Từ đó, nhận thức tội phạm công nghệ thông tin chỉ bao gồm những hành vi được thực hiện và gây hậu quả trên môi trường thế giới ảo do thành tựu khoa học công nghệ thông tin mang lại như:
Trang 1KHOA LUẬT HÌNH SỰ
HỒNG NGỌC MAI PHƯƠNG MSSV: 0855030170
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2008 - 2012 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TRẦN THANH THẢO
Giảng viên Khoa Luật Hình Sự
TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này với đề tài “Tội phạm công nghệ thông tin trong
Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là công trình nghiên
cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy Trần Thanh Thảo Nội dung đề tài không sao chép từ bất cứ tài liệu hay đề tài khoa học của tác giả khác Các số liệu, dẫn chứng được đưa ra trong đề tài đều đúng và xác thực với tài liệu tác giả thu thập trong quá trình nghiên cứu
Tác giả luận văn
Hồng Ngọc Mai Phương
Trang 3FBI Federal Bureau of Investigation – Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ
IC3 Internet Crime Complaint Center – Trung tâm khiếu kiện về tội phạm
Internet của Mỹ
IMF International Monetary Fund – Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ITU International Telecommunication Union – Liên minh Viễn thông
Quốc tế
NASDAQ National Association of Securities Dealers Automated Quotation
System – sàn giao dịch chứng khoán điện tử của Mỹ
VNISA Vietnam Information Safety Association – Hiệp hội An toàn thông
tin Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN 1
1.1 KHÁI QUÁT TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1
1.1.1 Khái niệm tội phạm công nghệ thông tin 1
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm công nghệ thông tin 6
1.1.3 Điểm khác biệt giữa tội phạm công nghệ thông tin với tội phạm thông thường 9
1.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 11
1.2.1 Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 224) 11
1.2.2 Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225) 13
1.2.3 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226) 15
1.2.4 Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a) 17
1.2.5 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b) 19
1.3 NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2009 21
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 29
2.1 THỰC TIỄN TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 29
2.1.1 Thực trạng tội phạm công nghệ thông tin ở một số nước trên thế giới 29
2.1.2 Thực trạng tội phạm công nghệ thông tin tại Việt Nam 36
2.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 45
Trang 52.2.1 Đánh giá các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 về tội phạm công nghệ thông tin 45 2.2.2 Đề xuất hoàn thiện 49
KẾT LUẬN
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, nhân loại đã và đang chứng kiến những thành tựu rực rỡ của khoa học công nghệ thông tin Sự tiến bộ về công nghệ thông tin đã làm cho khoảng không gian bao la dường như được thu nhỏ lại, thế giới càng hiểu biết nhau hơn và góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển Tại Việt Nam, dù chỉ mới phát triển trong vài thập niên gần đây nhưng lĩnh vực công nghệ thông tin đã có những bước tiến như vũ bão, có tác động sâu sắc và là nguồn động lực quan trọng của sự phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Các ứng dụng của công nghệ thông tin ngày càng được phổ biến rộng rãi trong đời sống xã hội, bọn tội phạm càng dễ dàng lợi dụng, sử dụng những thành tựu này để thực hiện những hành
vi phạm tội nhằm vào các lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế Tình hình tội phạm công nghệ thông tin đang diễn biến phức tạp với những thủ đoạn cực kỳ tinh vi, có tổ
chức, gây thiệt hại đáng kể đến nền kinh tế cũng như an ninh trật tự xã hội của đất nước Trong thời gian gần đây, tội phạm này đang có xu hướng biến tướng, người
thực hiện tội phạm không đơn thuần chỉ mong muốn khẳng định bản thân mà đã chuyển sang mục đích kiếm tiền, điều này là đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh thương mại điện tử đang phát triển nhanh như hiện nay
Khi nhu cầu của con người ngày càng tăng cao, thúc đẩy công nghệ cũng phải phát triển để đáp ứng được nhu cầu đó, các thiết bị số ra đời với nhiều tính năng ưu việt, có khả năng kết nối, tương tác lẫn nhau, từ kết nối cố định đến kết nối
di động đã và sẽ trở thành một hiện tượng lan rộng toàn cầu, mang lại cho người dùng nhiều tiện ích bởi khả năng sử dụng tính tương tác gần như mọi lúc mọi nơi trên mọi lĩnh vực (sử dụng cho cá nhân, gia đình, công việc đến giải trí) Điều này làm gia tăng nguy cơ tấn công của vi rút đối với thiết bị số Sau máy vi tính, thiết bị
số đã trở thành mục tiêu tấn công mới của nhóm tội phạm công nghệ thông tin
Khái niệm tội phạm công nghệ thông tin (Crime Information Technology) là khái niệm còn khá mới mẻ không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước trên thế giới Từ việc sử dụng thuật ngữ, việc đưa ra khái niệm, đặc điểm đến việc
Trang 7quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào cần phải tội phạm hoá cũng còn
có nhiều ý kiến không đồng nhất Vì vậy, một yêu cầu cấp thiết đƣợc đặt ra đối với
cơ quan lập pháp Hình sự là cần phải hoàn thiện các quy phạm pháp luật phù hợp đối với loại tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, hạn chế những kẽ hở về pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
Vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tội phạm công nghệ thông tin trong
Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu với
mong muốn tìm hiểu quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm công nghệ thông tin, nêu ra những điểm thiếu sót nhất định của pháp luật hiện hành, trên
