Lần đầu tiên, việc tăng cường tổ chức cho hệ thống cơ quan quản lý đất đai đã được quy định cụ thể trong Luật Đất đai 2003: Bên cạnh các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân thực hiện
Trang 1PHẠM THỊ THANH HƯƠNG
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI
THUỘC SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài “Tổ chức và hoạt
động của Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường” là
công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ
Văn Nhiêm Các tài liệu, số liệu trong luận văn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
những nội dung của tác giả khác được trích dẫn, ghi chú theo đúng quy định
Tác giả cam đoan
Phạm Thị Thanh Hương
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5
6 Bố cục của Luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI 7
1.1 Quá trình hình thành Văn phòng đăng ký đất đai 7
1.1.1 Giai đoạn từ khi có Luật 2003 đến trước Luật Đất đai 2013 8
1.1.2 Sự thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 2013 đến nay 18
1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai
19
1.2.1 Vị trí của Văn phòng đăng ký đất đai 19
1.2.2 Chức năng của Văn phòng Đăng ký Đất đai 21
1.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Đăng ký đất đai 22
1.3 Cơ cấu tổ chức, đội ngũ viên chức của Văn phòng Đăng ký đất đai 30
1.4 Quan hệ công tác của Văn phòng Đăng ký Đất đai 34
1.4.1 Quan hệ với cơ quan Tài nguyên và Môi trường 35
1.4.2 Quan hệ với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 36
1.4.3 Quan hệ với úy ban nhân dân cấp xã 36
1.4.4 Quan hệ với cơ quan thuế, tài chính 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI 40
2.1 Thực trạng tổ chức của Văn phòng Đăng ký Đất đai 40
2.1.1 Đánh giá chung thực trạng thành lập của Văn phòng đăng ký đất đai cả nước 40
2.1.2 Thực trạng tổ chức của Văn phòng Đăng ký đất đai một số tỉnh, thành phố và thực trạng tổ chức của Văn phòng Đăng ký đất đai Khánh Hòa 41
2.2 Thực trạng hoạt động của Văn phòng Đăng ký đất đai 53
Trang
Trang 52.2.1 Thực trạng đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất 53
2.2.2 Thực trạng xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính 58
2.2.3.Thực trạng quản lý biến động về đất đai và chỉnh lý hồ sơ địa chính 59
2.2.4 Thực trạng cung cấp thông tin đất đai 60
2.2.5 Thực trạng công tác thống kê, kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất 63
2.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đã đánh giá kết quả sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa.IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước: chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội… Hiệu quả quản lý nước nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường, chính sách pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát triển nhanh…Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế “nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lãnh vực này còn lớn; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai còn diễn biến phức tạp
Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn tập trung ở khâu tổ chức hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai còn bộc lộ nhiều điểm yếu, chưa đáp ứng được chức năng nhiệm vụ được giao Lần đầu tiên, việc tăng cường tổ chức cho hệ thống cơ quan quản lý đất đai đã được quy định cụ thể trong Luật Đất đai 2003: Bên cạnh các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai đã có cơ quan dịch vụ
công là hệ thống Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện có chức
năng tổ chức thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý biến động về sử dụng đất, nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất các cấp được hình thành đóng góp không nhỏ vào việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai, cải cách thủ tục hành chính nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, việc phối hợp gắn kết trong chỉ đạo điều hành giữa cấp tỉnh và cấp huyện còn thiếu tập trung dẫn đến mục tiêu xây dựng một hệ thống hồ sơ địa chính đồng bộ, cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, các biến động về đất đai được cập nhật thường xuyên tạo cơ sở cho việc cung cấp thông tin đất đai chính xác, cải cách
Trang 7thủ tục hành chính trong đăng ký, cấp giấy chứng nhận, quản lý đất đai có hiệu quả
là không đạt được Do vậy, quan điểm chỉ đạo về định hướng tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai tại Nghị quyết số 19 - Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ ra một trong những trọng tâm
cần phải thực hiện là nâng cao năng lực quản lý đất đai : Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ
sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, phục vụ đa mục tiêu; từng bước chuyển sang giao dịch điện tử trong lãnh vực đất đai Phấn đấu đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai; Tiếp tục củng cố, hoàn thiện tổ chức, cơ chế hoạt động của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất theo mô hình dịch vụ công, tập trung một cấp tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và có các chi nhánh đặt tại các quận, huyện, khu vực đông dân cư để tạo thuận lợi cho người dân; trước mắt thực hiện đối với khu vực đô thị…
Các quan điểm của Đảng trong Nghị quyết nói trên đã được thể chế hoá khá đầy đủ và cụ thể trong Luật đất đai năm 2013, khắc phục những hạn chế của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất, hệ thống Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện đã được tổ chức lại thành Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Đây là.điều kiện thuận lợi, bảo đảm sự tập trung, thông suốt cho hoạt động chỉ đạo điều hành trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia thống nhất từ Trung ương đến địa phương Là cơ sở để thực hiện được mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin đất đai và mô hình giao dịch đất đai điện tử phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai; hỗ trợ người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong giao dịch đất đai, phát huy tối đa hiệu quả đầu tư trong việc xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai theo yêu cầu của Chính phủ, tiến đến xây dựng chính phủ điện tử, hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước về đất đai Như vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu đánh giá về cơ sở lý luận, pháp lý và thực trạng tổ chức hoạt động của Văn phòng Đăng ký Đất đai, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm, đề
ra giải pháp cho việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của mô hình Văn phòng Đăng
ký Đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đáp ứng được nhiệm vụ trong tình hình mới là những vấn đề tác giả sẽ tập trung nghiên cứu Với lý do trên, tác giả chọn Đề tài: Tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đăng ký Đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường” làm luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường, là tổ chức mới được hình thành theo quy định của Luật
Trang 8Đất đai 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014) trên cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có ở địa phương, được tổ chức lại với cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ có nhiều điểm mới để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại, đội ngũ chuyên nghiệp Do mới hình thành được hơn 1 năm nên các công trình nghiên cứu không nhiều Trong quá trình nghiên cứu xây dựng đề tài tác giả đã tìm thấy một số tác phẩm, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của mình, như sau:
* Luận án tiến sĩ Luật học:
Đặng Anh Quân (2011), Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển, Luận án tiến sĩ Nội dung chủ yếu của đề tài tác giả nghiên cứu hướng đến hai mục đích Thứ nhất, xác định một số vấn đề cơ bản của hệ thống đăng ký đất đai: nêu bật những lợi ích mà một hệ thống đăng ký đất đai hoạt động hiệu quả có thể mang lại và những yêu cầu được đặt ra, cũng như những yếu tố được xem là trụ cột không thể thiếu trong hệ thống đăng ký đất đai Thứ hai, làm rõ thực trạng hiện nay của hệ thống đăng ký đất đai Việt Nam thông qua việc phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh hệ thống và thực tế áp dụng các quy định này trong hoạt động đăng ký đất đai Đây sẽ là vấn đề cần lưu tâm đối với các nhà lập pháp khi ban hành pháp luật điều chỉnh việc cải cách hệ thống đăng ký, nhằm đảm bảo tính hiệu quả cho hoạt động của hệ thống muốn xây dựng, là cơ sở để tác giả,
và có thể là những nhà nghiên cứu khác, đưa ra những gợi ý góp phần vào việc xây dựng pháp luật tạo hành lang pháp lý hiện đại hóa hệ thống đăng ký đất đai
* Luận văn thạc sĩ Luật học:
Lê Văn Tân (2013), Tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất (Luật Đất đai 2003), Luận văn Thạc sĩ Nội dung chủ yếu của đề tài tác giả hướng đến mục đích làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và pháp lý liên quan đến
tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; đối chiếu thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng để làm rõ những mặt tích cực đồng thời xác định những tồn tại, hạn chế cần khắc phục Qua
đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Đồng thời kiến nghị các nội dung cần xem xét, hoàn thiện pháp luật về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý
hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính nói riêng và pháp luật về đất đai nói chung
* Các bài viết trên các website, tạp chí:
Bộ Tư Pháp (2016), “Một số yêu cầu đối với hệ thống đăng ký quyền sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất”, nội dung nâng cao hiệu quả của hệ thống đăng ký
Trang 9quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với thị trường bất động
sản; Bộ Tài nguyên và môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai (2014), “Nâng cao hiệu
quả công tác quản lý nhà nước về đất đai”, nội dung một số giải pháp chủ yếu để góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai cần quan tâm thực hiện;
Tổng cục Quản lý đất đai (2010), “Lịch sử hình thành - phát triển”, nội dung tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển của ngành quản lý đất đai; Bộ tài nguyên và môi
trường, Phùng Văn Nghệ (2012),” Công tác quản lý đất đai – Những vấn đề đang đặt ra”, Tạp chí Cộng sản, nội dung tác giả đề cập đến những khó khăn, bất cập trong công tác quản lý đất đai và một số giải pháp đổi mới để đáp ứng các yêu cầu quản lý
và tương xứng với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong từng giai
đoạn; Phương Hiếu (2012), “Thực trạng quản lý và sử dụng đất đai hiện nay”, Bộ
Tài nguyên và môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai (2012),’’Đề án thí điểm kiện
toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường” theo Quyết định 447/QĐ-TTg ngày 17/4/2012 của Thủ tướng
đề về Tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đăng ký Đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Do vậy, Đề tài “Tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường” mà tác giả chọn làm luận văn tốt nghiệp là
rất mới và không trùng lặp với các đề tài khác
3 Mục đích, đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục đích, qua nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và pháp lý liên quan đến tổ chức
và hoạt động của Văn phòng Đăng ký Đất đai; đối chiếu thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng để làm rõ những mặt tích cực, đồng thời xác định những tồn tại, hạn chế cần khắc phục Qua đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký Đất đai Đồng thời kiến nghị các nội dung cần xem xét, hoàn thiện pháp luật về đăng ký,
Trang 10cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính nói riêng và pháp luật về đất đai nói chung
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đăng ký Đất đai, cụ thể như sau :
Cơ sở lý luận và pháp lý theo quy định pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký Đất đai Thực tiễn áp dụng quy định này trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký Đất đai trong thời gian qua
Một số kiến nghị hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai trước yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước về đất đai, phù hợp với
xu thế chung của các nước trên thế giới
3.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng
ký Đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường dựa trên cơ sở các quy định của Luật Đất đai năm 2013, các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và thông tư hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ có liên quan
Ngoài số liệu chung của cả nước từ nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, do hạn chế về nguồn số liệu từng địa phương nên để minh họa cho các nội dung nghiên cứu về mặt thực tiễn, đề tài tập trung chủ yếu vào tổ chức bộ máy và kết quả hoạt động của Văn phòng đăng ký Đất đai tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ, giải quyết những vấn đề mà lý luận
và thực tiễn đặt ra, như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn; phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh… trên
cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về quản lý đất đai
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài sẽ tập hợp và đưa ra
một hệ thống cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký Đất đai; giúp cho các nhà chuyên môn có cái nhìn tổng quát, toàn diện hơn vị trí, vai trò, sự cần thiết tổ chức mô hình Văn phòng đăng ký đất đai, từ đó đề xuất giải pháp để đổi mới, hoàn thiện, góp phần hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước về đất đai, cải cách thủ tục hành chính trong công tác đăng ký, cấp
Trang 11giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, cung cấp thông tin về đất đai
Giá trị ứng dụng: Với việc khảo sát thực tiễn, kết hợp những kinh nghiệm rút
ra từ thực tế công tác, đề tài chỉ ra được những bất cập, hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký Đất đai Đề tài có khả năng
áp dụng trong thực tiễn quá trình hoàn thiện tổ chức và hoạt động Văn phòng Đăng
ký Đất đai tại tỉnh Khánh hòa, các tỉnh, thành phố khác; cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và những người làm công tác chuyên môn trên lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, nhất là liên quan đến công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, cung cấp thông tin về đất đai
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của Văn phòng
Đăng ký Đất đai
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của Văn phòng Đăng ký Đất đai
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI 1.1 Quá trình hình thành Văn phòng đăng ký đất đai
Đất đai có vai trò hết sức quan trọng là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,
là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia gắn liền với lãnh thổ quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã đổ bao mồ hôi, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay Nó có ý nghĩa trên tất cả các mặt của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế đến văn hóa tinh thần nhưng đất đai là nguồn tài nguyên hữu hạn Vì vậy, Khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên đất sẽ là động lực phát triển của xã hội
Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm, coi đất đai là vấn đề hết sức hệ trọng của đất nước, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể vấn đề xác lập quan hệ chủ sở hữu đối với đất đai đã có những biến đổi phù hợp với từng thời kỳ: từ chỗ công nhận trong Hiến pháp năm 1959 ba hình thức sở hữu đất đai đó là: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể hợp tác xã và sở hữu tư nhân thì từ Hiến Pháp năm 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 đã quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản
lý Như vậy, Hiến pháp năm 1980, 1992 và Hiến pháp 2013.bằng sự xác lập sở hữu toàn dân đối với đất đai, thì quan hệ pháp luật đất đai ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở nhà nước là chủ thể đặc biệt của quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai
Từ đây, nhà nước là chủ sở hữu duy nhất và tuyệt đối với đất đai, có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt số phận pháp lý của đất đai Các tổ.chức, cá nhân với tư cách là người sử dụng đất của nhà nước, thực hiện một cách trực tiếp quyền chiếm hữu và sử dụng đất đai Nhà nước với vai trò là đại diện chủ
sở hữu, để quản lý, sử dụng đất đai hiệu quả thì phải có một cơ sở dữ liệu đất đai đầy đủ và quản lý, khai thác được cơ sở dữ liệu đất đai để nắm chắc, quản chặt mọi loại đất và người sử dụng đất cùng với các biến động trong quá trình sử dụng đất đai Một hệ thống đăng ký đất đai hữu hiệu sẽ giúp cho Nhà nước thực hiện được mục tiêu này có ý nghĩa rất.quan trọng trong việc giảm bớt thủ tục hành chính; công khai quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất; giúp thị trường bất động sản trở nên minh bạch với những thông tin rõ ràng về bất động sản, sẽ góp phần giúp nhà nước quản lý, kiểm soát được thị trường bất động sản, chống thất thu thuế và đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, hạn chế các tranh chấp đất đai, bất động sản tạo lập một môi trường xã hội ổn định
Trang 13Vì vậy việc xây dựng một hệ thống đăng ký đất đai hiệu quả, đã trở thành một nhu cầu.thiết yếu của mỗi một quốc gia nói chung và nước ta nói riêng Ngành Quản lý đất đai Việt Nam tính từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41 ngày
03 tháng 10 năm 1945 để kết thúc hoạt động của cơ quan quản lý đất đai thuộc Thực dân Pháp và mở đầu cho hoạt động quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới nay đã trải qua 70 năm trưởng thành và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau với cơ cấu tổ chức, tên gọi khác nhau Qua giai đoạn phát triển, từ trước Luật Đất đai năm 2003 việc tổ chức tham mưu cho các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến các xã phường, thị trấn đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai đều do các cơ quan địa chính và cán bộ địa chính (cấp xã) thực hiện Trong từng giai đoạn mục tiêu của công tác đăng ký đất đai và hệ thống cơ quan thực hiện nhiệm vụ này có khác nhau, song nhìn chung nó luôn là một công tác quan trọng được thực hiện liên tục, phục vụ cho nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai của từng thời kỳ Ở cấp Bộ và tỉnh các cơ quan chuyên môn này cũng thành lập các đơn vị sự nghiệp trực thuộc (trung tâm dịch vụ địa chính) để phục vụ các nhiệm vụ trong lãnh vực đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, xây dựng hồ sơ địa chính, thống kê, kiểm kê đất đai Nhưng vị trí của tổ chức dịch
vụ công về đất đai chưa được xác định trong Luật Đất đai
1.1.1 Giai đoạn từ khi có Luật 2003 đến trước Luật Đất đai 2013
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX Đảng ta đã vạch ra những hạn chế của pháp luật về đất đai trong thời gian qua, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục Quan điểm chỉ đạo tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai đã xác định một trong
những nhiệm vụ, quyền hạn quản lý đất đai của nhà nước phải thực hiện là “Tổ
chức hệ thống quản lý nhà nước về đất đai từ Trung ương đến cơ sở Quản lý các
trong Nghị quyết nói trên đã được thể chế hoá khá đầy đủ và cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003, từ đây lần đầu tiên Luật đã quy định bên cạnh các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai còn có
cơ quan dịch vụ công là hệ thống Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh
và huyện Khoản 2 Điều 64 Luật Đất đai 2003 quy định: “Cơ quan quản lý đất đai
ở địa phương có văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng chỉnh lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ”
1
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa IX, tr 67
Trang 14Mô hình đơn vị sự nghiệp công lập của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất theo quy định tại Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV sau đó được thay thế theo Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện, trong đó Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp huyện thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất: Chịu sự chỉ đạo về.quản lý và sử dụng biên chế của.Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và chỉ đạo trực tiếp, toàn diện về công tác chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp; Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lãnh vực công tác được giao cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật
1.1.1.1 Về chức năng của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 1 Thông tư số BNV–BTC, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công “có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý biến động về sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật” Từ quy định trên, thể hiện 3 vấn đề:
05/2010/TTLT-BTNMT-Thứ nhất, trước đây các chức năng của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất do cơ quan địa chính các cấp tổ chức thực hiện; Từ Luật Đất đai 2003, các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản lý nhà nước về đất đai chỉ thực hiện vai trò hướng dẫn, chỉ đạo việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính ở địa phương, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên2
Thứ hai: Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là đơn vị sự nghiệp công lập nhưng có chức năng thực hiện một số nhiệm vụ với vai trò giúp việc cho cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương Cụ thể, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất có chức năng thực hiện một số nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 gồm: đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa
2 Điểm 5.2 khoản 5 mục 1 Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính
Trang 15chính, chỉnh lý biến động về sử dụng đất, thực hiện các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thống
kê, kiểm kê đất đai Đây là một đặc điểm đặc thù của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất so với các đơn vị sự nghiệp khác được ghi nhận trong Luật Đất đai 2003
Thứ ba: Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là đơn vị thực hiện dịch vụ công về đất đai Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Văn phòng Đăng ký Quyền
sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng chỉnh lý hồ sơ địa chính
gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ3
1.1.1.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV–BTC ngày 15/3/2010 của liên Bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và bộ Tài chính Trong đó có phân cấp rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh (15 nhiệm vụ, quyền hạn) và cấp huyện (12 nhiệm vụ, quyền hạn) Nội dung phân cấp chủ yếu dựa vào đối tượng chủ thể đăng ký, cấp giấy tập trung ở 5 nhóm công việc cơ bản sau:
- Nhóm 1: Thực hiện các thủ tục về đăng ký, cấp giấy, chỉnh lý biến động
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là cơ quan đầu mối thực hiện việc đăng ký, tiếp nhận, kiểm tra, chuẩn bị hồ sơ để chuyển cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường trình cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và thực hiện và chỉnh lý biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Trong đó, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp Tỉnh làm đầu mối thực hiện các thủ tục trên đối với người sử dụng đất là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt nam định cư ở nước ngoài (ngoại trừ trường hợp mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở), tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp Huyện làm đầu mối thực hiện các thủ tục đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt nam4
3 Khoản 2 Điều 64 Luật Đất đai 2003
4 Điều 2 Thông tư số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV–BTC ngày 15/3/2010 của liên Bộ Bộ Tính thực hiện Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và bộ Tài chính
Trang 16địa chính thực hiện Sau khi có Luật Đất đai năm 2003, theo quy định của Luật Đất đai 2003, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND tỉnh thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp tỉnh Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp huyện và cấp xã
- Nhóm thứ ba: Lập và quản lý toàn bộ hồ sơ địa chính đối với tất cả các thửa
đất; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu địa chính và phát triển hệ thống thông tin đất đai Chỉnh lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính khi có biến động về sử dụng đất và về sở hữu tài sản gắn liền với đất Việc phân cấp nhiệm vụ giữa Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện được thể hiện:
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất có nhiệm vụ: Lập và quản lý toàn bộ
hồ sơ địa chính đối với tất cả các thửa đất trên địa bàn cấp tỉnh; cấp hồ sơ địa chính cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu địa chính và phát triển hệ thống thông tin đất đai; rà soát việc nhập dữ liệu thuộc tính địa chính trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký biến động về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Chỉnh lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính khi
có biến động về sử dụng đất và về sở hữu tài sản gắn liền với đất; gửi thông báo chỉnh lý biến động đối với những trường hợp biến động thuộc thẩm quyền cấp tỉnh cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã để chỉnh lý hồ sơ địa chính
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp huyện có nhiệm vụ: Lưu trữ, quản lý và chỉnh lý toàn bộ hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính đối với tất cả các thửa đất trên địa bàn cấp huyện; gửi thông báo chỉnh lý biến động cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã để chỉnh
lý hồ sơ địa chính đối với những trường hợp thuộc thẩm quyền; kiểm tra việc cập nhật và chỉnh lý hồ sơ địa chính của Ủy ban nhân dân cấp xã.5
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh: Trong thời gian chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu địa chính thì thực hiện việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính trên giấy và sao hai (02) bộ, một (01) bộ gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, một (01) bộ gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để phục vụ yêu cầu quản lý đất đai ở địa phương Ủy ban nhân dân cấp
5 Điểm c, d khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 2 Thông tư số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV–BTC ngày 15/3/2010 của liên Bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và bộ Tài chính
Trang 17xã chịu trách nhiệm cập nhật, chỉnh lý vào hồ sơ địa chính trên giấy đang quản lý đối với tất cả các trường hợp biến động về sử dụng đất6
- Nhóm thứ tư: Cung cấp thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu
địa chính
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là cơ quan duy nhất được cung cấp thông tin có giá trị pháp lý về thửa đất và người sử dụng đất7 Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp thông tin đất đai của địa phương dưới các hình thức quy định như: Tra cứu thông tin; Trích lục bản
đồ địa chính đối với từng thửa đất; Trích sao Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất hoặc từng chủ sử dụng đất; Tổng hợp thông tin đất đai; Sao thông tin hồ sơ địa chính vào thiết bị nhớ của máy tính Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường cung cấp thông tin đất đai của địa phương dưới các hình thức quy định: Tra cứu thông tin; Trích lục bản đồ địa chính đối với từng thửa đất; Trích sao Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất hoặc từng chủ sử dụng đất; Tổng hợp thông tin đất đai8
Ngoài ra, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất còn có nhiệm vụ cung cấp
số liệu địa chính cho cơ quan chức năng xác định mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các loại thuế liên quan đến đất đai và tài sản khác gắn liền với đất
- Nhóm thứ 5: Thực hiện trích đo địa chính thửa đất, khu đất nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất; kiểm tra chất lượng tài liệu trích đo địa chính thửa đất, khu đất
và tài sản gắn liền với đất do người sử dụng đất cung cấp trước khi sử dụng, quản lý
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện thực hiện nhiệm
vụ này gắn liền với việc giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, chỉnh lý biến động đất đai và tài sản khác gắn liền với đất theo thẩm quyền
1.1.1.3 Cơ cấu tổ chức, biên chế của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
- Cơ cấu tổ chức: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập theo
đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường và Giám đốc Sở Nội vụ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
6 Điểm 5.3, 5.5 mục 5 phần I Thông tư 09/2007/TT- BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính
7 Khoản 2 Điều 67 Nghị định 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về thi hành Luật Đất đai 8
Điểm 2.1 khoản 2, Mục VI Thông tư 09/2007/TT- BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 18trường, do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập theo đề nghị của Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường và Trưởng phòng Nội vụ9
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có Giám đốc và không quá 02 (hai) Phó Giám đốc Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện theo phân cấp quản lý cán bộ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định của pháp luật Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh được thành lập một số phòng chuyên môn nghiệp vụ; số lượng phòng chuyên môn nghiệp vụ căn cứ vào đặc điểm của từng địa phương và theo nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh10 Đối với Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp huyện việc thành lập một số phòng chuyên môn nghiệp vụ; số lượng phòng chuyên môn nghiệp vụ được giao cho Chủ tịch UBND huyện quy định cụ thể
Biên chế của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất :
- Biên chế của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là biên chế sự nghiệp
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định Việc quản lý, sử dụng biên chế của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Luật Viên chức
2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Loại hình tổ chức Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn (chưa được giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính)
1.1.1.4 Kết quả thử nghiệm thí điểm kiện toàn Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành Văn phòng đăng ký đất đai một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Sau 10 năm Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đi vào hoạt động theo quy định của Luật Đất đai 2003, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất các cấp được hình thành đã đóng góp không nhỏ vào việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai, cải cách thủ tục hành chính nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, việc phối hợp gắn kết trong chỉ đạo điều hành giữa cấp tỉnh và cấp huyện còn thiếu tập trung dẫn đến mục tiêu xây dựng một
hệ thống hồ sơ địa chính đồng bộ, cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, các biến động về đất đai được cập nhật thường xuyên tạo cơ sở cho việc cung cấp thông tin đất đai chính xác, cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký, cấp giấy chứng nhận, quản lý
Trang 19đất đai có hiệu quả là không đạt được Để khắc phục các hạn chế của mô hình Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 17/4/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 447/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Theo
đó, mô hình kiện toàn hệ thống Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ được thí điểm tại 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Hà Nam, Hải Phòng, Đà Nẵng và Đồng Nai
