khó đi vào thực tiễn áp dụng ở từng quốc gia Qua tìm hiểu nội hàm khái niệm và cách thức nội luật hóa, chúng ta có thể kết luận một số vấn đề sau đây:
-Về điều kiện để nội luật hóa mộtĐUQTbao gồm: thứ nhất, điều ước phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng; thứ hai, nội dung của điều ước không trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế
- Về đặc điểm:Văn bản nội luật hóa thực chất là văn bản pháp luật quốc gia chứa đựng các quy phạm pháp luật có nội dung cụ thể hóa quy định của ĐUQT Văn bản nội luật hóa có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với tất cả các chủ thể luật quốc gia cũng như trong phạm vi toàn bộ lãnh thổ của quốc gia với tư cách một văn bản pháp luật quốc gia thông thường
- Về ý nghĩa, vai trò: Nội luật hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thực
hiện nghĩa vụ thành viên ĐUQT, đảm bảo nguyên tắc “Pacta sunt servanda”, tạo cơ
sở pháp lý trong việc tăng cường và mở rộng các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc
tế trong việc giải quyết các vấn đề có tính chất quốc tế mà tội phạm khủng bố là một
18Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, tlđd (10), tr.593-594
19 Hoàng Phước Hiệp (Chủ nhiệm đề tài), Nội luật hóa ĐUQT mà Việt Nam ký kết, gia nhập phục vụ quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài khoa học cấp bộ, Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), tr.18
Trang 20ví dụ điển hình.Ngoài ra, nội luật hóa còn góp phần đảm bảo sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế;thúc đẩy, góp phần hoàn thiện pháp luật quốc gia, tăng cường kỹ thuật lập pháp trong nước
1.1.2 Cơ sở của việc nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế chống khủng bốtrongpháp luật hình sự Việt Nam
Trong xu thế hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay trên nhiều lĩnh vực, kể cả lĩnh vực phòng, chống tội phạm, việc các quốc gianội luật hóa qui định của các ĐUQT chống khủng bốlà một yêu cầu khách quan của quá trình phát triển
và hội nhập, đồng thời nhằm thực hiện tốt nhất các cam kết quốc tế, đảm bảo tinh
thần nguyên tắc “Pacta sunt servanda”.Tuynhiên, quá trình nội luật hóa không phải
đơn giản là sự sao chép lại nội dung ĐUQT vào pháp luật quốc gia Cụ thể, ở Việt Nam, việc nội luật hóa là hoạt động của cơ quan nhà nước và các chủ thể có thẩm quyền thực hiện phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của Việt Nam và phải dựa trên các cơ sở quan trọng sau đây:
Cơ sở thứ nhất: Nội luật hóa phải dựa vào quan điểm, đường lối, chủ trương chính
sách, định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế với qui mô toàn diện, đồng bộ trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh, tư pháp đã và đang
là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta phù hợp với xu thế toàn cầu hóa hiện nay Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam diễn ra trên tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực tư pháp hình sự, bao gồm vấn đề hợp tác trong phòng, chống tội
phạm có tính chất quốc tế Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết luận: “Hoạt động hợp tác
quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống tội phạm, trước hết là với các nước láng giềng, các nước có quan hệ truyền thống, các nước trong khu vực ASEAN
Tổ chức thực hiện tốt các Công ước quốc tế, Hiệp định tương trợ tư pháp, Hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các ĐUQT khác liên quan đến công tác phòng, chống tội
đã thể hiện rõ quan điểm, thái độ kiên quyết lên án các hành động khủng bố Cụ thể, Nghị quyết 08/1999/NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược an ninh quốc gia nêu rõ
phải “Chủ động xây dựng phương án bảo vệ an ninh, trật tự, phương án phòng, chống
địch xâm nhập, phá hoại, gây rối, bạo loạn, chống khủng bố…” Hay trong Nghị quyết
20
Kết luận Số 92-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 12 tháng 3 năm 2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết
số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
21 Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 22 tháng 10 năm 2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Trang 2140/2004/NQ/TW năm 2004 của BCT về Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác
công an trong tình hình mới cũng khẳng định: “Nguy cơ khủng bố và lợi dụng chống khủng bố đe dọa nghiêm trọng an ninh thế giới vẫn tiếp tục gia tăng; phòng, chống khủng bố đang trở thành vấn đề quốc tế lớn đòi hỏi các nước đều phải quan tâm…”
Việc kí kết, gia nhập cácĐUQT về phòng, chống khủng bố và nội luật hóa vào PLHS Việt Nam cũng là một bước cụ thể hóa chính sách hội nhập của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Cụ thể, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005
của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 hiện đang được triển khai thực hiện, đã
nhấn mạnh đến nhiệm vụ“ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng
bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham
nhũng, các hiệp định tương trợ tư pháp Chú trọng việc nội luật hoá những ĐUQT
Như vậy, các quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách, định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta là cơ sở rất quan trọng trong quá trìnhnội luật hóa quy định của các ĐUQT chống khủng bố vàoPLHS Việt Nam
Cơ sở thứhai:Nội luật hóa phải dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và cơ sở pháp luật
quốc gia
Xuất phát từ tính chất nguy hiểm của tội phạm khủng bố quốc tế, nhất là sự tác động tiêu cực của khủng bố đến an ninh toàn cầu cùng với sự biến đổi nhanh chóng của khủng bố quốc tế trong giai đoạn hiện nay thì nguy cơ khủng bố đang hiện hữu và có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã tích cực hòa mình vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc đưa ra các giải pháp hữu hiệu để phòng, chống khủng bố quốc tế, trong đó bao gồm việc kí kết, tham gia hầu hết các ĐUQT về phòng, chống khủng bố Trước mắt, tinh thần hợp tác bền vững, thiện chí, tận tâm của các quốc gia dựa trên luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia vẫn là điều kiện cần thiết để đảm bảo thắng lợi trong quá trình đấu tranh phòng, chống khủng bố tiến tới loại trừ nó ra khỏi đời sống cộng đồng quốc
tế Do vậy, hoạt động nội luật hóa các cam kết quốc tế về phòng, chống tội phạm khủng bố vào PLHS Việt Nam phải căn cứ vào các điều ước và các văn kiện pháp
lý quốc tế mà Việt Nam là thành viên Có thể chia cơ sở pháp lý này ra làm 02 nhóm: Nhóm thứ nhất là các ĐUQT quy định về việc kí kết, gia nhập và thực thi ĐUQT (như Công ước Viên 1969); nhóm thứ hai chính là nội dung các quy định của các ĐUQT chống khủng bố mà Việt Nam là thành viên
Trang 22Ngoài ra, tinh thần tuân thủ và thực hiện nghiêm túc ĐUQT cũng phải dựa trên cơ sở pháp lý của quốc gia, đó chính là Hiến pháp (2013) Việt Nam,Luật Điều ước quốc tế 2016 và các văn bản pháp luật hiện hành quy định về hành vi khủng bố (như: Luật phòng, chống khủng bố 2013,BLHS Việt Nam…) nhưng hiện nay các quy định về khủng bố trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có sự tương thích với nhau Điển hình là đặc điểm hành vi khủng bố trong Luật phòng, chống khủng
bố 2013 khác biệt với đặc điểm tội phạm khủng bố trong PLHS Việt Nam
Cơ sở thứba: Việc nội luật hóa quy định của các ĐUQT chống khủng bố dựa
vàotình hình khủng bố trên thế giới và nguy cơkhủng bố ở Việt Nam
