c Giai đoạn thực hiện đầu tư Ở giai đoạn này các yêu cầu về bảo vệ môi trường được tiến hành song song với các công việc như thiết kế, thi công xây dựng, cụ thể: Trong khâu thiết kế:
Trang 1NGUYỄN PHƯƠNG NAM
VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÓ SỬ
DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Trang 2Tôi xin cam đoan nội dung tôi viết trong luận văn này là kết quả từ quá trình nghiên cứu của riêng tôi, cùng với sự hướng dẫn của Pgs.Ts Phạm Duy Nghĩa Các kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Những kết luận, nhận định… tham khảo từ các sách báo, tạp chí, tài liệu, công trình nghiên cứu khác đều được trích dẫn một cách rõ ràng Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những ý kiến, đề xuất khoa học của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Nam
Trang 3BVMT Bảo vệ môi trường
ĐMC Đánh giá tác động môi trường chiến lược
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 5
1.1 Khái niệm về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư xây dựng 5
1.1.1 Khái niệm về bảo vệ môi trường ··· 5
1.1.2 Khía cạnh về bảo vệ môi trường trong các dự án ··· 5
1.1.2.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng 6
1.1.2.2 Các giai đoạn của dự án 6
1.1.2.3 Khía cạnh hoạt động bảo vệ môi trường trong các giai đoạn của dự án 7 1.1.2.4 Khía cạnh về bảo vệ môi trường trong các giai đoạn của dự án sử dụng vốn WB 13
1.2 Qui định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong các dự án 16
1.2.1 Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong các dự án tại Việt Nam hiện nay 16 1.2.2 Đánh giá tác động môi trường ··· 18
1.2.2.1 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường 18
1.2.2.2 Mục đích và ý nghĩa của quá trình đánh giá tác động môi trường 18
1.2.2.3 Quá trình hình thành pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam 19 1.2.2.4 Những nội dung cơ bản của pháp luật về đánh giá tác động môi trường 20 1.2.3 Kế hoạch quản lý môi trường của dự án ··· 26
1.2.3.1 Khái niệm về kế hoạch quản lý môi trường của dự án 26
1.2.4 Cam kết bảo vệ môi trường của dự án ··· 27
1.2.4.1 Khái niệm về cam kết bảo vệ môi trường của dự án 27
1.2.4.2 Qui định của pháp luật về lập cam kết bảo vệ môi trường của dự án 27 1.3 Chính sách của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường của dự án 28
1.3.1 Định nghĩa về chính sách an toàn của Ngân hàng thế giới ··· 28
1.3.2 Sự cần thiết của các chính sách an toàn ··· 28
1.3.3 Mục tiêu của chính sách an toàn ··· 29
Trang 51.3.4.3 Quản lý tài nguyên nước 31
1.3.4.4 Chính sách Rừng 32
1.3.4.5 Quản lý sâu bệnh 33
1.3.4.6 An toàn đập 33
1.3.4.7 Tiếp cận thông tin 35
1.3.4.8 Sử dụng hệ thống quốc gia 35
1.3.4.9 Đánh giá tác động môi trường 36
1.3.4.10 Kế hoạch quản lý môi trường 42
1.4 So sánh pháp luật Việt Nam và chính sách của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư 43
4.1.1 Sự tương đồng của pháp luật Việt Nam và chính sách của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường trong các dự án ··· 43
4.1.2 Những điểm khác biệt của pháp luật Việt Nam và chính sách của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường của dự án ··· 44
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DỰ ÁN VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 48
2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường của dự án 48
2.1.1 Thực trạng chung của chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường đối với dự án 48 2.1.2 háp luật về tiêu chu n quy chu n ··· 49
2.1.3 Thực trạng pháp luật về đánh giá tác động môi trường của dự án ··· 50
2.1.4 Thực trạng pháp luật về việc lập và triển khai thực hiện kế hoạch quản lý môi trường của dự án ··· 55
2.1.5 Thực trạng pháp luật về việc lập và triển khai thực hiện lập cam kết bảo vệ môi trường của dự án ··· 55
2.1.6 Thực trạng pháp luật về chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong các dự án ··· 55
2.2 Đánh giá thực trạng về việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường của các dự án sử dụng vốn tài trợ của WB 56
Trang 6dự án 63
2.4.1 Hoàn thiện qui định về sàng lọc xác định các dự án phải lập báo cáo đánh
giá tác động môi trường,cam kết bảo vệ môi trường ··· 63
2.4.2 Hoàn thiện các qui định về nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường 63
2.4.3 Bổ sung và hoàn thiện các qui định về lập và thực hiện kế hoạch quản lý môi
trường 64
2.4.4 Hoàn thiện hệ thống quy chu n môi trường ··· 65
2.4.5 Tăng cường trách nhiệm công bố thông tin và tham vấn cộng đồng ··· 65
2.4.6 Hoàn thiện quy định về chế tài đối với các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ
môi trường trong các dự án ··· 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngân hàng Thế giới là một định chế tài chính quốc tế có những đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian vừa qua Theo thống kê Việt Nam là khách hàng vay vốn lớn thứ hai trên thế giới của Hiệp
hội phát triển Quốc tế (một tổ chức trong nhóm Ngân hàng Thế giới) Kể từ khi Việt
Nam trở thành nước vay hỗn hợp năm 2010 cho đến năm tài chính 2012, Việt Nam
đã vay trung bình mỗi năm 1,875 tỉ USD từ Ngân hàng Thế giới, nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng Thế giới đã giúp Việt Nam thực hiện được nhiều dự án có tầm quan trọng rất lớn trong phát triển kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xóa đói giảm nghèo, cải thiện môi trường sống Trong quá trình xem xét tài trợ vốn cho các dự án, Ngân hàng Thế giới coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường của dự án, đây là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định để Ngân hàng Thế giới tài trợ hay không tài trợ vốn cho một dự án
Công tác bảo vệ môi trường cho dự án đầu tư xây dựng bao gồm nhiều hoạt động từ giai đoạn quy hoạch đến khi dự án hoàn thành đưa vào vận hành, theo quy định của pháp luật Việt Nam và chính sách môi trường của Ngân hàng Thế giới thì công tác này tựu chung có hai mảng công tác lớn là đánh giá tác động môi trường
và kế hoạch quản lý môi trường của dự án Ngoài ra, dự án đầu tư có tính chất, quy
mô, công suất không thuộc danh mục hoặc dưới mức quy định phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, hoặc các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không
thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư nhưng có phát sinh chất thải sản xuất 1 thì chỉ
phải lập cam kết bảo vệ môi trường
Nhìn chung, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch quản lý môi trường
đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới để kiểm soát và giám sát một cách hiệu quả quá trình triển khai các dự án ở khía cạnh môi trường, chi phối quá trình ra quyết định sẽ thực hiện hay không thực hiện dự án, đồng thời làm rõ câu hỏi là trong quá trình triển khai dự án thì các biện pháp bảo vệ môi trường phải được thực thi như thế nào? Ở Việt Nam, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch quản lý môi trường cũng đang ngày càng trở thành một công cụ bảo vệ môi trường quan trọng và chiếm một vị trí đáng kể trong các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, đồng thời các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam cũng đã tiếp cận được với các chính sách môi trường của các tổ chức tài trợ vốn phát triển quốc tế nói chung và Ngân hàng thế giới nói riêng
1 Xem : Điều 29 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
