ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TP.. HCM trong giai đoạn 2012-2016, tá
Trang 1KHOA LUẬT HÌNH SỰ
TRẦN THỊ NGUYỆT
PHÒNG NGỪA “TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ”
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2013 – 2017
GVDH: THẠC SĨ ĐINH HÀ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2013 – 2017
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS ĐINH HÀ MINH
Giảng viên khoa Luật hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Phòng ngừa tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi thực hiện Kết quả nghiên
cứu trong Khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Tác giả
Trần Thị Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện, tác giả đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”
Để hoàn thành được khóa luận này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy, Cô trường Đại học Luật Tp HCM đã tận tình dìu dắt, dạy dỗ truyền đạt kiến thức cơ bản làm nền tảng lý luận giúp tác giả chọn và thực hiện đề tài này
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn, Thạc sĩ Đinh Hà Minh đã nhiệt tình giúp đỡ, định hướng, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa luận đạt hiệu quả cao nhất Bên cạnh hướng dẫn về chuyên môn, sự động viên về tinh thần của cô giúp tác giả tự tin hơn khi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu Một lần nữa xin chân thành cảm ơn cô Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Phòng cảnh sát giao thông đường bộ
- đường sắt Công an thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tác giả thu thập thông tin, tài liệu, số liệu để hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên giúp đỡ tác giả hoàn thiện khóa luận này
Trân trọng
Sinh viên: Trần Thị Nguyệt
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài. 1
2.Tình hình nghiên cứu. 3
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. 5
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. 5
5 Phương pháp nghiên cứu. 6
7 Cấu trúc của Khóa luận. 8
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ. 9
1.1 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. 9
1.1.1 Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 9
1.1.2 Phân biệt tội phạm “VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ” và vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATGT đường bộ 17
1.2 Lý luận chung về phòng ngừa tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. 18
1.2.1 Khái niệm và nội dung của phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. 18
1.2.2 Chủ thể phòng ngừa. 19
1.2.3 Các biện pháp phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. 22
1.2.4 Nguyên tắc phòng ngừa tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. 23
1.2.5 Ý nghĩa của hoạt động phòng ngừa. 26
Trang 6PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. 27
2.1 Thực trạng phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM. 27
2.1.1 Thực trạng về hệ thống pháp luật, lý luận và chính trị - pháp lý 27
2.1.2 Thực trạng tổ chức lực lượng phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 37
2.1.3 Thực trạng triển khai áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM. 39
2.2 Dự báo tình hình tội phạm. 51
2.2.1 Cơ sở của dự báo. 51
2.2.2.Nội dung của dự báo 53
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM. 59
3.1 Tham khảo hoạt động phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại một số quốc gia trên thế giới. 59
3.2 Một số giải pháp phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại thành phố Hồ Chí Minh. 63
3.2.1 Tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ sở lý luận, cơ sở chính trị - pháp lý phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ 63
3.2.2 Tăng cường lực lượng phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ tại Tp HCM 69
3.2.3 Tăng cường triển khai áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ 72
KẾT LUẬN 80
Trang 7VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện thành công tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta thì việc xây dựng, phát triển hệ thống giao thông nói chung, giao thông đường bộ nói riêng là một trong những vấn đề được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Bởi, giao thông vận tải là ngành sản xuất vật chất thuộc cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, có vị trí chiến lược trong công cuộc xây dựng, phát triển Kinh tế - Xã hội và bảo đảm Quốc phòng - An ninh của đất nước Những tuyến đường cũ được mở rộng, nâng cấp kỹ thuật với chất lượng tốt hơn như: Quốc lộ (QL) 1A, QL 5, QL 27; những tuyến đường mới được xây dựng như đường Hồ Chí Minh, các tuyến đường cao tốc, hầm đường bộ Hải Vân
Đặc biệt, với vị trí là đô thị lớn nhất, là đầu tàu kinh tế của cả nước – Thành phố
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, mạng lưới đường bộ dày đặt với những tuyến đường liên vùng lớn và hiện đại, các tuyến quốc
lộ trọng điểm, các tuyến đường cao tốc nối các vùng Miền Tây và Đông Nam Bộ Đồng thời cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, Tp HCM thu hút một số lượng lớn lao động, sinh viên từ các tỉnh trong cả nước Vì vậy dân số tại Tp HCM tăng khá cao, theo thông tin thống kê của Tổng cục thống kê vào năm 2016 dân số trung bình của Tp HCM
là 8.620.000 người, với mật độ dân số sấp xỉ 4.112 người/km2, Tp HCM là nơi có mật
độ dân số cao nhất cả nước
Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển này thì tình hình TNGT tại Tp HCM ngày càng nhiều, tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ ngày càng gia tăng Gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, thiệt hại về người và tài sản vô cùng lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự, an toàn xã hội của nước ta hiện nay Theo thống kê của Phòng CSGT đường bộ - đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 - năm 2016 trên địa bàn thành phố xảy ra 4.435 vụ TNGT đường bộ từ mức ít nghiêm trọng trở lên
Trang 9làm 3.808 người chết, 1.596 người bị thương, gây hư hỏng 5.533 xe các loại đặc biệt năm 2014 Tp HCM được xem là nơi có số vụ TNGT cao nhất cả nước Cùng với tình hình thay đổi của TNGT tại Tp HCM như đã đề cập, tình hình tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ tại Tp HCM cũng diễn biến vô cùng phức tạp Những năm qua, cùng với nổ lực chung của cả nước các cấp Đảng ủy, chính quyền địa phương, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân Tp HCM đã có nhiều chủ trương, kế hoạch, giải pháp tổ chức triển khai thực hiện nhằm giảm thiểu TNGT và đã đạt được những kết quả tích cực Tình hình trật tự ATGT nói chung, giao thông đường
bộ nói riêng đã có những chuyển biến mới, TNGT giảm về số vụ tai nạn, số người chết
và bị thương, thiệt hại về tài sản cũng có xu hướng giảm Tuy nhiên tình hình vi phạm trật tự ATGT, tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ vẫn còn diễn biến phức tạp, số
vụ TNGT đường bộ và số vụ phạm tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ còn ở mức cao, vẫn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Thực trạng trên cho thấy, các giải pháp mà chính quyền Tp HCM đưa ra trong thời gian qua vẫn còn chưa sát với tình hình tội phạm này, cần phải có những giải pháp hợp
lý hơn, hiệu quả hơn Do vậy, việc nhận thức đúng đắn tình hình tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM, xác định nguyên nhân điều kiện, những thiệt hại phải gánh chịu, phát hiện những yếu kém trong công cuộc phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ để đưa ra những giải pháp phòng ngừa hiệu quả hơn, làm hạn chế đến mức thấp nhất TNGT đi đến giảm và xóa bỏ tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ là vô cùng cấp bách
Trước tình hình trên, với mong muốn góp một phần nhỏ nhằm làm giảm mạnh tình hình TNGT nói chung và tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng Tác giả đã chọn đề tài “Phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện Khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
TNGT đường bộ ngày càng diễn biến phức tạp, với những thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng và tài sản, chính vì vậy mà đây được xem là một trong những hiện tượng xã hội thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự, cán bộ thực tiễn
với nhiều góc độ và mục đích nghiên cứu khác nhau Điểm lại từ khi Bộ luật hình sự
năm 1999 ra đời có hiệu lực thi hành cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố từ các sách chuyên khảo, tham khảo, Luận án, Luận văn, Khóa luận đến
các công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí Một số công trình tiêu biểu:
Nhóm thứ nhất: các sách chuyên khảo, tham khảo:
Năm 2003, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã xuất bản cuốn sách mang tên “Trật
tự an toàn giao thông đường bộ thực trạng và giải pháp” của tập thể tác giả gồm Tiến sĩ Trần Văn Luyện, kỹ sư Trần Sơn và cử nhân Nguyễn Văn Chính Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình giao thông và TNGT trên toàn quốc từ năm 1999 đến năm 2002, nhóm tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình hình TNGT đường bộ từ đó đưa ra những giải pháp để đảm bảo trật tự ATGT đường bộ
Năm 2004 tác giả Đinh Văn Quế đã biên soạn cuốn sách “ Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm: Các tội xâm phạm quy định về an toàn giao thông – Bình luận chuyên sâu tập 7”
Năm 2008, Nhà xuất bản Công an nhân dân cũng đã xuất bản cuốn sách “Hoạt động phòng ngừa TNGT đường bộ ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Hoàng Đình Ban biên soạn