Khủng bố xảy ra luôntác động xấu đến tất cả các quốc gia trong khu vực và thế giới Hậu quả của khủng bố không chỉ là những thiệt hại vật chất mà còn bao gồm những thiệt hại phi vật chất không thể định lượng Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa hiện nay, một khi khủng bố xảy ra ở bất kì một quốc gia nào cũng đều tác động tiêu cực đến các quốc gia khác Chúng ta có thể đánh giá phần nào tính
nguy hiểm của tội phạm khủng bố thông quaChỉ số khủng bố toàn cầu năm 201524
được xây dựng bởi Viện Kinh tế và hòa bìnhvới những phân tích chi tiết xu hướng thay đổi của chủ nghĩa khủng bố từ năm 2000 đến nay tại 162 quốc gia ở tất cả các vùng miền trên thế giới Theo đó, riêng trong năm 2014, trên thế giới có tới 93 quốc gia bị khủng bố tấn công và 63 quốc gia bị thương vong về người Quốc gia xảy ra nhiều vụ khủng bố nhất và chịu nhiều thương vong nhất là Nigeria Hậu quả thương vong do khủng bố gây ra có chiều hướng ngày càng tăng, từ 18.111 người năm 2013 lên đến 32.685 người trong năm 201425 (Xem Phụ lục 2) Ước tính thiệt hại về kinh tế do khủng bố gây ra đạt đỉnh năm 2014 với 52.9 tỷ đô la, tăng 61% so với năm 2013 và gấp 10 lần so với năm 200026
Hiện nay, tội phạm khủng bố quốc tế có xu hướng gia tăng với tính chất, mức
độ ngày càng nghiêm trọng Nhiều tổ chức khủng bố quốc tế nguy hiểm vẫn đang hoạt động, trong đó Boko Haram được xem là nhóm khủng bố gây thương vong nhiều nhất trên thế giới (Xem Phụ lục 2.3) Riêng năm 2014, nhóm khủng bố này làm chết 6644 người Nhóm khủng bố gây thương vong lớn thứ 2 là Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS (còn gọi là ISIL hay Daesh) làm chết 6073 người (năm 2014) Hiện tổ chức khủng bố Boko Haram đã gia nhập Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS (ISIL hay Daesh) vào tháng 3
24 Institute For Economics and Peace – IEP (Viện Kinh tế và Hòa bình), Global Terrorism Index 2015 (“Chỉ
số khủng bố toàn cầu năm 2015”):Measuring and understanding the impact of terrorism,
www.economicsandpeace.org, truy cập ngày 20/1/2016.Tài liệu đã cung cấp những phân tích chi tiết xu hướng thay đổi của chủ nghĩa khủng bố từ năm 2000 đến nay tại 162 quốc gia ở tất cả các vùng miền trên thế giới
25
Viện Kinh tế và Hòa bình (Institute For Economics and Peace – IEP, tlđd (24), trang 9
26 Viện Kinh tế và Hòa bình (Institute For Economics and Peace – IEP, tlđd (24), trang 61
Trang 23năm 2015 Bên cạnh đó còn một số tổ chức khủng bố quốc tế nguy hiểm khác như: Jamā' at Ahl as-Sunnah lid-Da'wah wa'l-Jihād; Al-Shabaab… (Xem Phụ lục 2.3) Trong thời gian gần đây, hình thức khủng bố theo kiểu “Con sói đơn độc” (“Lone Wolf Terrorists”) ở các quốc gia phương Tây gia tăng, gây thiệt hại lớn và diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều động cơ phạm tội khác nhau (Xem Phụ lục 2.4 và Phụ lục 2.5).Những gì đang diễn ra với an ninh toàn cầu cùng với đó là những biến đổi nhanh chóng của chủ nghĩa khủng bố chắc chắn sẽ tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Thực tiễn cũng đã chứng minh, ở Việt Nam nguy cơ phát sinh khủng bố (kể cả khủng bố quốc tế)là đang hiện hữu Nghị quyết 40-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị
về Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác công an trong tình hình mới cũng đã khẳng định “Nguy cơ khủng bố (…) đe dọa nghiêm trọng an ninh thể giới vẫn tiếp tục
gia tăng; phòng, chống khủng bố đang trở thành vấn đề quốc tế lớn đòi hỏi các nước đều phải quan tâm”.Đối với nước ta, nguy cơ khủng bố xuất phát từ các nhân tố bên
trong (như: hạn chế trong công tác phòng, chống khủng bố; một số vụ việc phức tạp về
an ninh trật tự…) và cả các nhân tối bên ngoài (vị trí địa lý, tình hình khủng bố trên thế giới còn diễn biến phức tạp…)27 Các nhân tố đó đóng vai trò là nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm khủng bố ở nước ta
1.2 Tội phạm khủng bố theocác điều ƣớc quốc tế chống khủng bố
1.2.1Khái quát các điều ước quốc tế chống khủng bố
Khủng bố đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, an ninh nhân loại, nó xâm hại đến các giá trị cốt lõi mà cộng đồng quốc tế đang chung tay bảo vệ Do vậy, để
đấu tranh với khủng bố, cần phải tạo ra một “phản ứng toàn cầu”từ cộng đồng quốc tế
với nhiều biện pháp, công cụ mang tính quốc tế, trong đó pháp luật được xem là công cụ then chốt Trải qua hơn 05 thập kỷ, cộng đồng quốc tế đã và đang tiếp tục xây dựng
“khung pháp lý quốc tế chung” thông quacác ĐUQT nhằm chống lại các hình thức và
biểu hiện của khủng bố Cụ thể, từ năm 1963 cho đến nay, có tổng cộng 12 Công ước và
7 Nghị định thư quốc tế quy định về hành vi khủng bố lần lượt ra đời28 dưới sự bảo trợ
của LHQ và các tổ chức chuyên môn của LHQ (như Tổ chức hàng không dân dụng quốc
tế (ICAO), Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế
27 Nguyễn Quyết Thắng (2016), “Tội phạm khủng bố tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và một số vấn đề đặt
ra đối với công tác phòng ngừa của lực lượng công an”, Tạp chí Khoa học và giáo dục An ninh, số 47, tr.79 – tr.83
28 Xem hệ thống các ĐUQT chống khủng bố tại: https://www.unodc.org/tldb/en/universal_instruments_list NEW.html
29 Ban chỉ đạo phòng, chống khủng bố - Bộ Công an (2013), Các ĐUQT, ASEAN và pháp luật Việt Nam về
phòng, chống khủng bố, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
Trang 24được LHQ công bố rộng rãi30
.Hiện Việt Nam đã kí kết, gia nhập 12 điều ước(Xem Phụ lục1) và sẽ tiếp tục nghiên cứu để gia nhập 04 điều ước còn lại31 vào thời điểm thích hợp
Ở góc độ khoa học, căn cứ vào nội dung điều chỉnh, chúng ta có thể chia các ĐUQT chống khủng bố thành 05 nhóm sau:
Nhóm thứ nhất: Các ĐUQT chống khủng bốthuộc lĩnh vực an ninh hàng không
Đâylà công ước quốc tế đa phương chống khủng bố đầu tiêncủa cộng đồng quốc tế thuộc lĩnh vực an ninh hàng không.Công ước không liệt kêcác hành vi phạm tội cụ thể mà chỉ yêu cầu các quốc gia thành viên xác lập quyền tài phán đối với bất
kỳ hành vi vi phạm PLHS hay bất kỳ hành vi nào khác gây nguy hiểm cho an toàn của tàu bay, xâm phạm người hoặc tài sản trên tàu bay hoặc làm mất trật tự, vi phạm
kỉ luật trên tàu bay Ngoài ra, trong các quy định về chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay
thông qua hành vi “bắt giữ trái pháp luật hoặc các hoạt động trái pháp luật khác
nhằm kiểm soát tàu bay khi tàu bay đang bay” (khoản 1, Điều 11), Công ước 1963
chỉ buộc quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp cần thiết có thể, thiết lập quyền tài phán để trừng trị hành vi phạm tội với tư cách là quốc gia nơi tàu bay được đăng ký (khoản 2, Điều 3) Hơn nữa, yêu cầu nhằm thiết lập quyền tài phán (Chương II của Công ước) chỉ áp dụng đối với các hành vi phạm tội được thực trên tàu bay khi nó đang bay, tức là từ khi năng lượng đang được cung cấp cho máy bay lúc cất cánh đến khi hạ cánh
Ngoài ra, Công ước còn trao quyền cho người chỉ huy tàu bay thực hiện các biện pháp thích hợp, bao gồm bắt giữ người đã thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện các hành vi phạm tội nhằm bảo vệ an toàn cho chuyến bay, yêu cầu các quốc gia thành viên bắt giữ người phạm tội và trao trả lại quyền kiểm soát tàu bay cho người chỉ huy tàu bay hợp pháp
30 Liên Hợp quốc (2008), Các công cụ pháp lý quốc tế về ngăn chặn và trừng trị khủng bố quốc tế, New
York (Mỹ), xem (bản tiếng Anh) tại:
https://www.unodc.org/documents/terrorism/Publications/Int_Instruments_Prevention_and_Suppression_Int_ Terrorism/Publication_-_English_-_08-25503_text.pdf, truy cập ngày 20/1/2016
31
04 điều ước quốc tế gồm: Công ước 1991 về đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết; Công ước 2005 về
trừng trị hành vi khủng bố bằng hạt nhân; Nghị định thư 2005 bổ sung Công ước vềtrừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải; Nghị định 2005 bổ sung Nghị định thư về trừng trị hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn của các công trình cố định trên thềm lục địa
32 Công ước này bắt đầu có hiệu lực vào ngày 4/12/1969 Đối với Việt Nam, Công ước có hiệu lực vào ngày 8/1/1980
33
Công ước này bắt đầu có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên vào ngày 14/10/1971 Công ước có hiệu lực đối với Việt Nam vào ngày 8/1/1980
Trang 25Tại Điều 1(a) của Công ước 1970 đã yêu cầu các quốc gia thành viên phải trừng trị bằng cách hình phạt nghiêm khắc người đang ở trên tàu bay “đang bay” mà
“sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, hoặc bằng bất kỳ hình thức đe dọa nào
khácđể chiếm giữ hoặc kiểm soát tàu bay một cách bất hợp pháp hoặc có sự chuẩn
được mở rộng ra hơn so với Công ước Tokyo 1963, tức là“sau khi cửa ngoài máy
bay được mở để hành khách lên tàu đến khi cửa đó được mở để xuống tàu” (đoạn 1,
Điều 3), chứ không phải là từ khi cất cánh đến khi hạ cánh
Công ước (1971) về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn
Công ước này được thông qua sau sự kiện 04 tàu bay dân sự đang đậu trên mặt đất ở Trung Đông bị phá hủy vào tháng 9 năm 197036 Điều 1 của Công ước đã liệt kê các hành vi chống lại an toàn hàng không dân dụng mà các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ tội phạm hóa, như: hành vi gây nguy hiểm cho sự an toàn của tàu bay bằng cách phá hủy tàu bay, phá hủy hoặc làm hỏng thiết bị không lưu,hành
vi bạo lực chống lại người trên máy bay đang bay,hành vi đặt thiết bị nổ trên máy
bay,…khi tàu bay đang trong quá trình khai thác, tức là “từ khi các nhân viên phục
vụ dưới mặt đất hoặc tổ bay bắt đầu việc chuẩn bị bay cho đến 24 giờ sau khi hạ cánh” (đoạn b, Điều 2) Công ước còn yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội
phạm hóa và quy định các hình phạt nghiêm khắc để trừng trị hành vi bắt giữ người phạm tội để trục xuất hoặc tiến hành các thủ tục để truy tố người phạm tội Ngoài ra, yêu cầu tội phạm hóa cũng mở rộng cả với những hành vi chuẩn bị (“attempts”) thực hiện các hành vi phạm tội (nêu tại đoạn 2, Điều 1) và với hành vi trong đồng phạm mà không chịu những “giới hạn” như trong Công ước (1970) về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay (chỉ áp dụng đối với hành vi phạm tội thực hiện trên máy bay)
Nghị định thư (1988) về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các
35 Công ước này bắt đầu phát sinh hiệu lực ngày 26/1/1973 và có hiệu lực đối với Việt Nam ngày 8/1/1980
36UNODC (2008), Hướng dẫn áp dụng chế độ pháp lý toàn cầu về chống khủng bố (“Legislative guide to the
universal legal regime agains terrorism”), NewYork, Mỹ, trang 14 Xem (bản tiếng Anh) tại:
https://www.unodc.org/documents/terrorism/Publications/Legislative_Guide_Universal_Legal_Regime/English.pd
f, truy cập ngày 20/1/2016
Trang 26cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế 37
Nghị định thư được cộng đồng quốc tế thông qua nhằmbổ sung cho Công ước 1971 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng Chỉ những quốc gia thành viên của Công ước Montreal 1971 mới có thể gia nhập Nghị định thư này Nghị định thư được thông qua sau một loạt các vụ tấn công khách du lịch tại các sân bay quốc tế ở Vienna (Áo), Rome (Italia) và một số nơi khác vào những năm 1980 Cụ thể, Nghị định thư yêu cầu tội phạm hóa các hành vi sau đây (Điều I):
“Hành vi sử dụng một cách bất hợp pháp và cố ý bất kỳ thiết bị, các chất hoặc vũ khí nào để:
(a) Thực hiện một hành vi bạo lực chống lại một người tại cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế, làm cho người đó hoặc có thể làm cho người
đó bị thương nặng hoặc bị chết;
(b) Phá hủy hoặc làm hư hỏng nặng các phương tiện của cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế hoặc tàu bay chưa khai thác đỗ tại cảng hàng không đó hoặc làm gián đoạn các dịch vụ của cảng hàng không đó, nếu một hành vi như vậy gây nguy hiểm hoặc có thể gây nguy hiểm cho an toàn tại cảng hàng không đó”
Như đã đề cập ở trên, Công ước 1970 về trừng trị hành vi chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay, Công ước 1971 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng và Nghị định thư 1988 về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các cảng phục vụ hàng không dân dụng quốc tế quy định một loạt các hành
vi phạm tội, từ chiếm giữ trái phép tàu bay đang bay, đến hành vi bạo lực chống lại người trên tàu bay đang bay và hành vi tấn công tàu bay trên mặt đất, đến hành vi bạo lực chống lại người ở cảng hàng không và tấn công các cảng hàng không cũng như các thiết bị trên mặt đất khác Sự ra đời các ĐUQTtrênphản ánh sự quan ngại toàn cầu
về an ninh vận chuyển hàng không trong lĩnh vực dân dụng và nhanh chóng trở thành công cụ pháp lý quan trọng trong đấu tranh với các hành vi khủng bố trong lĩnh vực này
Nhóm thứ hai:Các ĐUQT chống khủng bố ở lĩnh vực an ninh hàng hải
Công ước 1988 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành
Trang 27dựng trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo nhóm ĐUQT về chống khủng bố ở lĩnh vực
an ninh hàng không và thực tiễn đấu tranh với các hành vi tấn công tàu biển Công
ước này còn được gọi tắt là Công ước SUA (viết tắt từ tên tiếng Anh: “Convention
for the Suppression of Unlawful Acts against the Safety of Maritime Navigation”) ra
đời sau sự kiện năm 1985 diễn ra hành vi cướp tàu Achille Lauro ở Địa trung hải và một hành kháchbị giết hại39 Công ước yêu cầu tội phạm hóa các hành vi: bắt giữ, hủy hoại tàu biển và hàng hóa đe dọa an toàn hành trình hàng hải; đặt thiết bị hoặc chất nguy hại có khả năng phá hủy tàu biển hay hàng hóa, gây nguy hiểm đến an toàn hành trình hàng hải; gây thiệt hại nghiêm trọng đến thiết bị hành trình hàng hải; trao đổi thông tin giả; làm bị thương hoặc giết hại bất kì người nào mà việc này liên quan đến việc thực hiện hay ý đồ thực hiện bất kì tội phạm nào được liệt kê trong Công ước
Nghị định thư 1988 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn
Theo quy định tại đoạn 3 Điều 1 của Nghị định thư, “công trình cố định” là
“một đảo nhân tạo, thiết bị hoặc cấu trúc được lắp đặt vĩnh cửu trên đáy biển nhằm
mục đích thăm dò hoặc khai thác tài nguyên hoặc nhằm các mục đích kinh tế khác”
Nghị định thư yêu cầu các quốc gia trừng trị các hành vi chống lại an toàn của những công trình cố định trên thềm lục địa, bao gồm:Hành vi chiếm giữ hoặc thực hiện kiểm soát các công trình cố định bằng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất kỳ hình thức đe dọa nào khác; hành vi bạo lực chống lại người trên các công trình cố định; hành vi phá hủy hay làm hư hại các công trình đó; hành vi đặt, chỉ đạo việc đặt hay bằng bất kỳ hình thức nào khác các thiết bị hoặc chất liệu có khả năng phá hủy các công trình cố định… có khả năng gây nguy hại đến an toàn của các công trình đó
Ngoài ra, trong nhóm ĐUQT chống khủng bố trong lĩnh vực an ninh hàng hải còn có thêm 02 Nghị định thư (năm 2005) bổ sung cho Công nước SUA cũng như bổ sung cho Nghị định thư 1988 nêu trên Các Nghị định thư này quy định thêm các hành
vi phạm tội khủng bố chống lại an toàn hành trình hàng hải hay an toàn của các công trình cố định trên thềm lục địa, như: hành vi sử dụng hoặc phóng ra từ tàu biển bất kỳ
chất nổ, chất phóng xạ, vũ khí sinh học, hóa học hoặc vật liệu hạt nhân hoặc các loại vũ khí khác mà có thể gây ra chết người, gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người
hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản; phóng ra các chất độc hại và chất nguy hiểm
khác có thể gây chết người hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người hoặc
Trang 28gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản;… Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa tham gia 02 Nghị định thư này
Nhóm thứ ba: Các ĐUQT chống khủng bốliên quan đến những người được bảo
hộ quốc tế và con tin
Công ước 1973 về phòng ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những
Điều 1 Công ước đưa ra định nghĩa về “người được bảo hộ quốc tế” bao gồm
người đứng đầu Nhà nước, bộ trưởng Bộ ngoại giao, người đại diện hoặc viên chức quốc gia hoặc tổ chức quốc tế cùng với thành viên gia đình của họ theo quy định được hưởng quyền bảo vệ đặc biệt khi ở nước ngoài
Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hóa và trừng phạt bằng các hình phạt thích đáng đối với các nhóm hành vi: hành vi cố ý mưu sát, bắt cóc hoặc những hành vi tấn tông khác xâm hại tính mạng, quyền tự do của những người được bảo hộ quốc tế; hành vi tấn công bạo lực trụ sở làm việc, nơi ở cá nhân, hoặc phương tiện giao thông của họ; hành vi đe dọa thực hiện các tội phạm trên
Điều 1 Công ước quy định “bất cứ người nào bắt giữ hoặc giam giữ và đe
dọa giết, làm bị thương hoặc tiếp tục giữ người khác để buộc bên thứ ba, cụ thểlà một quốc gia, một tổ chức liên chính phủ quốc tế, một pháp nhân hoặc thể nhân hoặc nhóm người, phải làm hoặc không làm một việc như một điều kiện rõ ràng hoặc điều kiện ngầm cho việc phóng thích con tin thì bị coi là phạm tội bắt cóc con tin” Công ước này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền cơ bản nhất
của con người tránh khỏi sự xâm phại của khủng bố
Nhóm thứ tư:Các ĐUQT chống khủng bố liên quan đến các vật liệu nguy hiểm
Sự ra đời Công ước nhằm tạo ra sự ràng buộc pháp lý đối với các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ các thiết bị hạt nhân và thực thể vật liệu hạt nhân nhằm bảo quản, sử dụng, vận chuyển một cách an toàn Điều 7 Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hóacác hành vi sau: các hành vi bất hợp pháp trong việc tiếp nhận, sở hữu, sử dụng, phân tán… vật liệu hạt nhân dẫn đến hoặc nguy cơ
41
Công ước bắt đầu phát sinh hiệu lực ngày 20/2/1977 Đối với Việt Nam, Công ước có hiệu lực ngày 1/6/2002
42 Công ước bắt đầu phát sinh hiệu lực từ ngày 3/6/1983
Ngày 15/11/2013, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Quyết định số 2212/20113/QĐ-CTN về việc gia nhập Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin năm 1979 và Quyết định
số 2213/20113/QĐ-CTN về việc gia nhập Công ước quốc tế về trừng trị việc khủng bố bằng bom năm 1997 Các Côngước có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 8/2/2014
43 Công ước phát sinh hiệu lực ngày 8/2/1987 Việt Nam là thành viên của Công ước từ ngày 3/11/2012
Trang 29dẫn đến chết người, gây thương tích nghiêm trọng hoặcgây thiệt hại lớn về tài sản; trộm cắp hoặc cướp vật liệu hạt nhân; biển thủ hoặc chiếm hữu gian lận vật liệu hạt nhân; sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng cách đe dọa khác để có được vật liệu hạt nhân; đe dọa sử dụng vật liệu hạt nhân để gây thiệt hại về người, tài sản
hay đe dọa chiếm đoạt vật liệu hạt nhân để ép buộc cá nhân, tổ chức hay quốc gia
làm hay không làm một việc gì
Bản sửa đổi, bổ sung Công ước về bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân (năm
Sự ra đời của Bản sửa đổi, bổ sung Công ước về bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân năm 2005 nhằm tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc đưa ra các giải pháp để bảo vệ hiệu quả an toàn vật liệu hạt nhân và các cơ sở hạt nhân (“nuclear facility”) được sử dụng vì mục đích hòa bình trên thế giới; đồng thời phòng, chống các loại tội phạm liên quan đến vật liệu hạt nhân và cơ sở hạt nhân trên toàn thế giới
Bản sửa đổi, bổ sung 2005 quy định một số hành vi khác có liên quan đến vật liệu hạt nhân là tội phạm, mở rộng đối tượng tác động của tội phạm bao gồm cả cơ
sở hạt nhân (“nuclear facility”)thể hiện qua việc sửa đổi Điều 7 của Công ước 1980
về bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân
Ngoài ra, trong nhóm các ĐUQT quy định các hành vi khủng bố liên quan
đến hạt nhân còn cóCông ước quốc tế 2005 về trừng trị các hành vi khủng bố bằng
hạt nhân, trong đó quy định một số hành vi khủng bố cụ thể như: hành vi chiếm hữu
hoặc sử dụng vật liệu hạt nhân hoặc thiết bị giải phóng phóng xạ với mục đích gây
tử vong hoặc tổn hại thân thể nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản hay môi trường… Tuy nhiên, Việt Nam chưa tham gia Công ước này
Mặc dù tên gọi của Công ước chỉ đề cập đến bom, tuy nhiên nội dung của Công ước còn liên quan đến các loại vũ khí có tính hủy diệt khác Thiết bị gây nổ hay gây sát thương khác được giải thích tại khoản 3 Điều 1 của Công ước
Công ước ngăn cấm bất cứ người nào cố ý ném, đặt, kích nổ, hoặc làm nổ một cách bất hợp pháp thiết bị nổ hoặc các thiết bị gây sát thương khác tại nơi công cộng hoặcnhằm chống lại nơi công cộng, thiết bị của Nhà nước hoặc Chính phủ,
về trừng trị việc khủng bố bằng bom năm 1997 Công ước có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 8/2/2014
Trang 30hệthống giao thông công cộng hoặc cơ sở hạ tầng với ý định gây thương vong hoặc với ý định nhằm hủy hoại những nơi đó, thiết bị hoặc hệ thống đó, qua đó có thể dẫn đến những tổn thất lớn về kinh tế (Điều 2).Công ước còn yêu cầu các quốc gia thành viên phảingăn cấm các hành vi khuyến khích, xúi giục, tổ chức, cố ý tài trợ hoặc dính líu vào việc thực hiện các tội phạm được nêu tại Điều 2 của Công ước; yêu cầu các quốc gia cần hợp tác nhiều hơn thông qua việc trao đổi thông tin chính xác và đã được xác minh.Đặc biệt, Điều 5 của Công ước quy định:
“Mỗi quốc gia thành viên sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết bao gồm cả các biện pháp lập pháp trong nước nếu thích hợp, để đảm bảo rằng các hành vi phạm tội thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này, đặc biệt là các hành vi phạm tội đó có ý đồ hoặc được tính toán nhằm gây ra trạng thái hoảng loạn trong công chúng nói chung, hoặc trong một nhóm người, hoặc một số người cụ thể, dù trong hoàn cảnh nào đều không thể biện minh được bằng những suy xét có tính chất chính trị, triết học, tư tưởng, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hoặc tính chất tương tự nào khác
và sẽ bị trừng trị bằng các hình phạt phù hợp với tính chất nghiêm trọng của các hành vi phạm tội đó”
Như vậy, Công ước đã nhấn mạnh đến một đặc điểmchung quan trọngcủa tội phạm khủng bố, đó làmục đích của khủng bố “nhằm gây ra trạng thái hoảng loạn trong công chúng nói chung, hoặc trong một nhóm người, hoặc một số người cụ thể”
Nhóm thứ năm: Công ƣớc 1999 về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố46
Công ước hướng đến ngăn chặn mọi hành vi tài trợ khủng bố một cách trực tiếp hay gián tiếp núp dưới danh nghĩa các tổ chức hoạt động từ thiện, xã hội… Công ước còn yêu cầu các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp hình sự
và các biện pháp khác để trừng trị những cá nhân, tổ chức có hành vi tài trợ khủng
bố Tuy nhiên, thông qua việc trừng trị hành vi tài trợ khủng bố, khoản 1, Điều 2 Công ước đã gián tiếp mô tả một số đặc điểm chung của tội phạm khủng bố bao gồm:
Thứ nhất, tội phạm khủng bố trước hết là các hành vi cụ thể được điều chỉnh bởinhóm các ĐUQT chống khủng bố (được liệt kê tại Phụ lục của Công ước này);
Thứ hai, bất kì hành vi nào cố ý giết hại hoặc làm bị thương nghiêm trọng đến thân thể người dân hoặc bất kì người nào khác, không có liên quan đến các hoạt động quân sự trong bối cảnh xung đột vũ trang, với mục đích hăm dọa dân chúng hay
ép buộc Chính phủ hay tổ chức quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ
hành vi nào
46 Công ước bắt đầu phát sinh hiệu lực từ ngày 10/4/2002 Công ước có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 25/10/2002
Trang 31Ngoài ra, Công ước này còn quy định nhiều vấn đề khác như: Tăng cường hợp tác giữa các quốc gia trong việc nhận biết, phát hiện, phong tỏa và tịch biên các nguồn tài chính dùng cho hoạt động khủng bố; chia sẻ nguồn tài chính này với các quốc gia khác
để bồi thường cho các nạn nhân; không được từ chối yêu cầu hợp tác vì lý do bí mật ngân hàng…
Một điểm chung trong các ĐUQT chống khủng bố, đó là ngoài việc yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hóa các hành vi khủng bố cụ thể (được liệt kê trong ĐUQT), các quốc gia thành viên còn phải có nghĩa vụ tội phạm hóa hành vi chuẩn bị khủng bố, hành vi xúi giục, hành vi của người đồng phạm hay các hành vi tham gia thực hiện tội phạm khủng bố Theo đó, các hành vi này cũng sẽ bị coi là tội phạm khủng bố và phải bị trừng trị bằng hình phạt thích đáng trong PLHS quốc gia
Tóm lại, có thể nói, việc ra đời hệ thống các ĐUQT chống khủng bốlà một
biểu hiện thành công nhất trong việc thống nhất ý chí và hành động của cộng đồng quốc tế về một trong những lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm của an ninh thế giới Hệ thống các điều ước này là cơ sở pháp lý quan trọng thuộc về luật pháp quốc tế để các quốc gia trên thế giới tăng cường hợp tác phòng, chống khủng bố trong điều kiện an ninh khu vực và thế giới hiện nay vẫn còn chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn, khó lường.Qua nghiên cứu, phân tích các nội dung và yêu cầu cơ bản của các ĐUQT nêu trên, tác giả đưa ra một số nhận xét, đánh giá như sau:
Thứ nhất, các ĐUQT chống khủng bố lên án mạnh mẽ các hành vi khủng bố Trong tổng số 16 ĐUQT chống khủng bố đang phát sinh hiệu lực, có 02 điều ước không quy định cụ thể các hành vi phạm tội, đó là: Công ước Tokyo 1963 về tội phạm và các hành vi khác thực hiện trên tàu bay; Công ước về đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết47 Trong khi đó, 14 ĐUQT còn lại (bao gồm 09 Công ước, 04 Nghị định thư và 01 văn bản sửa đổi, bổ sung) đều mô tả các hành vi phạm tội với tư cách
là các hình thức và biểu hiện của khủng bố trong từng lĩnh vực cụ thể Tất cả các hành vi được điều chỉnh bởi cácĐUQT nêu trên đều là tội phạm khủng bố, thể hiện tính chất bạo lực cao độ,bất kể được tiến hành ở đâu, do ai thực hiện Tuy nhiên, đối với các hành vi bạo lực diễn ra trong thời điểm xung đột vũ trangthì không được điều chỉnh bởi các ĐUQT này mà tuân thủ theo các nguyên tắc nhân đạo quốc tế được hệ thống hóa chủ yếu trong các Công ước Geneva và Hague cũng như các Nghị định thư về xung đột vũ trang
47 Như đã phân tích ở trên, theo Công ước Tokyo 1963, các hành vi phạm tội thực hiện trên tàu bay sẽ được quy định trong PLHS quốc gia Công ước chỉ yêu cầu quốc gia thành viên thiết lập quyền tài phán đối với các tội phạm đó Công ước 1991 về đánh dấu vật liệu nổ dẻo chỉ quy định các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp để ngăn ngừa các hành vi khủng bố liên quan đến vật liệu nổ chưa đánh dấu mà không nêu các hành vi nào bị coi là khủng bố
Trang 32Thứ hai, thuật ngữ "khủng bố" không được sử dụng trong các công ước về chống khủng bốđược xây dựng từ năm 1963 đến trướcnăm 1979, mặc dù về mặt lịch sử những công ước này ra đời trong nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhằmchống lại các hành vi khủng bố Thuật ngữ“khủng bố” lần đầu tiên được sử dụng trong lời nói đầu của Công ước 1979 về trừng trị hành vi bắt cóc con tin Thuật ngữ “khủng bố” tiếp tục được lặp lại trong lời nói đầu của các ĐUQTkhác ra đời sau đó Chỉ có 02 Công ước sử dụng thuật ngữ khủng bố ngay trong tên gọi, lời nói đầu và trong một số điều khoản cụ thể, đó là: Công ước 1999 về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố và Công ước 2005 về trừng trị các hành vi khủng bố bằng hạt nhân Tuy nhiên, tại điều khoản mô tả các hành vi khủng bố cụ thể mà Công ước điều chỉnh thì khôngĐUQTnào đề cập đến thuật ngữ“khủng bố”.Cách mô tảcác các hành vi khủng bố cụ thể trong các ĐUQT vẫn dựa trên các tội phạm truyền thống, phổ biếnchẳng hạn như: giết người, xâm phạm nghiêm trọng thân thể,bắt giữ người bất hợp pháp Như vậy, cho đến hiện tại, chưa có một ĐUQTchốngkhủng bố nào đưa ra định nghĩa chung về tội phạm khủng bố
Thứ ba, qua nghiên cứu, chúng ta thấy rằng nội dung các ĐUQT chống khủng bố đều đề cập đến nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc thực thi một cách thiện chí và có hiệu quả các yêu cầu trong các ĐUQT chống khủng bố, nhất là yêu cầu vềtội phạm hóa các dạng hành vi khủng bố cụ thể trong PLHS quốc gia nhằmtrừng trị các hành vi đó bằng hình phạt thích đáng
Một số văn kiện pháp lý quốc tế hướng dẫn việc thực thi các ĐUQT chống khủng bố:
Yếu tố cốt lõi trong “khung pháp lý quốc tế chung” về chống khủng bố thể hiện phản ứng toàn cầu đối với mối đe dọa này chính là các công ước và nghị định thư quốc tế về chống khủng bố (“Universal instruments”) Bên cạnh đó, một bộ phận quan trọng khác cấu thành nên “khung pháp lý quốc tế chung”chính là các Nghị quyết của Hội đồng bảo an LHQvề chống khủng bốđược ban hành theo yêu cầu tại Chương VII của Hiến chương LHQ (Hội đồng Bảo an LHQ có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp lý có giá trị bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của Liên Hợp quốc) Các Nghị quyết này nhằm khẳng định tính chất nguy hiểm của khủng bố, cung cấp các giải pháp cụ thể để tăng cường phòng, chống khủng bố, hướng dẫn thực thi các ĐUQTchống khủng bố, kêu gọi các quốc gia thành viên tham gia và thực thi nghiêm túc, đầy đủ yêu cầu trong các ĐUQT chống khủng bố Có thể kể đến 02 Nghị quyết của Hội đồng bảo an LHQ đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và tăng cường hiệu quả "khung pháp lý quốc tế" đấu tranh với khủng bố, đó là:
Trang 33- Sau sự kiện khủng bố 11/9 ở Mỹ, Hội đồng Bảo an LHQ đã thông qua Nghị quyết 1373 (năm 2001)48 một lần nữa khẳng định lại tính chất nguy hiểm của tội
phạm khủng bố: “mọi hành vi, phương thức và thủ đoạn của khủng bố đều đi ngược
lại mục đích và nguyên tắc của LHQ” (khoản 5) Với việc trích dẫn tinh thần tại
Chương VII của Hiến chương LHQ yêu cầu các quốc gia thành viên kí kết, gia nhập các ĐUQT chống khủng bố, thực thi nghiêm túc, đầy đủ yêu cầu của các ĐUQT đó,
Nghị quyết còn buộc các quốc gia thành viên tội phạm hóa (“criminalize”) tất cả các
hành vi khủng bố trong pháp luật quốc gia (điểm c, d, e, f - khoản 3)
- Vào ngày 8 tháng 10 năm 2004, Hội đồng Bảo an LHQ đã biểu quyết thông qua Nghị quyết 156649 Nghị quyết này bước đầu đã xác định một số đặc điểm
chung về tội phạm khủng bố mà các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ “trừng trị
bằng hình phạt thích đáng” (đoạn 2, đoạn 3 của Nghị quyết) Sự ra đời của Nghị
quyết này góp phần định hướng các quốc gia trong việc đưa ra định nghĩa chung về tội phạm khủng bố trong pháp luật quốc gia, góp phần tạo sự thống nhất, phù hợp giữa hệ thống PLHScủa các quốc gia trên thế giới để trừng trị tội phạm khủng bố
Ngoài ra, nhiều Nghị quyết quan trọng khác được Hội đồng Bảo an LHQ đưa
ra để tăng cường khả năng phòng, chống khủng bố Nhất là trong thời gian gần đây, tình hình khủng bố trên thế giới có sự gia tăng, diễn biến phức tạp với sự “trỗi dậy” của một số tổ chức khủng bố quốc tế nguy hiểm như"Nhà nước Hồi giáo tự xưng"IS
(ở Iraq và Cận Đông), ANF (Al Nusrah Front- Mặt trận al-Nusra, một chi nhánh của
tổ chức khủng bố al-Qaeda…), khủng bố tiếp tục trở thành “mối đe dọa thường trực
đối với hòa bình và an ninh thế giới Khủng bố là hiện thân của những đe dọa
thông qua Nghị quyết số 2170 (năm 2014)51 lên án mạnh mẽ các hành vi bắt cóc con tin, hành vi kích động khủng bố, hành vi tham gia vào các tổ chức khủng bố… đồng thời yêu cầu các quốc gia trên thế giới cần tội phạm hóa các hành vi trên vào pháp luật quốc gia Các Nghị quyết như: Nghị quyết 2129 (năm 2013), Nghị quyết
2178 (năm 2014), Nghị quyết 2199 (năm 2015), Nghị quyết 2249 (năm 2015), Nghị quyết 2253 (năm 2015), Nghị quyết 2255 (năm 2015) cũng góp phần định hướng các quốc gia, trong đó có Việt Nam nội luật hóa các yêu cầu trong các ĐUQT chống khủng bố
48
Hội đồng Bảo an LHQ, Nghị quyết số S/RES/1373 (ngày 28/9/2001):Threats to international peace and
tại:http://www.un.org/en/sc/ctc/specialmeetings/2012/docs/United%20Nations%20Security%20Council%20 Resolution%201373%20(2001).pdf, truy cập ngày 20/1/2016
49 Xem (bản Tiếng anh) tại http://www.un.org/ga/search/view_doc.asp?symbol=S/RES/1566%20, truy cập 20/1/2016
50
Liên Hợp quốc (2008), tlđd (1)
51 Xem tại: http://www.un.org/en/ga/search/view_doc.asp?symbol=S/RES/2170(2014), truy cập ngày 20/1/2016
Trang 34Để đảm thực thi có hiệu quả các yêu cầu trong ĐUQT chống khủng bố, nhất
là các yêu cầu về mặt pháp lý, UNODC đã xây dựng tài liệutài liệu Hướng dẫn toàn
liệuHướng dẫn áp dụng chế độ pháp lý toàn cầu về chống khủng bố (2008)53(sau đây gọi tắt là tài liệu Hướng dẫn (2008) Hướng dẫn (2008) thay thế tài liệu mà UNODC
đã đưa ra năm 200454 Ngay trong lời nói đầu của Hướng dẫn (2008) đã khẳng định, tài liệu này nằm trong Dự án toàn cầu nhằm tăng cường chế độ pháp lý chống
khủng bố (“The Global Project on Strengthening the Legal Regime against
Terrorism”) trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trước hết là hỗ trợ các
quốc gia trong việc nội luật hóa các yêu cầu trong các ĐUQT chống khủng bố, qua
đó góp phần hoàn thiện hệ thống pháp lý hình sự về chống khủng bố của từng quốc
gia Ngoài ra, vào năm 2009,UNODC cũng đã xây dựngQuy định pháp lý mẫu về
gia có thể tham khảo trong quá trình nội luật hóa, góp phần đảm bảo sự hài hòa, tương thích giữa các quy định về tội phạm khủng bố trong hệ thống PLHS của các quốc gia với pháp luật quốc tế Quy định pháp lý mẫucung cấp sự hỗ trợ về mặt pháp lý trong quá trình các quốc gia thành viên thực thi các yêu cầu (có tính bắt buộc) của các ĐUQT chống khủng bố Ngoài ra, Quy định pháp lý mẫu cũng có thể được sử dụng như là công cụ tham khảo cho các nhà nghiên cứu và các nhân viên tư pháp hình sự của các quốc gia
1.2.2 Đặc điểm của tội phạm khủng bố
Để hiểu rõ về tội phạm khủng bố, trước hết phải đi tìm hiểu nguồn gốc ra đời cũng như cách nhìn nhận, đánh giá của thế giới về khủng bố qua từng thời kì khác
nhau gắn liền với các sự kiện quốc tế cụ thể Thuật ngữ “khủng bố” có nguồn gốc từ chữ La tinh, có nghĩa là “gây ra hoảng sợ” (“to frighten”) Nó là một phần của cụm
từ “terror cimbricum” được sử dụng bởi người La mã cổ đại vào năm 105 trước
Công nguyên để diễn tả tình trạng lo lắng, hoảng sợ trong quá trình chống lại những cuộc tấn công của những bộ lạc hung tợn Nhiều năm sau đó, thuật ngữ này gắn liền
52
Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma tuý và Tội phạm (LHQ), tlđd (9)
53 Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma tuý và Tội phạm (UNODC) (2008), tlđd (36)
54UNODC (2004), Hướng dẫn pháp lý đối với các Công ước và Nghị định thư về chống khủng bố (tên tiếng
Anh: The Legislative Guide to the Universal Anti-Terrorism Conventions and Protocols), New York, Mỹ
Xem (bản tiếng Anh) tại: https://www.unodc.org/pdf/terrorism/TATs/en/1LGen.pdf, truy cập ngày 20/1/2016
55 Quy định pháp lý mẫu về chống chủ nghĩa khủng bố (Tên tiếng anh: Model Legislative Provisions against
Terrorism) do Ủy ban phòng chống ma túy và tội phạm của LHQ (UNODC) đưa ra vào tháng 2 năm 2009
(xem bản tiếng Anh tại https://www.unodc.org/tldb/pdf/Model_Law_against_Terrorism.doc , truy cập lần cuối 9/5/2016) Quy định pháp lý mẫu tập hợp đầy đủ các yêu cầu trong các ĐUQT đa phương về chống khủng bố đang phát sinh hiệu lực và các Nghị quyết có liên quan của Hội đồng bảo an LHQ, nhất là các yêu cầu về tội phạm hóa các dạng hành vi khủng bố
Trang 35với thời kỳ “đẫm máu” của chính quyền Maximilien Robespierre trong thời kỳ cách mạng Pháp (1793 – 1794) Thuật ngữ “khủng bố” để chỉ tình trạng căng thẳng và nỗi lo sợ tột độ mà chính quyền của Robespierre mang đến cho người dân Pháp Sau khi hành quyết của Louis XVI, Robespierre đã trở thành nhân vật lãnh đạo chủ chốt của chính quyền cách mạng Pháp lúc bấy giờ và thuật ngữ “kẻ khủng bố” dùng để chỉ những người đứng đầu của chính quyền độc tài, lạm dụng vũ lực để trấn áp56 Ở Việt Nam, thuật ngữ “khủng bố’ xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 gắn với chế độ Pháp thuộc và chế độ Mỹ - Ngụy Các cuộc đàn áp, càn quét của chính quyền thực dân và Mỹ - Ngụy nhằm hăm dọa nhân dân ta đã bị lên án và bị coi là “khủng bố cách mạng”57
Như vậy, cho đến đấu thế kỷ 20, thuật ngữ “khủng bố” được nhân loại nói chung sử dụng để chỉ hành vi đàn áp của chính quyền, của chế độ thực dân hay xâm lược Sau này, người ta sử dụng nó để chỉ các các hành vi của các nhóm đối lập chống chính quyền Về góc độ luật pháp quốc tế, chưa có một ĐUQT nào lúc bấy giờ đưa ra định nghĩa hay đề cập đến thuật ngữ khủng bố, chủ nghĩa khủng bố và tất nhiên chưa có một ĐUQT nào đưa ra định nghĩa trực tiếp về tội phạm khủng bố.Vấn đề khủng bố được đưa ra bàn luận trong các Hội nghị quốc tế về Hợp nhất
pháp luật hình sự (“International Conferences for Unification of Criminal Law”)
diễn ra từ năm 1930 đến năm 193558 Tại Hội nghị lần thứ 3 ở Brussels năm 1930, nội hàm khủng bố lần đầu tiên được các quốc gia cùng nhau thảo luận, theo đó
“Biểu hiện của hành vi khủng bố là việc cố ý sử dụng các công cụ, phương tiện có
thể tạo ra mối nguy hiểm đối với cuộc sống, sự tự do, thể chất của người khác, hoặc trực tiếp xâm hại đến tài sản cá nhân hoặc của nhà nước với mục đích chính trị
Nations”) - tiền thân của tổ chức LHQ diễn ra từ năm 1934 đến năm 1937 đã thể
hiện những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc tìm kiếm sự thống nhất chung trong nhận thức về khủng bố với tư cách là một tội phạm có tính chất quốc tế
56 Chính quyền thời kỳ này được gọi là chính quyền Terror Robespierre là một thành viên của đảng chính trị Jacobins và để bảo vệ chính quyền, ông đã sử dụng quyền lực của mình để hành quyết các nhân vật chính trị đối lập (thuộc nhóm Girondins) Hàng ngàn người đã bị tử hình theo lệnh của Robespierre và thời kỳ này trở thành thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử Pháp Xem thêm (bản tiếng Anh) tại: http://www.crimemuseum.org/crime-library/origins-of-the-term-terrorism, truy cập ngày 20/1/2016
59 Ben Saul (University of Syney – Sydney Law school), Attempts to define „Terrorism‟ in International Law
(10/2008), xem nội dung bài viết tại:
http://www.cicte.oas.org/olat/documents/Defining%20TERRORISM%20in%20International%20Law.pdf, truy cập ngày 20/1/2016
Trang 36Sau một số sự kiện các nhân vật cấp cao của các quốc gia bị ám sát60, Pháp là quốc gia đã đề nghị Hội Quốc liên cần xây dựng ĐUQT về chống khủng bố Tại Hội nghị về trừng trị khủng bố, diễn ra tại trụ sở của Hội Quốc liên ở Geneva (Thụy sĩ) từ ngày 1 đến ngày 16 tháng 10 năm 1937, Công ước đầu tiên về chống khủng
bố - Công ước 1937 về ngăn chặn và trừng trị khủng bố (tên Tiếng anh là“Convention for the Prevention and Punishment of Terrorism” hay còn gọi là
Công ước Giơnevơ 1937)61 đã được soạn thảo Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên tội phạm hóa hành vi khủng bố và khuyến khích các quốc gia đưa các hành vi khủng bố ra khỏi nhóm tội phạm chính trị bị từ chối dẫn độ Điều ước đã thu hút sự quan tâm và sự tham gia thảo luận của nhiều quốc gia Tuy nhiên, công ước đã không thể phát sinh hiệu lực do những bất đồng về quan điểm giữa các quốc gia đối với những quy định liên quan đến dẫn độ làm ngăn cản tiến trình phê chuẩn Thêm vào đó, chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra đã gây cản trở cho việc ký kết Công ước và tiếp đó là sự tan rã của Hội Quốc liên, Công ước đã không được các quốc gia thông qua và không thể phát sinh hiệu lực
Mặc dù không có hiệu lực nhưng Công ước Giơnevơ 1937 phản ánh nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc chỉ rõ các đặc điểm của tội phạm khủng bố, đồng thời các quốc gia bước đầu đã có sự thống nhất với sau về quan điểm cũng
như cách nhìn nhận khủng bố là “tội phạm trực tiếp chống lại một Nhà nước và cố ý
hoặc toan tính để tạo ra một tình trạng hoảng sợ, lo lắng trong tâm trí (“in the minds”) của con người hoặc một nhóm người hoặc công chúng" (Điều 1(2) Công
ước 1937) Ngoài ra, Điều 2 Công ước 1937 đã liệt kê ra một số dạng hành vi khủng
bố cụ thể mà các quốc gia thành viên nơi tội phạm diễn ra phải tội phạm hóa, bao gồm:
“1) Bất cứ hành vi cố ý nào gây thiệt hại về tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm
trọng về sức khỏe hoặc tự do thân thể…
2/ Cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng đối với tài sản công cộng hoặc tài sản dùng cho mục đích công cộng
3/ Hành vi cố ý gây nguy hiểm đến tính mạng của công chúng;
4/ Bất cứ, hành vi chuẩn bị nào (“any attempt”) nhằm thực hiện một tội phạm bất
kỳ được nêu tại điều này;
60 Vào tháng 10 năm 1934, Vua Laexander I của Nam Tư đã bị ám sát trong chuyến viến thăm cấp nhà nước đến Pháp, rồi Ngoại trưởng Pháp (Louis Barthou) cùng 2 người khác bị giết… Những kẻ tình nghi đã đào tẩu sang Ý và Pháp yêu cầu Ý dẫn độ những người này sang Pháp để xét xử Tuy nhiên, Tòa án tối cao (Turin) của Ý đã từ chối yêu cầu vì cho rằng tội phạm được thực hiện với động cơ, mục đích chính trị, cho nên thuộc trường hợp từ chối dẫn độ Chính quan điểm khác nhau giữa các quốc gia về tội phạm chính trị cũng như chưa có sự thống nhất về tội phạm khủng bố đã thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm các các giải pháp chung nhằm đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này
61 League of Nation, Convention for the Prevention and Punishment of Terrorism, xem (bản tiếng Anh) tại:
https://www.wdl.org/en/item/11579/, truy cập ngày 20/1/2016
Trang 375/ Hành vi sản xuất, tàng trữ, chiếm đoạt trái phép hoặc cung cấp vũ khí quân dụng, chất nổ hoặc các chất nguy hại khác để thực hiện các tội phạm nêu trên…”
Theo tinh thần nội dung của Công ướcthì một trong những dấu hiệu pháp lý
bắt buộc của tội phạm khủng bố là mục đích “nhằm gây ra tình trạng tình trạng
hoảng sợ, lo lắng trong tâm trí…” chứ không phải vì mục đích chính trị hay vì bị ép
buộc Tuy nhiên, cách quy định như vậy là chưa thật sự rõ ràng dễ dẫn đến tranh cãi
bởi lẽ “tình trạng hoảng sợ trong tâm trí”của người khác thuộc về về phạm trù chủ
quan và khó xác định, và vấn đề này lại không được lý giải trong Công ước Ngoài
ra, trong Điều ước có đề cập đến “hành vi trực tiếp chống lại một Nhà nước” khi
định nghĩa khủng bố Vậy, phạm vi khủng bố có bao gồm cả hành vi lật đổ một nhà nước để thành lập nên một nhà nước mới với thể chế chính trị mới hay chỉ là các hành vi chống lại lợi ích của nhà nước, an ninh và trật tự công cộng? Mặc dù định nghĩa khủng bố trong Công ước 1937 vẫn còn một số hạn chế, tuy nhiên đây không phải là vấn đề mấu chốt dẫn đến sự không thống nhất giữa các quốc gia mà chính các điều khoản về dẫn độ tội phạm khủng bố mới là rào cản lớn nhất đối với việc thông qua Công ước giữa các quốc gia trong Hội Quốc liên
Dù ở đâu và thời kỳ nào, khủng bố luôn xâm phạm quyền con người, quyền
tự do và trật tự pháp luật quốc tế Khủng bố luôn là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh thế giới Do vậy, để phòng, chống khủng bố hiệu quả đòi
hỏi phải có sự hợp tác toàn cầu nhằm tạo nên “phản ứng toàn cầu” Xuất phát từ
yêu cầu thực tiễn đó, cho nên sau khi ra đời, LHQtiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các quốc gia với nhau trong cuộc chiến chống khủng bố Vào ngày 9 tháng 12 năm 1985, LHQ đã thông qua Nghị quyết Số A/RES/40/61 và lần đầu
tiên chính thức khẳng định “rõ ràng mọi hành vi, phương thức và biểu hiện của chủ
nghĩa khủng bố xảy ra ở bất cứ nơi đâu và do bất cứ ai thực hiện đều là tội phạm, bao gồm
cả những hành vi gây thiệt hại cho mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia cũng như an
Xác định công cụ pháp lý quốc tế là yếu tố quan trọng để tạo nên “phản ứng
toàn cầu” chống lại khủng bố, cho nên các quốc gia trên thế giới đã cũng nhau kí
kết các ĐUQT thể hiện quyết tâm và thiện chí của các quốc gia trong việc đấu tranh chống lại tất cả các dạng hành vi cũng như biểu hiện của khủng bố Hiện vẫn chưa
có một ĐUQTchung chống lại tất cả các hành vi khủng bố, thay vào đó, mỗiĐUQT
đa phươnghướng đến trừng trị một hoặc một sốdạng hành vi khủng bố cụ thể như: hành vi bắt cóc con tin, hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy… Hiện tại đã có 19ĐUQTđa phương về chống khủng bố (gồm 12 Công ước; 7 Nghị định thư
62 Nghị quyết của LHQ về khủng bố Số A/RES/40/61 được thông qua tại cuộc họp thường niên lần thứ 108 (ngày 9/12/1985), xem nội dung tại: http://www.un.org/documents/ga/res/40/a40r061.htm, truy cập ngày 20/1/2016
Trang 38quốc tế chống khủng bố)63, trong đó có 16 ĐUQT đang phát sinh hiệu lực (Xem Phụ lục 1) Cùng với các ĐUQT toàn cầu, các điều ước khu vực, hiệp định song phương, đa phương và một số nghị quyết của Hội đồng bảo an LHQ64cũng có ý nghĩa trong cuộc chiến chống khủng bố
Tuy nhiên,việc chưa thể có một ĐUQT chống khủng bố chung với định nghĩa chung về tội phạm khủng bố thể hiện sự chưa thống nhất triệt để trong cộng đồng quốc tế về khủng bố, mặc dù vấn đề này đã được thảo luận tại LHQ từ năm
1996, năm mà Ủy ban đặc biệt của LHQ (Ad-hoc) được thành lập65 Đặc biệt, sau một loạt các vụ khủng bố vào đại sứ quán của Mỹ ở Kenya và Tanzania năm 1998
đã khiến khủng bố lại trở thành vấn đề quan ngại của nhiều quốc gia Trước tình hình đó, Ấn độ đã đệ trình lên Ủy ban đặc biệt của Liên hiệp quốc Dự thảo Công ước chung về chống khủng bố vào năm 2000 và tiếp đó nhiều buổi thảo luận giữa các quốc gia đã diễn ra Sự kiện tấn công khủng bố vào Trung tâm thương mại thế giới (ITC) ở New York và Lầu năm góc - Trụ sở Bộ quốc phòng Mỹ ngày 11 tháng
9 năm 2001 càng làm thúc đẩy tiến trình thảo luận Đến năm 2002, các quốc gia đã thống nhất với hầu hết 27 điều trong Dự thảo66 Những đặc điểm pháp lý chung về tội phạm khủng bố mà các quốc gia trên thế giới “gần như” đã thống nhất Cụ thể,
tại Điều 2 (1) của Dự thảo quy định, tội phạm khủng bố là “hành vi cố ý bất hợp
pháp gây thương vong hoặc gây tổn hại nghiêm trọng về thân thể cho người khác; gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản cá nhân hoặc tài sản công cộng; hoặc hủy hoại tài sản, nơi, các thiết bị hoặc hệ thống… tất yếu dẫn đến hoặc có thể dẫn đến thiệt hại lớn về kinh tế” Mục đích của tội phạm, “về bản chất hoặc bối cảnh xảy ra” (“by its nature or context”) là nhằm “hăm dọa dân chúng hoặc ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành vi nào” mà không đòi hỏi thêm mục đích về chính trị, tôn giáo hay hệ tư
tưởng Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề trong Dự thảo Công ước, nhất là quy định Điều 18 của Dự thảo đã vấp phải sự tranh luận gay gắt nên không đi đến sự thống nhất cuối cùng Các vấn đề này bao gồm67:
Thứ nhất, các hoạt động bạo lực do các tổ chức, đảng phái (“parties”) thực hiện trong các cuộc xung đột vũ trang có được loại trừ khỏi phạm vi Công ước giống như các hoạt động bao lực được thực hiện bởi lực lượng vũ trang của một
Xem nội dung Dự thảo tại: https://www.ilsa.org/jessup/jessup08/basicmats/unterrorism.pdf, truy cập ngày 20/1/2016
67 UNGA (57th Session) (6th Committee), Measures to Eliminate Intl Terrorism: Working Group Report, 16
October 2002, A/C.6/57/L.9, annex II, trang 7-8 Xem (bản Tiếng anh) tại: ny.un.org/doc/UNDOC/LTD/N02/643/89/PDF/N0264389.pdf?OpenElement, truy cập ngày 20/1/2016
Trang 39https://documents-dds-quốc gia hay không? Nếu như được loại trừ thì khi đó hoạt động bạo lực được tiến
hành bởi thành viên các nhóm vũ trang phi chính phủ (“organized non-state”) của
các tổ chức như: PLO, Hamas, Islamic Jihad và Hezbollah… sẽ không được xem là khủng bố Theo tinh thần Dự thảo của Công ước, hành vi khủng bố sẽ không bao gồm hoạt động bạo lực được thực hiện (bởi bất kì ai) trong phong trào đấu tranh đòi
ra định nghĩa khủng bố chủ yếu do lợi ích chính trị của các quốc gia chứ không phải
là vướng mắc về pháp lý, bởi lẽ “một phần tử khủng bố đối với người này lại là
người đấu tranh vì tự do cho người khác” (“one man’s terrorist is another man’s
freedom fighter”)68
Vấn đề thứ ba mà các quốc gia chưa đi đến thống nhất, đó là các hoạt động quân
sự thực hiện bởi lực lượng quân đội của một quốc gia trong quá trình diễn tập hay thực hiện nhiệm vụ chính thức (vào thời điểm có chiến tranh hay hòa bình) có thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước hay chỉ được điều chỉnh bởi các nguyên tắc của luật pháp quốc tế
Như vậy, dù rất nỗ lực, nhưng các quốc gia thành viên LHQ vẫn gặp sự bế tắckhi tìm kiếm sự thống nhất toàn diện trong nhận thức về các đặc điểm pháp lý chung và một định nghĩa chung toàn cầu về tội phạm khủng bố, cho dù các hành động khủng bố dưới mọi hình thức đều bị ngăn cấm và lên án Việc không đạt được
sự thống nhất chung này cũng phần nào gây ra sự khó khăn trong việc hợp tác quốc
tế để đấu tranh chống khủng bố
Cho dù các quốc gia trên thế giới chưa đi đến một điều ước chung về chống khủng bố với định nghĩa và đặc điểm chung về tội phạm khủng bố, nhưng những nỗ lực của cộng đồng quốc tế đã phát đi một thông điệp rõ ràng rằng, chủ nghĩa khủng
bố chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là một hành động được chấp nhận trên toàn cầu Và cũng chính trong nỗ lực chung đó của cộng đồng quốc tế, 19 ĐUQT quy định các hành vi khủng bố cụ thể ở các lĩnh vực khác nhau đã ra đời Các điều ước này thể hiện sự đoàn kết, sự quyết tâm của cả cộng đồng quốc tế trong việc phòng
68
Liên Hợp quốc (UN), A More Secure World: Our Shared Responsibility: Report of the High-level Panel on
Threats, Challenges and Change,” UN Doc A/59/565, December 2, 2004 Xem (bản tiếng Anh) tại:
Trang 40
ngừa và đấu tranh với các hoạt động khủng bố diễn tra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Như vậy, qua việc làm rõ nguồn gốc ra đời của khủng bố, tìm hiểu những nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc xây dựng một điều ước chung về chống khủng
bố, chúng ta thấy rằng, bước đầu một số đặc điểm chung về tội phạm khủng bố đã được cộng đồng quốc tế thống nhất với nhau Có thể tóm tắt những cơ sở pháp lý quốc
tế quan trọng giúp xác định các đặc điểm chung của tội phạm khủng bố bao gồm:
- Các ĐUQT chống khủng bố, nhất là Công ước về trừng trị việc tài trợ khủng
bố69;
- Đoạn 164 trong “Báo cáo về mức độ gia tăng của những mối nguy cơ,
thách thức và biến đổi” (“Report of the High-level Panel on Threats, Challenges and Change”)của Đại hội đồng LHQ (UN Doc A/59/565) ngày 2/12/2004 với nội
dung “Vì một thế giới an ninh: Chia sẻ trách nhiệm của chúng ta”70;
- Đoạn 3 Nghị quyết S/RES/1566 năm 2004 của Hội đồng Bảo an LHQ71;
- Quy định pháp lý mẫu
Dựa trên các cơ sở trên, có thể rút ra một số đặc điểm chung về tội phạm khủng bố được quy định trong các ĐUQT chống khủng bốnhư sau:
Thứ nhất, tất cả các hành vi được điều chỉnh bởi các ĐUQT chống khủng bố
là hành động khủng bố (quốc tế) và là tội phạm theo pháp luật quốc tế Các tội phạm khủng bố có đặc điểm chung là luôn mang tính chất bạo lực đối với dân chúng
Thứ hai, khủng bố bao gồm nhiều hành vi cụ thể chống lại thường như: gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt về tính mạng người dân, gây thiệt hại nghiêm trọng
về sức khỏe, hay bắt cóc con tin… hay các hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng về tài
69 Điều 2 của Công ước 1999 về trừng trị việc tài trợ khủng bố đã gián tiếp quy định các đặc điểm chung của tội phạm khủng bố
70 Liên Hợp quốc (UN), tlđd (69) Tại đoạn 164 của báo cáo quy định: “(d) Mô tả khủng bố như là "bất kì
hành vi nào, cùng với các hành vi đã được điều chỉnh trong các Công ước hiện hành về chống khủng bố, Công ước Geneva và Nghị quyết 1566(2004) của Hội đồng bảo an LHQ, nhằm gây chết người hay gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe cho người dân nếu như mục đích của hành vi đó, về bản chất hoặc bối cảnh xảy ra, là để hăm dọa quần chúng nhân dân, hoặc buộc chính phủ hoặc tổ chức quốc tế làm hay không làm bất kì việc gì”
71 Được thông qua tại kì họp thứ 5053 của Hội đồng Bảo an (LHQ) vào ngày 8 tháng 10 năm 2004 Theo đó tội phạm
khủng bố là “các hành vi phạm tội chống lại công dân, được thực hiện để cố ý gây thiệt hại về tính mạng hoặc gây
thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, hoặc bắt cóc con tin, với mục đích gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng hoặc nhóm người hoặc một người nào đó, hăm dọa người dân hoặc buộc chính phủ, tổ chức quốc tế làm hoặc không làm một việc nào đó, thuộc phạm vi điều chỉnh và được định nghĩa trong các công ước và nghị định thư quốc tế chống khủng bố là không thể biện minh trong bất kỳ tình huống nào, bất kể là vì chính trị, kinh tế, tôn giáo hay hệ tư tưởng ” Xem (bản tiếng Anh) tại:
http://www.un.org/en/ga/search/view_doc.asp?symbol=S/RES/1566(2004), truy cập ngày 12/9/2016