Mục đích nghiên cứu Đề tài được thực hiện với mục đích: i Làm rõ ý nghĩa của nguyên tắc phòng ngừa trong công tác quản lí môi trường nói chung, trong công tác phòng ngừa sự cố cháy nổ n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
CHẾ THỊ LINH
NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪA TRONG PHÒNG NGỪA SỰ CỐ CHÁY NỔ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪA TRONG PHÒNG NGỪA SỰ CỐ CHÁY NỔ
SINH VIÊN THỰC HIỆN: CHẾ THỊ LINH Khóa: 35 - MSSV: 1055010139
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S TRẦN THỊ TRÚC MINH
TP HỒ CHÍ MINH,NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Chế Thị Linh – sinh viênTrường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh,
Khoa Luật Thương mại, khóa 35 (2010 – 2014), là tác giả của Khóa luận tốt nghiệp
Cử nhân Luật – Chuyên ngành Luật Thương mại – đề tài: “Nguyên tắc phòng ngừa
trong phòng ngừa sự cố cháy nổ”được trình bày trong tài liệu này
Tôi xin cam đoan tất cả nội dung trong khóa luận này hoàn toàn được hình
thành và phát triển từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa
học của Thạc sĩ Trần Thị Trúc Minh – Giảng viên khoa Luật Thương mại Trường
Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh
Trong khóa luận có trích dẫn, sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa học
của một số tác giả Sự trích dẫn này thể hiện cụ thể trong danh mục tài liệu tham
khảo và tuân thủ các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2014
Sinhviên thực hiện
Chế Thị Linh
Trang 4Ủy ban nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng 4
7 Bố cục của khóa luận 4
CHƯƠNG 1KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪAVÀ SỰ CỐ CHÁY NỔ 5
1.1 Khái quát về nguyên tắc phòng ngừa 5
1.1.1 Khái niệm “phòng ngừa” và “nguyên tắc phòng ngừa” 5
1.1.2 Cơ sở xác lập nguyên tắc phòng ngừa 5
1.1.2.1 Thực trạng môi trường 6
1.1.2.2 Cơ sở lí luận 13
1.1.2.3 Cơ sở pháp lí 14
1.1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc phòng ngừa 16
1.1.4 Yêu cầu của nguyên tắc phòng ngừa 17
1.2 Khái quát về sự cố cháy nổ 18
1.2.1 Khái niệm sự cố cháy nổ 18
1.2.2 Điều kiện hình thành cháy 19
1.2.3 Phân loại sự cố cháy nổ 20
1.3.Sự thể hiện nguyên tắc phòng ngừa trong quy định pháp luật liên quan đến cháy nổ 21
1.3.1.Trong Luật Bảo vệ môi trường 21
1.3.2.Trong pháp luật xây dựng 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮCPHÒNG NGỪA CHÁY NỔ TRONG KHU DÂN CƯ 27
2.1 Thực trạng và những yếu tố tác động đến sự cố cháy nổ trong khu dân cư 27
2.1.1 Thực trạng và nguyên nhân của sự cố cháy nổ trong khu dân cư 27
2.1.2 Những yếu tố tác động đến tình hình cháy nổ trong khu dân cư 32
Trang 62.2 Vấn đề áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong phòng ngừa sự cố cháy nổ
tại khu dân cư 33
2.2.1 Thực trạng áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong phòng ngừa cháy nổ đối với nhà ở và chung cư 33 2.2.2 Thực trạng áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong phòng ngừa sự cố cháy nổ tại cơ sở sản xuất kinh doanh 35
2.3 Một số kiến nghị về việc áp dụng nguyên tắc phòng ngừa cháy nổ trong khu dân cư 38
2.3.1 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật 38
2.3.2 Tăng cường nguồn lực phòng ngừa sự cố môi trường các cấp 42
2.3.3 Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa công tác phòng ngừa sự cố cháy nổ 44
2.3.4 Tăng cường kinh phí cho hoạt động phòng cháy 45
2.3.5 Đưa các cơ sở sản xuất thuốc nổ ra xa khu dân cư 46
2.3.6 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, xử lí 46
2.3.7 Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về phòng cháy chữa cháy 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49
KẾT LUẬN 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những thập niên vừa qua, tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao cùng với sự gia tăng hoạt động kinh tế của con người đã gây tác hại ghê gớm đến môi trường mà biểu hiện là biến đổi khí hậu Trong hoàn cảnh ấy, nhiệt độ trái đất ngày càng tăng là một vấn đề đáng lo ngại Dự báo, đến năm 2050, nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng thêm từ 1,50C đến 4,50C Đây là mức dự báo trung bình, có thể còn
có những biến động lớn làm cho nhiệt độ tăng hơn nữa1
Dưới hoạt động của con người và sự tăng lên của nhiệt độ, trong những năm gần đây, tình hình cháy nổ trở nên phức tạp Theo thống kê, năm 2012, toàn quốc xảy ra 1.751 vụ cháy tại cơ sở, nhà dân, phương tiện giao thông và con số này là 2.600 vụ vào năm 2013, tăng 10% Cháy nổ đã gây thiệt hại lớn về tính mạng, tài sản và môi trường, diễn ra ngày càng tăng về số lượng và độ nguy hiểm Tuy nhiên, công tác chữa cháy ở nước ta hầu hết chỉ là cố khống chế phạm vi đám cháy, giữ những gì còn lại chưa bị cháy chứ không thể cứu được đám cháy ngay từ lúc phát hiện Chính vì vậy, để hạn chế số vụ cháy có thể xảy ra cũng như giảm thiểu thiệt hại do cháy nổ, cần nghiêm túc thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ trong hoạt động quản lí môi trường
Một trong những biện pháp hiệu quả là tuân thủ đúng nguyên tắc phòng ngừa trong công tác phòng ngừa sự cố cháy nổ Tuy nhiên, hiện nay, việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế Một bộ phận không nhỏ người dân không ý thức đầy đủ vai trò của việc phòng ngừa, miễn cưỡng thực hiện nguyên tắc này để đối phó với cơ quan chức năng, cố ý phớt lờ việc phòng ngừa trong những hoạt động đểđạt được lợi nhuận cao nhất Có thể nói việc thực hiện công tác phòng ngừa cháy nổ hiện nay chỉ như “mất bò mới lo làm chuồng” Do đó, nguyên tắc này hầu như vẫn chỉtrên lí thuyết, cháy nổ và thiệt hại vẫn cứ tăng lên Nhận thức được điều đó, tác giả chọn đề tài “Nguyên tắc phòng ngừa trong phòng ngừa
sự cố cháy nổ” để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp
cố cháy nổ
1
Nguyễn Thị Tú Uyển (2002), Pháp luật về chống lại xu hướng khí hậu biến đổi, Khóa luận cử nhân
Luật,Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr.4
Trang 8Theo kết quảtổng hợp của tác giả, các công trình có liên quan nguyên tắc phòng ngừa hoặc liên quan đến sự cố cháy nổ bao gồm các công trình sau:
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh có khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Hiếu viết về nguyên tắc phòng ngừa - “Thực hiện nguyên tắc phòng ngừa theo pháp luật môi trường Việt Nam” vào năm 2002 Công trình đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề pháp lí của nguyên tắc phòng ngừa: Vai trò của nguyên tắc phòng ngừa; việc thực hiện nguyên tắc ấy trong thực tế ở Việt Nam và đưa ra một số biện pháp Tuy nhiên, công trình chỉ mới tiếp cận nguyên tắc này theo hướng chung theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 1993, chưa đi vào nghiên cứu nguyên tắc phòng ngừa trong từng lĩnh vực cụ thể
Cũng liên quan đến sự cần thiết của việc áp dụng nguyên tắc phòng ngừa, đề tài “Pháp luật về chống lại xu hướng biến đổi khí hậu” của Nguyễn Thị Tú Uyển năm 2003 đã cho thấy được sự biến đổi khí hậu Đặc biệt đã làm rõ hiện tượng hiệu ứng nhà kính và đưa ra hai phương hướng giải quyết cơ bản là: Cắt giảm khí nhà kính phát thải vào khí quyển và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính của trái đất Đồng thời, đề tài đưa ra được những vấn đề cơ bản của pháp luật quốc tế về biến đổi khí hậu thông qua Công ước khung về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto, trên cơ sở đó, đánh giá sự tham gia của Việt Nam trong việc chống lại biến đổi khí hậu Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập đến tình hình cháy nổ trong điều kiện nóng lên của khí hậu
Bên cạnh hai đề tài mang tính chất chung trên, mới chỉ có các khóa luận tốt nghiêp đề cập đến nguyên tắc phòng ngừa trong các lĩnh vực cháy rừng, sự cố tràn dầu: “Pháp luật Việt Nam về phòng chống cháy rừng” (2003) của Hoàng Thụy Nam Hồng, “Một số vấn đề pháp lí về phòng ngừa, khắc phục sự cố tràn dầu” (2003) của Nguyễn Bạch Đằng chứ chưa có một đề tài nào đề cập đến nguyên tắc phòng ngừa trong lĩnh vực cháy nổ