Nhóm thứ hai các luận án, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học khác:
Năm 2001 Tiến sĩ Bùi Kiến Quốc đã có Luận án tiến sĩ luật học với đề tài: “Các biện pháp đấu tranh phòng chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Hà Nội” Tiến sĩ đã đi từ việc nghiên cứu các quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ qua các thời kỳ lập pháp ở Việt Nam có sự so sánh với luật hình sự ở một số nước, sau đó đưa ra những phân tích, đánh
Trang 11giá của mình Chỉ ra các nguyên nhân điều kiện dẫn đến những hạn chế bất cập trong lý luận và thực tiễn để từ đó đưa ra các kiến nghị đề xuất giải pháp phòng ngừa tội phạm này
Luận văn thạc sĩ luật học “Phòng, chống tội phạm giao thông đường bộ bằng pháp luật hình sự từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Dương Bửu Chánh thực hiện năm 2007, tác giả đã đi từ nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng chống các tội phạm
về ATGT đường bộ bằng pháp luật hình sự và có xem xét đến sự tác động của các văn bản pháp luật khác có liên quan, để qua đó đưa ra những giải pháp kiến nghị hoàn thiện
hệ thống pháp luật hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan khác
Luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại tỉnh Long An” của tác giả Phạm Thị Thanh Thảo, Đại học Luật Tp HCM
Luận văn thạc sĩ luật học “Hoạt động phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên các tuyến giao thông đường tỉnh, đường huyện, đường xã của lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an tỉnh Đồng Nai” của tác giả Đặng Thế Trung, Đại học cảnh sát nhân dân Tp HCM
“Đấu tranh phòng chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và Bến Tre”, Luận văn thạc sĩ luật học năm
2010 của tác giả Ngô Hoàng Huy, Đại học Luật Tp HCM
“Phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ trên địa bàn tỉnh Bình Thuận từ đặc điểm nhân thân của người phạm tội”, Luận văn thạc sĩ luật học năm 2015 tác giả Ngô Minh Hải, Đại học Luật Tp HCM
Như vậy, có thể tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên đây là một vấn đề khá phức tạp mà nhiều năm qua vẫn chưa có giải pháp phòng ngừa hiệu quả trong khi đó các công trình nghiên cứu này hoặc là nghiên cứu quá rộng, hoặc nghiên cứu quá chuyên sâu, hoặc nghiên cứu ở địa bàn khác không phải là
Trang 12Hồ Chí Minh Hơn nữa, tình hình hiện nay cho thấy tội vi phạm quy định về ATGT đường bộ không chỉ dừng lại ở đối tượng điều khiển phương tiện giao thông mà cả những đối tượng tham gia giao thông đường bộ khác cũng có vi phạm Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tác giả đã thực hiện công trình Khóa luận “Phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để có góc nhìn chính xác hơn và có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn
về loại tội phạm này
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vụ án hình sự “tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” từ năm 2012 – 2016 và công tác phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn Tp HCM
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về không gian: Khóa luận nghiên cứu “tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” trên phạm vi địa bàn Tp HCM
- Phạm vi về thời gian: Thông tin tài liệu được nghiên cứu khảo sát từ năm 2012 đến năm 2016
- Phạm vi nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dưới góc độ tội phạm học Từ thực trạng phòng ngừa và tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại địa bàn Tp HCM trong giai đoạn 2012-2016, tác giả đưa ra dự báo về tình hình tội phạm và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ tình hình tội phạm và thực trạng phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM từ năm 2012
Trang 13– năm 2016 để đưa ra các giải pháp phòng ngừa nhằm hạn chế và đi đến xóa bỏ tình hình TNGT nói chung và tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ tại Tp HCM nói riêng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ở các nội dung sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ và
lý luận về hoạt động phòng ngừa tội phạm này
Thực trạng hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ ở
Tp HCM, trên tinh thần đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện công tác đấu tranh phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM Dự báo tình hình tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM trong thời gian tới
Tham khảo biện pháp phòng ngừa từ một số nước trên thế giới Đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ ở Tp HCM trên toàn bộ các phương diện của hoạt động phòng ngừa tội phạm
Ngoài ra để có kết quả phòng ngừa tội phạm hiệu quả hơn tác giả cũng tiến hành nghiên cứu về tình hình tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM trong giai đoạn 2012 - 2016, nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của học thuyết tư tưởng triết học Mác- Lênin để tiếp cận, lý giải, đánh giá những vấn đề nghiên cứu trong Khóa luận Bên cạnh đó tác giả cũng tiếp thu,
sử dụng các quan điểm của Đảng, Nhà nước về phòng chống tội phạm, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người, bảo vệ trật tự công cộng nói chung và phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng
Trang 14- Phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp thống kê hình sự: Thống kê các vụ án giải quyết sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án nhân dân Tp HCM và Tòa án nhân dân các quận, huyện của thành phố Thống kê số vụ TNGT đường bộ xảy ra trên địa bàn Tp HCM của phòng cảnh sát giao thông đường bộ-đường sắt Công an Tp HCM Thống kê số liệu khởi tố mới, truy tố, xét
xử tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ tại Tp HCM của Viện kiểm sát nhân dân
Tp HCM
+ Phương pháp nghiên cứu chọn lọc: Tác giả chọn lọc một số vụ án nổi bật xét xử
về người TGGT gây TNGT có hậu quả nghiêm trọng mà không phải là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đi sâu vào phân tích để thấy được những bất cập trong quy định của BLHS 1999 Chọn lọc một số quốc gia điển hình, có những điều kiện gần giống với Việt Nam đã phòng ngừa hiệu quả tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ
để đưa ra các giải pháp phòng ngừa hiệu quả
+ Phương pháp so sánh: Tác giả đã thực hiện nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ ở Việt Nam và hoạt động phòng ngừa tội phạm của một số nước trên thế giới từ đó so sánh để đưa ra những điểm bất cập hạn chế của nước ta, đề xuất những giải pháp hiệu quả Ngoài ra tác giả còn sử dụng thêm một số biện pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, giải thích và đưa ra kết luận vấn đề để hoàn thiện bài nghiên cứu của mình
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị áp dụng thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Mặc dù đề tài đã được một số tác giả nghiên cứu, tuy nhiên trong bối cảnh BLHS 2015 ra đời với nhiều điểm quy định mới đồng thời đây cũng là một lĩnh vực khá phức tạp và còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu, đặc biệt là về hoạt động phòng ngừa Do vậy tác giả thực hiện công trình này trên cơ sở nghiên cứu, đối chiếu với hoạt động phòng ngừa hiệu quả của một số nước trên thế giới sẽ góp phần làm phong
Trang 15phú hơn về công tác quản lý nhà nước trong đảm bảo trật tự công cộng nói chung và hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo giá trị nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM
7 Cấu trúc của Khóa luận
Khóa luận gồm các phần chính:
Phần mở đầu
Phần nội dung:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và dự báo tình hình tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Chương 3: Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Phần kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục 01
Phụ lục 02
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
1.1.1 Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
1.1.1.1 Khái niệm
Bởi tính chất quan trọng của ATGT đường bộ, cùng với những diễn biến phức tạp,
sự gia tăng về TNGT đặc biệt là những vụ tai nạn mà người TGGT đường bộ nói chung người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng VPQĐ về ATGT đường bộ dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác Nên từ rất sớm, trong lịch sử lập pháp nước ta đã có những quy định về việc TGGT, trong lĩnh vực hình sự nói riêng đã có những văn bản điều chỉnh về vấn đề VPQĐ trong ATGT đường bộ Tại mục số 4 Thông tư số 442/Ttg ngày 19 tháng 01 năm 1955 của thủ
tướng chính phủ về việc trừng trị một số tội phạm đã quy định “Không cẩn thận hay
không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bị phạt tù đến 10 năm”1
Đến năm 1976, Chính phủ ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định các tội phạm và hình phạt thì vấn đề về tội vi phạm ATGT một lần nữa được ghi nhận một cách gián tiếp thông qua quy định tại Điều 9 của Sắc luật về “tội xâm phạm đến trật
tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân” Trong quá trình phát triển tiếp theo, do sự thay đổi của xã hội và thông qua tiến trình công tác xét xử, các nhà làm luật
đã nhận thấy được sự gia tăng của tội phạm trong lĩnh vực ATGT, nên đã kịp thời ghi nhận vào Điều 186 BLHS năm 1985 với tên tội danh là: “Tội vi phạm các quy định về
1 Trần Văn Luyện, Trần Sơn, Nguyễn Văn Chính (2003), Trật tự ATGT đường bộ thực trạng và giải pháp, Nxb quốc gia, Hà Nội, trang 88.
Trang 17ATGT vận tải gây hậu quả nghiêm trọng” Đến năm 1991, thì điều luật này được tiếp tục ghi nhận và sửa đổi, bổ sung với tên tội danh: “Tội vi phạm các quy định về ATGT vận tải”, mặc dù tội danh có sự thay đổi tuy nhiên nội dung của tội phạm vẫn được giữ nguyên Như vậy ta thấy, việc sửa đổi tại BLHS 1985 và BLHS 1991 đã có một bước ngoặc tiến bộ về mặt lập pháp, tuy nhiên việc điều chỉnh các hành vi vi phạm ATGT ở
cả bốn lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không với những biểu hiện và tính chất nghiêm trọng không giống nhau trong một điều luật đã làm mất đi tính
cá thể hóa trách nhiệm hình sự, khó xử lý Điều này dẫn đến làm giảm tác dụng phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm này Sau bốn lần sửa đổi, BLHS 1999 ra đời đã
có sự phân hóa các tội phạm này theo bốn lĩnh vực riêng biệt, tội phạm về vi phạm các quy định ATGT đường bộ được ghi nhận tại Điều 202 của Bộ luật này với tên tội danh
là “Tội VPQĐ về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, và các tội phạm khác như: Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203), Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205), Tội đua xe trái phép (Điều 207) Trong công trình này tác giả sẽ nghiên cứu và làm rõ về tội phạm quy định tại Điều 202 BLHS 1999 Có thể nói sự quy định riêng biệt và rõ ràng trong BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 được xem là một trong những tiến bộ trong quá trình lập pháp của nước
ta Tuy nhiên, qua quá trình biến đổi của xã hội nói chung, của tình hình tội phạm xâm phạm về trật tự ATGT đường bộ nói riêng cùng thực tiễn xét xử đã nhận thấy nhiều bất cập khi mà chủ thể của tội vi phạm các quy định về ATGT đường bộ không chỉ là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ còn có cả những đối tượng TGGT đường
bộ khác Chính vì nắm bắt được vấn đề này tại Điều 260 BLHS 2015 (có hiệu lực vào ngày 01/01/2018) các nhà làm luật đã thay đổi tội danh từ “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Đây là quy định mới, mở rộng hơn về chủ thể phạm tội, khắc phục được những thiếu sót trong quy định tại Điều 202 BLHS 1999 Chính vì vậy trong phần này tác giả sẽ đi sâu và phân tích song song cấu thành tội phạm trên tinh thần nội dung
Trang 18của cả hai điều luật là Điều 202 BLHS 1999 và Điều 260 BLHS 2015 để thấy rõ được
sự thay đổi của tội phạm này
Về khái niệm: Dựa vào khái niệm tội phạm tại Điều 8 BLHS 1999 và nội dung
Điều 202 BLHS 1999 có thể đưa ra khái niệm: “Tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
Bộ luật hình sự, do người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm quy
định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác”
Dựa vào khái niệm tội phạm tại Điều 9 BLHS 2015 và nội dung Điều 260 BLHS
2015 có thể đưa ra khái niệm: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người tham
gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại
cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác”
Về mặt khái niệm thì không có sự khác biệt nhiều giữa hai tội danh này, chủ yếu là
sự khác nhau về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội mà tác giả sẽ phân tích rõ hơn tại phần chủ thể
1.1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội phạm
Về mặt khách thể
Cả hai tội “Tội VPQĐ về TGGT đường bộ” (Điều 260 BLHS 2015) và “Tội VPQĐ
về ĐKPT giao thông đường bộ” (Điều 202 BLHS 1999) đều xâm hại đến hai loại quan
hệ xã hội được pháp luật Hình sự bảo vệ là an toàn công cộng, trật tự công cộng, cụ thể
là an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, mà thực chất
đó chính là những nguyên tắc, những quy định để đảm bảo trật tự ATGT đường bộ, tính mạng sức khỏe, tài sản của công dân Đối tượng tác động của tội phạm là hoạt động bình thường của các chủ thể TGGT đường bộ
Trang 19 Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của “Tội VPQĐ về TGGT
đường bộ” (Điều 260 BLHS 2015) và “Tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ” (Điều
202 BLHS 1999) đều bao gồm các yếu tố cấu thành: hành vi khách quan; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
- Về hành vi khách quan: Hành vi khách quan của “Tội VPQĐ về ĐKPT giao
thông đường bộ” (Điều 202 BLHS 1999) và “Tội VPQĐ về TGGT đường bộ” (Điều 260 BLHS 2015) đều là những hành vi VPQĐ về ATGT đường bộ được quy định tại Luật giao thông đường bộ năm 2008 gồm: Vi phạm về việc chấp hành báo hiệu đường bộ; tốc
độ và khoảng cách giữa các phương tiện TGGT; sử dụng làn đường; vượt xe, chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng, đỗ xe trên đường (trong và ngoài đô thị); TGGT đường bộ qua cầu, phà, trong hầm đường bộ và tại các nơi đường giao cắt; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe và xe kéo rơ moóc
- Hậu quả
Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này Nếu hành vi vi phạm các quy định về TGGT đường bộ nói chung, điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng mà chưa gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì chưa cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 202 BLHS 1999, hiện tại là khoản 5 của Điều 260 BLHS 2015 Qua quy định tại Điều 260 BLHS 2015 và quy định tại Điều 202 BLHS 1999 được hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC về hậu quả (mức độ thiệt hại) của tội phạm cho thấy về cơ bản quy định tại Điều 260 BLHS 2015 không thay đổi nhiều về mức độ hậu quả thiệt hại, chỉ quy định cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội tại khoản 1 và khoản
3, bổ sung vào khoản 2 Điều luật, cụ thể là các vấn đề sau: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản Nhà làm
Trang 20luật đã đưa những nội dung quy định có liên quan của Thông tư liên tịch BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC để quy định chi tiết các khoản của điều luật này
09/2013/TTLT Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Giữa hành vi khách quan và
hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau Việc xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hành vi đó có phạm tội hay không? Đặc biệt trong lĩnh vực giao thông đường bộ, một vụ tai nạn xảy ra có thể do hàng loạt các nguyên nhân, điều kiện tác động khác nhau: có thể là do hành vi vi phạm của người TGGT đường bộ, người ĐKPT giao thông đường bộ; có thể là do lỗi của nạn nhân nhưng cũng có thể là lỗi của một người thứ ba, hay do hệ thống đường sá, thời tiết, tín hiệu giao thông dẫn đến hậu quả Do vậy việc xác định được mối quan hệ nhân quả là rất cần thiết để xác định được hậu quả thiệt hại đã xảy ra là do đâu và có đủ yếu tố cấu thành tội phạm này hay không
- Các dấu hiệu khách quan khác
Ngoài hành vi khách quan, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đối với tội vi phạm các quy định về ĐKPT giao thông đường bộ, nhà làm luật quy định một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm như: Phương tiện giao thông; địa điểm (nơi vi phạm là công trình giao thông đường bộ) Việc xác định các dấu hiệu khách quan này là rất quan trọng, là dấu hiệu để phân biệt giữa tội phạm này với các tội vi phạm ATGT khác
Theo quy định của Luật giao thông đường bộ thì đường bộ gồm đường, cầu đường
bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ2 Còn phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ3 Phương tiện TGGT đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên
2 Điều 3 khoản 1 Luật giao thông đường bộ 2008
3 Điều 3 khoản 17 Luật giao thông đường bộ 2008
Trang 21dùng4 Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có TGGT đường bộ5
Ngoài ra còn có những dấu hiệu khách quan khác như: Đường bộ, công trình đường
bộ, đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ, phần đường xe chạy, làn đường, khổ giới hạn của đường bộ, đường phố, dải phân cách, đường cao tốc v.v Các yếu tố này cũng rất quan trọng khi xác định hành vi vi phạm các quy định về ĐKPT giao thông đường bộ6
Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm
Khi đề cập đến mặt chủ quan của tội phạm thường là nói đến yếu tố lỗi của hành
vi Lỗi được hiểu là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội, đối với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội và được thể hiện dưới hai hình thức là lỗi
cố ý hoặc lỗi vô ý
Người thực hiện hành vi phạm tội tại hai tội danh Điều 202 BLHS 1999 và Điều
260 BLHS 2015 đều là chủ thể thực hiện hành vi với lỗi vô ý: Vô ý vì quá tự tin hoặc vô
ý do cẩu thả
Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình
có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được
Vô ý do cẩu thả là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội không thấy trước được hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và
có thể thấy trước hậu quả đó
Vấn đề cần lưu ý về yếu tố lỗi trong tội phạm này là ta nên phân biệt giữa lỗi do vi phạm các quy định về ATGT đường bộ và lỗi gây ra tai nạn Có những trường hợp người
4 Điều 3 khoản 21 Luật giao thông đường bộ 2008
5 Điều 3 khoản 20 Luật giao thông đường bộ 2008
6 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự tập V, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Lao Động, Hà Nội 2012, trang 11- 12.