Mục tiêu của Đề án nhằm kiện toàn hệ thống Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường nhằm khắc phục hạn chế của hệ thống Văn phòng đăng ký sử dụng đất ở hai cấp hiện nay và tiến tới chuẩn hóa hệ thống Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất theo mô hình của các nước trên thế giới, phù hợp với điều kiện công nghệ hiện đại Xây dựng mô hình Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tại địa bàn thí điểm, vận hành hệ thống thông tin đất đai, bảo đảm việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất được thực hiện đơn giản, thuận tiện, khoa học theo cơ chế “một cửa”; hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai luôn được cập nhật, chỉnh lý đầy đủ, thường xuyên đáp ứng yêu cầu thông tin trong quản lý đất đai
và thị trường bất động sản11
Tổ chức: Mô hình Văn phòng đăng ký một cấp là Văn phòng Đăng ký cấp tỉnh
trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có các chi nhánh trực thuộc, được bố trí theo phạm vi địa bàn (mỗi chi nhánh phụ trách một huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh), được thành lập trên cơ sở chuyển nguyên trạng từ các Văn phòng đăng ký trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường của các thành phố, thị xã, quận, huyện thí điểm Các chi nhánh chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Văn phòng đăng
ký cấp tỉnh; không hạch toán độc lập mà do Văn phòng đăng ký cấp tỉnh thống nhất quản lý, nhưng có con dấu riêng để thực hiện nhiệm vụ đăng ký theo thẩm quyền
Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Văn phòng đăng ký một cấp:
Thực hiện đầy đủ các Văn phòng đăng ký cấp tỉnh và nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký cấp huyện theo quy định của pháp luật hiện hành trong phạm vi địa bàn thí điểm Chi nhánh Văn phòng đăng ký có chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Văn phòng đăng ký một cấp trong phạm vi địa bàn được giao quản lý, bao gồm: Thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và đăng ký biến động đối với tất cả các đối
11 Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 17/4/2012 của Thủ tướng Chính về việc phê duyệt Đề án thí điểm kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên
và Môi trường
Trang 20tượng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo); xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp đăng ký biến động không phải cấp Giấy chứng nhận mới; cập nhật, chỉnh lý thường xuyên hồ sơ địa chính và
cơ sở dữ liệu địa chính; quản lý, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính và cung cấp thông tin đất đai; thống kê đất đai theo định kỳ
Về nhân lực của Văn phòng đăng ký một cấp: sẽ chuyển nguyên trạng bộ
máy, nhân lực, nhà làm việc và kho lưu trữ hồ sơ địa chính, trang thiết bị và nhiệm
vụ của Văn phòng đăng ký trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường của các huyện thí điểm sang Văn phòng đăng ký trực thuộc Sở để quản lý và thực hiện nhiệm vụ theo Đề án
Đánh giá kết quả thử nghiệm thí điểm kiện toàn Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thành Văn phòng Đăng ký Đất đai một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Việc kiện toàn Văn phòng đăng ký một cấp tại các địa phương đã được thực hiện nhanh chóng; thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Hà Nam, Đồng Nai đều đã nghiêm túc xây dựng mô hình theo sát hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường
và kiện toàn khá đồng bộ các mặt theo yêu cầu của Đề án; đã bảo đảm duy trì ổn định hoạt động đăng ký đất đai thường xuyên ở địa phương, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đất và góp phần quan trọng hoàn thành nhiệm vụ chính trị về cấp giấy chứng nhận lần đầu ở các địa phương trong năm 2013 theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội Kết quả thực hiện đề án đã thể hiện mô hình Văn phòng đăng ký một cấp có rất nhiều ưu điểm nổi trội so với mô hình hiện nay:
Văn phòng đăng ký một cấp sau khi được kiện toàn, mặc dù còn nhiều khó khăn về các điều kiện thực hiện nhưng đã thể hiện rõ hơn tính chuyên nghiệp trong
tổ chức thực hiện nhiệm vụ đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận với bộ máy tổ chức được sắp xếp theo các nhóm chuyên môn và theo từng vị trí công việc chuyên sâu; quy trình giải quyết công việc đã được thực hiện thống nhất, nhiều nơi đã được thực hiện gắn với hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đã xây dựng
Hoạt động đăng ký đất đai đã có sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất, bảo đảm việc triển khai thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận của địa phương theo đúng kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm theo nhiệm vụ chính trị của địa phương; đội ngũ cán bộ trong hệ thống Văn phòng đăng ký một cấp đã được điều động, sử dụng linh hoạt giữa các địa bàn để hỗ trợ hoàn thành nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn cán bộ hiện có
Chất lượng thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận được nâng cao, bảo đảm
sự thống nhất trong toàn tỉnh, thành phố do Văn phòng đăng ký một cấp đã thường
Trang 21xuyên kiểm tra, quản lý, hướng dẫn các Chi nhánh; điển hình là tại thành phố Đà Nẵng sau khi chuyển thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận về Sở Tài nguyên và Môi trường đã phát hiện và xử lý hàng nghìn trường hợp trước đây đã giải quyết thủ tục không đúng quy định
Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận được bảo đảm đúng quy định; đặc biệt, tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Hà Nam đã giảm thời gian thực hiện đối với nhiều loại thủ tục từ 1/3 đến 1/2 thời gian so với trước đây
Các Văn phòng đăng ký một cấp đã có điều kiện hơn về lực lượng chuyên môn, chủ động hơn về thẩm quyền và đã quan tâm, chăm lo nhiều hơn cho việc xây dựng, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính của địa phương, nhất là việc xây dựng cơ
sở dữ liệu địa chính; đồng thời tăng cường kiểm tra, chỉ đạo việc cập nhật, chỉnh lý
hồ sơ địa chính ở các cấp huyện, xã để bảo đảm sự thống nhất của hồ sơ địa chính theo quy định
Việc thực hiện thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận được thực hiện ngày càng thuận lợi hơn với người dân do cơ quan đăng ký được tổ chức lại ngày càng chuyên nghiệp; việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai được đẩy mạnh đã tạo nhiều cơ hội hơn cho người dân được lựa chọn nơi đăng ký, tạo sự cạnh tranh giữa các cơ quan đăng ký, góp phần giảm bớt tình trạng nhũng nhiễu trong giải quyết thủ tục hiện nay
Việc thực hiện thống kê đất đai định kỳ hàng năm (năm 2012 và 2013) ở các tỉnh, thành phố thí điểm đã được thực hiện có chất lượng hơn, bảo đảm thời gian quy định do Văn phòng đăng ký một cấp đã chủ động hơn trong việc tổ chức thực hiện mà không còn thụ động chờ cấp huyện báo cáo như trước đây; riêng tỉnh Hà Nam đã hoàn thành thống kê trước thời gian quy định hơn 1 tháng
Đối với việc thí điểm về thẩm quyền ký cấp Giấy chứng nhận của Sở Tài nguyên và Môi trường cho tất cả các đối tượng sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện tại thành phố Đà Nẵng đã cho thấy chất lượng thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận được nâng cao, bảo đảm sự thống nhất trong toàn tỉnh do Văn phòng đăng ký một cấp đã thường xuyên kiểm tra, quản lý, hướng dẫn các Chi nhánh; sau khi chuyển thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận về Sở Tài nguyên và Môi trường đã phát hiện và xử lý trên 1.000 trường hợp trước đây đã giải quyết thủ tục không đúng quy định; tình trạng tồn đọng hồ sơ quá hạn đã cơ bản chấm dứt
Kết thúc thí điểm Đề án, tỉnh Đồng Nai đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ trên cơ sở chuyển nguyên trạng Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp của tỉnh và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2014
Trang 22- Kết quả thử nghiệm mô hình Văn phòng đăng ký một cấp tại 4 tỉnh,
thành phố đã được đúc kết những nội dung cơ bản như sau:
+ Về Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai có các đơn vị trực thuộc
chủ yếu: Các phòng chuyên môn: Phòng Hành chính - Tổng hợp; Phòng đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; Phòng kỹ thuật; Phòng Thông tin, lưu trữ địa chính
Các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đặt tại các quận, huyện, thị xã, thành phố Các quận, huyện, thị xã, thành phố có phạm vi địa bàn rộng hoặc nhu cầu giao dịch đất đai lớn có thể bố trí nhiều Chi nhánh
+ Về việc thành lập các Chi nhánh:
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được thành lập theo Quyết định của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Văn phòng đăng ký đất đai; hạch toán theo cơ chế phụ thuộc, do Văn phòng đăng ký đất đai thống nhất quản lý; có con dấu riêng để thực hiện nhiệm vụ đăng ký theo thẩm quyền
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai trong phạm vi địa bàn được giao quản lý đối với các đối tượng sử dụng đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh phải có giám đốc và tối thiểu 01 phó giám đốc (để bảo đảm duy trì hoạt động đăng ký thường xuyên); có 4 bộ phận chuyên trách gồm: Bộ phận tổng hợp; Bộ phận đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; Bộ phận
Kỹ thuật; Bộ phận lưu trữ
+ Về lao động và vị trí việc làm:
Văn phòng đăng ký đất đai cần có các vị trí công việc chuyên môn tối thiểu: + Phòng, bộ phận (thuộc Chi nhánh) Tổng hợp gồm các vị trí công việc chuyên môn: tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả; thu phí, lệ phí
+ Phòng, Bộ phận (thuộc Chi nhánh) Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất gồm các vị trí: kiểm tra hồ sơ; thẩm định trình duyệt; Kỹ thuật Giấy chứng nhận; kiểm duyệt dữ liệu đăng ký của các Chi nhánh (nơi có cơ sở dữ liệu)
+ Phòng, Bộ phận (thuộc Chi nhánh) Kỹ thuật gồm các vị trí: đo đạc bản đồ; xây dựng hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính; Thống kê đất đai
+ Phòng, Bộ phận (thuộc Chi nhánh) Thông tin, lưu trữ địa chính gồm các vị trí: lưu trữ; chính lý hồ sơ địa chính (đối với nơi sử dụng hồ sơ địa chính dạng giấy)
Số lượng lao động ở từng vị trí công việc được xác định căn cứ vào yêu cầu khối lượng nhiệm vụ thường xuyên cần thực hiện ở từng địa phương; điều kiện cơ
sở dữ liệu địa chính đã xây dựng và định mức lao động thực hiện trung bình đối với mỗi loại hồ sơ thủ tục đăng ký ở địa phương
Trang 23+ Văn phòng đăng ký đất đai phải được hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp bán tự chủ (tự trang trải một phần kinh phí) và kinh phí cho hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai phải được bảo đảm một phần bằng ngân sách Nhà nước
1.1.2 Sự thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 2013 đến nay
Quán triệt quan điểm chỉ đạo về định hướng tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai tại Nghị quyết số 19 - Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ ra một trong những trọng tâm cần phải thực hiện là nâng cao năng lực quản lý đất đai:
Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, phục vụ
đa mục tiêu; từng bước chuyển sang giao dịch điện tử trong lãnh vực đất đai Phấn đấu đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai; Tiếp tục củng cố, hoàn thiện tổ chức, cơ chế hoạt động của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất theo mô hình dịch vụ công, tập trung một cấp tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và có các chi nhánh đặt tại các quận, huyện, khu vực đông dân cư để tạo thuận lợi cho người dân; trước mắt thực hiện đối với khu vực đô thị
Để hướng tới giao dịch điện tử trong thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai thì cần phải có hệ thống thông tin đất đai được xây dựng thống nhất trên toàn quốc với một cơ sở dữ liệu về đất đai được kết nối trực tuyến với hệ thống thông tin Để thực hiện được mục tiêu trên, sự ra đời của Mô hình Văn phòng Đăng ký Đất đai một cấp là một tất yếu nhằm tạo sự tập trung cao nhất, nhanh nhất cho việc
tổ chức xây dựng, hoàn thiện, vận hành cơ sở dữ liệu đất đai đáp ứng nhiệm vụ xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại thực hiện giao dịch điện tử trong thực hiện các thủ tục hành chính về đất tiến tới xây dựng thành công Chính phủ điện tử Từ các kinh nghiệm đúc rút từ kết quả thử nghiệm của mô hình Văn phòng Đăng ký Đất đai một cấp ở 4 tỉnh, thành phố Hải Phòng, Hà Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai Sự
ra đời của Văn phòng Đăng ký Đất đai đã chính thức được thể chế hóa tại Khoản 2 Điều 24 Luật Đất đai 2013 quy định về Cơ quan quản lý đất đai: “Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ” và tại Khoản 1 Điều 5 Nghị
định 43/2014/NĐ – CP quy định “Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp
công trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực
Trang 24thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có ở địa phương; có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật” 12
1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai
1.2.1 Vị trí của Văn phòng đăng ký đất đai
Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tổ chức lại trên
cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có ở địa phương Văn phòng đăng ký đất đai là một trong các cơ quan thuộc hệ thống cơ quan tài nguyên và môi trường ở địa phương
và được giao thực hiện một số nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về đất đai13 Từ vị trí của Văn phòng đăng ký đất đai đã thể hiện một số đặc điểm sau:
Một là, Văn phòng Đăng ký Đất đai là đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách
pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện cơ chế tự chủ đối với đơn
vị sự nghiệp công lập có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật14
Hai là, Văn phòng Đăng ký Đất đai là đơn vị thực hiện dịch vụ công về đất đai
Ở Việt nam có nhiều nghiên cứu về khái niệm dịch vụ công, chẳng hạn:
“Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm đảm bảo
ổn định và công bằng xã hội”15; “Dịch vụ công là hoạt động của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hay hoạt động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ủy quyền nhằm phục vụ, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu, đa
Khoản 1 Điều 4 Thông tư Thông tư số 15/2015/TTLT BTNMT- BNV –BTC ngày 04/4/2015 của liên bộ
Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ Nội vụ, bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu
tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
15 Bộ Nội Vụ-Học viện Hành chính Quốc gia (2014), Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính, NXB
Bách khoa Hà nội, Tr 264
Trang 25dạng và những quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức vì lợi ích cộng cộng không vì mục tiêu lợi nhuận”16
Từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra đặc điểm về thực hiện dịch vụ công của Văn phòng Đăng ký Đất đai như sau:
- Là hoạt động của đơn vị sự nghiệp của nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực hiện các dịch vụ công liên quan đến lãnh vực đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đăng ký chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất; đăng
ký giao dịch bảo đảm Hoạt động cung cấp dịch vụ công của Văn phòng Đăng ký Đất đai nhằm phục vụ, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lãnh vực đất đai Hoạt động cung cấp dịch vụ công của Văn phòng Đăng ký đất đai không nhằm mục đích lợi nhuận, người thụ hưởng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền mà tiền dịch vụ được gián tiếp thu thông qua hình thức đóng thuế nộp vào ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, một số trường hợp người thụ hưởng dịch vụ phải trả tiền phí, lệ phí theo quy định của pháp luật (phí thẩm định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm, lệ phí địa chính…)
Ba là, Văn phòng Đăng ký Đất đai là đơn vị sự nghiệp được giao thực hiện
một số nhiệm vụ quản lý đất đai tại địa phương
Theo quy định tại Khoản 2 Điều.24 Luật Đất đai 2013 quy định về Cơ quan
quản lý đất đai: “Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ”
Tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định: “Cơ quan tài nguyên và
môi trường ở địa phương bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên
và Môi trường và Văn phòng đăng ký đất đai được giao thực hiện một số nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về đất đai” Từ các quy định và đối chiếu với , nhiệm vụ của
Văn phòng đăng ký đất đai được quy định tại Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT- BTNMT- BNV- BTC ngày 04/4/201517 có thể thấy rõ: Văn phòng Đăng ký Đất đai là đơn vị sự nghiệp công lập nhưng có vai trò thực hiện một số nhiệm vụ quản lý đất đai tại địa phương, thể hiện ở chỗ Văn phòng Đăng ký Đất đai có chức năng thực hiện một số nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại Điều 22 Luật Đất đai năm
2013 gồm: đăng ký quyền đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, chỉnh lý biến động
về sử dụng đất, thực hiện các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thống kê, kiểm kê đất đai Đây là
16 Lê Văn Tân (2013), Tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, tr13
17 Điều 2 Thông tư Thông tư số 15/2015/TTLT BTNMT- BNV –BTC ngày 04/4/2015 của liên bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ Nội vụ, bộ Tài chính
Trang 26một đặc điểm đặc thù của Văn phòng đăng ký đất đai so với các đơn vị sự nghiệp khác được ghi nhận trong Luật Đất đai 2013 Các đơn vị sự nghiệp khác thường không thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà chỉ tham gia với tư cách là cơ quan thực hiện tư vấn hoặc thực hiện các tác nghiệp phục vụ các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước Đặc điểm đặc thù trên cũng chỉ ra rằng: Văn phòng Đăng ký Đất đai cũng mang bản chất của cơ quan hành chính nhà nước là tính chấp hành và điều hành18 Tính chấp hành thể hiện ở chỗ trong quá trình thực hiện các chức năng nhiệm vụ có nội dung quản lý nhà nước về đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để triển khai thực hiện, song song với nó trong quá trình đó cũng có thực hiện sự chỉ đạo tác động trực tiếp đến đối tượng quản lý, đó là chính là tính điều hành Theo quy định tại Nghị định 01/2017/NĐ-CP, việc thực hiện nhiệm vụ trong quản lý đất đai ở địa phương của Văn phòng Đăng ký Đất đai ngày càng được được xác định cụ thể hơn, đó là Văn phòng Đăng ký Đất đai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp được ủy quyền theo quy định19 và
Cơ quan tài nguyên và môi trường ở địa phương bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký đất đai được giao thực hiện một số nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về đất đai20 Tuy nhiên, việc Văn phòng đăng ký đất đai có nhiệm vụ thực hiện một số nhiệm vụ quản lý đất đai có phải
ở vai trò là hỗ trợ cho Cơ quan tài nguyên và môi trường hay không thì pháp luật chưa quy định rõ nội dung này
1.2.2 Chức năng của Văn phòng Đăng ký Đất đai
Chức năng của một tổ chức là những phương diện (mặt) hoạt động chủ yếu được giao nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra Nhà nước sẽ giao những chức năng, nhiệm vụ riêng phù hợp với vị trí, vai trò của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước, các chức năng của các cơ quan nhà nước được ghi nhận bằng các quy định pháp luật
Chức năng của Văn phòng đăng ký đất đai được quy định tại Điều 1 Thông
tư số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV–BTC, giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng của Văn phòng đăng ký đất đai và chi nhánh trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai, cụ thể:
Một là, thực hiện đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Trang 27Hai là, xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và
cơ sở dữ liệu đất đai
Ba là, thống kê, kiểm kê đất đai
Bốn là, cung cấp thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của
pháp luật”
Năm là, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp được ủy quyền theo quy định; đo đạc; thực hiện các dịch vụ khác trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ phù hợp với năng lực theo quy định của pháp luật 21
Như vậy, so với chức năng của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất được quy định tại Thông tư số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV–BTC ngày 15/3/2010 của liên Bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính của Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thì tổ chức Văn phòng Đăng ký Đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 đã được mở rộng thêm chức năng như: thực hiện đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp được ủy quyền theo quy định; đo đạc; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu và thực hiện các dịch vụ khác trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ phù hợp với năng lực theo quy định của pháp luật;
1.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Đăng ký đất đai
Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai được quy định tại Điều
2 Thông tư số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV–BTC, giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai và chi nhánh trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai, cụ thể:
Một là, Thực hiện các thủ tục đăng ký, cấp giấy, chỉnh lý biến động quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (kể cả thực hiện đăng
ký, chỉnh lý biến động đối với đất được Nhà nước giao quản lý)
Như đã đề cập ở các phần trước, tổ chức lại hệ thống Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thành Văn phòng Đăng ký Đất đai là một trong những giải pháp
để tập trung thực hiện một cách đồng bộ nhất, nhanh nhất việc xây dụng cơ sở dữ liệu đất đai nhằm thiết lập một hệ thống thông tin đất đai thống nhất trên toàn quốc đáp ứng nhiệm vụ xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại, kết nối dữ liệu với các ngành thực hiện giao dịch điện tử trong thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai và tiến tới xây dựng thành công Chính phủ điện tử, tạo điều kiện để Nhà nước
21
Khoản 4 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính phủ
Trang 28quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong lãnh thổ, đảm bảo đất đai được sử dụng hợp
lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất Chính vì vậy nhiệm vụ đầu tiên mang tính cơ bản, là phải thực hiện việc đăng ký đất đai nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ cho toàn bộ các thửa đất thuộc phạm vi phường, xã, thị trấn trong cả nước (một trong những thành phần của cơ sở dữ liệu địa chính), mà cơ sở sở dữ liệu địa chính
là thành phần cơ bản của cơ sở dữ liệu đất đai
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất; cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận là Văn phòng đăng ký đất đai Nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện tiếp nhận hồ sơ đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có nhu cầu nộp
hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tiếp nhận
bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp, trường hợp hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại cấp xã thì gửi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Ủy ban nhân dân cấp xã để trao cho người được cấp 23 Hiện nay, để giảm tải khối lượng công việc cho các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai đồng thời giảm bớt thủ tục và
Trang 29thời gian giải quyết thủ tục hành chính, chức năng nhiệm vụ của Văn phòng Đăng ký Đất đai đã được mở rộng hơn rất nhiều Theo quy định tại Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính phủ, Văn phòng Đăng ký Đất đai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp được ủy quyền theo quy định 24 Cụ thể: Đối với địa phương đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì việc chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào Giấy chứng nhận đã cấp do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh25
(theo quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ thì thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường)
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện cụ thể tại địa phương về bộ máy
tổ chức, cơ sở vật chất của Văn phòng đăng ký đất đai để quy định việc cho phép Sở Tài nguyên và Môi trường được ủy quyền cho Văn phòng đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
và được sử dụng dấu của Sở Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp này 26
(Khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng Trong trường hợp này Văn phòng Đăng ký Đất đai được
ủy quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được sử dụng dấu của Sở Tài nguyên và Môi trường)
Như vậy, so với nhiệm vụ đăng ký quyền sử dụng đất do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thực hiện trước đây, nhiệm vụ của Văn phòng Đăng ký Đất đai có phạm vị đăng ký được mở rộng thêm bao gồm cả thực hiện việc đang ký đất được Nhà nước giao quản lý và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp được ủy quyền theo quy định Đối với địa phương chưa thành lập được Văn phòng Đăng ký Đất đai theo quy định của Luật đất đai 2013 thì việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũng như việc đăng ký biến động về sử dụng đất giữa Văn phòng Đăng
ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện được dựa trên chu thể sử dụng đất Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh làm đầu mối thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận, đăng ký biến động quyền sử
24 Khoản 4 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính phủ
25 Khoản 23 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính phủ
26
Khoản 23 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính phủ
Trang 30dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam đinh cư ở nước ngoài (trừ trường hợp mua nhà ở gắn với
quyền sử dụng đất ở), tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất cấp huyện chịu trách nhiệm làm đầu mối thực hiện các thủ tục trên đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
Hai là, lập, chỉnh lý, cập nhật, lưu trữ và quản lý hồ sơ địa chính; tiếp nhận,
quản lý việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật
Hồ sơ địa chính bao gồm.bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai, Sổ địa chính, bản lưu Giấy chứng nhận27 Văn phòng Đăng ký Đất đai có trách nhiệm tổ chức lập
hồ sơ địa chính (ngoại trừ tài liệu bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai thuộc trách nhiệm của Sở Tài nguyên và Môi trường); cập nhật, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính Cung cấp bản sao bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai (dạng số hoặc dạng giấy) cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn sử dụng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc trên đối với các đối tượng sử dụng đất, được Nhà nước giao quản lý đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc thẩm quyền giải quyết thủ tục đăng ký28
Địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì: Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức việc lập sổ địa chính; cung cấp tài liệu đo đạc địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường và thực hiện cập nhật, chỉnh lý các tài liệu hồ sơ địa chính đối với các thửa đất của các tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện cập nhật, chỉnh lý các tài liệu hồ sơ địa chính đối với các thửa đất của các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam; cung cấp bản sao bản đồ địa chính, sổ địa chính,
sổ mục kê đất đai cho Ủy ban nhân dân cấp xã sử dụng29
Ba là, Văn phòng Đăng ký Đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất các cấp quản lý việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật
có trách nhiệm: Báo cáo cơ quan tài nguyên và môi trường về nhu cầu sử dụng phôi
Trang 31Giấy chứng nhận trước ngày 15 tháng 10 hàng năm, tiếp nhận, quản lý, lập sổ theo dõi nhận, cấp phát và sử dụng phôi Giấy chứng nhận đã phát hành về địa phương Báo cáo tình hình tiếp nhận, quản lý, sử dụng phôi Giấy chứng nhận về Sở Tài nguyên và Môi trường định kỳ 06 tháng trước ngày 20 tháng 6, định kỳ hàng năm trước ngày 20 tháng 12 hàng năm30
Ngoài ra,.do tính chất đặc biệt của loại giấy tờ này, để bảo đảm số lượng phôi giấy chứng nhận được quản lý và theo dõi chặt chẽ, Văn phòng đăng ký đất đai còn được giao nhiệm vụ kiểm tra thường xuyên việc quản lý, sử dụng phôi Giấy chứng nhận trong đơn vị để bảo đảm sự thống nhất giữa sổ theo dõi và phôi Giấy chứng nhận thực tế đang quản lý, đã sử dụng tránh trường hợp thất thoát tạo kẽ hở cho việc làm giả giấy chứng nhận gây mất trật tự an ninh xã hội và tập hợp, quản lý các phôi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận đã in hoặc viết bị hư hỏng để tiêu hủy
- Đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai, Phòng Tài nguyên
và Môi trường có trách nhiệm: Lập kế hoạch về sử dụng phôi Giấy chứng nhận của địa phương gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 20 tháng 10 hàng năm; Kiểm tra việc quản lý, sử dụng phôi Giấy chứng nhận đối với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện
Bốn là, cập nhật, chỉnh lý, đồng bộ hóa, khai thác dữ liệu đất đai; xây dựng,
quản lý hệ thống thông tin đất đai theo quy định của pháp luật
Cơ sở dữ liệu đất đai là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính,
dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử 31
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm: Xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng, cập nhật cơ sở dữ liệu địa chính và cơ sở dữ liệu thống
kê, kiểm kê đất đai cấp tỉnh; Cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu địa chính đối với các trường hợp đăng ký cấp Giấy chứng nhận lần đầu và đăng ký biến động thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh; đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu địa chính trong phạm vi toàn tỉnh đối với các trường hợp đăng ký cấp Giấy chứng nhận lần đầu và đăng ký biến động của tất cả các đối tượng sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất; Tích hợp cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai của cấp huyện và tổng hợp bổ sung vào cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai của cấp tỉnh 32 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp
Trang 32huyện có trách nhiệm: Xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính và cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai cấp huyện; Cập nhật, chỉnh
lý cơ sở dữ liệu địa chính đối với các trường hợp đăng ký, cấp Giấy chứng nhận lần đầu và đăng ký biến động thuộc thẩm quyền của cấp huyện; Tổng hợp cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai của cấp xã, huyện để bổ sung vào cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai của cấp huyện; Cung cấp thông tin biến động đất đai đã cập nhật cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh để cập nhật cơ sở dữ liệu địa chính cấp tỉnh; Cung cấp dữ liệu địa chính và các thông tin biến động đất đai cho
Ủy ban nhân dân cấp xã để sử dụng cho quản lý đất đai ở địa phương 33
Hiện nay, theo quy định của pháp luật Đất đai năm 2013 hệ thống Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất các cấp đã được tổ chức lại thành Văn phòng Đăng ký Đất đai Do vậy, để phù hợp với nhiệm vụ của Văn phòng Đăng ký Đất đai Bộ Tài nguyên và Môi trường đã dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT ngày 24 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng cơ sơ dữ liệu đất đai theo hướng vẫn giữ nguyên các nhiệm
vụ trên (nhiệm vụ của Văn phòng Đăng ký Đất đai tương tự Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp tỉnh ngoại trừ nhiệm vụ mà Văn phòng Đăng ký Đất đai
không phải thục hiện đó là Tích hợp cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai của cấp
huyện và tổng hợp bổ sung vào cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai của cấp tỉnh;
nhiệm vụ của chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tương ứng Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất cấp huyện34