cơ sở đó đƣa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa và đấu tranh với loại tội phạm này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Do loại hình tội phạm công nghệ thông tin còn khá mới nên ở Việt Nam hiện nay không có nhiều công trình nghiên cứu đề tài này Tài liệu chuyên khảo gồm:
2007; “Tội phạm máy tính - một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” của
thông tin nhƣng chỉ mang tính chất thời sự, đƣa tin không phân tích nhiều ở khía cạnh pháp lý Hầu nhƣ chƣa có công trình nghiên cứu tiếp cận chuyên sâu và toàn diện về tội phạm công nghệ thông tin Theo tác giả, một đề tài mang tính mới và cấp thiết nhƣ vậy, cần có thêm sự nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa với nhiều góc độ khác nhau đối với nhóm tội phạm thời đại này
Trang 83 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là l
giá những ưu điểm và hạn chế trong các quy định của pháp luật về nhóm này Trên
cơ sở đó, tác giả đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm công nghệ thông tin
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung vào phân tích khía cạnh những
lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm công nghệ thông tin
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
–
5 Các vấn đề cần giải quyết
Trang 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cùng với sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin, các loại tội phạm trong lĩnh vực này có xu hướng diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng Tuy nhiên, như đã phân tích, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhóm tội phạm mới này còn quá ít, cho đến nay thì vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được nghiên cứu toàn diện Vì vậy, đề tài đã nghiên cứu, khảo sát, đánh giá làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn tội phạm công nghệ thông tin Từ đó tìm
ra giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội công nghệ thông tin Bên cạnh đó, với công trình nghiên cứu này, tác giả hy vọng rằng sẽ thu hút sự quan tâm của dư luận, của các nhà nghiên cứu Với mục đích cuối cùng là tìm ra các giải pháp, tổ chức thực hiện các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự trong lĩnh vực công nghệ thông tin, góp phần ổn định nền kinh tế, giữ vững an ninh quốc gia Và kết quả khóa luận sẽ trở thành tài liệu tham khảo bổ ích cho các bạn sinh viên và những đối tượng có nhu cầu tìm hiểu về tội phạm công nghệ thông tin
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn gồm có 02 chương, cụ thể như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về tội phạm công nghệ thông tin
Chương II: Thực tiễn tội phạm công nghệ thông tin và phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 KHÁI QUÁT TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1.1 Khái niệm tội phạm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin được hiểu là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và
trao đổi thông tin số [9] Tội phạm công nghệ thông tin có thể xác định là hành vi
phạm tội có liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin Ngày nay, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet và thiết bị
số đã tạo cơ hội cho nhiều người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Sự phát triển của công nghệ và liên lạc trực tuyến không chỉ trợ giúp cho những hành vi bất hợp pháp của bọn tội phạm ngày càng tinh vi mà còn hình thành nên các hành vi phạm tội mới rất đa dạng Đối tượng tấn công của bọn tội phạm không chỉ dừng ở máy tính, mạng máy tính, mạng Internet mà còn mở rộng sang mạng viễn thông và các thiết bị số Từ đó tội phạm công nghệ thông tin dần hình thành
Việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với tội phạm công nghệ thông tin đã được quan tâm từ những năm 70 của thế kỷ trước Năm 1977, Thượng nghị sĩ Ribikoff đã
đệ trình Nghị viện Hoa Kỳ dự luật về tội phạm công nghệ thông tin – lúc bấy giờ
mới chỉ gọi là tội phạm máy tính Tuy nhiên, dự luật này chưa được chấp nhận [31]
Năm 1983, khối OECD đã thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu về tội phạm liên quan đến máy tính để đưa ra các đề xuất sửa đổi pháp luật hình sự của các nước thành viên Năm 1989, Hội đồng châu Âu cũng thông qua bản đề xuất danh mục các tội phạm được coi là tội phạm máy tính Năm 1997, các nước thành viên của G8 cũng đã thể hiện mối quan tâm đến vấn đề này bằng cách thông qua các nguyên tắc phòng, chống tội phạm máy tính Đến năm 2001, Hội đồng châu Âu đã thông qua Công ước về tội phạm mạng
Trên thế giới, các quốc gia như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh, Bỉ, Canada, Nhật Bản… đã đi tiên phong trong việc
Trang 11Một khái niệm khác về tội phạm công nghệ thông tin do Bộ Tƣ pháp Hoa Kỳ đƣa ra là “
”
[29-tr.7] Với khái niệm này thì tội phạm công nghệ thông tin đƣợc hiểu theo phạm
vi quá rộng, bất cứ tội phạm nào cũng có thể đƣợc xếp vào loại tội phạm công nghệ thông tin vì chỉ cần trong quá trình điều tra các điều tra viên sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin cũng bị coi là hành vi phạm tội trong lĩnh vực này Phạm vi của khái niệm quá rộng nên gặp rất nhiều vấn đề khó khăn trong việc cụ thể hóa các hành vi phạm tội cụ thể và xác định tội danh cụ thể cho mỗi hành vi
Do còn tồn tại những quan điểm khác nhau về
nhóm này Trong khuôn khổ cuộc họp lần thứ 10 của Đại hội đồng Liên Hiệp
10
:
Trang 12công nghệ thông tin Theo
đó:
“
Khái niệm này có thể được hiểu là loại
tội phạm mới có quan hệ trực tiếp đến máy tính, mạng máy tính, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại cho người sử dụng Từ đó, nhận thức tội phạm công nghệ thông tin chỉ bao gồm những hành vi được thực hiện và gây hậu quả trên môi trường thế giới ảo
do thành tựu khoa học công nghệ thông tin mang lại như:
- Hành vi phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số gây hậu quả nghiêm trọng;
