1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật việt nam

99 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người trong gia đình có thể đại diện hoàn hảo cho người chủ gia đình đối với những hợp đồng mà người chủ gia đình trở thành trái chủ, nhưng không thể làm cho người chủ gia đình trở thàn

Trang 1

LÊ VIỆT PHƯƠNG

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 2

LÊ VIỆT PHƯƠNG

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Trang 3

riêng tôi, với sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Xuân Hải Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các tài liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, có nguồn gốc, tin cậy và trung thực

Tác giả luận văn

Lê Việt Phương

Trang 5

MỞ ĐẦU ……….…… 1

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY ……… … 5

1.1 Lý luận về đại diện ……….…… 5

1.1.1 Nguồn gốc của quan hệ đại diện ……… ……… 5

1.1.2 Quan hệ pháp luật đại diện …….……… 7

1.1.3 Phân loại đại diện ……… ……… 15

1.1.4 Phạm vi thẩm quyền đại diện ……… 16

1.1.5 Chấm dứt quan hệ đại diện ……… 18

1.2 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của công ty.………… 22

1.3 Phân loại người đại diện theo pháp luật của công ty …… …… 25

1.3.1 Căn cứ theo loại hình công ty ……… 25

1.3.2 Căn cứ theo chức vụ quản lý công ty ……… ………… 27

1.3.3 Căn cứ theo quốc tịch người đại diện ……… 28

1.3.4 Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu ……… …… 29

1.3.5 Căn cứ vào số lượng người đại diện theo pháp luật của công ty … 30 1.4 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của công ty với các quan hệ đại diện khác… ……… … 30

1.4.1 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của công ty với người đại diện theo ủy quyền của công ty ……… 30

1.4.2 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của công ty với người đại diện theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị-xã hội ……… 32

1.4.3 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của công ty với người đại diện của cá nhân ……… 35

1.5 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của công ty ……… 37

Trang 6

ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY VÀ ĐỊNH

HƯỚNG HOÀN THIỆN……… 41 2.1 Quy định của pháp luật về điều kiện trở thành người đại diện

theo pháp luật của công ty ……… ………… ……… 41

2.2 Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện theo

pháp luật của công ty……… 49

2.2.3 Giới hạn đối với người đại diện theo pháp luật của công ty trong

một số hoạt động 63

2.3 Đăng ký, thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty… 66

2.4 Chấm dứt tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật

của công ty ……… ……… 70

2.5 Hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về người đại diện

theo pháp luật của công ty……… ……… 74

2.5.1 Khắc phục bất cập giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật doanh

nghiệp năm 2005 về người đại diện theo pháp luật 74

Trang 7

2.5.3 Về tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh khi

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Nền kinh tế Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới đã có những phát triển vượt bậc và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế Để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh và quản lý kinh tế, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp đã không ngừng hoàn thiện, tạo khuôn khổ pháp lý để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia thành lập các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra những vấn đề mà Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng chưa giải quyết dứt điểm, một trong những vấn

đề đó là quy định về người đại diện theo pháp luật của công ty

Công ty là một thực thể pháp lý, là chủ thể của quan hệ pháp luật có tư cách pháp nhân Cũng giống như con người, trong quá trình hoạt động công ty phát sinh các trách nhiệm với Nhà nước, với chủ nợ, với đối tác, với khách hàng và nó cũng

có thể là chủ nợ Do đó, công ty có thể là nguyên đơn, là bị đơn trước tòa án Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty phải thông qua hành vi cụ thể của con người-người đại diện theo pháp luật Bởi công ty là một thực thể pháp lý độc lập, nhưng bản thân nó không thể hành động Người đại diện theo pháp luật của công ty

là người được chủ sở hữu của công ty cử ra thay mặt công ty để tiếp xúc, giao dịch với bên ngoài vì lợi ích của doanh nghiệp

Nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về người đại diện theo pháp luật của công ty, từ đó xác định rõ vai trò và trách nhiệm của người đại diện, mối quan hệ của người đại diện với các thành viên trong công ty, tôi lựa chọn đề tài

“Người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Mặc dù người đại diện nói chung và người đại diện theo pháp luật của công

ty nói riêng đã có lịch sử tương đối lâu đời, nhưng cho đến nay ở Việt Nam vẫn đang thiếu những công trình nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về chế định người đại diện theo pháp luật của công ty Phần lớn những nghiên cứu về người đại

Trang 9

diện của công ty do các chuyên gia nghiên cứu chủ yếu thể hiện dưới các bài báo khoa học Trong các công trình nghiên cứu về công ty ở Việt Nam, đáng chú ý nhất

là các bài báo khoa học: “Học thuyết người đại diện và mấy vấn đề của pháp luật

công ty Việt Nam” của TS Bùi Xuân Hải, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4

(41)/2007; “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - Nhìn từ góc

độ luật so sánh” của TS Ngô Huy Cương, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số

4/2009); “Bản chất của cơ chế thực thi quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại

doanh nghiệp có vốn nhà nước” của Nguyễn Thị Dung , Tạp chí Luật học, (số

7/2009)

Tác giả Ngô Viễn Phú trong luận án tiến sĩ của mình với đề tài "So sánh

quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa" đề cập đến người đại diện theo pháp luật công ty

và đưa ra quan điểm ai nên là người đại diện theo pháp luật trong công ty cổ phần Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa làm sáng tỏ được người đại diện theo pháp luật trong công ty như thế nào mà chỉ đề cập là rất quan trọng liên quan đến cán cân quyền lực trong công ty Hơn nữa, Luật công ty Trung Quốc 1993 đã thay đổi và Luật doanh nghiệp Việt Nam 1999 cũng thay đổi nên các vấn đề tác giả đề cập đã có một số thay đổi nhất định

Ngoài ra, Một số luật gia, nhà nghiên cứu trong các công trình, tác phẩm của mình có đề cập đến những quy định pháp lý về người đại diện, chẳng hạn như: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung đề cập đến người đại diện theo pháp luật của công ty trong cuốn sách: “Công ty - Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005”; Nguyễn Ngọc Thanh “Vấn đề chủ sở hữu và người đại

diện-Một số gợi ý về chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Kinh

doanh-ĐH QGHN, (số 26/2010) Tuy nhiên việc đề cập đến những quy định về người đại

diện theo pháp luật của công ty còn chưa cụ thể

Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về

người đại diện theo pháp luật của công ty theo pháp luật Việt Nam

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu một cách đầy đủ các vấn đề lý luận và thực tiễn về người đại diện theo pháp luật của công ty trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng như bản chất pháp lý của người đại diện theo pháp luật trong Luật doanh nghiệp năm 2005

và quan hệ pháp luật đại diện; phân tích những vấn đề còn tồn tại trong các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến người đại diện theo pháp luật của công

ty để đề xuất hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của công ty

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài có một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Một là, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam;

- Hai là, nghiên cứu về quan hệ pháp luật đại diện

- Ba là, phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định người đại diện theo pháp luật của công ty

3.3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, tác giả tập trung nghiên cứu về: những vấn đề lý luận và quy định pháp lý về bản chất và địa vị pháp

lý của người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của pháp luật Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tác giả tập trung nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật của công ty bao gồm: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do cá nhân làm chủ và do tổ chức làm chủ) và công ty hợp danh theo quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam năm

Trang 11

2005 Tác giả không nghiên cứu về người đại diện theo pháp luật trong Hợp tác xã

và Doanh nghiệp tư nhân

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu: phương pháp luận

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cũng như một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

6 Ý nghĩa, giá trị thực tiễn

Thành công của đề tài một mặt để góp phần hoàn thiện quy định pháp luật

về người đại diện của công ty; đồng thời là tài liệu giúp các công ty trong quá trình xây dựng điều lệ xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được chia làm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đại diện và người đại diện theo pháp luật của công ty

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty và định hướng hoàn thiện

Trang 12

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY

1.1 Lý luận về đại diện

1.1.1 Nguồn gốc của quan hệ đại diện

Trong đời sống hàng ngày, khi tham gia các quan hệ xã hội đặc biệt là các quan hệ dân sự, kinh tế… chủ thể có thể tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, vì nhiều lý do khác nhau, chủ thể có thể không tự mình xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, mà thông qua

hành vi của người khác Ngôn ngữ pháp lý hiện đại gọi đó là quan hệ “đại diện”

Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa đại diện như sau: “Đại diện là việc một người (gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện”1

Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Trong cuộc sống, con người không thể cô lập mình, nhu cầu giao tiếp, trao đổi là nhu cầu của sự sinh tồn

Về cơ bản, cuộc sống con người được xây đắp nên bởi các quan hệ xã hội với những người khác và hầu hết nhu cầu của con người được đáp ứng thông qua các hợp đồng Tuy nhiên, thời gian thì có hạn nhưng nhu cầu thì vô hạn; quan hệ thì đa dạng nhưng năng lực con người thì có giới hạn (thậm chí bị mất hoặc không có năng lực để tiến hành các giao dịch); mỗi con người không thể thành thạo được tất

cả mọi thứ trong xã hội; do vậy để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hoặc kinh doanh, có đôi lúc người này phải nhờ tới sự thành thạo của người kia và ngược lại Như vậy quan hệ đại diện hình thành

Trước kia luật La Mã không chấp nhận vấn đề đại diện do tính cách trọng

này, người chủ gia đình (paterfamilias) có thể giao kết hợp đồng thông qua người

1 Khoản 1, Điều 139, Bộ Luật Dân sự năm 2005

2 Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - Nhìn từ góc độ luật so

sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 4/2009), trang 26

Trang 13

trong gia đình và cũng có thể giao kết hợp đồng thông qua người ngoài gia đình trong những điều kiện nhất định Người trong gia đình có thể đại diện hoàn hảo cho

người chủ gia đình đối với những hợp đồng mà người chủ gia đình trở thành trái

chủ, nhưng không thể làm cho người chủ gia đình trở thành người thụ trái bởi thi

hành một nguyên tắc alienni juri không thể làm cho tình trạng của chủ xấu đi (…).3 Vào thế kỷ XVIII, các luật gia theo trường phái luật tự nhiên đã phát triển quan hệ đại diện ở Châu Âu lục địa, trong bối cảnh thương mại phát triển với sự xuất hiện các vấn đề như giao một con tàu cho vị thuyền trưởng điều khiển và quản

lý, hay hoạt động kinh doanh thông qua sự điều hành của một người khác…

Theo Konrad Zweigert và Hein Koetz, “phương thức đại diện là một sự cần thiết không thể bị vô hiệu trong bất kỳ chế độ phát triển nào mà dựa trên sự phân

Việc không làm vô hiệu hóa các hợp đồng được giao kết thông qua người đại diện là rất quan trọng, bởi về phương diện vĩ mô nó thúc đẩy phân công lao động

xã hội và tăng cường giao lưu dân sự; còn về phương diện vi mô nó giúp cho các chủ thể thuận tiện hơn trong các giao kết hợp đồng

Ngày nay, trên nền tảng của tự do ý chí, các luật gia đều thừa nhận rằng một người có thể tự mình biểu lộ ý chí hoặc có thể thể hiện ý chí thông qua một người khác Tuy nhiên vấn đề đặt ra là khi một người thể hiện ý chí thông qua một người khác thì sẽ xuất hiện những ràng buộc pháp lý gì đối với đại diện và người được đại diện?

Theo định nghĩa đại diện tại Điều 139 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 cho thấy quan niệm này có nguồn gốc từ trường phái luật tự nhiên giống với Bộ luật Dân sự Pháp Quan niệm đại diện này dẫn đến hệ quả một người dù được ủy quyền và đã giao kết hợp đồng trong phạm vi của sự ủy quyền đó, nhưng không hành động bằng tên của người được đại diện, thì không làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với người được đại diện Chẳng hạn như: A ủy quyền cho B ký hợp đồng với C, nhưng khi B

3 Ngô Huy Cương, tlđd tại chú thích 2, trang 29

4 Konrad Zweigert và Hein Koetz, An Introduction to Comparative Law, Clarendon Press, Oxford, 1998,

trang 431

Trang 14

và C giao kết hợp đồng thì trong hợp đồng không thể hiện việc B đang nhân danh

A mà chỉ ghi chủ thể là B và C Như vậy quyền và nghĩa vụ lúc này thuộc về B và

C mà không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hợp đồng này đối với A

Do vậy pháp luật dân sự Việt Nam quy định người đại diện phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi đại diện của mình khi giao dịch với người thứ ba Ngày nay, các luật gia Hoa Kỳ cho rằng: “Luật đại diện bao gồm tất cả các quy tắc được xã hội thừa nhận và thi hành, bởi thế mà một người hành động cho người khác, và nếu không có luật đại diện, thì mọi người phải tự hành động cho mình và không thể sử dụng đại diện, người bán hàng hoặc người đưa tin, còn các công ty không thể thực hiện được các chức năng của mình và phải chấm dứt hoạt động”5

Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan năm 1995 định nghĩa về đại diện:

“Đại diện là một hợp đồng mà bởi nó một người, được gọi là người đại diện, có quyền hành động cho người khác, được gọi là người được đại diện, và đồng ý hành

diện mà không đề cập tới phạm vi đại diện

Như vậy có thể thấy quan hệ đại diện đã xuất hiện trong cuộc sống như một nhu cầu được xã hội chấp nhận và được pháp luật ghi nhận Trong quan hệ dân sự, thương mại nếu không có quan hệ đại diện thì tất cả quyền và nghĩa vụ của cá nhân phải do chính người đó thực hiện, nếu người đó chưa đủ tuổi hoặc không có năng lực thì sẽ không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ cho mình Mặt khác nếu không có quan hệ đại diện thì không thể hình thành nên các công ty, các tổ chức, bởi quyền và nghĩa vụ của các công ty hay tổ chức đó được thực hiện thông qua hành vi cụ thể của người đại diện

1.1.2 Quan hệ pháp luật đại diện

Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ đại diện là một quan hệ xã hội

Trang 15

giữa người đại diện và người được đại diện xuất hiện dưới sự tác động và điều chỉnh của các quy phạm pháp luật có liên quan và sự kiện pháp lý Do đó, đại diện

là một quan hệ pháp luật7

Khi xác định đại diện là một quan hệ pháp luật tức là cần xác định thành phần tạo nên quan hệ pháp luật đại diện đó Một quan hệ pháp luật bao gồm các yếu tố cấu thành là chủ thể, khách thể, nội dung và ngoài ra cần xác định yếu tố sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đại diện

1.1.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật đại diện

Chủ thể của quan hệ đại diện bao gồm người đại diện và người được đại

diện Người đại diện là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ với

người thứ ba, vì lợi ích của người được đại diện Người được đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện

Thứ nhất, Người được đại diện có thể là:

(i) Cá nhân: người được đại diện là cá nhân do chưa đủ năng lực hành vi dân

sự (người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi)8 hoặc do không có năng lực

dụ như bị mắc bệnh về tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức

và điều khiển hành vi)10

; hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (người nghiện ma

túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình)11 cần phải có người đại diện hoặc được người đại diện theo pháp luật đồng ý trong các quan hệ pháp luật

Điểm quan trọng và đặc biệt ở đây là, về lý thuyết thì chủ thể của quan hệ pháp luật phải có năng lực chủ thể mới được tham gia quan hệ pháp luật Tuy nhiên trong quan hệ đại diện, chủ thể cá nhân là người được đại diện lại là người do

7 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2006) Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, Trang 157

8 Điều 20, Bộ luật Dân sự năm 2005

9 Điều 21, Bộ Luật Dân sự năm 2005

10 Điều 22, Bộ Luật Dân sự năm 2005

11

Điều 23, Bộ Luật Dân sự năm 2005

Trang 16

không đủ năng lực chủ thể nên mới cần phát sinh quan hệ đại diện Bởi lẽ nếu cá nhân có năng lực chủ thể thì có thể tự mình thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình mà không cần người đại diện

(ii) Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc hộ kinh doanh:

+ Pháp nhân là một tổ chức, một thực thể pháp lý đáp ứng đầy đủ bốn điều kiện quy định tại Điều 84 Bộ Luật Dân sự năm 200512 Pháp nhân là vô hình, nhưng có năng lực pháp luật dân sự (tức là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình) Như vậy, pháp nhân là

vô hình, “sinh” ra bằng một quyết định hành chính hoặc giấy phép kinh doanh, đầu tư; “chết” đi bằng thủ tục giải thể hoặc phá sản hoặc một số hình thức pháp lý khác (như chia, tách, sáp nhập, hợp nhất); pháp nhân không có linh hồn và không kết hôn Tuy nhiên, trước pháp luật thì pháp luật lại đối xử với pháp nhân như một

“con người” (con người của pháp luật hoặc con người trước pháp luật) Pháp nhân

có thể giao kết hợp đồng, thực hiện quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, có thể là nguyên đơn, là bị đơn trước tòa án, có thể bị nhà nước xử phạt khi có vi phạm như một con người

Vậy làm sao để nhà nước, đối tác, khách hàng, chủ nợ… có thể ràng buộc được các nghĩa vụ pháp lý đối với pháp nhân khi tham gia quan hệ pháp luật? Pháp luật ràng buộc quyền và nghĩa vụ pháp lý của pháp nhân đó với trách nhiệm của một hoặc một số cá nhân trong pháp nhân - chính là người đại diện theo pháp luật

và người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân Khoản 3, Điều 86 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: “Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự” Đồng thời bắt buộc pháp nhân phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tên gọi, trụ

sở, địa chỉ giao dịch, người đại diện theo pháp luật…

Theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện nay, các loại pháp nhân bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân; Tổ chức chính trị, tổ chức chính

12 Điều 84, Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các

điều kiện sau đây: 1 Ðược thành lập hợp pháp; 2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”

Trang 17

trị - xã hội; tổ chức kinh tế; tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp; quỹ xã hội, quỹ từ thiện; tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại điều 84 của Bộ luật dân sự13

+ Hộ gia đình: theo điều 106, BLDS 2005 thì hộ gia đình mà các thành viên

có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này Tuy nhiên trong hộ gia đình thì thành viên có ít nhất là hai người, vậy ai là người đại diện hộ gia đình? Để trả lời cho vấn đề này, điều 107 BLDS 2005 quy định: chủ hộ

là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ (…), chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cả hộ gia đình

+ Tổ hợp tác: theo điều 111, BLDS 2005 thì tổ hợp tác được hình thành trên

cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan

hệ dân sự Trong tổ hợp tác, người đại diện của tổ hợp tác trong các giao dịch dân

sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra Giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa

số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả tổ hợp tác14

+ Hộ kinh doanh: Hộ kinh doanh là thực thể pháp lý do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng

ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh

Trang 18

doanh15 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp khi quy định về Hộ kinh doanh đã không quy định về người đại diện theo pháp luật của Hộ kinh doanh Nếu chỉ có một cá nhân làm chủ thì cá nhân đó đương nhiên là người đại diện của

Hộ kinh doanh, nếu do một hộ gia đình làm chủ thì căn cứ theo quy định của Bộ Luật Dân sự tại các điều 106 đến 110 để xác định được chủ hộ là người đại diện Nhưng nếu là một nhóm người thành lập hộ kinh doanh thì việc xác định ai trong nhóm người này sẽ là người đại diện cho hộ kinh doanh, hay tất cả những người này đều là người đại diện là việc mà pháp luật đang bỏ ngỏ; mặt khác khi một trong các thành viên của nhóm người đó nhân danh hộ kinh doanh để xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự thì quyền và nghĩa vụ được xác định là quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh hay là của cá nhân thành viên đó cũng là vấn đề mà pháp luật chưa quy định rõ

Thứ hai, Người đại diện phải là cá nhân và phải có năng lực hành vi dân sự

đầy đủ16

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành

vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự17 Người từ đủ 18 tuổi trở lên

là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ tường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự18

Bản thân người đại diện là người nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Do vậy, người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Nếu là người không có, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đó không thể nhân danh người được đại diện để thực hiện quyền và nghĩa

vụ của người đó

1.1.2.2 Khách thể của quan hệ pháp luật đại diện

Khách thể của quan hệ pháp luật là những giá trị vật chất, tinh thần và giá trị

xã hội khác mà cá nhân, tổ chức mong muốn đạt được nhằm thỏa mãn các lợi ích, nhu cầu của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật và thực hiện quyền chủ

15

Khoản 1, Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 15 tháng 4 năm 2010 về đăng ký doanh nghiệp

16 Khoản 5, Điều 139 và khoản 2, Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2005

17 Điều 17, Bộ luật Dân sự năm 2005

18

Xem các Điều 18,19,22,23 Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 19

thể và nghĩa vụ pháp lý19 Theo các nhà nghiên cứu về Lý luận Nhà nước và pháp luật Việt Nam, khách thể của quan hệ pháp luật có thể là các giá trị vật chất hoặc giá trị phi vật chất mà chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia quan hệ pháp luật Với góc độ tiếp cạn này có thể hiểu khách thể của quan hệ pháp luật đại diện là các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hoặc các giá trị xã hội mà người đại diện và người được đại diện mong muốn đạt được khi tham gia quan hệ đại diện Và vì các lợi ích

đó nên người đại diện và người được đại diện mới xác lập quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ đại diện

Như vậy, trong quan hệ đại diện cần xác định khách thể của hai bên: người đại diện và người được đại diện

Thứ nhất, khách thể của người được đại diện: Người được đại diện có thể là

cá nhân hoặc pháp nhân, do không tự mình thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình nên cần có người đại diện Công ty là người được đại diện thì lợi ích mà công

ty thu được là hiệu quả kinh tế (lợi nhuận) và giá trị xã hội (uy tín, thương hiệu) của công ty mà người đại diện sẽ mang lại cho công ty Còn đối với người được đại diện là cá nhân thì lợi ích cá nhân đó có được có thể là vật chất, tinh thần hoặc giá trị xã hội

Thứ hai, khách thể của người đại diện: Người đại diện phải là cá nhân, tham

gia quan hệ đại diện cho công ty hoặc cho cá nhân với mong muốn mang lại lợi ích cho công ty hoặc cho cá nhân được đại diện Đồng thời người đại diện cũng đạt được những lợi ích nhất định Chẳng hạn như đại diện cho công ty, người đại diện

sẽ được công ty thanh toán thù lao (lợi ích vật chất), đồng thời người đó sẽ đạt được những mục đích khác như có vị trí, chỗ đứng trong xã hội (giá trị xã hội)… còn người đại diện cho cá nhân có thể vì lợi ích vật chất (luật sư đại diện cho thân chủ) hoặc giá trị xã hội (cha mẹ đại diện cho con)…

1.1.2.3 Nội dung của quan hệ pháp luật đại diện

Nội dung của quan hệ pháp luật đại diện bao gồm quyền và nghĩa vụ của người đại diện và người được đại diện Trong đó quyền của người đại diện tương

19

Nguyễn Duy Lãm (1998), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, Trang 190

Trang 20

ứng với nghĩa vụ của người được đại diện và ngược lại Một số quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể trong quan hệ pháp luật đại diện được thể hiện như sau:

Thứ nhất, Quyền và nghĩa vụ của người đại diện:

Liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người đại diện, Điều 144 Bộ luật Dân

sự năm 2005 quy định:

- Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân

sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

- Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền

- Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện

- Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết

về phạm vi đại diện của mình

- Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Ngoài ra, người đại diện có thể có quyền được trả thù lao đại diện nếu các bên hoặc pháp luật có quy định

Người đại diện có thể ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện của mình, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người được đại diện về các quyền và nghĩa vụ đại diện

Điều 145 Bộ luật Dân sự cũng quy định trường hợp người đại diện xác lập hoặc thực hiện một giao dịch vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần vượt quá phạm vi đại diện, mà không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý Trường hợp nếu người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

Thứ hai, Quyền và nghĩa vụ của người được đại diện:

Hiện nay Bộ luật Dân sự không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người

Trang 21

được đại diện Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy người được đại diện có thể có các quyền và nghĩa vụ như sau:

- Được giám sát hoạt động của người đại diện, trừ trường hợp người được đại diện là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự

- Được yêu cầu người đại diện báo cáo kết quả đại diện

- Được hưởng các lợi ích do người đại diện thực hiện nhân danh mình

- Có quyền quyết định đồng ý hoặc không đồng ý đối với phần giao dịch do người đại diện xác lập hoặc thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

- Có quyền thay thế người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận

- Có nghĩa vụ cung cấp các điều kiện cần thiết để người đại diện thực hiện được quyền và nghĩa vụ đại diện

- Có nghĩa vụ trả thù lao cho người được đại diện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp người được đại diện là cá nhân bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc thực hiện các quyền trên đối với người đại diện cũng bị hạn chế Tuy nhiên những người khác có thể kiến nghị Nhà nước can thiệp khi phát hiện người đại diện lạm dụng vị trí đại diện để gây bất lợi cho người được đại diện khi người đó bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự

1.1.2.4 Sự kiện pháp lý của quan hệ pháp luật đại diện

Sự kiện pháp lý là sự kiện xả ra trong đời sống thực tế làm xuất hiện hay chấm dứt quan hệ xã hội do quy phạm pháp luật điều chỉnh Vì thế các quan hệ xã hội này trở thành các quan hệ pháp luật20

Trong quan hệ đại diện, sự kiện pháp lý có thể là sự biến hoặc hành vi Sự kiện pháp lý là cơ sở để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đại diện Cụ thể:

(i) Sự biến: Sự biến là những hiện tượng khách quan xảy ra không phụ thuộc

vào ý chí con người, nhưng sự xuất hiện của chúng làm phát sinh, thay đổi hoặc

20

Nguyễn Duy Lãm, tlđd ở chú thích số 19, Trang 316

Trang 22

chấm dứt quan hệ đại diện

Chẳng hạn như sự kiện chủ thể không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Ở đây phát sinh quan hệ đại diện Quan hệ đại diện lúc này phát sinh không phải trên cơ sở do người được đại diện ủy quyền mà do ý chí của nhà nước

Hoặc sự kiện người đại diện hoặc người được đại diện chết, pháp nhân chấm dứt tồn tại là sự biến làm chấm dứt quan hệ đại diện

(ii) Hành vi: Hành vi là những xử sự chủ quan xảy ra phụ thuộc vào ý chí con

người và gắn với việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đại diện Chẳng hạn như hành vi ký kết hợp đồng đại diện thông qua sự thỏa thuận giữa người đại diện với người được đại diện Quan hệ này xuất hiện dựa trên nguyên tắc

tự do ý chí trong giao dịch dân sự

1.1.3 Phân loại đại diện

1.1.3.1 Đại diện theo pháp luật

Điều 140, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “đại diện theo pháp luật là đại

diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”

Đại diện theo pháp luật gồm có hai loại là đại diện theo pháp luật chung và

đại diện theo pháp luật theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 21

- Đại diện theo pháp luật chung là đại diện mặc nhiên, ổn định về người đại diện, về thẩm quyền đại diện… Đó là các trường hợp: cha, mẹ đại diện cho con vị thành niên; người đứng đầu pháp nhân đại diện cho pháp nhân; người giám hộ đương nhiên đại diện cho người được giám hộ; chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;

tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác…

- Đại diện theo pháp luật theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là các trường hợp: người giám hộ cử đối với người được giám hộ; người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Người đại diện theo pháp luật phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

1.1.3.2 Đại diện theo ủy quyền

21 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2006) Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội Trang 158, 159

Trang 23

Khoản 1, Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Đại diện theo ủy

quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”

Vì nhiều lý do khác nhau (hạn chế về sức khỏe, thời gian, không gian, khả năng tài chính hoặc do hạn chế về kiến thức thuộc lĩnh vực tham gia…) nên một cá nhân hoặc người đứng đầu pháp nhân, chủ hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác… không trực tiếp xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Tuy nhiên để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của họ và của người thứ ba mà họ đang đại diện, pháp luật cho phép họ có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia xác lập và thực hiện các giao dịch trong phạm vi ủy quyền

Người đại diện theo ủy quyền phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Tuy nhiên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện22

Tuy nhiên, có một số trường hợp pháp luật không cho phép chủ thể xác lập giao dịch thông qua người đại diện (kể cả đại diện theo pháp luật và đại diện theo

ủy quyền) Ví dụ như: kết hôn, ly hôn, bầu cử, lập di chúc…

1.1.4 Phạm vi thẩm quyền đại diện

Phạm vi, thẩm quyền đại diện là giới hạn quyền, nghĩa vụ theo đó người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba23

Người đại diện có hai tư cách, vừa nhân danh mình trong các giao dịch dân sự

vì quyền và lợi ích của mình vừa thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện

vì lợi ích của người được đại diện Bởi vậy, cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi nhân danh người được đại diện Giới hạn này chính là phạm vi thẩm quyền đại diện

Việc xác định phạm vi thẩm quyền đại diện có ý nghĩa quan trọng: Người đại

22 Khoản 2, Điều 143, Bộ Luật Dân sự năm 2005.

23 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2006) Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội Trang 161

Trang 24

diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người được đại diện Trường hợp không có thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện, thì về nguyên tắc người đại diện phải tự chịu trách nhiệm24 Vấn đề này sẽ được đề cập sâu hơn ở chương II của luận văn này về phạm vi thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty

Tùy thuộc quan hệ đại diện là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện được xác định khác nhau:

1.1.4.1 Phạm vi thẩm quyền đại diện theo pháp luật

Thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật được pháp luật quy định hoặc thể hiện trong Điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định cử người đại diện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc xác lập đại diện này thường không phụ thuộc vào ý chí của người được đại diện Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện

Riêng trường hợp đại diện theo pháp luật đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa

đủ 18 tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có điểm đặc biệt, đó là: người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (không có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ) hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhưng với sự chấp thuận của người đại diện Như vậy, trường hợp này người đại diện chỉ đóng vai trò giám sát, đồng ý hay không đồng ý cho người được đại diện xác lập giao dịch

1.1.4.2 Phạm vi thẩm quyền đại diện theo ủy quyền

Phạm vi thẩm quyền của người đại diện theo ủy quyền được xác định trong chính văn bản ủy quyền Người đại diện theo ủy quyền chỉ được thực hiện hành vi pháp lý trong khuôn khổ văn bản ủy quyền quy định

Để bảo vệ lợi ích của bên thứ ba khi xác lập giao dịch với người đại diện,

24 Xem Điều 144, 145, 146 Bộ Luật Dân sự năm 2005 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện hoặc do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền đại diện.

Trang 25

pháp luật quy định nghĩa vụ của người đại diện phải báo cho người thứ ba biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình25 Đồng thời, người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó26 Việc quy định này cũng nhằm ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự do người đại diện thực hiện gây ra hậu quả bất lợi cho người được đại diện

Tuy nhiên, pháp luật vẫn không thể ngăn ngừa hết các hành vi “tư lợi” của người đại diện Chẳng hạn như người đại diện theo pháp luật của công ty có thể lợi dụng vị trí là người đại diện, biết được các bí mật của công ty và sử dụng nó nhằm mang lại lợi ích riêng cho mình; hoặc sử dụng quyền đại diện của công ty để thực hiện các giao dịch với bên thứ ba mặc dù biết rõ việc thực hiện đó (không trái thẩm quyền) nhưng bất lợi cho người được đại diện (tức là chủ sở hữu công ty), nhưng

có thể người đại diện sẽ được nhận những khoản “hoa hồng”, “lót tay” không nhỏ nên anh ta vẫn nhắm mắt làm ngơ

1.1.5 Chấm dứt quan hệ đại diện

Quan hệ pháp luật đại diện chấm dứt khi có một sự kiện pháp lý nhất định Khi chấm dứt quan hệ đại diện, mội hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch dân sự

do người đại diện xác lập, thực hiện sẽ không có giá trị pháp lý đối với người được đại diện

1.1.5.1 Chấm dứt quan hệ đại diện đối với cá nhân

Các trường hợp quan hệ đại diện theo pháp luật của cá nhân sẽ chấm dứt gồm:

- Thứ nhất: Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự

đã được khôi phục Do người được đại diện đã có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

để tự mình xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự và có thể tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Do đó, quan hệ đại diện không cần thiết phải tiếp tục tồn tại

- Thứ hai: Người đại diện hoặc người được đại diện chết làm chấm dứt tư cách chủ thể mọi quan hệ pháp luật của họ, trong đó có cả quan hệ đại diện

Các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền đối với cá nhân

Trang 26

gồm:

- Thứ nhất: Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

- Thứ hai: Người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền

từ chối việc ủy quyền Trong trường hợp này quan hệ ủy quyền chấm dứt theo ý chí của các bên chủ thể khi xuất hiện điều kiện để hủy bỏ hoặc để từ chối việc ủy quyền;

- Thứ ba: Người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc bị Tòa án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết

Vì quan hệ đại diện theo ủy quyền thì hành vi của người đại diện xác lập vì lợi ích của người được đại diện, đem lại hậu quả pháp lý cho người được đại diện

Do vậy, khi chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền, người đại diện phải thanh toán các nghĩa vụ tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế hợp pháp

hay không do hai bên tự nguyện thỏa thuận Nếu có thỏa thuận thanh toán thù lao

ủy quyền thì khi chấm dứt quan hệ ủy quyền, người được đại diện phải thanh toán thù lao cho người đại diện theo đúng thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định khác hoặc hai bên có thỏa thuận khác

1.1.5.2 Chấm dứt quan hệ đại diện đối với pháp nhân

Các trường hợp đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp

thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ thông qua hành vi của người đại diện theo pháp luật, và người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng chỉ thực hiện quyền

và nghĩa vụ pháp lý của mình về phạm vị đại diện cho pháp nhân khi được pháp nhân đó (thông qua hành vi của những người chủ sở hữu pháp nhân) trao cho Như vậy, khi pháp nhân chấm dứt hoạt động thì mặc nhiên quan hệ đại diện theo pháp luật giữa pháp nhân với người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó cũng mặc

Trang 27

nhiên chấm dứt, quyền và nghĩa vụ giữa pháp nhân với người đại diện cần được xử

lý thông qua thỏa thuận giữa những người chủ sở hữu pháp nhân với người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc cần được tòa án phân xử Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2005, quan hệ đại diện theo pháp luật của pháp nhân nói chung và của công ty nói riêng chấm dứt trong các trường hợp sau:

xuất hiện một tổ chức có tư cách pháp nhân mới và xuất hiện một quan hệ đại diện theo pháp luật của pháp nhân mới đó, đồng thời với việc chấm dứt quan hệ đại diện của hai hoặc một số pháp nhân bị hợp nhất

nhận sáp nhập kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của các pháp nhân bị sáp nhập, đồng nghĩa với việc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân nhận sáp nhập có quyền kế thừa quyền và nghĩa vụ của những người đại diện theo pháp luật của các pháp nhân bị sáp nhập (trừ những trách nhiệm cá nhân do những người đại diện theo pháp luật của các pháp nhân bị sáp nhập gây ra trước khi bị sáp nhập) Các pháp nhân bị sáp nhập sẽ chấm dứt hoạt động và do đó, quan hệ đại diện của các pháp nhân đó cũng chấm dứt

là xuất hiện hai hoặc nhiều pháp nhân cùng loại và có quyền kế thừa các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân bị chia (do đã chấm dứt tồn tại) Lúc này phải hình thành các quan hệ đại diện theo pháp luật mới, những người đại diện theo pháp luật của các pháp nhân được chia này phải thay mặt các pháp nhân được chia để liên đới cùng nhau chịu trách nhiệm về các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân bị chia (trừ trường hợp có thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao động về việc để một trong số các pháp nhân đó thực hiện nghĩa vụ này), đồng thời tự chịu trách nhiệm

Trang 28

về quyền và nghĩa vụ của pháp nhân được chia kể từ ngày được thành lập hợp pháp32

Thứ tư, Giải thể pháp nhân: pháp nhân giải thể trong các trường hợp: (1) theo quy định của Điều lệ; (2) theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (3) hết thời hạn hạn hoạt động được ghi trong điều lệ hoặc trong quyết định của cơ

Pháp nhân nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

và có tài sản riêng để thực hiện các nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của pháp nhân

Do đó, pháp nhân chỉ được giải thể nếu có khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài sản34 Khi pháp nhân giải thể thì quan hệ đại diện giữa người đại diện theo pháp luật của pháp nhân với pháp nhân đó cũng mặc nhiên chấm dứt

Thứ năm, Phá sản pháp nhân: Theo điểm b, khoản 1 điều 99 Bộ luật dân sự năm 2005 thì pháp nhân “bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản” Tuy nhiên thực tế Luật phá sản năm 2004 chỉ quy định phá sản đối với doanh nghiệp và hợp tác xã35 Doanh nghiệp, Hợp tác xã có thể bị Tòa án tuyên bố phá

sản trong trường hợp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mà chủ

nợ yêu cầu 36 Khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì quan hệ đại diện theo pháp luật của người đại diện với pháp nhân đó cũng chấm dứt

Ngoài ra, trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền đối với pháp nhân gồm: Khoản 2, Điều 148 Bộ luật Dân sự 2005 quy định quan hệ đại diện theo

ủy quyền của pháp nhân sẽ chấm dứt trong các trường hợp như: Thời hạn ủy quyền

đã hết hoặc công việc được ủy quyền đã hoàn thành; Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền; Pháp nhân chấm dứt hoặc người được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố

34 Khoản 2, Điều 98 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 2 điều 157 Luật Doanh nghiệp năm 2005

35 Trong khi điều 100 Bộ luật Dân sự năm 2005 đưa ra đến 6 loại pháp nhân, trong đó doanh nghiệp, hợp tác

xã thuộc loại tổ chức kinh tế Như vậy các loại pháp nhân khác không phải là tổ chức kinh tế thì trên thực tế hiện nay sẽ không bị chấm dứt hoạt động vì lý do phá sản Nói cách khác, quy định tại điểm b, khoản 1 điều

99 của Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ có thể áp dụng cho doanh nghiệp và hợp tác xã

36

Điều 3, Luật Phá sản năm 2004

Trang 29

mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là

đã chết

Trong pháp nhân, người đại diện theo pháp luật có thể ủy quyền cho một hoặc một số người để thực hiện một hoặc một số công việc nhất định Khi pháp nhân chấm dứt hoạt động thì tất cả những người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền sẽ đồng loạt chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền Tuy nhiên nếu một cá nhân được ủy quyền bị chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền nhưng không thuộc trường hợp pháp nhân chấm dứt hoạt động thì không làm chấm dứt quan hệ

ủy quyền của những người còn lại

Khi chấm dứt đại diện theo ủy quyền, người đại diện phải thanh toán xong các

1.2 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của công ty

Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: “Đại diện theo pháp luật là đại diện do

Công ty với tư cách là một tổ chức có tư cách pháp nhân - một thực thể pháp

lý độc lập, tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể - Những người quản lý công ty Cũng vì thế, công

ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và

Người đại diện theo pháp luật của công ty là người được thay mặt công ty thực hiện các giao dịch vì lợi ích của công ty với các đối tác, khách hàng và với cơ quan Nhà nước

Luật doanh nghiệp năm 2005 không định nghĩa về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, mà chỉ định nghĩa về người quản lý doanh nghiệp, theo đó

“Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các chức danh

Trang 30

quản lý khác do Điều lệ công ty quy định”40

Việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 không định nghĩa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một thiếu sót Do đó trong dự thảo lần 2 Luật Doanh nghiệp sửa đổi đang xin ý kiến góp ý của nhân dân đã đưa thêm định nghĩa về

Đối chiếu các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì người đại diện theo pháp luật của Công ty sẽ bao gồm:

- Đối với công ty cổ phần (CTCP) là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc;

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc;

- Đối với công ty TNHH một thành viên là chủ tịch công ty (hoặc chủ tịch hội đồng thành viên công ty) hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc;

- Đối với công ty hợp danh là tất cả các thành viên hợp danh

Người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ của công

ty

Căn cứ pháp lý để xác định ai là người đại diện theo pháp luật của công ty là Luật doanh nghiệp và Bộ luật Dân sự Tuy nhiên để xác định cụ thể trong công ty

ai là người đại diện theo pháp luật thì cần căn cứ vào điều lệ của công ty, giấy

Như vậy, các chức danh khác như Phó chủ tịch, Phó tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh,… chỉ có thể là người đại diện theo uỷ quyền, chứ không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty Chủ tịch hoặc Tổng giám đốc, Giám đốc công

ty nếu không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty thì không có quyền

40

Khoản 13, Điều 4, Luật Doanh nghiệp

41 Theo khoản 1, Điều 17 Dự thảo lần 2 Luật Doanh nghiệp sửa đổi định nghĩa về người đại diện theo pháp

luật của doanh nghiệp như sau: “Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh

nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” Xem dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi tại địa chỉ trang web: http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=753&LanI D=922&TabIndex=1

42

Khoản 1, điều 50, Luật Đầu tư năm 2005

Trang 31

đương nhiên được ký kết văn bản giao dịch với các đối tác.

Pháp luật hiện hành quy định nghĩa vụ của công ty sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trong thời hạn 30 ngày có nghĩa vụ công bố nội dung đăng ký kinh doanh trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp, trong đó có nội dung công bố về người đại diện theo pháp luật của doanh

đại diện theo pháp luật thì công ty cũng có nghĩa vụ đăng ký với cơ quan nhà nước

có thẩm quyền về sự thay đổi đó44

Trên cơ sở phân tích định nghĩa người đại diện theo pháp luật của công ty,có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản về người đại diện theo pháp luật của công ty như sau:

Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của công ty phải là cá nhân và có

Người đại diện theo pháp luật của công ty thay mặt công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty nhằm mang lại lợi ích cho công ty, do đó họ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt

Nam Người đại diện theo pháp luật của công ty là người thay mặt công ty trong việc tổ chức nội bộ công ty và giao dịch với bên ngoài Do đó, người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường xuyên có mặt tại công ty Để thực hiện tốt nghĩa

vụ của mình, pháp luật bắt buộc người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng mặt trên ba mươi ngày ở Việt Nam thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để

Thứ ba, Người đại diện theo pháp luật của công ty hành động nhân danh công

ty Trong quản lý công ty, người đại diện theo pháp luật hành động nhân danh công

43

Xem điểm e, khoản 1, điều 28, Luật Doanh nghiệp năm 2005

44 Xem Điều 37, 38, Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của CHính phủ về đăng ký doanh nghiệp

45 Về năng lực hành vi dân sự của người đại diện tác giả đã phân tích tại mục 1.1.2.1 của luận văn này

46

Theo quy định tại Điều 46; khoản 5, Điều 67 và Điều 95, Luật Doanh nghiệp

Trang 32

ty- đại diện đương nhiên- và thay mặt các chủ sở hữu công ty - đại diện ủy quyền

để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty

Thứ tư, Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty

được xác định theo Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, Điều lệ của công ty, văn bản thỏa thuận giữa chủ sở hữu công ty với người đại diện hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với công ty thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước Vì thế, người đại diện theo pháp luật của công ty không thể tự đặt ra quyền và nghĩa vụ cho mình

1.3 Phân loại người đại diện theo pháp luật của công ty

1.3.1 Căn cứ theo loại hình công ty

- Người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần Theo quy định tại điều

95 Luật Doanh nghiệp 2005, người đại diện theo pháp luật của CTCP là chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, cụ thể ai là người đại diện theo pháp luật sẽ được các cổ đông sáng lập xác định rõ trong Điều lệ của CTCP và đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh Việc Luật doanh nghiệp 2005 quy định như vậy nhằm tạo cho các cổ đông của công ty quyền được lựa chọn người đại diện theo pháp luật, pháp luật không quy định cứng nhắc phải là chủ tịch hay giám đốc

là người đại diện theo pháp luật

- Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu Khoản 5, Điều 67, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty” Như vậy, với loại hình công ty TNHH một thành viên do một tổ chức làm chủ sẽ có hai trường hợp xảy ra:

+ Trường hợp một, nếu chủ sở hữu là tổ chức bổ nhiệm từ hai người trở lên

đại diện theo ủy quyền cho chủ sở hữu để quản lý công ty thì người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sẽ là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Cụ thể người nào là người đại diện theo pháp luật sẽ do chủ sở hữu quyết định và được ghi rõ trong Điều lệ

Trang 33

của công ty

+ Trường hợp hai, nếu chủ sở hữu là tổ chức bổ nhiệm chỉ có một người để

đại diện theo ủy quyền cho chủ sở hữu để quản lý công ty thì người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sẽ là Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Cụ thể người nào là người đại diện theo pháp luật sẽ do chủ sở hữu quyết định và được ghi rõ trong Điều lệ của công

ty

- Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu Khoản 1, Điều 74, Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty” Ở đây, chủ sở hữu đồng thời là Chủ tịch công ty và có thể kiêm giám đốc hoặc thuê giám đốc Như vậy, với loại hình

công ty này, sẽ xảy ra hai trường hợp: một là: Nếu chủ sở hữu vừa đồng thời là chủ

tịch công ty lại kiêm luôn giám đốc thì việc điều lệ quy định chủ tịch công ty hoặc giám đốc là người đại diện theo pháp luật không có nhiều ý nghĩa Vấn đề ở đây là công ty một chủ, quyền lực của chủ sở hữu công ty trong công ty tương đối lớn và

vì có nhiều chức vụ nên đôi lúc chủ sở hữu công ty dễ nhầm lẫn vị trí người đại diện theo pháp luật của công ty với vị trí chủ tịch hay giám đốc công ty Điều này ở

Việt Nam hiện nay thường diễn ra vì tâm lý “đồng tiền đi liền khúc ruột”, họ không dám giao tài sản của mình cho người khác quản lý công ty Hai là: Nếu chủ sở hữu

công ty thuê giám đốc, lúc này việc Điều lệ quy định chủ tịch công ty hoặc giám đốc là người đại diện theo pháp luật sẽ rất có ý nghĩa Bởi lẽ, nếu Chủ tịch công ty

là người đại diện theo pháp luật, thì Giám đốc chỉ là một người lao động làm thuê

do Chủ tịch công ty ký hợp đồng và được công ty trả lương Giám đốc không có quyền nhân danh công ty trong các giao dịch với tư cách là người đại diện theo pháp luật Ngược lại, nếu Điều lệ công ty quy định Giám đốc là người đại diện theo pháp luật thì có nghĩa là Chủ tịch công ty đã ủy quyền cho Giám đốc được nhân danh công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty, Chủ tịch công ty không có quyền đại diện theo pháp luật của công ty nữa (mặc dù Chủ tịch công ty

Trang 34

là chủ sở hữu nên vẫn có quyền của chủ sở hữu đối với công ty) Lúc này, Chủ tịch công ty chỉ có thể chi phối công ty thông qua hợp đồng ủy quyền với Giám đốc công ty Có nghĩa là, chủ sở hữu công ty không trực tiếp quản lý công ty nữa Việc này giúp chủ sở hữu công ty có điều kiện tuyển chọn Giám đốc có năng lực để điều hành công ty mang lại lợi ích cho mình Tuy nhiên đòi hỏi chủ sở hữu công ty với

tư cách Chủ tịch công ty phải kiểm soát được hoạt động của Giám đốc với tư cách

là người đại diện theo pháp luật của công ty để chắc chắn rằng Giám đốc sẽ hành động nhân danh công ty và vì lợi ích của công ty mà không có hành vi lợi dụng vị trí đại diện để tư lợi gây thiệt hại cho công ty và chủ sở hữu công ty

- Người đại diện theo pháp luật của công ty Hợp danh: Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ

các loại hình doạnh nghiệp khác chỉ có một người duy nhất làm đại diện theo pháp luật, còn công ty hợp danh tất cả thành viên hợp danh đều có quyền đại diện theo pháp luật cho công ty, có quyền nhân danh công ty trong các giao dịch; có quyền

sử dụng tài khoản và con dấu của công ty trong các giao dịch và cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty

1.3.2 Căn cứ theo chức vụ quản lý công ty

Căn cứ vào chức vụ quản lý của công ty theo pháp luật hiện hành, người đại diện theo pháp luật của công ty có thể do các chủ thể sau đây nắm giữ:

- Người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch công ty

Mỗi loại hình công ty có chức danh Chủ tịch khác nhau Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Công ty cổ phần có chủ tịch HĐQT; Công ty TNHH một thành viên do một tổ chức làm chủ mà chủ sở hữu bổ nhiệm từ hai người trở lên đại diện theo ủy quyền thì có chủ tịch HĐTV; nếu chủ sở hữu là tổ chức chỉ bổ nhiệm một người đại diện theo ủy quyền hoặc công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ thì có chức danh Chủ tịch công ty; công ty TNHH hai thành viên trở lên thì gọi là Chủ tịch HĐTV Nếu Điều lệ công ty có quy định thì chức

47

Xem Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2005

Trang 35

danh chủ tịch trong các loại công ty vừa nêu có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty, trường hợp này các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó48

- Người đại diện theo Pháp luật là giám đốc hoặc tổng giám đốc (sau đây gọi

chung là giám đốc) Nếu Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch là người đại diện, thì trong Công ty TNHH và Công ty cổ phần, giám đốc sẽ là người đại diện theo pháp luật

- Người đại diện theo pháp luật là tất cả các thành viên Hiện nay Luật Doanh

nghiệp Việt Nam chỉ mới thừa nhận duy nhất công ty hợp danh là doanh nghiệp mà tất cả thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật Việc một công ty

có nhiều người đại diện theo pháp luật (trong điều kiện các thành viên phải liên đới cùng nhau chịu trách nhiệm vô hạn) được đánh giá là một ưu điểm của Luật Doanh nghiệp 2005, quy định này nhằm giúp cho các cá nhân giám sát lẫn nhau nhưng đều

có quyền nhân danh công ty trong hoạt động mà không cần phải xin chữ ký của người đại diện theo pháp luật duy nhất của công ty Tuy nhiên pháp luật cũng quy định người đại diện chính thức cho công ty hợp danh khi tham gia tố tụng cũng như khi thay mặt công ty trong các giao dịch với cơ quan Nhà nước là Chủ tịch Hội

1.3.3.Căn cứ theo quốc tịch của người đại diện

- Người đại diện theo pháp luật của công ty là công dân Việt Nam Theo quy

định của Luật doanh nghiệp, tất cả cá nhân là công dân Việt Nam, không thuộc trường hợp bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp Như vậy cũng có nghĩa là khi có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp thì cá nhân đó cũng có quyền trở thành người đại diện theo pháp luật cho công ty

- Người đại diện theo pháp luật của công ty là người nước ngoài Như phần

trước đã phân tích, người nước ngoài khi đến đầu tư hợp tác tại Việt Nam hoặc được doanh nghiệp Việt Nam thuê (trừ doanh nghiệp nhà nước) làm quản lý và không thuộc trường hợp bị pháp luật Việt Nam cấm thành lập và quản lý doanh

48 Xem khoản 1, Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2005

49 Xem điểm đ, khoản 4, điều 137 Luật Doanh nghiệp 2005

Trang 36

nghiệp thì cũng có quyền trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty Tuy nhiên người nước ngoài nếu làm đại diện theo pháp luật của công ty tại Việt Nam phải bắt buộc cư trú tại Việt Nam hợp pháp, tuân thủ pháp luật về quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú đối với người nước ngoài, pháp luật về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và các quy định có liên quan

1.3.4 Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu

- Người đại diện đồng thời là người góp vốn (chủ sở hữu duy nhất hoặc đồng chủ sở hữu) của công ty

Thực tế hiện nay ở Việt Nam, tâm lý chung của các nhà đầu tư khi thành lập công ty thường có tâm lý muốn nắm quyền lớn nhất trong công ty, mặc dù có thể

họ không hề có kiến thức và kỹ năng trong kinh doanh Xuất phát từ nền kinh tế tiểu nông, tư tưởng “đồng tiền đi liền khúc ruột” đã ăn sâu trong tiềm thức mỗi người, do vậy, họ không đủ niềm tin để giao đồng tiền của mình cho người khác kinh doanh Do vậy, không ít các doanh nghiệp hiện nay, người chủ sở hữu duy nhất hoặc chiếm vốn lớn nhất trong công ty sẽ là người có quyền to nhất trong công

ty và do vậy họ muốn nắm quyền đại diện theo pháp luật của công ty để chi phối công ty

Chẳng hạn như: công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ thì chủ sở hữu đồng thời là Chủ tịch công ty và có thể kiêm Giám đốc Trong đó một trong hai vị trí hoặc là Chủ tịch hoặc là Giám đốc sẽ là người đại diện theo pháp luật của công ty thì chính chủ sở hữu đã nắm giữ Tương tự như vậy ở công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên hoặc CTCP hoặc công ty hợp danh thì người có

số vốn góp lớn nhất thông thường cũng dễ dàng trở thành Chủ tịch và có thể kiêm luôn chức vụ Giám đốc, khi đó vị trí người đại diện theo pháp luật của công ty cũng chính do người có số vốn lớn nhất nắm giữ

- Người đại diện không đồng thời là người góp vốn trong công ty

Bên cạnh các trường hợp người đại diện theo pháp luật đồng thời là chủ sở hữu của công ty, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện mô hình người đại diện theo pháp luật của công ty nhưng không có quan hệ góp vốn trong công ty, họ không đồng

Trang 37

thời là chủ sở hữu công ty Những người này được chủ sở hữu công ty cử (doanh nghiệp nhà nước) hoặc thuê theo hợp đồng lao động để làm đại diện theo pháp luật của công ty

1.3.5 Căn cứ vào số lượng người đại diện theo pháp luật của công ty

- Công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật

Luật doanh nghiệp 2005 quy định CTCP, công ty TNHH là loại hình công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật đối với hai loại hình công ty này được xác định rõ trong Điều lệ của công ty, có thể là Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc đối với CTCP, Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty hoặc giám đốc đối với công ty TNHH

- Công ty có từ hai người đại diện theo pháp luật trở lên Pháp luật doanh

nghiệp Việt Nam hiện nay chỉ duy nhất quy định trong công ty hợp danh có nhiều người đại diện theo pháp luật Theo đó, tất cả thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật của công ty, có quyền nhân danh công ty và sử dụng con dấu của công ty trong các hoạt động, trừ trường hợp thay mặt công ty trong quan hệ tố tụng và quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước thì do Chủ tịch HĐTV, Giám

đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật

1.4 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của công ty với các quan

Ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có

Trang 38

thể tham gia vào các giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm50

Giữa người đại diện theo pháp luật của công ty và người đại diện theo ủy quyền của công ty có một số điểm khác biệt như:

Thứ nhất: Quyền nhân danh công ty

Người đại diện theo pháp luật của công ty được pháp luật trao quyền quản lý con dấu, quản lý tài khoản và tài sản của công ty, được nhân danh công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty

Còn người đại diện theo ủy quyền của công ty là người được người đại diện theo pháp luật của công ty ủy quyền để thực hiện một hoặc một số quyền và nghĩa

vụ nhất định Người đại diện theo ủy quyền của công ty không có quyền đương nhiên nhân danh công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ mà chỉ được nhân danh công ty trong phạm vi ủy quyền và có nghĩa vụ nói rõ việc ủy quyền đó trong các giao dịch

Thứ hai: Quyền ủy quyền cho người khác

Người đại diện theo pháp luật của công ty được quyền ủy quyền cho người khác để thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty do mình làm đại diện theo pháp

có thể ủy quyền cho các Phó tổng giám đốc, các giám đốc chi nhánh thực hiện một

số quyền và nghĩa vụ nhất định của công ty; hoặc trường hợp người đại diện theo pháp luật của công ty vắng mặt khỏi Việt Nam quá 30 ngày thì phải ủy quyền cho người khác đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty

Trong khi đó, người đại diện theo ủy quyền của công ty không đương nhiên được ủy quyền lại cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện cho công

ty mà mình đã được ủy quyền, trừ trường hợp được người ủy quyền đồng ý

Thứ ba: Thù lao đại diện

Người đại diện theo pháp luật của công ty không hưởng thù lao đại diện

Trang 39

Người đại diện theo pháp luật chỉ hưởng thù lao chức vụ (chủ tịch, giám đốc) Người đại diện theo ủy quyền của công ty có thể có thù lao đại diện Thù lao đại diện do các bên quy định

Thứ tư: Thời hạn đại diện

Thời hạn đại diện của người đại diện theo pháp luật của công ty gắn với nhiệm kỳ hoặc thời hạn ghi trong giấy phép kinh doanh hoặc quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động được ký kết với chủ sở hữu công ty

Thời hạn đại diện của người đại diện theo ủy quyền của công ty được thể hiện

rõ trong văn bản ủy quyền

Thứ năm: Quy định điều kiện cư trú tại Việt Nam:

Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam Trong khi đó, người đại diện theo ủy quyền của công ty không bị ràng buộc

về điều kiện cư trú

Như vậy có thể thấy trong cùng một công ty, địa vị pháp lý của người đại diện theo pháp luật của công ty và người đại diện theo ủy quyền của công ty là khác nhau Sự khác nhau này là cần thiết để phân định quyền và nghĩa vụ cũng như trách

nhiệm của mỗi người khi thực hiện quan hệ đại diện cho công ty

1.4.2 Sự khác nhau giữa người đại diện theo pháp luật của công ty với người đại diện theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị-xã hội

Công ty hay cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp hoặc tổ chức chinh trị xã hội thì đều là tổ chức và có tư cách pháp nhân Do vậy để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, các tổ chức này đều cần phải cử ra người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật thay mặt pháp nhân để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân đó

Tuy nhiên, giữa người đại diện theo pháp luật của công ty và người đại diện theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức khác cũng có những điểm khác biệt như sau:

Thứ nhất: Căn cứ hình thành tư cách đại diện:

Trang 40

Người đại diện theo pháp luật của công ty hình thành tư cách đại diện căn cứ vào quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của công ty, được bổ nhiệm, bầu

cử hoặc thuê

Người đại diện theo pháp luật của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị-xã hội thành tư cách đại diện căn cứ các quy định pháp luật liên quan đến các loại hình cơ quan, tổ chức đó và do bầu cử hoặc cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm theo những trình tự, thủ tục phức tạp

Thứ ba: Nghĩa vụ thông báo tư cách người đại diện:

Người đại diện theo pháp luật của công ty khi được công ty cử ra thì công ty phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh và đăng báo công khai về người đại diện theo pháp luật52 đồng thời thông báo về người đại diện theo pháp luật của công

ty và chữ ký của người đó cho các cơ quan liên quan như ngân hàng, thuế, bảo hiểm

Còn Người đại diện theo pháp luật của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị-xã hội khi được bầu cử hay bổ nhiệm làm người đại diện thì pháp luật không quy định phải đăng báo mà chỉ thông báo họ tên, chữ ký cho các cơ quan có liên quan53

Thứ tư: Thời hạn đại diện:

52

Điều 28 Luật Doanh nghiệp 2005

53 Chẳng hạn tại khoản 1, Điều 20, Luật giáo dục đại học năm 2012 quy định “Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học, giám đốc học viện, đại học (sau đây gọi chung là hiệu trưởng) là người đại diện cho cơ sở giáo dục đại học trước pháp luật, chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học Hiệu trưởng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận”.

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc Hội, Luật Báo chí năm 1989, sửa đổi, bổ sung năm 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Báo chí
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Quốc Hội, Luật số 03/2003/QH11, Luật Kế toán 3. Quốc Hội, Luật số 21/2004/QH11, Luật Phá sản 4. Quốc Hội, Luật số 36/2005/QH11, Luật Thương mại 5. Quốc Hội, Luật số 59/2005/QH11, Luật Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kế toán" 3. Quốc Hội, Luật số 21/2004/QH11," Luật Phá sản" 4. Quốc Hội, Luật số 36/2005/QH11," Luật Thương mại" 5. Quốc Hội, Luật số 59/2005/QH11
24. Vũ Thị Vân Anh (2009), “Pháp luật Singapore về các hình thức tổ chức kinh doanh”, Tạp chí Luật học, (số 12/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Singapore về các hình thức tổ chức kinh doanh”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Thị Vân Anh
Năm: 2009
25. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, Công ty - Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Nxb tri thức, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty - Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005
Nhà XB: Nxb tri thức
26. Nguyễn Ngọc Bích (2008), Doanh nhân và vấn đề quản trị doanh nghiệp, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nhân và vấn đề quản trị doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2008
28. Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
29. Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - Nhìn từ góc độ luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 4/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - Nhìn từ góc độ luật so sánh”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2009
30. Nguyễn Thị Dung (chủ biên) (2009), Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư những vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư những vấn đề pháp lý cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
10. Quốc Hội, Luật số 67/2011/QH12, Luật Kiểm toán độc lập Khác
12. Quốc Hội, Luật số 65/2006/QH11 và Luật số 20/2012/QH13 Luật Luật sư hợp nhất Khác
13. Quốc Hội, Luật số 08/2012/QH13, Luật Giáo dục đại học Khác
14. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, năm 2000 Khác
15. Chính phủ, Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31 tháng 05 năm 2004 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh Khác
16. Chính phủ, Nghị định 52/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, kinh doanh dịch vụ bảo vệ Khác
17. Chính phủ, Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 5 tháng 2 năm 2009 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác Khác
18. Chính phủ, Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 4 tháng 3 năm 2010 về bán đấu giá tài sản Khác
19. Chính phủ, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 về đăng ký doanh nghiệp Khác
20. Chính phủ, Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp Khác
21. Chính phủ, Nghị định số 05/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 về đăng ký doanh nghiệp Khác
22. Chính phủ, Nghị định 71/2013/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w