1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về công tác hoà giải cơ sở

88 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Tỉnh Đối Với Tổ Chức Giám Định Tư Pháp
Tác giả Trần Anh Tuấn
Người hướng dẫn PGS. TS. Vũ Văn Nhiêm
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp Và Luật Hành Chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể phân loại tổ chức giám định tư pháp theo Luật GĐTP 2012 cụ thể như sau: Một là, tổ chức giám định tư pháp mang tính chất phụ thuộc và kiêm nhiệm, hoạt động trong một thời gian nh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN ANH TUẤN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

ĐỐI VỚI TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính

Trang 3

thành và phát triển từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Văn Nhiêm – Giảng viên Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trong Luận văn có trích dẫn, sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Sự trích dẫn này được thể hiện cụ thể trong Danh mục tài liệu tham khảo và tuân thủ các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của các dữ liệu, số liệu và các thông tin được trình bày trong Luận văn

Người cam đoan

Trần Anh Tuấn

Trang 4

Luật GĐTP 2012 : Luật giám định tư pháp năm 2012

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Các điểm mới, các đóng góp của luận văn 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP 7

1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của tổ chức giám định tư pháp 7

1.1.1 Khái niệm tổ chức giám định tư pháp 7

1.1.2 Phân loại tổ chức giám định tư pháp 13

1.1.3 Đặc điểm của tổ chức giám định tư pháp 18

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp 21

1.2.1 Tổ chức giám định tư pháp ở địa phương ngày càng có vai trò quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động tố tụng 21

1.2.2 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan hành chính có nhiệm vụ quản lý nhà nước tại địa phương 22

1.3 Nội dung quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp 23

1.3.1 Thành lập tổ chức giám định tư pháp 23

1.3.2 Quản lý nhà nước về người giám định tư pháp 25

1.3.3 Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác cho tổ chức giám định tư pháp công lập ở địa phương 32

Trang 6

1.3.5 Đánh giá, kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi

phạm về giám định tư pháp 33

1.3.6 Phối hợp, báo cáo về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp ở địa phương cho Bộ Tư pháp và Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan 37

1.3.7 Vai trò của Sở Tư pháp và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với tổ chức giám định tư pháp 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 42

2.1 Thực trạng về thành lập tổ chức giám định tư pháp và kiến nghị hoàn thiện 42 2.2 Thực trạng về bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp và kiến nghị hoàn thiện 48

2.3 Thực trạng về bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động, cơ sở vật chất, các điều kiện cần thiết khác cho tổ chức giám định tư pháp và kiến nghị hoàn thiện 52

2.4 Thực trạng về tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho giám định viên tư pháp và kiến nghị hoàn thiện 56

2.5 Thực trạng về đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về giám định tư pháp và kiến nghị hoàn thiện 57

2.5.1 Đối với công tác đánh giá hiệu quả thi hành 57

2.5.2 Đối với công tác kiểm tra, thanh tra 59

2.5.3 Đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 62

2.6 Thực trạng về phối hợp, báo cáo về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp ở địa phương cho Bộ Tư pháp, Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan và kiến nghị hoàn thiện 64

Trang 7

tư pháp 66

2.7.1 Vai trò của Sở Tư pháp 66

2.7.2 Vai trò của các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 8

Tầm quan trọng của tổ chức giám định tư pháp đã được Đảng, Nhà nước quan tâm thể hiện qua việc, từ năm 1997, Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành

Trung ương Đảng khóa VIII xác định: “Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp Củng cố các cơ quan giám định tư pháp để hỗ trợ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử” Tiếp đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị nêu: “Từng bước hoàn thiện các tổ chức giám định tư pháp Sớm hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp” Đặc biệt, Nghị quyết số 49-

NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư

pháp đến năm 2020 chỉ rõ: “Hoàn thiện chế định giám định tư pháp Nhà nước cần đầu tư cho một số lĩnh vực giám định để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng Thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên”

Với quan điểm nhất quán về vai trò quan trọng của hoạt động giám định tư pháp nêu trên, ngày 20 tháng 06 năm 2012 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua Luật giám định tư pháp có hiệu lực kể từ ngày

01 tháng 01 năm 2013 Đây là lần đầu tiên xác lập hành lang pháp lí nhằm hiện thực hóa việc cho phép xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp với việc cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp cùng tồn tại và hoạt động với các tổ chức giám

Trang 9

định tư pháp công lập Bên cạnh đó, đã quy định cụ thể về tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc Đây có thể coi là một bước tiến lớn về nhận thức cũng như sự thay đổi tư duy lập pháp về hoạt động giám định tư pháp

Tuy nhiên, với việc đây là Luật đầu tiên được ban hành để quy định về lĩnh vực giám định tư pháp dù mang nhiều yếu tố tích cực và tiến bộ nhưng không thể tránh khỏi vẫn còn nhiều điểm bất cập, vướng mắc, khó áp dụng thực hiện trên thực

tế Trong đó, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp còn nhiều bất cập, chồng chéo chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý Đặc biệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với vai trò là cơ quan quản lý trực tiếp các tổ chức giám định

tư pháp vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế và chưa thể hiện hết vai trò quản lý của mình, đặc biệt là về chất lượng giám định viên, việc vận hành, tổ chức hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý từ đó dẫn đến việc ảnh hưởng đến kết quả giám định nói riêng và hoạt động giám định tư pháp ở địa phương nói chung Với tính chất quan trọng giám định tư pháp nằm trong nhóm bổ trợ tư pháp nên việc quản lý nhà nước đối với hoạt động giám định

tư pháp cần được chú trọng để đảm bảo hiệu quả trong quản lý nhà nước nói chung

và của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nói riêng đối với hoạt động giám định tư pháp Nhằm hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, đảm bảo quyền con người và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Qua hơn 6 năm có hiệu lực thi hành trên thực tế Luật GĐTP 2012 đã bộc lộ những hạn chế trong quá trình áp dụng và sự bất cập trong quá trình điều hành quản

lý các tổ chức giám định tư pháp Do đó, cần có sự sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện

cơ sở pháp lý cần thiết đáp ứng yêu cầu của hoạt động giám định tư pháp

Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước của Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức Giám định tư pháp” làm đề tài luận văn Thạc sĩ

Luật học tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Lĩnh vực giám định tư pháp tuy không phải là một lĩnh vực mới tuy nhiên hiện nay đã và đang ngày càng nhận được sự quan tâm và nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý dưới nhiều góc độ khác nhau thông qua các bài báo, tham luận, đề tài nghiên cứu Đối với nội dung quản lý nhà nước đối với tổ chức giám định tư pháp,

có thể kể đến bài báo “Nâng cao hiệu quả nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về

Trang 10

giám định tư pháp của Bộ Tư pháp”, Nguyễn Thị Thụy (2014), Tạp chí Dân chủ và

Pháp luật, Bộ Tư pháp, 2014 số 11, tr.10-17; công trình nghiên cứu: “Quản lý nhà nước về giám định tư pháp (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh)”, Hồ Thị Quyên

(2010), Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu của công trình nêu trên chỉ giới hạn chủ yếu theo nội dung quản lý nhà nước đối với tổ chức giám định tư pháp với đối tượng chính là thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 và các văn bản

hướng dẫn thi hành Tiếp theo có thể kể đến công trình nghiên cứu: “Quản lý nhà nước đối với tổ chức giám định tư pháp công lập”, Phạm Trân Nhật Thảo (2016),

Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả Phạm Trân Nhật Thảo đã tập trung nghiên cứu và phân tích về công tác quản lý nhà nước đối với tổ chức giám định tư pháp công lập theo Luật GĐTP 2012 và nghị định số 85/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/9/2013 hướng dẫn chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp Tuy nhiên tác giả chỉ mới tập trung vào các tổ chức giám định tư pháp công lập mà chưa đề cập đến các loại hình tổ chức giám định tư pháp khác như tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

Bên cạnh đó, còn có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng đặc biệt là lĩnh vực tố tụng hình sự, những bất cập, vướng mắc liên quan đến vấn đề đồng bộ và thống nhất các quy định của pháp luật

về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự cũng được đề cập để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm tháo gỡ các bất cập đó, có thể kể đến là: Đối với công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ, nội dung về giám định tư pháp cũng được quan tâm,

nghiên cứu sâu sắc, có thể kể đến là: “Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Trần Mạnh Đạt (2010), Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ

Tư pháp Đối với Luận án Tiến sĩ có “Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Nguyễn Thị Loan (2015), Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Hà

Nội

Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học đăng trên các Tạp chí Khoa học pháp

lý, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học và nhiều công trình nghiên cứu khác đã phân tích sâu về các mặt trong hoạt động giám định tư pháp Các bài viết đã phần nào lột tả được quá trình hình thành và phát triển của hoạt động giám định tư pháp song hành với quá trình xây dựng, ban hành cơ chế

Trang 11

quản lý nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của công tác giám định tư pháp Từ đó bước đầu đưa ra những kiến nghị để khắc phục

Liên quan đến các lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, có một số bài viết, nghiên cứu của các chuyên gia trong nước, chuyên gia nước ngoài và một số tài liệu hội thảo, hội nghị quốc tế mà tác giả có điều kiện tiếp cận, cũng như có được qua quá trình nghiên cứu các đề tài, các bài viết của các tác giả nêu trên trong đó đáng chú ý

là: Hội thảo về giám định tư pháp - Tài liệu tham khảo, lưu hành nội bộ - NXB Tư pháp, 2003; bài viết ThS Tạ Đình Tuyên, “Mô hình tổ chức giám định tư pháp ở một số quốc gia trên thế giới”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat-the-

gioi/mo-hinh-to-chuc-giam-dinh-tu-phap-o-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi, truy cập ngày 02/11/2019, những tài liệu này đề cập đến các nội dung chủ yếu như khái quát hoạt động giám định tư pháp của Đức, Pháp, Nhật Bản, Thụy Điển, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Cộng hòa Singapore, Vương Quốc Anh, Nga…, giới thiệu kinh nghiệm thành lập các tổ chức giám định tư pháp của một số nước