Trang 8Tuy nhiên hoạt động bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều bất cập và yếu kém về cả chất lượng cũng như việc tuân thủ quy trình đánh giá tác động môi trường, kế hoạch quản lý môi trường Bản thân qui định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường dự án ở một vài khía cạnh cũng chưa chặt chẽ, chưa tương thích với chính sách về bảo vệ môi trường của Ngân hàng thế giới, điều này dẫn đến khó khăn trong triển khai lập hồ sơ vay vốn của Ngân hàng thế giới Do vậy, cần có sự đánh giá và nhận thức lại về khía cạnh pháp
lý cũng như hiện trạng thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường của dự án để đề ra hướng khắc phục, nhằm đưa các quy định liên quan của pháp luật nước ta, phù hợp hơn với chính sách môi trường của Ngân hàng thế giới, giúp cho công tác lập hồ sơ vay vốn thực hiện dự án từ Ngân hàng thế giới được triển khai thuận lợi, đồng thời góp phần vào thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam như Nghị quyết Đại hội XI và Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (khoá XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của Đảng đã
đề ra
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, và thực trạng pháp luật và chính sách của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư, trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư ở nước ta hiện nay
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến hiện nay, đã có nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu liên quan đến pháp luật về bảo vệ môi trường của dự án, cụ thể như sau :
Hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số tháng 6/2011, tác giả : Trần Thị Hồng Quang và Trương Hồng Quang Nội dung bài viết nêu thực trạng quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường, đánh giá các quy định hiện hành về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam và nêu một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để đánh giá tác động môi trường có thể là một công cụ hữu hiệu trong quản lý và bảo vệ môi trường
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam, thực trạng và hướng hoàn thiện, tác giả Võ Trung Tín, Luận văn thạc sỹ luật, khóa 6, Trường Đại Học
Luật TP.HCM
Thực tiễn áp dụng pháp luật về đánh giá tác động môi trường tại một số khu kinh tế, khu công nghiệp ở miền Trung Việt Nam, tác giả Phạm Lê Thị Lan Phương, Luận văn thạc sỹ luật, khóa 10, Trường Đại Học Luật TP.HCM
Trang 9 Các bài viết và đề tài nghiên cứu nêu trên đã nêu được thực trạng quy định pháp luật về công tác bảo vệ môi trường, cụ thể là các hoạt động đánh giá tác động môi trường, đánh giá các quy định hiện hành về đánh giá tác động môi trường ở Việt
Nam và có một số kiến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường đối với dự án Tuy nhiên các bài viết, đề tài nghiên cứu trên chưa có sự so sánh giữa pháp luật Việt Nam với các qui định của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường của các dự án được tài trợ vốn bởi Ngân hàng thế giới, do vậy trong nội dung đề tài này tác giả cố gắng đi sâu phân tích thực trạng qui định pháp luật về bảo
vệ môi trường đối với các dự án, so sánh tìm ra điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với các qui định của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường đối với các dự
án, qua đó đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường đối với các dự án phù hợp với các yêu cầu của Ngân hàng thế giới
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn có giá trị tham khảo cho các đối tượng muốn quan tâm, tìm hiểu quy định của pháp luật và chính sách của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư Những kiến nghị mà tác giả đưa ra trong luận văn, hy vọng
sẽ giúp các cơ quan có thẩm quyền có những giải pháp hữu hiệu trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư ở Việt Nam hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, đánh giá về các yêu cầu của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường đối với các dự án được tài trợ vốn bởi tổ chức này
Đánh giá được tầm quan trọng của việc đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng thế giới đối với Việt Nam
Đánh giá được sự tương thích của pháp luật Việt Nam trong việc đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường trong các dự án vay vốn của
tổ chức này
Đưa ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư
6 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ môi trường khi lập và triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn tài trợ bởi Ngân hàng thế giới Phạm vi của luận văn giới hạn vào các khía cạnh pháp luật bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư xây dựng
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Trong quá trình thực hiện, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích: Trên cơ sở các văn bản pháp luật và tài liệu có được, tác giả phân chia đối tượng nghiên cứu ra từng phần nhỏ đơn giản hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính, bản chất của từng vấn đề để giúp hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung, phức tạp từ những vấn đề ấy
Phương pháp tổng hợp: từ các tài liệu, các văn bản pháp luật mà tác giả đã sưu tập được, tác giả đã tập hợp lại, nghiên cứu để có một cái nhìn tổng quan nhất, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về trách nhiệm của chủ đầu tư trong công tác bảo vệ môi trường của dự án theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Phương pháp so sánh: Căn cứ váo các quy định của các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm của chủ đầu tư trong công tác bảo vệ môi trường của
dự án, tác giả tiến hành so sánh để xem xét các quy định của pháp luật hiện hành có thống nhất hay và đầy đủ hay chưa? Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu chính sách môi trường của Ngân hàng thế giới khi xem xét quyết định tài trợ vốn thực hiện dự
án để so sánh, qua đó tìm ra sự tương đồng và khác biệt để rút ra các bài học, kinh nghiệm để đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của chủ đầu tư trong công tác bảo vệ môi trường dự án tại Việt Nam
Đánh giá thực tiễn công tác bảo vệ môi trường qua một số dự án cụ thể
8 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường có rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải nghiên cứu vì đây là một lĩnh vực phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu qui định của pháp luật bảo vệ môi trường cho dự án đầu tư xây dựng và chính sách môi trường của Ngân hàng thế giới trong xem xét tài trợ vốn thực hiện dự án
1 Kết cấu, bố cục
Luận văn gồm 2 chương:
Chương 1 Tổng quan về vấn đề bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư xây dựng
Chương 2 Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong các dự
án và định hướng hướng hoàn thiện
Do thời gian nghiên cứu viết luận văn tương đối ngắn, cùng với vốn kiến thức về pháp luật bảo vệ môi trường còn hạn hẹp nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Mong quý thầy cô và các bạn góp ý giúp đề tài được hoàn thiện tốt hơn
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1 Khái niệm về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư xây dựng
1.1.1 Khái niệm về bảo vệ môi trường
Môi trường theo định nghĩa rộng của Ngân hàng thế giới (WB) là "các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh tất cả nhân loại và bao gồm các thế hệ tương lai"2 Môi trường trong lĩnh vực khoa học pháp lý, cụ thể khoản 3 điều 1 Luật bảo
vệ môi trường (BVMT) 2005 định nghĩa “ môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên
và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và các sinh vật, bởi môi trường là không gian sống, tồn tại của con người và các loài sinh vật; môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của con người; môi trường cũng là nơi chứa đựng phế thải sản xuất
và sinh hoạt của con người Tuy nhiên, hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà rất nhiều nơi trên thế giới, việc phát triển kinh tế thông qua các dự án đầu tư đã cho thấy nguồn tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt; tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước đang phát triển; đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống con người
Từ những vấn đề liên quan đến môi trường nêu trên, bắt đầu từ những năm
1960, những dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngày càng tăng của nạn suy thoái môi trường đã ngày một rõ ràng hơn, con người đã bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại đối với môi trường sống Thời đại công nghiệp hóa, tiến trình hủy hoại môi trường của con người ngày càng tăng lên cả về phạm vi lẫn cường độ, vấn
đề môi trường đã được xác định là của toàn nhân loại, việc bảo vệ môi trường, bao gồm ngăn chặn, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường đã ngày càng
trở nên cấp thiết hơn Khoản 3 điều 3 Luật BVMT 2005 định nghĩa “Hoạt động bảo
vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”
1.1.2 Khía cạnh về bảo vệ môi trường trong các dự án
2
World Bank (1999), Environmental Assessment Sourcebook 1999, page 2 chapter 1
Trang 121.1.2.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì dự án là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định Diễn đạt một cách khác dự án là một loạt các hoạt động được sắp xếp nhằm đạt được một kết quả cụ thể trong phạm vi ngân sách và thời gian nhất định Dự án đầu tư xây dựng là dự án có kèm theo đó là xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án)
Dự án sử dụng vốn tài trợ bởi WB tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, bao gồm giao thông và phát triển đô thị, phát triển nông thôn, năng lượng, quản lý tài nguyên nước, cải cách hành chính công, tài chính, giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội,
và môi trường Khác với các dự án sử dụng vốn trong nước, quá trình thực hiện dự
án sử dụng vốn của WB ngoài việc tuân thủ các trình tự, thủ tục, quy định của Việt Nam thì còn phải tuân thủ các chính sách của WB theo thỏa thuận giữa chính phủ Việt Nam và WB trong hiệp định vay vốn, trong đó vấn đề bảo vệ môi trường các
dự án đầu tư là một trong những yêu cầu khắt khe trong quá trình xem xét tài trợ, giải ngân vốn của WB
1.1.2.2 Các giai đoạn của dự án
Dựa trên quy định của pháp luật hiện hành, có thể chia chu trình thực hiện dự
án thành các giai đoạn như sau:
a) Giai đoạn lập quy hoạch
Giai đoạn này dựa trên đề xuất của các bộ chuyên ngành và các chính quyền địa phương nơi có dự án quy hoạch, Chính phủ sẽ phê duyệt quy hoạch tổng thể hoặc quy hoạch chiến lược phát triển Bộ chuyên ngành sẽ phê duyệt quy hoạch vùng, địa phương phù hợp với định hướng của quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt Đặc điểm của dự án ở giai đoạn này mới hình thành ở mức ý tưởng
và có thể đã xác định được chủ đầu tư đối với dự án giao cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo nội dung quy hoạch Ở giai đoạn này dự án chưa xác định nguồn vốn, do vậy chưa có sự tham gia của các tổ chức tín dụng
b) Giai đoạn chu n bị đầu tư
Giai đoạn này dự án thực hiện các thủ tục như báo cáo đầu tư xây dựng công trình và xin phép đầu tư đối với các dự án lớn; lập và phê duyệt dự án đầu tư; Dự án
ở giai đoạn này đã được xác định nguồn vốn Đối với dự án WB tài trợ, WB sẽ tiến hành việc sàng lọc để xác định mức độ đánh giá tác động môi trường cần thực hiện của dự án
c) Giai đoạn thực hiện đầu tư
Trang 13Giai đoạn này dự án thực hiện các nội dung như thiết kế và lập phương án thi công xây dựng; Mua sắm thiết bị, xây dựng và lắp đặt; Nghiệm thu vận hành thử sau khi xây dựng hoàn tất Đối với các dự án WB tài trợ vốn, trong giai đoạn này dự
án sẽ được WB kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các cam kết BVMT trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), việc thực hiện kế hoạch quản lý môi trường (KHQLMT) và giải ngân
d) Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư
Ở giai đoạn này dự án, bao gồm cả những công trình bảo vệ môi trường đi theo dự án sau khi đã xây dựng xong và được nghiệm thu đưa vào vận hành Trong hầu hết các dự án đầu tư đây là giai đoạn có thời gian hoạt động dài nhất, tác động tiềm tàng đến môi trường lớn nhất, do vậy vấn đề BVMT trong giai đoạn này hết sức quan trọng Đây cũng chính là giai đoạn mà các cam kết, các biện pháp BVMT thể hiện trong ĐTM, KHQLMT được thực hiện, do vậy đòi hỏi có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ các cơ quan quản lý để bảo đảm các cam kết, các biện pháp BVMT được thực hiện đúng trong thực tế Đối với các dự án WB tài trợ vốn, trong giai đoạn này ngân hàng thực hiện công việc giám sát
1.1.2.3 Khía cạnh hoạt động bảo vệ môi trường trong các giai đoạn của dự án
Tương ứng với chu trình hình thành và thực hiện dự án, pháp luật có quy định trách nhiệm, quyền hạn về khía cạnh môi trường của các chủ thể tham gia
a) Ở giai đoạn quy hoạch
Giai đoạn này vấn đề BVMT chỉ được quy định mang tính định hướng trong các luật chuyên ngành như Luật xây dựng(khoản 3, điều 3), Luật khoáng sản(điểm
c, khoản 1, điều 13), Luật điện lực(khoản 2, điều 11)…Luật BVMT 2005, vấn đề BVMT đã được quy định khá cụ thể, theo đó các bộ ngành Trung ương và UBND cấp tỉnh, là các cơ quan lập quy hoạch theo phân cấp, chịu trách nhiệm lập và trình duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược (ĐMC) cho đề án quy hoạch, theo quy định ĐMC được lập đồng thời với đề án quy hoạch Ở giai đoạn này có các cơ quan, tổ chức khác tham gia vào vấn đề BVMT như sau:
Đối với Quốc hội : Hệ thống pháp luật về xây dựng không đề cập đến vai trò quản lý, giám sát trực tiếp của Quốc hội trong quá trình thực hiện lập, duyệt quy hoạch Việc giám sát của Quốc hội chỉ thông qua cơ chế giám sát hệ thống hành pháp theo Luật tổ chức Quốc hội, do vậy trong vấn đề BVMT Quốc hội cũng chỉ thực hiện giám sát theo cơ chế này
Đối với các cơ quan nhà nước tại địa phương(cấp tỉnh) ngoài việc thực hiện quy hoạch trên phạm vi quản lý thì có tham gia góp ý đối với quy hoạch trên địa bàn, nội dung góp ý bao gồm cả vấn đề về BVMT
Trang 14 Doanh nghiệp nhà nước tham gia vào các đề án quy hoạch liên quan đến ngành nghề ngay từ giai đoạn lập quy hoạch, tuy nhiên ở khía cạnh bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong quá trình triển khai lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược (ĐMC) thì doanh nghiệp lại không tham gia Đối với các loại hình doanh nghiệp khác, theo quy định của pháp luật, thì hầu như không tham gia vào việc lập quy hoạch nêu trên
Vai trò của các tổ chức xã hội và của cộng đồng dân cư trong khâu quy hoạch nói chung và trong khía cạnh môi trường nói riêng cũng không được đề cập trong quy định của pháp luật, theo Luật BVMT 2005 thì quá trình lập, thẩm định và phê duyệt ĐMC không có cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư
Để bảo đảm việc thực hiện quy hoạch đúng quy định, ngoài yêu cầu ĐMC là một trong những điều kiện để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, thì pháp luật không có quy định cụ thể nào khác về chế tài đối với các vi phạm quy định bảo