- Hành vi tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết
- Hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet
những thông tin trái với quy định của pháp luật;
- Hành vi mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
Trang 13- Hành vi cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số
của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động
của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ;
- Hành vi sao chép bất hợp pháp chương trình phần mềm
Phương pháp tiếp cận theo phạm vi hẹp có ưu điểm là định rõ tội danh cần xử lý nhưng lại có nhược điểm là rất dễ bỏ lọt tội phạm, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin đang phát triển với tốc độ như hiện nay
Thứ hai, theo nghĩa rộng, tội phạm công nghệ thông tin được hiểu như sau:
“Tội phạm công nghệ thông tin
, phương tiện nhằm xâm phạm đến lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, an toàn xã hội”
Tội phạm công nghệ thông tin theo nghĩa này là rất rộng, bao gồm nhiều loại hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với sự trợ giúp của má
, phương tiện để
Khái niệm này tuy chưa phải là một khái niệm hoàn chỉnh, còn hết sức chung chung và sơ sài tuy nhiên nó có ý nghĩa
quan trọng thể hiện ở việc lần đầu tiên khái niệm thế nào là tội phạm công nghệ
thông tin đã được các nước trên thế giới thảo luận và đi tới nhất trí Khái niệm trên
thừa nhận tội phạm công nghệ thông tin bao gồm cả các tội phạm mới hình thành trong môi trường của công nghệ thông tin và cả những tội phạm truyền thống nhưng được thực hiện với sự giúp đỡ của các công nghệ thông tin mới
Tuy nhiên, tại thời điểm cuộc họp lần thứ 10 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc
Trang 14bị số chưa phổ biến trên phạm vi toàn cầu như hiện nay Vì vậy, mạng viễn thông
và thiết bị số chưa được đề cập trong khái niệm tội phạm công nghệ thông tin Giờ đây, khái niệm tội phạm công nghệ thông tin theo nghĩa rộng có thể được hiểu là:
“Tội phạm công nghệ thông tin
, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số như là công cụ, phương tiện nhằm xâm phạm đến lợi ích chính đáng của
cá nhân, pháp nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, an toàn xã hội.”
(Ví dụ như: BLHS Cộng hòa Liên Bang Nga; Luật chống lạm dụng má
Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là tội phạm công nghệ thông tin, chỉ liệt kê những hành vi được xem là tội phạm công nghệ thông tin, gồm các hành vi: Phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây
, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b) Nhưng dựa vào những
đặc điểm về tội phạm theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam, khái niệm “tội
phạm công nghệ thông tin” có thể được đưa ra như sau:
“Tội phạm công nghệ thông tin là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hay vô ý, xâm phạm đến hoạt động ổn định vốn có của mạng máy tính, mạng
Trang 15viễn thông, mạng Internet và thiết bị số đồng thời xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, an toàn công cộng với việc sử dụng máy tính, mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet và thiết bị số như là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi”
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm công nghệ thông tin
- Khách thể của tội phạm
Trên cơ sở khái niệm đã nêu ở phần trên, khách thể của tội phạm công nghệ
thông tin có thể được chia thành hai loại:
+ Thứ nhất, tội phạm công nghệ thông tin xâm phạm, làm ảnh hưởng đến
hoạt động ổn định vốn có của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet và thiết bị số Sự xâm phạm ở đây có thể được hiểu là việc chiếm đoạt, làm hỏng hóc,
sai lệch… các thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet và thiết bị số; việc xâm phạm đến sự ổn định vốn có của hoạt động vận hành, khai thác, sử dụng máy tính và mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị
số, và hoạt động khai thác thông tin trên mạng và trong máy tính
+ Thứ hai, tội phạm nghệ thông tin còn sử dụng máy tính, mạng máy tính,
mạng viễn thông, mạng Internet và thiết bị số như là một công cụ, phương tiện để thực hiện các hành vi xâm phạm đến lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, an toàn xã hội Đây là khách thể có phạm
vi rất rộng, liên quan đến việc tội phạm sử dụng thành tựu của công nghệ thông tin
để thực hiện các hành vi phạm tội khác nhau, xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội khác nhau Bằng những kỹ thuật khoa học mới, các tội phạm này có thể gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng về nhiều mặt cho hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và đời sống xã hội không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định
Trang 16- Mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi phạm tội
Các hành vi của công nghệ thông tin ngày càng diễn biến phức tạp, không ngừng thay đổi cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin Theo quy định của BLHS nước ta thì có bốn nhóm hành vi xâm phạm, làm ảnh hưởng đến hoạt động
ổn định vốn có của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet và thiết bị số như: Hành vi phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số; Hành vi cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số trái với quy định của Pháp luật; Hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet trái với quy định của Pháp luật; Hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác
Ngoài ra, trong BLHS hiện hành cũng đã quy định một nhóm hành vi sử dụng máy tính, mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet và thiết bị số như là công
cụ, phương tiện thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b)
+ Hậu quả của hành vi phạm tội:
Các hành vi được quy định tại Điều 224, Điều 225, Điều 226 BLHS chỉ cấu thành tội phạm khi gây hậu quả nghiêm trọng Đối với Điều 226a và Điều 226b thì chỉ cần hiện một trong các hành vi luật định thì tội phạm coi như tội phạm hoàn thành mà không cần dấu hiệu hậu quả
Dấu hiệu hậu quả của tội phạm công nghệ thông tin là một vấn đề khá phức tạp
Có hai dạng thiệt hại: thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất Thiệt hại vật chất được thể hiện thông qua sự hư hỏng, mất mát dữ liệu, thông tin, sự đình trệ hoạt động của mạng máy tính Thiệt hại phi vật chất không thể xác định được bằng các đại lượng thông thường, đó là các thiệt hại về các mặt an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Thông thường, các hành vi của tội phạm công nghệ thông tin phải gây
Trang 17ra những hậu quả thiệt hại nhất định thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự tr.11-12]
[23 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm công nghệ thông tin được thực hiện với lỗi cố ý (Điều 224, Điều 226, Điều 226a, Điều 226b); lỗi vô ý và lỗi cố ý (Điều 225)
Các yếu tố về động cơ, mục đích phạm tội của nhóm tội phạm công nghệ thông tin thường không là dấu hiệu bắt buộc của loại tội phạm này mà yếu tố quan trọng nhất để xác định tội phạm này là hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại Tuy nhiên, riêng đối với tội phạm được quy định tại Điều 226a và Điều 226b thì mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Tội phạm tại Điều 226a chỉ
bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người vi phạm nhằm chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ Hành vi sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 226b) chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người vi phạm nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể tội phạm công nghệ thông tin là những cá nhân đủ độ tuổi theo luật
định và có năng lực trách nhiệm hình sự Theo BLHS hiện hành thì công dân Việt
Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội; hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 3 Điều 224, khoản 3 Điều 225, khoản 3 Điều 226a, khoản 3 và 4 Điều 226b)
có năng lực trách nhiệm hình sự
Trang 181.1.3 Điểm khác biệt giữa tội phạm công nghệ thông tin với tội phạm thông thường
Qua những phân tích đặc điểm của tội phạm công nghệ thông tin, tựu trung lại
có thể thấy bốn đặc điểm khác biệt cơ bản của tội phạm công nghệ thông tin so với tội phạm thông thường như sau:
- Thứ nhất, một đặc điểm khác biệt giữa nhóm tội phạm công nghệ thông tin
và tội phạm thông thường là ở vai trò của mạng máy tính, mạng Internet, mạng viễn thông và các thiết bị số có liên quan đến quá trình thực hiện tội phạm Mạng máy tính, mạng Internet, mạng viễn thông và các thiết bị số vừa có thể là đối tượng của tội phạm, vừa có thể là môi trường và công cụ đắc lực để thực hiện hành vi phạm tội
- Thứ hai, chủ thể của nhóm tội phạm công nghệ thông tin hầu hết là những người thông minh, những người có tri thức và am hiểu về công nghệ mới nên hầu hết người phạm tội thường thành công trong việc thực hiện hành vi phạm tội và gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng Chủ thể của nhóm tội phạm này thường là những người trẻ tuổi và không có tiền án
- Thứ ba, hậu quả của nhóm tội phạm công nghệ thông tin thường rất nghiêm trọng Khi các hoạt động quản lý xã hội được máy tính hóa, hệ thống mạng, hệ thống thông tin được phổ biến ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thì hậu quả
do tội phạm công nghệ thông tin gây ra có thể nhanh chóng ảnh hưởng tối hầu hết các lĩnh vực của đời sống và gây ra những hậu quả khôn lường về kinh tế - xã hội Theo đánh giá của Ủy ban châu Âu (EC), mỗi ngày trên toàn cầu có hơn 1 triệu nạn nhân của tội phạm tin học và tổng số thiệt hại do chúng gây ra đối với thế giới lên
tới 388 tỷ USD mỗi năm [39] Theo báo cáo về tội phạm trên mạng của hãng thiết
kế phần mềm diệt vi rút Symantec (Mỹ), chỉ riêng năm 2010, có 431 triệu người
trên toàn cầu trở thành nạn nhân của tội phạm công nghệ thông tin [52] Tại Việt
Nam, trong năm 2009, chỉ tính riêng hơn 40 vụ bị phanh phui, thiệt hại mà nhóm tội
phạm này gây ra đã lên đến hàng ngàn tỷ đồng [56] Thiệt hại do lộ thông tin bí mật
Trang 19của các doanh nghiệp, tổ chức, các vụ tấn công hệ thống công nghệ thông tin, khai thác cơ sở dữ liệu thông tin khách hàng của các tổ chức, doanh nghiệp thì không thể thống kê được
- Thứ tư, các hành vi phạm tội của nhóm tội phạm này thường rất tinh xảo do: Tội phạm công nghệ thông tin thường không để lại các dấu vết của sự phá hủy tồn tại dưới dạng vật thể Người phạm tội chỉ thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian rất ngắn, chúng có thể thực hiện hành vi phạm tội chỉ trong vòng một phần nghìn, thậm chí một phần triệu giây bằng các loại máy tính, thiết bị số có tốc độ xử lý siêu tốc Và người phạm tội không bị hạn chế về thời gian, không gian, hành vi phạm tội
có thể thực hiện ở bất cứ khi nào, bất cứ đâu, thậm chí từ một nơi rất xa hiện trường hoặc từ nước ngoài Điều này là cho việc điều tra thu thập dấu vết đối với loại tội phạm này là cực kỳ khó khăn, bởi vì, người phạm tội có thể xóa bỏ hoàn toàn các dấu vết của hành vi phạm tội bằng chương trình xóa dấu vết đã được đặt sẵn khi các
lệnh phạm tội được thực hiện [37]
Ngoài bốn điểm khác biệt cơ bản trên, tội phạm công nghệ thông tin còn có một
số điểm khác biệt so với tội phạm thông thường như: tính không biên giới của loại tội phạm này, tính chất ngày càng tăng về số lượng và hậu quả, tinh vi về cách thức tiến hành cùng với sự phát triển công nghệ thông tin…
Tóm lại, tội phạm công nghệ thông tin là một nhóm tội phạm mới hình thành
trong quá trình phát triển của cuộc cách mạng công nghệ thông tin vào cuối thế kỷ
XX và được dự báo là sẽ phát triển rất nhanh vào thể kỷ XXI Hầu hết các nước trên thế giới đã và đang ban hành những quy phạm pháp luật hình sự để ngăn ngừa và trừng trị nhóm tội phạm này Từ BLHS năm 1999 cho thấy tội phạm công nghệ thông tin đã được tội phạm hoá ở nước ta và đã sửa đổi, bổ sung một số hành vi phạm tội mới được hình sự hóa trong BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
Để công tác lập pháp đạt hiệu quả, các nghiên cứu có tính chất lý luận nền tảng về khái niệm, đặc điểm của nhóm tội phạm mới về công nghệ thông tin là hết sức cần thiết, cần được tiếp tục đầu tư nhiều hơn nữa trong thời gian tới
Trang 201.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung được thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 nhằm sửa đổi và bổ sung một số điều BLHS năm 1999, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2010, đã quy định nhóm tội phạm công nghệ thông tin như sau:
1.2.1 Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 224)
Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số được hiểu là hành vi cố
ý phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số bằng các phương thức khác nhau, gây ra hậu quả nghiêm trọng
-Khách thể của tội phạm:
Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số xâm hại đến sự an toàn trong hoạt động của hệ thống máy tính, qua đó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân, không chỉ giới hạn trong phạm vi của một quốc gia
Đối tượng bị xâm hại của tội phạm này bao gồm: Mạng máy tính là hệ thống
các máy tính được kết nối với nhau qua đường truyền tin để có thế trao đổi thông tin
và dùng chung chương trình dữ liệu [15-tr.537]; Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị
viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn
thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông [11]; Mạng Internet là hệ thống gồm các mạng
máy tính được kết nối với nhau trên phạm vi toàn thế giới để thực hiện các dịch vụ
Trang 21truyền thông dữ liệu (như: tìm đọc các thông tin từ xa, truyền các tệp tin, thư tín
điện tử và các nhóm thông tin) [15-tr.538]; Thiết bị số là thiết bị điện tử, máy tính,
viễn thông, truyền dẫn, thu sóng vô tuyến và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để
sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [9]
-Mặt khách quan của tội phạm:
Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện ở hành vi phát tán vi
rút, chương trình tin học có tính năng gây thiệt hại cho hoạt động của mạng máy
tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số:
+ Phát tán vi rút có tính năng gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số là hành vi lan truyền các vi rút thông qua mạng máy vi tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số;
+ Phát tán chương trình tin học có tính năng gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số là hành vi lan truyền các chương trình tin học thông qua các sản phẩm phần mềm
Cần lưu ý rằng: Hành vi cố ý phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại này bị xử lý về mặt hình sự không phụ thuộc vào ai là người đã sản xuất ra
vi rút, chương trình tin học Trong đó: Vi rút máy tính là chương trình máy tính có khả năng lây lan, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép,
sửa đổi, xóa bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị số [9]; Phần mềm là chương trình
máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết
bị số thực hiện chức năng nhất định [9]
Thứ hai, thiệt hại nghiêm trọng xảy ra là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội
phạm này Hành vi cấu thành tội phạm khi gây hậu quả nghiêm trọng Hậu quả
nghiêm trọng có thể là một trong những trường hợp sau [16-tr.412]: Rối loạn hoạt
động của máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số; phong tỏa các dữ liệu của máy tính, mạng Internet; làm biến dạng các dữ liệu của máy tính; hủy hoại
Trang 22các dữ liệu của máy tính; các hậu quả khác đối với mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
Thứ ba, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm theo Điều 224
này cần xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả nghiêm trọng xảy ra
Thứ tư, tội phạm thường hoàn thành từ thời điểm xảy ra thiệt hại nghiêm trọng
-Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội này có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1 và
2 Điều 224) hoặc từ 14 tuổi trở lên (khoản 3 Điều 224) có năng lực trách nhiệm hình sự
-Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Động cơ, mục đích phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm này
1.2.2 Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225)
Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số được hiểu là hành vi tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số; ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số, hành vi khác cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số gây ra hậu quả nghiêm trọng
-Khách thể của tội phạm:
Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số trực tiếp xâm hại đến sự an toàn trong hoạt động của hệ thống máy tính, qua đó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến nhiều mặt của đời
Trang 23sống xã hội, hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân, không chỉ giới hạn trong phạm vi của một quốc gia
Đối tượng bị xâm hại của tội phạm này bao gồm: mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (được nối mạng quốc gia hoặc quốc tế)
-Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện ở hành vi cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
+ Cản trở [25-tr.103] là gây khó khăn, trở ngại, làm cho không tiến hành
được dễ dàng, suôn sẻ Hành vi cản trở hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số là hành vi gây trở ngại, khó khăn, làm cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số không thể tiến hành một cách bình thường
+ Gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số là hành vi làm cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số ở tình trạng lộn xộn, không có trật tự
Hành vi cản trở hoặc gây rối loạn này có thể là: Tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số; ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số; hành vi khác cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
Hành vi chỉ cấu thành tội phạm khi gây ra hậu quả nghiêm trọng Để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 225 Bộ luât Hình sự hiện hành cần xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra Tội phạm được xem
là hoàn thành từ thời điểm xảy ra thiệt hại nghiêm trọng
Trang 24-Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1 và 2 Điều 225) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 3 Điều 225) có năng lực trách nhiệm hình sự
-Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý Động cơ, mục đích của tội phạm đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm
1.2.3 Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226)
Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet là hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái với quy định của pháp luật (không thuộc trường hợp quy định tại Điều 88 và Điều 253 của Bộ luật Hình sự); mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó; hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet xâm phạm lợi ích của cơ quan,
tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội gây hậu quả nghiêm trọng
-Khách thể của tội phạm
Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet trực tiếp xâm hại đến sự an toàn trong hoạt động của hệ thống máy tính, qua đó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân, chỉ giới hạn trong phạm vi của một quốc gia
Đối tượng bị xâm hại trong tội phạm này bao gồm: các thông tin trên mạng máy tính; các thông tin trên mạng viễn thông và các thông tin trên mạng Internet
Trang 25-Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm này có thể được thể hiện ở một trong các hành vi sau đây:
+ Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc các trường hợp qui định tài Điều
88 và Điều 253 BLHS hiện hành;
+ Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
+ Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin (của tổ chức, cá nhân khác) trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet
Các hành vi trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây ra hậu quả nghiêm trọng như: xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc bí mật đời tư của cá nhân; gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của công dân… Để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 226 BLHS hiện hành cần xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra Tội phạm hoàn thành từ thời điểm xảy ra hậu quả nghiêm trọng
-Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có
năng lực trách nhiệm hình sự
-Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý Động cơ, mục đích của tội phạm rất
đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm
Trang 261.2.4 Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a)
Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác là hành vi cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị
số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ
-Khách thể của tội phạm
Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác trực tiếp xâm hại đến sự an toàn của hoạt động mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác, không chỉ giới hạn trong phạm vi của một quốc gia
-Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác Phương thức thủ đoạn truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số của người khác như:
+ Vượt qua cảnh báo (warning);
+ Vượt qua mã truy cập (password);
+ Vượt qua tường lửa (fire wall);
+ Sử dụng quyền quản trị (administrator) của người khác;
+ Truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính của người khác;
+ Truy cập bất hợp pháp vào mạng viễn thông của người khác;
Trang 27+ Truy cập bất hợp pháp vào mạng Internet của người khác;
+ Truy cập bất hợp pháp vào thiết bị số của người khác;
+ Chiếm quyền điều khiển mạng của người khác;
+ Can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số;
-Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ người nào tử đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1 và 2 Điều 226a) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 3 Điều 226a) có năng lực trách nhiệm hình sự
-Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý Động cơ, mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số của người khác chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người vi phạm nhằm chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu
Trang 28hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ Động cơ phạm tội có thể là vụ lợi hoặc động cơ
cá nhân khác
1.2.5 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết
bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b)
Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số để chiếm đoạt tài sản của người khác bằng nhiều thủ đoạn khác nhau (như: sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân; hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân)
-Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm này có thể được thể hiện ở một trong các hành vi sau:
+ Dùng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số mà
sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc là giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
Trang 29+ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số
để truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan , tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
+ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số
để lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng;
+ Thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị
số để thực hiện các hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Chỉ cần thực hiện một trong các hành vi kể trên thì tội phạm coi như hoàn thành Hậu quả xảy ra không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm
-Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội này có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1 và
2 Điều 226b) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 3 và 4 Điều 226b) có năng lực trách nhiệm hình sự
-Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Động cơ, mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Hành vi sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người vi phạm nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân Động cơ phạm tội là vụ lợi
Trang 301.3 NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2009
Sau hơn chín năm áp dụng, BLHS năm 1999 đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ nền an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên qua công tác kiểm tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phát hiện bất cập khi áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn, một số quy định của BLHS năm 1999 nói chung và những quy định về tội phạm công nghệ thông tin nói riêng không còn phù hợp Một số hành vi phạm tội mới phát sinh chưa được BLHS quy định nên chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, đặc biệt là trong tiến trình hội nhập quốc tế và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, việc sửa đổi bổ sung một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn của BLHS 1999 là một điều cần thiết
Đối với BLHS năm 1999 đã được Quốc hội tiến hành sửa đổi bổ sung rất nhiều vấn đề, ví dụ như việc loại bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội danh, quy định những tội danh mới cũng như sửa đổi, bổ sung nội dung một số điều luật đã làm cho BLHS có một diện mạo mới so với BLHS cũ Trong BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, các quy định về nhóm tội phạm công nghệ thông tin cũng có những sửa đổi cơ bản sau đây:
- Về mặt hình thức:
+ Sự thay đổi về số lượng các điều luật
Nếu như BLHS 1999 quy định 03 tội danh về nhóm tội phạm công nghệ thông tin từ Điều 224 đến Điều 226 thì đến BLHS sửa đổi, bổ sung 2009 đã quy định 05
tội danh bao gồm: Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho
hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều
224); Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông,
mạng Internet, thiết bị số (Điều 225); Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin
Trang 31mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226); Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a); Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b)
Nhƣ vậy, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã bổ sung thêm 2 tội phạm mới so với BLHS nă
, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số hoặc thiết bị số thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản” (Điều 226b) Nguyên nhân xuất phát từ những diễn biến ngày càng phức tạp của các tội phạm công nghệ thông tin cùng với sự xuất hiện của một
số hành vi mới mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng đòi hỏi phải có một khung pháp lý phù hợp, tạo cơ sở cho việc xử lý linh hoạt các hành vi phạm tội trên thực
tế
- Sự thay đổi tên gọi của các điều luật
Ngoài việc thay đổi về số lƣợng các điều luật và tội danh thì BLHS cũng có thay đổi cơ bản về tên gọi của một số điều luật Cụ thể nhƣ: “Tội phát tán vi rút,
trên mạng và trong máy tính ” tại Điều 226 BLHS năm 1999 Sự thay đổi về tên gọi
của một số điều luật trong BLHS cho thấy sự phù hợp trong quy định của BLHS với các quy định mới của Luật công nghệ thông tin năm 2006, khái quát và luật hoá một
số quy định của Nghị định số 55/2001/NĐ - CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ quy định về hoạt động quản lý, cung cấp và sử dụng Internet và thực tế
Trang 32áp dụng Điều này đã kéo theo đó sự thay đổi tương ứng trong nội dung của mỗi điều luật
- Về mặt nội dung:
BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có những điểm mới không chỉ thể hiện ở mặt hình thức mà quan trọng hơn cả đó là những thay đổi về nội dung trong các quy định cụ thể của nhóm tội phạm công nghệ thông tin
Thứ nhất, BLHS hiện hành đã sửa đổi, bổ sung 03 điều luật của BLHS năm
1999 (các Điều 224, 225 và 226) Cụ thể:
+ Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 224)
Về cấu thành tội phạm: so với quy định tại Điều 224 BLHS năm
1999 chưa được sửa đổi, bổ sung thì cấu thành tội cố ý phát tán vi rút,
chương trình tin học có tính năng gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số có những điểm khác biệt cơ bản
học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số chỉ có 01 hành vi là
cố ý phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại; đối tượng phát tán gồm 02 đối tượng là: vi rút và chương trình tin học có tính năng gây hại;
Trang 33o Chính sách xử lý thì hành vi vi phạm này bị xử lý hình sự chỉ khi
gây hậu quả nghiêm trọng; cũng như các tình tiết tăng nặng (gây hậu quả rất nghiêm trọng, phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm) và các tình tiết tăng nặng đặc biệt (gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; đối với hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng; đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; đối với hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; đối với hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; đối với hệ thống thông tin điều khiển giao thông)
Về hình phạt, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã điều chỉnh nâng