Từ những công trình nghiên cứu trên là những tài liệu góp phần lớn để giúp tác giả có thêm nhiều thông tin, kiến thức quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu

và hoàn thiện luận văn Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu hầu hết chưa đề cập trực tiếp đến vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp, chưa có sự phân tích cụ thể để chỉ ra các hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý từ đó có hướng đề xuất, kiến nghị hoàn thiện Theo sự tìm hiểu của tác giả, chưa có một đề tài nghiên cứu chuyên về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp theo Luật GĐTP và các bản hướng dẫn thi hành

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích chính của đề tài là nghiên cứu chuyên sâu các quy định về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp Luận văn nghiên cứu các cơ sở lý luận; phân tích thực trạng các quy định về quản lý tổ chức giám định tư pháp kết hợp so sánh các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với các tổ chức giám định tư pháp qua các giai đoạn từ đó phát hiện các hạn chế, bất cập, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà

Trang 12

nước đối với tổ chức giám định tư pháp với đối tượng nghiên cứu chính là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Thứ nhất, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về quản lý

nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp

Thứ hai, chủ yếu tập trung vào quy định của Luật GĐTP 2012, Nghị định

85/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/07/2013 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật GĐTP 2012 Ngoài ra có liên hệ đến Pháp lệnhGiám định tư pháp năm

2004 và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, trong đề tài này, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp để làm rõ các vấn đề về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp, cụ thể:

- Phương pháp phân tích, bình luận: Phương pháp này được tác giả sử dụng trong Chương 1 và Chương 2 để phân tích các khái niệm, đặc điểm, vai trò và quy định về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định

tư pháp; các quy định của pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan Trên cơ sở này, tác giả sử dụng phương pháp bình luận để nhận xét, đánh giá về đặc điểm cũng như sự cần thiết phải chú trọng đến công tác quản lý nhà nước đặc biệt là vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với hoạt động giám định tư pháp, đồng thời nhận xét tính hợp lý, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được tác giả sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các loại hình tổ chức giám định tư pháp; đặc điểm của các loại hình

tổ chức giám định tư pháp Ngoài ra, phương pháp này còn được tác giả sử dụng để

so sánh về sự thay đổi, khác nhau của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành liên quan đến hoạt động giám định tư pháp qua các thời kỳ Từ đó, có cơ sở đề xuất các kiến nghị hoàn thiện trong Chương 2

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm đưa ra các số liệu chứng minh vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các tổ chức giám định tư pháp, nhằm chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định trong công tác quản lý hoạt động của các tổ chức

Trang 13

giám định tư pháp để đảm bảo sự chính xác, trung thực, khách quan trong hoạt động

tố tụng tại Việt Nam

- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 1 khi tác giả trình bày về khái niệm giám định, tư pháp, tổ chức giám định tư pháp qua từng thời kỳ, từ đó chỉ ra khái niệm giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp

- Phương pháp quy nạp, tổng hợp: Trên cơ sở các phân tích, bình luận, đánh giá pháp luật, tác giả sẽ đưa ra các nhận định cụ thể về sự cần thiết phải đảm bảo sự quản lý nhà nước trong hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp đặc biệt là vai trò của cơ quan trực tiếp tại địa phương là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Đồng thời, cuối mỗi chương, tác giả cũng sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm tắt và đưa ra kết luận nội dung của từng chương và của cả Luận văn

6 Các điểm mới, các đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận, tác giả đã đưa ra các phân tích về giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp và đặc điểm của các tổ chức giám định tư pháp Trên cơ sở các đặc điểm của hoạt động giám định tư pháp nói chung và các tổ chức giám định tư pháp nói riêng luận văn đã thể hiện sự cần thiết phải đảm bảo vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn đã phân tích và chỉ ra những hạn chế trong quy định của Luật GĐTP 2012 và Nghị định 85/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/07/2013 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật GĐTP

2012 trong việc quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh đối với các tổ chức giám định

tư pháp được trình bày theo sự phân loại về các tổ chức giám định tư pháp Bên cạnh đó, các phân tích đã góp phần chỉ ra những thực trạng, từ đó có những kiến nghị hoàn thiện Luật GĐTP 2012 đặc biệt trong giai đoạn Luật GĐTP 2012 đang trong quá trình tổng kết thi hành và lấy ý kiến để sửa đổi, bổ sung Tác giả cũng mong kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu để các sinh viên chuyên ngành luật tham khảo, nghiên cứu và học tập

Trang 14

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của tổ chức giám định tư pháp 1.1.1 Khái niệm tổ chức giám định tư pháp

“Tổ chức giám định tư pháp” là một khái niệm trung tâm trong quá trình

nghiên cứu đề tài Do đó, việc phân tích và làm rõ khái niệm này đóng vai trò quan trọng, là tiền đề lý luận cơ bản để tác giả tìm hiểu các quy định của pháp luật thực định Theo đó, tác giả tiến hành phân tích các khái niệm “tổ chức”, “giám định tư pháp” để đi đến tổng quan khái niệm “tổ chức giám định tư pháp”

* Khái niệm tổ chức

Về phương diện ngôn ngữ, tuỳ theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mục đích… khác nhau mà tổ chức có thể sử dụng với các chức năng khác nhau như là danh từ (từ dùng để chỉ cho các đối tượng như cơ quan, đơn vị, công ty, pháp nhân, hội đồng), động từ (hành động xây dựng và thực thi một nhiệm vụ, kế hoạch đã được đề ra) hoặc tính từ (dùng để chỉ tính chất của một hoạt động mang tính hệ thống, trình

tự, đồng bộ, …)

Về phương diện khoa học, tùy vào cơ sở nền tảng lý luận và mục đích nghiên cứu khác nhau, các ngành khoa học đều khái quát hóa thuật ngữ “tổ chức” theo nhiều cách khác nhau như Triết học nhìn nhận “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”1 Trong khi đó, một số ngành khoa học có giao thoa về đối tượng, phạm vi nghiên cứu như khoa học quản trị công, luật học, khoa học về tổ chức và quản lý tuy có những cách tiếp cận, cắt nghĩa khác nhau và khác với triết học nhưng cũng có một

số điểm chung một cách khái quát hóa về thuật ngữ này Theo lý thuyết về quản trị công, nhà nghiên cứu Chester I Barnard đã viết trong tác phẩm nghiên cứu của mình một cách khái quát rằng “tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức”2, theo quan

1 Mấy vấn đề về cán bộ và về tổ chức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, NXB Sự thật, Hà Nội, 1973, tr.28

2 Chester Barnard and the Systems Approach to Nurturing Organization

Trang 15

điểm của ngành khoa học này, thuật ngữ tổ chức phải đáp ứng điều kiện về chủ thể (có từ hai người trở lên) và nguyên tắc hoạt động của nó (các hoạt động của chủ thể được kết hợp với nhau một cách có ý thức)

Dưới góc độ nghiên cứu về tổ chức là một trong các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, Luật học nói chung hay khoa học luật dân

sự nói riêng lại dùng thuật ngữ tổ chức để phân biệt với cá nhân (con người), theo

đó “tổ chức” được chi tiết hóa bằng thuật ngữ “pháp nhân” với bốn điều kiện về mặt chủ thể là được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức có nhiều điểm tương đồng với ngành quản trị công và Luật học khi xác định tổ chức là một yếu tố thuộc về con người và của con người trong xã hội; theo đó, “Tổ chức là khái niệm dùng để chỉ một tập hợp gồm từ hai người trở lên cùng làm việc với nhau theo những cách thức nhất định nhằm đạt tới những mục tiêu chung nào đó”3

Như vậy, hiểu một cách khái quát, khái niệm về “tổ chức” là tập hợp một số người lại với nhau, cùng hình thành, tồn tại và phát triển theo những nguyên tắc hoặc quy tắc được quy định nhằm thực hiện mục tiêu chung đã được xác định

* Khái niệm giám định tư pháp

Hiểu và nhận thức được khái niệm giám định tư pháp là một vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế, xây dựng mô hình tổ chức,

cơ chế quản lý phù hợp, nhằm bảo đảm phát huy được vai trò của giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng đặc biệt trong thực tiễn hoạt động tư pháp hiện nay nhằm đáp ứng được yêu cầu của đời sống xã hội thay đổi từng ngày từng giờ Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm giám định tư pháp

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do GS Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ “tư pháp” được hiểu là “việc xét xử các hành vi phạm pháp và các vụ kiện tụng trong nhân dân”4 Còn theo Đại từ điển Tiếng Việt do GS.TS Nguyễn Như Ý (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh phát hành định

3 Nguyễn Hữu Hải (2010), Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước, Học viện hành chính, Hà Nội, tr.40

4 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học,tr.1071

Trang 16

nghĩa “tư pháp” là “việc xét xử theo pháp luật”5 Còn với nghĩa pháp lí chung nhất thì thuật ngữ “tư pháp” được quan niệm là “như là một ý tưởng về một nền công lí, đòi hỏi việc giải quyết những tranh chấp xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng, bảo đảm lòng tin của nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp lí cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xã hội” cùng với đó theo ngữ nghĩa Hán Việt thì “tư pháp” là

“trông coi, bảo vệ pháp luật”6

Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Đăng Dung và tập thể tác giả: “Tư pháp

là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử

và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật”7 Theo

tiếng La-tinh cổ, “tư pháp” – Justitia, còn theo tiếng Anh – Justition, có nghĩa là

“công lý”, “pháp chế”, tức là thuật ngữ bao hàm toàn bộ các cơ quan tòa án và hoạt động thực hiện quyền xét xử của chúng8

Ngoài ra, theo TS Đinh Văn Ân, TS Võ Trí Thành và tập thể tác giả, quan

niệm “tư pháp” được hiểu theo ba khía cạnh: “Về khía cạnh pháp lý, được quan

niệm như là một ý tưởng cao đẹp về một nền công lý, giải quyết các tranh chấp trong xã hội đúng với pháp luật, hợp lẽ công bằng; các biểu hiện của một giá trị về

lòng tin của nhân dân vào pháp luật Về khía cạnh thể chế Nhà nước, tư pháp được

sử dụng để chỉ một quyền lực trong ba quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp, và quyền tư pháp Trong việc xác định ba quyền, quyền tư pháp được xem là

đồng nghĩa với quyền xét xử, một hoạt động duy nhất chỉ do Tòa án thực hiện Và theo khía cạnh khoa học tổ chức, tư pháp được sử dụng để nói về tổ chức tư pháp,

một tập hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, nhiều chức danh liên hệ đến công tác xét xử”9

5 Nguyễn Như Ý (2013) (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, tr.1704

6 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển bách khoa – NXB Tư pháp,

tr 828

7 Nguyễn Đăng Dung (2005), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.11

8 Lê Cảm (2003), “Cơ chế kiểm tra, giám sát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong nhà nước

pháp quyền”, Tạp chí khoa học pháp luật (01)

9 Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành (2002), Thể chế - cải cách thể chế và phát triển: Lý luận và thực tiễn ở nước

ngoài và Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội, tr.276

Trang 17

Như vậy, “tư pháp” có thể được hiểu là công việc mang quyền lực nhà nước

của các tổ chức nhà nước được trao quyền lực nhất định để phân xử hoặc phán xét tính đúng đắn, hợp pháp của các chủ thể về một vấn đề

Thuật ngữ “giám định” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh là “Expertus”, có nghĩa

là “kinh nghiệm”, “hiểu biết”10 Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “giám định” là “kiểm tra bằng phương pháp nghiệp vụ để có kết luận cụ thể”11 Theo từ điển bách khoa Việt Nam, “giám định” là “kiểm tra và kết luận về một hiện tượng hoặc một vấn đề

mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định Công việc giám định có thể do một giám định viên tư pháp hoặc một nhóm người có kiến thức, trình độ về lĩnh vực cần giám định và được cơ quan chuyên môn chỉ định”12 Theo từ điển tiếng việt thì

“giám định” là “việc xem xét và kết luận về một sự vật, hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định”13

Như vậy, “giám định” hiểu một cách khái quát là hoạt động khoa học, sử

dụng những kiến thức chuyên môn, phương tiện kỹ thuật, phương pháp nghiệp vụ

để nghiên cứu, xem xét, so sánh một hiện tượng, một sự vật từ đó đưa ra kết luận nhằm giải quyết vấn đề nào đó một cách chính xác trên cơ sở khoa học

Quan niệm về giám định tư pháp ở nước ta được đề cập đến trong một số văn bản pháp luật, cụ thể:

Một trong những văn bản pháp lý đầu tiên đó chính là tại Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng Bộ trưởng ở Điều 1 và Thông tư số

78/TT-GĐ ngày 26/01/1989 của Bộ Tư pháp ở mục I quy định: “Giám định tư pháp

là sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn

để kết luận những vấn đề có liên quan đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động theo quyết định trưng cầu của cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân (gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.”

10 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1991), Một số cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ

chức giám định tư pháp, tr.6

11 Hội đồng Quốc gia (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2002, tr.110

12 Nguyễn Như Ý (2010) (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Tp.HCM

13 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng & Trung tâm từ điển tin học, tr.389 và

tr.1071

Trang 18

Tuy nhiên, khái niệm nêu trên mới chỉ xác định phạm vi giám định tư pháp cụ thể và bó hẹp trong các vấn đề có liên quan đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân

và gia đình, các tranh chấp lao động và xác định được chủ thể trưng cầu giám định

là cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân (gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) đồng thời cũng xác định mục đích của hoạt động giám định tư pháp mà chưa xác định được chủ thể của hoạt động giám định tư pháp

Điều 1 Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 quy định “Giám định tư pháp

là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ

để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án”

Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 là văn bản pháp lý có ý nghĩa quan trọng, đặt nền móng cho sự đổi mới về khái niệm giám định tư pháp Theo đó, Pháp lệnh đã thể hiện sự đổi mới tư duy pháp lý về giám định tư pháp, nhận thức về giám định tư pháp đã đầy đủ hơn, đã xác định rõ chủ thể của hoạt động giám định tư pháp, chủ thể trưng cầu giám định tư pháp và mục đích của hoạt động giám định tư pháp Tuy nhiên, khái niệm trên vẫn còn có những hạn chế nhất định

Thứ nhất, chủ thể trưng cầu giám định còn bị hạn chế chỉ là các cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà các chủ thể khác không có quyền giám định

Thứ hai, việc sử dụng thuật ngữ “người giám định tư pháp” trong khái niệm

trên dẫn đến cách hiểu về chủ thể thực hiện giám định chỉ là cá nhân, theo đó, khi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được trưng cầu cá nhân là người thực hiện giám định chứ không trưng cầu đối với tổ chức Từ đó, đã làm phát sinh những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện giám định tư pháp

Nhận thấy những bất cập đó đến ngày 02/06/2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW để đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, lấy Tòa án và công tác xét xử làm trung tâm, lấy tranh tụng và mở rộng dân chủ trong hoạt động tố tụng là khâu đột phá, nên giám định tư pháp phải trở thành công cụ, phương tiện hữu hiệu, thiết thực cho các bên tố tụng sử dụng, phục vụ đắc lực cho

Trang 19

việc tranh tụng của mình nhằm hướng tới việc đảm bảo tính chính xác, đúng đắn trong hoạt động tư pháp

Trên cơ sở Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 20/06/2012 Quốc hội khóa XIII đã chính thức thông qua Luật GĐTP 2012 chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013 Theo đó, tại Khoản 1 Điều 2 Luật GĐTP 2012 khái niệm về giám định

tư pháp là “việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này.”

Khái niệm này đã bổ sung thêm chủ thể được yêu cầu giám định Đó là ngoài các chủ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng còn có thêm

“người yêu cầu giám định”; cụ thể, tại Khoản 3 Điều 2 Luật GĐTP 2012 quy định Người yêu cầu giám định là “người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã

đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trung cầu giám định mà không được chấp nhận Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương

sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.”

Qua những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm “giám định tư pháp” là việc

người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về một sự việc, một hiện tượng, một sự kiện xảy ra theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định nhằm giúp cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và những kết luận

đó phải đáp ứng điều kiện của pháp luật về giám định tư pháp và pháp luật tố tụng

* Khái niệm tổ chức giám định tư pháp

Từ phân tích về thuật ngữ “tổ chức” và “giám định tư pháp” như trên, theo

tác giả, “tổ chức giám định tư pháp” là một tập hợp hai hay nhiều người được

thành lập và đầu tư về cơ sở vật chất để thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến

Trang 20

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định để kết luận về một sự việc, một hiện tượng xảy ra bằng việc sử dụng kiến thức,

phương tiện, phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật

Có thể thấy khi nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nói riêng đối với tổ chức giám định tư pháp, nội dung cần phân tích, làm rõ đầu tiên là khái niệm như thế nào là tổ chức giám định tư pháp, bởi lẽ đây chính là đối tượng của công tác quản lý, hay nói cách khác nội dung thực hiện và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng này Với việc phân tích, bình luận và tổng hợp tác giả đã nêu ra được khái niệm tổ chức giám định tư pháp đây là cơ sở nền tảng để định hướng nghiên cứu đề tài ở những phần tiếp theo

1.1.2 Phân loại tổ chức giám định tư pháp

Để phân loại các tổ chức giám định tư pháp, trước hết cần nghiên cứu về quan điểm của pháp luật đối với việc phân loại qua các giai đoạn hình thành và phát triển,

mở rộng, thu hẹp hay thay đổi loại hình của tổ chức này

* Giai đoạn trước thời điểm Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004

Trước Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004, chế định về tổ chức giám định

tư pháp chưa được quy định trong văn bản Luật mà chỉ được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật là Nghị định số 117-HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng bộ trưởng về giám định tư pháp và Thông tư 78/TT-QĐ ngày 26/01/1989 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định 117-HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng bộ trưởng về giám định tư pháp Theo các văn bản pháp lý này, hầu như việc phân loại tổ chức giám định tư pháp chưa được thể hiện rõ ràng do việc giám định chủ yếu phụ thuộc vào các giám định viên thuộc các cơ quan chuyên trách và thực hiện việc giám định khi có trưng cầu giám định từ các cơ quan có thẩm quyền Trong giai đoạn này, tổ chức giám định tư pháp được thành lập ở cấp Trung ương

và cấp tỉnh Ở cấp Trung ương, tổ chức giám định pháp y được thành lập ở Bộ Y tế,

Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng; tổ chức giám định pháp y tâm thần được thành lập ở

Bộ Y tế; tổ chức giám định kỹ thuật hình sự được thành lập ở Bộ Nội vụ; tổ chức giám định kế toán tài chính được thành lập ở Bộ Tài chính; tổ chức giám định tác phẩm văn học được thành lập ở Bộ Văn hóa; tổ chức giám định trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật được thành lập ở Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước và Bộ chuyên

Trang 21

ngành Ở cấp tỉnh (tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) được thành lập

Tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần giám định kế toán tài chính và các chuyên ngành khác14

Bên cạnh các tổ chức giám định như trên, pháp luật còn quy định về người giám định tư pháp theo vụ việc đối với các ngành không có tổ chức giám định tư pháp Theo đó, khi có quyết định trưng cầu giám định tư pháp về những vụ việc có liên quan thì thủ trưởng của ngành có liên quan sẽ cử người làm giám định

Như vậy, trong giai đoạn này, pháp luật nước ta phân loại tổ chức giám định

tư pháp căn cứ chính là theo cấp hành chính bao gồm cấp Trung ương và cấp tỉnh bên cạnh tiêu chí lĩnh vực chuyên môn của ngành Đồng thời, tổ chức giám định chỉ bao gồm tổ chức giám định tư pháp công lập do các cơ quan Nhà nước thành lập, phục vụ chính yếu cho nhu cầu của công tác tư pháp mà chưa có quy định về tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập và tổ chức giám định theo vụ việc; cũng chưa quy định về việc thực hiện các dịch vụ giám định ngoài nhà nước của các tổ chức này

* Giai đoạn từ thời điểm Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 có hiệu lực đến trước Luật GĐTP 2012

Đến khi Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 có hiệu lực đồng nghĩa với việc “nâng tầm” chế định về tổ chức giám định tư pháp trong tư duy của nhà làm luật bởi lẽ lần đầu tiên chế định này được văn bản tương đương Luật quy định Theo

đó, các quy định có sự thay đổi trong cách thức phân loại tổ chức giám định tư pháp bằng cách cụ thể hóa theo từng lĩnh vực là pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình

sự cụ thể là:

Đối với tổ chức giám định pháp y bao gồm: Viện Pháp y quốc gia; Trung tâm Pháp y tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Viện Pháp y quân đội, Trung tâm Pháp y thuộc Viện khoa học hình sự của Bộ Công an (Điều 16 Pháp lệnh Giám định

tư pháp năm 2004)

14 Xem thêm Nghị định số 117-HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng bộ trưởng về giám định tư pháp và Thông tư 78/TT-QĐ ngày 26/01/1989 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định 117-HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng bộ trưởng về giám định tư pháp

Trang 22

Đối với tổ chức giám định pháp y tâm thần gồm: Ở cấp trung ương sẽ thành lập viện pháp y tâm thần trung ương; ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì nếu có bệnh viện tâm thần cấp tỉnh thì thành lập trung tâm giám định pháp y tâm thần trực thuộc bệnh viện đó, trong trường hợp không có bệnh viện tâm thần cấp tỉnh thì Trung tâm Phòng chống các bệnh xã hội hoặc khoa tâm thần thuộc bệnh viện đa khoa cấp tỉnh thực hiện giám định pháp y tâm thần khi được trưng cầu; đối với Bộ Quốc phòng sẽ do Bệnh viện thuộc Bộ Quốc phòng và Bệnh viện cấp quân khu có giám định viên pháp y tâm thần phụ trách (Điều 20 Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004)

Đối với tổ chức giám định kỹ thuật hình sự gồm: Viện khoa học hình sự thuộc

Bộ Công an; Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tổ kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng (Điều 21 Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004)

Mặc dù chế định tổ chức giám định tư pháp đã được nâng tầm, tuy nhiên Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 đã thu hẹp lĩnh vực hoạt động giám định tư pháp khi chỉ thừa nhận các tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự mà loại bỏ tổ chức giám định tư pháp trong các lĩnh vực khác như lĩnh vực văn hoá, tài chính kế toán, xây dựng, khoa học kỹ thuật Do đó, các tổ chức giám định tư pháp ở lĩnh vực văn hoá, tài chính kế toán, xây dựng, khoa học kỹ thuật đã được thành lập theo Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về giám định tư pháp được giải thể theo quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ hoặc

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ có hiệu lực thi hành; đồng thời với việc giải thể tổ chức giám định tư pháp ở lĩnh vực văn hoá, tài chính kế toán, xây dựng, khoa học kỹ thuật, các giám định viên trưởng của các tổ chức giám định tư pháp đó cũng bị miễn nhiệm Bên cạnh đó, một điểm lưu ý về chế định tổ chức giám định tư pháp trong Pháp lệnh là mặc dù có thừa nhận về người giám định tư pháp theo vụ việc nhưng vẫn tiếp tục không quy định tổ chức giám định theo vụ việc mà xem giám định tư pháp theo vụ việc là một “công việc kiêm nhiệm” của đội

ngũ cán bộ, công chức chuyên môn trong các cơ quan, tổ chức theo ngành, lĩnh vực

Như vậy, có thể nhận thấy Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 đã thay đổi

từ phân loại tổ chức giám định theo cấp hành chính sang phân định dựa trên tiêu chí

Trang 23

chuyên môn của lĩnh vực giám định, điều này đồng nghĩa với việc nhà làm luật có xem xét những chức năng, nhiệm vụ gắn với từng tổ chức giám định tư pháp Việc phân chia này khá rõ ràng và đóng vai trò định hình cho việc phân loại các tổ chức giám định tư pháp cho các giai đoạn tiếp theo trong tương lai

* Giai đoạn từ thời điểm Luật GĐTP 2012 có hiệu lực

Đến Luật GĐTP 2012 với việc kế thừa những điểm nổi bật từ Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 và kết hợp với thay đổi về tư duy trong lĩnh vực giám định

tư pháp xuất phát nền tảng từ Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 02/06/2005 để đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu chính là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa Từ đó, đã có bước ngoặc lớn trong việc phân loại tổ chức giám định tư pháp với việc xuất hiện của một loại hình tổ chức giám định tư pháp mới là

tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập Bên cạnh đó Luật GĐTP 2012 còn bổ sung thêm quy định về tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc Đây là kết quả của quá trình đấu tranh nhằm thay đổi và tăng cường tính khách quan trong hoạt động giám định tư pháp khi bổ sung những tổ chức giám định tư pháp không mang tính

“truyền thống” sẽ hoạt động song song với những tổ chứcgiám định tư phápngoài công lập Qua đó, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tăng sự giám sát lẫn nhau trong hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp Có thể phân loại tổ chức giám định tư pháp theo Luật GĐTP 2012 cụ thể như sau:

Một là, tổ chức giám định tư pháp mang tính chất phụ thuộc và kiêm nhiệm,

hoạt động trong một thời gian nhất định, mang tính chất chu kỳ và thay đổi phụ thuộc vào ý chí của cơ quan quản lý, đó là tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc bởi lẽ loại tổ chức giám định tư pháp này được các Bộ ngành như Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ, cơ quan ngang Bộ khác và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn, lập

và công bố hằng năm Mặc dù được thành lập để hoạt động theo từng vụ việc nhất định, tuy nhiên tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc cũng phải đáp ứng được các điều kiện như: Có tư cách pháp nhân; có hoạt động chuyên môn phù hợp với nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định và có điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ

Trang 24

sở vật chất bảo đảm cho việc thực hiện giám định tư pháp để đảm bảo tính thống nhất về chủ thể có thể thực hiện hoạt động giám định tư pháp theo quy định

Hai là, tổ chức giám định tư pháp mang tính chất độc lập (tương đối) và

chuyên nghiệp, hoạt động trong một thời gian lâu dài (tương đối), đó là tổ chức giám định tư pháp công lập và tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, cụ thể:

Tổ chức giám định tư pháp công lập: Do Nhà nước lập ra, đầu tư về cơ sở vật chất, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước và khoản thu khác (nếu có) Các tổ chức giám định tư pháp công lập bao gồm hai nhóm: (i) nhóm các tổ chức giám định tư pháp được thành lập theo Luật GĐTP 2012: Các tổ chức này được thành lập và hoạt động trong ba lĩnh vực là lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần

và kỹ thuật hình sự, trực thuộc các Bộ là Bộ Y tế, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng,

về cơ cấu tổ chức thì được tương đối giữ lại như giai đoạn Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 (Điều 12 Luật GĐTP 2012) còn hiệu lực; (ii) nhóm các tổ chức giám định tư pháp được thành lập theo quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Các tổ chức này được thành lập và hoạt động trong các lĩnh vực khác không bao gồm lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự, trực thuộc cơ quan đã ra quyết định thành lập tổ chức đó Xét về bản chất của chủ thể pháp lý, tổ chức giám định tư pháp công lập là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc cơ quan quản lý nhà nước Tổ chức giám định tư pháp công lập chỉ có thể do Nhà nước (các Bộ ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thành lập

Tổ chức giám định ngoài công lập với tên gọi Văn phòng giám định tư pháp:

Do cá nhân là giám định viên tư pháp xin phép thành lập và đăng ký hoạt động, được đầu tư bằng nguồn kinh phí của cá nhân dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc liên kết của nhiều cá nhân dưới hình thức công ty hợp danh Các tổ chức này chỉ được phép hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả Xét về bản chất của chủ thể pháp lý, tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập là doanh nghiệp

Như vậy, có thể thấy với việc quy định có hai loại tổ chức giám định tư pháp công lập và ngoài công lập cùng với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc đã cụ thể hoá tư duy thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên theo tinh thần của Nghị quyết số 49/NQ-TW Việc

Trang 25

phân loại tổ chức giám định tư pháp như vậy là hết sức cần thiết để đảm bảo đáp ứng yêu cầu giám định tư pháp theo nhu cầu thực tế đặt ra tránh việc đặt mọi gánh nặng lên vai nhà nước trong việc tổ chức, vận hành hoạt động giám định tư pháp trên tất cả các lĩnh vực ngay cả những lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên Việc phân loại theo Luật GĐTP 2012 đã thực sự phù hợp và tối ưu hay chưa chúng ta sẽ cùng xem xét và tìm hiểu thêm trong chương II của Luận văn

Qua phân tích, đánh giá về quan điểm của quy định pháp luật nước ta về phân loại tổ chức giám định tư pháp có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau bởi lẽ tùy từng giai đoạn mà Nhà nước công nhận đối với loại hình tổ chức giám định nào, hoạt động trong lĩnh vực nào và có sự hoàn thiện trong tư duy nhà làm luật thay đổi

từ phân loại tổ chức giám định theo cấp hành chính sang phân loại theo lĩnh vực giám định của nhóm tổ chức, sau đó là sự phối hợp giữa các tiêu chí như tính cố định trong quá trình tổ chức, hoạt động kết hợp với cơ quan thành lập, nguồn lực đầu tư của các tổ chức giám định tư pháp đó

1.1.3 Đặc điểm của tổ chức giám định tư pháp

Thứ nhất, mục tiêu hoạt động của tổ chức giám định tư pháp nhằm mục đích

bổ trợ cho hoạt động tư pháp nói chung và giám định tư pháp nói riêng

Mục tiêu của tổ chức là những điều tổ chức cần đạt đến thông qua hoạt động của nó (quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn) và không phải bất kỳ ai trong tổ chức cũng đều là người có đủ khả năng xác lập được mục tiêu của tổ chức, chỉ có những người có năng lực mới có khả năng xác lập được mục tiêu của tổ chức Mục tiêu có ý nghĩa vô cùng lớn đối với tổ chức giám định tư pháp bởi nó định hướng cho hoạt động của bất kỳ tổ chức nào nói chung và tổ chức giám định nói riêng Cùng với các hoạt động khác như hoạt động luật sư, hoạt động tư vấn pháp luật, hoạt động công chứng, hoạt động bán đấu giá tài sản, hoạt động trọng tài thương mại, hoạt động giám định tư pháp cũng là một hoạt động bổ trợ tư pháp nên mục tiêu của tổ chức thực hiện hoạt động này nhằm mục tiêu trợ giúp, tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, chính xác bằng cách cung cấp

hồ sơ cho các giai đoạn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nói chung, đồng thời

là phương tiện giúp bảo vệ quyền và lợi ích các cơ quan, tổ chức, cá nhân là người tham gia tố tụng; sản phẩm tạo ra từ tổ chức giám định tư pháp là nguồn của chứng

Trang 26

cứ để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xem xét trong quá trình đánh giá, kết luận vụ việc

Đối với tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (văn phòng giám định tư pháp), bên cạnh mục tiêu bổ trợ hoạt động tư pháp, tổ chức còn vì mục tiêu lợi nhuận bởi loại hình hoạt động của tổ chức này theo hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp Tuy nhiên, mục tiêu chính của các

tổ chức này không phải vì lợi nhuận mà nhằm phục vụ hoạt động bổ trợ tư pháp vì đây là được xem là một lĩnh vực “kinh doanh” mang tính chất đặc thù Riêng đối với tổ chức giám định theo vụ việc, mặc dù được thành lập mang tính chất tạm thời nhưng mục tiêu chính của loại tổ chức này cũng nhằm vào việc trợ giúp cho hoạt động tư pháp bởi lẽ trong giai đoạn tổ chức thực hiện giám định tư pháp, các thành viên của tổ chức này phải tập trung vào nhiệm vụ làm rõ các nội dung cần giám định theo nội dung trưng cầu, yêu cầu bên cạnh các nhiệm vụ mang tính chất chuyên môn mà các thành viên của tổ chức này đảm nhận

Thứ hai, tổ chức giám định tư pháp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhằm đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật tố tụng và Luật GĐTP

Tùy thuộc vào loại tổ chức giám định khác nhau mà Luật GĐTP quy định thực hiện chức năng giám định cũng khác nhau, cụ thể: Tổ chức thực hiện giám định pháp y như Viện pháp y quốc gia thuộc Bộ Y tế, Trung tâm pháp y cấp tỉnh, Viện pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng, Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện khoa học hinh sự, Bộ Công an; tổ chức giám định pháp y tâm thần như Viện pháp y tâm thần Trung ương thuộc Bộ Y tế, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thuộc Bộ

Y tế; tổ chức giám định kỹ thuật hình sự như Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Công

An, phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh, phòng Giám định kỹ thuật hình

sự thuộc Bộ Quốc phòng; tổ chức giám định trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả Việc thực hiện giám định phải đảm bảo tuân thủ trình tự, thủ tục cũng như các nội dung khác có liên quan theo quy định của Luật Giám định tư pháp và các Luật Tố tụng chuyên ngành như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,… nhằm đảm bảo hoạt động giám định tuân thủ đúng tinh thần pháp chế xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh chức năng chính là thực hiện hoạt động giám định trong các lĩnh vực, tổ chức giám định tư pháp còn có các chức năng, nhiệm vụ khác như xây dựng

Trang 27

quy chuẩn giám định theo ngành, lĩnh vực; xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức, hướng dẫn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra nghiệp vụ đối với các tổ chức giám định trực thuộc theo quy định của các Bộ, ngành quản lý; nghiên cứu khoa học về chuyên ngành thực hiện giám định; thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế của và một số nhiệm vụ khác theo quy định Bản chất của các chức năng, nhiệm vị này không phải là chính nhưng mang tính chất bổ trợ, giúp chức năng chính về thực hiện hoạt động giám định được đảm bảo

Thứ ba, nguồn lực của tổ chức giám định tư pháp mang tính chất chuyên môn gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của nó

Đối với nguồn nhân lực, do đây là nguồn lực đặc biệt không thể thiếu và quyết định sự thành công trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó Do

đó, với chức năng thực hiện hoạt động giám định mang tính chuyên môn kỹ thuật cao, các cá nhân là thành viên của tổ chức giám định tư pháp phải có trình độ, năng lực phù hợp, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên, có chứng chỉ đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ giám định Bên cạnh đó, hoạt động bổ trợ tư pháp nhằm đảm bảo cho hoạt động tư pháp được thực hiện một cách công bằng nên đòi hỏi kết luận giám định phải đáp ứng tính khách quan, trung thực mà điều này đòi hỏi cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động giám định phải có phẩm chất đạo đức tốt để tránh các trường hợp vi phạm trong công tác giám định như kết luận giám định tư pháp sai sự thật, cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp, lợi dụng việc thực hiện giám định tư pháp để trục lợi, tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết được khi tiến hành giám định tư pháp,

Về nguồn lực công nghệ, với vai trò quan trọng trong phát triển tổ chức và việc coi trọng ứng dụng công nghệ cần thiết đặt ra đối với tổ chức giám định tư pháp Một trong các yêu cầu tiên quyết đòi hỏi kết luận giám định phải đáp ứng là tính chính xác bởi lẽ kết luận giám định là nguồn của chứng cứ được cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sử dụng để đánh giá vụ việc nhằm mục đích giải quyết vụ án khách quan, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và duy trì tính công bằng của cơ quan tư pháp

Do đó, quá trình đưa đến kết luận giám định cũng phải sử dụng phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật hiện đại thông qua máy móc, trang thiết bị được

Trang 28

cung cấp phục vụ hoạt động giám định, như trang thiết bị, phương tiện phục vụ giám định ADN bao gồm hệ thống giải trình ADN tự động sử dụng mao quản, hệ thống nhân gen tự động PCR, hệ thống Real-time PCR định lượng vết ADN với Kit Quantifiler, hệ thống tách chiết ADN tự động, máy ly tâm đĩa, máy nghiền xương dùng Nitơ lỏng,… hoặc các trang thiết bị, phương tiện giám định ma túy như sắc ký khí khối phổ tứ cực gắn bộ bơm mẫu tự động (Gas Chromatography - Mass Spectroscopy), sắc ký khí đầu dò FID (Gas Chromatography - Hydrogen Flame Ionzation Detetor), sắc kí lỏng cao áp kết nối khối phổ (High Perrormance Liquid Chromatography - Mass Spectroscopy), thiết bị hồng ngoại phản xạ đo mẫu đa năng (Reflex Infrared), máy quang phổ tử ngoại khả kiến (UV-VIS),

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với

theo yêu cầu của người yêu cầu giám định Do đó, kết quả giám định là chứng cứ

quan trọng, góp phần tích cực trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Sự chuyển biến mạnh mẽ, đột phá trong hoạt động giám định tư pháp những năm qua bảo đảm đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng, nâng cao vị thế của tổ chức, cá nhân thực hiện giám định tư pháp, làm chuyển biến nhận thức của các ngành, các cấp về giám định tư pháp, tạo

vị trí xứng tầm hoạt động giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng, cải cách tư pháp và trong xã hội.15

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, hiệu quả của hoạt động giám định tư pháp có mối liên hệ mật thiết đối với kết quả của hoạt động tố tụng Một số vụ án

15 Tạo vị trí xứng tầm hoạt động giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng, luat/tin-tuc/16568/tao-vi-tri-xung-tam-hoat-dong-giam-dinh-tu-phap-trong-hoat-dong-to-

http://baovinhphuc.com.vn/phap-ung.html?fbclid=IwAR263lO38G7VWNg5-yWHp9Bwy3Ob86E9EbeYoyVLipyh9eHbgx6uFkhr7QA, truy

cập ngày 11/5/2019

Trang 29

chưa được giải quyết do chưa có kết quả giám định, chẳng hạn như vụ việc xảy ra vào năm 2013, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa thụ lý giải quyết vụ án dân sự, trong đó bà Nguyễn Thị Thanh Trung yêu cầu bà Hàng Thị Hoàng Oanh phải bồi thường thiệt hại do quá trình xây dựng làm sụt lún, hỏng nhà bà Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng tỉnh được tòa đề nghị GĐTP không kết luận được nguyên nhân làm sụt lún Vì vậy, vụ án hiện chưa giải quyết xong Cũng năm 2013, TAND thành phố Nha Trang thụ lý vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng xây dựng giữa Công ty TNHH Thái Bình Dương (quận 4, Tp Hồ Chí Minh)

và Công ty TNHH Toyota Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk) Vụ án cũng chưa được giải quyết bởi cơ quan, tổ chức giám định không đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật để thực hiện giám định

Theo quy định hiện hành, UBND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền quản lý đối với Trung tâm pháp y, Trung tâm pháp y tâm thần, Phòng kỹ thuật hình sự Trong số các lĩnh vực giám định tư pháp thì hoạt động giám định pháp y tại các địa phương

có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt đối với hoạt động tố tụng vì đối tượng hướng đến của giám định pháp y là tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của con người - một trong những khách thể được Nhà nước coi trọng bậc nhất và bảo vệ triệt để Số lượng yêu cầu giám định pháp y lớn và thường xuyên nhất trong số các lĩnh vực giám định mà hoạt động tố tụng cần đến

Những phân tích trên cho thấy các tổ chức giám định tư pháp ở địa phương ngày càng có vai trò quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh mới, khi mà tình hình tội phạm ngày càng gia tăng như hiện nay

1.2.2 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan hành chính có nhiệm vụ quản

lý nhà nước tại địa phương

Hiện nay, việc quản lý nhà nước về giám định tư pháp được giao cụ thể là:

“Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp; Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp; Bộ Y tế, Bộ Công an,

Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ, cơ quan ngang Bộ khác thực hiện quản lý nhà nước và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp ở lĩnh vực do mình quản lý; phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản

lý nhà nước về giám định tư pháp ở địa phương

Trang 30

Xét về thẩm quyền thành lập và quản lý, Luật hiện hành có sự phân chia rõ ràng trong công tác quản lý từ cấp trung ương do Chính phủ quản lý chung sau đó đến các Bộ, ngành và cuối cùng là cơ quan quản lý trực tiếp ở địa phương là UBND cấp tỉnh Việc trao cho UBND cấp tỉnh quản lý các tổ chức GĐTP là hoàn toàn hợp

lý bởi lẽ đây là cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương Đây là cơ quan nắm rõ nhất những khó khăn, vướng mắc cũng như việc các tổ chức giám định tư pháp ở địa phương cần những điều kiện gì để đảm bảo cho hoạt động giám định tư pháp của mình Đồng thời, UBND cấp tỉnh cũng là cơ quan duy nhất theo Luật GĐTP

2012 được trao quyền thành lập các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, với

xu hướng xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp theo chủ trương của Đảng, Nhà nước hiện nay và trong tương lai thì vai trò của UBND cấp tỉnh sẽ ngày càng được nâng cao và có vị trí rất quan trọng trong tổng thể các cơ quan được giao quản lý các tổ chức giám định tư pháp Do đó, để đảm bảo cho hoạt động giám định tư pháp hoạt động hiệu quả và phát triển thì vai trò quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh phải ngày càng được xem trọng Đây là một mắt xích quan trọng giúp cho Nhà nước quản lý hoạt động giám định tư pháp hoạt động một cách hiệu quả nhất, sẽ đóng góp cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

1.3 Nội dung quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với tổ chức giám định tư pháp

1.3.1 Thành lập tổ chức giám định tư pháp

Việc thành lập các tổ chức giám định tư pháp được xem là một trong các nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh nói riêng vì khi thành lập một tổ chức giám định tư pháp đồng nghĩa với việc tổ chức đó chính thức có tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật, đặc biệt là các quan hệ pháp luật tố tụng Hay nói cách khác, thông qua việc thành lập tổ chức giám định tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước đã trao cho nó các chức năng, nhiệm vụ nhất định và làm phát sinh quyền hạn, trách nhiệm đối với các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật, nhất là đối với Nhà nước Theo đó, việc thành lập tổ chức giám định tư pháp đã được đề ra ngay từ khi Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về giám định tư pháp - văn bản quy phạm pháp luật đầu tư quy định về lĩnh vực này ra đời bao gồm tổ chức giám định tư pháp ở lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, văn hoá, tài chính

kế toán, xây dựng, khoa học kỹ thuật Tuy nhiên, trong Nghị định này không quy

Trang 31

định quyền hạn thành lập tổ chức giám định tư pháp của UBND cấp tỉnh mà trao lại cho Bộ Tư pháp quy định tại Thông tư số 78/TT-QĐ ngày 26/01/1989 nhưng Thông

tư chỉ nêu một cách khái quát: “Ở cấp tỉnh (tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương), thành lập tổ chức giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, giám định kế toán tài chính và các tổ chức giám định chuyên ngành khác…”

Đến khi Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 ra đời đã chính thức ghi nhận nhiệm vụ, quyền hạn quyết định thành lập tổ chức giám định tư pháp theo thẩm quyền tại Khoản 1 Điều 45 của Pháp lệnh, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện công tác quản lý của UBND cấp tỉnh Tuy nhiên, phạm vi đối tượng tổ chức giám định tư pháp do UBND cấp tỉnh thành lập có giới hạn, chỉ bao gồm hai lĩnh vực là giám định pháp y và pháp y tâm thần, đồng thời UBND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền thành lập hai loại tổ chức giám định tư pháp là: (i) Trung tâm Pháp y tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhưng phải căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương và phải có số lượng trưng cầu giám định pháp y lớn, thường xuyên, có điều kiện về cơ sở vật chất và có từ ba giám định viên pháp y chuyên trách trở lên; (ii) Trung tâm Giám định pháp y tâm thần nhưng chỉ được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Bệnh viện tâm thần cấp tỉnh Việc thành lập do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp, sau khi thống nhất ý kiến với Giám đốc Sở Y tế

Luật GĐTP 2012 tiếp tục ghi nhận thẩm quyền thành lập tổ chức giám định tư pháp nhưng có sự phân định rõ về vai trò quản lý của UBND cấp tỉnh đối với từng loại hình tổ chức giám định tư pháp cụ thể:

Một là, đối với tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, UBND cấp tỉnh lập và

công bố danh sách ở địa phương thuộc thẩm quyền quản lý bởi lẽ đây là tổ chức mang tính chất tạm thời theo vụ việc và có “nhiệm kỳ” theo hàng năm nên cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện việc lập danh sách và công bố để các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền có thể lựa chọn trưng cầu giám định, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan yêu cầu giám định Hình thức công bố danh sách tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc kèm theo danh sách thông tin về chuyên ngành giám định, kinh nghiệm, năng lực của tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được thực hiện thông qua phương tiện truyền thông, thường thực hiện trên cổng thông tin điện

tử, đồng thời phải gửi đến cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở Trung ương để thống nhất quản lý Đồng thời với trách nhiệm công bố là trách nhiệm điều

Trang 32

chỉnh thông tin liên quan đến tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc của UBND cấp tỉnh khi có sự thay đổi như thông tin tên tổ chức, địa chỉ tổ chức, lĩnh vực chuyên môn hoặc kinh nghiệm trong hoạt động chuyên môn và hoạt động giám định

tư pháp,…

Hai là, đối với tổ chức giám định tư pháp công lập, UBND cấp tỉnh có thẩm

quyền thành lập tổ chức này bởi lẽ đây là đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan quản

lý nhà nước, việc thành lập tổ chức này mang tính “chủ động” của cơ quan quản lý nhà nước mà không phụ thuộc vào ý chí của đơn vị được thành lập Lĩnh vực hoạt động của tổ chức giám định tư pháp do UBND cấp tỉnh thành lập là các lĩnh vực khác không bao gồm các lĩnh vực “công” như giám định pháp y, pháp y tâm thần và

kỹ thuật hình sự Tuy nhiên, việc thành lập phải được Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất ý kiến để tránh trường hợp tùy tiện của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương

Ba là, đối với tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, UBND cấp tỉnh có

thẩm quyền quyết định cho phép thành lập tổ chức này bởi lẽ tổ chức này là doanh nghiệp do cá nhân hoăc liên kết giữa các cá nhân xin phép thành lập và việc thành lập tổ chức này mang tính “thụ động” của cơ quan quản lý nhà nước, nghĩa là khi cá nhân hoặc các cá nhân đủ điều kiện có nhu cầu xin phép thành lập thì mới phát sinh nhiệm vụ, quyền hạn này của UBND cấp tỉnh Đồng thời, gắn liền với quyết định cho phép thành lập là nhiệm vụ, quyền hạn quyết định việc thay đổi, bổ sung lĩnh vực giám định tư pháp của Văn phòng GĐTP nếu có đủ điều kiện; quyết định chuyển đổi loại hình Văn phòng GĐTP từ doanh nghiệp tư nhân sang công ty hợp danh và ngược lại; quyết định chấm dứt hoạt động Văn phòng GĐTP khi tự chấm dứt hoạt động hoặc bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động do không còn đủ điều kiện hoạt động như không còn đủ giám định viên tư pháp theo quy định hoặc các trường hợp khác theo quy định hoặc có vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động như thực hiện giám định tư pháp không đúng lĩnh vực đã đăng ký, vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính lần thứ hai mà còn tái phạm,…

1.3.2 Quản lý nhà nước về người giám định tư pháp

Người giám định tư pháp theo nghĩa thông thường được hiểu là người trực tiếp thực hiện hoạt động giám định và bao gồm hai chủ thể là giám định viên tư pháp và

Trang 33

người giám định tư pháp theo vụ việc16 Công tác quản lý đối với người giám định

tư pháp của cơ quan có thẩm quyền gồm việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên

tư pháp; cấp và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; lập và công bố danh sách người giám định tư pháp Tuy nhiên, trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước được phân cấp theo Luật GĐTP 2012, UBND cấp tỉnh không còn nhiệm vụ, quyền hạn

đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp, thu hồi thẻ giám định tư pháp theo thẩm quyền như Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 bởi lẽ thủ tục này không còn do Bộ Tư pháp thống nhất thực hiện mà chỉ duy nhất lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự còn quy định và thực hiện thủ tục này17 Cụ thể công tác quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh đối với người giám định tư pháp như sau:

1.3.2.1 Bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp

Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức chuyên môn để đưa ra các kết luận khoa học, có giá trị chứng cứ phục vụ cho vụ án nên các nhà chuyên môn là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động này phải có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật để có thể trở thành người giám định tư pháp Nếu như quy định trước đây tại Nghị định 117-HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng bộ trưởng

về giám định tư pháp thì các giám định viên tư pháp do công chức nhà nước thuộc các Bộ ngành như Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa,

Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước kiêm nhiệm thì Pháp lệnh Giám định tư pháp 2004 và Luật GĐTP 2012 có kế thừa, sửa đổi, bổ sung về việc mở rộng chủ thể có thể trở thành giám định viên tư pháp là mọi cá nhân có đủ điều kiện mà không cần phải là cán bộ, công chức như trước đây Vấn đề này được cụ thể như sau:

* Về tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên tư pháp:

Một cá nhân được bổ nhiệm giám định viên tư pháp phải đáp ứng điều kiện cần và đủ theo quy định của Luật GPĐP 2012, cụ thể:

16 Khoản 5 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012 (Luật số 13/2012/QH13)

17 Việc cấp, cấp lại, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp kỹ thuật hình sự do Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Giám đốc Công an cấp tỉnh thực hiện theo quy định của Bộ Công an theo Điều 7,

8 Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 05/8/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên kỹ thuật hình sự

Trang 34

Điều kiện cần là cá nhân đó phải hội đủ các điều kiện bắt buộc theo tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp: (i) công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; (ii) có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; (iii) có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ đủ 05 năm trở lên; (iv) đối với người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự phải có chứng chỉ đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ giám định Đây là các tiêu chí quy định đối với giám định viên tư pháp nói chung, tùy thuộc vào lĩnh vực giám định mà các tiêu chí này được cụ thể hóa theo quy định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý lĩnh vực đó sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp, cụ thể:

Đối với giám định viên kỹ thuật hình sự phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau18: (1)

là sĩ quan nghiệp vụ Công an, sĩ quan Quân đội nhân dân tại ngũ; (2) có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; (3) có trình độ đại học trở lên và đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở lĩnh vực chuyên ngành được đào tạo từ đủ 03 năm trở lên19;

18 Xem thêm Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 05/8/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên kỹ thuật hình sự

19 Tùy thuộc vào từng loại giám định viên kỹ thuật hình sự mà yêu cầu chuyên môn khác nhau, cụ thể: a) Giám định viên dấu vết đường vân: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong các nhóm ngành an ninh và trật tự xã hội, nhóm ngành luật, nhóm ngành máy tính và công nghệ thông tin, ngành hóa học, ngành công nghệ hóa học, ngành kỹ thuật hóa học, ngành công nghệ kỹ thuật hóa học, ngành sư phạm hóa học ngành chỉ huy kỹ thuật hóa học, ngành chỉ huy kỹ thuật thông tin;

b) Giám định viên dấu vết cơ học: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong các nhóm ngành an ninh và trật

tự xã hội, nhóm ngành luật, nhóm ngành công nghệ kỹ thuật cơ khí, nhóm ngành kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật, nhóm ngành máy tính và công nghệ thông tin, ngành chỉ huy kỹ thuật thông tin;

c) Giám định viên súng, đạn: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong các nhóm ngành an ninh và trật tự xã hội, nhóm ngành luật, nhóm ngành máy tính và công nghệ thông tin, ngành kỹ thuật cơ khí, ngành công nghệ

kỹ thuật cơ khí, ngành chỉ huy kỹ thuật, ngành chỉ huy kỹ thuật thông tin;

d) Giám định viên tài liệu: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong các nhóm ngành an ninh và trật tự xã hội, nhóm ngành luật, nhóm ngành ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, nhóm ngành ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài, nhóm ngành máy tính và công nghệ thông tin, nhóm ngành mỹ thuật, nhóm ngành mỹ thuật ứng dụng, ngành hóa học, ngành công nghệ hóa học, ngành công nghệ kỹ thuật hóa học, ngành sư phạm hóa học, ngành chỉ huy kỹ thuật hóa học, ngành nhiếp ảnh, ngành chỉ huy kỹ thuật thông tin;

đ) Giám định viên cháy, nổ: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong các nhóm ngành công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; nhóm ngành kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; ngành hóa học; ngành phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn, ngành chỉ huy kỹ thuật, ngành chỉ huy kỹ thuật công binh, ngành chỉ huy

kỹ thuật hóa học;

e) Giám định viên kỹ thuật: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong những nhóm ngành công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; nhóm ngành kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; nhóm ngành máy tính và

Trang 35

(4) có chứng chỉ đã qua đào tạo hoặc bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ giám định ở chuyên ngành được đề nghị bổ nhiệm do Viện Khoa học hình sự hoặc cơ quan Khoa học hình sự ở nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về giáo dục và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập cấp

Đối với giám định viên pháp y và pháp y tâm thần phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau20: (1) công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; (2) là bác sỹ, dược sỹ đại học hoặc tốt nghiệp đại học trở lên do cơ sở giáo dục Việt Nam hoặc của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về giáo dục hoặc theo Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên theo các chuyên ngành khác phù hợp với lĩnh vực giám định đối với giám định viên pháp y và là bác sỹ đã qua đào tạo định hướng chuyên khoa tâm thần trở lên đối với giám định viên pháp y tâm thần; (3) thời gian làm việc theo đúng chuyên ngành được đào tạo tại cơ sở y tế từ đủ 05 năm trở lên, trường hợp người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên pháp y, giám định viên pháp y tâm thần là người trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần thì thời gian hoạt động thực tế chuyên môn phải từ đủ 03 năm trở lên; (4) Có chứng chỉ do Viện Pháp y Quốc gia, Viện Pháp y tâm thần Trung ương hoặc cơ sở đào tạo

có Bộ môn Pháp y, Bộ môn Tâm thần cấp cho người tham gia khóa đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ giám định từ đủ 03 tháng trở lên theo chương trình đào tạo đã

công nghệ thông tin, nhóm ngành kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật, ngành phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn, ngành chỉ huy kỹ thuật, ngành chỉ huy kỹ thuật thông tin;

g) Giám định viên âm thanh: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong những nhóm ngành máy tính và công nghệ thông tin; nhóm ngành công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; nhóm ngành kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; nhóm ngành ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, ngành ngôn ngữ học, ngành chỉ huy kỹ thuật thông tin;

h) Giám định viên sinh học: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong những nhóm ngành sinh học, nhóm ngành sinh học ứng dụng, nhóm ngành y học, nhóm ngành dịch vụ y tế, ngành sư phạm sinh học;

i) Giám định viên hóa học: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong nhóm ngành dược học, ngành hóa học, ngành công nghệ hóa học, ngành công nghệ kỹ thuật hóa học, ngành công nghệ kỹ thuật môi trường, ngành công nghệ thực phẩm, ngành sư phạm hóa học, ngành địa chất học, ngành chỉ huy kỹ thuật hóa học;

k) Giám định viên kỹ thuật số và điện tử: có trình độ đại học trở lên thuộc một trong những nhóm ngành công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông, nhóm ngành kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông; nhóm ngành máy tính và công nghệ thông tin, ngành chỉ huy kỹ thuật thông tin

20 Xem thêm Thông tư số 02/2014/TT-BYT ngày 15/01/2014 của Bộ Y tế quy định chi tiết tiêu chuẩn, hồ sơ, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên pháp y và giám định viên pháp y tâm thần

Trang 36

được Bộ Y tế phê duyệt hoặc do cơ sở giáo dục của nước ngoài cấp phải được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về giáo dục hoặc theo Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên cấp, riêng người đã có bằng hoặc chứng chỉ định hướng chuyên khoa trở lên về pháp y, pháp y tâm thần thì không phải qua đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ giám định

Đối với giám định viên lĩnh vực văn hóa phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau21: (1) công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; (2) có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; (3) có bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ hoặc bằng tiến sĩ do cơ sở giáo dục của Việt Nam cấp hoặc do cơ sở giáo dục của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về giáo dục và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên cấp thuộc một trong các chuyên ngành đào tạo sau đây: Mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng, nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật nghe nhìn, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, nhân văn, xã hội học và nhân học, thư viện, bảo tàng, luật, chuyên ngành khác có liên quan; (4) đã trực tiếp làm công tác chuyên môn về chuyên ngành được đào tạo nêu trên từ đủ 05 năm trở lên

Đối với giám định viên lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau22: (1) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam (2) có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; (3) có bằng tốt nghiệp đại học hoặc tương đương trở lên; (4) đã có kinh nghiệm thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn liên tục từ đủ 05 năm trở lên

Đối với giám định viên tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau23: (1) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; (2) có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; (3) có chuyên ngành đào tạo từ bậc đại học trở lên liên quan đến lĩnh vực giao thông vận tải; (4) đã qua thực tế làm công tác chuyên môn

về chuyên ngành được đào tạo liên quan đến lĩnh vực giao thông vận tải từ đủ 05 năm trở lên

Trang 37

Đối với giám định viên tư pháp trong lĩnh vực xây dựng phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau24: (1) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; (2) có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt; (3) có chuyên ngành đào tạo từ bậc đại học trở lên liên quan đến lĩnh vực xây dựng; (4) đã qua thực tế làm công tác chuyên môn về chuyên ngành được đào tạo liên quan đến chuyên ngành thuộc lĩnh vực xây dựng từ đủ 05 năm trở lên và có chứng chỉ, chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ hoặc được đào tạo nghiệp vụ theo các chuyên ngành thuộc lĩnh vực xây dựng25

Điều kiện đủ là không thuộc một trong các trường hợp không được đảm đương, thực hiện nhiệm vụ giám định tư pháp gồm: (i) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; (ii) đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự,

24 Xem thêm Thông tư số 04/2014/TT-BXD ngày 22/4/2014 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về giám định tư pháp trong hoạt động đầu tư xây dựng

25 Điều kiện trong các chuyên ngành thuộc lĩnh vực xây dựng như sau:

- Đối với giám định tư pháp về sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng: (i)

có kinh nghiệm thực tế từ đủ 05 năm trở lên thực hiện một trong các công việc: quản lý dự án đầu tư xây dựng, giám sát thi công xây dựng, kiểm định xây dựng hoặc quản lý nhà nước về xây dựng phù hợp với nội dung đăng ký giám định tư pháp xây dựng; (ii) có chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý dự án hoặc chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng hoặc chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ, chứng chỉ hành nghề: đấu thầu, kiểm định, kỹ sư định giá theo quy định của pháp luật về xây dựng phù hợp với nội dung đăng ký giám định tư pháp xây dựng

- Đối với giám định tư pháp về chất lượng xây dựng:

(i) Trường hợp giám định chất lượng khảo sát xây dựng hoặc thiết kế xây dựng công trình: (a) có kinh nghiệm thực tế từ đủ 05 năm trở lên thực hiện một trong các công việc: khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, kiểm định xây dựng phù hợp với nội dung đăng ký giám định tư pháp xây dựng; (b) có chứng chỉ hành nghề khảo sát xây dựng hoặc thiết kế xây dựng theo quy định

(ii) Trường hợp giám định chất lượng vật liệu, sản phẩm xây dựng, thiết bị công trình: (a) có kinh nghiệm thực tế từ đủ 05 năm trở lên thực hiện một trong các công việc: thiết kế xây dựng, giám sát thi công xây dựng, thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, kiểm định xây dựng phù hợp với nội dung đăng ký giám định tư pháp xây dựng; (b) được đào tạo nghiệp vụ kiểm định xây dựng theo quy định

(iii) Trường hợp giám định chất lượng bộ phận công trình xây dựng, công trình xây dựng và giám định sự cố công trình xây dựng: (a) có kinh nghiệm thực tế từ đủ 05 năm trở lên thực hiện một trong các công việc: thiết

kế xây dựng, giám sát thi công xây dựng, kiểm định xây dựng phù hợp với nội dung đăng ký giám định tư pháp xây dựng; (b) có chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng hoặc giám sát thi công xây dựng theo quy định; (c) được đào tạo nghiệp vụ kiểm định xây dựng theo quy định

- Đối với giám định tư pháp về chi phí đầu tư xây dựng công trình, giá trị công trình và các chi phí khác có liên quan: (i) có kinh nghiệm thực tế từ đủ 05 năm trở lên thực hiện một trong các công việc: quản lý dự án đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng, kiểm định xây dựng hoặc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nội dung đăng ký giám định tư pháp xây dựng; (b) có chứng chỉ hành nghề kỹ sư định giá theo quy định

Trang 38

đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý, đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; (iii) đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

* Về miễn nhiệm giám định viên tư pháp

Giám định viên tư pháp được bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau:

Không còn đủ tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên tư pháp theo Luật GĐTP 2012;

Thuộc một trong các trường hợp không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp theo Luật GĐTP 2012;

Bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên hoặc bị xử phạt hành chính do cố

ý vi phạm quy định của pháp luật về giám định tư pháp;

Thực hiện một trong các hành vi bị nghiêm cấm theo Luật GĐTP 2012 gồm: (i) Từ chối đưa ra kết luận giám định tư pháp mà không có lý do chính đáng; (ii) Cố

ý đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật; (iii) cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp; (iv) lợi dụng việc thực hiện giám định tư pháp để trục lợi; (v) tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết được khi tiến hành giám định tư pháp; (vi) xúi giục, ép buộc người giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật; (vii) Can thiệp, cản trở việc thực hiện giám định của người giám định tư pháp Theo đề nghị của giám định viên tư pháp là công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng có quyết định nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí hoặc thôi việc

Như vậy, so với Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004, Luật GĐTP 2012 quy định rõ ràng hơn và bổ sung trường hợp giám định viên tư pháp là công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng có quyết định nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí hoặc thôi việc

Trang 39

1.3.2.2 Về lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc

Việc lập, công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc là một trong các nội dung mới của Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 được Luật GĐTP 2012 kế thừa và bổ sung bởi lẽ trước đó, công tác quản lý nhà nước này chưa được quy định cụ thể26 Tuy nhiên, quy định của Pháp lệnh Giám định tư pháp năm

2004 và văn bản hướng dẫn chưa quy định UBND cấp tỉnh có thẩm quyền đối với

công tác quản lý nhà nước này mà giao cho Bộ Tư pháp thống nhất thực hiện: Căn

cứ vào nhu cầu của hoạt động tố tụng đối với từng lĩnh vực giám định, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh lựa chọn những người có đủ điều kiện quy định tại Pháp lệnh Giám định tư pháp và đề nghị Bộ Tư pháp đưa vào danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc; định kỳ hàng năm, Bộ Tư pháp công bố trên ít nhất một phương tiện thông tin đại chúng danh sách người giám định

tư pháp theo vụ việc trong toàn quốc27 Đến khi Luật GĐTP 2012 ra đời, UBND cấp tỉnh mới được trao nhiệm vụ, quyền hạn này và được hướng dẫn cụ thể tại Chương

4 Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ Theo đó, định kỳ hàng năm, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lựa chọn, lập và công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để đáp ứng yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng kèm theo Danh sách thông tin bao gồm họ và tên, ngày tháng năm sinh, nơi công tác hoặc nơi cư trú, chuyên ngành giám định, kinh nghiệm, năng lực của người giám định tư pháp theo vụ việc Việc công khai được thực hiện thông qua đăng tải trên cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để lập danh sách chung

1.3.3 Bảo đảm kinh phí, phương tiện hoạt động, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác cho tổ chức giám định tư pháp công lập ở địa phương

Với vai trò là cơ quan đã “tạo ra” các tổ chức giám định tư pháp công lập ở địa phương, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm phải bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí,

26 Khi cần trung cầu giám định ở các ngành khác ngoài lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự và giám định viên pháp y (Bộ Nội vụ), giám định pháp y (Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng), giám định pháp y tâm thần (Bộ

Y tế), giám định kế toán tài chính (Bộ Tài chính), giám định tác phẩm văn học nghệ thuật, văn hoá phẩm nghệ thuật (Bộ Văn hoá), giám định trong từng lĩnh vực khoa học kỹ thuật (Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước), khi quyết định trưng cầu giám định tư pháp thì thủ trưởng ngành đó cử người làm giám định (người được cử làm giám định không được lập và công bố trước đó)

27 Khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 và Điều 5 Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ

Trang 40

trang thiết bị, phương tiện và điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện giám định

tư pháp của tổ chức đó Bản chất tổ chức giám định tư pháp công lập là đơn vị sự nghiệp hoặc đơn vị trực thuộc lực lượng vũ trang nhân dân nên kinh phí hoạt động của tổ chức giám định tư pháp công lập ở địa phương được bảo đảm từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật Theo đó, nguồn kinh phí hoạt động bao gồm các nguồn như: (i) ngân sách nhà nước cấp (kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của Trung tâm pháp y tỉnh, Trung tâm Giám định pháp y tâm thần tỉnh được bố trí trong dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm của Sở Y tế, kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của Phòng Giám định pháp y thuộc Bệnh viện đa khoa cấp tỉnh được bố trí trong dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm của Bệnh viện đa khoa cấp tỉnh); (ii) phí giám định tư pháp; (iii) các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật Trình tự, thủ tục cấp phát kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp công lập do UBND cấp tỉnh thành lập được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành

1.3.4 Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho giám định viên tư pháp

Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho đội ngũ giám định viên tư pháp ở địa phương là một trong những nội dung quản lý nhà nước quan trọng của UBND cấp tỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả cho hoạt động giám định tư pháp Theo Điểm d Khoản 1 Điều 43 Luật GĐTP 2012, UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho giám định viên tư pháp ở địa phương thuộc các tổ chức giám định tư pháp, bao gồm tổ chức giám định tư pháp công lập do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập và tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập do UBND cấp tỉnh quyết định cho phép thành lập Tuy nhiên, về nội dung bồi dưỡng kiến thức pháp luật và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho giám định viên tư pháp phải thực hiện theo các chương trình do Bộ Tư pháp xây dựng hoặc phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan xây dựng

1.3.5 Đánh giá, kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử

lý vi phạm về giám định tư pháp

* Về công tác đánh giá hoạt động giám định tư pháp:

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 01 tháng 02 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp
27. Quyết định số 1358/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 03/8/2011 kế hoạch tổng thể thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả của hoạt động giám định tư pháp”.B. Tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và nâng cao hiệu quả của hoạt động giám định tư pháp
1. Nguyễn Hữu Hải (2010), Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước, Học viện hành chính, Hà Nội, tr.40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận hành chính nhà nước, Học viện hành chính
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải
Năm: 2010
2. Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, tr.1071 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học
Năm: 2002
3. Nguyễn Như Ý (2013) (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, tr.1704 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
4. Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển bách khoa – NXB Tư pháp, tr.828 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa – NXB Tư pháp
Năm: 2006
5. Nguyễn Đăng Dung (2005), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
6. Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển bách khoa – NXB Tư pháp, tr.633-634 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa – NXB Tư pháp
Năm: 2006
7. Mấy vấn đề về cán bộ và về tổ chức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, NXB Sự thật, Hà Nội, 1973, tr.28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về cán bộ và về tổ chức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
Nhà XB: NXB Sự thật
8. Lê Cảm (2003), “Cơ chế kiểm tra, giám sát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí khoa học pháp luật (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ chế kiểm tra, giám sát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền”
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2003
9. Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành (2002), Thể chế - cải cách thể chế và phát triển: Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội, tr.276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế - cải cách thể chế và phát triển: "Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
10. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1991), Một số cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức giám định tư pháp, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức giám định tư pháp
Tác giả: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Năm: 1991
29. Tạo vị trí xứng tầm hoạt động giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng, http://baovinhphuc.com.vn/phap-luat/tin-tuc/16568/tao-vi-tri-xung-tam-hoat-dong-giam-dinh-tu-phap-trong-hoat-dong-to-ung.html?fbclid=IwAR263lO38G7VWNg5-yWHp9Bwy3Ob86E9EbeYoyVLipyh9eHbgx6uFkhr7QA, truy cập ngày 11/5/2019 Link
32. Báo cáo tổng kết thi hành Luật Giám định tư pháp, http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU_COBAN/Attachments/3318/BC_tong_ket_Luat_G%C4%90TP.docx, truy cập ngày 15/9/2018 Link
35. Một số kinh nghiệm pháp luật của Cộng hòa Pháp về giám định tư pháp, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/43, ngày truy cập 04/5/2019 Link
37. Kết quả đạt được sau 5 năm thi hành Luật giám định tư pháp trên đại bàn tỉnh Bình Dương, https://stp.binhduong.gov.vn/bo-tro-tu-phap/Lists/GiamDinhTuPhap/DispForm.aspx?ID=27, ngày truy cập 05/4/2019 Link
39. Cà Mau: Giám đốc Trung tâm pháp y ký kết quả giám định trên bàn nhậu, http://antt.vn/ca-mau-giam-doc-trung-tam-phap-y-ky-ket-qua-giam-dinh-tren-ban-nhau-012886.html, ngày truy cập 07/4/2019 Link
41. Giám định tư pháp còn nhiều vướng mắc, https://plo.vn/phap-luat/giam-dinh-tu-phap-con-nhieu-vuong-mac-798403.html, truy cập ngày 15/5/2019 Link
43. Nhiều kết quả giám định mâu thuẫn, tính sao?, http://luatsudonga.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=176%3Anhieu-ket-qua-giam-dinh-mau-thuan-tinh-sao&catid=1%3Anha-dat&Itemid=46&lang=vi, truy cập ngày 07/4/2019 Link
47. Cải thiện chất lượng hoạt động giám định tư pháp, https://nhandan.com.vn/chinhtri/tin-tuc-su-kien/item/41623102-cai-thien-chat-luong-hoat-dong-giam-dinh-tu-phap.html, truy cập ngày 20/9/2019 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w