Ngoài các công trình kể trên của trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh còn có đề tài “An toàn trong phòng chống cháy nổ, nguyên nhân và cách khắc phục
sự cố cháy từ các thiết bị” (2013) do nhóm sinh viên trường Đại học công nghiệp thực phẩm Tp Hồ Chí Minh thực hiện Mặc dù mang tên như trên, nhưng đề tài chỉ điểm qua một cách ngắn gọn khái niệm thế nào là an toàn phòng chống cháy nổ, đi sâu vào phân tích hiện tượng cháy nổ từ thiết bị điện và thiết bị chịu áp lực trong chuyên ngành kĩ thuật chứ không đề cập về mặt pháp lí, không đi sâu nghiên cứu lí luận về an toàn trong cháy nổ
Ngoài ra còn có chuyên đề“Thực trạng pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường và đề xuất, kiến nghị” ( 2013) được đăng trên cổng thông tin điện tử của Viện nghiên cứu lập pháp2 Chuyên đề tập trung phân tích các vấn đề về tình hình diễn biến sự cố ở Việt Nam; kinh nghiệm một số nước về xây dựng pháp
2 Xem tại http://vnclp.gov.vn/PICMS/TaiLieu_View.aspx?TaiLieuID=2906 , truy cập ngày 30/4/2014
Trang 9luật bảo vệ môi trường và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; phân tích thực trạng phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường ở Việt Nam; thực trạng áp dụng các quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 vào lĩnh vực sự cố môi trường, từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị Mặc dù vậy, cũng giống với đề tài đầu tiên được nêu, chuyên đề chưa dành những nội dung riêng để nói về vấn đề phòng ngừa trong phòng ngừa sự cố cháy nổ
Như vậy, theo tìm hiểu của tác giả, hiện nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về mặt pháp luậtnguyên tắc phòng ngừa trong phòng ngừa sự cố cháy
nổ Hầu hết các công trình đã nêu chỉ mang tính chất liên quan Đặc biệt, các công trình mang tính pháp lí của trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh đều viết trong khoảng thời gian cách đây rất lâu (hơn 10 năm), viết theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 1993, trong khi cho đến nay, môi trường và pháp luật về môi trường đã
có nhiều thay đổi Luật bảo vệ môi trường 1993 đã được thay bằng Luật bảo vệ môi trường 2005, và tiếp tới đây là Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội thông qua, thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường 2005
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục đích: (i) Làm rõ ý nghĩa của nguyên tắc phòng ngừa trong công tác quản lí môi trường nói chung, trong công tác phòng ngừa sự cố cháy nổ nói riêng; (ii) phát hiện những bất cập trong quy định pháp luật, bất cập trong quá trình áp dụng nguyên tắc phòng ngừa để đóng góp những kiến nghị nhằm hạn chế hiện tượng cháy nổ cũng như hậu quả có thể xảy ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tiến hành tìm hiểu: (i) Thực trạng môi trường; (ii) Tình hình cháy nổ ở nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt chú ý đến sự gia tăng số lượng, tính chất nguy hiểm của những đám cháy; (iii) Quy định về nguyên tắc phòng ngừa trong các bản Hiến Pháp, trong Luật Môi trường Việt Nam, trong pháp luật PCCC và trong pháp luật xây dựng, trong đó, tập trung vào pháp luật về PCCC – cơ sở pháp lý điều chỉnh trực tiếp vấn đề cháy nổ
mà tác giả nghiên cứu; (iv) Tìm hiểu thực trạng áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong thực tiễn
Trong thời lượng và dung lượng cho phép,tác giả xin được phép chỉ tập trung nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị về cháy nổ trong phạm vi khu dân cư Cháy rừng và cháy trong khu công nghiệp không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, tuy nhiên, hai phạm vi này vẫn được sử dụng để làm sáng tỏ một số vấn đề có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác – Lê Nin và phương pháp duy vật lịch sử dựa trên
cơ sở các hiện tượng khách quan Ngoài ra còn có các phương pháp phân tích tổng
Trang 10hợp, phương pháp hệ thống, thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp loại suy Trong đó phương pháp phân tích được sử dụng xuyên suốt để phân tích các quy định của pháp luật cũng như các vấn đề liên quan đến sự cố cháy nổ
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Với tình hình cháy nổ ngày càng nhiều và nghiêm trọng như hiện nay, đề tài mang lại những giá trị sau:
Một là,đề tài là công trình lí luận đầu tiên về nguyên tắc phòng ngừa trong
lĩnh vực cháy nổ, làm nổi bật tính nghiêm trọng của sự cố cháy nổ trong điều kiện nóng lên của khí hậu, từ đó cho thấy sự cấp thiết của việc thực hiện nguyên tắc phòng ngừa
Hai là, đánh giá và chỉ ra những bất cập của quy định pháp luật và của việc
thực hiện nguyên tắc phòng ngừa trong công tác phòng ngừa sự cố cháy nổ
Ba là, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện góp phần hạn chế cháy nổ và thiệt
hại xảy ra
Bốn là, là nguồn tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu và ứng dụng
trong phòng ngừa sự cố môi trường nói chung, phòng ngừa sự cố cháy nổ nói riêng
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được chia thành hai chương:
Chương 1: Lí luận chung về nguyên tắc phòng ngừa và sự cố cháy nổ
Chương 2: Thực trạng và kiến nghị về việc áp dụng nguyên tắc phòng ngừa cháy nổ trong khu dân cư
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC PHÒNG NGỪA
VÀ SỰ CỐ CHÁY NỔ 1.1 Khái quát về nguyên tắc phòng ngừa
1.1.1 Khái niệm “phòng ngừa” và “nguyên tắc phòng ngừa”
Thứ nhất, khái niệm “phòng ngừa” Trong đời sống, “phòng ngừa” đượchiểu
là thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn không cho điều xấu xảy ra Trong lĩnh vực pháp luật, các văn bản Luật Bảo vệ môi trường, Luật xây dựng…có sử dụng cụm từ “phòng ngừa” cũng như đề ra nguyên tắc phòng ngừa trong công tác quản lí nhưng chưa có một quy định nào ghi nhận khái niệm này.Theo từ điển tiếng Việt3thì: “Phòng là tìm cách ngăn ngừa, đối phó với điều không hay có thể xảy ra, gây tai hại cho mình”; “Phòng ngừa là phòng không cho điều bất lợi, tai hại xảy ra” Dựa vào định nghĩa này, có thể hiểu “phòng ngừa” trong lĩnh vực môi trường là tiến hành các hoạt động dự báo rủi ro, các biện pháptriệt tiêu hoặc hạn chế những tác động xấu có thể xảy ra với môi trường
Thứ hai, khái niệm “nguyên tắc phòng ngừa”.Môi trường có quan hệ mật
thiết với đời sống con người, mỗi hành vi tiêu cực con người gây ra cho môi trường thì môi trường phải gánh chịu mà không thể “từ chối” Mặt khác, môi trường khi đã
bị xâm hạithì rất khó khôi phục lại hiện trạng ban đầu Do đó, trong công tác quản lí môi trường, với chủ trương phòng ngừa là chính, nhà nước đã đề ra nguyên tắc phòng ngừa là nguyên tắc cơ bản cho mọi hoạt động.Điều đó có nghĩa, khi con người tiến hành bất cứ việc gì liên quan đến môi trường, trước hết, phải có những biện pháp, phương án để tránh và hạn chế những tác độngxấu có thể xảy ra với môi trường
Nguyên tắc phòng ngừakhông những định hướng cho các hành động tác động đến môi trường mà còn hướng việc ban hành và áp dụng các quy định pháp luật vào sự ngăn chặn các chủ thể thực hiện hành vi gây nguy hại cho môi trường.Do đó, không chỉ riêng trong Luật môi trường mà trong nhiều văn bản luật khác, nếu có điều chỉnh hoạt động liên quan đến môi trường thì đều phải ghi nhận vấn đề phòng ngừa thiệt hại cho môi trường Tóm lại, “nguyên tắc phòng ngừa” trong lĩnh vực môi trường là nguyên tắc định hướng cho mọi hoạt động liên quan đến môi trường với nội dung ưu tiênngăn ngừa những thiệt hại có khả năng xảy ra với môi trường, có ý nghĩa, yêu cầu và cơ sở xác lập cụ thể và riêng biệt
1.1.2 Cơ sở xác lập nguyên tắc phòng ngừa
Như trên đã trình bày, nguyên tắc phòng ngừa là nguyên tắc cơ bản trong công tác quản lí môi trường Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên thực trạng môi trường, cơ sở lí luận và cơ sở pháp lí riêng
3
Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đỗ Việt Hùng, Phan Xuân Thành, Từ điển tiếng Việtcăn bản, Nhà xuất bản giáo
dục, tr 570
Trang 121.1.2.1 Thực trạng môi trường
a) Thực trạng môi trường thế giới
“Sự phát triển của xã hội hiện đại với những thành tựu to lớn về phương diện văn minh vật chất từ nửa sau thế kỉ XX đã tạo nên áp lực nặng nề của con người đối với môi trường tự nhiên, làm cho giới tự nhiên mất đi khả năng tự phục hồi Sự suy thoái môi trường đã tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng sinh thái toàn cầu Mặc dù đã được nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế, đặc biệt là giới khoa học liên tục tổ chức các hoạt động cụ thể để bảo vệ môi sinh và đã thu được một số kết quả Tuy nhiên những cố gắng đó chưa đủ để chặn đứng nguy cơ khủng hoảng sinh thái và bức tranh môi trường thế giới vẫn đang còn là bức tranh không mấy sáng sủa”.4Đây
là nhận định của PGS.TS Hồ Sĩ Quý về thực trạng tồi tệ của môi sinh toàn cầu Môi sinh ấy thể hiện ở những yếu tố sau:
Thứ nhất, nhiệt độ trái đất ngày càng tăng cao với tốc độ chưa từng có, đây là
vấn đề lớnmà hiện nay chúng ta đang đối mặt Trong báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) lần thứ 5 (ngày 27/9/2013) kết luận rằng: Trong tương lai gần, nhiệt độ sẽ tăng lên từ 0.3oC – 0.7oC và sẽ tăng 4oC trong cuối thế kỉ 215.Ấm lên toàn cầu có những tác động sâu sắc đến môi trường và xã hội Đó
là sự gia tăng mực nước biển, gia tăng cường độ các cơn bão, các hiện tượng thời tiết cực đoan và đặc biệt là nguy cơ cháy nổ tăng cao
Một là, sự gia tăng mực nước biển Các nhà khoa học cảnh báo hiện tượng
băng tan tại Bắc Cực có thể khiến mực nước biển toàn cầu dâng thêm 1,6 mét trong thế kỉ này, đe dọa nhiều vùng châu thổ và thành phố ven biển Chưa hết, báo cáo mới nhất của AMAP (dự án theo dõi và đánh giá Bắc Cực) nhận định: Nhiệt độ Bắc Cực đang tăng nhanh gấp đôi so với mức trung bình toàn cầu và 6 năm qua là giai đoạn nóng nhất mà con người từng ghi nhận tại Bắc Cực Chỉ trong vòng ba hoặc bốn thập niên nữa, Bắc Băng Dương có thể trở thành đại dương không có băng vào mùa hè6
Hai là,sự gia tăng cường độ các cơn bão Ví dụ, ở Biển Đông, thông thường
chỉ có khoảng 10 – 11 cơn bão hoạt động/năm nhưng tính đến tháng 11 năm 2013 thì đã có đến 14 cơn bão và 5 cơn áp thấp nhiệt đới hoạt động, vượt mức kỉ lục trước đó là vào năm 1964 với 16 cơn bão và áp thấp nhiệt đới7 Ở khu vực biển Tây
Xaluan(2011), “Sự ấm lên ở Bắc Cực sẽ tác động đến Việt Nam”,
http://www.canhsatmoitruong.gov.vn/default.aspx?tabid=439&ID=6621&CateID=506 truy cập ngày
1/5/2014
7
Lưu Thủy (2013), “Năm 2013 đã lập kỉ lục về bão và áp thấp nhiệt đới”, VN/News/tintucsukien/2013/11/32300.aspx truy cập ngày 2/5/2014
Trang 13http://thanhtravietnam.vn/vi-Bắc Thái Bình Dương, cũng vào thời điểm trên, số liệu thống kê cho thấy số cơn bão và áp thấp nhiệt đới kỉ lục là 31 cơn so với thông thường là 28 cơn8
Ba là, các hiện tượng thời tiết cực đoan cũng diễn ra bất ngờ và phức tạp,
gây ra thiệt hại nặng nề cho con người: Lũ lụt hoành hành ở Austraylia (10/1/2011) làm 72 người mất tích; lở bùn ở Brazil (17/1/2011) thiệt hại 479 người mất tích; động đất ở New ZeaLand (22/2/2011) làm 65 người chết; động đất sóng thần ở Nhật Bản (11/3/2011), chỉ riêng một tỉnh đã thiệt hại hơn 10.000 người; lốc xoáy ở Mỹ (9/4/2011); mưa đá ở Trung Quốc (18/4/2011) làm 12 người chết và 27 người bị thương…9
Bốn là,tình hình cháy nổ ngày càng tăng Biến đổi khí hậu khiến con người
phải trải qua những đợt mưa ít hơn, mùa đông ngắn và mùa hè kéo dài hơn, nhiệt độ tăng cao Do đó, thời gian nắng nóng nhiều hơn và mọi vật đều trở nên khô hơn, dẫn đến rất dễ cháy khi bắt gặp tia chớp hay hoạt động phát sinh nhiệt của con người Trong những năm qua, khắp nơi trên thế giới, dù nước nghèo hay giàu, phương Đông hay phương Tây đều có sự gia tăng những vụ cháy nổ, đặc biệt là cháy rừng.Trong thời gian tới, nhiệt độ tiếp tục tăng cao, tác giả dự đoán tình hình cháy nổ sẽ diễn ra ngày càng căng thẳng hơn
Thứ hai, cùng với hiện tượng trái đất đang nóng lên dần là sự suy giảm của
tầng ôzôn Sốliệu của Tổ chức Khí tượng thế giới của Liên Hợp Quốc (WMO) cho biết: Trong khoảng thời gian từ đầu mùa đông đến cuối tháng 3 năm 2011, độ dày của tầng ôzôn ở Bắc Cực đã giảm khoảng 40% trong khi mức giảm cao nhất được ghi nhận trước đây là 30%10 Mặc dù nghị định thư Montreal về các chất gây hại đối với tầng ôzôn đã giúp cắt giảm việc sản xuất và tiêu dùng các hóa chất phá hủy tầng ôzôn, nhưng sức suy giảm của tầng ôzôn ở Bắc Cực vẫn tăng kỷ lục Tầng ôzôn bị suy giảm là nguyên nhân sâu xa làm cho nhiệt độ trái đất nóng lên, dẫn đến tăng nguy cơ cháy nổ Bởi khi tầng ôzôn bị suy giảm sẽ gia tăng tia cực tím – nhân tố làm tăng hiệu ứng nhà kính, từ đó dẫn đến nhiệt độ cũng tăng theo
Thứ ba, nguồn tài nguyên thế giới đang cạn kiệt Quỹ quốc tế bảo vệ thiên
nhiên hoang dã thế giới (WWF) nhận định: Nhân loại đang sử dụng vượt quá 50% nguồn tài nguyên thiên nhiên mà trái đất có thể cung cấp Với nhịp độ sử dụng nguồn tài nguyên như hiện nay, nhân loại phải cần một trái đất nữa mới có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai cho nông nghiệp, rừng và chăn nuôi11
Tài nguyên sinh học
8 Hạ Quỳnh (2013), “ Năm 2013: Kỷ lục về số cơn bão hoạt động trên Biển Đông”,
http://www.anninhthudo.vn/Thoi-su/Nam-2013-Ky-luc-ve-so-con-bao-hoat-dong-tren-bien-Dong/523059.antd truy cập ngày 2/5/2014
9 http://www.canhsatmoitruong.gov.vn/default.aspx?tabid=439&ID=6592&CateID=506 truy cập ngày
2/5/2014
10 http://vea.gov.vn/vn/hoptacquocte/cacduan/Pages/T%E1%BA%A7ngozonB%E1%BA%AFcc%E1%BB% B1c%C4%91angsuygi%E1%BA%A3mv%E1%BB%9Bit%E1%BB%91c%C4%91%E1%BB%99k%E1%B B%B7l%E1%BB%A5c.aspx truy cập ngày 2/5/2014
11
http://www.canhsatmoitruong.gov.vn/default.aspx?tabid=439&ID=8552&CateID=506 truy cập ngày 2/5/2014
Trang 14cũngđang bị đe dọa Từ năm 1970 đến năm 2008, 28% đa dạng sinh học của trái đất
đã biến mất Đa dạng sinh học ở các khu vực nhiệt đới đã giảm tới 61% và ở các khu vực ôn đới giảm 31%12 Sự săn lùng triệt để các động vật cùng với môi trường sống ngày càng khắc nghiệt, nhiều loài trên Trái Đất đã đi đến chỗ diệt vong một cách nhanh chóng
Thứ tư, ô nhiễm nguồn nước đang là vấn đề cấp thiết hiện nay của thế giới
Hàng năm, nhu cầu về nước sạch lại tăng từ 3% đến 5 % Hiện có một phần sáu dân
số thế giới không được tiếp cận nguồn nước sạch và 30% không được tiếp cận các điều kiện vệ sinh cơ bản Thiếu nước sạch và thiếu vệ sinh là nguyên nhân gây tử vong cho 1,6 triệu trẻ em mỗi năm13
Viện nước quốc tế Xtốc-khôm (SIWI) kết luận: Trung bình mỗi ngày có khoảng hai triệu chất thải sinh hoạt thải ra sông, hồ, biển Nghiêm trọng nhất là tại các nước đang phát triển, có đến 70% lượng chất thải công nghiệp chưa qua xử lí bị
đổ trực tiếp vào môi trường khiến cho nguồn nước sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng14.Tại một số nước, có tới một nửa số bệnh nhân phải vào điều trị tại bệnh viện là do không tiếp cận được những điều kiện vệ sinh phù hợp vì thiếu nước và các bệnh liên quan đến nước Đại diện nhiều nước Châu Phi đã báo động thảm cảnh khan hiếm nước tại lục địa này.FAO15 cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần hai tỷ người phải sống trong tình trạng thiếu nước
b) Thực trạng môi trường Việt Nam
Việt Nam được xem là một quốc gia có “rừng vàng, biển bạc” nhưng điều đó chỉ còn là quá khứ Môi trường ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên, các giống loài bị hủy hoại, sức khỏe và đời sống con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng là cái giá phải trả cho quá trình tự do hóa thương mại, chỉ tập trung ưu tiên phát triển kinh tế, chưa chú trọng gắn liền phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường đúng mức Bức tranh của môi trường Việt Nam được thể hiện rõ nét ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, khí hậu.Trong những năm qua, khí hậu nước ta có nhiều biến
động, đặc biệt là hiện tượng nắng nóng tăng mạnh và thời tiết trở nên thất thường
Trước hết là hiện tượng nắng nóng gia tăng Trong vòng 50 năm nhiệt độ tăng khoảng 0,5oC, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Hiện tượng El Nino, La Nina ảnh hưởng mạnh đến nước ta trong vài thập kỉ gần đây, gây ra nhiều đợt nắng nóng kéo dài có tính kỉ lục Dự đoán vào cuối thế kỉ XXI, nhiệt độ trung bình nước
15
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc.
Trang 15ta tăng khoảng 30o
C và sẽ tăng số đợt và số ngày nắng nóng trong năm16 Trong điều kiện khí hậu đó, tình hình cháy nổ ngày càng trở nên căng thẳng với tính chất nghiêm trọng và phạm vi diễn ra trên diện rộng
Tiếp đến là sự thất thường của thời tiết Thiên tai, bão lũ, hạn hán ngày càng khốc liệt Năm 2008, một đợt rét đậm rét hại kéo dài chưa từng có trong lịch sử đã diễn ra tại các tỉnh miền núi Tây Bắc làm chết gần 50.000 con gia súc các loại, hoạt động sản xuất nông nghiệp bị đình trệ Chưa hết đến cuối tháng 10 đầu tháng 11, một trận lớn kỷ lục trút xuống thủ đô Hà Nội và các vùng lân cận làm tất cả chìm ngập trong biển nước với 20 người chết và thiệt hại sơ bộ 3.000 tỷ đồng Năm 2011, trận lũ tại Đồng bằng Sông Cửu Long đang theo nhịp điệu của mùa lũ đẹp thì đột ngột lên nhanh với cường suất lớn làm người dân không kịp ứng phó Tính đến ngày 13/10/2011, lũ đã làm 43 người chết, 69.560 ngôi nhà bị ngập nước,1.435 nhà
bị tốc mái, hư hại, 148 nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 18.565ha lúa bị ngập úng trong đó thiệt hại hoàn toàn là 7.352ha; hoa màu thiệt hại 3.697ha và cây ăn quả là 11.877ha17 Cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 2012, tại Nam Trung Bộ và Nam Bộ xuất hiện cơn bão số 1 chưa từng có trong lịch sử Cơn bão thất thường ở chỗ: Hằng năm, bão tháng 3, tháng 4 thường chỉ tác động ở miền Bắc nước ta, các tháng cuối mùa bão (tháng 11,12) mới có nhiều bão ảnh hưởng tới khu vực Nam Bộ, nhưng bão số 1 ngay từ đầu mùa đã ảnh hưởng đến khu vực này Trên 100 năm chưa xảy
ra cơn bão nào về mùa khô và gây thiệt hại lớn như vậy ở miền Nam Cơn bão đã gây thiệt hại ở 7 tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh18
Thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, trong 10 năm trở lại đây, thiên tai làm chết và mất tích khoảng 9.500 người, thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP mỗi năm19
Thứ hai, ô nhiễm không khí.Theo kết quả nghiên cứu vừa công bố tại diễn
đàn kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe con người Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong tổng số 132 quốc gia khảo sát20 Hầu hết các đô thị ở nước ta đều bị ô nhiễm, nhiều nơi ô nhiễm trầm trọng đến
18 http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/bao-so-1-gay-thiet-hai-o-7-tinh thanh-20120401113154404.htm , truy cập ngày 14/6/2014
19 Tiến sĩ Hồ Ngọc Sơn (2013) “Biến đổi khí hậu: Thách thức với Việt Nam rất
lớn” http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/155541/bien-doi-khi-hau -thach-thuc-voi-vn-rat-lon-.html ,truy cập ngày 3/5/2014
20
Trang Nguyên (2012), “Không khí Việt Nam bẩn thứ 10 thế giới”, hoc/moi-truong/khong-khi-o-viet-nam-ban-thu-10-the-gioi-2217381.html truy cập ngày 3/5/2014
Trang 16http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-mức báo động Các khu dân cư ở gần các đường giao thông và gần các nhà máy xí
nghiệp cũng bị ô nhiễm lớn
Hiện nay, nguồn phát thải ô nhiễm không khí chưa được kiểm soát chặt chẽ cộng với sự gia tăng ồ ạt các phương tiện và sự ra đời ngày một nhiều của các cơ sở sản xuất công nghiệp đã dẫn đến tình trạng số lượng nguồn thải tăng lên không ngừng Theo nghiên cứu, về chất lượng, hầu hết các nguồn thải không được kiểm soát để đạt được tiêu chuẩn phát thải: 100% xe máy chưa được kiểm soát; chỉ có khoảng 15% các cơ sở sản xuất công nghiệp có phát thải có lắp đặt hệ thống xử lý khí thải21 Các hiện tượng thời tiết dị thường xuất hiện ngày càng nhiều; tỷ lệ che phủ rừng và diện tích cây xanh đô thị đóng vai trò điều hòa khí hậu không tỉ lệ thuận với tốc độ đô thị hóa cũng là những nhân tố tác động xấu tới môi trường không khí
Không khí bị ô nhiễm nặng cũng là nguyên nhân sâu xa làm tình hình cháy
nổ trở nên căng thẳng hơn Vì khói bụi, khí thả đưa ra môi trường không được kiểm soát sẽ thúc đẩy hiện tượng hiệu ứng nhà kính, từ đó làm cho nhiệt độ tăng lên dẫn đến tăng nguy cơ cháy nổ
Thứ ba, ô nhiễm nước Việt Nam là quốc gia có hệ thống kênh rạch chằng
chịt, nguồn nước tự nhiên khá dồi dào nhưng mức khai thác của con người đã làm cho cả trữ lượng lẫn chất lượng nước bị giảm sút Những con sông lớn tại các thành phố công nghiệp như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh bị ô nhiễm rất nặng nề, các sông ở
nhiều vùng nông thôn cũng bắt đầu có sự ô nhiễm nặng
Rác thải từ sinh hoạt, từ các làng nghề, từ các khu công nghiệp và rác thải nông nghiệp đang từng ngày từng giờ đổ ra môi trường Theo báo cáo giám sát của
Uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc Hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 – 20%, như Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưnghầu như không vận hành Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30 tấn chất thải rắn, lỏng, khí
và chất thải độc hại khác22
Môi trường biển cũng không khả quan hơn Du lịch tràn lan, nuôi trồng thủy sản bất hợp pháp và bất hợp lí; rác thải, nước thải cùng với những sự cố tràn dầu trên biển đã làm cho nguồn nước biển có dấu hiệu bị ô nhiễm và suy thoái
Thứ tư, rừng.Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn
giữ chức năng sinh thái cực kì quan trọng Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ
21 http://www.vawr.org.vn/index.aspx?aac=CLICK&aid=ARTICLE_DETAIL&ari=1300&lang=1&menu=tin -trong-nuoc&mid=177&parentmid=131&pid=9&storeid=0&title=o-nhiem-khong-khi -sat-thu-tham-
lang truy cập ngày 3/5/2014
22
http://moitruong.xaydung.gov.vn/moitruong/module/news/viewcontent.asp?ID=1457&langid=1 truy cập ngày 3/5/2014
Trang 17tuyến với hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi nên phần lớn diện tích có rừng che phủ, nhưng chỉ khoảng một thế kỷ qua, rừng đã bị suy thoái nặng nề Từ thời kỳ Pháp thuộc đến khoảng giữa thế kỷ XX, nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Nam đã bị khai phá để trồng cây công nghiệp, trồng trọt, xây dựng xóm làng, mật độ che phủ lúc này là 43% diện tích đất tự nhiên Từ năm 1990 đến nay, chiều hướng biến động rừng cơ bản vẫn ở tình trạng suy thoái, còn xa mức ổn định và mức cần thiết để bảo vệ môi trường.Hiện nay, tuy diện tích rừng có tăng hằng năm nhưng với số lượng rất khiêm
tốn, trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh
Vấn đề đáng quan tâm về thực trạng rừng ở nước ta là tình trạng cháy rừng Trong 42 năm (từ năm 1963 – tháng 6/2005), toàn quốc xảy ra cháy rừng khoảng 49.600 vụ, làm thiệt hại 646.900ha rừng23 Những năm gần đây, do nắng nóng gay gắt kéo dài, tình trạng cháy rừng diễn ra mạnh mẽ hơn Cụ thể năm 2011, cháy rừng
đã thiêu rụi 1.743,64ha, đến năm 2012, diện tích rừng bị cháy tăng lên tới gần 2.100ha24 Và hiện nay, cả nước có trên 50% diện tích rừng có nguy cơ cháy nổ cao25 Cháy rừng không chỉ thiệt hại về tài sản mà còn thải ra môi trường một lượng khói bụi lớn, đồng thời đánh mất vai trò hạn chế tăng nhiệt, lọc sạch không khí của rừng Đây đều là những nguyên nhân làm cho nhiệt độ nóng dần lên
Trên đây là bức tranh thực trạng về môi trường và cũng là biểu hiện của sự biến đổi khí hậu Chắc hẳn ai cũng nhận ra, biến đổi khí hậu một phần là hệ quả do con người tạo ra và chính nó tác động ngược lại cuộc sống của con người: “Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỉ 21 Biến đổi khí hậu đang tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới, làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và
an ninh toàn cầu về lương thực, nước, năng lượng; các vấn đề về an toàn xã hội, văn hóa, ngoại giao và thương mại26” Chính vì lẽ đó, trong nhận thức và hành động, con người cần đề cao và nghiêm túc thực hiện nguyên tắc phòng ngừa để tránh những tác động xấu có thể xảy ra đối với môi trường
Tác giả nhận thấy thực trạng môi trường là cơ sở xác lập nguyên tắc phòng ngừa bởi các vấn đề về môi trường đã xuất hiện từ rất sớm, tuy nhiên,sự nhận thứccủa con người và các cơ sởpháp lý về nguyên tắc phòng ngừanói riêng, về công tác bảo vệ môi trường nói chungchỉ được hình thành khi môi trường bị xâm hại và
23
Tạp chí lao động xã hội (2012), Báo cáo chống cháy rừng ở Việt Nam: giải pháp và triển vọng,
http://tcldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/6/id/4072/language/vi-VN/Default.aspx , truy cập ngày 14/7/2014
24 Phương Anh_theo BTN&MT (2013), Năm 2012, diện tích rừng bị thiệt hại là 3.225 ha,
Trang 18có những thực trạng đáng lo ngại Điều này được thể hiện qua quá trình phát triển pháp luật môi trường thế giới và Việt Nam Cụ thể:
Trên thế giới, trước thế kỉ XX, tình hình môi trường chưa cấp thiết, các hiệp định song phương và đa phương về môi trường chưa được kí kết nhiều Nửa sau thế
kỷ XX, hàng loạt các sự kiện mang tính cấp thiết về môi trường đã xảy ra: Đêm 30 ngày 31/10/1948, tại Donora (Mỹ), 20 người chết và hơn 600 người phải nhập viện sau khi lượng khí SO2 dưới dạng sương mù, chất độc sulfuric được thải ra; ngày 28/1/1969, ở Santa Barbara (Mỹ),200.000 lít dầu tràn vào đại dương từ một vụ nổ khiến nước này phải tiến hành những cải cách ngành công nghiệp nặng; đặc biệt 22/4/1970, trên khắp nước Mỹ diễn ra một cuộc biểu tình toàn quốc khoảng 20 triệu người tham gia chống lại sự thiếu hiểu biết về môi trường….Song song với các sự
cố môi trường, các tổ chức quốc tế về môi trường cũng được hình thành như tổ chức Bảo tồn thiên nhiên (năm 1951), câu lạc bộ Rôm hỗ trợ nghiên cứu “Những vấn đề của thế giới” (1968).Trên cơ sở những sự kiện này, năm 1972, Hội nghị Stockholm
về môi trường và con người đã diễn ra, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của chính sách môi trường quốc tế.Hội nghị đã thừa nhận sự xuống cấp của môi trường toàn cầu và nhận thấy cần phải có ngay biện pháp bảo vệ và cải thiện, do đó, đã đưa ra
26 nguyên tắc quan trọng để bảo vệ môi trường, trong đó có nguyên tắc phòng
ngừa: “Việc thải chất độc hoặc các chất khác và phát tán nhiệt với số lượng, nồng
độ vượt quá khả năng đồng hóa của môi trường phải được dừng lại để đảm bảo không gây thiệt hại các hệ sinh thái” (Nguyên tắc 6) Đây được xem là văn bản
pháp lí đầu tiên ghi nhận nguyên tắc phòng ngừa27
Ở Việt Nam, trước năm 1986, những nhiệm vụ về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng quyết định sự sống còn của đất nước Với bối cảnh xã hội đó, mặc dù nhà nước đã có ý tưởng về bảo vệ môi trường, song việc bảo vệ môi trường còn quá
mờ nhạt Vì vậy, Hiến pháp 1980 tuy đã bắt đầu ghi nhận vấn đề bảo vệ môi trường nhưng nguyên tắc phòng ngừa vẫn chưa được đề ra
Sau năm 1986, nước ta xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp và chuyển sang kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì chạy theo kinh tế nên các nguồn tài nguyên của đất nước bị khai thác bừa bãi Quá trình đô thị hóa cộng với số lượng máy móc thiết bị, ô tô, xe máy tăng lên cũng làm tăng sức ép với môi trường…Tất
cả những nguyên nhân trên đã làm cho vấn đề bảo vệ môi trường trở thành thách thức lớn Do đó, từ bản Hiến pháp 1992 trở đi, nội dung bảo vệ môi trường tiếp tục được khẳng định trong đóghi nhận thêm nguyên tắc phòng ngừa
Những phân tích trên cho thấy chỉ khi môi trường bị xâm hại, thực trạng môi trường trở nên xấu đi,tác động đến nhận thức của con người thì nguyên tắc phòng
27 Nguyễn Thị Ngọc Hiếu (2002), Thực hiện nguyên tắc phòng ngừa theo pháp luật môi trường Việt Nam, Khóa luận cử nhân Luật, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr.8
Trang 19ngừa mới hình thành Do đó, tác giả cho rằng, thực trạng môi trường chính là một
cơ sở xác lập nguyên tắc phòng ngừa bên cạnh cơ sở lí luận và cơ sở pháp lí dưới đây
1.1.2.2 Cơ sở lí luận
Nguyên tắc phòng ngừa được hình thành trên hai cơ sở lí luận sau đây:
Thứ nhất, khả năng phục hồi môi trường về trạng thái ban đầu là điều rất khó và có nhiều trường hợp là không thể.Một là, các vấn đề môi trường hoàn toàn
khác so với các vấn đề xã hội khác, thiệt hại mà các sự cố gây ra mất đi mãi mãi.Chẳng hạn, các sự cố về cháy rừng ở nước ta gây ra nhiều tổn thất, độ che phủ rừng giảm nghiêm trọng Nếu tiến hành trồng rừng, có thể độ che phủ lại tăng lên nhưng chất lượng rừng khó có thể đạt được như ban đầu Hay các vụ tràn dầu, khi dầu đã tràn ra môi trường thì việc thu hồi lại đủ số dầu và trả môi trường về trạng thái cũ là điều không thể Chẳng hạn, vụ tràn dầu tại Quy Nhơn vào ngày 7/7/201328, dù lượng dầu tràn vào cát biển được hốt hết đi nhưng vẫn còn lại một lượng ngấm vào đất Mặc khác, dầu dính vào lưới nuôi trồng của người dân không thể rửa trôi và dần dần theo thời gian số dầu ấy lại tiếp tục lan trong nước gây ô nhiễm môi trường nước lâu dài
Hai là, phương tiện, lực lượng để ứng phó, khắc phục sự cố môi trường hiện
nay chỉ mang tính thủ công, tốn nhiều công sức của con người Sự tham gia của công nghệ, máy móc thiết bị, các biện pháp mang tính ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế và không được quan tâm đúng mức Chính vì vậy, công tác ứng phó, khắc phục sự cố không đạt hiệu quả mặc dù trong nhiều trường hợp sự cố được phát hiện sớm
Ba là,trong nhiều trường hợp, công tác ứng phó, khắc phục gặp những khó
khăn về điều kiện tự nhiên Chẳng hạn, qua tìm hiểu các vụ cháy rừng, tác giả nhận thấy khó khăn lớn nhất trong công tác PCCC rừng là hầu hết diện tích rừng dễ cháy đều nằm ở những vị trí núi cao, đèo dốc, địa hình rất phức tạp Khi có cháy rừng xảy ra, việc huy động người, xe cơ giới tham gia chữa cháy rất khó khăn Do đó, việc chữa cháy chủ yếu bằng phương pháp thủ công, hiệu quả không cao
Đối với sự cố tràn dầu, thực tế cho thấy, sự cố hay xảy ra bất ngờ, thường vào lúc thời tiết không thuận lợi như giữa đêm, biển động, gió to…khả năng điều động thiết bị rất hạn chế Mặt khác, có những trường hợp môi trường ô nhiễm nặng, nguy cơ cháy nổ cao gây nguy hiểm đến tính mạng29 Như vậy, so với việc phòng ngừa thì việc khắc phục hậu quả nguy hiểm và khó khăn hơn rất nhiều
Thứ hai, chi phí phòng ngừa bao giờ cũng thấp hơn chi phí khắc phục và thiệt hại Thật vậy, thực hiện biện pháp phòng ngừa là dùng đến kinh tế để đầu tư
28 Xem thêm http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=6&macmp=6&mabb=6538 , truy cập 14/7/2014
29
Thanh Loan (2013), Chuyện nghề ứng phó sự cố tràn dầu,
http://petrotimes.vn/news/vn/kh-kt-dau-khi/chuyen-nghe-ung-pho-su-co-tran-dau.html truy cập ngày 4/5/2014
Trang 20những hệ thống thiết bị phục vụ công tác phòng ngừa, nhưng cũng có thể đơn giản chỉ là sự cảnh giác, sự thận trọng, loại bỏ những tác nhân có khả năng dẫn đến sự
cố, sự dự liệu kế hoạch ứng phó mà không cần phải tốn nhiều tiền Và khi đã đầu tư thì hệ thống phòng ngừa không chỉ sử dụng một lần cho một sự cố mà còn mang tính đầu tư lâu dài Còn thiệt hại và chi phí khắc phục sự cố chắc chắn sẽ nhiều hơn chi phí phòng ngừa vì hầu như các sự cố môi trường thường gây thiệt hại trên một diện rộng, liên tục
Ví dụ, cơ sở dệt Thiên Thuận (TP.Hồ Chí Minh) đầu tư cho công nghệ sản xuất sạch là 1,4 tỷ đồng đã tạo ra một khoảng tiết kiệm hàng năm là 1 tỷ đồng, đồng thời giảm được 70% khí thải, 30% tải lượng thải hữu cơ và 34% lượng nước thải30 Ngược lại, vụ tràn dầu tại Quy Nhơn, Bình Định, hơn 700 lồng nuôi trồng thủy sản
bị thiệt hại với số tiền lên đến 2 tỷ đồng, còn thiệt hại về môi trường thì chưa ai có thể thống kê hết được, chỉ thể hiện ban đầu: Có hơn 100 tấn cát biển nhiễm dầu đã được thu gom suốt từ ngày 8/7 đến 12/7, mặt nước biển bị ảnh hưởng lên đến 4ha Khi phân tích chỉ tiêu khoáng dầu mỡ khu vực nuôi trồng thủy sản vùng bị ô nhiễm, dao động 0,05 mg/l – 0,08 mg/l, không đảm bảo nuôi trồng thủy sản31
Từ những phân tích trên,nhận thấy cách đơn giản và hiệu quảlàm giảm thiệt hại và hạn chế sự cố môi trường xảy ra chính là thực hiện nguyên tắc phòng ngừa
Dù hoạt động ứng phó, cứu chữa được thực hiện tốt nhưng khi đó sự cố đã xảy ra, ít nhiều cũng đã có thiệt hại và tốn nhiều công sức Phòng ngừa là luôn cảnh giác với
sự cố, có thể triệt tiêu sự cố hoặc chủ động, linh hoạt khi sự cố xảy ra, từ đó hiệu quả ứng phó sẽ cao hơn “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” là bài học không chỉ đúng trong lĩnh vực y tế mà còn mang đầy đủ ý nghĩa trong hoạt động quản lí môi trường
Ngoài thực trạng môi trường và cơ sở lí luận vừa trình bày, nguyên tắc phòng ngừa còn được xây dựng trên những cơ sở pháp lí riêng
1.1.2.3 Cơ sở pháp lí
Xuất phát từ tầm quan trọng của nguyên tắc phòng ngừa, nhiều Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam đã ghi nhận nguyên tắc này là nguyên tắc thiết yếu trong công tác quản lí môi trường
Thứ nhất, các Điều ước quốc tế Năm 1985, Công ước về thông báo sớm sự
cố hạt nhân, IAEA,ghi nhận nguyên tắc phòng ngừa với nội dung: “Lưu ý rằng các biện pháp toàn diện đã và đang được tiến hành nhằm bảo đảm cao độ tính an toàn trong các hoạt động hạt nhân nhằm phòng ngừa các tai nạn hạt nhân và giảm đến mức độ tối thiểu hậu quả của mọi tai nạn hạt nhân nếu nó xảy ra32” Việt Nam đã
tham gia vào công ước này vào ngày 30/10/1987
30Nguyễn Thị Ngọc Hiếu (2002) Thực hiện nguyên tắc phòng ngừa theo pháp luật môi trường Việt Nam,
Khóa luận cử nhân Luật, Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tr.8
31 Tấn Quýnh(2013), Bài học từ vụ tràn dầu biển Quy Nhơn, tran-dau-bien-Quy-Nhon/76171.vtv truy cập ngày 4/5
http://vtv.vn/Thoi-su-trong-nuoc/Bai-hoc-tu-vu-32 Phần Mở đầu, Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân 1985
Trang 21Tiếp đến năm 1992, Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc
(UNFCCC)đãquy định nguyên tắc phòng ngừa thành một nguyên tắc riêng của công
ước: “Các bên phải thực hiện biện pháp phòng ngừa để đoán trước, ngăn ngừa
hoặc làm giảm những nguyên nhân của biến đổi khí hậu và làm giảm nhẹ những ảnh hưởng có hại của nó, ở những nơi có các mối đe dọa bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc không thể đảo ngược… 33 ” Việt Nam tham gia công ước này vào ngày
16/11/1994
Năm 2001, nguyên tắc này lại được tiếp tục khẳng định tại Công ước
Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) trong phần mở đầu:
“Nhận định công tác phòng ngừa là tinh thần của công ước này cũng như là nền tảng quan tâm của tấc cả các bên tham gia 34 ” Việt Nam tham gia công ước vào
ngày 10/8/2006
Thứ hai, pháp luật Việt Nam Vấn đề bảo vệ môi trường bắt đầu được quy
định tại Hiến pháp 1980 (Điều 36): “Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã,
đơn vị vũ trang nhân dân, và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo
vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cải tạo môi trường” Đây là cơ sở pháp lý định hướng cho qua trình phát triển Luật bảo vệ môi
trường Tuy nhiên, Hiến pháp 1980 vẫn chưa đặt ra vấn đề phòng ngừa trong công tác bảo vệ môi trường35
Nguyên tắc phòng ngừa trong công tác quản lí môi trường được chính thức
ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 29, Hiến pháp 1992: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ
trang,tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành động suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường” Tuy nhiên, cơ sở pháp
lí này vẫn chưa thể hiện rõ ràng nguyên tắc phòng ngừa
Đến năm 2013, nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp 2013:
“Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lí, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu 36 ”
Cụ thể tinh thần của Hiến pháp, phòng ngừa được quy định thành nguyên tắc
cơ bản trong Luật chuyên ngành, Khoản 6 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường2014 quy
định: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính
kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường” Nội
dung chi tiết của nguyên tắc được cụ thể hóa tại mục 3 Chương X, Luật Bảo vệ môi
33 Điều 3 Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc 1992
34 Phần Mở đầu Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy 2001
35 Nguyễn Thị Ngọc Hiếu (2002), Thực hiện nguyên tắc phòng ngừa theo pháp luật môi trường Việt Nam, Khóa luận cử nhân Luật, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr.9
36 Điều 63 Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 22trường Ngoài ra, nguyên tắc còn được ghi nhận trong hầu hết các lĩnh vực có liên quan đến môi trường
Tóm lại, thực trạng môi trường, cơ sở lí luận và cơ sở pháp lí là nền tảng vững chắc cho việc hình thành nguyên tắc phòng ngừa – nguyên tắc mang nhiều ý nghĩa trong công tác bảo vệ môi trường
1.1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc phòng ngừa
Thực tiễn hoạt động quản lí môi trường trên thế giới cũng như tại Việt Nam
đã cho thấy việc thực hiện nguyên tắc phòng ngừa đã đem lại những ý nghĩa to lớn:
Một là, đảm bảo cho mục tiêu phát triển bền vững.“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường 37 ”
Theo đó, phát triển bền vững là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển Muốn vậy, cần có sự tiếp cận mang tính tổng hợp
và đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu: kinh tế - xã hội - môi trường
“Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội…38”
“Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử,
trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 39 ”
Như đã trình bày, thực hiện nguyên tắc phòng ngừa tức là thực hiện các biện pháp làm giảm các tác động tiêu cực đến môi trường, hạn chế đến mức thấp nhất sự suy thoái có thể xảy ra, làm cho mọi hoạt động đều diễn ra trong sức chịu đựng của trái đất Mặt khác, phòng ngừa giúp bảo vệ và sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế mất mác, lãng phí, từ đó tránh được nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, đảm bảo được môi trường cho quá trình phát triển bền vững
Hai là, giảm thiểu những rủi ro và nguy hiểm đối với môi trường Khi thực
hiện nguyên tắc phòng ngừa, việc tiên liệu xem những hoạt động nào có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường; những yếu tố nào có khả năng dẫn đến sự cố môi trường, từ đó tìm ra những giải pháp ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những thiệt hại do môi trường gây ra là rất quan trọng Bằng cách lên kế hoạch, ngay từ đầu ta đã ngăn chặn nguồn gốc gây ra sự cố hoặc chủ động đối phó với sự cố Do đó, có thể tránh làm nguy hiểm đối với môi trường trong hoạt động sống và làm giảm thiểu những
rủi ro nếu sự cố có xảy ra
Ba là, giảm bớt chi phí khắc phục Việc ngăn ngừa những yếu tố có khả năng
gây nguy hại cho môi trường và chủ động khi sự cố xảy ra giúp hạn chế thiệt hại, từ
đókéo theo giảm chi phí cho việc khắc phục
37 Khoản 4, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014
38
Khoản 2, Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2014
39 Khoản 5, Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2014
Trang 23Trong lĩnh vực công nghiệp, thực hiện nguyên tắc phòng ngừa còn có ý nghĩa giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí đầu tư kinh doanh Bởi lẽ, phòng ngừa tốt, sự cố môi trường không xảy ra thì doanh nghiệp không phải tìm nguồn kinh phí cho việc khắc phục hậu quả môi trường Hơn nữa, đối với một số hoạt động sản xuất đặc thù, doanh nghiệp chắc chắn sẽ gây ra thiệt hại cho môi trường, chẳng hạn như thải nước thải bị ô nhiễm vào môi trường nước Trong trường hợp này, việc đầu
tư các hệ thống xử lí theo nguyên tắc phòng ngừa giúp doanh nghiệp hạn chế được những khoản tiền lớn cho việc cải tạo, đền bù, tiền phạt…
Mặt khác, khi thực hiện tốt công tác phòng ngừa, doanh nghiệp còn được hưởng những ưu đãi lớn theo quy định của chính sách Nhà nước về bảo vệ môi trường: “Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư,
hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường40” như giảm thuế, miễn thuế…
1.1.4 Yêu cầu của nguyên tắc phòng ngừa
Từ kết quả phân tích trên, nhận thấy, nguyên tắc phòng ngừa không xuất phát từ một ý tưởng mà được hình thành cơ sở thực trạng, cơ sở lí luận và cơ sở pháp lí riêng Qua thực tiễn, nguyên tắc đã chứng minh được vai trò to lớn trong công tác quản lí môi trường, không những tránh được những sự cố có thể xảy ra mà còn hạn chế được những thiệt hại đáng tiếc, góp phần giữ vững môi trường cho quá trình phát triển bền vững, phục vụ sự nghiệp phát trển kinh tế - xã hội của đất nước Mặt dù chỉ thể hiện đơn giản qua hai từ“phòng ngừa” nhưng đây lại là nguyên tắc được Việt Nam và thế giới công nhân là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quản lí môi trường Để thực hiện hiệu quả nguyên tắc này, đòi hỏi chúng ta phải tuân thủ những yêu cầu riêng của nguyên tắc, bao gồm: Lường trước những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho môi trường và đưa ra những phương án, giải pháp để giảm thiểu, loại trừ rủi ro Cụ thể:
Thứ nhất, lường trước những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây
ra cho môi trường Sự cố môi trường do con người hoặc thiên nhiên hoặc cả hai
cộng hưởng gây ra, do đó, để dự liệu được những rủi ro cần bắt đầu từ những nguyên nhân này (i) Đối với sự cố môi trường do con người gây ra, khi tiến hành những hoạt động liên quan đến môi trường, cần vạch trước những bất trắc có thể xảy ra trong đó chú trọngnhững tình huống xấu nhất Tùy thuộc vào từng đối tượng, từng lĩnh vực mà có sự dự đoán khác nhau (ii) Đối với sự cố do thiên tai gây ra, cần căn cứ vào tình hình của thời tiết, những quy luật của thời tiết để dự đoán.Có thể dựa theo tác nhân gây ra sự cố, theo mùa, theo địa hình hay theo khu vực để dự trù những tác động xấu cho phù hợp với mục đích thực hiện
Việc lường trước rủi ro là yếu tố tiền đề của sự thành công của nguyên tắc phòng ngừa, bởi nếu công tác lường trước chính xác sẽ giúp cho việc đư ra giải
40 Điều 5 Luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 24pháp sát thực với sự cố, từ đó hiệu quả phòng ngừa cao và ngược lại Để công tác lường trước rủi ro đạt hiệu quả, cần căn cứ vào các báo cáo về môi trường, về sự cố môi trường, vìtrong những báo cáo này, hàm lượng thông tin lớn, cung cấp nhiều kinh nghiệm cho quá trình dự báo.Với những nội dung trên, việc lường trước những rủi ro đóng vai trò là cơ sở định hướng cho việc đưa ra những phương án để giảm thiểu, loại trừ rủi ro
Thứ hai, đưa ra những phương án, giải pháp để giảm thiểu, loại trừ rủi ro
Căn cứ vào kết quả của hoạt động lường trước những rủi ro có thể xảy ra, chủ thể tiến hành đưa ra những phương án khả thi và hiệu quả cho quá trình phòng ngừa Đối với một sự cố có thể có nhiều phương án khác nhau, trong đó phải có phương
án tối ưu nhất Những phương án đưa ra không nhất thiết phải luôn ngăn chăn được
sự cố mà cũng có thể chỉ có khả năng hạn chế sự cố, tuy nhiên, việc cố gắng loại trừ rủi ro phải luôn là mục tiêu hàng đầu của những phương án Nhận thấy, hoạt dộng đưa ra những phương án, giải pháp là yêu cầu quyết định hiệu quả của hoạt động phòng ngừa, bởi vì công tác ứng phó sự cố sẽ được tiến hành theo các phương án, nếu phương án sát thực thì ứng phó sẽ nhanh và hiệu quả, tức là nguyên tắc phòng ngừa thành công và ngược lại Hơn nữa, dù tiền đề có vạch ra được những rủi ro sát với sự cố nhưng quá trình đưa ra những giải pháp không được chú trọng, phương án đưa ra không sát thực thì hiệu quả phòng ngừa sẽ không cao
Như vậy, lường trước những rủi ro và đưa ra giải pháp để hạn chế, loại trừ rủi ro là hai yêu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, quyết định hiệu quả của nguyên tắc phòng ngừa Chính vì thế, để thực hiện tốt nguyên tắc phòng ngừa cần nghiêm túc tuân thủ cả hai yêu cầu, không xem nhẹ hay đặt nặng một trong hainội dung
Hiện nay, sự ấm lên toàn cầu là vấn đề được quan tâm hàng đầu Tình trạng nắng nóng kéo dài đã làm tăng nguy cơ cháy nổ trên diện rộng, nhiều vụ cháy xảy
ra gây thiệt hại to lớn cho con người và môi trường Chính vì thế, một trong những
sự cố đang được chú trọng phòng ngừa hiện nay là sự cố cháy nổ
1.2 Khái quát về sự cố cháy nổ
1.2.1 Khái niệm sự cố cháy nổ
Trong Luật bảo vệ môi trường sự cố môi trường được định nghĩa như sau:
“Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con
người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng41” Sự cố có thể do con người hoặc thiên nhiên hoặc cả hai cộng
hưởng gây ra42
Có rất nhiều loại sự cố môi trường như sự cố tràn dầu, sự cố cháy
41 Khoản 10, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014
42 Xem thêm: TS.Lý Ngọc Minh, “Giáo trình nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng (LPG) ở Việt Nam”, http://voer.edu.vn/c/danh-gia-su-co-moi-
truong/df047f28/50cecc5d truy cập ngày 14/7/2014
Trang 25nổ, sự cố cháy rừng, sự cố rò rỉ phóng xạ, bức xạ hạt nhân và tán phát hóa chất độc hại, sự cố động đất sóng thần…43, trong đó, đáng quan tâm là sự cố cháy nổ
Cháy theo cách hiểu thông thường là quá trình phản ứng hóa học tạo ra khói,
bụi, nhiệt và ánh sáng hay còn gọi là quá trình phát hỏa44 Còn theo quy định tại
Điều 3 Luật PCCC thì “cháy được hiểulà trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát
được có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường”
Nổ là một quá trình tăng lên đột ngột của một thể tích thành một thể tích lớn
hơn rất nhiều lần thể tích ban đầu, dẫn tới sự vượt quá áp lực gây ra nổ, đồng thời giải phóng ra năng lượng cực lớn và nhiệt độ rất cao
Nổ có hai dạng – nổ lý học và nổ hóa học Nổ lý học là nổ do áp xuất trong một thể tích tăng lên quá cao làm cho thể tích đó không chịu được áp lực lớn nên bị
nổ (ví dụ như nổ xăm lốp xe khi bị bơm quá căng, nổ nồi hơi các thiết bị áp lực khác…) Nổ hóa học là nổ do hiện tượng cháy xảy ra với tốc độ nhanh làm cho hỗn hợp khí xung quanh giãn nở đột biến sinh công gây nổ Vì nổ sinh ra năng lượng cực lớn và nhiệt độ rất cao nên trong nhiều trường hợp nổ có thể là nguyên nhân dẫn đến các đám cháy (đối với nổ lý học), có thể là tác nhân thúc đẩy các đám cháy cháy mạnh hơn (đối với nổ hóa học) Vì vậy, trong thực tế, cháy thường đi liền với
nổ và khi nói đến hiện tượng tiêu cực này thường dùng chung cụm từ “cháy nổ”
Kết hợp các khái niệm trên, có thể hiểu sự cố cháy nổ là tai biến hoặc rủi ro
xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên tạo nên cháy nổ, có thể gây thiệt hại cho người, tài sản và ảnh hưởng môi trường Cháy được hình thành từ những điều kiện dưới đây
1.2.2 Điều kiện hình thành cháy
Cháy được hình thành khi có sự tiếp xúc giữa ba yếu tố: chất cháy, ôxy và nguồn nhiệt trong những điều kiện nhất định: tỉ lệ ôxy trong không khí phải lớn hơn
14 %, nguồn nhiệt phải đạt tới giới hạn bắt cháy của chất cháy và thời gian tiếp xúc của ba yếu tố trên đủ để xuất hiện sự cháy
Về chất cháy, những thứ có thể cháy được đều được xem là chất cháy Chất
cháy tồn tại vô cùng đa dạng trong thế giới vật chất của chúng ta, có thể ở dạng rắn, lỏng hoặc khí
Về oxy, trong không khí xung quanh, oxy chiếm tỉ lệ 21% Oxy là một dưỡng
chất cần thiết để sản sinh và duy trì sự cháy, nếu oxy giảm xuống dưới 14% thì hầu hết các chất cháy không cháy hoặc không còn duy trì sự cháy được nữa, trừ một số
ít chất đặc biệt cháy được trong điều kiện nghèo oxy như hydro và mêtan…
43 Mục VI Điều 1 Quyết định 1041/QĐ-TTg ngày 24/6/2014
44Kiều Thị Trúc Hương, Hồ Thị Trúc Lệ, Trần Thị Thúy Diễm, Trần Thị Thuận(2012), An toàn trong phòng chống cháy nổ, nguyên nhân và cách khắc phục sự cố cháy nổ từ các thiết bị, Đề tài trường Đại học công
nghiệp thực phẩm TP Hồ Chí Minh, tr.3
Trang 26Về nguồn nhiệtcủa sự cháy có thể xuất hiện từ các nguồn gốc cơ bản sau: (i)
Nguồn điện: từ sét, điện sinh hoạt hằng ngày, máy phát điện, bình trữ điện hay các đường dây tải điện…Lúc này điện năng có sự chuyển hóa thành nhiệt năng; (ii) Rò
rỉ của một số loại hóa chất: một số loại hóa chất khi tiếp xúc với không khí hoặc tạp chất khác có sẵn quanh đó sẽ tạo ra nhiệt; (iii) Ma xát: sự ma xát của các vật chất tạo ra nhiệt như gõ hai hòn đá vào nhau ở thời kì đồ đá, quẹt que diêm hay sự ma xát của những vật chuyển động…Ngoài ra, (iv) Nhiệt còn được sinh ra từ việc phản ứng hóa học sinh ra nhiệt, từ ngọn lửa trần (điếu thuốc, ngọn đèn, hàn xì khô) hay nhiệt mặt trời…
Khi có đủ các yếu tố và điều kiện nêu trên, một đám cháy có thể được phát sinh, sau đó nhiệt độ tại đám cháy tăng lên và nhiệt lượng sẽ lan truyền nhanh ra xung quanh đám cháy Nhiệt lượng sẽ làm gia tăng nhiệt độ của các chất cháy quanh đó, cộng với nguồn oxy luôn sẵn có trong không khí làm cho phản ứng cháy
dễ dàng lan rộng ra xung quanh, hình thành nên những đám cháy lớn hơn Đây chính là cơ chế lan rộng của một đám cháy
Như vậy sự cháy được hình thành nhờ có đủ ba yếu tố và ba điều kiện nói trên, do đó, để phòng ngừa không cho sự cháy xảy ra và dập tắt được đám cháy chúng ta cần sử dụng nguyên lí loại bỏ một trong những yếu tố hoặc điều kiện hình thành sự cháy
1.2.3 Phân loại sự cố cháy nổ
Cháy nổ có đặc điểm diễn ra phức tạp và trên phạm vi rộng, do đó có nhiều cách để phân loại sự cố cháy nổ như căn cứ vào yếu tố dẫn đến cháy nổ, nguyên nhân gây ra cháy nổ, địa điểm, lĩnh vực, quy mô xảy ra cháy nổ…Trong đó, cách phân loại căn cứ vào nguyên nhân và địa điểm là bao quát hơn hết
Thứ nhất, căn cứ vào nguyên nhân gây ra cháy nổ, bao gồm nguyên nhân từ con người và nguyên nhân từ điều kiện tự nhiên
Một là, nguyên nhân xuất phát từ con người,thuộc hai dạng: nguyên nhân
trực tiếp; nguyên nhân gián tiếp (i) Nguyên nhân trực tiếp bao gồm sự cố ý tạo ra cháy nổ bằng cách đốt để phục vụ mục đích cá nhân chẳng hạn trả thù, đốt để phi tang chứng cứ, đốt để hưởng bảo hiểm… Bên cạnh đó, còn những nguyên nhân trực tiếp khác dẫn đến cháy nổ nhưng không phải cố ý để sự cố xảy ra, chẳng hạn như tự ý móc nối dây đẫn điện tùy tiện dẫn đến quá tải gây cháy nổ, để các chất hóa học dễ phản ứng gần nhau…(ii) Nguyên nhân gián tiếp từ, đó là những nguyên nhân do con người tạo ra, nhưng nguyên nhân đó chưa thể tạo ra sự cố được mà chỉ đóng vai trò là điều kiện cần, còn có một nhân tố khác tác động đến đóng vai trò là điều kiện đủ để gây ra sự cố Chẳng hạn như người dân đốt rác tại nơi có cây cỏ, gió thổi cộng với nhiên liệu xung quanh tạo ra đám cháy Vụ cháy rừng dữ dội vào ngày 26/5/2014 vừa qua tại hai xã Hoài Hải và Hoài Mỹ (Hoài Nhơn, Bình Định) do người dân đốt vàng mã và tư trang cá nhân người chết làm lan đám cháy sang rừng
Trang 27là một minh chứng45 Đây được coi là dạng nguyên nhân do con người và tự nhiên cộng hưởng gây ra
Hai là, nguyên nhân xuất phát từ điều kiện tự nhiên Trong thực tế, nắng mặt
trời khi hội tụ sức nóng, tiếp xúc với những hỗn hợp cháy cũng có khả năng gây ra cháy nổ Điều đó lí giải tại sao trong điều kiện nhiệt độ trái đất nóng lên như hiện nay, tình hình cháy nổ xảy ra ngày càng mạnh mẽ về số lượng và cường độ Ngoài
ra, tia lửa sét đánh trúng vào những chất cháy cũng gây ra sự cố này
Thứ hai, phân loại sự cố cháy nổ căn cứ vào địa điểm, đối tượng của sự cố cháy nổ Đây cũng là cách phân loại được luật PCCC ghi nhận để đưa ra biện pháp
phòng cháy cho từng đối tượng46 Theo đó, sự cố cháy nổ được chia thành cháy nổ tại nhà ở và khu dân cư; cháy nổ đối với phương tiện giao thông cơ giới; cháy nổ đối với rừng; cháy nổ đối với cơ sở Trong sự cố cháy nổ đối với cơ sở bao gồm:(i) Cháy đặc khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao; (ii) Cháy công trình (công trình xây dựng và công trình khai thác khoáng sản); (iii) Cháy chợ, trung tâm thương mại, kho tàng; cháy cảng, nhà ga, bến xe; cháy nơi đông người: bệnh viện, trường học, khách sạn…; (iv) Cháy trụ sở làm việc, thư
viện, bảo tàng, kho lưu trữ
1.3 Sự thể hiện nguyên tắc phòng ngừa trong quy định pháp luật liên quan đến cháy nổ
Nguyên tắc phòng ngừa được xem là nguyên tắc “vàng” trong hoạt động quản lí môi trường và được ghi nhận trong hầu hết các lĩnh vực liên quan đến môi trường Cháy nổ cũng không ngoại lệ Phòng ngừa cháy nổ được thực hiện dựa trên
cơ sở pháp lí: Luật Bảo vệ môi trường, pháp luật xây dựng và pháp luật PCCC
1.3.1 Trong Luật Bảo vệ môi trường
Luật bảo vệ môi trường 2005 đã ghi nhận nguyên tắc phòng ngừa là nguyên
tắc cơ bản trong hoạt động quản lí môi trường: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải
thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường 47 ” Trong Luật Bảo vệ môi trường 2014, vai trò
của nguyên tắc phòng ngừa được đề cao hơn với việc ưu tiên cho nguyên tắc này
trong hoạt động liên quan đến môi trường: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải
được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường48” Với vai trò là văn bản mang tính định hướng cho các hoạt động
nêntại quy định trên,nguyên tắc phòng ngừa chỉ được quy định một cách chung chung cho các lĩnh vực liên quan đến môi trường chứ không được quy định cụ thể cho từng lĩnh vực Mặt khác, luật cũng chỉ ghi nhận, trong hoạt động bảo vệ môi trường phải thực hiện nguyên tắc phòng ngừa, còn phòng ngừa cụ thể như thế nào,
45 http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140526/chay-rung-du-doi-o-binh-dinh.aspx , truy cập ngày 3/6/2014
46 Xem chương II luật Phòng cháy chữa cháy
47
Khoản 3, Điều 4 Luật bảo vệ môi trường 2005
48 Khoản 6, Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2014
Trang 28cách thức phòng ngừa ra sao thì vẫn chưa được đề cập đến Do đó, trong từng lĩnh vực hoạt động, luật chuyên ngành cần có sự cụ thể hóa nguyên tắc này thành những nội dung pháp lí cụ thể để đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc trên
Trong hoạt động có thể dẫn đến sự cố cháy nổ, ngoài quy định chung nêu trên, nguyên tắc phòng ngừa còn được quy định trong pháp luật xây dựng và pháp luật PCCC
1.3.2 Trong pháp luật xây dựng
Trong hoạt động xây dựng, nguyên tắc phòng ngừa cháy nổ là một nguyên
tắc bắt buộc quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật xây dựng: “Bảo đảm chất lượng, tiến
độ, an toàn công trình, tính mạng con người và tài sản, phòng, chống cháy, nổ, vệ sinh môi trường” và tiếp tục được nhắc lại trong các quy định chi tiết của Luật này
Cụ thể:
Khi cung cấp chứng chỉ quy hoạch trong hoạt động quản lí quy hoạch xây dựng thì chứng chỉ quy hoạch xây dựng phải bao gồm các thông tin về phòng chống cháy nổ49
Về dự án đầu tư xây dựng công trình chương III Luật xây dựng quy định: Dự
án đầu tư xây dựng công trình, yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng công trình và phần thuyết minh về nội dung của dự án đầu tư xây dựng công trình, tất cả đều phải đáp ứng yêu cầu về phòng chống cháy nổ50
Đặc biệt, trong khâu thiết kếcông trình thì thiết kế xây dựng công trình phải
đáp ứng “Các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và những
tiêu chuẩn liên quan” Ngoài ra, nếu công trình đó là công trình dân dụng và công
trình công nghiệp còn phải đáp ứng thêm yêu cầu: “An toàn cho người khi xảy ra sự
cố; điều kiện an toàn, thuận lợi, hiệu quả cho hoạt động chữa cháy, cứu nạn; bảo đảm khoảng cách giữa các công trình, sử dụng các vật liệu, trang thiết bị chống cháy để hạn chế tác hại của đám cháy đối với các công trình lân cận và môi trường xung quanh51”
Tại Nghị định 64/2012/NĐ-CP, quy định về việc cấp giấy phép xây dựngđã ghi nhận nhiều nội dung liên quan đến cháy nổ Cụ thể, nội dung cấp giấy phép xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu về PCCC; Điều kiện chung để được cấp giấy phép xây dựng đối với các loại công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ là phải đảm bảo các nội dung theo quy định của pháp luật về PCCC và đảm bảo khoảng cách với các công trình dễ cháy nổ.Điều kiện này cũng được áp dụng tương tự trong trường hợp cấp phép xây dựng tạm Đối với công trình xây dựng được miễn giấy phép xây dựng thì phải có nội dung quản lí xây dựng và nội dung đó cũng phải đảm bảo điều kiện PCCC như vừanêu52
49 Điều 33 Luật xây dựng
50 Điều 35, 36, 37 Luật xây dựng
51
Khoản 2, Điều 52 Luật xây dựng
52 Xem Điều 4,5,7,8,10, 16 Nghị định 64/2012/NĐ-CP
Trang 29Nhìn chung, Luật xây dựng và Nghị định 64/2012/NĐ-CP đã thể hiện được nguyên tắc phòng ngừa theo tinh thần của Luật bảo vệ môi trường 2005 vào từng khâu trong quá trình xây dựng Tuy nhiên, các quy định vẫn còn nhiều điểm bỏ ngõ
Công trường là nơi lộn xộn,vật liệu xây dựng cũng như hệ thống thiết bị rất
dễ gây ra những vụ cháy nổ Thế nhưng trong yêu cầu đối với công trường xây dựng được quy định tại Điều 74, Luật xây dựng không hề có ghi nhận nội dung về công tác PCCC Trong Nghị định 167/2013/NĐ-CP có quy định xử phạt hành vi
“không có biện pháp và phương tiện bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quá trình thi công, xây dựng công trình 53 ” Tuy nhiên, quy định này lại quy
đinh đơn thuần là “đảm bảo”, còn vị trí lắp đặt như thế nào, để phương tiện cứu chữa ở đâu chưa được đưa ra cụ thể Mặt khác, quy định này còn mang tính chất tùy nghi ở chỗchưa quy định như thế nào là “đảm bảo”, điềunày đồng nghĩa với việc đẩy công tác quy định tiêu chuẩn qua cho cơ quan chức năng
Tại các quy định về an toàn trong thi công xây dựng công trình, quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường trong thi công xây dựng công trình cũng không hề có ghi nhận nội dung về công tác PCCC mà chỉ quy định một cách chung chung:
“Trong quá trình thi công công trình, nhà thầu thi công xây dựng công trình có
trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy móc, thiết bị, tài sản, công trình đang xây dựng… 54 ”, hay “Có biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường trong quá trình thi công xây dựng bao gồm môi trường không khí, môi trường nước, chất thải rắn, tiếng ồn và các yêu cầu khác về vệ sinh môi trường… 55 ”
Xuất phát từ những bất cập nêu trên nên trong hoạt động xây dựng, nhà đầu
tư chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế, lợi nhuận, vấn đề về môi trường nói chung, về công tác PCCC nói riêng bị lãng quên Công tác thanh tra, giám sát có nhiều điểm chưa thống nhất và dẫn đến nhiều tiêu cực Do đó, những công trình không hề có phương án thoát hiểm hay phương án cứu chữa vẫn tiếp tục ra đời
1.3.3 Trong pháp luật phòng cháy chữa cháy
Là lĩnh vực chuyên ngành nên pháp luật về PCCC có rất nhiều văn bản điều chỉnh nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động sống liên quan đến cháy nổ Trong
53 Khoản 1 điều 36 Nghị định 167/2013/NĐ-CP
54
Khoản 1, Điều 78 Luật xây dựng
55 Khoản 1, Điều 79 Luật xây dựng