:
Năm là, thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử
dụng đất; chỉnh lý bản đồ địa chính; trích lục bản đồ địa chính
Theo quy định của Nghị định 43/2014/NĐ – CP thì Văn phòng Đăng ký Đất đai
có trách nhiệm giúp Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; Văn phòng Đăng ký Đất đai.hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh (đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai) kiểm tra kết quả thống kê, kiểm kê đất đai của cấp huyện trước khi tiếp nhận theo quy định tại Thông tư 28/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường 35
Văn phòng Đăng ký Đất đai thực hiện chỉnh lý bản đồ địa chính trong các trường hợp: Có thay đổi về ranh giới thửa đất, diện tích thửa đất, mục đích sử dụng đất trong các trường hợp: có quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất của cấp có thẩm quyền; quyết định của Ủy ban nhân dân các
33 Khoản 7 Điều 7 Thông tư số 04/2013/TT – BTNMT ngày 24 tháng 4 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
34 http://www.gdla.gov.vn/index.php/laws/view-414-DTTTT6.html
35 Khoản 2 Điều 24 Thông tư 28/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 02 tháng 6 năm 2014
về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 33cấp, bản án của Tòa án nhân dân các cấp về việc giải quyết tranh chấp đất đai; kết quả cấp, chỉnh lý Giấy chứng nhận trong các trường hợp chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế có liên quan đến thay đổi ranh giới, mục đích sử dụng đất; quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; có thay đổi ranh giới thửa đất do sạt lở, sụt đất tự nhiên; người sử dụng đất, cơ quan quản lý đất đai các cấp phát hiện có sai sót trong đo vẽ bản đồ địa chính; chỉnh lý, bổ sung mốc giới, đường địa giới hành chính trên bản đồ trong các trường hợp có quyết định thay đổi địa giới hành chính, lập đơn vị hành chính mới, đã lập hồ sơ địa giới, cắm mốc địa giới trên thực địa; mốc tọa độ, mốc quy hoạch, hành lang an toàn công trình trên bản đồ được chỉnh lý, bổ sung trong các trường hợp mốc giới mới được cắm trên thực địa và có thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỉnh lý, bổ sung thông tin về địa danh, địa vật định hướng và các thông tin thuộc tính khác do cơ quan quản lý đất đai các cấp
tự quyết định khi phát hiện có thay đổi36
Sáu là, Văn phòng Đăng ký Đất đai thực hiện kiểm tra trích đo địa chính
thửa đất do đơn vị có chức năng hành nghề đo đạc bản đồ địa chính khác thực hiện
để phục vụ đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận đơn lẻ, thường xuyên hàng năm37
; kiểm tra, xác nhận sơ đồ nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do tổ chức, cá nhân cung cấp phục vụ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận
Bảy là, thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật Văn phòng đăng ký đất đai và Chi nhánh của Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện thủ tục đăng ký thế chấp và xóa đăng ký thế chấp đối với các trường hợp: đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất; đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất; đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đồng thời với tài sản gắn liền với đất; đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đồng thời với tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; đăng ký thay đổi nội dung thế chấp đã đăng ký; đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp đã đăng ký thế chấp38
Đối với những địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì thẩm quyền đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được xác định như sau: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của tổ chức
36
Điều 17 Thông tư 25/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 19 tháng 5 năm 2014 về bản đồ địa chính
37 Khoản 7 Điều 22 Thông tư 25/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường
38 Điều 4 Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT- BTP – BTNMT ngày 23/6/2016 hướng dẫn về việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Trang 34trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất, tài sản gắn liền với đất hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp chưa thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở
Tám là, cung cấp hồ sơ, bản đồ, thông tin, số liệu đất đai, nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở địa phương là Văn phòng đăng ký đất đai Đối với địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp dữ liệu đất đai từ hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý hồ sơ địa chính39 Cơ sở dữ liệu đất đai tại địa phương được xây dựng từ kết quả đo đạc, lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; thống kê, kiểm kê đất đai; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất và bản đồ giá đất; điều tra cơ bản về đất đai; thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai Ngoài việc Văn phòng Đăng ký Đất đai có nhiệm vụ cung cấp số liệu địa chính phục vụ cho cơ quan chức năng xác định mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các loại thuế liên quan đến đất đai được quy định tại Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ thì hiện nay, chưa có quy định cụ thể về các hình thức cung cấp thông tin của Văn phòng Đăng ký Đất đai Trước đây, Thông tư 09/2007/TT- BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường có quy định cụ thể về hình thức cung cấp thông tin, trong
đó Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh cung cấp thông tin đất đai của địa phương dưới các hình thức như: Tra cứu thông tin; trích lục bản đồ địa chính đối với từng thửa đất; trích sao sổ địa chính, sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất, từng chủ sử dụng; tổng hợp thông tin đất đai; sao thông tin đất đai vào thiết bị nhớ của máy tính Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện cung cấp thông tin đất đai của địa phương dưới các hình thức như: Tra cứu thông tin; trích lục bản đồ
39 Khoản 2 Điều 15 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai
Trang 35địa chính đối với từng thửa đất; trích sao sổ địa chính, sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất, từng chủ sử dụng; tổng hợp thông tin đất đai40
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng các nhiệm vụ về đăng ký, xây dựng, quản
lý hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính, thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận, thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trang , trước đây do cơ quan địa chính thực hiện nay đã giao cho Văn phòng Đăng ký Đất đai thống nhất thực hiện nhằm bảo đảm công tác theo dõi, chỉnh lý biến động, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai,
hệ thống thông tin đất đai Với những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trên, Văn phòng Đăng ký Đất đai đã đảm đương những nhiệm vụ mang tính dịch vụ công về đất đai; đây là tiền đề tạo điều kiện thực hiện việc xây dựng, quản lý hệ thống đăng
ký đất đai theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, cải cách hành chính, tiến tới thực hiện dịch vụ công điện tử trong lãnh vực đất đai gồm đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; thực hiện các giao dịch về đất đai và tài sản gắn liền với đất; cung cấp thông tin,
dữ liệu về đất đai, cung cấp các dịch vụ thuận tiện, đơn giản, an toàn cho tổ chức và
cá nhân trên môi trường mạng Tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ công bảo đảm cho mọi tổ chức, cá nhân thực sự được hưởng lợi từ dịch vụ công
1.3 Cơ cấu tổ chức, đội ngũ viên chức của Văn phòng Đăng ký đất đai
1.3.1 Tổ chức bộ máy
Theo Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT- BTNMT-BNV-BTC quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quyết định thành lập Văn phòng đăng ký đất đai trên cơ sở hợp nhất Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có ở địa phương, bảo đảm không tăng biên chế; chuyển nguyên trạng kế hoạch, nhiệm vụ, kinh phí ngân sách nhà nước cấp và các nguồn vốn khác, tài sản, văn phòng làm việc, trang thiết bị, hồ sơ, tài liệu và thông tin dữ liệu có liên quan của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện
về Văn phòng đăng ký đất đai41
Cơ cấu tổ chức:
Một là, về lãnh đạo: Văn phòng đăng ký đất đai có Giám đốc và không quá
02 Phó Giám đốc Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phù hợp với tiêu chuẩn chức
40 Điểm 2.1 Khoản 2, Mục VI Thông tư 09/2007/TT-BTNMT cùa Bộ Tài nguyên, và Môi truờng
41 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 15/2015/TTLT BTNMT- BNV –BTC ngày 04/4/2015 của liên bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ Nội vụ, bộ Tài chính
Trang 36danh theo quy định42 Hiện nay, pháp luật mới chỉ quy định về số lượng chức danh lãnh đạo của Văn phòng đăng ký đất đai mà chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của từng chức danh chức danh, về thực tiễn áp dụng tác giả sẽ trình bày tại chương 2 của luận văn
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc để bảo đảm duy trì hoạt động đăng ký thường xuyên và các bộ phận chuyên môn Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng của Văn phòng đăng ký đất đai và Giám đốc, Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định43
Hai là, về tổ chức: Văn phòng Đăng ký Đất đai có các phòng chuyên môn
như Phòng Hành chính - Tổng hợp; Phòng Kế hoạch - Tài chính (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định thành lập đối với Văn phòng đăng ký đất đai có từ 15 Chi nhánh trở lên); Phòng Đăng ký và cấp giấy chứng nhận; Phòng Thông tin - Lưu trữ; Phòng Kỹ thuật địa chính; Các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
là đơn vị hạch toán phụ thuộc; có con dấu riêng và được Nhà nước bố trí văn phòng, trang thiết bị làm việc theo quy định của pháp luật, có các bộ phận chuyên môn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định số lượng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai và các Chi nhánh trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai44
Hiện nay, pháp luật mới chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về việc xây dựng chức năng, nhiệm vụ của các phòng, bộ phận chuyên môn (thuộc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai) Theo kinh nghiệm đúc rút từ việc thực hiện Đề án thí điểm kiện toàn Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất theo Quyết định số Quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 17/4/2012 của Thủ tướng Chính về việc phê duyệt Đề án thí điểm kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất mô hình chung cho các tỉnh như sau45
:
42 Khoản 1 Điều 3 Thông tư Thông tư số 15/2015/TTLT BTNMT- BNV –BTC ngày 04/4/2015 của liên bộ
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính
43
Khoản 2 Điều 3 Thông tư Thông tư số 15/2015/TTLT BTNMT- BNV –BTC ngày 04/4/2015 của liên bộ
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính
44 Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tích số 15/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC của liên Bộ Tài nguyên và Môi
trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính
45
Báo cáo Số: 55/BC-BTNMT ngày 31 tháng 7 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 37* Đối với các phòng chuyên môn chủ yếu của Văn phòng đăng ký đất đai có chức năng nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Phòng Hành chính - Tổng hợp: kiêm nhiệm việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết
quả đăng ký; thu nghĩa vụ tài chính, công tác kế hoạch;
- Phòng đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất: thực hiện kiểm tra hồ sơ;
lấy ý kiến các cơ quan có liên quan trong trường hợp cần thiết; cung cấp thông tin cho cơ quan thuế; chuẩn bị hồ sơ trình duyệt; cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai Hồ sơ
do Chi nhánh chuyển lên thì thẩm định lại hồ sơ trước khi trình Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận; quản lý việc cập nhật dữ liệu thuộc tính địa chính của các Chi nhánh;
- Phòng kỹ thuật: thực hiện thủ tục chỉnh lý bản đồ, trích đo thửa đất; kiểm
tra sơ đồ tài sản gắn liền với đất; quản lý việc cập nhật dữ liệu không gian thửa đất của các Chi nhánh; tổ chức xây dựng, hoàn thiện hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính; thống kê, kiểm kê;
- Phòng Thông tin, lưu trữ địa chính: thực hiện việc quản lý, cập nhật, chỉnh
lý hồ sơ địa chính dạng giấy; cung cấp thông tin đất đai dạng giấy
* Đối với các phòng chuyên môn chủ yếu của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai có chức năng nhiệm vụ cụ thể như sau
- Bộ phận tổng hợp: kiêm nhiệm việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả đăng ký;
thu nghĩa vụ tài chính
- Bộ phận đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất: thực hiện thủ tục kiểm tra
hồ sơ; lấy ý kiến các cơ quan có liên quan trong trường hợp cần thiết; cung cấp thông tin cho cơ quan thuế; chuẩn bị hồ sơ trình duyệt; cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai
- Bộ phận Kỹ thuật: thực hiện thủ tục chỉnh lý bản đồ, trích đo thửa đất; kiểm
tra sơ đồ tài sản gắn liền với đất; tham gia xây dựng, hoàn thiện hồ sơ địa chính, cơ
sở dữ liệu địa chính; thống kê, kiểm kê
- Bộ phận lưu trữ: thực hiện việc quản lý, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính
dạng giấy; cung cấp thông tin đất đai dạng giấy
Về loại hình tổ chức: Theo quy định Thông tư liên tịch số BTNMT-BNV-BTC Văn phòng Đăng ký Đất đai được tổ chức theo loại hình đơn vị
15/2015/TTLT-sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ46
nhưng không quy định cụ thể Văn
phòng Đăng ký Đất đai thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp công lập nào (đơn vị sự
nghiệp được giao quyền tự chủ hoàn toàn hay là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tố chức bộ máy,
46 Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tích số 15/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC của liên Bộ Tài nguyên và Môi
trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính
Trang 38nhân sự); tuy nhiên do tính chất đặc thù về chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng
Đăng ký Đất đai và quy định không được tự chủ hoàn toàn về biên chế (Biên chế, số
lượng người làm việc của Văn phòng đăng ký đất đai được giao trên cơ sở đề án vị trí việc làm gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng biên chế, số lượng người làm việc của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được
) điều đó chứng tỏ Văn phòng Đăng ký Đất đai được
tổ chức theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn
Hiện chưa có văn bản hướng dẫn về xác định vị trí việc làm của Văn phòng đăng ký đất đai Tuy nhiên, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao Văn phòng đăng ký đất đai thì cần có các vị trí công việc chuyên môn tối thiểu như sau:
- Phòng, bộ phận (thuộc Chi nhánh) Tổng hợp gồm các vị trí công việc chuyên môn: tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả; thu phí, lệ phí
- Phòng, Bộ phận (thuộc Chi nhánh) Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất gồm các vị trí: kiểm tra hồ sơ; thẩm định trình duyệt; Kỹ thuật Giấy chứng nhận; kiểm duyệt dữ liệu đăng ký của các Chi nhánh (nơi có cơ sở dữ liệu)
- Phòng, Bộ phận (thuộc Chi nhánh) Kỹ thuật gồm các vị trí: đo đạc bản đồ; xây dựng hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính; Thống kê đất đai
- Phòng, Bộ phận (thuộc Chi nhánh) Thông tin, lưu trữ địa chính gồm các vị trí: lưu trữ; chính lý hồ sơ địa chính (đối với nơi sử dụng hồ sơ địa chính dạng giấy)
Số lượng lao động ở từng vị trí công việc được xác định căn cứ vào yêu cầu khối lượng nhiệm vụ thường xuyên cần thực hiện ở từng địa phương; điều kiện cơ
sở dữ liệu địa chính đã xây dựng và định mức lao động thực hiện trung bình đối với mỗi loại hồ sơ thủ tục đăng ký ở địa phương
Bên cạnh đó, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao Văn phòng đăng ký đất đai và Quyết định 07/2008/QĐ-BTNMT ngày 06/10/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường về ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức tài
nguyên và môi trường thì viên chức của Văn phòng Đăng ký Đất đai phải có một số
47 Khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tích số 15/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính
Trang 39viên chức chuyên môn kỹ thuật thực hiện công tác đăng ký đất đai, đo đạc bản đổ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm kể đất đai; xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất có đủ điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định được xếp vào ngạch địa chính viên, địa chính viên chính, chức danh này được chia thành 04 ngạch từ thấp đến cao tương ứng theo trình độ chuyên môn và thâm niên công tác, gồm địa chính viên trung cấp, địa chính viên cao đẳng, địa chính viên và địa chính viên chính Cụ thể: bên cạnh việc biết sử dụng máy tính trong công tác chuyên môn, địa chính viên trung cấp phải tốt nghiệp Trung học Quản lý đất đai, địa chính; địa chính viên cao đẳng phải tốt nghiệp Cao đẳng Quản lý đất đai, địa chính hoặc tương đương trở lên; địa chính viên và địa chính viên chính phải có trình
độ đại học quản lý đất đai, địa chính hoặc tương đương Riêng địa chính viên chính phải có thời gian công tác tối thiếu là 09 năm ở ngạch địa chính viên hoặc tương đương, và có ít nhất một đề án hoặc công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ (với tư cách chủ trì hoặc tham gia) được nghiệm thu hoặc đưa vào áp dụng có hiệu quả48
1.4 Quan hệ công tác của Văn phòng Đăng ký Đất đai
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được Luật Đất đai 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Thông tư số 15/2015/TTLT BTNMT- BNV và các văn bản pháp luật có liên quan quy định, những quy định này đã tạo ra cơ sở pháp lý chung cho việc hình thành mối quan hệ giữa Văn phòng đăng ký đấ đait với các cơ quan,
tổ chức, cá nhân hữu quan
Việc phối hợp giữa Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, cơ quan tài chính, cơ quan thuế và các cơ quan, đơn vị khác có liên quan trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai theo các nguyên tắc sau: Bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, kịp thời, công khai, minh bạch Xác định rõ cơ quan, đơn vị chủ trì, phối hợp; trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; nội dung, thời hạn, cách thức thực hiện; chế độ thông tin, báo cáo Tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế tổ chức hoạt động của từng cơ quan, đơn vị49
Cơ chế phối hợp này thực hiện theo Quy chế phối hợp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành đảm bảo 3 nguyên tắc trên và theo
và hướng dẫn của liên Bộ: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ
48
Quyết định 01/2008/QĐ-BNV ngày 04/8/2008 cùa Bộ Nội vụ về việc ban hành chức danh và mã số neạcb các ngạch viên chức ngành Tài nguyên và Môi trường
49 Khoản 1 Điều 5 Thông tư Thông tư số 15/2015/TTLT BTNMT- BNV –BTC ngày 04/4/2015 của liên bộ
Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ Nội vụ, bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu
tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Trang 40và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất khi thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai50 Trong quá trình hoạt động, Văn phòng Đăng ký Đất đai có mối quan hệ công tác chủ yếu với các cơ quan sau đây:
1.4.1 Quan hệ với cơ quan Tài nguyên và Môi trường
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày
28 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tài nguyên
và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì
Sở Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác, quản lý biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế
độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức, viên chức của Văn phòng Đăng ký Đất đai theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Về mặt cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai và các Chi nhánh trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai: Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định
và thực hiện bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng của Văn phòng đăng ký đất đai và Giám đốc, Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định
Về mặt chuyên môn: thông qua việc quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai và quy trình thực hiện trình tự thủ tục giải quyết các thủ tục hành chính Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý trực tiếp và toàn diện về cả chuyên môn
Như vậy, Văn phòng đăng ký đất đai chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Sở Tài nguyên và Môi trường về tổ chức và hiểu rộng hơn là gián tiếp thông qua việc quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý trực tiếp và toàn diện về cả chuyên môn Tuy nhiên xét một cách toàn diện thì còn thể hiện sự bất cập khi Thông tư liên tịch
số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28 tháng 8 năm 2014 có quy định về nhiệm
vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường là hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường đối với Phòng Tài nguyên và Môi
50 Khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tài nguyên
và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh