Trong sách chuyên khảo này, các tác giả đã khái quát và làm nổi bật những quy định mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005, trong đó nổi bật là tác giả đã phân tích những quy định chung về q
Trang 1TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM Đ OAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của Ts Nguyễn Hồ Bích Hằng Những thông tin, tài liệu trong Luận
văn được thu thập một cách khách quan, trung thực, số liệu minh chứng có nguồn gốc rõ ràng Không sao chép của bất kỳ công trình khoa học nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 06 năm 2019
Người viết
Trần Ngọc Tuấn
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
COPPA Đạo Luật Bảo vệ quyền riêng tư trực tuyến của trẻ em tại
Hoa Kỳ
GDPR Bộ luật bảo vệ dữ liệu chung các nước thuộc Liên minh
Châu Âu
NetzDG Luật cải tiến chấp pháp tại các trang mạng xã hội của
Cộng hòa Liên bang Đức
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ HÌNH ẢNH CÁ NHÂN TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI 8
1.1 Khái niệm và đặc điểm của trang mạng xã hội 8
1.1.1 Khái niệm trang mạng xã hội 8
1.1.2 Đặc điểm trang mạng xã hội 11
1.2 Khái niệm, đặc điểm hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội 14
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân 14
1.2.2 Khái quát chung về quyền nhân thân gắn liền với hình ảnh của cá nhân 19
1.2.3 Mối liên hệ giữa quyền hình ảnh và các quyền liên quan 23
1.3 Bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội 27
1.3.1 Tự bảo vệ hình ảnh cá nhân 28
1.3.2 Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền 29
1.3.3 Phương thức bảo vệ thông qua chủ sở hữu trang mạng xã hội 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM HÌNH ẢNH CÁ NHÂN TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
35
2.1 Hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân trên mạng xã hội khi không có sự đồng ý của chủ thể hình ảnh và kiến nghị hoàn thiện 36
2.1.1 Hành vi sử dụng hình ảnh không được sự đồng ý của chủ thể có hình ảnh 36
2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sự đồng ý của chủ thể có hình ảnh 40 2.2 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân nhân nhằm mục đích thương mại và kiến nghị hoàn thiện 42
2.2.1 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân nhằm mục đích thương mại 42
Trang 62.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sử dụng hình ảnh cá nhân nhằm mục đích thương mại 47
2.3 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân không nhằm mục đích thương mại 47
2.3.1 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân xâm liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và kiến nghị hoàn thiện 47 2.3.2 Hành vi phát tán hình ảnh cá nhân nhằm mục đích xâm hại đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của chủ thể hình ảnh và kiến nghị hoàn thiện 56
2.4 Đối với phương thức bảo vệ thông qua chủ sở hữu trang mạng xã hội 60
2.4.1 Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước 60 2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện phương thức bảo vệ thông qua chủ sở hữu trang mạng xã hội 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72 KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với phương thức tương tác và kết nối giữa con người với nhau, mạng xã hội ngày càng đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống Theo Báo cáo tổng quan thị trường di động Việt Nam đầu năm 2017 do công ty Appota công bố thì Việt Nam đứng thứ 16 trong 20 quốc gia có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới với 49 triệu người, số lượng thuê bao di động đạt 131,9 triệu; 38 triệu người dùng mạng xã hội, trong đó có 94% sử dụng mobile để vào mạng xã hội hàng ngày1
Bên cạnh những tính năng vượt trội đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống hiện đại như: trò chuyện, email, xem phim, ảnh, điện thoại Internet, nhật ký cá nhân, trao đổi, tìm kiếm thông tin…nhưng mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng, cá nhân, thậm chí cả an ninh quốc gia chẳng hạn với các thông điệp gây chia rẽ, xuyên tạc, tin tức giả Đó là những khó khăn, thách thức to lớn mà nhà nước đang phải đối mặt trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống Internet
Theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 16/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin
trên mạng (sau đây gọi là Nghị định số 72/2013/NĐ-CP) thì: “Mạng xã hội (social
network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch
vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”
Mạng xã hội ở Việt Nam có thể phân thành hai loại, thứ nhất là mạng xã hội
mà hệ thống máy chủ được đặt ở ngoài biên giới quốc gia, chủ yếu là các trang mạng xã hội mà do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp Thứ hai là mạng xã hội
mà hệ thống máy chủ đặt trong nước do doanh nghiệp trong nước cung cấp
Những hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với người dùng là người Việt Nam trên các trang mạng xã hội chủ yếu tồn tại trên các trang mạng xã hội do doanh nghiệp nước ngoài cung cấp là vấn đề cấp bách mà hệ thống văn bản quy
1
AAM (2017), Báo cáo tổng quan thị trường di động Việt Nam, (xem tại mobile-market-report/) (Truy cập ngày 25/4/2018)
Trang 8https://news.appota.com/appota-phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, chưa giải quyết triệt để, không theo kịp sự phát triển như vũ bão và phức tạp của những hoạt động của người dùng trên mạng xã hội hiện nay
Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội theo pháp luật dân sự Việt Nam” để nghiên cứu và đưa ra những
đóng góp, kiến nghị và làm rõ thực trạng phương pháp bảo vệ quyền nhân thân trên các trang mạng xã hội trong xu thế phát triển hội nhập ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả chỉ đi sâu giải quyết quy định về quyền nhân thân
cụ thể là quyền về hình ảnh của cá nhân cũng như những hệ quả về danh dự, nhân phẩm, uy tín và đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình do hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh gây ra Đây là nhóm quyền nhân thân bị ảnh hưởng trực tiếp trên các trang mạng xã hội hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo vệ quyền nhân thân là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu luật học quan tâm và thảo luận ở nhiều khía cạnh khác nhau
Nhóm các luận án, luận văn:
Trần Thị Thu Hằng (2014), Quyền cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội Công trình nghiên
cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu quyền cá nhân đối với hình ảnh, đưa ra các khái niệm về nhân thân, quyền nhân thân, hình ảnh và mối liên hệ giữa quyền hình ảnh với các quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân Tuy nhiên, luận văn chủ yếu dừng lại ở việc đề cập đến quyền hình ảnh của cá nhân và các biện pháp bảo vệ nhưng chưa đề cập đến hành vi xâm phạm quyền nhân thân trên các trang mạng xã hội
Phùng Bích Ngọc (2011), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền nhân
thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn thạc
sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Công trình nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu quyền cá nhân đối với hình ảnh, đưa ra các khái niệm về quyền nhân thân, đặc điểm pháp lý của quyền nhân thân đối với hình ảnh và so sánh quyền nhân thân đối với hình ảnh với một số quyền nhân thân khác Tuy nhiên, tác giả chỉ
đề cập đến thực trạng bảo vệ và kiến nghị quyền nhân thân đối với hình ảnh trong một số trường hợp cụ thể như quyền đăng hình ảnh của báo chí, người của công
Trang 9chúng, người nghi can, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa đề cập đến việc bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội hiện nay
Nguyễn Thị Ánh Châu (2006), Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân bằng
biện pháp dân sự, Khóa luận cử nhân luật, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả đã khái quát toàn bộ các quyền nhân thân (cơ sở hình ảnh, phân loại và nội dung các quyền nhân thân của cá nhân) và các biện pháp dân sự bảo vệ quyền nhân thân Tác giả có đề cập hành vi xâm phạm quyền nhân thân trên mạng Internet như phát tán hình ảnh cá nhân nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại việc đưa ra vài trường hợp minh họa, chưa đưa
ra các biện pháp hoặc đề xuất giải quyết cụ thể cũng như những vấn đề xâm phạm quyền nhân thân trên mạng xã hội hiện nay
Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo, tạp chí:
Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận Khoa học
Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB
Công an nhân dân Trong sách bình luận này, nhóm tác giả phân tích và bình luận từng Điều luật tương ứng trong BLDS 2015 về nhóm quyền nhân thân Tác giả có đề cập đến việc phát triển của các mạng xã hội, các báo điện tử thì quyền của cá nhân đối với hình ảnh đang bị xâm phạm nghiêm trọng và vấn đề bảo vệ hình ảnh của cá nhân trong bối cảnh hiện nay phải được quan tâm và chú trọng Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích cụ thể thực trạng này mà chỉ dừng lại ở mức đề cập hành vi vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh này ngày càng diễn ra phổ biến
Đỗ Văn Đại (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học – Những điểm mới của Bộ
luật Dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Trong sách
chuyên khảo này, các tác giả đã khái quát và làm nổi bật những quy định mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005, trong đó nổi bật là tác giả đã phân tích những quy định chung về quyền nhân thân, đặc biệt là quyền đối với hình ảnh, tác giả đã đề cập đến bối cảnh quyền của cá nhân đối với hình ảnh hiện đang bị vi phạm tràn lan
do sự phát triển của các trang mạng xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích việc bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng
xã hội hiện nay
Đỗ Văn Đại (2016), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam, Bản
án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Trong sách
Trang 10chuyên khảo này, tác giả phân tích căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường: hành vi trái pháp luật, thiệt hại, quan hệ nhân quả, yếu tố lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể cùng với đó là bình luận các bản án liên quan Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vấn đề vi phạm hình ảnh cá nhân trên các trạng xã hội hiện nay
Hoàng Minh Hội (2016), Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân -
thực trạng và một số kiến nghị, Nghiên cứu lập pháp, số 05, T3/2016 Bài viết phân
tích một số lý luận, thực tiễn và kiến nghị một số giải pháp tiếp tục bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam hiện nay Mặc dù bài viết này không đề cập trực tiếp việc giải quyết các vấn đề xâm phạm hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội hiện nay nhưng tác giả đã phân tích sự cần thiết hoàn thiện Luật tiếp cận thông tin để trình Quốc hội thông qua luật, làm cơ sở pháp lý cho các vấn đề tiếp cận thông tin trên các phương tiện truyền thông hiện nay
Ngô Huy Cương (2015), Tính hệ thống của các quy định về quyền nhân thân
trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Nghiên cứu lập pháp, số 19, T10/2015 Tác
giả tập trung bàn về cấu trúc của quyền nhân thân và so sánh việc xác định quyền nhân thân và phạm vi điều chỉnh của luật dân sự đối với quyền nhân thân tại các giáo trình của các các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam Ngoài ra, điểm nổi bật của bài viết này chính là tác giả đặt ra câu hỏi: quyền nhân thân có bản chất của quyền con người hay không khi nghiên cứu quyền nhân thân Nhưng tác giả chỉ mới so sánh cấu trúc lập pháp, chưa đi sâu giải quyết từng vấn đề cụ thể về việc xâm phạm quyền nhân thân hiện nay
Trần Thái Dương – Trần Thị Thanh Mai (2015), Quyền nhân thân, quyền tài
sản nhìn từ mối liên hệ giữa Bộ luật Dân sự với các luật chuyên ngành, Hiến pháp
và Luật nhân quyền quốc tế, Nghiên cứu lập pháp, số 14, T7/2015 Nhóm tác giả
phân tích và đánh giá trong cấu trúc lập pháp của quyền nhân thân trong Bộ luật dân
sự, cũng như sự tương quan với các ngành luật khác Điểm nổi bật là nhóm tác giả đưa ra một quan điểm mới về nội dung quyền nhân thân Tuy nhiên, đề tài này chưa nghiên cứu đến quyền nhân thân đối với hình ảnh, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội hiện nay
Phùng Trung Tập (2014), Bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân
thân, Tạp chí Luật học, số 2/2014 Bài viết phân tích các quy định về bồi thường
Trang 11thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Điểm nổi bật của bài viết chính là tác giả đã đề xuất khoản tiền bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền nhân thân trên các trang mạng xã hội nếu bị xâm phạm
Đỗ Văn Đại (2011), Án lệ của tòa án tối cao – Kinh nghiệm của Pháp đối với
sự phát triển án lệ tại Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ I, T7/2011 Tác giả đã
nêu lên lịch sử ra đời đời của án lệ và so sánh cách tạo ra án lệ ở Việt Nam và Pháp Mặc dù, bài viết không đề cập đến việc bảo vệ hình ảnh của cá nhân trên các trang mạng xã hội, nhưng thông qua bài viết tác giả tham khảo cách thức áp dụng án lệ để đưa ra đề xuất giải quyết vấn đề bảo vệ hình ảnh của cá nhân trên các trang mạng xã hội hiện nay
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học nói trên mặc dù đã phân tích những vấn đề liên quan đến quyền nhân thân nhưng những công trình trên chưa đi sâu phân tích, đánh giá việc bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các trang mạng xã hội Bên cạnh đó, chưa có công trình nào khai khác vấn đề này dưới góc độ so sánh với pháp luật của quốc gia khác Nên tác giả đã tiến hành nghiên cứu chi tiết, cụ thể và tiếp cận từ góc độ lý luận đến thực tiễn vấn đề bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu khoa học pháp lý cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn hiện nay, việc nghiên cứu đề tài này của tác giả nhằm:
Thứ nhất, làm rõ các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ hình ảnh của cá
nhân trên các trang mạng xã hội và hệ quả pháp lý
Thứ hai, phân tích, làm rõ các khái niệm, đặc điểm về hình ảnh cá nhân, mối
liên hệ những hình ảnh cá nhân với quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhâ, bí mật gia đình; danh dự, nhân phẩm, uy tín và trang mạng xã hội hiện nay
Thứ ba, liên hệ tìm hiểu và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và đưa ra
những vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại
Trang 12do các hành vi xâm phạm trên các trang mạng xã hội ở Việt Nam cũng như một số quốc gia điển hình
Thứ tư, trên cơ sở những lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ
hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật để giải quyết những khó khăn trong thực tiễn áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác xét xử và đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân khi tham gia các trang mạng xã hội hiện nay
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu 4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tác giả tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến quyền nhân thân chịu tác động trực tiếp trên các trang mạng xã hội hiện nay gồm quyền của cá nhân đối với hình ảnh và các quyền liên quan (quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền về bí mật đời tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình) Từ
đó, chỉ ra những điểm bất cập và phương hướng hoàn thiện của pháp luật về việc điều chỉnh vấn đề bảo vệ hình ảnh cá nhân và các quyền liên quan trên các trang mạng xã hội hiện nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được đề tài luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử dùng để nghiên cứu khái quát về các quy định của pháp luật về quyền nhân thân qua các thời kỳ Từ đó có thể đưa ra được cái nhìn tổng quan nhất về vấn đề nghiên cứu, qua đó thấy được mối liên hệ và điểm mới tiến bộ cũng như những điểm còn hạn chế về việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung và bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội nói riêng Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 1
- Phương pháp điều tra xã hội học, để có cái nhìn tổng quan về thực trạng sử dụng các trang mạng xã hội của người dân cũng như sự quan tâm về việc bảo vệ quyền nhân thân khi tham gia vào các trang mạng xã hội thông qua các nhóm tuổi trong bảng khảo sát được thực hiện với 200 khách thể Phương pháp này sử dụng ở mục 1.1, phần mở đầu chương 2
Trang 13- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi nghiên cứu và làm sáng
tỏ các vấn đề pháp lý, tìm hiểu, nhìn nhận nội dung của pháp luật thực định về bảo
vệ quyền nhân thân trên các trang mạng xã hội Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận văn
- Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của quốc tế, các quốc gia khác về các nội dung tương tự liên quan đến bảo vệ quyền nhân thân Hơn nữa, cũng nhằm đối chiếu giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng, từ đó tìm ra được những vướng mắc trong quá trình áp dụng để tìm ra hướng hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tiễn Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2
- Phương pháp bình luận án được sử dụng để đánh giá thực tiễn xét xử, thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân Phương pháp này được sử dụng ở chương 2
5 Các vấn đề dự kiến cần giải quyết
Bố cục của đề tài bên cạnh lời nói đầu bao gồm hai chương:
Chương 1 Khái luận về quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ hình ảnh cá
nhân trên các trang mạng xã hội
Chương 2 Các hình thức xâm phạm hình ảnh cá nhân trên các trang mạng
xã hội và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ HÌNH ẢNH CÁ NHÂN
TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI 1.1 Khái niệm và đặc điểm của trang mạng xã hội
1.1.1 Khái niệm trang mạng xã hội
Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội đã ra đời, mở ra một kỷ nguyên hội nhập xuyên biên giới với nền tri thức tiến bộ của nhân loại Mạng xã hội
ra đời có sự tác động mạnh mẽ đối với nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội
Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học Mạng xã hội tiếp tục phát triển và ra đời nhiều trang mới như SixDegrees (1997), Friendster (2002), Myspace (2004) đến Facebook (2006)… với nhiều tính năng phục vụ nhiều mục đích và nhu cầu của người tham gia mạng xã hội như giao lưu kết bạn, công cụ liên lạc, công cụ giải trí, công cụ học tập
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP
thì: “Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng
người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”
Có thể hiểu đơn giản: Mạng xã hội là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt thời gian và không gian
Trang 15Bảng 1: Tỷ lệ người dùng các trang mạng xã hội hiện nay2
Quy mô mạng xã hội trước hết được thể hiện ở số lượng thành viên bạn bè3
có trên mạng xã hội Một người có thể tham gia ở nhiều trang mạng xã hội khác nhau Trong mạng lưới bạn bè đó, không chỉ là những mối quan hệ đã quen biết ở đời thường (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, làng xóm…) mà còn rất nhiều mối quan
Trang 16hệ xã hội khác như mạng lưới những người chưa từng tiếp xúc ngoài đời thực (người chưa quen biết, người nổi tiếng, người ảo…)
Các hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân cũng thường tập trung trên các trang mạng xã hội theo số liệu khảo sát tại Bảng 1, mà phổ biến hiện nay là trang mạng xã hội Facebook, Zalo và Youtube Với mức độ tương tác và lượng người dùng rất lớn ở các trang mạng xã hội này thì hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân sẽ gây ra những thiệt hại vật chất và tinh thần mà chủ thể hình ảnh rất khó xác định được chính xác căn cứ để được yêu cầu mức bồi thường thiệt hại, vì sự lan truyền thông tin nhanh chóng, mức độ lưu trữ thông tin rất lớn và không thể kiểm soát cũng như những thiệt hại tương lai khó xác định do hành vi xâm phạm hình ảnh gây ra
Bảng 2: Tần suất sử dụng các trang mạng xã hội4
Với tần suất mà người dùng sử dụng các trang mạng xã hội như tác giả đã khảo sát, cho thấy rằng người dùng rất dễ tiếp cận và cập nhật các thông tin từ các trang mạng xã hội một cách nhanh chóng, đặc biệt là tiếp cận các thông tin xấu
4
Số liệu điều tra bằng phương pháp xã hội học của Tác giả từ 200 người theo biến ngẫu nhiên
Trang 17được lan truyền như vũ bão trên các trang mạng xã hội hiện nay bởi đặc điểm tò mò của đa số người dùng Internet
Bảng 3 Mục đích sử dụng phương tiện có kết nối Internet5
Người dùng mạng xã hội sử dụng với các mục đích chủ yếu là giải trí; đăng hình ảnh, cập nhật trạng thái của bản thân cho mọi người cùng biết; xem hình ảnh, trạng thái của tất cả mọi người; để theo dõi tin tức, sự kiện trong nước và thế giới;
để tìm kiếm tài liệu học tập chiếm đa số Qua đó cho thấy rằng, những sinh hoạt thường ngày của một cá nhân điển hình hầu như đều được thực hiện trên các trang mạng xã hội
1.1.2 Đặc điểm trang mạng xã hội
Trang 18xã hội khác với trang mạng thông thường hay truyền hình không phải truyền tải thông tin và tích hợp ứng dụng một chiều mà ở đây là mỗi người tạo ra các thông tin rồi tương tác để những thông tin đó được lan truyền Thông tin lan truyền trên mạng xã hội rất khó kiểm soát và xác định người dùng có tiếp cận được thông tin đó hay không nếu như người dùng không có sự tương tác qua lại mà chỉ dừng ở mức xem Do đó, đặc biểm này cũng dẫn đến việc xác định được thiệt hại về vật chất và tinh thần của hành vi xâm phạm hình ảnh trên các trang mạng xã hội hiện nay rất khó khăn cho chủ thể hình ảnh để được yêu cầu bồi thường thiệt hại
Thứ hai, sự bền vững của các tương tác trong mạng xã hội
Khi mạng xã hội ra đời làm cho con người ngại giao tiếp ở đời thực mà tự tin giao tiếp nhiều hơn trên mạng xã hội, dần dần làm cho các mối liên hệ ở đời thực bị lấn át hoặc giảm sút, thay thế một phần Chính các tương tác trên mạng xã hội như biểu lộ cảm xúc, bình luận, chia sẻ làm cho khoảng cách giữa các cá nhân vô hình trở nên gần gũi, có thiện cảm
Nút Like (Thích) và Share (Chia sẻ)6 là một biểu tượng cho phép người dùng thể hiện sự yêu thích của mình đối với một bài chia sẻ bất kỳ của thành viên mạng
xã hội mà người đó tham gia Khi một vấn đề được đưa lên mạng xã hội như bài viết, hình ảnh, bản nhạc, sự kiện… thì số lượng cảm xúc, lượt chia sẻ sẽ thể hiện được thái độ, sự quan tâm của các thành viên về điều đó
Đặc điểm này giúp cho việc lan truyền các thông tin diễn ra nhanh chóng và tạo ra các làn sóng phản đối hay ủng hộ thông tin nào đó trong một thời gian ngắn
mà các chủ thể tham gia chưa kịp xác định các thông tin được lan truyền là đúng hay sai Đây cũng là một trong những đặc điểm chính gây khó khăn trong việc xác định được mức độ thiệt hại vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội Nút Like và Share là một trong những tác nhân quan trọng làm cho hậu quả của hành vi xâm phạm hình ảnh của cá nhân trên trang mạng xã hội không thể kiểm soát cũng như những thiệt hại tương lai khó xác định
do việc thực hiện hành vi này
6
"Like" thể hiện sự quan tâm của mọi người trên mạng xã hội đối với bài viết của bạn, thể hiện sự nổi tiếng của bạn Còn "Share" cho phép bạn chia sẻ nội dung yêu thích của mình cho nhiều người cùng biết, được nêu quan điểm cá nhân về nó, để mọi người biết được bạn đang đọc gì, suy nghĩ gì Bạn có thể sử dụng 2 hoạt động này tùy theo sở thích của mình trên các trang mạng xã hội
Trang 19Thứ ba, tạo ra mẫu định danh trực tuyến của từng cá nhân
Trên nền tảng Internet cho phép người dùng thiết lập mối quan hệ và tự tổ chức mối quan hệ của chính mình trong sự liên kết với các thành viên khác trên từng trang mạng xã hội mà mình đã đăng ký là thành viên cùng với đó là xác định chủ thể đời thực và trên các trang mạng xã hội là một, trừ các tài khoản ảo7 Điều này, yêu cầu người dùng phải tự chủ động trong việc lựa chọn hình thức sử dụng, mục tiêu kết nối và tự bảo vệ mình trước những những tác động tiêu cực khi chấp nhận sử dụng các điều kiện để được kết nối các trang mạng xã hội
Chẳng hạn, khi muốn tham gia trang mạng xã hội Facebook, người dùng phải đồng ý với chính sách dữ liệu mà nhà cung cấp mạng xã hội Facebook yêu cầu như8
: “Chúng tôi thu thập nội dung, thông tin liên lạc và các thông tin khác mà bạn cung cấp khi sử dụng sản phẩm của chúng tôi, bao gồm cả khi bạn đăng ký một tài khoản, tạo hoặc chia sẻ nội dung và nhắn tin hay liên lạc với người khác”
Hay khi tải ửng dụng mạng xã hội Zalo, người dùng phải đồng ý Quyền truy cập và thu thập thông tin của nhà cung cấp mạng xã hội Zalo như sau9: “Khi sử
dụng Ứng dụng, bạn thừa nhận rằng chúng tôi có quyền sử dụng những API hệ thống sau để truy cập vào dữ liệu trên điện thoại của bạn: (1) Đọc và ghi danh bạ điện thoại, (2) Lấy vị trí điện thoại của bạn khi được sự đồng ý, (3) Ghi dữ liệu của Ứng dụng lên thẻ nhớ, (4) Truy cập Internet từ thiết bị của bạn Tất cả các truy cập này đều được chúng tôi thực hiện sau khi có sự đồng ý của bạn, vì vậy bạn cam kết
và thừa nhận rằng, khi bạn đã cấp quyền cho chúng tôi, bạn sẽ không có bất kỳ khiếu nại nào đối với VNG về việc truy cập này”
Từ các Điều khoản của các ứng dụng trên cho thấy rằng các trang mạng xã hội đều có quyền truy cập đến hình ảnh cá nhân của người dùng một cách dễ dàng Chẳng hạn như tính năng máy ảnh của trang mạng xã hội Facebook hay Ghi dữ liệu ứng dụng lên thẻ nhớ của ứng dụng mạng xã hội Zalo trong khi đó nghĩa vụ của các trang mạng xã hội trong việc bảo vệ hình ảnh cá nhân của người dùng thì không thấy đề cập cụ thể trong các điều khoản chung khi người dùng đồng ý đăng ký tham gia trang mạng xã hội
Trang 201.2 Khái niệm, đặc điểm hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân
1.2.1.1 Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân
Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền Đây là văn kiện pháp lý cơ bản khẳng định các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, đồng thời xây dựng nội dung các quyền cơ bản của con người được cộng đồng quốc tế quan tâm Để cụ thể hóa các quy định về quyền con người, hai công ước quốc tế đã ra đời ngày 16/12/1966: Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa Việt Nam gia nhập hai công ước nói trên vào ngày 24/9/1982, việc tham gia Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị đã khẳng định Việt Nam thừa nhận các giá trị tiến bộ và nhân văn về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội
và văn hóa, cùng với đó là nội luật hóa các quy định này bằng việc ban hành các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, dân sự
Trong khoa học pháp lý cũng như trên thực tế, thuật ngữ quyền nhân thân thường bị nhầm lẫn với khái niệm giá trị nhân thân Giá trị nhân thân là những giá trị tinh thần gắn liền với cá nhân, có từ khi cá nhân sinh ra và không phải mọi giá trị nhân thân đều được xác định là quyền nhân thân mà chỉ những giá trị nhân thân được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ thông qua việc luật hóa thì mới được coi là quyền nhân thân10
Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự gắn liền với đời sống tinh thần của cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Trong lịch sử lập pháp nói chung và
trong pháp luật dân sự nói riêng, cụm từ “quyền nhân thân” lần đầu tiên được ghi
nhận tại Điều 26 Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995 Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều
27 BLDS 1995 thì cá nhân được bảo vệ quyền nhân thân của mình không bị người khác vi phạm Lần đầu tiên quyền nhân thân của cá nhân được quy định thành một
hệ thống các quyền, có 20 quyền được quy định chi tiết trong 20 điều luật tương ứng trong BLDS 1995 BLDS 1995 đã góp phần tạo ra công cụ pháp lý hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của mình Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội, các quan hệ dân sự ngày càng phức tạp hơn khi mà những giá trị tinh thần đang dần đóng một vai trò quan
10
Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 63
Trang 21trọng trong đời sống cá nhân Quy luật khách quan tất yếu xảy ra, với những quyền nhân thân được quy định trong BLDS 1995 so với yêu cầu thực tiễn đã bộc lộ những thiếu sót, do đó cần có những thay đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn đang xảy ra
Từ đó, sự ra đời của BLDS 2005 đã kế thừa những quy định về nhân thân trong BLDS 1995 và bổ sung những quy định mới như mở rộng Quyền của cá nhân đối với hình ảnh về danh dự, nhân phẩm, uy tín; hay các quy định mới như Quyền hiến bộ phận cơ thể; Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết; Quyền xác định lại giới tính…
Những thay đổi về quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS 2015 đánh dấu một sự phát triển mới mang tính đột phá về việc ghi nhận những quyền cơ bản,
quan trọng của cá nhân, theo khoản 1 Điều 25 BLDS 2015 quy định: “Quyền nhân
thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” Như vậy, chỉ khi có quy định khác của luật khác có liên quan, thì lúc đó
quyền nhân thân mới được chuyển giao so với Điều 24 BLDS 2005 về Quyền nhân thân thì phạm vi điều chỉnh mở rộng đó là quy định của pháp luật có quy định khác
Tên của Điều luật là “Quyền nhân thân” nhưng nội dung Điều luật không đưa
ra khái niệm hay định nghĩa quyền nhân thân là gì Các giá trị nhân thân là các giá trị
thuộc về từng cá nhân cá biệt, thể hiện sự “đặc tính” của cá nhân này với cá nhân
khác Các giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận và bảo hộ được xác định là quyền nhân thân của cá nhân Do đó, quyền nhân thân luôn thể hiện bản chất gắn liền với một cá nhân cụ thể, không thể chuyển giao cho cá nhân khác Nếu quyền nhân thân
chuyển giao có nghĩa giá trị nhân thân của cá nhân này có thể sử dụng để “đặc tính”
cá nhân khác và giá trị nhân thân sẽ là yếu tố có khả năng tách rời khỏi mỗi cá nhân11
Ngoài ra, Khoản 2 Điều 25 BLDS 2015 quy định cụ thể đối với các quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của nhóm người yếu thế trong xã hội: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Bên cạnh đó, BLDS 2015 thêm những quy định mới như Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều
33 BLDS 2015); Chuyển đổi giới tính (Điều 37 BLDS 2015); Quyền nhân thân
11
Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận Khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.53
Trang 22trong hôn nhân và gia đình (Điều 39 BLDS 2015) Đây được xem là một điểm nổi bật, mang tính nhân văn rất lớn trong BLDS hiện hành
Theo tác giả Lê Đình Nghị thì quyền nhân thân được hiểu dưới góc độ sau đây12:
“Theo nghĩa khách quan Quyền nhân thân là tổng hợp các quy phạm pháp
luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định các giá trị nhân thân cho các cá nhân và đây là cơ sở pháp lý để cá nhân có các quyền đó
Theo nghĩa chủ quan Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định và cá nhân không chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Bên cạnh đó, quyền của con người trong lĩnh vực dân sự rất đa dạng và tập trung thành hai nhóm: nhóm các quyền tài sản (quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế tài sản, quyền tham gia vào quan hệ hợp đồng có đối tượng là tài sản hoặc quyền về tài sản) và nhóm các quyền về nhân thân Quyền nhân thân bao gồm các quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản13
Theo tác giả Chế Mỹ Phương Đài thì khái niệm quyền nhân thân như sau:
“Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự, không thể tính ra được bằng tiền
hoặc các giá trị vật chất, không tách rời cá nhân và không thể chuyển giao cho chủ thể khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”14
Kế thừa những quan điểm của các tác giả trên, tác giả đưa ra khái niệm quyền
nhân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với đời sống tinh thần
của mỗi chủ thể, không trị giá bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”
Quyền nhân thân dưới góc độ pháp luật nói chung đó là một dạng quyền của
cá nhân trong lĩnh vực dân sự Dưới góc độ pháp luật dân sự, quyền nhân thân là tiền đề hình thành nên các quan hệ nhân thân Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hay tổ chức Đây cũng đồng thời là nhóm quan hệ xã hội thứ hai trong hai nhóm quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự
Chế Mỹ Phương Đài (Chủ biên) (2011), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân
của cá nhân theo quy định tại Bộ luật dân sự 2005, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, tr.8
14
Chế Mỹ Phương Đài (Chủ biên) (2011), tlđd (5)
Trang 231.2.1.2 Đặc điểm của quyền nhân thân
Thứ nhất: Quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có quy định khác
Quyền nhân thân là thuộc tính của chủ thể không bị phụ thuộc chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào: độ tuổi, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội…Quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, không là đối tượng trong giao dịch dân sự (mua bán, tặng cho…) Vấn đề này được quy định rõ tại khoản 1 Điều
25 BLDS 2015: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự
gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”, xuất phát từ việc quyền nhân thân phải luôn
gắn liền với chủ thể, khi tách rời khỏi chủ thể thì quyền nhân thân đó sẽ không tồn tại được, yếu tố không thể chuyển giao được thể hiện rất rõ trong các quy định về nhân thân và do đó cũng không ngoại trừ quyền hình ảnh của cá nhân
Nghĩa là, một quyền nhân thân không thể bị định đoạt, quyền nhân thân không là đối tượng của giao dịch dân sự, tuy nhiên trên thực tế lại có rất nhiều hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân, đó là các hợp đồng khai thác hình ảnh, uy tín của những người nổi tiếng hay có tầm ảnh hưởng trong xã hội với giá trị rất lớn Ở đây, quyền nhân thân này thuộc nhóm quyền nhân thân mang tính mở, đó là việc khai thác những khía cạnh của quyền nhân thân vào giao lưu dân sự nhưng bản chất của quyền nhân thân mở này không mang tính chuyển giao hoàn toàn cho chủ thể khác, mà chỉ cho phép khai thác tạm thời những giá trị bên ngoài của quyền nhân thân trong giao lưu dân sự
Thứ hai: Quyền nhân thân không trị giá bằng tiền
Nếu như quyền tài sản đề cập đến tính chất tài sản và được xác định bằng một giá trị vật chất nhất định bằng nguyên tắc đền bù ngang giá Nhưng khi đề cập đến quyền nhân thân là nhắc đến tính chất phi tài sản
Quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền thuần túy về mặt tinh thần, gắn liền với chủ thể, không thể bị định đoạt Những giá trị nhân thân này được đánh giá bởi xã hội, nó đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người như quyền đối với
họ, tên, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín…15
Nghĩa là quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hoặc không gắn với tài sản và đối tượng là những giá trị thuộc về
15
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự,
NXB Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, tr.15
Trang 24mặt tinh thần Quyền nhân thân gắn với tài sản là những quyền tinh thần của cá nhân, nhưng có thể mang lại những lợi ích vật chất nhất định cho cá nhân Do đó, quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay đem ra chuyển nhượng cho người khác
Tuy nhiên, đối với quyền nhân thân gắn liền với tài sản thì mặc dù quyền này
có gắn với nội dung kinh tế nhưng không thể quy ra được bằng giá trị, tức là chúng ta không thể định giá trị các quyền này theo nguyên tắc đền bù ngang giá, mà chỉ định giá mang tính tượng trưng, bù đắp một phần thiệt hại cho chủ thể quyền nhân thân mà không mang bản chất của việc quy đổi quyền nhân thân bị xâm phạm ra tiền
Thứ ba: Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với cá nhân, không thể tách rời cá nhân
Một trong những đặc điểm cơ bản của quyền nhân thân là gắn liền với cá nhân có quyền đó Nếu tách rời cá nhân có quyền thì quyền nhân thân đó sẽ không còn tồn tại nữa Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi cá nhân không còn tồn tại nữa thì quyền nhân thân của họ mặc nhiên bị mất Có những quyền nhân thân sẽ không tồn tại nữa khi chủ thể có quyền chết như: quyền kết hôn (Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014), quyền ly hôn (Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014), quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi (Luật Nuôi con nuôi 2011)… nhưng cũng có những quyền nhân thân vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chủ thể
có quyền chết, như quyền của cá nhân đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín Bên cạnh đó, trong một vài trường hợp quyền nhân thân cũng gắn liền với các chủ thể khác như pháp nhân (Điều 74 BLDS 2015), hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự (Điều 101 BLDS 2015) Danh dự,
uy tín của cơ quan, tổ chức không chỉ thể hiện trong luật dân sự mà các luật liên quan cũng có các quy định bảo vệ danh dự, uy tín của các cơ quan, tổ chức như theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 25 Luật Báo chí năm 2016 về nghĩa vụ của nhà
báo: “Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu
khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân”
Các quyền nhân thân là quyền dân sự của cá nhân được quy định cụ thể trong pháp luật dân sự và chủ yếu là trong BLDS Nhà nước quy định các quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS khẳng định sự quan tâm của Nhà nước đối với các lợi ích và các giá trị nhân thân của cá nhân16
16
Chế Mỹ Phương Đài, tlđd (6), tr.15
Trang 251.2.2 Khái quát chung về quyền nhân thân gắn liền với hình ảnh của cá nhân 1.2.2.1 Khái niệm hình ảnh
Trong Triết học, hình ảnh được xem là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức của con người Ở trình độ nhận thức cảm tính thì hình ảnh là những cảm xúc, tri giác, biểu tượng Ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm, phán đoán và suy luận17
Theo từ điển Tiếng Việt thì hình ảnh là: “1 Hình người, vật, cảnh tượng thu
được khí cụ quang học (như máy ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí nhớ Hình ảnh người mẹ ở quê hương Hình ảnh cuộc đời cũ 2 Khả năng gợi tả sinh động trong cách diễn đạt Cách diễn đạt có hình ảnh Thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh”18
Việc hiểu “hình ảnh” là gì phụ thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu khác
nhau, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có một cách định nghĩa riêng phù hợp với chuyên môn của chính ngành đó Hình ảnh đã trở thành một loại hình ngôn ngữ - ngôn ngữ hình ảnh Nó có khả năng thông tin chính xác một nội dung mang tính vật chất nhất định Nếu như trong nhiếp ảnh, hình ảnh là sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức sự vật bằng mắt và chỉ gồm hai yếu tố đó là hình dáng của vật thể và sắc độ của hình ảnh, trong mỹ thuật lại xem hình ảnh là sự diễn tả hay tái diễn một vật, một người trong tạo hình Do đó, hình ảnh chính là sự sao chép lại những hình ảnh, biểu tượng, có thể được nhận thức bằng chính tư duy của con người hoặc bằng cách sao chụp nguyên mẫu Bên cạnh đó, hình ảnh cũng có thể là một biểu tượng đại diện cho một nhóm người nào đó trong xã hội, chẳng hạn như lá cờ cầu vồng, tam giác hồng, tam giác đen và rìu hai lưỡi là một trong những biểu tượng cho cộng đồng đồng tính, song tính và hoán tính hay hình ảnh hoa hướng dương là biểu tượng đại diện cho những bệnh nhi ung thư
1.2.2.2 Khái niệm quyền nhân thân gắn với hình ảnh của cá nhân
Quyền nhân thân gắn với hình ảnh là một quyền quan trọng đặc biệt trong xã
hội hiện nay Quyền của cá nhân đối với hình ảnh xuất phát từ khái niệm “đời tư”,
nghĩa là trước khi sử dụng hình ảnh của bất kỳ chủ thể nào, người sử dụng hình ảnh
17
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, NXB
Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.52
18
Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr.550
Trang 26phải đảm bảo không làm tổn hại đến đời sống cá nhân, hình tượng riêng và bản thân chủ thể hình ảnh không phán đối nếu việc sử dụng hình ảnh làm phương hại đến những giá trị của họ
Quyền đối với hình ảnh là một quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, mang lại giá trị tinh thần nhất định cho cá nhân đó và thông quan hình ảnh của một
cá nhân để phân biệt được sự khác nhau giữa cá nhân này với cá nhân khác
Qua thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong BLDS 2005 thấy rằng quy định của pháp luật chưa thực sự chặt chẽ, vì không phân biệt được mục đích, tính chất của việc sử dụng hình ảnh của cá nhân
Khoản 1 Điều 32 BLDS 2015 quy định: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của
mình” nhưng lại không có quy định thế nào là hình ảnh cá nhân
Hình ảnh của cá nhân được hiểu là bao gồm mọi hình thức tác phẩm ghi lại hình dáng của con người cụ thể như hình chụp, ảnh vẽ, ảnh họa chép và suy luận ra
có thể cả bức tượng của cá nhân đó
Quyền đối với hình ảnh có thể là quyền của cá nhân đối với diện mạo bên ngoài của mình như hình dáng, khuôn mặt, cử chỉ, điệu bộ ở không gian đa chiều
Có thể là hình ảnh chụp một người từ phía sau, hình chụp chế độ mờ…mà qua hình ảnh đó có thể nhận ra người này nhờ vào hình thể, tư thế, kiểu tóc, thần thái Do đó, cần có quy định cụ thể thế nào hình ảnh cá nhân để từ đó có cơ sở pháp lý trong việc xác định các hành vi vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh
Từ những phân tích trên đây, tác giả đưa ra khái niệm: quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân liên quan đến việc tạo dựng, sử dụng và cho phép người khác sử dụng hình ảnh theo ý chí của mình
Đặc điểm quyền nhân thân gắn với hình ảnh của cá nhân
Thứ nhất, quyền nhân thân gắn với hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân của cá nhân
Hình ảnh cá nhân là một thuộc tính luôn luôn đi kèm với một cá nhân cụ thể, qua đó xác định được chủ thể này với chủ thể khác đối với hình ảnh của họ Quyền nhân thân là một quyền rất quan trọng trong các quyền dân sự, cũng bởi chính lý do này mà quyền nhân thân là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người đã được pháp luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ Nhân thân của một người bao gồm các đặc điểm như: giới tính, độ tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, quá trình hoạt động chính trị xã hội, hình ảnh gắn với mỗi cá nhân Mỗi người có một nhân thân riêng và chính nó biểu thị đặc
Trang 27điểm liên quan đến nhận thức và hành vi của từng người Hình ảnh cá nhân là một trong những quyền cơ bản của quyền nhân thân Cụ thể quyền về hình ảnh cá nhân
được ghi nhận tại khoản 1 Điều 32 BLDS 2015: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh
của mình Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người
có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Bất kỳ chủ thể nào muốn
sử dụng hình ảnh của cá nhân vì mục đích nào cũng cần sự đồng ý của cá nhân đó Nếu tách rời với cá nhân thì quyền hình ảnh đó không còn tồn tại nữa Bên cạnh đó, quyền cá nhân đối với hình ảnh cũng không bị chi phối hay bị phụ thuộc bởi một yếu
tố nào, mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng đối với hình ảnh của mình, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, lứa tuổi hay trình độ văn hóa, địa vị xã hội
Theo khoản 11 Điều 6 Luật Trẻ em 2016 thì việc công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ
đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em là hành vi bị nghiêm cấm Việc tiết lộ hình ảnh, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em trên các trang mạng xã hội sẽ gây ra những hậu quả khó lường ở hiện tại cũng như tương lai sau này của trẻ em Việc phải có sự đồng ý của trẻ, mà điều luật lấy mốc từ
đủ 07 tuổi cũng tương tự như đối với trường hợp khi ly hôn theo khoản 2 Điều 81
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi
con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”, hay trong việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã
thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự thì khoản 1 Điều 77 Luật Hôn nhân và
Gia đình 2014 quy định: “Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản
riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”
Tuy nhiên, việc sử dụng hình ảnh cá nhân của trẻ em ở những độ tuổi này vào mục đích thương mại khi mà có hay không sự đồng ý của trẻ cũng không phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của trẻ, vì ở độ tuổi này trẻ em còn quá nhỏ, tâm tư, tính cách dễ thay đổi cũng như nhận thức về hình ảnh của mình chưa sâu sắc, ngoài ra những hình ảnh quá khứ sau khi trưởng thành khiến họ cảm thấy tổn thương khi những hình ảnh này được lưu trữ và lan truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội trong thời gian dài Mặc dù, với quy định mới về quyền riêng tư của trẻ em theo quy
Trang 28định của Luật Trẻ em 2016 đã tạo hành lang pháp lý cho vấn đề bảo vệ quyền bí mật đời sống riêng tư nói chung và việc bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội hiện nay của trẻ em nói riêng nhưng việc khoe ảnh, thông tin của trẻ
em thì nhiều cha mẹ nghĩ đơn giản là thể hiện tình yêu thương hoặc tự hào về trẻ, nhưng đăng tải lên mạng xã hội quá chi tiết về hình ảnh, tính cách, địa điểm, thời gian thì những thông tin này sẽ dẫn đến bất lợi cho trẻ như: các đối tượng xấu theo dõi, mua bán trẻ em, ấu dâm…
Những quy định của Luật Trẻ em 2016 đã cụ thể hóa các quy định trong BLDS 2015 trong việc bảo vệ các quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ em, tuy nhiên Luật Trẻ em 2016 chưa quy định vấn đề sử dụng hình ảnh của trẻ em vào mục đích thương mại hay việc đồng ý của trẻ em được thể hiện bằng hình thức nào và những trường hợp nào mặc dù trẻ em đồng ý hay không đồng ý thì vẫn không được
sử dụng hình ảnh của trẻ em trên các trang mạng xã hội
Thứ hai, việc sử dụng và cho phép người khác sử dụng hình ảnh cá nhân
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý đã được ghi nhận tại Điều 31 BLDS 2005, tuy nhiên tại khoản 1 Điều 32 BLDS 2015 đã có
những sửa đổi, bổ sung về mặt nội dung với quy định: “việc sử dụng hình ảnh của
người khác vì mục đích thương mại phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Quy định này giúp giải quyết những tranh
chấp liên quan đến thù lao giữa các bên khi sử dụng hình ảnh của người khác “Mục
đích thương mại” chính là cơ sở để yêu cầu được trả thù lao trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác về vấn đề này
Khoản 2 Điều 31 BLDS 2005 quy định về việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành
vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác Với quy định các ngoại lệ như vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác của BLDS 2005 làm cho việc áp dụng pháp luật trở nên lúng túng Để khắc phục tình trạng đó, BLDS 2015 đã sửa đổi theo hướng liệt kê việc sử dụng hình ảnh không có
sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ mà vẫn không bị xem là vi phạm quyền này của cá nhân Cụ thể trong những trường hợp sau: Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, tuy nhiên nếu mục đích sử dụng hình ảnh dẫn đến xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy
Trang 29tín thì việc sử dụng hình ảnh đó nếu không được sự đồng ý của người đó thì bị xem
là vi phạm Ngược lại, nếu mục đích sử dụng hình ảnh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng thì không cần phải có sự đồng ý của người này, việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp đó không bị xem là vi phạm
Như đã đề cập, BLDS 2005 quy định chung chung các trường hợp ngoại lệ cho phép sử dụng hình ảnh cá nhân mà không cần sự đồng ý của người có hình ảnh thì BLDS 2015 đã liệt kê cụ thể hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh BLDS 2015 đã nhấn mạnh, nếu việc sử dụng những hình ảnh phản ánh các hoạt động công cộng mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh thì không bị xem là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh
Như vậy, nếu việc sử dụng hình ảnh rơi vào các trường hợp ngoại lệ trên thì vẫn không bị xem là vi phạm Trong trường hợp việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định trên thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sự dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật
1.2.3 Mối liên hệ giữa quyền hình ảnh và các quyền liên quan
1.2.3.1 Mối liên hệ giữa quyền hình ảnh và quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
BLDS 2005 chỉ quy định Quyền đối với bí mật đời tư tại Điều 38 nhưng đến BLDS 2015 lại mở rộng Quyền này thành ba quyền khác nhau đó là Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Theo quy định tại khoản 1 Điều 38
BLDS 2015: “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm
phạm và được pháp luật bảo vệ” Quy định này đã cụ thể hóa Điều 21 Hiến Pháp
2013 đó là: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình” Việc mở rộng
phạm vi của bí mật đời tư thành đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
sẽ giúp cho việc xác định hành vi vi phạm, xem xét, tính toán mức độ thiệt hại cũng như việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại đối vời từng hành vi vi phạm dễ dàng hơn so với quy định của BLDS 2005
Trang 30Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mặc dù được quy định trong BLDS 2015, nhưng chưa có một định nghĩa rõ ràng để làm cơ sở xác định hành vi vi phạm hình ảnh có liên quan đến các nhóm quyền riêng tư này
Quyền riêng tư là quyền của cá nhân được tự quyết đối với đời sống của mình
mà không chịu bất kỳ sự can hiệp nào từ những người xung quanh khác Với quyền này, cá nhân được sống như mong muốn của mình mà không chịu ảnh hưởng, tác động bởi bất kỳ chủ thể nào khác; Còn “bí mật cá nhân, bí mật gia đình là những thông tin, tư liệu mà cá nhân không mong muốn công khai, bộc bạch, được giữ kín bằng các biện pháp thông thường hoặc biện pháp kỹ thuật khác nhau19
Quy định về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của BLDS
2015 là một quy định mới, bảo đảm nguyên tắc tôn trọng cuộc sống đời tư, riêng biệt của mỗi cá nhân Việc ghi nhận thêm quyền về đời sống riêng tư, bí mật gia đình đã thể hiện được ý thức tôn trọng sự tự do cá nhân ngày một sâu sắc và phát triển ở mức độ cao hơn
So với BLDS 2005 thì khái niệm quyền riêng tư chỉ tình trạng sinh hoạt của cá nhân mà không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những người xung quanh khác; quyền riêng tư là quyền được sống như mong muốn của mỗi cá nhân mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ chủ thể nào khác Cá nhân có thể sinh hoạt theo sở thích riêng, tự do lựa chọn cách sống, cách sinh hoạt, quan điểm và lý tưởng sống riêng…Với quyền riêng tư có thể bản thân cá nhân không áp dụng các biện pháp bảo mật đối với những sinh hoạt, thói quen của mình nhưng không vì thế mà người khác có thể xâm phạm20
Bí mật đời tư của cá nhân là một trong những đối tượng của quyền nhân thân mang đậm màu sắc của quyền con người Bảo vệ quyền đối với bí mật đời tư manh nha có từ thời pháp luật phong kiến, nhưng chỉ đến thời kỳ pháp luật tư sản, với sự thắng lợi của tư tưởng dân chủ và quyền con người vấn đề mới được quy định một cách rõ ràng như là một nguyên tắc của luật dân sự21
Quy định tại Điều 38 của BLDS 2015 về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thể hiện sự chú trọng của Nhà nước tới các quyền nhân thân của
cá nhân Các quyền nhân thân của cá nhân ngày càng được mở rộng và bảo vệ chặt chẽ Bên cạnh khía cạnh nhân văn tích cực đó thì Điều luật này cũng cần quy định rõ
19
Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (Đồng chủ biên) (2017), tlđd (3), tr.104
20
Lê Đình Nghị (2008), Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật
học, Đại học Luật Hà Nội, tr.18
21
Hoàng Thế Liên (2008), Bình luận khoa học bộ luật dân sự năm 2005, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.91
Trang 31hơn về thuật ngữ đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật đời tư để những quyền này được hiểu một cách thống nhất trong quá trình thi hành và áp dụng
Trước khi sử dụng hình ảnh của cá nhân nào đó phải bảo đảm việc không làm tổn hại đến đời sống cá nhân, danh dự, nhân phẩm, uy tín đồng thời cũng phải đảm bảo được sự đồng ý của họ Trong trường hợp hình ảnh vượt qua giới hạn các bí mật của cá nhân và gia đình, đó là những hình ảnh mà họ không muốn tiết lộ, giữ kín, nếu hành vi xâm phạm xảy ra có thể gây hậu quả về vật chất, tình thần cho chủ thể có hình ảnh và người liên quan
Bên cạnh mối liên hệ giữa quyền nhân thân của cá nhân về hình ảnh thì quyền nhân thân của cá nhân gắn với hình ảnh cũng mang những đặc điểm khác biệt so với các nhóm quyền riêng tư Quyền nhân thân về hình ảnh có đối tượng hẹp hơn các quyền riêng tư vì đối tượng của quyền nhân thân về hình ảnh là những hình ảnh cụ thể xác định một cách dễ dàng, còn đối tượng của các quyền riêng tư là những thông tin, tài liệu về quá khứ, hiện tại liên quan đến người đó mà việc xác định rất khó khăn
1.2.3.2 Mối liên hệ giữa quyền hình ảnh và quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 BLDS 2015 quy định: “Danh dự, nhân
phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ”
BLDS 2015 quy định quyền nhân thân đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín nhưng lại không có khái niệm thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Vì quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh gắn bó mật thiết với quyền được bảo
vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những yếu tố nhân thân phi tài sản, gắn liền với mỗi cá nhân, thể hiện phẩm chất, đạo đức và giá trị của mỗi cá nhân Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ
Khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ các thông tin đã gây ảnh hưởng xấu đến cá nhân Cá nhân không chỉ được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín khi còn sống mà cả khi cá nhân
đã chết thì pháp luật vẫn duy trì sự bảo hộ Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng phương tiện thông tin đại chúng đó Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ
Trang 32Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân
đó và được hình thành, tồn tại và tôn tạo theo thời gian Nhân phẩm của cá nhân là những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó Uy tín cá nhân thể hiện ở sự tín nhiệm của cộng đồng đối với cá nhân đó, là quá trình tự xây dựng trong hoạt động thực tiễn Cả ba yếu tố trên đây, tuy có tính chất độc lập tương đối trong một
cá nhân được đánh giá qua các mối quan hệ xã hội Mỗi yếu tố trong ba yếu tố trên không thể tồn tại độc lập trong một cá nhân mà không có các yếu tố kia
Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, những thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải nhanh chóng trên một diện rộng Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng xác định được người đưa tin Đối với những trường hợp này, cá nhân bị đưa tin sẽ căn cứ vào phương thức yêu cầu Tòa
án tuyên bố thông tin đó là không đúng để bảo vệ quyền nhân thân của mình
Việc sử dụng hình ảnh cá nhân trái phép cùng lúc có thể xâm phạm đến danh
dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể hình ảnh Hình ảnh của cá nhân cũng là một yếu
tố gắn liền với danh dự, nhân phẩm, uy tín, nó là một trong những yếu tố để nhận diện, xác định danh dự, uy tín Sự liên hệ đó thể hiện ở chỗ hình ảnh của cá nhân có thể làm tăng giá trị của cá nhân đó, cũng có thể làm giảm sút, ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể hình ảnh
Hành vi sử dụng hình ảnh xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín diễn ra dưới nhiều hình thức: phát tán những hình ảnh nhạy cảm hay những hình ảnh vô ý bị bắt gặp ở đời thường nhằm bôi nhọ danh dự một người, hình ảnh của một người Mặc
dù danh dự, nhân phẩm, uy tín là những giá trị nhân thân không trị giá được bằng tiền, tuy nhiên, xâm phạm đến những giá trị này có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chủ thể hình ảnh Thiệt hại mà chủ thể bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải gánh chịu bao gồm cả thiệt hại vật chất và tổn thất tinh thần Chủ thể hình ảnh có thể bị giảm thu nhập, ảnh hưởng đến hoạt động nghề nghiệp, đến các mối quan hệ xã hội, thậm chí đến sức khỏe, tính mạng Rõ ràng, hậu quả mà chủ thể bị xâm phạm phải gánh chịu rất nghiêm trọng
Thiệt hại về vật chất có thể xác định cụ thể bằng các phương pháp khác nhau, nhưng thiệt hại về tinh thần do hình ảnh cá nhân bị xâm phạm liên quan đến danh
dự, nhân phẩm, uy tín thì không thể xác định cụ thể bằng các đơn vị đo lường, bởi đây là những thiệt hại đương nhiên khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm22
Trang 33Theo quy định tại Điều 592 BLDS 2015: “mức bồi thường thiệt hại về tinh thần
trước hết do các bên thỏa thuận, nếu các bên không thể thỏa thuận thì Tòa án sẽ xác định một mức hợp lý nhưng không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định” Tuy nhiên, khi hình ảnh cá nhân bị xâm phạm liên quan đến danh dự, nhân
phẩm, uy tín thì việc xác định mức bồi thường không vượt quá 10 lần mức lương cơ sở
do Nhà nước quy định khi áp dụng Điều luật này chưa thể phản ánh hết được những thiệt hại của chủ thể hình ảnh vì chủ thể hình ảnh luôn luôn độc lập với nhau trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng như mức độ vi phạm của hành vi xâm phạm hình ảnh của cá nhân liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín trên môi trường mạng xã hội có những đặc thù riêng so với các trường hợp xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thông thường Do tính chất lan truyền thông tin nhanh chóng và mức độ tương tác của người dùng trên các trang mạng xã hội rất cao nên hậu quả của hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân liên quan đến danh dự, nhân phẩm của mỗi chủ thể là khác nhau Do đó, mức bù đấp tổn thất tinh thần đương nhiên cần được xác định một cách độc lập cho từng người với những mức yêu cầu khác nhau so với giới hạn của luật
Quyền đối với hình ảnh của cá nhân có quan hệ đối với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín bởi thông qua hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân có thể xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể hình ảnh Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân dù có sự đồng ý của cá nhân nhưng nếu xâm phạm tới danh
dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể hình ảnh thì là vi phạm pháp luật
Như vậy, Quyền nhân thân đối với hình ảnh và quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân tuy có những điểm khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau
1.3 Bảo vệ hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội
Điều 2 BLDS 2015 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Pháp luật dân sự không chỉ quy định phạm vi rộng rãi các quyền dân sự mà
cá nhân có khả năng được hưởng mà còn quy định các phương thức và các biện pháp
để bảo vệ quyền dân sự của mình khi các quyền này bị xâm phạm Như vậy, cũng như các quyền dân sự khác, khi chủ thể hình ảnh bị xâm phạm trên các trang mạng xã hội thì chủ thể có quyền có nhiều phương thức để bảo vệ quyền hình ảnh của mình
Trang 341.3.1 Tự bảo vệ hình ảnh cá nhân
Tuy pháp luật cho phép chủ thể quyền được tự bảo vệ quyền của mình nhưng
đồng thời cũng quy định: “Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất,
mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự”23
Các trang mạng xã hội hiện nay đều được sở hữu bởi các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp này kiếm lợi nhuận bằng cách thu nhập thông tin dữ liệu của người dùng và bán các thông tin này cho các đơn vị quảng cáo vì hầu như các trang mạng xã hội hiện nay đều không thu bất kỳ một phí nào khi người dùng muốn đăng ký trở thành thành viên Khi người dùng đăng ký một mạng xã hội, người dùng phải chịu sự chi phối và điều khiển bởi tổ chức sở hữu trang mạng này Các thiết bị bảo mật thông tin riêng tư chỉ có nghĩa là sự riêng tư của người dùng được bảo vệ khỏi các thành viên khác thông qua biểu tượng cài đặt chế độ tùy chỉnh được quyền xem như: Mọi người, bạn bè, bạn bè ngoại trừ ai đó, bạn bè cụ thể, chỉ mình tôi Thông qua đó người dùng có thể kiểm soát các thông tin, bài viết, hình ảnh của mình sẽ được chia sẻ đến từng đối tượng cụ thể
Khi tham gia sử dụng bất kỳ trang mạng xã hội nào, điều quan trọng đầu tiên
là người dùng phải có phương thức tự bảo vệ chính bản thân mình, vì tính kết nối và tương tác mang tính toàn cầu của hầu hết các trang mạng xã hội hiện nay người dùng phải chủ động trong việc kiểm soát những thông tin, hình ảnh, cảm xúc của mình Ngoài ra, mỗi trang mạng xã hội có những điều khoản bắt buộc tự trang mạng
xã hội đặt ra và yêu cầu người tham gia chấp nhận để có thể trở thành thành viên của trang mạng xã hội đó Qua đó cho thấy khả năng tự bảo vệ của người tham gia mạng xã hội đã đặt ở vị chí bị động với các điều khoản bắt buộc mà không có sự thỏa thuận, thương lượng giữa người muốn đăng ký tham gia và chủ sở hữu trang mạng xã hội Việc tham gia vào các trang mạng xã hội, người tham gia đã chấp nhận tước đi một phần khả năng chủ động để bảo vệ quyền về hình ảnh và các quyền liên quan khác của mình
Mạng xã hội giúp người dùng có được thông tin cá nhân của người khác một cách dễ dàng và những thông tin bất lợi có thể sẽ được phán tán một cách nhanh chóng, nó có thể đe dọa gây hại cho người dùng về mặt kinh tế hoặc tinh thần thậm chí có thể hủy hoại danh tiếng, sự nghiệp và cuộc sống
23
Điều 12 BLDS 2015
Trang 35Nhìn chung, các trang mạng xã hội giúp người dùng mở rộng những mối quan hệ mới, duy trì kết nối bạn bè, đem lại nhiều lợi ích trong cuộc sống cũng như
hỗ trợ nhiều cho công việc Nhưng nếu người dùng không có những biện pháp tự bảo vệ thì những điều bất lợi có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà người dùng không kiểm soát được
1.3.2 Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền
Khoản 1, Điều 14 BLDS 2015 quy định: “Tòa án, cơ quan có thẩm quyền
khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân
Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ
quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài
Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có
thể được xem xét lại tại Tòa án”
Việc thực hiện quyền dân sự sẽ diễn ra khi hành vi xâm phạm quyền dân sự
đã xảy ra và chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp pháp lý để khôi phục hoặc bồi thường các lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm Điểm mới quan trọng trong việc bảo vệ quyền dân sự được BLDS 2015 quy đình là Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do không có điều luật để áp dụng Trong trường hợp Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự mà chưa
có điều luật áp dụng thì Tòa án áp dụng tập quán, áp dụng quy định của pháp luật
điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự
Khi quyền dân sự của cá nhân bị xâm phạm nói chung và quyền hình ảnh cá nhân nói riêng thì theo quy định tại Điều 11 BLDS 2015, chủ thể có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp sau đây:
Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và quyền dân sự của mình (Khoản 1 Điều
11 BLDS 2015)
Trong trường hợp hình ảnh cá nhân bị xâm phạm hay có tranh chấp trên các trang mạng xã hội thì chủ thể hình ảnh có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận và tôn trọng quyền hình ảnh của mình để từ đó làm căn cứ pháp lý nhằm mục đích xác nhận quyền của mình đối với lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần đang bị xâm phạm hoặc thực hiện các yêu cầu khác
Trang 36 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm (Khoản 2 Điều 11 BLDS 2015)
Bằng các biện pháp pháp lý, chủ thể hình ảnh có quyền tự mình hoặc được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm hình ảnh trái pháp luật gây ra thiệt hại hoặc đang có nguy cơ gây ra thiệt hại phải chấm dứt hành vi xâm phạm
Biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả khi mà người thực hiện hành vi xâm phạm đối với hình ảnh của cá nhân sớm nhận thức được hành vi trái pháp luật của mình Trong trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm không có những biện pháp chấm dứt ngay hành vi của mình và ngăn ngừa hậu quả xảy ra thì chủ thể có quyền đối với hình ảnh bị xâm phạm áp dụng các biện pháp khác để bảo vệ quyền hình ảnh của mình
Buộc xin lỗi, cải chính công khai (Khoản 3 Điều 11 BLDS 2015)
Biện pháp này được áp dụng phổ biến trong các hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín trên các trang mạng xã hội Việc xin lỗi, cải chính công khai có thể được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau như:
- Bằng lời nói trước Hội đồng xét xử, trước quần chúng ở địa bàn nơi cư trú của người bị xâm phạm hình ảnh liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín
- Lời xin lỗi, cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo giấy, báo điện tử…
Theo quy định tại Điều 34 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: “Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã được công bố, đưa tin trên chính phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử đã công bố, đưa tin; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện
Bên cạnh đó, pháp luật dân sự luôn tạo điều kiện cho các bên trong giao lưu dân sự tự do thỏa thuận, hòa giải khi giải quyết các tranh chấp dân sự Do đó, trong trường hợp chủ sở hữu hình ảnh và người vi phạm thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện việc xin lỗi, cải chính đó mà thoả thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội, thì Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền công nhận sự thoả thuận của họ
Trang 37 Buộc thực hiện nghĩa vụ (Khoản 4 Điều 11 BLDS 2015)
Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự là tổng hợp những biện pháp, cách thức do các chủ thể có quyền thực hiện hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng nhằm tác động vào người có nghĩa vụ, cưỡng chế họ phải thực hiện đúng nghĩa vụ
mà họ đã cam kết thỏa thuận
Buộc bồi thường thiệt hại (Khoản 5 Điều 11 BLDS 2015)
Người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến hình ảnh của cá nhân trên các trang mạng xã hội dù có lỗi cố ý hay vô ý, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể hình ảnh mà gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do mình gây ra
Tùy theo từng mục đích của chủ thể hình ảnh mà phát sinh những thủ tục và
hệ quả khác nhau Thủ tục yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh bắt đầu khi chủ thể hình ảnh hoặc người đại diện hợp pháp có đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự của mình và kết thúc bằng Quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 370 BLTTDS 2015 nếu Quyết định đó không bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS 2015
Ngược lại, ở thủ tục khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu người có hành vi vi phạm bồi thường thiệt hại sẽ phức tạp và tốn nhiều thời gian, chi phí Theo quy định của Điều 275 BLDS 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là
“gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và cá nhân, tổ chức khi vi phạm quyền… thì chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây nên
Không phải trong mọi trường hợp đều có thể áp dụng tất cả các biện pháp hoặc bất kỳ biện pháp nào nêu trên để bảo vệ quyền dân sự khi bị xâm phạm Để việc bảo vệ quyền dân sự một cách hiệu quả, chủ thể quyền cần phải căn cứ vào nội dung quyền bị xâm phạm và lựa chọn biện pháp phù hợp
1.3.3 Phương thức bảo vệ thông qua chủ sở hữu trang mạng xã hội
Ngày 12 tháng 6 năm 2018, Luật An ninh mạng đã được Quốc hội thông qua
và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 với những quy định cụ thể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không giang mạng
Theo Luật An ninh mạng 2018 thì với quy định những thông tin có nội dung xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác; thông tin bịa đặt, sai
Trang 38sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đó hay bí mật công tác, thông tin thuộc
sở hữu của người khác hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác…thì doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm: cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử
lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng, ngăn chặn việc chia sẻ thông tin, xóa
bỏ thông tin có nội dung này trên dịch vụ hoặc hệ thống thông tin do cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và không cung cấp hoặc ngừng cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng cho tổ chức, cá nhân đăng tải trên không gian mạng có những hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, xã hội,
và xử lý theo đúng quy định của pháp luật một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất
để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không giang mạng25
Luật An ninh mạng được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết không những về bảo vệ an ninh mạng mà còn là căn cứ để công dân bảo vệ quyền lợi của mình trên không gian mạng Từ khi mạng xã hội ra đời và trở nên phổ biến ở Việt Nam, pháp luật nước ta chưa có những hành lang pháp lý cụ thể để quy định những hành vi bị cấm trên mạng xã hội Tình trạng đăng tải thông tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xúc phạm tôn giáo; lan truyền thông sai sự thật, xâm phạm hình ảnh, danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân, tổ chức, … diễn ra tràn lan trên không gian mạng nhưng chưa
có biện pháp quản lý và xử lý hữu hiệu
Luật An ninh mạng quy định cụ thể những hành vi bị cấm trên không gian mạng tại Điều 8 và khi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về không gian mạng thì
Trang 39tùy từng trường hợp cụ thể mà có những biện pháp chế tài khác nhau như26: Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật; khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử hay các biện pháp khác theo quy định của pháp luật
Mặc dù, Luật An ninh mạng không kiểm soát toàn bộ thông tin cá nhân của người sử dụng, chỉ khi phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng, thì Luật An ninh mạng mới yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin cá nhân, tổ chức có liên quan tới hành vi vi phạm pháp luật đó Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng chỉ được phép tiếp cận thông tin cá nhân của người sử dụng có hoạt động vi phạm pháp luật, theo trình tự, thủ tục và được các cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trong phạm vi đề tài này, vấn đề đặt ra, trong trường hợp có hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân hay bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên mạng xã hội nhưng không xác định được chủ thể thực hiện hành vi vi phạm thì trách nhiệm của chủ trang mạng xã hội chưa được luật điều chỉnh Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật An ninh mạng 2018 thì doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng
Điều luật đã quy định trách nhiệm xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số, vậy khi có hành vi vi phạm pháp luật trên không giang mạng và nhà cung cấp dịch vụ mạng không xác định được chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trên dịch vụ mạng của mình thì nhà cung cấp dịch vụ mạng có bị chế tài hay không thì Luật An ninh mạng 2018 và các văn bản liên quan chưa quy định
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì cá nhân có nhiều quyền để bảo vệ hình ảnh cá nhân của mình trên các trang mạng xã hội như phân tích ở trên Khi quyền này bị xâm phạm thì cá nhân sẽ được bảo vệ theo các biện pháp mà pháp luật quy định cho từng trường hợp cụ thể
26
Điều 5 Luật An ninh mạng 2018
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Những vấn đề chung về quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền nhân thân trên các trang mạng xã hội được nêu trong chương 1 về cơ bản giải quyết các nội dung sau:
Thứ nhất, nêu khái niệm quyền nhân thân của cá nhân, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh và mối quan hệ giữ hình ảnh cá nhân với các quyền về danh
dự, nhân phẩm, uy tín; quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Thứ hai, nêu khái niệm, đặc điểm của các trang mạng xã hội và ảnh hưởng của các trang mạng xã hội đối với việc hình ảnh cá nhân bị xâm phạm
Thứ ba, phân tích các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trên các trang mạng xã hội
Thông qua những vấn đề đã trình bày tại chương 1 Tại chương 2, tác giả tiến hành phân tích số liệu điều tra xã hội học về thực trạng sử dụng các trạng mạng xã hội; các hình thức xâm phạm hình ảnh cá nhân trên các trang mạng xã hội và thực tiễn xét xử để từ đó đưa ra một vài kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ hình ảnh cá nhân trên mạng xã hội hiện nay