Ngoài ra, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ kém hiệu quả sẽ làm cho thời gian giải quyết vụ án kéo dài, vụ án được giải quyết không toàn diện gây khó khăn phiền hà trong nhân dân, làm
Trang 1ĐẶNG MINH TRUNG
ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 3suy nghĩ, nghiên cứu của tác giả, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học
của Pgs.Ts Nguyễn Thị Hoài Phương Các số liệu, các tư liệu, những kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực Luận văn chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tác giả
Đặng Minh Trung
Trang 4Từ viết tắt Từ được viết tắt
BLTTDS 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC ỦY THÁC VÀ QUYẾT ĐỊNH ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ 6
1.1 Yêu cầu đối với việc ủy thác thu thập chứng cứ 6
1.2 Nội dung và hình thức của Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ 23
2.1 Trách nhiệm của chủ thể ủy thác thu thập chứng cứ 23
2.2 Trách nhiệm của chủ thể nhận ủy thác thu thập chứng cứ 30
Kết luận Chương 2 36
KẾT LUẬN 37 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động chứng minh của Tòa án nói chung, cũng như hoạt động thu thập chứng nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ việc dân sự, bảo đảm cho Tòa án có những phán quyết hợp tình, hợp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Trong quá trình giải quyết
vụ việc dân sự có nhiều trường hợp Tòa án không thể tự mình thu thập chứng cứ được Để giải quyết vấn đề này, luật quy định cho Tòa án đang thụ lý, giải quyết
vụ việc dân sự (còn gọi là chủ thể ủy thác thu thập chứng cứ) có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án khác trong lãnh thổ Việt Nam hoặc ủy thác thu thập chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền khác ở nước ngoài (còn gọi là chủ thể nhận ủy thác thu thập chứng cứ) Quy định này giúp cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự có thể thu được chứng cứ ở ngoài địa giới hành chính do mình quản
lý để giải quyết toàn diện vụ việc dân sự
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011 dành Điều 93 với 04 khoản và các văn bản hướng dẫn để quy định về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án Tuy nhiên, pháp luật về hoạt động ủy thác thu thập chứng
cứ có một số quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng, chưa đầy đủ nên thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ còn nhiều bất cập, cách hiểu không thống nhất dẫn đến việc ủy thác kém hiệu quả, thời gian giải quyết
vụ việc bị kéo dài Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2016 cũng dành 05 khoản tại Điều 105 quy định về vấn đề này Pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng vẫn còn những vướng mắc, bất cập khi áp dụng vào thực tiễn
Ngoài ra, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ kém hiệu quả sẽ làm cho thời gian giải quyết vụ án kéo dài, vụ án được giải quyết không toàn diện gây khó khăn phiền hà trong nhân dân, làm cho pháp luật không bảo vệ một cách tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Do đó, làm rõ những bất cập, vướng mắc của pháp luật, đưa ra các giải pháp, các kiến nghị sửa đổi luật để pháp luật về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ được áp dụng thống nhất là một yêu cầu cấp bách Chính vì vậy, học
Trang 7viên chọn đề tài “Ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam”
làm Luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động thu thập chứng cứ là mảng đề tài thường được chọn để nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào vấn đề, nội dung mà các tác giả quan tâm Tuy nhiên, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
là một cách thức, một biện pháp thu thập chứng cứ thì chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
Ở góc độ nghiên cứu chung về thu thập chứng cứ có một số tác giả đề cập đến hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tác phẩm của mình như sau:
- Hà Thái Thơ (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh Công trình này nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự
và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong đó, Luận văn đề cập đến hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án dưới góc độ sơ lược quy định của pháp luật
- Trương Việt Hồng (2014), Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ
thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường
đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Công trình này cũng nghiên cứu về lý luận
và thực tiễn hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm Trong đó, tác giả dành một phần nhỏ đề cập đến hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án theo quy định của pháp luật
- Trần Quốc Dũng (2010), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân
sự, Khóa luận cử nhân, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Khóa luận
này nghiên cứu về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ ở các khía cạnh chủ thể ủy thác thu thập chứng cứ và các biện thu thập chứng cứ theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Ngoài các công trình nêu trên, một số tác giả có các bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:
Trang 8- Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẳng (2015), “Thu thập chứng cứ trong giải
quyết vụ án dân sự - Những khó khăn vướng mắc và giải pháp”, Tạp chí Tòa án
nhân dân, (4) Nội dung bài viết xoay quanh các vấn đề quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự về thu nhập chứng cứ, các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động trên và kiến nghị một số giải pháp khắc phục Trong đó có đề cập đến những vướng mắc trong hoạt động ủy thác tư pháp ngoài lãnh thổ Việt Nam
Các nghiên cứu trên có đề cập hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa
án và là nguồn tư liệu để học viên tham khảo nhằm hoàn thiện luận văn của mình Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ tiếp cận vấn đề trên cơ sở quy định của pháp luật, chưa đối chiếu thực tiễn để xem quy định của pháp luật có phù hợp thực tiễn hay không, có bất cập, vướng mắc gì hay không Do đó, những nghiên cứu trên vẫn chưa có giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án gồm chủ thể nhận ủy thác, các biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ, chi phí thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ, quyết định
ủy thác thu thập chứng cứ, trách nhiệm của chủ thể ủy thác, chủ thể nhận ủy thác thu thập chứng cứ Tìm hiểu thực tiễn hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ
về các nội dung trên, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật nhằm đưa ra các kiến nghị áp dụng thống nhất quy định của pháp luật về hoạt động
ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án trong thực tiễn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân
sự và việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện những quy định về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
Phạm vi nghiên cứu: Tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu những vấn đề còn bất cập, vướng mắc trong hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Phân tích những bất cập, vướng mắc trong quy
Trang 9định pháp luật và thực tiễn áp dụng để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Luận văn chủ yến nghiên cứu về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn tác giả đã chọn các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng ở chương 1, chương 2 để làm rõ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Phương pháp này cũng được tác giả sử dụng để làm rõ những khó khăn, vướng mắc của việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự, những nguyên nhân tạo ra những bất cập của luật, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hoặc đưa ra giải pháp để pháp luật được nhận thức và áp dụng thống nhất trong thực tiễn
- Phương pháp so sánh được sử dụng ở mục 1.1, 1.2, 2.1.1, 2.2 dùng để so sánh đối chiếu giữa quy định giữa luật cũ với luật mới; giữa các quyết định ủy thác, trả lời ủy thác của nhiều Tòa án nhằm làm rõ những bất cập trong hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
- Phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng để tổng kết, tập hợp các kết quả đã phân tích, đã thu thập được để đưa ra kết luận đối với các vấn đề đã nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn đã giải quyết một số vấn đề cơ bản về lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Luận văn đã có cái nhìn khách quan về các quy định của pháp luật về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ khi áp dụng vào thực tiễn để thấy được những bất cập, vướng mắc, những chưa hoàn thiện của pháp luật Góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng về hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
Trang 10Giá trị ứng dụng của đề tài: Luận văn này có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho các Thẩm phán, Thẩm tra viên,Thư ký, Luật sư Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng để học tập, nghiên cứu
7 Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung luận văn bao gồm 02 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Yêu cầu đối với việc ủy thác và quyết định ủy thác thu thập
chứng cứ
Chương 2: Trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình ủy thác thu thập
chứng cứ
Trang 11CHƯƠNG 1 YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC ỦY THÁC
VÀ QUYẾT ĐỊNH ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ
1.1 Yêu cầu đối với việc ủy thác thu thập chứng cứ
1.1.1 Phân biệt ủy thác thu thập chứng cứ với ủy thác tống đạt văn bản
tố tụng
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) quy định: Tòa án có quyền ủy thác cho Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, lấy lời khai người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân
sự1 Các biện pháp đã được liệt kê như lấy lời khai, thẩm định tại chỗ, định giá là
rõ ràng nên các Tòa án áp dụng thống nhất, nhưng đối với các biện pháp khác được quy định tại Điều 105 BLTTDS 2015 thì có ý kiến khác nhau
Đây là một quy định dự phòng trường hợp thực tiễn xét xử của Tòa án có những biện pháp thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự ngoài các biện pháp được nêu tên cụ thể tại Điều 105 Bộ luật tố tụng dân sự Các biện pháp khác ngoài các biện pháp đã được liệt kê trên phải là những biện pháp nhằm để thu thập chứng cứ hoặc xác minh các tình tiết vụ việc dân sự Như vậy, thực chất các biện pháp luật quy định dự phòng là những hoạt động thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự
Quy định này là cần thiết Bởi lẽ, ngoài các biện pháp ủy thác chứng cứ đã được liệt kê, thực tiễn xét xử Thẩm phán còn sử dụng nhiều biện pháp khác để
ủy thác thu thập chứng cứ như: Xác minh, ghi nhận tập quán ở địa phương, đối chất giữa người làm chứng với các đương sự trong trường hợp người làm chứng không thể đến Tòa án được Quy định dự phòng sẽ giúp pháp luật bao quát hết các biện pháp thu thập chứng cứ trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án trong lãnh thổ Việt Nam, các biện pháp thu thập chứng cứ tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và dự liệu cả trường hợp ủy thác thu thập chứng cứ với các quốc gia khác theo nguyên tắc có đi có lại
1
Khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015
Trang 12Hiện nay, thực tiễn có hai cách hiểu khác nhau về các biện pháp khác theo quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Các biện pháp khác ở đây được hiểu là các biện pháp nhằm tìm ra các chứng cứ các tình tiết để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, là hợp pháp hoặc không có cơ sở, không hợp pháp và bản chất của các biện pháp này là tìm ra chứng cứ làm sáng tỏ nội dung của vụ việc dân sự Đây là quy định dự liệu trường hợp luật không bao quát hết các biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ mà Tòa án Việt Nam áp dụng trong thực tiễn, dự liệu cả trường hợp luật nước ngoài quy định mà nước đó với Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này và đồng thời dự liệu trường hợp pháp luật của các nước áp dụng nguyên tắc có đi có lại có các biện pháp thu thập chứng cứ ngoài các biện pháp đã liệt kê trong luật
Quan điểm thứ hai: Các biện pháp khác này bao gồm cả các biện pháp thu thập chứng cứ luật chưa dự liệu hết và kể cả các hoạt động tố tụng khác nhằm giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án như tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định thẩm định tại chỗ, quyết định định giá tài sản
Để làm rõ hai quan điểm này, chúng ta đi vào tìm hiểu các quyết định ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án cụ thể:
Nhiều Tòa án Việt Nam xem việc ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng cũng là biện pháp khác của hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng dân sự
Ví dụ, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 272/2016/QĐ-UTTA ngày 23 tháng 2 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về “Dân sự” giữa nguyên đơn: Bà Đỗ Minh Kim và bị đơn: Ông Đỗ Chí Công Tại quyết định trên, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tống đạt thông báo hòa giải, giấy triệu tập đương sự cho ông Đỗ Chí Công
Tương tự, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 30/2016/QĐ-UTTA ngày 25 tháng 5 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về “Dân sự” giữa nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Dạ Hương và bị đơn: Bà Đỗ Thị
Tư Tại quyết định trên, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã
Trang 13ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tống đạt quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cho đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
Ngoài ra, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 106/2016/QĐ-UTTA ngày 08 tháng 3 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn: Bà Trương Thị Ngoãn và bị đơn: Ông Lê Văn Thuận, bà Nguyễn Thị Kim Thu Tại quyết định trên, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai vừa ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tống đạt cho
bà Trần Thị Phương Mai Thông báo về việc yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản vừa ủy thác cho Tòa án thành phố Cà Mau lấy lời khai của bà Trần Thị Phương Mai
Như vậy, thực tiễn xét xử, nhiều Tòa án đã đồng nhất việc ủy thác thu thập chứng cứ với ủy thác tống đạt văn bản tố tụng và xem hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng như là một phần của ủy thác thu thập chứng cứ hay nói cách khác những Tòa án trên xem hoạt động tống đạt văn bản tố tụng là biện pháp khác luật đã dự liệu tại khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015
Thực chất hoạt động tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án không phải
là hoạt động thu thập chứng cứ Bởi lẽ, chứng cứ là những gì có thật được đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án tự thu thập theo trình tự thủ tục luật định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp2
Trong khi, việc ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng là việc Tòa án thông báo cho các đương sự, người làm chứng biết về hoạt động tố tụng của Tòa án để họ biết tham gia vào hoạt động tố tụng mà Tòa án đã thông báo và kết quả của hoạt động này
là để chứng minh Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho những người tham gia tố tụng Do đó, chúng không phải là căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của đương sự hay nói cách khác kết quả của ủy thác tống đạt văn bản tố tụng không làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
Ngoài ra, hoạt động tống đạt các văn bản tố tụng không phải chỉ ủy thác một lần có kết quả là giải quyết được vụ án mà còn phải tống đạt hợp lệ nhiều lần mới đưa vụ án ra xét xử vụ được Chẳng hạn, tống đạt quyết định đưa vụ án
2
Điều 93 BLTTDS 2015
Trang 14ra xét xử hai lần thì Tòa án mới có quyền giải quyết vụ án nếu đương sự vắng tại phiên tòa Trong khi, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ nếu không nhận được kết quả trả lời thì chỉ cần ủy thác một lần là Tòa án đã giải quyết được vụ án3
Do đó, hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng không phải là hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ
Vấn đề ở đây, các Tòa án có phải hiểu hoạt động tống đạt văn bản tố tụng
là hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ hay không rất khó xác định nhưng có thể khẳng định đây là một cách thức để hoạt động xét xử của Tòa án nhanh chóng, thuận lợi
Hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng là một nhu cầu của thực tiễn Các Tòa án khi cần tống đạt các văn bản tố tụng ở ngoài địa giới hành chính
do mình quản lý thì cách thuận lợi nhất và nhanh nhất là ủy thác cho Tòa án nơi
có đương sự cần triệu tập, cần thông báo Bởi lẽ, nếu Tòa án tự đi tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự ở ngoài địa giới hành chính do mình quản lý thì việc đi lại tốn thời gian, chi phí cao, không hiệu quả vì không quen đường Nhu cầu ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án thực tế cao hơn so với hoạt động ủy thác ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án Cụ thể, năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời ủy thác cho Tòa án khác để thu thập chứng cứ là
7 vụ, trong khi ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, quyết định tạm đình chỉ, giấy triệu tập đương sự là 11 vụ Do đó,hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn trong việc giúp Tòa án đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ việc dân sự, thời gian giải quyết các vụ việc dân sự không bị kéo dài Ngoài ra, khi tống đạt các văn bản tố tụng pháp luật quy định phải tống đạt đủ số lần, hợp lệ thì Tòa án mới giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự vắng mặt, nếu không tống đạt đầy
đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là căn
cứ để Tòa án cấp trên hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới
Kiến nghị: Trước thực tiễn trên, Tòa án nhân dân tối cao nên có công văn
hướng dẫn cho Tòa án nhân dân các cấp hiểu thống nhất theo hướng các biện pháp khác quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015 là các biện pháp thu thập chứng cứ nhằm chấp nhận, bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phản
3
Khoản 5 Điều 105 BLTTDS 2015
Trang 15tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngoài
ra, theo tác giả luật nên ghi nhận hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng vào trong luật Việc ghi nhận này sẽ giúp cho hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án có cơ sở pháp lý, đồng thời giúp luật thích ứng với thực tiễn Hiện nay, khi luật chưa được sửa đổi thì Tòa án nhân dân tối cao nên có công văn hướng dẫn cụ thể hoạt động phối hợp tống đạt các văn bản tố tụng giữa các Tòa án để hoạt động ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng đạt hiệu quả và có giá trị pháp lý trong thực tiễn
1.1.2 Xác định Tòa án nhận ủy thác trong lãnh thổ Việt Nam
Tại khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015 quy định: Tòa án giải quyết vụ việc dân sự có thể ra quyết định ủy thác cho Tòa án khác thực hiện yêu cầu ủy thác Như vậy, chủ thể nhận ủy thác trong lãnh thổ Việt Nam là Tòa án nhân dân
Đối với hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ bên trong lãnh thổ Việt Nam thì chủ thể nhận ủy thác thu thập chứng cứ là Tòa án nơi được ủy thác Quy định như trên, chúng ta có quyền hiểu Tòa án ủy thác có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cả Tòa án nhân dân cấp cao Vấn đề đặt ra là Tòa án nhân dân cấp dưới có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho Toà án nhân dân cấp trên và ngược lại hay không? Vấn đề này, luật không quy định cụ thể, rõ ràng nên có quan điểm khác nhau Có những quan điểm cho rằng: “Mặc dù luật không quy định cụ thể nhưng theo chúng tôi việc ủy thác thu thập chứng cứ chỉ có thể thực hiện bởi Tòa án cùng cấp (Tòa án cấp huyện này với Tòa án cấp huyện khác, Tòa án cấp tỉnh này với Tòa án cấp tỉnh khác)”4
Bên cạnh đó, trong thực tiễn, Tòa án cũng có cách hiểu và áp dụng như sau:
Ví dụ: Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 2172/2016/QĐ-TTCC ngày 19 tháng 7 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về
“Tranh chấp chia tài sản chung” giữa nguyên đơn: Bà Đỗ Minh Kim và bị đơn: Ông Đỗ Chí Công Tại quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trên, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau thực việc ủy thác
4
Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp, Bình luận khoa học BLTTDS năm 2015, NXB Lao động, tr.108
Trang 16Ví dụ: Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 30/2016/QĐUT-TA ngày
25 tháng 5 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về
“Tranh chấp hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn: Bà
Đỗ Dạ Hương và bị đơn: Bà Đỗ Thị Tư Tại quyết định ủy thác thu thập chứng
cứ trên, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Như vậy, thực tiễn các Tòa án dù cấp tỉnh hay cấp huyện đều chỉ ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện Điều này xuất phát từ việc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có chứng cứ cần thu thập sẽ thực hiện việc ủy thác một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất, thuận tiện nhất các yêu cầu ủy thác Tác giả chưa phát hiện trường hợp nào Tòa án nhân dân cấp huyện ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Theo tác giả, hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho các Tòa án đang giải quyết vụ việc dân
sự nhưng nó cũng tạo điều kiện thuận lợi nhất để Tòa án nhận ủy thác hoàn thành việc ủy thác nên ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của đương sự, nơi có chứng cứ cần thu thập, nơi có tình tiết sự kiệc cần xác minh là thuận tiện nhất
Bên cạnh đó, việc ủy thác cũng phải tiến hành theo nguyên tắc ngang cấp hoặc thấp hơn để không hạn chế quyền ủy thác của Tòa án Theo thác giả Tòa án cấp tỉnh có quyền ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện còn Tòa án cấp huyện chỉ có quyền ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cần
ủy thác
Do đó, luật nên sửa đổi theo hướng xác định giới hạn rõ chủ thể nhận ủy thác để pháp luật được hiểu thống nhất, không còn nhiều ý kiến khác nhau như hiện nay
Một vấn đề khác đặt ra: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh đó hay không
Vấn đề này hiện nay có hai quan điểm đối lập với nhau:
Quan điểm 1: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh vì không có quy định nào cấm việc ủy thác trên Hơn nữa, Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ thuận lợi hơn trong hoạt động thu thập chứng cứ
Trang 17Quan điểm 2: Tòa án nhân dân cấp tỉnh không được ủy thác cho Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh Vì Tòa án chỉ có quyền ủy thác cho Tòa án khác thu thập chứng cứ khi chứng cứ cần thu thập ở ngoài phạm vi lãnh thổ, địa giới
do mình quản lý Như vậy, chứng cứ cần thu thập trong trường hợp này nằm trong địa giới hành chính của Tòa án ủy thác nên không được quyền ủy thác thu thập chứng cứ
Những người theo quan điểm 2 cho rằng: “Về mặt nguyên tắc thì mổi đơn
vị Tòa án chỉ có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi địa giới hành chính huyện, tỉnh đã được xác định Điều này có nghĩa là mổi đơn vị Tòa án không được phép tiến hành các hoạt động ngoài địa giới hành chính mà mình đã được xác định thẩm quyền theo lãnh thổ”5
Tác giả thống nhất với quan điểm 2: Tòa án chỉ được ủy thác khi chứng
cứ nằm ngoài địa giới hành chính do mình quản lý nên trong địa giới hành chính
do mình quản lý thì không phát sinh hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ
Do đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh không có quyền ủy thác thu thập chứng
cứ cho Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc địa giới hành chính của tỉnh Lý do, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi quản lý của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nên không phát sinh hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ
Kiến nghị: Từ những phân tích trên, theo tác giả, khoản 3 Điều 105
BLTTDS 2015 nên sửa đổi như sau: “ 1 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án nhân dân ngang cấp hoặc cấp
thấp hơn tại nơi thuận lợi nhất, ngoài địa giới hành chính do mình quản lý hoặc
cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự” Quy định như trên sẽ giúp xác định rõ ràng chủ thể nhận ủy thác trong lãnh thổ Việt Nam, đồng thời giúp cho quy định của pháp luật rõ ràng và pháp luật được hiểu thống nhất
1.1.3 Xác định chi phí khi thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ
* Thứ nhất: Chi phí khi thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh
Trang 18Chi phí ủy thác thu thập chứng cứ là chi phí để Tòa án nhận ủy thác thực hiện các công việc ủy thác như là lấy lời khai đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự
Hiện nay, BLTTDS 2015 và các văn bản dưới luật không có quy định về chi phí ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam nên các Tòa án khi ủy thác thu thập chứng cứ không có thu chi phí từ các đương sự
Trong quá trình thực hiện việc ủy thác thì các Tòa án có hai quan điểm về việc có cần thu chi phí ủy thác thu thập chứng cứ từ các đương sự hay không
Quan điểm 1: Các đương sự không phải chịu chi phí ủy thác Bởi lẽ, đây
là trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết phải thu thập thêm chứng cứ mới giải quyết toàn diện vụ án Do đó, việc ủy thác thu thập chứng cứ là trách nhiệm của Tòa án
Quan điểm 2: Ngược hoàn toàn với quan điểm thứ nhất, quan điểm này cho rằng các đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh Việc Tòa án ủy thác thu thập chứng cứ là làm thay cho đương sự, để hổ trợ đương sự thuận lợi trong việc thu thập thu thập chứng cứ Do đó, đương sự phải chịu chi phí ủy thác thu thập chứng cứ
Tác giả thống nhất với quan điểm hai: Tòa án cần phải thu chi phí ủy thác thu thập chứng cứ tương ứng với công việc được ủy thác từ các đương sự Điều này xuất phát từ nghĩa vụ chứng minh là của đương sự
Hơn nữa, theo quy định tại Điều 217 BLTTDS 2015 quy định: Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí giám định và các chi phí tố tụng khác là một trong những căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án6
Việc thu chi phí từ các đương sự sẽ giúp cho Tòa án nhận ủy thác có chi phí thực hiện yêu cầu ủy thác và sẽ kích thích được sự tích cực trong thực hiện những công việc ủy thác của Tòa án nhận ủy thác, góp phần làm cho việc ủy thác được thực hiện nhanh chóng, đúng quy định của pháp luật
Mục đích của việc thu chi phí ủy thác để cho Tòa án nhận ủy thác có tiền chi phí thực hiện yêu cầu ủy thác Thực tế, những công việc được ủy thác là những công việc phát sinh và công việc này không được dự trù trong kinh phí được phân
6
Điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015
Trang 19bổ hàng năm cho hoạt động của Tòa án Do đó, nếu Tòa án không thu chi phí ủy thác từ các đương sự thì Tòa án sẽ lấy kinh phí từ kinh phí hoạt động của đơn vị
để thực hiện thay công việc của người khác Điều này không thể tạo nên tính tích cực trong thực hiện các yêu cầu ủy thác của các Tòa án nhận ủy thác
Bình luận phần chứng minh và chứng cứ trong BLTTDS 2015, PGS.TS Nguyễn Minh Hằng cho rằng: “ Lý do phần lớn các Tòa án hay các cơ quan khác nhận ủy thác nhận ủy thác thường cho rằng đó là làm hộ, làm thay Tòa án ủy thác nên tinh thần trách nhiệm thực hiện không cao, không đảm bảo thời gian ủy thác”7
Thực tiễn Tòa án nhận ủy thác vừa phải bỏ công sức của mình lại vừa phải xuất kinh phí của mình ra để chi phí cho việc ủy thác Do đó, Tòa án nhận ủy thác thường kết hợp công việc của Tòa với công việc ủy thác và khi nào Tòa án
có công việc ở nơi được ủy thác thì kết hợp làm để giảm chi phí ủy thác Do đó, khi thực hiện những công việc được ủy thác, nhiều Tòa án không chủ động thực hiện việc ủy thác nên thời gian ủy thác bị vi phạm có một nguyên nhân lớn là do không có chi phí cho việc thực hiện ủy thác Theo tác giả, cần phải quy định các đương sự phải có trách nhiệm nộp chi phí ủy thác thu thập chứng cứ
Hiện nay, pháp luật không có quy định về việc thu nộp chi phí ủy thác, cơ chế thu chi chi phí, các khoản chi phí phải nộp nên cần có văn bản hướng dẫn về chi phí ủy thác trong lãnh thổ Việt Nam để làm căn cứ, cơ sở để Tòa án trong cả nước áp dụng pháp luật thống nhất
Kiến nghị: Theo tác giả, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết
hướng dẫn theo hướng: Quy định chi phí ủy thác thu thập chứng cứ là chi phí thực tế thực hiện công việc ủy thác gồm chi phí đi lại tống đạt văn bản tố tụng, đi lại thực hiện công việc ủy thác; chi phí tổ chức thực hiện công việc ủy thác, chi phí trả cho những người trong Hội đồng thẩm định tại chỗ, Hội đồng định giá, chi phí khác có liên quan đến việc thực hiện yêu cầu ủy thác Đối với việc thu chi chi phí ủy thác thu thập chứng cứ thì giải pháp trước mắt phải thực hiện là: Khi Tòa án được ủy thác nhận được yêu cầu ủy thác thì Tòa án được ủy thác thông báo cho Tòa án ủy thác đã nhận được quyết ủy thác và thông báo số tiền tạm ứng chi phí ủy thác thu thập chứng cứ Tòa án ủy thác sẽ thu từ nguyên đơn,
7 Nguyễn Minh Hằng (2015), “Bình luận phần chứng minh và chứng cứ trong BLTTDS 2015”, Bình luận
những điểm mới trong BLTTDS năm 2015, NXB Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, tr.142
Trang 20người yêu cầu số tiền trên và chuyển cho Tòa án nhận ủy thác thông qua tài khoản ngân hàng Sau khi thực hiện ủy thác xong thì Tòa án nhận ủy thác trả kết quả và gửi kèm theo Bảng thanh toán, chứng từ chi phí ủy thác cho Tòa án ủy thác để đối chiếu với đương sự Trường hợp tạm ứng lệ phí thừa thì Tòa án nhận
ủy thác hoàn cho Tòa án ủy thác thông qua tài khoản ngân hàng; thiếu thì đương
sự tiếp tục nộp cho Tòa án ủy thác để chuyển cho Tòa án nhận uỷ thác Biện pháp lâu dài, phải dự trù nguồn kinh phí ủy thác cho Tòa án hàng năm để Tòa án chủ động hoạt động Trong quá trình giải quyết vụ án nếu phát sinh ủy thác thu thập thu thập chứng cứ thì Tòa án sẽ tuyên án buộc các đương sự nộp vào ngân sách nhà nước Để việc thu chi được rõ ràng, minh bạch
*Thứ hai: Chi phí ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài
Đối với chi phí ủy thác tư pháp về dân sự, trong thời gian qua do pháp luật không quy định rõ ràng chi phí ủy thác thu thập chứng cứ, các khoản thu chi cụ thể, cách thức thu, thanh toán các chi phí ủy thác trên nên Tòa án yêu cầu ủy thác không thu chi phí ủy thác mà chỉ thu lệ phí150.000 đồng,còn chi phí dịch ra ngôn ngữ nước ngoài thì Tòa án yêu cầu đương sự đến liên hệ trực tiếp Văn phòng công chứng hoặc Phòng Tư pháp cấp huyện để được dịch ra ngôn ngữ cần dịch và trực tiếp nộp tiền chi phí dịch thuật theo yêu cầu của các cơ quan, tổ chức trên Theo đánh giá của Tòa án nhân dân tối cao gởi cho Bộ Tư pháp để thông báo kết quả công tác tương trợ tư pháp năm 2015 thể hiện: Việc không quy định rõ cơ chế thu nộp chi phí ủy thác đối với hoạt động ủy thác ở nước ngoài là một nguyên nhân để hoạt động này không có kết quả cao trong thực tiễn8
Để khắc phục tình trạng trên, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao ban hành Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 thay thế Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT BTP-BNG-TANDTC ngày 15 tháng 9 năm 2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao có quy định cụ thể chi phí thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ về dân sự của Việt Nam ra nước ngoài bao gồm phí, lệ phí và chi phí thực tế theo quy định của pháp Việt Nam và pháp luật quốc
8 Thông báo số 271/TANDTC-HTQT ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Tòa án nhân dân tối cao về kết quả thực hiện công tác tương trợ tư pháp năm 2015
Trang 21gia được ủy thác9
Quy định này giúp cho hoạt động thu, nộp chi phí ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài có căn cứ, dễ dàng thực hiện Các đương sự biết được các khoản chi phí họ phải nộp, Tòa án cũng có căn cứ để thông báo cho các đương sự nộp chi phí ủy thác Thông tư trên có quy định cách thức thu, nộp chi phí thực tế ủy thác tư pháp, cụ thể: Chi phí thực tế trong nước do người có nghĩa
vụ nộp thanh toán trực tiếp cho người cung cấp dịch vụ Chi phí thực tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thì phân làm hai trường hợp Trường hợp 1, chi phí thực tế xác định được trước theo quy định của pháp luật nước ngoài thì người có nghĩa vụ nộp chi phí phải thanh toán trực tiếp với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam10 Trường hợp 2, chi phí thực tế chưa xác định hoặc đã xác định được nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chưa yêu cầu nộp thì người có nghĩa vụ nộp phải nộp tạm ứng 3.000.000 đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh Ngoài ra, thông liên tịch số 12 còn quy định về cách thức chi, thanh toán chi phí ủy thác trong trường hợp 211 Quy định như trên đảm bảo cho việc thu và nộp chi phí sẽ được áp dụng trong thực tiễn Tuy nhiên, trong trường hợp 1, Thông tư quy định cho đương sự trực tiếp nộp tiền cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài là gây khó khăn cho đương sự Bởi lẽ, Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam khi liên hệ với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã không liên hệ trực tiếp mà phải thông qua các cơ quan trung ương của hai nước thì người dân liên hệ trực tiếp để thanh toán chi phí ủy thác sẽ rất khó khăn Hơn nữa, các chi phí này sẽ được Tòa
án quyết định ai phải chịu trong bản án nên cần phải thông qua cơ quan có thẩm quyền để xác định chính xác số tiền đương sự phải nộp và phải có chứng cứ đương sự đã nộp để Tòa án có cơ sở quyết định trong bản án, quyết định Hơn nữa, cùng là thu, nộp số tiền ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài nhưng pháp luật quy định hai cách thu nộp khác nhau là quy định tùy tiện, gây khó khăn cho Tòa án, đương sự trong hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ
9 Khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số: 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự
10 Điểm a khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số: 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm
2016 quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự
11 Điều 8 Thông tư liên tịch số: 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 quy định
về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự
Trang 22Kiến nghị: Theo tác giả cần phải sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 7
Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 như sau: “a) Trường hợp chi phí thực tế đã xác định được theo quy định của phía nước ngoài tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác
tư pháp của Việt Nam lập hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam thông báo cho người có nghĩa vụ nộp chi phí thực hiện ủy thác tư
pháp của Việt Nam phải nộp toàn bộ chi phí thực hiện ủy thác và chi phí phục vụ
việc chuyển tiền ra nước ngoài tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi cơ quan có thẩm quyền ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam có trụ sở”
1.2 Nội dung và hình thức của Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam
1.2.1 Nội dung của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ
Khoản 2 Điều 105 BLTTDS 2015 quy định: Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án ủy thác yêu cầu Tòa án nhận ủy thác thực hiện
Quy định trên đã giúp cho Tòa án trong cả nước cơ bản ghi thống nhất nội dung trong quyết định ủy thác thu thập chứng cứ Tuy nhiên vấn đề đặt ra trong hoạt động thực tiễn là những nội dung đã quy định có phải là những nội dung cơ bản, Tòa án có quyền thêm những nội dung khác khi xét thấy cần thiết hay Tòa
án chỉ được quyền ghi các nội dung theo quy định pháp luật
Hiện nay, trong ngành Tòa án có hai quan điểm:
Quan điểm 1 cho rằng: Quy định của pháp luật là bắt buộc không ai có quyền thêm bớt Vì luật đã quy định rõ ràng, đầy đủ và có mẫu hướng dẫn nên các Tòa án khi ra quyết định ủy thác chỉ được phép ghi những nội dung được ghi nhận trong luật
Quan điểm 2: Ngược hoàn toàn quan điểm thứ nhất, quan điểm này cho rằng những nội dung quy định trong luật chỉ là nội dung bắt buộc phải có trong các quyết định ủy thác, còn tùy vào trường hợp, vụ việc cụ thể Tòa án có thể ghi thêm những nội dung khác để làm rõ hơn yêu cầu ủy thác thu thập chứng cứ
Tác giả đồng tình với quan điểm 2 Vì luật không thể dự liệu hết các tình huống xãy ra trong thực tế nên quy định của pháp luật chỉ khái quát nội dung mà
Trang 23các quyết định cần phải có, còn các nội dung khác thì tùy theo thực tế cần làm rõ những vấn đề gì chúng ta thêm vào để Tòa án nhận ủy thác hiểu và thực hiện dễ dàng yêu cầu ủy thác
Về việc ghi tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng, tại khoản 2 Điều 105 BLTTDS 2015 quy định: Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn Quy định này chưa đầy đủ vì trong nhiều vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng Đặc biệt, trường hợp Tòa án cần ủy thác thu thập chứng cứ để lấy lời khai người làm chứng, người liên quan mà không ghi họ tên, địa chỉ của họ là không hợp lý, Tòa án nhận ủy thác căn cứ vào địa chỉ nào để thực hiện các yêu cầu ủy thác
Để làm rõ thực tế các Tòa án đã ghi những nội dung gì trong các quyết định ủy thác, tác giả xin đưa ra một số ví dụ như sau:
Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 12/2015/QĐ-UTTA ngày 14 tháng 7 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An về “Chia tài sản chung” giữa nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim Hồng và bị đơn: Ông Nguyễn Văn Hoàng Tại quyết định trên, ngoài ghi các nội dung theo quy định, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa còn ghi thêm họ tên, địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phần tóm tắt nội dung vụ án
Tương tự, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 04/2014/QĐ-UTTA ngày 25 tháng 9 năm 2014 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn: Bà Võ Thị Phấn, Ông Lương Văn Lợi với bị đơn: ông Phan Văn Nơi Tại phần quyết định, sau khi yêu cầu các công việc cần ủy thác Tòa án trên đã tóm tắt nội dung vụ án
Trong khi đó có nhiều Tòa án không ghi tóm tắt nội dung vụ việc trong quyết định ủy thác
Tại Quyết định số 262/2016/QĐ-UTTA ngày 09 tháng 5 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về việc “Tranh chấp thừa
kế quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn: Bà Thái Cẩm Tú và các đồng nguyên đơn với bị đơn: Ông Thái Bá Tước Tại quyết định ủy thác trên, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời không có tóm tắt nội dung vụ án
Tương tự, Quyết định ủy thác số 56/2015/QĐUT-TA ngày 17 tháng 8 năm
2015 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về việc “Tranh chấp
Trang 24hợp đồng thuê nhà” giữa nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương Mai với bị đơn: Ông Phạm Bá Hùng, bà Nguyễn Thị Bích Thủy Tại quyết định trên, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai cũng không tóm tắt nội dung vụ án
Từ những quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trên thì có hai vấn đề cần đặt ra là:
Thứ nhất: có cần đưa nội dung vụ việc dân sự vào trong quyết định ủy thác hay không ?
Thứ hai: Ngoài nguyên đơn, bị đơn thì có ghi họ tên, địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quyết định hay không ?
Đối với việc ghi tên, địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì hầu như các Tòa đều thống nhất ghi vào trong quyết định nếu vụ việc dân sự có
họ tham gia Đối với nội dung của vụ án thì có Tòa ghi, có Tòa lại không ghi làm cho việc áp dụng pháp luật về vấn đề này tùy tiện, không thống nhất
Theo quy định của pháp luật, quyết định ủy thác không bắt buộc phải có nội dung vụ việc dân sự nên trong thực tế giải quyết các vụ việc dân sự, có những trường hợp Tòa án nhận ủy thác không thể thực hiện những công việc ủy thác đạt kết quả tốt, lý do Tòa án được ủy thác không biết nội dụng vụ việc nên khi thực hiện yêu cầu ủy thác Tòa án nhận ủy thác không biết những vấn đề trọng tâm cần hỏi, cần làm rõ, cần xác minh, cần thu thập dẫn đến những vấn đề cần hỏi thì không hỏi, những vấn đề không cần hỏi lại hỏi sâu Do đó, những công việc thực hiện của Tòa án nhận ủy thác không đáp ứng yêu cầu của Tòa án
ủy thác
Theo tác giả, việc ghi tóm tắt nội dung vụ án vào trong các quyết định ủy thác làm cho các yêu cầu ủy thác rõ ràng, dễ hiểu và cũng hạn chế được tình trạng Tòa án nhận ủy thác không biết thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ cần tập trung trọng tâm vào vấn đề gì Ngoài ra, nội dung ủy thác cần được ghi nhận
ở phần nào cũng cần phải hướng dẫn Vì có Tòa án ghi trước yêu cầu ủy thác, nhưng cũng có quyết định ghi tại phần yêu cầu ủy thác thu thập chứng cứ
Kiến nghị: Từ những phân tích trên, theo tác giả, tại khoản 2 Điều 105 Bộ
luật tố tụng dân sự quy định: “2 Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ
của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm
chứng (nếu có), tóm tắt nội dung vụ án, quan hệ tranh chấp, và những công việc
Trang 25cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ” Điều này sẽ giúp cho quyết định ủy thác thu thập chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, Tòa án nhận ủy thác dễ thực hiện các yêu cầu
ủy thác
1.2.2 Hình thức của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ
Về hình thức của quyết định của ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam đã có mẫu hướng dẫn thống nhất tại mẫu số 13-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ – HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Tại mẫu trên không có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, không có nội dung vụ việc dân sự Về
cơ bản mẫu trên vẫn không thay đổi so với mẫu số 05, ban hành kèm theo Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Như vậy, hướng dẫn như trên vẫn không sát với thực tiễn, không đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn và thể hiện quan điểm những quy định trong luật là quy định bắt buộc, không được thêm hay bớt đi Như phân tích ở phần nội dung quyết định ủy thác thu thập chứng cứ thì việc ghi nhận nội dung vụ việc dân sự vào trong quyết định là cần thiết, tuy nhiên ghi nhận nội dung trên vào đâu trong quyết định là một vấn đề thực tiễn đặt ra
Tác giả lấy lại 02 quyết định được ví dụ ở phần trên để làm rõ nội dung này:
Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 12/2015/QĐ-UTTA ngày 14 tháng 7 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An về “Chia tài sản chung” giữa nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim Hồng và bị đơn: Ông Nguyễn Văn Hoàng Tại quyết định trên, ngoài ghi các nội dung theo quy định, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa còn ghi thêm phần tóm tắt nội dung vụ án vào
kế tiếp sau khi ghi tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng
Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 04/2014/QĐ-UTTA ngày 25 tháng 9 năm 2014 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về việc
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn: bà Võ Thị Phấn, ông Lương Văn Lợi với bị đơn: ông Phan Văn Nơi Tại phần quyết định, sau khi yêu cầu các công việc cần ủy thác Tòa án trên đã tóm tắt nội dung vụ án
Như vậy, những quyết định trên đều có ghi nội dung vụ án vào trong quyết định ủy thác thu thập chứng cứ, nhưng thứ tự sắp xếp khác nhau Theo tác
Trang 26giả ghi tóm tắt nội dung vụ việc dân sự vào quyết định ủy thác thu thập chứng cứ
là cần thiết như đã nói ở phần nội dung quyết định ủy thác thu thập chứng cứ Nhưng ghi phần nội dung vụ việc dân sự ở phần nào trong quyết định để giúp cho quyết định liền mạch, dễ hiểu Tác giả đồng ý với cách ghi nội dung vụ án vào kế tiếp sau phần ghi những người tham gia tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Bởi vì, việc ghi nội dung như trên sẽ giúp cho trình tự ghi các nội dung của quyết định ủy thác hợp lý và chặt chẽ, không dài dòng, thể hiện được tính nghiêm trang của một văn bản tố tụng Tòa án nhận ủy thác sẽ nắm được toàn bộ nội dung vụ việc trước khi xem xét đến yêu cầu ủy thác, giúp cho Tòa án nhận ủy thác định hướng được đầy đủ, đúng đắn các công việc cụ thể cần thực hiện đối với yêu cầu ủy thác
Kiến nghị: Từ hướng dẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thác trong thực
tiễn dẫn đến việc ghi thêm nội dung quyết định ủy thác mổi Tòa ra khác nhau làm cho tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất Do đó, Tòa án nhân dân tối cao cần sửa mẫu quyết định ủy thác thu thập chứng cứ hướng dẫn cho Tòa án địa phương, trong quyết định ủy thác nên có phần tóm tắt nội dung vụ việc dân sự và nội dung tóm tắt được ghi ở trước yêu cầu ủy thác Theo tác giả, quyết định ủy thác thu thập chứng cứ cần sắp xếp theo trình tự gồm: Họ tên địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng (nếu có), tóm tắt nội dung vụ án, các yêu cầu ủy thác Điều này sẽ giúp cho quyết định ủy thác thu thập chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, Tòa án nhận ủy thác
dễ thực hiện việc ủy thác
Trang 27Kết luận chương 1
Chương này, tác giả đã đi vào tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành
về các biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ khác được dự liệu tại khoản 1 Điều
105 BLTTDS 2015, Tòa án nhận ủy thác trong lãnh thổ Việt Nam, chi phí của hoạt động ủy thác thác thu thập chứng cứ, nội dung và hình thức của quyết định
ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam Đối chiếu với thực tiễn hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ về các nội dung trên thông qua các quyết định ủy thác được Tòa án ban hành, thông qua những quan điểm khác nhau trong thực tiễn hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ Qua đó, quy định của pháp luật về ủy thác thu thập chứng cứ đang dần hoàn thiện và gần hơn với thực tiễn Tuy nhiên, quy định của pháp luật về các vấn đề trên khi được áp dụng vào trong thực tế còn vướng mắc, chưa hoàn thiện dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn còn nhiều cách hiểu khác nhau như là có sự đồng nhất hoạt động tống đạt các văn bản tố tụng với hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ, nhiều yêu cầu ủy thác không thực hiện được, thực hiện chậm hoặc gây khó khăn cho hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ do không quy định rõ ràng về chi phí ủy thác, về Tòa án nhận
ủy thác trong nước Trên cơ sở lý luận, tác giả có quan điểm rõ ràng về các vấn
đề đã nghiên cứu để giải quyết các vấn đề luật chưa hoàn thiện, chưa hiểu thống nhất Từ đó, tác giả đã đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ, Tòa án nhận ủy thác trong lãnh thổ Việt Nam, chi phí ủy thác thu thập chứng cứ, nội dụng và hình thức của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam để việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn đạt hiệu quả cao
Trang 28CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN ỦY THÁC THU THẬP CHỨNG CỨ 2.1 Trách nhiệm của chủ thể ủy thác thu thập chứng cứ
BLTTDS 2015 không quy định rõ ràng, cụ thể chủ thể ủy thác thu thập chứng cứ có trách nhiệm như thế nào trong hoạt động ủy thác nhưng thông qua các quy định tại BLTTDS 2015, Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng
12 năm 2012, Luật tương trợ tư pháp và Thông tư liên tịch số BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 thể hiện: Chủ thể ủy thác có các trách nhiệm xác định đúng địa chỉ đương sự, người làm chứng và nơi có chứng cứ cần thu thập; các yêu cầu ủy thác phải cụ thể, rõ ràng
12/2016/TTLT-2.1.1 Xác định đúng địa chỉ đương sự, người làm chứng, nơi có chứng
cứ cần thu thập
Nguyên đơn là người đầu tiên phải cung cấp địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khi khởi kiện tại Tòa án Nguyên đơn không cung cấp được hoặc cung cấp không đúng địa chỉ của bị đơn thì Tòa
án có quyền trả lại đơn khởi kiện12 Tương tự, bị đơn có yêu cầu phản tố, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải cung cấp nơi có chứng
cứ cần thu thập, địa chỉ người làm chứng, Nếu đương sự không cung cấp được chính xác địa chỉ của người làm chứng thì Tòa án sẽ không có cơ sở để xem xét yêu cầu của họ Do đó, xác định đúng địa chỉ của đương sự, người làm chứng có
ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động giải quyết vụ án, hoạt động chứng minh của đương sự, tạo điều kiện để Tòa án giải quyết nhanh chóng và chính xác vụ việc dân sự Thực tiễn, khi Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bị đơn có thay đổi nơi cư trú thì nhiều trường hợp nguyên đơn cung cấp địa chỉ của họ không chính xác do không biết chắc chắn địa chỉ, không tìm được địa chỉ của đương sự, đương sự không có nơi cư trú ổn định, cũng có khi nguyên đơn cố tình không cho Tòa án biết địa chỉ của họ
12
Điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015
Trang 29Ví dụ, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 262/2016/QĐ-UTTA ngày 09 tháng 5 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về “Dân sự” giữa nguyên đơn: Bà Thái Thị Tú cùng các nguyên đơn và bị đơn: Ông Thái Bá Tước Trong vụ án trên, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Thái Kim Tiếng, Thái Chí Phương, Thái Chí Tâm, Thái Mỹ Linh có địa chỉ ở tại số nhà 82/35, đường Nguyễn Hồng Đào, phường 14, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã dựa vào lời khai trên của nguyên đơn nên đã ra quyết định ủy thác cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh để lấy lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên nhưng Tòa án nhân dân quận Tân Bình có phiếu xác minh gởi đến Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xác định các đương sự trên không có thường trú, tạm trú, sinh sống tại địa chỉ như ủy thác Như vậy, việc ủy thác thu thập chứng cứ nhiều lúc gặp khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án khi không xác định được địa chỉ đương sự, người làm chứng
Kiến nghị: Từ thực tiễn trên, để hạn chế tình trạng các đương sự cung cấp
địa chỉ đương sự trong vụ án không chính xác, cung cấp qua loa sau khi Tòa án thụ lý vụ án, thì ngay từ khi thụ lý vụ án Tòa án yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ chứng minh địa chỉ của đương sự, người làm chứng, chứng cứ cần thu thập ở đâu như sổ hộ khẩu, đăng ký tạm trú hoặc xác nhận của chính quyền địa phương nơi có chứng cứ cần thu thập, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu Việc này là rất cần thiết, vì khi Tòa án chưa thụ lý vụ án thì tâm lý các đương sự thường sợ Tòa án không thụ lý đơn nên các đương sự rất tích cực cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, nhưng khi Tòa án đã thụ lý vụ án thì các đương sự phó mặc mọi việc cho Tòa án
2.1.2 Yêu cầu ủy thác phải rõ ràng
Tòa án ủy thác phải có trách nhiệm thể hiện yêu cầu ủy thác rõ ràng, cụ thể nhằm giúp cho chủ thể nhận ủy thác hiểu rõ toàn bộ yêu cầu ủy thác Trong thực tiễn, khi ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ một số Thẩm phán thể hiện yêu cầu ủy thác không rõ ràng, cụ thể, đầy đủ làm cho việc ủy thác phải tiến hành nhiều lần hoặc chờ văn bản bổ sung làm rõ của người yêu cầu ủy thác
Trang 30* Thứ nhất: Đối với hoạt động ủy thác lấy lời khai của đương sự
Đương sự là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp trong
vụ án Lời trình bày của các đương sự có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự Bộ luật tố tụng dân sự không bắt buộc lấy lời khai họ trong mọi vụ việc dân sự, chỉ khi đương sự không thể tự viết bản tự khai hoặc có bản
tự khai nhưng không đầy đủ, rõ ràng thì Tòa án lấy lời khai của đương sự13 Hoạt động lấy lời khai của đương sự có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết toàn diện
vụ việc dân sự Tuy nhiên, người nhận ủy thác là người không được nghiên cứu
hồ sơ, không biết cần phải hỏi theo hướng nào để lời khai được đầy đủ Do đó yêu cầu ủy thác phải rõ ràng, đầy đủ
Ví dụ: Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 12/2016/QĐ-UTTA ngày
14 tháng 7 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An về
“Chia tài sản chung” giữa nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim Hồng và bị đơn: Ông Huỳnh Văn Hoành và ông Huỳnh Văn Dẫn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Tại quyết định trên, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau lấy lời khai ông Dẫn với nội dung: Ông Dẫn có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì không? Có yêu cầu Tòa
án giải quyết vắng mặt không? Nếu có yêu cầu xin vắng mặt thì phải làm đơn Nội dung hỏi người có liên quan trên là không đầy đủ Vì nếu ông Dẫn có yêu cầu độc lập thì phải làm đơn yêu cầu và nộp tiền tạm ứng án phí Trường hợp trên, nếu ông Dẫn có yêu cầu chia tài sản chung, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa phải ủy thác ít nhất một lần nữa Như vậy, khi lấy lời khai các đương sự như thế nào là đủ, rõ ràng cần có hướng dẫn chung, thống nhất
Kiến nghị: Để tránh việc lấy lời khai đương sự không đầy đủ, không rõ
ràng Tòa án nhân dân tối cao cần có nghị quyết hướng dẫn rõ nội dung cần lấy lời khai của đương sự, cụ thể:
Nguyên đơn, Tòa án cần làm rõ yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn, nội dung tranh chấp, lý do yêu cầu, yêu cầu đó có liên quan những người nào khác không, các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ
13
Điều 98 BLTTDS 2015
Trang 31Bị đơn có ý kiến như thế nào đối với yêu cầu của nguyên đơn (đồng ý hay không đồng ý ở những điểm nào), trình bày của nguyên đơn đúng sai chỗ nào, có yêu cầu phản tố không, có chứng cứ nào phản đối yêu cầu của nguyên đơn không
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: làm rõ liên quan như thế nào, có yêu cầu độc lập hay không, có yêu cầu gì về quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự không
Để tránh tình trạng phải ủy thác nhiều lần do trong quá trình lấy lời khai thì phát sinh những tình tiết mới, Tòa án ủy thác phải ghi thêm trong quyết định
ủy thác nội dung: “Trong trường hợp lời khai đương sự có phát sinh tình tiết mới
có liên quan đến vụ việc dân sự ngoài yêu cầu ủy thác thì yêu cầu Tòa án được
ủy thác hỏi làm rõ tình tiết trên”
* Thứ hai: Đối với yêu cầu ủy thác thẩm định tại chỗ và định giá
Hoạt động thẩm định tại chỗ là hoạt động nhằm ghi nhận lại kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường14 Như vậy, hoạt động thẩm định tại chỗ là hoạt động nhằm ghi nhận lại toàn bộ tình trạng tài sản cần thẩm định về kích thước, hình dạng, hiện trạng, diễn biến sử dụng của tài sản nên việc ghi nhận phải rõ ràng, đầy đủ Hoạt động ủy thác thẩm định tại chỗ là một biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng, không thể thiếu trong các vụ việc dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, hoặc các tài sản khác không tiện di chuyển đến Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động này là căn cứ để định giá tài sản trong trường hợp vụ án cần phải định giá, là cơ sở để Tòa án tuyên một bản án thi hành được trong thực tiễn, có nhiều vụ án kết quả thẩm định là chứng cứ quan trọng được đưa vào các đánh giá để chấp nhận hoặc bác yêu cầu của đương sự Ngoài ra, tên gọi biện pháp này là có sự không đồng nhất với nhau Về tên gọi: Tại Điều 101 BLTTDS 2015 ghi là xem xét, thẩm định tại chỗ, trong khi tại khoản 1 Điều 105 BLTTDS 2015 thì ghi nhận là thẩm định tại chỗ Thực tế xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định tại chỗ là một biện pháp nên Bộ luật tố tụng dân sự nên thống nhất một tên gọi cho phù hợp Theo tác giả thẩm định tài sản đã bao hàm cả nghĩa xem xét tài sản nên sửa tên gọi tại Điều 101 BLTTDS 2015 là thẩm định tại chỗ là phù hợp
14
Khoản 2 Điều 101 BLTTDS 2015
Trang 32Hoạt động định giá là hoạt động nhằm xác định giá tài sản đang tranh chấp Việc xác định giá trước tiên theo sự thỏa thuận của các đương sự về giá, về
tổ chức thẩm định giá Tòa án ra quyết định định giá và thành lập hội đồng định giá khi có đương sự yêu cầu; khi các đương sự không thỏa thuận được giá tài sản; không thỏa thuận được tổ chức thẩm định giá hoặc các đương sự thỏa thuận giá thấp hơn giá thị trường nhằm trốn nghĩa vụ thuế với Nhà nước hoặc người thứ ba; có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá15
Cả hai biện pháp có ý nghĩa to lớn trong hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án trong trường hợp tài sản ở ngoài phạm vi quản lý của Tòa
án đang thụ lý, giải quyết vụ án
Tuy nhiên, kết quả ủy thác của hoạt động thẩm định tại chỗ và định giá này còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó: Tòa án ủy thác không cung cấp đầy đủ giấy tờ, tài liệu liên quan đến tài sản cần thẩm định, nhiều trường hợp yêu cầu ủy thác không rõ ràng gây khó khăn cho chủ thể nhận ủy thác
Ví dụ, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 01/2016/QĐ-UTTA ngày
14 tháng 6 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về
“Hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn: Bà Đặng Thị Vân và bị đơn: Ông Bùi Xuân Nghiêm Tại quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tiến hành biện pháp xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản là nhà và đất có diện tích 76
m2, tọa lạc tại Hẽm 414, đường Nguyễn Trãi, khóm 6, phường 9, thành phố Cà Mau Yêu cầu ủy thác như trên, không thể hiện rõ tài sản nhà đất được thẩm định
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay giấy tờ, tài liệu liên quan đến phần đất, đất đó ai đang sử dụng thuộc thửa, tờ bản đồ nào, do ai đứng tên Vì tại hẽm
414, đường Nguyễn Trãi, khóm 6, phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau có nhiều nhà nên không thể xác định được thẩm định nhà và đất nào Do điều này nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau không thể thực hiện được việc ủy thác thẩm định tại chỗ Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 02/2016/QĐ-UTTA ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về “Hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và bị đơn: Bà Trần Bích Liễu
15
Các khoản 1,2,3 Điều 104 BLTTDS 2015
Trang 33Tại quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trên thì yêu cầu ủy thác không rõ ràng, khó thực hiện, cụ thể: “- Hiện trạng tài sản thế chấp là 02 quyền sử dụng đất nêu trên hiện có giống thời điểm thế chấp, theo hợp đồng thế chấp số 0074/11/HĐBL ngày 05 tháng 10 năm 2011 không?” Yêu cầu ủy thác như trên không hiểu là thẩm định tại chỗ hay là xác minh các tình tiết của vụ án Vì xem xét, thẩm định tại chỗ thực chất là quan sát và ghi nhận lại hiện trạng đối tượng cần xem xét Trong quyết định trên yêu cầu thể hiện rõ hiện trạng tài sản thế chấp hiện nay có giống với thời điểm thế chấp Vấn đề đặt ra là giống là giống về vấn đề gì Có cần thể hiện rõ kích thước, diện tích gì không, có cần xác định tài sản trên đất do
ai xây dựng không
Ví dụ, Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 01/2016/QĐ-UTTA ngày
14 tháng 6 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về
“Hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn: Bà Đặng Thị Vân và bị đơn: Ông Bùi Xuân Nghiêm Tại quyết định ủy thác thu thập chứng cứ trên không xác định rõ tài sản nhà đất được định giá là tài sản nào, ở đâu nên Tòa án nhận ủy thác không thể thực hiện được việc ủy thác định giá tài sản
Như vậy, trong thực tiễn giải quyết án, nhiều Thẩm phán vẫn chưa thể hiện cụ thể, rõ ràng yêu cầu ủy thác thu thập chứng cứ làm cho chủ thể nhận ủy thác khó thực hiện hoặc phải yêu cầu chủ thể ủy thác giải thích, bổ sung yêu cầu
ủy thác
Kiến nghị: Theo tác giả, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết
hướng dẫn nội dung chính của các quyết định ủy thác thu thập chứng cứ thẩm định tại chỗ, đánh giá tài sản theo hướng:
Đối với quyết định ủy thác thẩm định tại chỗ phải có các nội dung: Thẩm định tài sản gì, đặc điểm, chất lượng như thế nào, tài sản đang ở đâu, do ai đang trực tiếp quản lý, sử dụng, quá trình canh tác, sử dụng, cải tạo tài sản kèm theo bản phô tô toàn bộ giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất có liên quan đến việc định giá Yêu cầu ủy thác cụ thể, rõ ràng, cùng với các tài liệu kèm theo sẽ giúp Tòa án nhận ủy thác xác định đúng tài sản cần xem xét thẩm định
Đối với quyết định ủy thác thu thập chứng cứ biện pháp định giá tài sản, yêu cầu ủy thác phải có các nội dung: Định giá tài sản gì, kích thước, diện tích,