mức hình phạt đối với tội cố ý phát tán vi rút, chương trình tin học có
tính năng gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
+ Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225)
Về cấu thành tội phạm: BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định
về cấu thành tội phạm của tội này khác biệt cơ bản so với cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 225 BLHS năm 1999 ở những điểm sau:
hành vi;
04 loại đối tượng là: mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
Trang 34o Chính sách xử lý: Hành vi vi phạm này bị xử lý hình sự chỉ khi
gây hậu quả nghiêm trọng; cũng như các tình tiết tăng nặng (phạm tội có tổ chức, gây hậu quả rất nghiêm trọng, phạm tội trong trường hợp lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet) và tình tiết tăng nặng đặc biệt (gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; đối với hệ thống thông tin phục vụ an ninh, quốc phòng; đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; đối với hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; đối với hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; đối với hệ thống thông tin điều khiển giao thông)
Về hình phạt: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã nâng
mức hình phạt đối với tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của
mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
+ Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng
viễn thông, mạng Internet (Điều 226)
Về cấu thành tội phạm: so với quy định tại Điều 226 BLHS năm
1999 chưa được sửa đổi, bổ sung thì cấu thành tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet có những điểm khác biệt sau:
tin trên mạng, trong máy tính; đưa vào mạng máy tính những thông tin trái với quy định của pháp luật; mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hoá những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
Trang 35o Đối tượng bị xâm hại gồm 04 loại đối tượng là: mạng máy tính,
mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (trong đó có máy tính);
phạm lợi ích của tổ chức, cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn xã
hội gây hậu quả nghiêm trọng; cũng như các tình tiết tăng nặng
(phạm tội có tổ chức; gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội trong trường hợp lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet; thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên)
Về hình phạt: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã nâng
mức hình phạt đối với tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet
Thứ hai, BLHS hiện hành đã bổ sung thêm 02 tội phạm mới vào nhóm tội phạm
công nghệ thông tin Đó là:
+ Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a)
Hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác để chiếm quyền điều khiển; thay đổi cấu
hình hệ thống; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép
các dịch vụ là những vi phạm xảy ra ngày càng phổ biến và qua đó đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng về nhiều mặt cho hoạt động của cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức và đời sống xã hội Vì thế, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 bổ sung thêm Điều 226a về tội phạm này làm cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh chống hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị
số của người khác
Trang 36+ Tội sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết
bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b)
Về bản chất thì việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet
hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cũng là hành vi chiếm đoạt tài
sản nhưng với phương thức thủ đoạn phạm tội mới, tinh xảo hơn liên quan trực tiếp đến việc sử dụng kỹ thuật công nghệ cao Nhưng có một vấn đề gây tranh cãi là theo quy định tại Chương XIV- Các tội xâm phạm sở hữu thì có 07 hình thức chiếm đoạt tài sản (cướp, cướp giật, cưỡng đoạt, trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, công nhiên chiếm đoạt) Vậy việc sử dụng kỹ thuật công nghệ chiếm đoạt tài sản của người khác như rút tiền của người khác từ máy ATM (Automated Teller Machine) sẽ thuộc hình thức chiếm đoạt nào trong số nêu trên Điều này rất quan trọng liên quan đến việc định tội danh
Trước đây ở các nước cũng đã từng gây ra nhiều sự tranh luận trong việc định tội đối với hành vi này và để chấm dứt sự tranh luận kéo dài không cần thiết, BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung đã quy định “Tội sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” là một tội phạm độc lập nhằm phục vụ kịp thời cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, truy tố trước pháp luật
Thứ ba, BLHS năm 1999 sửa đổi và bổ sung năm 2009 không xử lý về hình sự
đối với người thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 các điều 224, 225 và 226 của BLHS theo tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm”
Trên đây là một số điểm mới trong BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm
2009 Việc sửa đổi và bổ sung là rất cần thiết, phù hợp với sự phát triển của xã hội
và xu thế chung của thế giới Với tốc độ phát triển nhanh của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin càng trở nên nguy hiểm Ở nước ta, công nghệ thông tin mới phát triển mạnh trong những năm gần đây, làm mảnh đất màu mỡ cho nhóm tội phạm mới dần hình thành (tội phạm công nghệ thông tin) và gây ra những thiệt hại to lớn cho cộng đồng Các nhà lập pháp nhận thấy tính nguy hiểm của các hành vi phạm
Trang 37tội trong lĩnh vực này nên mạnh dạn hình sự hóa chúng BLHS năm 1999 sửa đổi,
bổ sung năm 2009 là một bước kế thừa và phát triển mới nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan và hết sức bức xúc của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới