1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự việt nam

76 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 802,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, trình tự xét hỏi là một phần của thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, thông qua xét hỏi, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRÌNH TỰ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: TS LS NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH

Học viên: TRẦN ĐẶNG ANH VIỆT, Lớp Cao học luật Khóa 1 – Kon Tum

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn thạc sĩ

Luật học “Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng

lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học

của TS Nguyễn Hữu Thế Trạch Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Người cam đoan

Trần Đặng Anh Việt

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TRÌNH TỰ XÉT HỎI CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ 7

1.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của Hội đồng xét xử theo luật tố tụng hình sự Việt Nam 7 1.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi của Hội đồng xét

xử tại phiên tòa sơ thẩm 13 1.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của Hội đồng xét xử để nâng cao hiệu quả xét hỏi tại phiên tòa 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22 CHƯƠNG 2 TRÌNH TỰ XÉT HỎI CỦA KIỂM SÁT VIÊN VÀ NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG 23

2.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi và thực tiễn xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm 23 2.2 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi và thực tiễn xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của những người tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm 30

2.2.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi và thực tiễn xét hỏi của Người bào chữa tại phiên toà sơ thẩm 30 2.2.2 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi và thực tiễn xét hỏi của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên toà sơ thẩm 35

2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41 KẾT LUẬN 42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động tố tụng hình sự nói riêng, Tòa án giữ vai trò trung tâm, có thể nói hoạt động xét xử tại phiên tòa được xem là hoạt động quan trọng nhất Thông qua phiên tòa, các chức năng cơ bản của tố tụng được đảm bảo đảm thực hiện một cách đầy đủ, công khai, dân chủ và bình đẳng Từ đó, Hội đồng xét xử thực hiện chức năng của mình để đưa ra những phán quyết khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Trong đó, trình tự xét hỏi là một phần của thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, thông qua xét hỏi, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra, bản cáo trạng một cách công khai để xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, nhằm xác định sự thật của vụ án

Xác định được tầm quan trọng của tranh tụng tại phiên tòa, tại khoản 5 Điều

103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Trước đó, Đảng và Nhà nước ta cũng quan tâm và xác định tại các Nghị

Quyết về cải cách tư pháp Cụ thể: Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của

Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa” Tiếp đó, trong

chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng một lần nữa yêu cầu:

“Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp…” Và tại Nghị quyết số 37/NQ-QH13, ngày 23/11/2012 của Quốc hội khóa XIII tiếp tục khẳng định: “Tòa án nhân dân Tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”

Tuy nhiên, thời gian qua việc thực hiện các chủ trương, chính sách này và thực tế hoạt động xét xử chưa thực sự được đảm bảo, xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

- Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, cụ thể là BLTTHS năm

2003 còn có nhiều hạn chế, chẳng hạn như chưa quy định rạch ròi các chức năng tố

Trang 6

tụng giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Người bào chữa hay nói cách khác đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử

- Việc vi phạm các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS như: Nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa… Một khi quyền bào chữa bị xem nhẹ, chỉ chú trọng chức năng buộc tội thì sẽ mất đi sự đối trọng giữa chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội (bào chữa), ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo

Do đó, để đảm bảo được quyền bào chữa của bị cáo, đảm bảo bản án của Hội đồng xét xử tuyên đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm hoặc oan sai người vô tội thì phải đảm bảo được chất lượng tranh tụng tại phiên tòa,

trong đó có trình tự xét hỏi tại phiên tòa Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm Luận văn thạc sĩ

của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu như Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ cũng như nhiều bài viết đề cập đến vấn đề tranh tụng tại phiên tòa hình sự Việt Nam, trong đó có đề cập đến trình tự xét hỏi như:

- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Kiện năm 2016 về “Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” Công trình

đã bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam Về thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng được tác giả phân tích, đánh giá và chỉ ra được những nguyên nhân hạn chế, bất cập Tuy nhiên, tác giả đã phân tích dàn trải các quy định của pháp luật trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, chỉ đề cập sơ qua

về trình tự xét hỏi tại phiên tòa, mang nặng tính lý luận, các vấn đề thực trạng chỉ nêu chung chung, chưa đưa ra các trường hợp thực tiễn cụ thể để chứng minh cho lập luận

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Võ Hồng Phúc năm 2015 về “Hoàn thiện thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp” Công trình đã nêu

lên một số vấn đề lý luận về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự Tác giả đã nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự, đối chiếu thực tiễn áp dụng, qua đó phát hiện những bất cập về kỹ thuật lập pháp cũng những sai phạm của các chủ thể khi áp dụng quy định pháp lý về thủ tục xét hỏi và các yếu tố khác làm hạn chế hiệu quả hoạt động xét hỏi Luận văn đã xác

Trang 7

định các yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 và đánh giá tác động của tinh thần cải cách tư pháp đến nhu cầu hoàn thiện thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục xét hỏi và những cơ chế đảm bảo nâng cao chất lượng xét hỏi tại phiên tòa hình

Tuy nhiên, ba công trình trên theo định hướng nghiên cứu nên Luận văn chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề tổng thể về thủ tục xét hỏi, từ khái niệm, ý nghĩa, bản chất, mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi với các thủ tục khác, đến các quy định của pháp luật về thủ tục xét hỏi, trong khi đó Luận văn không đề cập sâu rộng vào một vấn đề cụ thể nào đó, đồng thời không đưa ra được các dẫn chứng cụ thể cho những bất cập của pháp luật khi được áp dụng trong thực tiễn xét xử mà chỉ nêu vấn đề mang tính chất khái quát

Về các bài viết như: “Một số vấn đề về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của tác giả Đinh Văn Quế trên tạp chí Tòa án nhân dân tháng 4/2004 (số 8); “Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự

sơ thẩm” của tác giả Lê Thị Thúy Nga đăng trên tạp chí Luật học số 7/2008; “Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” của tác giả Nguyễn Chí Dũng trên tạp chí Kiểm sát số

12 (tháng 6/2014); “Vai trò của Luật sư trong tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự” của tác giả Bùi Thị Chinh Phương đăng trên tạp chí dân chủ và pháp luật năm 2015; “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Nguyễn Ngọc Kiện trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 22 (302) T11/2015; “Bảo đảm quyền của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở thủ tục xét hỏi” của tác giả Võ Quốc Tuấn trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 22 (326) T11/2016; “Hoàn thiện các quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự” của

tác giả Lê Thanh Phong-Tòa án nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh đăng trên

trang điện tử Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 2017; “Một số ý kiến đối với quy

Trang 8

định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”

của tác giả Hồ Nguyễn Quân-Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 4 trên trang thông tin điện tử của trường Đại học kiểm sát Hà Nội1 ; “Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác giả Trần Duy Bình đăng trên trang điện tử trường Đại học

kiểm sát Hà Nội.2

Nhìn chung các bài viết nêu trên đã phân tích các quy định của pháp luật về thủ tục xét hỏi, về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự, từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật khi áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong thực tiễn Tuy nhiên, các bài viết trên phần lớn đề cập đến kỹ năng chuyên biệt của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư cũng như các giải pháp để nâng cao chất lượng xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hình sự

Quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ kế thừa những kiến thức, kinh nghiệm của một số Luận án, Luận văn và các bài viết nêu trên Ngoài ra, tác giả đưa ra và giải quyết những vấn đề còn chưa phù hợp trong quy định của pháp luật mà các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đến Đồng thời, tác giả cũng phân tích, đánh giá sâu những vấn đề còn bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật của các tỉnh như: Gia Lai, Quảng Nam, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra kiến nghị, đề xuất để đóng góp một phần trong công tác hoàn thiện pháp luật nói chung

và quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm

2015 về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, đối chiếu, so sánh, đánh giá thực trạng cũng như những bất cập của pháp luật hiện hành, Luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

1 Hồ Nguyễn Quân, “Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình

sự theo tinh thần cải cách tư pháp”, đường dẫn: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/742 , truy cập ngày 01/8/2017

2 Trần Duy Bình, “Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự

theo tinh thần cải cách tư pháp, đường dẫn”: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/189, truy cập ngày 01/8/2017

Trang 9

Để đạt được mục đích này thì Luận văn có nhiệm vụ nêu các quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, đánh giá thực tiễn các vướng mắc, bất cập về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong thời gian qua, từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu

Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm

Phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt động xét hỏi tại các phiên tòa hình sự

sơ thẩm trong những năm gần đây, qua đó rút ra những mặt tích cực cũng như tồn tại, hạn chế

- Phạm vi về không gian và thời gian

Luận văn tập trung nghiên cứu đối với thực trạng áp dụng pháp luật về trình

tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm đối với các tỉnh Gia Lai, Quảng Nam, Nghệ

An, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuyên suốt Luận văn tác giả sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp phân tích luật để phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, các văn bản dưới luật

- Phương pháp so sánh, chứng minh, tổng hợp đối với các bản án, biên bản phiên tòa điển hình Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê

6 Dự kiến các kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng

Nghiên cứu trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Trình tự xét hỏi là một phần của thủ tục tranh tụng tại phiên tòa

Kết quả nghiên cứu của Luận văn để thấy được những vấn đề còn hạn chế, bất cập của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cũng như những tồn tại mà BLTTHS năm 2015 vẫn chưa khắc phục được về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm Đồng thời, kết quả nghiên cứu của Luận văn để thấy được những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật về trình tự xét hỏi trong thực tiễn Từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện pháp luật

Trang 10

Vì vậy, kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học pháp lý về tố tụng hình sự nói chung, quá trình giảng dạy, đào tạo luật nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn bao gồm hai chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Trình tự xét hỏi của Hội đồng xét xử

1.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của Hội đồng xét xử theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi của Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm

1.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của Hội đồng xét xử để nâng cao hiệu quả xét hỏi tại phiên tòa

Chương 2: Trình tự xét hỏi của Kiểm sát viên và những người tham gia

Trang 11

CHƯƠNG 1 TRÌNH TỰ XÉT HỎI CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

1.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của Hội đồng xét xử theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

Xét hỏi tại phiên tòa hình sự, trước hết đó là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi chủ thể tố tụng và theo thủ tục tố tụng hình sự Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Người bào chữa, Người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định thực hiện Hoạt động xét hỏi để làm sáng tỏ nội dung vụ án, để chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội Đây là hoạt động đặc trưng được pháp luật tố tụng hình sự quy định, được tiến hành theo một trình tự thủ tục chặt chẽ bởi các chủ thể tố tụng hình sự

Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, tại trang 1058

thì “xét” là tìm hiểu, cân nhắc để nhận biết, đánh giá, kết luận về cái gì đó; Còn

“hỏi” là nói ra những điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu trả lời3

“Trình tự” là sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau4

Từ đó có thể hiểu, trình tự xét hỏi là sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau để

thực hiện việc tìm hiểu, kiểm tra một vấn đề thông qua việc hỏi và trả lời giữa người hỏi và người được hỏi

Xét dưới góc độ pháp lý, BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 không

đưa ra định nghĩa thế nào là xét hỏi hay trình tự xét hỏi mà chỉ quy định về trình tự, thủ tục, nội dung xét hỏi và những hoạt động của các chủ thể liên quan Có nhiều khái niệm về xét hỏi như, “xét hỏi” là thủ tục chính của phiên tòa sơ thẩm, trong đó tòa án cùng các bên tranh tụng xem xét, kiểm tra chứng cứ của bên buộc tội, thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ do bên bào chữa đề xuất được Tòa án chấp nhận nhằm làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện khách quan của vụ án5 Hoặc cũng theo tác giả Đinh Văn Quế thì: Xét hỏi tại phiên tòa mà nhiều người quen gọi là

“thẩm vấn” Xét hỏi tại phiên tòa là một phần (một giai đoạn) của quá trình xét xử một vụ án hình sự, trong đó Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra, bản

3 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.400

4 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.883

5 Đinh Văn Quế (2004), “Một số vấn đề về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo bộ luật Tố tụng

Hình sự năm 2003”, Tạp chí Tòa án nhân dân,08, tr.3-10

Trang 12

cáo trạng một cách công khai về những tình tiết của vụ án6 Tuy nhiên chưa có tác giả nào định nghĩa về trình tự xét hỏi, do đó tác giả xin đưa ra định nghĩa về trình tự xét hỏi như sau: Trình tự xét hỏi là sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau để hỏi trực tiếp nhằm phát hiện, xác minh hành vi phạm pháp của đối tượng nào đó

Hoạt động xét hỏi để làm sáng tỏ nội dung vụ án, để chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội nên nó là hoạt động điều tra công khai tại phiên tòa Việc hỏi và trả lời trực tiếp giữa các chủ thể tố tụng và người tham gia tố tụng được tiến hành công khai, trực tiếp bằng lời nói Mọi người tham gia phiên tòa đều có thể theo dõi

và nắm bắt được toàn bộ hoạt động điều tra này Nó đảm bảo được nguyên tắc xét

xử trực tiếp, liên tục bằng lời nói của Hội đồng xét xử Xét hỏi trực tiếp dưới sự chứng kiến của tất cả những người có mặt tại phiên tòa nhằm đảm bảo cơ chế giám sát của nhân dân và tăng tính khách quan của hoạt động xét hỏi Tại phiên tòa tất cả các chủ thể có liên quan của vụ án đều hướng đến cùng giải quyết một vấn đề

Tại phiên toà hình sự sơ thẩm, sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, nếu không ai có ý kiến và yêu cầu gì thêm thì chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần thủ tục phiên toà chuyển sang phần xét hỏi Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm được quy định từ Điều 206 đến Điều 216 của BLTTHS năm 2003

và được quy định từ Điều 307 đến Điều 318 của BLTTHS năm 2015 Trong đó trình tự xét hỏi được quy định tại Điều 207 của BLTTHS năm 2003 như sau:

“1 Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý

2 Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề

có liên quan đến việc giám định

3 Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét những vật chứng có liên quan trong

vụ án”

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng xét xử phải được xác định trên cơ sở chức năng của Tòa án là xét xử Hội đồng xét xử không thể và không được thực hiện hoạt động không thuộc chức năng xét xử Đây là yêu cầu khách quan xuất phát

6 Đinh Văn Quế (2011), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc xét hỏi của kiểm sát viên tại phiên tòa

hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, 08, tr.13-18

Trang 13

từ đòi hỏi phải đảm bảo sự vô tư, khách quan và công minh của Hội đồng xét xử trong suốt quá trình xét xử

Theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTHS năm 2003 về trách nhiệm của

Hội đồng xét xử “phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án”, cho thấy Hội đồng xét xử có vai trò rất quan trọng trong thủ tục xét hỏi

tại phiên tòa Quy định này đã giao cho Hội đồng xét xử nghĩa vụ chứng minh tất cả các tình tiết buộc tội cũng như gỡ tội, phù hợp với nghĩa vụ chứng minh vụ án của

cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Điều 10 BLTTHS năm

2003: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm

rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo

có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Theo đó, Hội đồng

xét xử phải làm rõ tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án thông qua việc tích cực tham gia xét hỏi, kiểm tra chứng cứ tại phiên tòa Quy định trên cho thấy Hội đồng xét xử là chủ thể có quyền chủ động và tích cực tham gia xét hỏi để chứng minh cho

vụ án

Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định cho Hội đồng xét xử quá nhiều

quyền cũng như trách nhiệm, khi yêu cầu Hội đồng xét xử “phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án” Quy định này buộc Hội đồng

xét xử phải đóng ba vai trò khác nhau là: buộc tội, bào chữa và xét xử Với việc quy định cho Hội đồng xét xử hỏi chính làm cho Hội đồng xét xử không thể hướng cho bên buộc tội và bên bào chữa tập trung vào những vấn đề cần làm rõ trong tranh tụng Việc quy định như hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp,

đặt lên vai Hội đồng xét xử “trách nhiệm xét hỏi không thuộc chức năng của xét xử

mà thuộc chức năng buộc tội” 7.Từ đó, làm cho phiên tòa thiếu tính tranh tụng công khai ngay trong phần xét hỏi

Hội đồng xét xử vừa thực hiện chức năng xét xử và có trách nhiệm chứng

minh tội phạm, như vậy mặc nhiên Hội đồng xét xử đã được trao quyền “vừa đá bóng, vừa thổi còi” thì liệu rằng việc xét hỏi tại phiên tòa còn đảm bảo tính khách

quan Thủ tục xét hỏi công khai tại phiên tòa là cơ hội để bị cáo trình bày sự thật về

7 Võ Hồng Phúc (2016), Hoàn thiện thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp,

Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, trang 27

Trang 14

vụ án nếu trong quá trình điều tra có sự ép cung, mớm cung, tuy nhiên với quy định hiện hành thì Hội đồng xét xử đã nắm rõ các tình tiết của vụ án thông qua hồ sơ vụ

án, do đó bị cáo có tâm lý việc xét hỏi tại phiên tòa chỉ là hợp thức hóa thủ tục và không muốn trình bày về sự thật khách quan của vụ án nữa Vì vậy, quy định của pháp luật hiện hành chưa đảm bảo được tính tranh tụng và nâng cao quyền con người theo tinh thần cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013

Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của BLTTHS năm 2003 không quy định trực tiếp là Hội đồng xét xử mà liệt kê thành viên của Hội đồng xét xử có quyền tham gia xét hỏi gồm Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành thì Hội đồng xét xử với Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm chỉ đồng nhất trong phiên tòa sơ thẩm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Vậy Thẩm phán không phải chủ tọa phiên tòa có quyền được tham gia xét hỏi hay không? Khoản 2 Điều 207 không đề cập đến điều này

Theo quy định tại Điều 307 của BLTTHS năm 2015:

“1 Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý

2 Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi Người tham gia tố tụng tại phiên tòa

có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản

3 Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án”

Quy định của BLTTHS năm 2015 cũng trao cho Hội đồng xét xử trách

nhiệm chính trong việc: “xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người” Đó là giao cho Hội đồng xét xử trách nhiệm chứng

minh những tình tiết buộc tội, gỡ tội cũng như toàn bộ vụ án để tìm đến chân lý cuối cùng là sự thật khách quan của vụ án Theo khoản 1 Điều 207 của BLTTHS năm

2003 quy định: “Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc

và về từng tội của vụ án”, còn khoản 1 Điều 307 của BLTTHS năm 2015 quy định thêm trách nhiệm của Hội đồng xét xử là: “xác định đầy đủ những tình tiết về từng

Trang 15

sự việc, từng tội trong vụ án và từng người” để từ đó điều hành việc xét hỏi làm

sáng tỏ vụ án

So với quy định về trình tự xét hỏi của BLTTHS năm 2003 thì quy định của

BLTTHS năm 2015 đã có sự tiến bộ hơn, đó là: “Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý 2 Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự thực hiện việc hỏi” Như vậy, quy định về việc Chủ tọa phiên tòa điều hành việc

hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau là hợp lý, thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, tăng sự chủ động của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, đồng thời khiến quá trình xét hỏi mềm mại hơn, từ đó đi đến kết quả là các thông tin

mà Tòa án cần khai thác sẽ có thể nhanh hơn Quy định này sẽ trao cho Chủ tọa phiên tòa quyền chủ động trong việc điều hành việc hỏi, hạn chế sự “độc diễn” trong việc xét hỏi của Chủ tọa và các Hội thẩm nhân dân Chủ tọa xét thấy cần quyết định cho Kiểm sát viên hoặc Người bào chữa hoặc Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi trước thì sẽ làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của

vụ án, xác định được bị cáo có tội hay không có tội cũng như làm rõ các vấn đề khác trong vụ án

Đồng thời quy định của BLTTHS năm 2015 đã khắc phục được vấn đề bất cập của BLTTHS năm 2003 đó là trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân thì sau khi Chủ tọa phiên tòa hỏi thì sẽ quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự thực hiện việc hỏi Quy định này đã ghi nhận vai trò xét hỏi của Thẩm phán không phải là Chủ tọa phiên tòa

Một vấn đề mới được bổ sung trong BLTTHS năm 2015 là bị cáo có quyền được trực tiếp đặt câu hỏi với các bị cáo khác, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng nếu được Chủ tọa đồng ý thay vì đề nghị Chủ tọa hỏi (các Điều 309, 310 và 311 của BLTTHS năm 2015) Quy định này trao cho bị cáo được thu thập những luận cứ cho riêng mình để tự bào chữa cho mình, đồng thời quy định này tăng cường sự tranh tụng tại phiên tòa

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa việc chứng minh, xác định sự thật vụ án thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Do đó, tại phiên tòa, Hội

Trang 16

đồng xét xử thông qua việc xét hỏi để chứng minh tội phạm, tuy nhiên theo quy

định tại Điều 15 của BLTTHS năm 2015: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc

về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm

rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội” Theo quy định này thì

trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án mà trách nhiệm chứng minh tội phạm đã được mở rộng cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bao gồm: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, các cơ quan của Hải quan; các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan của Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Do đó, quy định này của BLTTHS năm 2015 chỉ mở rộng đối tượng chứng minh tội phạm và vẫn giữ lại trách nhiệm chứng minh tội phạm có trách nhiệm của Tòa án, hay nói cách khác tại phiên tòa Hội đồng xét xử vẫn làm nhiệm vụ chứng minh bị cáo có tội hoặc vô tội và làm sáng tỏ tất cả các tình tiết khác trong vụ án thông qua việc xét hỏi

Theo quy định của BLTTHS 2015, Chủ tọa phiên tòa vẫn là người hỏi trước, được quyền hỏi tất cả các nội dung của vụ án, bao gồm cả tình tiết buộc tội, gỡ tội cũng như các vấn đề khác trong vụ án Hay nói cách khác, Chủ tọa “làm thay công việc” của Kiểm sát viên, Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Sở dĩ việc ban hành BLTTHS năm 2015 vẫn để cho Chủ tọa phiên tòa hỏi trước và hỏi chính là vì mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là mô hình tố

tụng hình sự kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng hay nói cách khác là “mô hình tố tụng hình sự pha trộn”8 “Theo đó trong giai đoạn xét xử Tòa án vẫn quản lý hồ sơ

vụ án để quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Tòa án trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử và thực hiện việc điều hành việc xét hỏi để thẩm tra lại toàn bộ các chứng

8 Nguyễn Thái Phúc (2007), “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Khoa học pháp lý, 5, đường dẫn:

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=118:ctc20075&i d=337:mhtthsvnnvllvtt&Itemid=110 Truy cập ngày 20/8/2017

Trang 17

cứ trong hồ sơ vụ án một cách khách quan, toàn diện, tránh việc xét hỏi chỉ tập trung vào việc buộc tội Việc ai hỏi trước, ai hỏi sau là do Chủ tọa phiên tòa điều hành việc xét hỏi quyết định cho phù hợp với từng vụ án và diễn biến cụ thể tại các phiên tòa”9

Như vậy, việc Quốc hội ban hành BLTTHS năm 2015 thay thế BLTTHS năm 2003 trong đó có quy định về trình tự xét hỏi, vẫn giao trách nhiệm nặng nề cho Hội đồng xét xử là khi xét hỏi phải chứng minh tội phạm, phải xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Quy định này phù hợp với mô hình tố tụng hình sự

“pha trộn” mà Việt Nam đã và đang lựa chọn nhưng lại không phù hợp chức năng

tố tụng của Tòa án là chức năng xét xử

1.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi của Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm

Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, nếu không ai có ý kiến và yêu cầu gì thêm thì chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần thủ tục phiên tòa chuyển sang phần xét hỏi Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc Bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có, được quy định tại Điều 206 của BLTTHS năm 2003, tuy nhiên theo quy định của BLTTHS năm

2003 không quy định cụ thể Kiểm sát viên được bổ sung cáo trạng như thế nào, Kiểm sát viên có được bổ sung tất cả các nội dung hay không, hay chỉ được bổ sung những nội dung mà qua đó không làm xấu đi tình trạng pháp lý của bị cáo Theo tác giả, Kiểm sát viên có quyền trình bày ý kiến bổ sung sau khi đọc bản cáo trạng, tuy nhiên không được làm xấu đi tình trạng pháp lý của bị cáo, điều này là phù hợp với bản chất nhân đạo của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trên thực tế, việc sửa đổi bổ sung cáo trạng tại phiên tòa rất ít khi Kiểm sát viên thực hiện Nếu có việc sửa đổi bổ sung thì cũng thường là sửa đổi bổ sung về lỗi từ ngữ, sai số kỹ thuật chứ không bổ sung về nội dung hoặc những tình tiết làm khác đi nội dung cáo trạng Lý giải cho điều này là vì sau khi Viện kiểm sát truy tố

bị cáo bằng bản cáo trạng và chuyển hồ sơ cho Tòa án để xét xử thì trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, khi phát hiện bản cáo trạng không đúng với sự thật khách quan

9 Báo cáo số: 1020/BC-UBTVQH13, ngày 25/11/2015 về tiếp thu, giải trình ý kiến các vị đại biểu Quốc hội

về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)

Trang 18

của vụ án hoặc có vi phạm thủ tục tố tụng thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ

án sẽ trao đổi với Kiểm sát viên để khắc phục những thiếu sót Trong trường hợp Kiểm sát viên không thể khắc phục được mà phải trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra

để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát sẽ có Công văn rút hồ sơ để khắc phục những sai sót hoặc trường hợp Viện kiểm sát không rút hồ sơ thì Thẩm phán sẽ ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung Sau khi hồ sơ đã được khắc phục hoàn chỉnh thì chuyển qua Tòa án để xét xử Vì vậy, bản cáo trạng được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa rất hiếm khi phải sửa đổi hoặc bổ sung về nội dung

Theo quy định tại Điều 207 của BLTTHS năm 2003: “Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định” Như vậy, quá trình xét hỏi theo quy định BLTTHS năm 2003 đi theo

một thứ tự cố định, cứng nhắc là Chủ tọa phiên tòa hỏi trước và hỏi chính Chủ tọa phiên tòa xét hỏi và đưa ra các chứng cứ để chứng minh hành vi của bị cáo là phạm tội, sau khi chứng minh bị cáo có tội thì Chủ tọa lại hỏi các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để từ đó xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trong khi chức năng của Tòa án là chức năng xét xử như Hiến Pháp và pháp luật đã quy định Điều này không đúng với bản chất của Tòa án là một cơ quan tư pháp, cơ quan xét xử mà suy rộng ra là không đúng với bản chất của một nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa “Quy định trên vô hình chung trao cho Chủ tọa phiên tòa quyền quá lớn khi xét hỏi, làm cho Chủ tọa phiên tòa nói riêng, Hội đồng xét xử nói chung mất đi vai trò là một vị “trọng tài” vô tư, khách quan xem xét, đánh giá chứng cứ, lập luận của các bên” 10 (bên buộc tội và bên bào chữa) để từ đó đưa ra nhận định khách quan về vụ án

Điển hình như Bản án số 77/2016/HS-ST, ngày 01/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Long về Tội cố ý gây thương tích đối với anh Mai Quốc Khánh (Phụ lục I.1) Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Long luôn cho rằng bị cáo phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, vì sau khi xảy ra tai nạn thì bạn gái của Khánh đã chửi, xúc phạm Long,

10 Nguyễn Hồ Quân, “Một số ý kiến đối với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”, đường dẫn: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/742 , truy cập ngày 01/8/2017

Trang 19

đồng thời Khánh còn đấm vào mặt Long trước do đó tinh thần của Long bị kích động mạnh nên đã dùng dao đâm anh Khánh Đáng lẽ việc chứng minh bị cáo Long phạm tội có trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không là công việc của Kiểm sát viên và Người bào chữa Tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa đã xét hỏi và đưa ra các chứng cứ, lập luận để chứng minh rằng bị cáo phạm tội không phải trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Cụ thể là trong bản án đã đưa ra nhận định như thế nào là tinh thần bị kích động mạnh, từ đó đối chiếu với hành vi của bị cáo

và kết luận bị cáo không phải phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Sau khi đã chứng minh bị cáo Long đã có tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy

tố thì Chủ tọa phiên tòa xét hỏi đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chủ tọa hỏi người bị hại để thấy rằng người bị hại cũng có lỗi, đồng thời hỏi người bị hại đã được gia đình bị cáo bồi thường và xin lỗi chưa, có xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo không Những nội dung này là công việc của Người bào chữa, họ có trách nhiệm đưa ra chứng cứ để gỡ tội và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng Chủ tọa phiên tòa đã làm công việc này của Người bào chữa

Do đó, khi Chủ tọa phiên tòa xét hỏi bị cáo cần phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công minh, không thể hiện ý thức chủ quan của người hỏi Các câu hỏi của Chủ tọa phiên tòa chỉ mang tính gợi mở, tạo điều kiện cho bị cáo được khai báo một cách thoải mái nhất, không đặt những câu hỏi mang tính quy chụp đối với bị cáo, kể

cả trong trường hợp bị cáo khai báo không trung thực thì cũng không được có thái

độ mang tính áp đặt, dọa nạt, ép buộc mà cần phải lắng nghe bị cáo trả lời, để từ đó gợi mở ra những vấn đề để Kiểm sát viên buộc tội và người bào chữa gỡ tội

Thực tế có những vụ án, khi xét hỏi bị cáo thì Chủ tọa phiên tòa bộc lộ ngay định kiến là xét hỏi bị cáo theo hướng buộc tội, vì vậy khi bị cáo không thừa nhận lời khai của mình tại giai đoạn điều tra thì Chủ tọa công bố các bút lục ghi lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, đồng thời giáo dục bị cáo theo kiểu mớm cung như: nếu nhận tội thì được giảm nhẹ hình phạt, nếu quanh co chối tội thì sẽ không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Việc làm như vậy tạo cảm giác Chủ tọa phiên tòa đã có sẵn bản án và kết quả xét xử như thế nào thì đã được biết trước

và như vậy là không phù hợp với nguyên tắc tranh tụng theo quy định tại Điều 308 của BLTTHS năm 2015 về công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố, được

quy định: “Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên không được công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố”

Trang 20

Minh chứng cho vấn đề này thì tại Biên bản phiên tòa ngày 26 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đối với vụ án: Bùi Văn Trung, Nguyễn Văn Tuấn bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố

về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Ngô Thị Tú Nhi bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố về tội “Không tố giác tội phạm” Tại phiên tòa bị cáo Tuấn đã không thừa nhận việc thỏa thuận mua ma túy về bán với Trung mà bị cáo Tuấn chỉ nghe bị cáo Trung nói là mua ma túy về bán lại kiếm lời,

do đó bị cáo Tuấn cho rằng bị cáo không đồng phạm với Tuấn về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” mà chỉ phạm tội: “Không tố giác tội phạm” (Phụ lục II.1) Chủ tọa phiên tòa nhận thấy lời khai của bị cáo Trung tại phiên tòa đã phủ nhận lời khai trong giai đoạn điều tra nên Chủ tọa đã giáo dục bị cáo phải thành khẩn khai báo thì

sẽ được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời Chủ tọa công bố lời khai của

bị cáo tại giai đoạn điều tra và cho rằng bị cáo đã quanh co chối tội, trong khi đó Chủ tọa không hỏi bị cáo vì sao lại thay đổi lời khai, quá trình làm việc tại giai đoạn điều tra có bị ép buộc, dùng nhục hình hay không, để từ đó có cái nhìn khách quan, toàn diện hơn về vụ án và đưa ra phán quyết thuyết phục

Trong thực tiễn xét xử, thông qua việc xét hỏi Hội đồng xét xử không chỉ chứng minh bị cáo có tội (thực hiện chức năng buộc tội) mà Hội đồng xét xử còn chứng minh những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo (thực hiện chức năng gỡ tội) Mặc dù, việc Hội đồng xét xử đưa ra các căn cứ để chứng minh rằng bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và sẽ được xem xét khi quyết định hình phạt là thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước Tuy nhiên, đó là công việc, trách nhiệm của bên gỡ tội chứ không thuộc chức năng của Tòa án Điển hình như tại Bản án số 79/2016/HSST, ngày 13/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử các bị cáo Trần Văn Kỳ và Trần Văn Út về tội “Cố ý gây thương tích” Tại phiên tòa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng các tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” và “người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” cho bị cáo Kỳ, đồng thời Người bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách

nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất côn đồ” đối với bị cáo Kỳ Hội đồng xét xử đã

xét hỏi bị cáo Kỳ về các tình tiết của vụ án, về hành vi phạm tội, về trách nhiệm bồi thường đối với bị hại, để từ đó Hội đồng xét xử đã nhận định không chấp nhận đề nghị của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Do đó, Hội đồng xét

Trang 21

xử đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” và

“người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” cho bị cáo Kỳ và không

áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất côn đồ” đối

với bị cáo Kỳ (Phụ lục I.2)

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 và thực tiễn xét xử, Chủ tọa phiên tòa được hỏi bổ sung, có nghĩa là sau khi Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi xong thì Chủ tọa phiên tòa được hỏi bổ sung khi xét thấy còn những vấn đề mâu thuẫn, chưa rõ Tuy nhiên, chỉ có Chủ tọa phiên tòa và các thành viên của Hội đồng xét xử mới được quyền xét hỏi bổ sung, còn các chủ thể khác như Kiểm sát viên, Người bào chữa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì không được Do đó, các chủ thể khác phải xây dựng kế hoạch xét hỏi đầy đủ, để tránh trường hợp sau khi được xét hỏi rồi thì vẫn còn những vấn đề muốn làm sáng tỏ nhưng lại không được xét hỏi nữa Đây cũng là một vấn đề bất cập mà nguyên nhân xuất phát từ quy định của pháp luật đã đặt nặng vai trò của Hội đồng xét xử trong việc xét hỏi, trong khi trách nhiệm buộc tội và gỡ tội là của Kiểm sát viên và Người bào chữa

Với Bản án số 124/2016/HSST, ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử các bị cáo Trần Cảnh Thọ và Nguyễn Công Minh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của BLHS (Phụ lục I.3) Tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên và Người bào chữa xét hỏi thì Chủ tọa phiên tòa hỏi bổ sung bị cáo về vấn đề Cơ quan công an khám xét nơi ở, tang vật bị thu giữ, phương tiện, công cụ phạm tội (Phụ lục II.2) Hoặc tại Bản án số 96/2016/HSST, ngày 28/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử bị cáo Nguyễn Văn Duy về tội “Cướp tài sản” theo các điểm c và d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của

Bộ luật hình sự (Phụ lục I.4) Tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên và Người bào chữa xét hỏi thì Chủ tọa phiên tòa hỏi bổ sung bị cáo về công cụ phạm tội, tang vật

bị thu giữ, động cơ, mục đích thực hiện hành vi phạm tội, trách nhiệm bồi thường (Phụ lục II.3)

Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, đây là một nguyên tắc Hiến định và được pháp luật quy định cho nên nếu việc xét xử của Tòa án mà không có Hội thẩm tham gia thì sẽ không chỉ là vi hiến mà còn vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 207 BLTTHS năm 2003 thì vai trò giữa Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân không bình đẳng và độc

Trang 22

lập Mặc dù, pháp luật quy định khi tham gia phiên tòa, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, nhưng qua thực tiễn xét xử cho thấy Chủ tọa phiên tòa phải hoạt động quá nhiều ngược lại sự tham gia của Hội thẩm nhân dân mang tính hình thức,vai trò của Hội thẩm nhân dân tại phiên tòa rất mờ nhạt, thụ động

Để hoạt động xét hỏi của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đạt được hiệu quả cao nhất thì đòi hỏi cần có sự chuẩn bị và nghiên cứu hồ sơ vụ án thật kỹ lưỡng, tuy nhiên trên thực tế thì chỉ có Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu hồ sơ

vụ án, việc có nghiên cứu hồ sơ vụ án hay không phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm của Hội thẩm, Hội thẩm có tinh thần trách nhiệm sẽ nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa, quá trình nghiên cứu sẽ ghi chép, phát hiện những vấn đề sai sót, bất hợp lý của hồ sơ để từ đó có sự trao đổi giữa các thành viên Hội đồng xét xử và đưa ra phương án giải quyết Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, Hội thẩm sẽ nắm bắt được nội dung vụ án và có cơ sở xây dựng kế hoạch xét hỏi đạt chất lượng Chẳng hạn tại Bản án số 32/2014/HSST, ngày 31/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử bị cáo Hồ Trung Liêu về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự (Phụ lục I.5) Quá trình giải quyết vụ án, Hội thẩm nhân dân đã có sự đầu tư thời gian để nghiên cứu hồ sơ

vụ án, nắm bắt nội dung vụ án và các tình tiết mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng Từ đó tại phần xét hỏi, Hội thẩm nhân dân đã xét hỏi đạt chất lượng, thể hiện được vai trò là thành viên của Hội đồng xét xử là người đưa ra phán quyết cuối cùng (Phụ lục II.4)

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử hầu như Hội thẩm nhân dân không nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa, nếu có thì cũng chỉ nghiên cứu sơ sài, thậm chí có Hội thẩm chỉ cần photo bản cáo trạng để xem nội dung vụ án như thế nào và

ra xử Do đó, Hội thẩm không nắm rõ các tình tiết của vụ án, tại phiên tòa hoặc là Hội thẩm không đặt câu hỏi, hoặc là hỏi lại những vấn đề mà Chủ tọa phiên tòa đã hỏi, hoặc là chỉ hỏi vài câu hỏi cho có Chẳng hạn tại Bản án số 21/2013/HSST, ngày 12/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử các bị cáo Trần Thế Trung, Lê Đức Giang và Phan Văn Tú về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự (Phụ lục I.6) Tại phần xét hỏi, Hội thẩm nhân dân chỉ hỏi các bị cáo là nhà có ai có công với cách mạng không, hỏi gia đình các bị cáo có trách nhiệm với người bị hại chưa Phụ lục II.5) Trong khi nếu Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ thì các vấn đề này đã được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ

án Hoặc tại Biên bản phiên tòa ngày 13/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Diễn

Trang 23

Châu, tỉnh Nghệ An đối với vụ án: Trần Văn Kỳ và Trần Văn Út bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự Sau khi Chủ tọa phiên tòa hỏi tất cả các tình tiết của vụ án về hành vi gây thương tích cho bị hại, về hung khí, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đến Hội thẩm nhân dân hỏi thì cũng hỏi lại tất cả những nội dung mà Chủ tọa phiên tòa đã hỏi, điều này gây lãng phí thời gian và những người tham gia phiên tòa sẽ không đánh giá cao vai trò, năng lực của các thành viên Hội đồng xét xử

Sở dĩ không có sự đồng đều về vai trò giữa Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau:

- Thứ nhất, Hội thẩm nhân dân hiện nay còn kiêm nhiệm, quá trình cơ cấu Hội thẩm nhân dân theo từng lĩnh vực như giáo dục, y tế, tài chính, hưu trí… với mục đích là khi có các vụ án mà đương sự, bị cáo tại phiên tòa có liên quan đến các lĩnh vực nào thì sẽ được mời đến tham gia nghiên cứu hồ sơ để xét xử Tuy nhiên, mặc dù Hội thẩm có trình độ chuyên môn riêng nhưng còn hạn chế rất nhiều về trình độ pháp lý, đây là vấn đề bất cập trong thực tiễn hiện nay

- Thứ hai, nhiều trường hợp Hội thẩm nhân dân đã được Chánh án phân công xét xử vụ án nhưng đến ngày xét xử lại bận công việc không tham gia xét xử được,

do đó Tòa án phải mời Hội thẩm khác đến tham gia, Hội thẩm được mới được mời không có thời gian nghiên cứu hồ sơ nên chỉ đọc qua bản cáo trạng để biết nội dung

vụ án rồi tham gia xử Do đó, tại phiên tòa Hội thẩm sẽ không hỏi hoặc hỏi ít thậm chí là hỏi sai trọng tâm vụ án

- Thứ ba, theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thì trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân được quy định rất rõ nhưng thực tiễn trong quá trình xét xử nếu vụ án bị hủy, sửa hoặc oan, sai, bỏ lọt tội phạm thì chỉ có Thẩm phán xét xử vụ án chịu hoàn toàn trách nhiệm Chính vì vậy các Hội thẩm nhân dân chưa phát huy hết trách nhiệm và nghĩa vụ của mình

- Thứ tư, vì Hội thẩm nhân dân hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm nên ý thức trách nhiệm trong quá trình xét xử không áp dụng theo việc thi hành công vụ như ở

cơ quan của họ, tổng kết công tác thi đua khen thưởng cuối năm ở cơ quan không xem hoạt động của cán bộ, công chức kiêm nhiệm là Hội thẩm làm tiêu chí đánh giá năng lực công tác, mức độ hoàn thành nhiệm vụ Chính vì thế không phát huy được tinh thần trách nhiệm của Hội thẩm trong công tác xét xử

Trang 24

- Thứ năm, theo quy định của pháp luật và thực tiễn xét hỏi thì Chủ tọa phiên tòa là người hỏi trước và hỏi chính đối với tất cả các vấn đề cần giải quyết trong vụ

án Do đó, đến lượt Hội thẩm nhân dân hỏi thì không còn vấn đề gì để hỏi nữa, hỏi

về nội dung vụ án thì hỏi lại những câu hỏi mà Chủ tọa đã hỏi, cho nên Hội thẩm hỏi những câu hỏi cho có và không đi vào trọng tâm vụ án hoặc không xét hỏi gì thêm

1.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của Hội đồng xét xử để nâng cao hiệu quả xét hỏi tại phiên tòa

Thực hiện cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, trong những năm qua đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi tại phiên tòa còn nhiều hạn chế, bất cập trong thực tiễn, chưa tạo được sự bình đẳng giữa vai trò của các thành viên Hội đồng xét xử, trách nhiệm của Chủ tọa phiên tòa quá nặng trong khi vai trò của Hội thẩm nhân dân lại thụ động Đồng thời, quy định của pháp luật trao cho Hội đồng xét xử hay nói cách khác trao cho Tòa án chức năng quá rộng lớn bao gồm cả chức năng buộc tội và gỡ tội, trong khi chức năng của Tòa án chỉ là chức năng xét xử Do vậy, để trình tự xét hỏi hợp lý, việc xét hỏi đạt chất lượng và nâng cao tính tranh tụng hơn theo tinh thần cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013 thì pháp luật tố tụng hình sự cần sửa đổi, bổ sung theo hướng như sau:

- Không giao cho Hội đồng xét xử hỏi chính và hỏi để buộc tội bị cáo, cần đưa Hội đồng xét xử về đúng chức năng xét xử khi tham gia xét hỏi Do đó, Điều

207 của BLTTHS năm 2003 và Điều 307 của BLTTHS năm 2015 về trình tự xét hỏi được sửa đổi là Hội đồng xét xử hỏi sau cùng và hỏi những vấn đề còn chưa rõ ràng, còn có mâu thuẫn Trong quá trình xét hỏi, Chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những câu hỏi không liên quan đến vụ án hoặc những câu hỏi có tính chất gợi ý, mớm cung do các bên đưa ra

Trách nhiệm chứng minh tội phạm cần giao nghĩa vụ cho bên buộc tội là Viện kiểm sát, còn Hội đồng xét xử là vị trọng tài vô tư khách quan đứng giữa lắng nghe ý kiến, lập luận của các bên tham gia phiên tòa để đưa ra phán quyết một cách công bằng Do đó, Điều 10 của BLTTHS năm 2003 và Điều 15 của BLTTHS năm

2015 sửa đổi như sau: “Sự thật của vụ án cần được xác định một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và công bằng Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”

Trang 25

Ngoài ra, cần thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thông qua các lớp nghiệp vụ, các lớp tập huấn để đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc cải cách tư pháp

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với mô hình tố tụng hình sự kết hợp thẩm vấn và tranh tụng của Việt Nam, pháp luật tố tụng hình sự đã quy định trình tự xét hỏi của Hội đồng xét xử với tư cách là chủ thể hỏi trước và hỏi chính Hội đồng xét xử được quyền hỏi tất các vấn

đề trong vụ án về chứng minh hành vi phạm tội, về nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về trách nhiệm dân sự, vật chứng của

vụ án… Quy định của pháp luật đã trao cho Hội đồng xét xử trách nhiệm quá lớn khi xét hỏi, Hội đồng xét xử đã làm thay công việc của bên buộc tội và bên gỡ tội, trong khi trách nhiệm chính của Hội đồng xét xử chỉ là “vị trọng tài” công tâm lắng nghe và đưa ra phán quyết, thực hiện đúng chức năng xét xử của mình

Trình tự xét hỏi theo quy định của BLTTHS 2003 bộc lộ những bất cập, hạn chế với những quy định cứng nhắc, không linh hoạt làm cho trình tự xét hỏi tại phiên tòa diễn ra “khô cứng” và theo một lối mòn mà bất kỳ phiên tòa hình sự nào cũng diễn ra như vậy Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung về trình tự xét hỏi, theo đó trình tự xét hỏi đã được quy định “mềm dẻo” và linh hoạt hơn, việc quyết định ai là người hỏi trước, ai là người hỏi sau, là do Chủ tọa phiên tòa quyết định, đồng thời vai trò của các thành viên trong Hội đồng xét xử được bình đẳng hơn Việc sửa đổi, bổ sung về trình tự xét hỏi của BLTTHS năm 2015 đã làm cho các phiên tòa hình sự diễn ra sinh động, đảm bảo dân chủ và đáp ứng ngày càng tốt hơn phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp

Tuy nhiên, cũng như BLTTHS năm 2003, việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 vẫn giao trách nhiệm nặng nề cho Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử vẫn đóng ba vai trò: buộc tội, gỡ tội và xét xử Do đó, quyền tranh tụng tại phiên tòa của các chủ thể tham gia xét xử chưa thật sự được đáp ứng đúng tinh thần cải cách tư pháp Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật tố tụng hình

sự để việc xét hỏi tại phiên tòa của Hội đồng xét xử đảm bảo tính tranh tụng phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 08/NQ-TW, Nghị quyết số 49/NQ-

TW

Trang 27

CHƯƠNG 2 TRÌNH TỰ XÉT HỎI CỦA KIỂM SÁT VIÊN

VÀ NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG

2.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi và thực tiễn xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Theo quy định của pháp luật, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Kiểm sát viên thực hiện hai chức năng, đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự Đây là một quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của Kiểm sát viên

Chỉ thị số: 09/CT-VKSTC, ngày 06/4/2016 của Viện kiểm sát nhân dân Tối

cao đã yêu cầu: “ Kiểm sát viên phải thường xuyên nghiên cứu, nắm vững các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các quy định mới của luật, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức xã hội vv để chủ động tranh tụng tại phiên tòa Việc xét hỏi, luận tội, tranh luận ở phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn của Ngành Trước khi tham gia phiên tòa, yêu cầu Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc nội dung của vụ án, các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, dự kiến các vấn đề cần xét hỏi, xây dựng kế hoạch tranh luận và đối đáp tại phiên tòa Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng Kiểm sát viên không nắm chắc các tình tiết vụ án, dẫn đến không tranh luận đối đáp với Luật sư và người tham gia tố tụng Tại phiên tòa, Kiểm sát viên chủ động xét hỏi, tranh luận làm rõ các tình tiết của vụ án, các vấn đề mới phát sinh nếu có, xác định các nội dung liên quan để định hướng tranh luận, làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo Lưu ý phải đưa ra những chứng cứ tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng với ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”

Theo quy định tại Điều 207 của BLTTHS năm 2003, việc hỏi của Kiểm sát viên buộc phải hỏi theo thứ tự: Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến Hội thẩm nhân dân hỏi, sau đó mới đến lượt Kiểm sát viên hỏi Như đã đề cập tại Chương 1, việc BLTTHS năm 2003 quy định cho Hội đồng xét xử hỏi trước và xét hỏi chủ yếu tại phiên tòa là không phù hợp với nguyên tắc tranh tụng trong xét xử Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành trong đó đã sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa, do đó việc ai hỏi trước, ai hỏi sau là do Chủ tọa phiên tòa điều

Trang 28

hành việc xét hỏi quyết định cho phù hợp với từng vụ án và diễn biến cụ thể tại phiên tòa, theo đó việc xét hỏi của Kiểm sát viên không còn theo thứ tự cứng nhắc nữa mà Kiểm sát viên được hỏi lúc nào là do Chủ tọa phiên tòa quyết định Việc sửa đổi, bổ sung về trình tự xét hỏi của BLTTHS năm 2015 tạo ra một cơ chế thực

sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa11 Hơn nữa, thông qua việc xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tình tiết của vụ án làm cơ sở cho việc xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các quyết định khác Để đảm bảo điều này, BLTTHS năm 2015 quy định chủ tọa phiên tòa quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý Do vậy, Kiểm sát viên cần chủ động việc xét hỏi tại phiên tòa khi chủ tọa phiên tòa yêu cầu xét hỏi Khi được xét hỏi, Kiểm sát viên hoàn toàn có quyền hỏi ai trước, ai sau theo chủ ý của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của Chủ tọa phiên tòa Kiểm sát viên có thể chủ động đề nghị Chủ tọa phiên tòa cho hỏi bất kỳ ai nếu thấy cần thiết Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần phải có

sự chuẩn bị kỹ lưỡng và xây dựng kế hoạch xét hỏi, dự kiến những câu hỏi và dự kiến với những tình huống cụ thể có thể xảy ra tại phiên tòa để có phương án giải quyết cho phù hợp

Tại phiên tòa, xuất phát từ địa vị pháp lý của Kiểm sát viên là người thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, là người đại diện cho Viện kiểm sát để bảo

vệ cáo trạng truy tố trước phiên tòa nên Kiểm sát viên phải hỏi về toàn bộ vụ án để

có cơ sở đề xuất trong phần luận tội, đề xuất tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, Điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp… Điều đó có nghĩa là Kiểm sát viên phải bảo đảm tất cả chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án phải được kiểm tra công khai tại phiên tòa, không bỏ sót chứng cứ, tài liệu, đồ vật nào

Việc xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa là sự kiểm tra lại các chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có

ý nghĩa giải quyết vụ án đã được thu thập trong giai đoạn điều tra, truy tố để bảo vệ cáo trạng Do đó, Kiểm sát viên phải đặt những câu hỏi liên quan đến diễn biến hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo, thủ đoạn,

11 Ngô Cường “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” (sách tham khảo), năm 2017, NXB Thanh Niên, Trang 108

Trang 29

động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Hay nói cách khác, Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội của bị cáo Như vậy, Kiểm sát viên đã thực hiện chức năng gỡ tội cho bị cáo tại phiên tòa trong khi theo quy định tại Điều 23 của BLTTHS năm 2003 thì Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố cũng đồng nghĩa là thực hiện việc buộc tội bị cáo, bởi

vì “công tố” có thể hiểu là truy tố, buộc tội bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa án, nhân danh Nhà nước Do đó, sẽ là mâu thuẫn khi Kiểm sát viên hỏi tất cả các tình tiết của vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội

Trong quá trình diễn biến tại phiên tòa, để có thể chủ động tham gia xét hỏi, bên cạnh việc nắm chắc hồ sơ, nội dung vụ án, Kiểm sát viên phải theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung, diễn biến quá trình xét hỏi của Hội đồng xét xử, của Người bào chữa và ý kiến trả lời của người được xét hỏi để tránh đưa ra những câu hỏi trùng lặp Kiểm sát viên phải chú ý khai thác các mâu thuẫn phát sinh để phân tích các mâu thuẫn và đi đến bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở; dự kiến nội dung

và chuẩn bị các câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề mà Người bào chữa quan tâm Quá trình xét hỏi tại phiên tòa phải tôn trọng sự thật khách quan của vụ án Qua thẩm vấn, xét hỏi công khai tại phiên tòa có thể phát sinh những tình tiết, chứng cứ khác với những tình tiết, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều trahoặc có những tình tiết, chứng cứ mới mà hồ sơ vụ án chưa có Tại phiên tòa, khi có người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu mới, Kiểm sát viên cùng với Hội đồng xét xử cần phải kiểm tra về nguồn gốc xuất xứ, về tính hợp pháp và tính có căn cứ của tài liệu sau

đó mới phân tích nội dung tài liệu để Hội đồng xét xử có căn cứ đánh giá, quyết định tuyên án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung vụ án

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phải bảo vệ Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội gì, điều khoản nào của Bộ luật hình sự Thông qua hoạt động xét hỏi tại phiên tòa để Kiểm sát viên chứng minh bị cáo phạm tội mà cáo trạng đã truy tố Chất lượng xét hỏi của Kiểm sát viên ngày càng được nâng cao, những câu hỏi của Kiểm sát viên

để bảo vệ cáo trạng, cũng như làm sáng tỏ các vấn đề khác của vụ án Vì vậy, đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 30

những người tham gia tố tụng Có thể thấy được vai trò xét hỏi của Kiểm sát viên qua các vụ án sau:

- Vụ án thứ nhất: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2017/HS-ST, ngày 21/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã xét xử hai bị cáo Phạm Hoàng Thái và Đỗ Văn Luân về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Bộ luật hình sự (Phụ lục I.7)

Trong vụ án này, tại Cơ quan cảnh sát điều tra thì bị cáo Luân khai nhận là khi Thái nói Luân dừng xe lại để mượn điện thoại của cháu Kiên thì Luân hiểu ý của Thái là Thái đến chiếm đoạt điện thoại của Kiên Tuy nhiên, tại phiên tòa, Luân lại phản cung, Luân khai rằng Thái nói Luân dừng xe lại để Thái mượn điện thoại của Kiên, Luân nghĩ là Thái không có điện thoại nên muốn mượn điện thoại của Kiên để gọi cho ai đó, chứ Luân không biết Thái có ý định chiếm đoạt điện thoại của Kiên, đồng thời Luân dừng xe cách xa và phía trước chỗ cháu Kiên đứng, do đó Luân không nhìn thấy Thái chiếm đoạt điện thoại của Kiên, khi Thái đi đến chỗ Luân, nói Luân nổ máy xe chạy đi thì Luân nghe và làm theo, do đó Luân cho rằng Luân không phạm tội “cướp giật tài sản” với vai trò đồng phạm như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố

Để bảo vệ cáo trạng và chứng minh tội phạm, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã tiến hành xét hỏi bị cáo Phạm Hoàng Thái là bị cáo khai báo thành thật, với các nội dung xoay quanh về mối quan hệ giữa Thái và Luân, về hoàn cảnh, điều kiện và hành vi chiếm đoạt tài sản Từ lời khai thành khẩn của Thái, tất cả những lời khai quanh co chối tội của bị cáo Luân đã được làm sáng tỏ, vì vậy bị cáo Luân đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (Phụ lục II.6)

- Vụ án thứ hai: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HS-ST, ngày 18/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã xét xử hai bị cáo

Dương Thái Chung và Vũ Thị Dịu về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” (Phụ lục I.8) Trong vụ án này, quá trình điều tra và tại

phiên tòa bị cáo Dương Thái Chung cho rằng bị cáo không phạm tội, việc bị cáo Chung va chạm với xe của Dịu và gây tai nạn là sự kiện bất ngờ vì Chung không thể xử lý được khi bất ngờ Dịu chuyển hướng mà không có tín hiệu báo chuyển hướng

Để bảo vệ Cáo trạng và chứng minh tội phạm, tại phần xét hỏi, Kiểm sát viên

đã tiến hành xét hỏi bị cáo Dương Thái Chung về điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của bị cáo; Khoảng cách giữa xe của bị cáo và xe của bị cáo

Trang 31

Dịu, tốc độ giữa hai xe; Ý thức tham gia giao thông của bị cáo như thế nào khi xe xuống dốc và đường cong; Vì sao khi xe bị cáo Dịu chuyển hướng bị cáo không cho

xe dừng lại mà lại điều khiển xe chạy vượt lên trên Với những câu hỏi đó của Kiểm sát viên, bị cáo đã khai bị cáo bị hỏng một mắt nên không đủ điều kiện cấp giấy phép lái xe Khoảng cách giữa xe bị cáo và xe bị cáo Dịu là khoảng 3m, tốc độ khoảng 50km/h Bị cáo biết khi xe xuống dốc và đi vào đường cong thì phải giảm tốc độ nhưng bị cáo đã không giảm tốc độ Vì bị cáo bị hư một mắt nên tầm nhìn hạn chế, do đó khi Dịu cho xe chuyển hướng bị cáo bị bất ngờ, bị cáo đã phanh xe nhưng vì tốc độ cao và khoảng cách giữa hai xe quá gần nên bị cáo phải điều khiển

xe chạy lên phía trên để tránh xe của bị cáo Dịu Kiểm sát viên đã đưa ra các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ để chứng minh bị cáo đã có lỗi gây ra tai nạn giao thông Sau khi nghe Kiểm sát viên phân tích và chứng minh tội phạm, bị cáo Chung đã thừa nhận hành vi phạm tội (Phụ lục II.7)

Sau khi chứng minh tội phạm (buộc tội bị cáo), tại phần xét hỏi, Kiểm sát viên đã hỏi đại diện hợp pháp của bị hại về yêu cầu bồi thường, về yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Đồng thời, Kiểm sát viên đã tác động, động viên để đại diện hợp pháp của bị hại và các bị cáo thỏa thuận với nhau về trách nhiệm dân

sự, phương án bồi thường để làm cơ sở áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo (gỡ tội cho bị cáo)

Qua dẫn chứng hai vụ án trên đã cho thấy vai trò tích cực của Kiểm sát viên tại phần xét hỏi cũng như xuyên suốt quá trình diễn ra phiên tòa Bằng kiến thức vững vàng, sự chuẩn bị kỹ lưỡng, nắm chắc hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên đã đưa ra những câu hỏi sắc bén, khai thác từng khía cạnh của vấn đề, từ đó bị cáo đã tự nguyện nhận tội, Kiểm sát viên còn làm sáng tỏ những vấn đề khác của vụ án Như vậy, Kiểm sát viên cùng với Hội đồng xét xử đã nhắm đến cái đích cuối cùng là chứng minh tội phạm và giải quyết triệt để toàn bộ vụ án

Tại Công văn số 13-CV/BCĐCCTP ngày 04/11/2003 của Ban chỉ đạo cải

cách tư pháp đã khẳng định: “Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phải bảo vệ cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tại phiên tòa; chứng minh mọi luận điểm trong cáo trạng bằng việc chủ động xét hỏi, thẩm vấn, đưa ra nhữngchứng cứ trực tiếp và những chứng cứ gián tiếp để chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết từng sự việc của vụ án” Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có

nhiều phiên tòa Kiểm sát viên đã không thực hiện hoặc thực hiện chưa tích cực chức năng nhiệm vụ của mình đã được pháp luật trao cho Kiểm sát viên chưa chủ

Trang 32

động xét hỏi hoặc chỉ hỏi những câu hỏi có tính chất bổ sung còn việc hỏi để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án vẫn do Chủ tọa phiên tòa thực hiện

- Dẫn chứng vụ án như sau: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2016/HS-ST, ngày 27/9/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã xét xử hai bị cáo Lê Văn Huỳnh và Dương Trương Giác về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự (Phụ lục I.9) Quá trình xét

xử vụ án này, tại phần xét hỏi, sau khi Hội đồng xét xử xét hỏi xong, Chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên xét hỏi, tuy nhiên Kiểm sát viên chỉ hỏi bị cáo là: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku truy tố các bị cáo như vậy có đúng người đúng tội hay không? Các bị cáo trả lời: Các bị cáo bị truy tố như vậy là đúng người đúng tội Sau đó, Kiểm sát viên ý kiến, xét thấy các tình tiết của vụ án đã rõ, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong hồ sơ và tại phiên tòa ngày hôm nay nên không xét hỏi

gì thêm (Phụ lục II.8) Như vậy đối với một vụ án nghiêm trọng về mua bán ma túy, hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội và các bị cáo có dấu hiệu che dấu các đối tượng khác trong việc mua, bán ma túy nhưng Kiểm sát viên đã không đấu tranh

để giải quyết triệt để vụ án mà cả phần xét hỏi Kiểm sát viên chỉ hỏi có một câu duy nhất là cáo trạng truy tố các bị cáo có đúng không Nếu chỉ hỏi một câu duy nhất là cho rằng đã chứng minh đầy đủ đối với vụ án, thì ngay sau khi Kiểm sát viên công

bố bản cáo trạng, câu hỏi đầu tiên của Chủ tọa phiên tòa là các bị cáo có nghe rõ bản cáo trạng Kiểm sát viên vừa công bố không, cáo trạng truy tố các bị cáo có đúng không Các bị cáo trả lời cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng thì xem như phần xét hỏi đã xong và không cần xét hỏi gì thêm nữa

- Hoặc dẫn chứng một vụ án khác: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2016/HS-ST, ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã xét xử bị cáo Ngô Văn Hà về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản

1 Điều 143 của Bộ luật hình sự (Phụ lục I.10) Quá trình xét xử vụ án này, sau khi Hội đồng xét xử xét hỏi, đến Kiểm sát viên chỉ hỏi bị cáo một câu hỏi là: Khi dùng quẹt mở nắp xăng để đốt, ý chí bị cáo có muốn xe cháy hết hay không? Bị cáo trả lời: thưa Viện kiểm sát khi đốt xe của anh Đại bị cáo muốn xe cháy toàn bộ (Phụ lục II.9) Vụ án này có nhiều vấn đề cần phải được giải quyết tại phiên tòa như: động cơ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, ý thức của bị cáo trong việc đốt xe của bị hại, có đồng phạm trong vụ án này hay không, vì khi bị cáo Hà đốt xe của anh Đại thì có Vi Hùng Nhi và Lý Hoàng Hảo đi cùng với bị cáo Hà và trực tiếp

Trang 33

nhìn thấy bị cáo Hà đốt xe của anh Đại, ngoài ra còn giải quyết về vật chứng của vụ

án, trách nhiệm dân sự Tuy nhiên, Kiểm sát viên đã không tích cực trong việc xét hỏi để giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, mà chỉ đặt một câu hỏi về ý chí của bị cáo khi đốt xe của bị hại, mặc dù biết rằng đặt câu hỏi này để Kiểm sát viên xác định ý thức của bị cáo khi phạm tội, làm cơ sở bảo vệ cáo trạng là bị cáo phạm tội hủy hoại tài sản chứ không phải phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản, nhưng nếu Kiểm sát viên chỉ hỏi vỏn vẹn một câu hỏi như vậy sẽ làm cho những người tham gia tố tụng cũng như những người tham dự phiên tòa có trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế sẽ không hiểu Kiểm sát viên đặt câu hỏi đó nhằm mục đích gì mà chỉ hỏi một câu rồi thôi

Việc Kiểm sát viên không tích cực xét hỏi có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau:

- Thứ nhất, xuất phát từ quan niệm cho rằng việc xét hỏi tại phiên tòa là trách nhiệm của Hội đồng xét xử, còn Kiểm sát viên chỉ có nhiệm vụ bảo vệ cáo trạng và kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ thể hiện vai trò của mình ở giai đoạn tranh luận Do đó, Kiểm sát viên thường có tâm lý “ỷ lại” và để cho Hội đồng xét hỏi tất

- Thứ ba, trình độ, năng lực của một số Kiểm sát viên còn hạn chế; việc nghiên cứu hồ sơ, chứng cứ một số vụ án chưa kỹ, chưa toàn diện, còn có biểu hiện chủ quan, không xây dựng hoặc xây dựng sơ xài đề cương xét hỏi Do đó, khi đến phiên tòa Kiểm sát viên không xét hỏi hoặc chỉ xét hỏi cho có, các câu hỏi không vào trọng tâm vụ án

Trang 34

2.2 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi và thực tiễn xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm của những người tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm

2.2.1 Quy định của pháp luật về trình tự xét hỏi và thực tiễn xét hỏi của Người bào chữa tại phiên toà sơ thẩm

Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã nêu rõ:

“Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ”;

“việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa… để đề ra những bản án, quyết định đúng pháp luật”; “các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tranh luận dân chủ tại phiên tòa” Bị can, bị

cáo hoặc thân nhân của bị can, bị cáo đã chủ động tìm đến Người bào chữa để được

tư vấn, nhờ bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình và người thân của họ

BLTTHS năm 2003 không đưa ra định nghĩa về Người bào chữa mà chỉ quy định những người có thể làm Người bào chữa là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về “Người bào chữa là người được người bị buộc

tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được

cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”

Đồng thời, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm những người có thể làm Người bào chữa đó là ngoài Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân thì còn có thêm đối tượng là Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý

Tuy nhiên, không phải người nào cũng có thể làm Người bào chữa Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của BLTTHS năm 2003 thì những người sau đây không được bào chữa: Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó; Người tham gia trong vụ án

đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch Tại khoản 4 Điều 72 của BLTTHS năm 2015 đã quy định chặt chẽ, cụ thể và đầy đủ hơn BLTTHS năm 2003 về những người không được bào chữa, đó là: Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng

vụ án đó; Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xóa án tích, người đang bị

Trang 35

áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc

Có thể nói, vai trò của Người bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo Người bào chữa còn giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách khách quan, đúng pháp luật, tránh những vụ án oan, sai, góp phần tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp do Bộ Chính trị đề ra

Theo quy định của Điều 207 BLTTHS năm 2003 thì khi xét hỏi từng người, Người bào chữa hỏi sau Chủ tọa phiên tòa, các Hội thẩm và Kiểm sát viên Việc BLTTHS quy định Người bào chữa thực hiện việc xét hỏi sau Kiểm sát viên là hợp

lý, bởi vì chỉ sau khi xét hỏi buộc tội rồi mới đến xét hỏi gỡ tội được Về nguyên tắc thì Người bào chữa bình đẳng với Kiểm sát viên trong xét hỏi, do đó để hỏi ai, hỏi

về cái gì, hỏi như thế nào lại là quyền của Người bào chữa, nhưng việc xét hỏi của Người bào chữa phải được đảm bảo thực hiện trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan của vụ án và sử dụng các biện pháp hợp pháp, tuân thủ các quy định của BLTTHS Người bào chữa không được xúi giục bị cáo cố tình khai báo sai sự thật Nhiệm vụ của Người bào chữa là gỡ tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vì vậy tôn trọng sự thật khách quan không có nghĩa là Người bào chữa phải làm rõ các tình tiết buộc tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà Hội đồng

xét xử, Kiểm sát viên, Người bào chữa khác chưa hỏi đến

Khác với việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, Người bào chữa có thể đặt các dạng câu hỏi khác nhau tùy theo phương pháp của từng Người bào chữa Việc xét hỏi của Người bào chữa không chỉ về các tình tiết của vụ án, mà còn làm sáng tỏ các yếu tố liên quan đến vụ án như mối quan hệ giữa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân bị cáo… điều này giúp cho Hội đồng xét xử có sở sở để đánh giá chính xác, khách quan các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án

Theo tinh thần cải cách tư pháp, mô hình tố tụng thẩm vấn truyền thống được kết hợp với mô hình tố tụng tranh tụng Vì vậy, hoạt động thẩm vấn tại phiên tòa là rất quan trọng, hoạt động này nhằm kiểm tra chéo các chứng cứ, người làm chứng

để xác định tính đúng đắn, xác thực của lời khai có phù hợp với các tài liệu, chứng

cứ khác trong hồ sơ vụ án Các tài liệu, chứng cứ, lời khai đó có được thu thập đúng quy định của pháp luật hay không Thông qua xét hỏi tại phiên tòa, các bên có

Trang 36

quyền đưa ra ý kiến, quan điểm nhận xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ của mình

và các vấn đề có liên quan đến vụ án Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 quy định quyền thu thập chứng cứ chỉ do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện, quy định gánh nặng xét hỏi cho Tòa án, trong khi đó Người bào chữa không được quyền chủ động thu thập chứng cứ, do đó làm hạn chế khả năng tranh tụng của họ tại phiên tòa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định Người bào chữa trong vụ án hình sự có quyền xác minh, thu thập chứng cứ để bào chữa cho bị can, bị cáo Do

đó, Người bào chữa chủ động lập kế hoạch để tự xác minh, thu thập chứng cứ khi thấy cần thiết Những tài liệu, chứng cứ mà Người bào chữa thu thập được sẽ là cơ

sở để Người bào chữa xây dựng được kế hoạch xét hỏi đầy đủ, đúng trọng tâm, hỏi những vấn đề cần làm rõ, không bỏ sót, không hỏi thừa những vấn đề cần hỏi, như vậy việc xét hỏi tại phiên tòa của Người bào chữa mới đạt hiệu quả cao nhất

Qua thực tiễn xét xử có những vụ án mà Người bào chữa đã tiến hành xét hỏi

có chất lượng và thực hiện đúng chức năng của mình là gỡ tội Điển hình như: Tại Bản án số 68/2016/HSST ngày 19/5/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku,

tỉnh Gia Lai đã xét xử bị cáo Nguyễn Phạm Minh Nhân về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của BLHS

Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Người bào chữa cho bị cáo Nhân

đã nghiên cứu hồ sơ vụ án kỹ và xây dựng kế hoạch xét hỏi khá tốt, vì vậy Người bào chữa đã đặt những câu hỏi đối với bị cáo để chứng minh việc Viện kiểm sát nhận định và truy tố bị cáo Nhân với các lỗi sau: điều khiển xe đi vào đường cấm, chạy quá tốc độ, khi cho xe chuyển hướng không quan sát và giảm tốc độ và đã tông trực tiếp vào xe mô tô của bị hại là không đúng Sau khi chứng minh cho Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Nhân không vi phạm các lỗi mà Viện kiểm sát đã truy

tố, Người bào chữa lại tiếp tục chứng minh bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, làm cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (Phụ lục I.11)

Hoặc vụ án Huỳnh Văn Nén bị kết án oan về tội “Giết người” đã phải chấp hành án oan hơn 17 năm tù.T heo hồ sơ vụ án thì tối ngày 23/4/1998, ông Huỳnh Văn Nén đã dùng đoạn dây thừng làm hung khí giết bà Lê Thị Bông và cướp tài sản Tại Bản án số 96/2000/HSST ngày 31/8/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã xử phạt ông Nén tù chung thân về tội “Giết người”, 03 năm tù về tội

“Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Cố ý hủy hoại tài sản của công dân” Tuy nhiên, vụ án có nhiều điều bất hợp lý và có dấu hiệu oan sai, vì vậy các Luật sư đã

Trang 37

vào cuộc để tìm ra chân lý của sự việc Các Luật sư đã nghiên cứu hồ sơ vụ án và phát hiện ra hàng loạt những sai phạm trong quá trình điều tra vụ án như: về vật chứng của vụ án, về hành vi của ông Nén khi giết bà Bông, mâu thuẫn lời khai của

bị cáo và người làm chứng…Từ đó, các Luật sư đã có những kiến nghị đối với các

cơ quan có thẩm quyền để xem xét lại vụ án Vì vậy, tại Quyết định giám đốc thẩm

số 64/HS-GĐT, ngày 12/11/2014 của Tòa án nhân dân Tối cao đã hủy toàn bộ bản

án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận để điều tra lại Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận đã đình chỉ điều tra vụ án vì không chứng minh được ông Nén có hành vi phạm tội

Qua hai vụ án nêu trên đã thấy được vai trò chủ động, tích cực của Người bào chữa, Người bào chữa đã nghiên cứu hồ sơ vụ án kỹ lưỡng, nắm bắt chặt chẽ các tình tiết của vụ án, đưa ra câu hỏi súc tích, rõ ràng và đúng vào trọng tâm những vấn đề cần bào chữa cho bị cáo Đồng thời, qua đó cũng thấy được cái tâm và trách nhiệm của Người bào chữa trong việc tìm ra chân lý, sự thật khách quan của vụ án, đem lại công bằng cho nhân dân và đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật

Tuy nhiên, bên cạnh đó thì việc tham gia phiên tòa của Người bào chữa cũng còn có nhiều hạn chế, nhất là những trường hợp mà Người bào chữa tham gia khi được Tòa án chỉ định đối với những trường hợp bắt buộc phải có Người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của BLTTHS năm 2003 Người bào chữa tham gia phiên tòa chỉ mang tính hình thức, việc xét hỏi tại phiên tòa chưa bảo đảm chất lượng, xét hỏi vòng vo, lặp lại những câu hỏi mà Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên đã hỏi hoặc thậm chí không hỏi Có những vụ án, Người bào chữa không nghiên cứu

hồ sơ, không nắm bắt được các tình tiết của vụ án mà chỉ đọc kết luận điều tra và bản cáo trạng, trong khi kết luận điều tra và bản cáo trạng là những văn bảnbuộc tội

bị cáo, mà chức năng của Người bào chữa là gỡ tội cho bị cáo Chính vì điều này

mà ngay từ đầu xem như Người bào chữa “đã thỏa hiệp” với Viện kiểm sát là bị cáo

có tội, việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, Người bào chữa không còn vấn đề

gì để hỏi mà chỉ hỏi những câu hỏi mang tính hình thức về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo để khi tranh luận nhắc lại cho Hội đồng xét xử xem xét Tuy nhiên, đối với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cho dù Người bào chữa không đề nghị thì Hội đồng xét xử vẫn phải xem xét để áp dụng cho bị cáo

Qua thực tiễn xét xử, có rất nhiều vụ án để minh chứng cho vấn đề này Tại Bản án số 32/2014/HSST ngày 31/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu,

Trang 38

tỉnh Nghệ An đã xét xử bị cáo Hồ Trung Liêu về tội “Cố ý gây thương tích” theo

khoản 2 Điều 104 của BLHS (Phụ lục I.5) Bị cáo Hồ Trung Liêu đã mời Luật sư để bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa Tuy nhiên, tại phiên tòa Luật sư đã không đặt ra câu hỏi nào đối với bị cáo hay những người tham gia tố tụng khác Trong khi đây là

vụ án có nhiều tình tiết xảy ra liên tiếp, đan xen nhau, cần được khai thác làm rõ Theo hồ sơ vụ án thì trước đó bị hại ông Lê Văn Mạo đã tự ý xông vào vườn nhà bị cáo Liêu để bắt gà, sau đó bà Thanh là vợ bị cáo Liêu qua nhà ông Mạo để nói chuyện thì ông Mạo đã dùng tay tát liên tiếp vào mặt bà Thanh Tiếp đó, anh Hiếu

là con ông Mạo đã cầm dao xông vào nhà bị cáo Liêu đe dọa Trường hợp này Luật

sư cần xét hỏi về động cơ, ý thức, tinh thần của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội như thế nào Bị hại và gia đình bị hại có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng với

bị cáo hoặc người thân của bị cáo không, khi thực hiện hành vi gây thương tích cho ông Mạo và anh Hiếu thì tinh thần của bị cáo như thế nào, có bị kích động mạnh không Trên cơ sở nội dung xét hỏi như vậy, Luật sư sẽ có cơ sở để xây dựng luận

cứ bào chữa theo hướng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh theo quy định tại Điều 105 của BLHS Nhưng trong vụ án này, Luật sư đã không có tinh thần trách nhiệm cao đối với thân chủ của mình, bị cáo đã không được Luật sư trợ giúp về mặt pháp lý và cũng không được Luật sư bào chữa theo hướng có lợi nhất, trong khi vụ án có rất nhiều tình tiết để Luật sư khai thác

Đối với các vụ án mà Người bào chữa là các Luật sư được chỉ định thì hầu hết là các Luật sư không có ý kiến về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố mà Luật

sư chỉ hỏi về hoàn cảnh gia đình bị cáo, vấn đề bồi thường thiệt hại… để khi tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho

bị cáo Thực tiễn xét xử cho thấy phần lớn tại các phiên tòa mà có Luật sư chỉ định thì nội dung xét hỏi của Luật sư chỉ là về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

mà hiển nhiên các bị cáo sẽ được áp dụng, chỉ có ít phiên tòa các Luật sư hỏi về các vấn đề liên quan đến tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, các vấn đề về những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đồng xét xử phải xem xét để áp dụng như: phạm tội nhưng chưa gây thiệt hoặc gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra…

Việc Người bào chữa không chủ động và chưa tích cực trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w