Trang 22TGGT có vi phạm các quy định về TGGT đường bộ, nhưng họ không có lỗi gây ra TNGT thì trong trường hợp này, mặc dù có hậu quả nghiêm trọng xảy ra nhưng họ lại không bị truy cứu TNHS mà chỉ chịu trách nhiệm pháp lý khác như hành chính hoặc dân sự
Ví dụ: Ông Lê Văn A điều khiển xe mô tô TGGT không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm theo luật định, người này đi đúng phần đường, đúng tốc độ, thì bị Nguyễn Văn B cũng điều khiển xe mô tô chạy ngược chiều phóng nhanh, lạng lách, lấn sang phần đường bên trái đâm vào Hậu quả là Nguyễn Văn B bị ngã, chấn thương sọ não, tử vong Xe của Lê Văn A hư hỏng một số bộ phận Hành vi điều kiển xe mô tô không có giấy phép, không đội mũ bảo hiểm của Lê Văn A là lỗi hành chính, chỉ bị xử
lí bằng chế tài hành chính Vì, nguyên nhân chính và trực tiếp của vụ TNGT này là do Nguyễn Văn B phóng nhanh, xử lí kém, lấn phần đường đã gây ra cái chết của B và làm
hư hỏng chiếc xe mô tô của ông A đang sử dụng
Chỉ hành vi nào của người tham gia giao thông nói chung, điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng VPQĐ luật giao thông đường bộ hoặc văn bản quy phạm pháp luật khác, là nguyên nhân chính, nguyên nhân trực tiếp làm xảy ra vụ TNGT và gây thiệt hại về người, tài sản, sức khỏe, thỏa mãn điều kiện quy định của pháp luật hình
sự, thì đó chính là lỗi hình sự và chủ thể này bị xử lí bằng chế tài hình sự
Chủ thể của tội phạm
Về điểm chung: Theo quy định tại Điều 202 BLHS 1999 và Điều 260 BLHS thì tội phạm này có khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù: theo quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS 1999, khoản 3 Điều 9 của BLHS 2015 thì đây là tội phạm rất nghiêm trọng Căn
cứ theo quy định tại Điều 12 BLHS 1999 và Điều 12 BLHS 2015 chủ thể của cả hai tội danh này đều là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
Điểm khác biệt: Chủ thể của tội phạm tại Điều 202 BLHS 1999 chỉ áp dụng đối với người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, theo quy định tại Điều 3 khoản 23 Luật giao thông đường bộ 2008 gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ Còn chủ thể Điều 260 BLHS 2015 thì áp
Trang 23dụng cho tất cả các chủ thể TGGT đường bộ nghĩa là gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện TGGT đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ7
Hình phạt
Về cơ bản Điều 202 BLHS 1999 và Điều 260 BLHS 2015 gồm có hai loại hình phạt là hình phạt chính và hình phạt bổ sung Theo đó, hình phạt chính gồm có: Cải tạo không giam giữ, hình phạt tù và phạt tiền
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
Qua mức quy định hình phạt, tác giả nhận thấy tại điều 260 Bộ luật hình sự năm
2015 đã sửa đổi, bổ sung và xây dựng thành 6 khoản, tăng 01 khoản so với điều 202 BLHS 1999 Mức phạt tại các khoản tương ứng cũng như hình phạt bổ sung quy định ở hai điều luật mới và cũ không có sự khác biệt lớn Nhưng tại điều 260 Bộ luật hình sự
2015 đã tách khoản 1 của Điều 202 BLHS 1999 ra để quy định thành 2 khoản, là khoản
1 và khoản 4 Theo đó thì: Nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên thì xử lý theo khoản 1 Điều 260 BLHS
2015, còn nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì được tách ra quy định ở khoản 4 của Điều 260 với mức án nhẹ hơn rất nhiều là chỉ bị phạt tiền và cải tạo không giam giữ, không có hình phạt tù, đây là một cấu thành giảm nhẹ của điều luật để xử lý một số hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, nhưng ở mức độ nhẹ hơn so với quy định tại khoản 01 điều này Những bổ sung sửa đổi trên của Điều 260 BLHS năm 2015 một phần nào đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, do đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan pháp luật xử lý có hiệu quả đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này, góp phần bảo đảm giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ
7 Điều 3 Khoản 22 Luật giao thông đường bộ năm 2008
Trang 241.1.2 Phân biệt tội phạm “VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ” và vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATGT đường bộ
Tội phạm hay vi phạm hành chính đều là hành vi vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật do đó giữa hai khái niệm này có những nét tương đồng rất khó để xác định ranh giới Đặc biệt trong lĩnh vực quản lý nhà nước về ATGT đường bộ thì chủ thể vi phạm có thể bị xử lý hành chính nhưng cũng có thể bị xử lý hình sự Tuy nhiên một hậu quả tất yếu khác nhau đó chính là, một cá nhân không thể đồng thời bị xử phạt hành chính và bị truy cứu TNHS về cùng một hành vi vi phạm
Hành vi vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội Tuy nhiên để bị xử lý hình sự thì hành vi vi phạm đó phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS Nếu một hành vi VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ mà không
đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 202 BLHS 1999 (các yếu tố này đã được phân tích ở mục 1.1.1.2), nghĩa là chỉ cần có hành vi vi phạm hành chính về trật tự ATGT đường bộ thì chịu chế tài hành chính mà không cần tính đến đã có hậu quả thiệt hại xảy
ra hay chưa Hiện nay vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự ATGT đường bộ thì bị
xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông Trong khi đó, khi xem xét hành vi VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ là tội phạm thì bao giờ cũng trong giới hạn nghiêm ngặc về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản
mà hành vi đã gây ra Nếu hành vi vi phạm này gây ra những thiệt hại luật định và đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 202 BLHS 1999 thì chủ thể vi phạm phải chịu TNHS cho hành vi của mình
Ví dụ: Nguyễn Văn A điều khiển xe gắn máy chạy trên quốc lộ 1A, tốc độ cho phép đối với xe gắn máy trên đường này là 60km/h, nhưng A lại điều khiển xe gắn máy chạy với tốc độ 75km/h, trong trường hợp này thì Nguyễn Văn A đã VPQĐ về TGGT nhưng chỉ bị xử lý hành chính về hành vi của mình theo quy định tại điểm đ khoản 6 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông, với mức
Trang 25phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng Nhưng, nếu : Nguyễn Văn A điều khiển xe gắn máy chạy trên quốc lộ 1A, tốc độ cho phép đối với xe gắn máy trên đường này là 60km/h, nhưng A lại điều khiển xe gắn máy chạy với tốc độ 75km/h và gây tai nạn làm chết 1 người, lỗi hoàn toàn do A, thì A phải chịu TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều
202 BLHS 1999
Như vậy, việc phân biệt tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ và vi phạm hành chính trong lĩnh vực ATGT đường bộ có ý nghĩa nhận thức về thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất của tình hình tội vi phạm các quy định về ĐKPT giao thông đường bộ Ngoài ra nhận thức được vấn đề này còn có ý nghĩa trong việc phòng ngừa tội vi phạm các quy định về TGGT đường bộ
1.2 Lý luận chung về phòng ngừa tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
1.2.1 Khái niệm và nội dung của phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Phòng ngừa tội phạm là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng được đặt ra sau khi tìm hiểu về tình hình tội phạm và các nguyên nhân điều kiện của tình hình tội phạm Liên quan đến định nghĩa phòng ngừa tội phạm, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam có rất nhiều quan điểm Trong đó có hai quan điểm chính với hai xu hướng khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng phòng ngừa tội phạm là hoạt động bao gồm cả phòng ngừa và phòng chống tội phạm, nghĩa là ngăn ngừa không cho tội phạm xảy ra đồng thời kết hợp phát hiện, xử lý tội phạm Đây là quan điểm được đại đa số các nhà nghiên cứu tán thành Còn quan điểm thứ hai lại cho rằng: Phòng ngừa tội phạm được hiểu chỉ là ngăn ngừa trước không cho tội phạm xảy ra8 Qua tìm hiểu, nghiên cứu tác giả nhận thấy quan điểm
thứ nhất đầy đủ và phù hợp hơn theo đó: “Phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ là hoạt động sử dụng các biện pháp xã hội và
8 Tham khảo Giáo trình Tội Phạm học, Đại học luật Tp HCM, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, năm 2016,
Tr 274 – 275
Trang 26Nhà nước tác động vào nguyên nhân và điều kiện của tội phạm này nhằm ngăn ngừa trước không cho tội phạm xảy ra đồng thời tiến hành các biện pháp kịp thời phát hiện,
xử lý loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội”
Như vậy, với định nghĩa phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ có thể thấy, nội dung phòng ngừa tội phạm này tập trung vào hai nội dung sau:
Thứ nhất, phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ là việc áp dụng các biện pháp mang tính xã hội tác động vào nguyên nhân và điều kiện của tội phạm thông qua việc xây dựng, cải cách các chính sách kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ; thực hiện chính sách đổi mới quản lý xã hội; giáo dục, tuyên truyền pháp luật giao thông đường bộ, hậu quả thiệt hại của TNGT gây ra, những nội dung của tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ; hoàn thiện hệ thống pháp luật; xóa bỏ các tình huống, hoàn cảnh phạm tội làm cho tình hình tội phạm không có cơ sở phát sinh tồn tại
Về bản chất các biện pháp này không mang tính cưỡng chế, bắt buộc cao nên có thể được triển khai xây dựng, thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau Đây là biện pháp mang tính tích cực chủ động và đem lại hiệu quả cao, do vậy cần được ưu tiên áp dụng
Thứ hai, phòng ngừa tội vi phạm quy định về ĐKPT giao thông đường bộ còn là biện pháp mang tính Nhà nước, đây là những biện pháp cưỡng chế bắt buộc thông qua hoạt động phát hiện xử lý tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền mà trọng tâm là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, cải tạo người phạm tội Đây là biện pháp mang tính răn đe tội phạm cao, buộc người phạm tội phải trả giá cho hành vi của mình và cũng là một trong những biện pháp phòng ngừa tội phạm được chính quyền Tp HCM áp dụng phổ biến hiện nay
1.2.2 Chủ thể phòng ngừa.
Như đã trình bày ở mục 1.2.1 thì hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ vừa là hoạt động mang tính Nhà nước vừa là hoạt động mang tính xã hội Vì vậy chủ thể của hoạt động phòng ngừa tội phạm này rất rộng Bao gồm các cơ
Trang 27quan, tổ chức công quyền, cá nhân có thẩm quyền trong nhà nước đến tổ chức, cá nhân, công dân toàn xã hội
Các cơ quan, tổ chức công quyền: Bao gồm hoạt động phòng ngừa của:
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Theo quy định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013 thì Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Vai trò của Đảng thường được thể hiện qua các chủ trương, chính sách định hướng hoạt động như: Chỉ thị
số 48/CT-TW, ngày 22-10-2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Nghị quyết số 49/NQ-TW, ngày 02-6-2005, của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 30/NQ-
CP, ngày 08-11-2011, của Chính phủ về Chương trình cải cách nền hành chính quốc gia giai đoạn 2011-2020
- Cơ quan đại diện của dân: Quốc Hội và Hội đồng nhân dân:
+ Quốc hội: Tại Điều 1 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định “Quốc hội là
cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” Như vậy có thể thấy trong hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung phòng ngừa Tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, xây dựng luật, chỉnh sửa luật và hoàn thiện pháp luật cụ thể đối với tội phạm này thì Quốc hội xây dựng các Luật để điều chỉnh như: BLHS 1999, BLTTHS 2015, Luật thi hành án Hình sự năm 2010 hay các Nghị quyết như Nghị quyết
số 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLHS số 100/2015/QH13; BLTTHS
số 101/2015/QH13; Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 khi các văn bản này còn một số bất cập Bên cạnh việc xây dựng luật thì Quốc hội cũng là cơ quan kiểm tra giám sát việc thực hiện chức năng phòng ngừa của các cơ quan khác, tuyên truyền phổ biến pháp luật
Trang 28+ Hội đồng nhân dân thực hiện hoạt động phòng ngừa tội phạm thông qua việc quyết định những chủ trương, biện pháp phòng ngừa tội phạm, giám sát hoạt động phòng ngừa tội phạm của các cơ quan khác ở địa phương, đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân địa phương thực hiện phòng ngừa tội phạm
- Cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện hoạt động phòng ngừa thông qua các hoạt động như xây dựng các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội; xây dựng chương trình, kế hoạch phòng ngừa tội phạm; kết hợp với các cơ quan tư pháp thực hiện hoạt động phòng ngừa tội phạm ở Trung ương, địa phương
- Cơ quan công an, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án: Nếu như các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động phòng ngừa bằng các biện pháp mang tính xã hội thì các cơ quan này thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm thiên về tính Nhà nước, mang tính răn đe tội phạm Khi một TNGT đường bộ tại
Tp HCM xảy ra đầu tiên sẽ là sự tham gia của cơ quan công an mà cụ thể là phòng CSGT đường bộ - đường sắt Công an Tp Hồ Chí Minh vào cuộc, đến sự xem xét quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án của Viện kiểm sát, sau đó là sự vào cuộc điều tra
vụ án, khởi tố bị can của cơ quan điều tra Viện kiểm sát thực hiện truy tố, Tòa án thực hiện chức năng xét xử người thực hiện hành vi phạm tội sẽ chấp hành hình phạt của mình bởi quyết định của Tòa án và đây cũng là lúc chức năng của cơ quan thi hành án được thực hiện Ngoài thực hiện các nhiệm vụ, chức năng chính, đặc thù của cơ quan mình thì những cơ quan này còn thực hiện hoạt động phòng ngừa tội phạm thông qua các hoạt động như: Hỗ trợ các cơ quan chức năng khác trong việc đóng góp ý kiến, xây dựng kế hoạch phòng ngừa, tuyên truyền vận động nhân dân phòng ngừa tội phạm
- Các tổ chức và cá nhân, công dân
Xuất phát từ tính chất tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của toàn xã hội, đặc biệt là tội phạm về giao thông đường bộ - một trong những tội phạm phổ biến hiện nay Do vậy, hoạt động phòng ngừa tội phạm là hoạt động chung
Trang 29của toàn xã hội, mọi tổ chức, cá nhân toàn thể công dân đều có thể tham gia vào hoạt động này, thông qua các hoạt động như thực hiện tố giác tội phạm, giúp đỡ các cơ quan chức năng cung cấp chứng cứ, lời khai, kiến nghị các biện pháp xử lý, tham gia vào các hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật
1.2.3 Các biện pháp phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Biện pháp phòng ngừa là một trong những nội dung cơ bản của phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ là một hoạt động tổng hợp nhiều biện pháp phòng ngừa khác nhau tùy vào các tiêu chí phân loại
Nếu căn cứ vào nội dung và tính chất của biện pháp thì tội phạm này sẽ có biện pháp phòng ngừa mang tính xã hội như các biện pháp tác động về kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội, văn hóa - tâm lý, tổ chức quản lý xã hội, hệ thống pháp luật và biện pháp phòng ngừa mang tính cưỡng chế nhà nước tác động vào khâu phát hiện xử lý tội phạm Nếu căn cứ vào chủ thể chịu tác động của các biện pháp thì các biện pháp phòng ngừa tội phạm này gồm có: Biện pháp áp dụng cho tất cả mọi người trong xã hội và biện pháp dành cho những người có thân nhân đặc biệt như: Người có đặc điểm nhân thân xấu, dễ phạm tội, người chưa thành niên, cán bộ công chức, người nước ngoài,
Bên cạnh đó nếu căn cứ vào địa bàn, lĩnh vực cần phòng ngừa: Tội phạm này sẽ có các biện pháp phòng ngừa gồm: Những biện pháp áp dụng trong cả nước, toàn lãnh thổ Biện pháp này tác động đến tất cả mọi người đang sinh sống, làm việc trong toàn lãnh thổ, quốc gia, biện pháp này chủ yếu mang tính xã hội như quy định của pháp luật, tuyên truyền pháp luật bằng phương tiện truyền thông của cả nước; Những biện pháp phòng ngừa tại một địa phương, vùng, miền, khu vực cụ thể Biện pháp này xuất phát từ những đặc trưng riêng của mỗi vùng miền, địa phương, khu vực cụ thể Tuy nhiên những biện pháp phòng ngừa mang tính chất riêng luôn dựa trên sự thống nhất với biện pháp phòng ngừa chung của quốc gia Mặc dù mục đích chung của các biện pháp đều là phòng ngừa
Trang 30tội phạm, nhưng nếu căn cứ phân loại ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau sẽ đưa ra những biện pháp cụ thể và chính xác hơn, mang lại hiệu quả phòng ngừa cao hơn
1.2.4 Nguyên tắc phòng ngừa tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ là một hoạt động khá phức tạp, do vậy cần phải tuân những nguyên tắc nhất định để có hoạt động phòng ngừa hiệu
quả “Nguyên tắc phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ các hoạt động phòng ngừa tội phạm này từ khâu xây dựng kế hoạch đến triển khai áp dụng”
Theo đó, phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ được áp dụng các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa:
Đây là nguyên tắc chung, nguyên tắc cơ bản áp dụng cho hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng Nguyên tắc pháp chế trong hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường
bộ là nguyên tắc đòi hỏi sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể thực hiện hoạt động phòng ngừa tội phạm này Bao gồm cả các quy định chung trong Hiến pháp, Bộ luật hình sự
1999, Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Luật thi hành án hình sự năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS, BLTTHS như Thông tư liên tịch số: 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông Để thực hiện hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ được hiệu quả, quyền con người trong hoạt động phòng ngừa tội phạm này được bảo vệ thì nguyên tắc pháp chế cần phải được đảm bảo trên thực tế Nghĩa là trước tiên cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
và thứ hai là ý thức tuân thủ pháp luật, hiểu luật và vận dụng đúng luật vào hoạt động phòng ngừa tội phạm của chủ thể thực hiện hoạt động phòng ngừa tội vi phạm quy định
về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Trang 31Nguyên tắc dân chủ xã hội
Hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng là hoạt động mang tính chất xã hội rộng rãi, đa số các chủ thể của xã hội tham gia Tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và khả năng, mức độ tham gia phòng ngừa của mỗi chủ thể sẽ khác nhau9 Mặc dù, tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ được nhận định không có độ ẩn cao, tuy nhiên, Tp HCM là nơi tập trung dân cư đông từ nhiều quốc gia, nhiều tỉnh đa dạng về quốc tịch, thành phần dân tộc nên tội phạm nói chung và tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng tại Tp HCM cũng luôn có mức độ ẩn cao hơn những khu vực khác Do vậy, nguyên tắc dân chủ được xem là một trong những nguyên tắc khá quan trọng để phòng ngừa tội phạm này
Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể phòng ngừa
Là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp, phối hợp, giúp đỡ nhau trong hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ của các chủ thể Nếu như nguyên tắc dân chủ được xem là nguyên tắc quan trọng thì nguyên tắc này là nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ Nguyên tắc dân chủ là điều kiện cần trong hoạt động phòng ngừa tội phạm thì nguyên tắc này như là điều kiện đủ để phòng ngừa tội phạm này Nguyên tắc dân chủ chỉ đem lại kết quả tốt nếu các chủ thể phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ biết kết hợp, giúp đỡ nhau trong việc cung cấp thông tin, tài liệu đến xây dựng những biện pháp, kế hoạch phòng ngừa và kết hợp thực hiện hoạt động phòng ngừa tội phạm
Nguyên tắc cụ thể hóa
Mỗi loại tội phạm sẽ có những tính chất, đặc thù riêng và ở mỗi khu vực địa lý trong mỗi giai đoạn khác nhau sẽ có những đặc điểm riêng của tội phạm tùy thuộc vào các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở khu vực đó và mỗi thân nhân người
9 Giáo trình Tội phạm học, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam,
tr 287
Trang 32phạm tội sẽ phù hợp với những biện pháp phòng ngừa khác nhau Chính vì vậy việc cụ thể hóa tội phạm luôn là nguyên tắc cần thiết trong hoạt động phòng ngừa tội phạm Hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ tại Tp HCM chỉ đạt hiệu quả cao khi chủ thể phòng ngừa biết cụ thể hóa, nắm bắt được những đặc thù riêng của tội phạm này, của thân nhân người phạm tội, cũng như những đặc thù về điều kiện kinh
tế, chính trị, văn hóa và xã hội của Tp HCM
Nguyên tắc nhân đạo
Nhân đạo là nguyên tắc cơ bản luôn được đề cao trong hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung Sự nhân đạo trong hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ được thể hiện từ sự tôn trọng về các quyền con người của người thực hiện hành vi phạm tội như không làm nhục, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của họ, hướng họ đến cuộc sống tốt đẹp, áp dụng các chế tài phù hợp với từng cá nhân người phạm tội Mặt dù, không ít ý kiến cho rằng khi phạm tội thì cần phạt nặng để răng đe tội phạm, tuy nhiên nhìn từ cách xử lý tội phạm tại Thụy Sĩ hay Thụy Điển – những nước
có tỷ lệ phạm tội thấp nhất thế giới cho thấy nguyên tắc nhân đạo đã phát huy hiệu quả rất cao trong hoạt động phòng ngừa tội phạm Ngoài ra nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ còn thể hiện thông qua sự nhân đạo dành cho nạn nhân, cho gia đình của nạn nhân và cả những người có liên quan Các cơ quan chức năng phát hiện xử lý tội phạm nên thu thập thông tin tội phạm đúng nơi, đúng lúc, đúng thời điểm, hạn chế tối đa việc nhắc đi nhắc lại nhiều lần nỗi đau đối với nạn nhân và gia đình, nên dùng những kỹ năng chuyên môn để thu thập chứng cứ nhanh chóng và chính xác, tránh thu thập lời khai từ người làm chứng quá nhiều lần làm ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc của họ Nói tóm lại việc thực hiện nghiêm túc nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường
bộ có ý nghĩa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho toàn xã hội, bảo đảm được tính nhân đạo của Nhà nước ta trong hoạt động phòng ngừa tội phạm và nhằm hướng đến mục đích chung nhất là phòng ngừa tội phạm hiệu quả
Trang 33Nguyên tắc khoa học
Để phòng ngừa tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ hiệu quả đòi hỏi phải có những
kế hoạch, biện pháp khoa học Nghĩa là các kế hoạch, biện pháp phòng ngừa phải được xây dựng trên nền tảng khoa học, không được duy ý chí chủ quan, đồng thời phải biết kết hợp với các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại để phát huy hiệu quả phòng ngừa, tiết kiệm được công sức, tiền bạc và hạn chế được những rủi ro, tổn thất trong hoạt động phòng ngừa tội phạm.10
1.2.5 Ý nghĩa của hoạt động phòng ngừa.
Tội phạm nói chung, tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng chỉ giảm bớt hoặc xóa bỏ khi có những biện pháp xử lý hiệu quả Việc đưa ra các hình phạt để xử
lý khi tội phạm đã xảy ra chỉ là biện pháp tạm thời giải quyết được phần ngọn không thể giải quyết triệt để tội phạm Trong khi đó phòng ngừa tội phạm là hoạt động nghiên cứu một cách toàn diện mọi vấn đề xung quanh tội phạm, tìm hiểu về tình hình tội phạm, các nguyên nhân cụ thể gây ra tội phạm, những kết quả đạt được, những hạn chế bất cập trong công tác phòng ngừa tội phạm hiện tại, để từ đó đưa ra những biện pháp cụ thể giải quyết các nguyên nhân cũng như những hạn chế bất cập trên toàn diện mọi mặt Chính
vì vậy phòng ngừa là hoạt động giải quyết được tận gốc tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ, mang lại hiệu quả cao trong công tác hạn chế, xóa bỏ tội phạm mang lại trật
tự xã hội, giảm những thiệt hại về kinh tế nâng cao hiệu quả đời sống xã hội của nhân dân Tp HCM
10 Giáo trình Tội phạm học, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.28
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Thực trạng phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn Tp HCM
2.1.1 Thực trạng về hệ thống pháp luật, lý luận và chính trị - pháp lý
2.1.1.1 Thực trạng về hệ thống pháp luật
Kết quả đạt được: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ là một tội phạm đang được sự quan tâm của cả nước nói chung và của Tp HCM nói riêng Thời gian qua tội phạm này được xét xử và định tội theo Điều 202 BLHS
1999 đã giải quyết được một lượng lớn những vụ phạm tội VPQĐ về ĐKPT giao thông
đường bộ
Hạn chế, bất cập: Mặt dù đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên trong
quá trình xử lý tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ, điều luật này đã bộc lộ những thiếu sót của nhất định cũng như có những quy định mang tính chất định tính không khả thi trên thực tế Cụ thể, qua quá trình biến đổi của xã hội nói chung, của tình hình tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ nói riêng cùng thực tiễn xét xử đã nhận thấy, có những chủ thể TGGT đường bộ không phải là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có hành vi vi phạm quy định về giao thông đường bộ gây hậu quả chết người, thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, tài sản của người khác nhưng Tòa án không thể quy trách nhiệm tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ tại Điều 202 BLHS 1999 Điển hình là vụ Ngô Thị Mỹ Yên đi bộ băng qua đường trên cầu Ông Lãnh đã va chạm với xe máy do anh Phạm Văn Vân điều khiển Yên chỉ bị sây sát nhẹ nhưng anh Vân bị ngã xuống mặt đường, chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu Sau khi khám nghiệm hiện trường, cảnh sát giao thông khẳng định Yên đã qua đường không đúng nơi quy định Nhưng điều đáng nói là Ngô Thị Mỹ Yên lại bị quy sang tội cản trở giao thông
Trang 35đường bộ với hình phạt là 9 tháng cải tạo không giam giữ và phải bồi thường cho gia đình nạn nhân 7,5 triệu đồng,11 lý do không xử lý vụ việc theo quy định tại Điều 202 BLHS 1999 vì Điều luật này chỉ áp dụng cho người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong khi đó Yên là người đi bộ nên không có căn cứ để xử lý theo quy định tại điều luật này Nhưng qua việc xử lý mang tính chất “cứu vãn” này lại cho thấy những điều không thỏa đáng, vì hành vi của Yên không mang tính chất cản trở giao thông12 mà
là sự vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả dẫn đến chết người Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 202 BLHS 199913 lại là một quy định không thể áp dụng trên thực tiễn, quy định này quá định tính, thiếu khoa học phụ thuộc chủ yếu vào ý thức chủ quan của người phát hiện xử lý tội phạm Có nhiều quan điểm cho rằng hành vi quy định tại khoản 4 mang tính chất hành chính hơn là hình sự Việc quy định một cách định tính tại khoản 4 Điều 202 BLHS 1999 làm cho các lực lượng chức năng thiếu kiên quyết trong việc phát hiện xử lý kịp thời đối với hành vi vi phạm này do không có cơ chế cho phép truy đuổi để ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm Điển hình là các hành vi chạy xe quá tốc độ, lạng lách đánh võng mà người vi phạm không chấp hành hiệu lệnh dừng xe, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự nghiêm minh của pháp luật, sự tin tưởng của nhân dân vào hoạt động của các cơ quan chức năng
Chính vì nắm bắt được vấn đề này tại Điều 260 BLHS 2015 (có hiệu lực vào ngày 01/01/2018) các nhà làm luật đã thay đổi tội danh từ “Tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ” thành “Tội VPQĐ về TGGT đường bộ” Đây là quy định mới, mở rộng hơn
về chủ thể phạm tội, khắc phục được những thiếu sót trong quy định tại Điều 202 BLHS
11 http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/nguoi-di-bo-gay-tai-nan-giao-thong-phai-xu-ly-binh-dang-1994421.html
12 Theo quy định tại Điều 203 BLHS 1999 thì “Cản trở giao thông đường bộ là hành vi đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có giải phân cách; lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ; vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ và các hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác”
13 “Điều 202 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Trang 361999 về vấn đề này Tuy nhiên, mặt dù quy định mới tại Điều 260 BLHS 2015 đã lấp được lỗ hỏng của Điều 202 BLHS 1999 nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập
Thứ nhất: Điều 260 BLHS 2015 quy định theo hướng liệt kê, do vậy sẽ thiếu những trường hợp khác có thể xảy ra mà luật không quy định, ví dụ một số trường hợp sau: + Làm chết một người và gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% + Làm chết hai người và còn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% + Làm chết ba người và còn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 trở lên người mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% + Làm chết hai người và còn thỏa mãn cả tình tiết định khung tại điểm b hoặc điểm
c hay điểm d khoản 1; Vừa thỏa mãn tình tiết quy định tại điểm b khoản 2 và điểm a hoặc điểm b hoặc điểm c hay điểm d khoản 1 (vừa trong tình trạng sử dụng rượu, bia quá mức quy định vừa gây thương tích cho người khác với tỉ lệ 61% trở lên); Vừa thỏa mãn quy định tại khoản 4 vừa thỏa mãn luôn cả một trong các điểm của khoản 2 hoặc khoản 3; Vừa thỏa mãn quy định tại điểm b khoản 3 và một trong các tình tiết định khung quy định tại điểm a, d khoản 1 hoặc tại điểm a, b, c, d, đ, h khoản 2
Nếu như rơi vào các trường hợp này thì cơ quan chức năng sẽ lúng túng không thể
xử lý bởi vì chúng không nằm trong quy định như các điều khoản mà Điều 260 BLHS
2015 quy định
Thứ hai: Quy định mới tại Điều 260 BLHS 2015 quy định tại một số khoản chưa hợp lý Ví dụ: Tại điểm g khoản 2 Điều 260 quy định “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này
từ 122% đến 200%” thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm Trong khi đó, điểm b khoản 3 quy định “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên” thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm Quy định
Trang 37như vậy là chưa hợp lý bởi vì nếu rơi vào các trường hợp sau thì ta thấy mức độ nguy hiểm của hai khoản đi ngược với khung hình phạt
Nếu một người vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích cho 03 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người như sau: 60% + 60% + 64%
… 80% = 184% … 200%, trong khi đó theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 260 BLHS thì mức độ tổn thương tối thiểu của 3 người sẽ là 61%+61%+61%=183% Ta thấy tổng tỷ lệ tổn thương của 3 người tối thiểu chỉ chiếm 183% nhưng lại chịu khung hình phạt từ 7 – 15 năm tù trong khi đó tại điểm g khoản 2 có những trường hợp tổng tỷ lệ tổn thương của 3 người lên đến 200%, trong đó có hai người tỷ lệ thương tật không chênh lệch nhiều so với điểm g khoản 3 nhưng chỉ chị hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù là chưa hợp lý Chính vì vậy, cần phải điều chỉnh để hai nội dung trên có sự nhất quán, hợp
lý hơn
Thứ ba: Bố cục sắp xếp vị trí các khoản chưa hợp lý Khoản 4 Điều 260 BLHS
2015 quy định: “Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm” Như vậy khoản 4 Điều 260 BLHS 2015 lại quy định hậu quả của tội phạm cũng như khung hình phạt nhẹ hơn nhiều so với khoản 1 Điều này Nếu thiệt hại xảy ra chỉ ở phạm vi quy định của khoản 4 nhưng thuộc trường hợp không có giấy phép lái xe thì hình phạt được áp dụng như thế nào? Quy định cấu thành tội phạm định khung giảm nhẹ tại khoản 4 là không logic với kết cấu của điều luật, việc xây dựng cấu thành tội phạm tại Điều 260 BLHS 2015 không theo một trật tự nhất định gây ra rất nhiều ý kiến trái chiều, có nhiều trường hợp cho rằng khoản 4 mới là cấu thành cơ bản của điều luật, có ý kiến lại cho rằng khoản 1 là CTTP cơ bản còn khoản 4 là CTTP giảm
Trang 38nhẹ vì vậy nếu vẫn để quy định theo trật tự này sẽ dẫn đến tình trạng lúng túng khi xử lý tội phạm
Thứ tư: Tội VPQĐ về ĐKPT giao thông đường bộ là tội phạm có cấu thành vật chất, hậu quả là dấu hiệu bắt buột trong khi quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS 201514
lại là cấu thành tội phạm hình thức tức hậu quả của tội phạm chưa xảy ra Đây là một quy định định tính phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của con người nhất là của người áp dụng pháp luật Hơn nữa như đã đề cập, trên thực tế cho thấy mặc dù khoản 4 Điều 202 BLHS 1999 cũng có quy định hành vi này nhưng chưa có trường hợp nào bị truy tố, xét xử do thiếu căn cứ để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi đã đủ để cấu thành tội phạm này hay chưa và cũng cho thấy nó rất phi logic khi sắp xếp trong điều luật Chính vì vậy cần có những chỉnh sửa phù hợp hơn
Thứ năm: Tại khoản 2 của Điều 202 BLHS 1999 và khoản 2 của Điều 260 BLHS
2015 hiện nay chỉ tập trung vào quy định các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự dựa trên các yếu tố thuộc về người tham gia giao thông, như: không có giấy phép lái xe; trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, chất ma túy hoặc chất kích thích khác vv…
mà không hề có quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào dựa trên loại phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà người điều khiển sử dụng khi tham gia giao thông Bởi lẽ, có nhiều loại phương tiện giao thông đường bộ hiện nay Nhà nước đã cấm lưu hành do tiểm ẩn nhiều rủi ro, nguy hiểm đối với con người, tài sản khi tham gia giao thông Vì vậy, Nhà nước ta đã có các quy định rất chặt chẽ về các loại phương tiện được phép lưu hành, cấm lưu hành đồng thời đề cao việc tiến hành đăng kiểm, kiểm định về
an toàn kỹ thuật hàng kỳ cũng như việc thi, cấp giấy phép lái xe đối với từng loại phương tiện giao thông nhất định, nhằm đảm bảo các phương tiện và người điều khiển phương tiện phải hội đủ các điều kiện, tiêu chuẩn nhất định mới được phép đưa vào tham gia
14 5 Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm”
Trang 39giao thông Tại Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông quy định: “ Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đình chỉ lưu hành ô tô đã hết niên hạn sử dụng, xe công nông, xe tự chế 3, 4 bánh Trường hợp cố tình vi phạm sẽ bị tịch thu xử
lý bán phế liệu, sung vào công quỹ” Do đó, đối với các phương tiện giao thông bị cấm không được phép lưu hành do không đủ điều kiện về an toàn kỹ thuật, thì cũng nguy hiểm không khác gì người điều khiển không đủ điều kiện, khả năng để điều khiển phương tiện (không giấy phép lái xe; nồng độ cồn vượt mức quy định…) Do vậy, trong trường hợp đều gây hậu quả nghiêm trọng đến mức phải xử lý hình sự, thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thuộc loại bị cấm lưu hành phải coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội cao hơn những người điều khiển phương tiện được phép lưu hành Bên cạnh đó, có thể thấy do là loại xe bị cấm lưu hành, nên không có quy định về đào tạo, thi, cấp giấy phép lái xe và cũng không có quy định về tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật cho loại xe này, nên không thể áp dụng tình tiết “không có giấy phép lái xe theo quy định” cho họ được Nhưng rõ ràng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi này cao hơn hẳn
so với các trường hợp thông thường khác Vì vậy cần có quy định bổ sung về tình tiết
“Sử dụng phương tiện đã bị đình chỉ lưu hành hoặc bị cấm lưu hành theo quy định”, với
tư cách là một tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 260 BLHS 2015 là cần thiết
Bên cạnh đó trong thực tế rất nhiều trường hợp tội phạm xảy ra xuất phát từ lỗi của nạn nhân, của bên thứ ba, sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết đã làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách thức xử sự phù hợp của người điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ, có nhiều trường hợp người ĐKPT giao thông đường bộ đã chọn cách thức tránh TNGT tuy nhiên do sự chuyển biến của tình hình nên việc lựa chọn xử sự đó không còn phù hợp nữa và đã dẫn đến hậu quả là TNGT xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác Tuy nhiên việc đánh giá để xem xét có phải là
sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết hay không lại không có văn bản hướng dẫn mà phụ
Trang 40thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của cơ quan chức năng có thẩm quyền phát hiện xử
lý tội phạm Do vậy có những người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có xu hướng bị hình sự hóa các hành vi hành chính mà không có căn cứ thuyết phục
Ngoài ra, để có thông tin tội phạm chính xác, biện pháp phòng ngừa phù hợp thì việc thống kê tội phạm cũng là công tác phải được chú trọng, tuy nhiên hiện nay một bất cập chưa được giải quyết là công tác thống kê tội phạm chưa hiệu quả bởi sự quy định thiếu sót của các văn bản về thống kê tội phạm Điển hình qua Thông tư liên tịch số: 01/2005/TTLT/VKSTC-TATC-BCA-BQP hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm Tội phạm chỉ được thống
kê chủ yếu qua kết quả tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm; Thống kê tội phạm trong giai đoạn khởi tố; Thống kê tội phạm trong giai đoạn truy tố; Thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; Thống kê kết quả giải quyết các vụ án hình sự và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng Trên thực tế việc thống kê tội VPQĐ
về ĐKPT giao thông đường bộ qua kết quả tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm
là rất hạn chế, chủ yếu được thực hiện ở giai đoạn khởi tố trở đi Như vậy theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 01/7/2005 hướng dẫn chi tiết một số quy định pháp luật trong công tác thống kê tội phạm, thống kê hình sự thì những trường hợp cho dù hậu quả TNGT xảy ra đáp ứng CTTP tại Điều 202 BLHS 1999 nhưng vì người thực hiện hành vi phạm tội đã chết nên không khởi
tố vụ án, do vậy không thống kê tội phạm Đây là một thiếu sót nghiêm trọng trong lý luận và trong công tác thống kê tội phạm, mặc dù người phạm tội đã chết thì sẽ không khởi tố vụ án hình sự, nghĩa là người thực hiện hành vi phạm tội sẽ không bị xử lý hình
sự Nhưng công tác thống kê tội phạm là để nắm bắt được tình hình tội phạm một cách toàn diện từ đó có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả, vì vậy theo tác giả khi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì nên đưa vào thống kê tội phạm dù là người thực hiện hành
vi phạm tội đã chết, để có cái nhìn khách quan, chính xác và toàn diện hơn về tình hình tội phạm Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu, qua quá trình thu thập thông tin, ý kiến