vệ môi trường trong giai đoạn này
b) Ở giai đoạn chu n bị đầu tư
Sau khi dự án được đưa vào quy hoạch, đối với các dự án lớn chủ đầu tư cần phải lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình và thông qua chính phủ để trình Quốc
hội xem xét quyết định về chủ trương đầu tư, đối với các dự án “khác” chủ đầu tư
không phải lập báo cáo đầu tư3, pháp luật cũng không yêu cầu thủ tục gì về môi
trường đối với các dự án đầu tư “khác” khi không phải lập báo cáo đầu tư Dự án
lớn ở đây được xác định theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 66/2006/NQ-QH11 ngày 29 tháng 06 năm 2006 về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư Một trong những nội dung chủ yếu của báo cáo đầu
tư xây dựng công trình là giải pháp bảo vệ môi trường của dự án đầu tư Theo quy định báo cáo đầu tư phải được Hội đồng thẩm định nhà nước thẩm định trước khi trình Quốc Hội, thành phần của Hội đồng thẩm định nhà nước do Thủ tướng chính phủ quyết định, bao gồm Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm chủ tịch Hội đồng, đại diện có thẩm quyền của các Bộ liên quan và Chủ tịch UBND Tỉnh có liên quan
Do thông tin về dự án trong giai đoạn này có đối tượng tiếp cận khá hạn hẹp nên điều kiện tham gia của các thành phần khác trong xã hội như các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng bởi dự án trong khâu này là rất hạn chế Trong khi đó việc lựa chọn địa điểm thực hiện dự án đầu tư trong báo cáo đầu tư xây dựng công trình là khá quan trọng đối với vấn đề bảo vệ môi trường, bởi một dự án tuy có
3
Xem Điều 2 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Trang 15cùng quy mô, tính chất nhưng thực hiện ở các địa điểm khác nhau sẽ có tác động đến môi trường khác nhau do phụ thuộc vào độ nhạy cảm của môi trường tại khu vực thực hiện dự án Điều 52 Luật Đất đai năm 20134 quy định cụ thể việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm ở cấp huyện, điều này giúp cho công tác bảo vệ môi trường ngay trong giai đoạn lựa chọn địa điểm được thuận lợi hơn, vì địa điểm thực hiện
dự án đã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất rõ ràng và trong quá trình lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã xét đến khía cạnh bảo vệ môi trường5 Ở khâu này pháp luật cũng không có quy định về chế tài đối với việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện các quy định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, do vậy chất lượng công tác bảo vệ môi trường ở khâu này hoàn toàn phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức liên quan
Sau khi dự án được phê duyệt về chủ trương đầu tư, Chủ đầu tư triển khai lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư Trong đó ở khía cạnh môi trường, tùy theo quy mô, tính chất của dự án Chủ đầu tư phải có trách nhiệm tổ chức lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), hoặc cam kết bảo vệ môi trường(CKBVMT) trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, ĐTM phải được tiến hành đồng thời với quá trình lập dự án đầu tư Do ĐTM là một khâu có tầm quan trọng vào bậc nhất của công tác bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư, nên các phân tích cụ thể về quy định và hiện trạng công tác báo cáo ĐTM xin được trình bày chi tiết ở phần sau luận văn này
Để bảo đảm thực hiện các quy định về lập ĐTM và CKBVMT pháp luật hiện hành không có quy định về trách nhiệm hình sự đối với các vi phạm, mà chủ yếu quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm Cụ thể Nghi định số 79/2013/NĐ-CP đã có quy định chi tiết về hành vi vi phạm, mức xử phạt, các hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả và chủ thể bị xử phạt6
c) Giai đoạn thực hiện đầu tư
Ở giai đoạn này các yêu cầu về bảo vệ môi trường được tiến hành song song với các công việc như thiết kế, thi công xây dựng, cụ thể:
Trong khâu thiết kế:
Trách nhiệm của chủ dự án là tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong giai đoạn khảo sát, thiết kế theo yêu cầu của quyết định phê duyệt ĐTM và tổ chức thiết kế, phê duyệt thiết kế các công trình bảo vệ môi trường
4 Luật đất đai 2013 có hiệu lực thi hành từ 01-07-2014
5 Xem : khoản 2 điều 3 Luật đất đai 2013
6 Xem : điều 9, 10 Nghị định số 79/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 16 Trách nhiệm của đơn vị tư vấn thiết kế là phải triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình khảo sát (nguồn nước, tiếng ồn, khí thải ), căn cứ vào kết quả khảo sát, tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành về bảo vệ môi trường để thiết kế dự án, thiết kế các công trình bảo vệ môi trường trình chủ dự
án xem xét phê duyệt7;
Trong khâu thiết kế vai trò trách nhiệm thực hiện bó hẹp trong phạm vi tư vấn thiết kế và chủ đầu tư, cho nên vai trò của cơ quan Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng dân cư trong khía cạnh BVMT ở khâu này là rất hạn chế Để bảo đảm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong giai đoạn này, Nghị định số 79/2013/NĐ-CP ngày 14-01-2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có quy định phạt tiền đối với một số hành vi vi phạm, còn Bộ luật hình sự (BLHS) không quy định về trách nhiệm hình sự đối với vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong khâu này
Ở khâu thi công xây dựng :
Trách nhiệm của chủ dự án là tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong giai đoạn thi công xây dựng dự án, cụ thể như : tổ chức quan trắc môi trường theo yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; xây lắp các công trình bảo vệ môi trường; vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải của dự án; nghiệm thu các công trình bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; lập phê duyệt và thực hiện kế hoạch thu dọn vệ sinh vùng lòng hồ trước khi tích nước trong trường hợp dự án có nội dung đầu tư xây dựng hồ chứa thủy lợi hoặc hồ chứa thủy điện; lập hồ sơ đề nghị kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án theo quy định để được kiểm tra, xác nhận trước khi đưa dự án vào vận hành chính thức; hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan quản lý về bảo vệ môi trường kiểm tra việc thực hiện KHQLMT và việc triển khai thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường; phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu liên quan đến dự án khi được yêu cầu; trong quá trình thực hiện dự án, nếu để xảy ra sự cố gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng phải dừng ngay các hoạt động của dự án gây ra sự cố, tổ chức ứng cứu khắc phục sự
cố, thông báo khẩn cấp cho cơ quan quản lý về môi trường cấp tỉnh và các cơ quan
có liên quan nơi có dự án để chỉ đạo và phối hợp xử lý8;
Trang 17 Trách nhiệm của đơn vị thi công : Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm về môi trường cho người lao động trên công trường và bảo
vệ môi trường xung quanh, bao gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn hiện trường Đối với những công trình xây dựng trong khu vực đô thị, phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến đúng nơi quy định; Trong quá trình vận chuyển vật liệu xây dựng, phế thải phải có biện pháp che chắn bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường; kiểm tra giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường xây dựng, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; Trường hợp nhà thầu thi công xây dựng không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường thì chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có quyền đình chỉ thi công xây dựng và yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng biện pháp bảo vệ môi trường9;
Trách nhiệm của cơ quan quản lý môi trường : Cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường tổ chức thực hiện các hoạt động đối với các dự án do mình phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, bao gồm: kiểm tra, xác nhận việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án; kiểm tra việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và giai đoạn thi công xây dựng của dự án trong trường hợp cần thiết10
Ngoài ra, theo quy định Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng ban hành kèm Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế giám sát đầu tư cộng đồng, chủ đầu tư phải công khai hoá thông tin về quản lý đầu tư trong đó có nội dung về xử lý chất thải và bảo vệ môi trường của dự án phục vụ cho việc giám sát đầu tư của cộng đồng
Để bảo đảm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong giai đoạn này, Nghị định số 79/2013/NĐ-CP có quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó liệt kê hàng loạt các hành vi vi phạm liên quan đến quá trình thi công xây dựng dự án, cùng các hình thức chế tài như phạt tiền, hình phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm Chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong giai đoạn này, tùy loại hành vi và mức độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vi phạm của mình
Trang 18Trước khi dự án vận hành chính thức: Cơ quan kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án(chính là cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường) có trách nhiệm tổ chức xem xét hồ sơ đề nghị kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án do chủ dự án gửi đến Các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án, bao gồm :
Công trình, thiết bị, biện pháp thu gom, xử lý nước thải đã đề xuất trong báo cáo đánh giá tác động môi trường;
Công trình, thiết bị, biện pháp lưu giữ, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại, chất thải rắn thông thường đã đề xuất trong báo cáo đánh giá tác động môi trường;
Công trình, thiết bị, biện pháp thu gom, xử lý bụi, khí thải đã đề xuất trong báo cáo đánh giá tác động môi trường; công trình, thiết bị, biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường không liên quan đến chất thải;
Công trình, thiết bị, kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường và các công trình, biện pháp, giải pháp kỹ thuật bảo vệ môi trường khác
Chủ dự án có trách nhiệm khắc phục những tồn tại của hồ sơ và trên thực tế theo yêu cầu được nêu trong thông báo của cơ quan kiểm tra, xác nhận Hoàn chỉnh
hồ sơ đề nghị kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án và gửi lại cơ quan kiểm tra, xác nhận Trường hợp cần thiết, cơ quan kiểm tra, xác nhận có thể tổ chức kiểm tra lại các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường sau khi được chủ dự án khắc phục Cơ quan kiểm tra, xác nhận có trách nhiệm cấp giấy xác nhận việc chủ dự án đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của
dự án
Để bảo đảm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong giai đoạn vận hành dự án, Nghị định số 79/2013/NĐ-CP có liệt kê hàng loạt các hành vi vi phạm liên quan đến quá trình vận hành dự án, cùng các hình thức chế tài như phạt tiền, hình phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm Ngoài
ra, các cá nhân liên quan của đơn vị vận hành có hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường, tùy mức độ có thể chịu trách nhiệm hình sự đối với vi phạm của mình trong giai đoạn này
Như vậy, theo quy định của pháp luật công tác bảo vệ môi trường gắn chặt với chu trình thực hiện dự án từ khi quy hoạch, lựa chọn địa điểm đến khi dự án hoàn tất đưa vào vận hành
Trang 191.1.2.4 Khía cạnh về bảo vệ môi trường trong các giai đoạn của dự án đầu tư sử dụng vốn WB
a) Giai đoạn xác định dự án
Dự án đề xuất vay vốn WB là những dự án đã được quy hoạch, đã xác định chủ đầu tư, hoàn thành bước báo cáo đầu tư (đối với các dự án lớn quan trọng) và đang trong quá trình xác định nguồn vốn và lập dự án đầu tư theo quy định, đồng thời dự án được cơ quan chủ quản (thông thường là bộ chuyên ngành) và Bộ KHĐT chấp thuận chủ trương vay vốn WB
Dự án đề xuất vay vốn WB cần có hồ sơ vay vốn do chủ đầu tư lập, thông qua cơ quan chủ quản và Bộ KHĐT trước khi gửi cho WB xem xét, dự án cần có những thông tin cơ bản để xác định việc đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn của WB, bao gồm:
Các dự án đã được liệt kê trong danh mục Chiến lược hợp tác quốc gia (CPS)11của WB và danh mục dự án ODA được thống nhất giữa WB và Chính phủ;
Đối với những dự án không nằm trong danh mục Chiến lược hợp tác quốc gia,
WB sẽ chấp thuận, với điều kiện là các dự án đó sẽ được đưa vào danh mục Chiến lược hợp tác quốc gia tiếp theo hoặc sẽ được cập nhật vào danh mục Chiến lược hợp tác quốc gia;
Đối với những dự án mà Chính phủ coi là có ưu tiên cao, nhưng lại chưa được phản ánh trong danh mục dự án ODA hoặc trong Chiến lược hợp tác quốc gia, WB
có thể chấp thuận thông qua việc trao đổi bằng văn bản với Bộ KHĐT
Trong giai đoạn này chính sách bảo vệ môi trường của WB thể hiện trong Chiến lược Hợp tác Quốc gia và chủ yếu mang tính định hướng, chưa có sàng lọc cụ thể
về mặt môi trường
b) Sàng lọc dự án
Sau khi dự án đề xuất đạt được các tiêu chí nêu trên, cơ quan chủ quản với sự
hỗ trợ của Bộ KHĐT và Ban điều phối của WB sẽ hoàn thiện danh mục các hoạt động tiền thẩm định Bản danh mục này là một phần của bộ hồ sơ vay vốn và sẽ bao gồm những câu hỏi về quy mô, loại hình, và phạm vi của các tác động môi trường
và xã hội có thể có Trong bước này chủ đầu tư dự án sẽ nộp bộ hồ sơ vay vốn cho
WB thông qua cơ quan chủ quản và Bộ KHĐT, sau đó Tổ công tác của WB sẽ được sàng lọc vấn đề BVMT của dự án theo tất cả các chính sách an toàn có thể áp dụng của WB
11
Xem quan hệ với các tổ chức quốc tế-Ngân hàng thế giới (17-07-2014)
http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/quanhevoicactochucquocte?categ oryId=100002827&articleId=10050364
Trang 20 Thông tin sàng lọc này cho phép Tổ công tác của WB sau khi tham khảo ý kiến của Ban thư ký An toàn Khu vực của WB sẽ xác định loại đánh giá môi trường cần thực hiện và các yêu cầu về an toàn môi trường, bao gồm loại hình và phạm vi của các công cụ an toàn môi trường cần thiết để giải quyết những nguy cơ tác động, cụ thể như: xác định phạm vi ĐTM cần tiến hành; khung chính sách bảo vệ môi trường, ĐTM, KHQLMT…
Sau đó Tổ công tác dự án của WB sẽ rà soát hồ sơ dự án xin tài trợ, nếu hồ sơ
dự án đạt yêu cầu, Tổ công tác Dự án của WB sẽ gửi ý kiến không phản đối tới Bộ KHĐT, cơ quan chủ quản sẽ cho triển khai thực hiện các hoạt động chuẩn bị đầu tư của dự án
c) Giai đoạn chu n bị đầu tư
Trong giai đoạn này chủ đầu tư triển khai các hoạt động lập dự án đầu tư, công tác báo cáo ĐTM và lập KHQLMT của dự án cũng được thực hiện đồng thời Thủ tục và mức độ chi tiết của ĐTM tuân thủ pháp luật Việt Nam và chính sách an toàn của WB, trong đó mức độ chi tiết của ĐTM theo yêu cầu của WB được xem xét, xác định ở giai đoạn sàng lọc nêu trên Các trình bày và phân tích cụ thể chính sách của WB trong việc lập báo cáo ĐTM và KHQLMT sẽ được trình bày ở phần sau luận văn này
Báo cáo ĐTM phải hoàn thành và được cơ quan chức năng của Việt Nam thẩm định, phê duyệt trước khi WB tiến hành thẩm định dự án KHQLMT cũng phải được chủ đầu tư lập trước khi WB tiến hành thẩm định dự án, đối với KHQLMT thì WB không yêu cầu phải được phê duyệt bởi cơ quan chức năng của Việt Nam
Dự án đầu tư, ĐTM và KHQLMT là những thành phần quan trọng trong hồ
sơ phục vụ việc thẩm định dự án của WB, nội dung thẩm định bao gồm đánh giá các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật, thể chế, tài chính, môi trường và xã hội của dự án Các tài liệu chuẩn bị cho công tác thẩm định và dự thảo hiệp định cũng được chuẩn
bị trong giai đoạn này Sau khi hoàn tất các công việc liên quan đến BVMT của dự
án nêu trên, cùng với việc hoàn tất các thủ tục trong khía cạnh khác, WB cùng bên vay thương thảo để thống nhất các điều khoản của hiệp định tài chính hoặc vay vốn
và trình Ban Giám đốc WB phê duyệt
d) Giai đoạn thực hiện đầu tư
Sau khi Hiệp định tài chính hoặc vay vốn được Ban Giám đốc WB phê duyệt, Bên vay triển khai thực hiện dự án Trong quá trình thực hiện thiết kế chi tiết
và thi công dự án, KHQLMT được lồng ghép vào trong thiết kế dự án, WB thực hiện việc giám sát theo các điều khoản hiệp định đã ký kết nhằm đảm bảo vốn vay
Trang 21được sử dụng đúng mục đích có tính đến hiệu quả kinh tế, hiệu năng và hiệu quả thực hiện dự án Đồng thời WB cũng giám sát thực hiện chính sách an toàn môi trường của dự án trên cơ sở những phát hiện và khuyến nghị của ĐTM, các biện pháp giảm thiểu tác động đã được đưa vào hiệp định, hợp đồng với các nhà thầu, KHQLMT và các tài liệu khác, mục đích nhằm:
Đảm bảo việc thực hiện kịp thời và hiệu quả các vấn đề môi trường như được
đề ra trong các công cụ quản lý môi trường là KHQLMT và Khung tuân thủ môi trường
Hướng dẫn cơ quan thực hiện giải quyết những vấn đề không lường trước và phát sinh trong quá trình thực hiện
Hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ xây dựng năng lực cần thiết cho các bên thực hiện dự án
Trong giai đoạn này nếu bên vay vi phạm các nghĩa vụ cho vay, bao gồm các cam kết thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm nhẹ tác động đối với môi trường và tuân thủ các điều kiện môi trường khác đã cam kết trong ĐTM và KHQLMT, WB
có thể sử dụng các biện pháp khắc phục hợp đồng như tạm dừng giải ngân, hoặc có thể hủy hợp đồng cho vay12
e) Giai đoạn vận hành dự án
WB thực hiện việc giám sát theo các điều khoản hiệp định đã ký kết, trong
đó có nội dung giám sát về thực hiện KHQLMT của dự án trong quá trình vận hành,
kể cả thời gian sau khi đã thực hiện giải ngân cuối cùng Trong trường hợp bên vay
vi phạm cam kết môi trường thì ở giai đoạn này WB sẽ không thực hiện được các biện pháp chế tài trực tiếp đối với bên vay trong khuôn khổ dự án, mà vấn đề này sẽ được đưa vào xem xét trong các khoản vay tiếp theo
Như vậy, công tác BVMT trong các dự án đầu tư được quy định theo suốt quá trình hình thành, triển khai dự án, cho đến khi dự án hoàn thành và trong suốt quá trình vận hành Đối với các dự án sử dụng vốn của WB, ngoài việc phải triển khai theo quy định của pháp luật BVMT Việt Nam hiện hành, thì dự án còn phải được thực hiện theo các chính sách BVMT của WB, trong trường hợp pháp luật Việt Nam có khác biệt so với chính sách của WB, thì việc tuân thủ các chính sách của WB được
ưu tiên áp dụng theo hiệp định vay ký kết giữa chính phủ và WB Đây cũng là một điểm khác biệt giữa dự án dùng vốn WB với dự án dùng vốn của các ngân hàng trong nước, bởi các dự án mà ngân hàng trong nước tài trợ việc xem xét dự án để quyết định cho vay chủ yếu tập trung vào hiệu quả kinh tế của dự án, vấn đề môi trường nếu có xem xét cũng trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam và thường không
12 World Bank (1999), Environmental Assessment Sourcebook 1999, Para 37, chapter1
Trang 22được chú trọng, trong khi đối với các dự án WB xem xét tài trợ vốn thì vấn đề BVMT là một trong những vấn đề mang tính tiên quyết
1.2 Qui định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong các dự án
Cùng với sự hình thành và phát triển của Luật bảo vệ môi trường, các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư đã được luật hóa và ngày càng cụ thể hơn Dưới đây tác giả xin trình bày khái quát về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong các dự án, sau đó tập trung phân tích các quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, KHQLMT của dự án, bởi đây là những thủ tục, công việc quan trọng nhất, thể hiện toàn bộ các chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn môi trường của
Nhà nước đối với khía cạnh bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư
1.2.1 Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư tại Việt Nam hiện nay
Liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư, có rất nhiều văn bản luật được Nhà nước ban hành, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư về vấn đề bảo vệ môi trường, bao gồm: chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường của dự án; quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cá nhân khác có liên quan Có những đạo luật mà nhà nước ban hành chỉ đề điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến môi trường như Luật BVMT, Luật bảo vệ phát triển rừng cũng có nhưng đạo luật nhà nước xác định nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ môi trường trong một lĩnh vực cụ thể nào đó như thương mại, xây dựng, giao thông… BLHS tại chương XVII – Chương các tội phạm về môi trường cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể thực hiện hành vi xâm hại các yếu tố của môi trường
Theo sau quá trình xây dựng và ban hành Luật, Pháp lệnh của Quốc hội, Chính phủ đã đẩy mạnh việc xây dựng ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành luật, tạo nên một hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong các dự
án đầu tư ngày càng toàn diện và đồng bộ, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ công tác bảo
vệ môi trường trên phạm vi cả nước như Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT
2005, Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP, và hàng trăm văn bản hướng dẫn cụ thể (nghị định, thông tư, ) điều chỉnh các lĩnh vực BVMT như: kiểm soát ô nhiễm; quản lý chất thải; quản lý môi trường lưu vực sông; quản lý môi trường biển và hải đảo; đa dạng sinh học; quan trắc và thông tin môi trường; ưu đãi, hỗ trợ tài chính; phát triển công nghệ; xã hội hóa công tác BVMT… Điển hình như Nghị định số 27/2013/NĐ-CP
Trang 23ngày 29/3/2013 về Quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường; Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; Nghị định số 113/2010/NĐ-CP ngày 3/12/2010 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường; Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21/6/2010 về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen; Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường; Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06/3/2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 29/4/2007 về quản lý chất thải rắn…
Hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật về môi trường cũng được rà soát, sửa đổi và ban hành đáp ứng cơ bản các yêu cầu về số lượng và mục đích sử dụng Đến nay đã
có gần 400 quy chuẩn được ban hành, trong đó hệ thống quy chuẩn về môi trường hiện hành đã hoàn thiện hơn và chiếm một phần đáng kể trong hệ thống quy chuẩn quốc gia, các quy chuẩn đã được xây dựng khá phù hợp với điều kiện thực tế, đáp ứng yêu cầu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, số lượng quy chuẩn vẫn còn thiếu, nhưng đã đáp ứng phần lớn yêu cầu quản lý và bảo vệ môi trường cho dự án đầu tư trong giai đoạn hiện nay Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường(QCVN)
đã ban hành đến nay bao gồm: 06 QCVN về chất lượng nước; 01 QCVN về chất lượng trầm tích; 02 QCVN về chất lượng không khí; 04 QCVN về chất lượng đất;
01 QCVN về tiếng ồn; 09 QCVN về khí thải ; 12 QCVN về nước thải; 03 QCVN
về chất thải rắn; 04 QCVN về phế liệu; 01 QCVN về đê, đập
Việt Nam cũng đã ký kết tham gia các Công ước quốc tế liên quan đến vấn
đề bảo vệ môi trường dự án đầu tư, cụ thể như:
Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), 1971 (20/9/1988)
Công ước liên quan đến Bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (19/10/1982)
Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa, 1973 (20/1/1994)
Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/8/1991)
Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC), 1994)
(16-11- Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (25/7/1994)
Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng, FAO, 1985
Công ước Viên về bảo vệ tầng ô-zôn, 1985
Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn, 1987 (26/4/1984)
Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân, IAEA, 1985 (30/10/1987)
Trang 24 Công ước về trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ,
1986, IAEA (29/9/1987)
Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (13/3/1995)
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, 1992 (16/11/1994)
Công ước về Ða dạng sinh học, 1992 (16/11/1994)
Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005 có quy định việc ưu tiên
áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập, đồng thời giao trách nhiệm cho các cơ quan chức năng thực hiện việc nội luật hóa các điều ước mà Việt Nam đã gia nhập Như vậy các điều ước quốc tế liên quan đến BVMT trong dự án đầu tư mà Việt Nam ký kết nêu trên đã là một nguồn quan trọng trong hệ thống pháp luật BVMT trong dự án đầu tư tại Việt Nam
1.2.2 Đánh giá tác động môi trường
1.2.2.1 Khái niệm về đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có thể được xem xét dưới nhiều góc
độ khác nhau, do vậy có nhiều cách định nghĩa về ĐTM, một trong những định nghĩa ấy cho rằng ĐTM là một chế định pháp lý bao gồm hệ thống các qui tắc xử sự
mà các chủ thể cần phải thực hiện khi tiến hành một hoạt động phát triển có khả năng tác động đến môi trường Ngoài ra còn có khái niệm khác cho rằng ĐTM là hoạt động nhằm lường trước những rủi ro mà đối tượng phải đánh giá tác động môi trường có thể gây ra cho môi trường, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm loại trừ hoặc giảm thiểu rủi ro Theo quan điểm của Luật BVMT 2005 thì “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự
án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”13
1.2.2.2 Mục đích và ý nghĩa của quá trình đánh giá tác động môi trường
- Mục đích cơ bản của ĐTM là nhằm đảm bảo gắn sự phát triển kinh tế xã hội với vấn đề môi trường tạo sự phát triển bền vững Để thực hiện được mục đích này quá trình đánh giá môi trường cần phải đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau đây:
Phải được đặt trong một thể thống nhất của yêu cầu phát triển thì mới tạo ra được sự quan tâm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân tới việc bảo vệ môi trường Các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường khi này sẽ trở thành một bộ phận của kế hoạch phát triển
Là công cụ cho việc lựa chọn quyết định cho dự án đầu tư phát triển, thực chất quá trình đánh giá môi trường là cung cấp tư liệu một cách cân nhắc, khoa học về
13
Khoản 20 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường
Trang 25những lợi ích và tổn thất tiềm tàng về tài nguyên và môi trường để các cơ quan ra quyết định có điều kiện lựa chọn phương án phát triển
Phải là hoạt động mang tính chất liên ngành, phải huy động được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật
Nội dung đánh giá phải được thực hiện khách quan, khoa học, đảm bảo tính hiện thực và khả thi
- Hoạt động ĐTM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì :
ĐTM góp phần loại trừ ngay từ đầu hoặc hạn chế những tác động xấu của hoạt động phát triển đến môi trường
Giúp cho những nhà quản lý quyết định phát triển những quyết định đúng đắn để đảm bảo sự phát triển bền vững
Ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ dự án, các cơ sở trong suốt quá trình hoạt động
Là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền quyết định cho triển khai, thực hiện dự án Cũng là một trong những cơ sở để các ngân hàng, tổ chức tín dụng trong nước và quốc tế xem xét tài trợ vốn
1.2.2.3 Quá trình hình thành pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam
ĐTM được pháp luật Việt Nam quy định lần đầu tiên trong Điều 17 và Điều
18 Luật bảo vệ môi trường năm 1993, theo đó tất cả các dự án trong nước và đầu tư nước ngoài đều là đối tượng phải thực hiện ĐTM Các dự án đã đi vào hoạt đông cũng cần lập ĐTM theo quy định của Thông tư số 1420-TN/MTg-BKHCNMT ngày 16-11-1994 về hướng dẫn đánh giá tác động môi trường đối với cơ sở đang hoạt động Đặc điểm của pháp luật về ĐTM ở giai đoạn này là quy định về đối tượng phải lập ĐTM quá rộng, dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện
Luật BVMT 2005 ra đời trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung Luật BVMT
1993, điểm khác nhau cơ bản của hai hệ thống luật này là ở quy trình thực hiện ĐTM, nếu như bước tiến hành ĐTM sơ bộ được coi là bắt buộc đối với một số dự
án, thì sau khi Luật BVMT 2005 có hiệu lực bước ĐTM sơ bộ bị xóa bỏ
Theo quy định của pháp luật hiện hành các giai đoạn chính của quá trình đánh giá tác động môi trường bao gồm :
Giai đoạn sàng lọc: được thực hiện để xác định đối tượng tiến hành đánh giá môi
trường
Giai đoạn xác định phạm vi: Là quá trình xác định các vần đề chính cần phải được xem xét, phân tích, đánh giá, trong quá trình phân tích, đánh giá tác động môi
trường
Trang 26 Giai đoạn lập báo cáo đánh giá môi trường: Là việc phân tích khoa học về quy
mô, tầm quan trọng và ý nghĩa của các tác động được xác định Đây là khâu then
chốt và cơ bản của quá trình đánh giá môi trường
Giai đoạn thẩm định báo cáo đánh giá môi trường
Giai đoạn sau thẩm định
1.2.2.4 Những nội dung cơ bản của pháp luật về đánh giá tác động môi trường
Sàng lọc dự án
Điều 18 luật BVMT 2005, Điều 12 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ban hành ngày 18-04-2011 qui định loại dự án phải lập ĐTM, bao gồm 20 nhóm dự án với tổng 146 loại dự án cụ thể phải lập ĐTM
Khoản 1, Điều 10, Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ban hành ngày
18-07-2011 của Bộ tài nguyên và môi trường, hướng dẫn thực hiện Nghị định 29/2011/NĐ-CP, quy định rõ hơn về Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm :
Dự án có thứ tự từ mục 1 đến mục 143 và mục 145 Phụ lục II Nghị định số 29/2011/NĐ-CP; dự án có tên gọi khác nhưng có tính chất, quy mô tương đương các dự án có thứ tự từ mục 1 đến mục 143 Phụ lục II Nghị định số 29/2011/NĐ-CP;
Dự án cải tạo, mở rộng, nâng cấp, nâng công suất của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đăng ký, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc phê duyệt, xác nhận đề án bảo vệ môi trường tới mức tương đương với các đối tượng từ mục 1 đến mục 143 Phụ lục II Nghị định số 29/2011/NĐ-CP;
Đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 35 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP, tức là trường hợp dự án đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thay đổi tính chất hoặc quy mô đến mức tương đương với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP, chủ dự
án, chủ cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường gửi cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 18 Nghị định này để được thẩm định, phê duyệt theo quy định
Ngoài ra, để không bỏ sót đối tượng phải lập báo cáo ĐTM, Điều 11 Thông
tư 26/2011/TT-BTNMT còn quy định đối tượng phải lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường lại, là các dự án đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng chưa đi vào vận hành và rơi vào các trường hợp sau
đây:
Trang 27 Thay đổi địa điểm thực hiện dự án hoặc không triển khai thực hiện dự án trong thời gian ba sáu (36) tháng, kể từ thời điểm ban hành quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;
Tăng quy mô, công suất hoặc thay đổi công nghệ làm gia tăng phạm vi gây tác động hoặc làm gia tăng các tác động xấu đến môi trường không do chất thải gây ra hoặc làm gia tăng mức độ phát thải hoặc phát sinh các loại chất thải mới, chất thải
có thành phần gây ô nhiễm cao hơn so với kết quả tính toán, dự báo trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt
Như vậy, từ luật, nghị định, đến thông tư quy định về sàng lọc dự án cần thực hiện đánh giá tác động môi trường đã ngày càng chặt chẽ hơn.Tuy nhiên quy trình sàng lọc dự án theo phương pháp liệt kê nhóm, loại dự án, có thể làm cho việc sàng lọc kém hiệu quả ở một số trường hợp, do trên thực tế cùng một loại dự án nhưng thực hiện ở các khu vực khác nhau sẽ có tác động môi trường rất khác nhau, trong khi theo quy định của Luật thì tất cả các dự án thuộc loại dự án có tên trong quy định đều phải lập báo cáo ĐTM, dẫn đến thực trạng là những dự án có tác động môi trường không đáng kể cũng phải lập báo cáo ĐTM với quy mô, tính chất tương đương dự án có tác động môi trường lớn Đây cũng chính là một phần nguyên nhân dẫn đến thực trạng hiện nay một số báo cáo ĐTM chỉ mang tính hình thức, hao tốn thời gian, chi phí nhưng không mang lại hiệu quả bảo vệ môi trường đáng kể
Thời điểm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
Thời điểm lập báo cáo ĐTM được quy định tại Điều 19 luật BVMT, và được quy định chi tiết tại Điều 13 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP, theo đó việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được tiến hành đồng thời với quá trình lập dự án đầu
tư
Nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường
Nội dung báo cáo ĐTM được quy định tại Điều 20 luật BVMT và được hướng dẫn chi tiết tại điều 17 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP, bao gồm các nội dung:
Chỉ dẫn về xuất xứ của dự án, chủ dự án, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án; nguồn thông tin, dữ liệu và phương pháp sử dụng; việc tổ chức và tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; việc tham vấn cộng đồng trong quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường;
Liệt kê, mô tả chi tiết các hoạt động, hạng mục công trình của dự án có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường kèm theo quy mô về không gian, thời gian, khối lượng thi công, công nghệ vận hành của từng hạng mục công trình và của cả dự án;
Đánh giá chung về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và vùng kế cận; mức độ nhạy cảm của môi trường;
Trang 28 Đánh giá, dự báo tác động của dự án đến các điều kiện tự nhiên, thành phần môi trường tự nhiên, cộng đồng và các yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan; kết quả tham vấn cộng đồng;
Đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến các điều kiện tự nhiên, thành phần môi trường tự nhiên, sức khỏe cộng đồng và các yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan;
Danh mục công trình, chương trình quản lý và giám sát các vấn đề môi trường trong quá trình triển khai thực hiện dự án;
Dự toán kinh phí xây dựng các hạng mục công trình bảo vệ môi trường trong tổng dự toán kinh phí của dự án;
Cam kết của chủ dự án về việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và vận hành dự án đã đề xuất trong báo cáo đánh giá tác động môi trường và những quy định khác về bảo vệ môi trường có liên quan đến dự án
Th m định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Quy định về thẩm định báo cáo ĐTM hiện hành, thể hiện tại Điều 21 luật BVMT, một số điều trong Nghị định 29/2011/NĐ-CP và Thông tư 26/2011/TT-BTNMT, theo đó việc thẩm định báo cáo ĐTM thuộc trách nhiệm của cơ quan quản
lý nhà nước nhằm xem xét thẩm tra về mặt pháp lý cũng như nội dung khoa học của các báo cáo, căn cứ để thẩm định là các quy định của pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, qua đó đưa ra những đánh giá chính xác, khách quan, khoa học…là cơ sở
để cơ quan có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép thực hiện dự án Thẩm định báo cáo ĐTM phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Phải xem xét mối quan hệ giữa yêu cầu phát triển kinh tế xã hội với yêu cầu bảo
vệ môi trường
Phải xem xét giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ của từng đơn vị,
tổ chức, lợi ích của địa phương với lợi ích chung của toàn xã hội
Hình thức th m định đánh giá tác động môi trường
Theo quy định của pháp luật hiện hành có hai hình thức thẩm định là Hội đồng thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định Hội đồng thẩm định và tổ chức dịch
vụ thẩm định chỉ đóng vai trò tư vấn, còn cơ quan có thẩm quyền thẩm định là cơ quan chịu trách nhiệm với quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM
Trang 29các Ủy viên Thành phần hội đồng thẩm định phải có trên năm mươi phần trăm (50%) số lượng thành viên có chuyên môn về môi trường, các lĩnh vực khác liên quan đến dự án Đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án thuộc thẩm quyền thẩm định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, thành phần hội đồng phải có đại diện của Sở Tài nguyên và Môi trường nơi triển khai thực hiện dự án
Tổ chức dịch vụ th m định:
Đây là loại hình dịch vụ môi trường hoạt động theo hướng dẫn của Bộ TNMT Tổ chức thẩm định được tham gia thẩm định theo quyết định của cơ quan phê duyệt dự án và phải chịu trách nhiệm về ý kiến và kết luận thẩm định của mình Tuy nhiên, việc sử dụng các tổ chức dịch vụ thẩm định đối với các dự án có liên quan đến an ninh quốc phòng sẽ có những hạn chế nhất định và phải thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Về phân cấp tổ chức th m định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm việc tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án được quy định như sau:
Bộ TNMT tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định về chủ trương đầu tư của Quốc hội hay thủ tướng chính phủ; dự án có sử dụng diện tích đất vườn quốc gia….( Danh mục các dự án được quy định tại phụ lục III nghị định 29/2011/NĐ-CP, trừ các dự án thuộc bí mật an ninh quốc phòng)
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ các
dự án thuộc thẩm quyền quyết định của bộ TNMT
Bộ công an, bộ quốc phòng tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình và các dự án có liên quan đến an ninh quốc phòng khi được cấp có thẩm quyền giao
Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư trên địa bàn, trừ các dự án thuộc thẩm quyền của bộ TNMT, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ chuyên ngành
Thời gian th m định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
Thời gian thẩm định báo cáo ĐTM không được quy định cụ thể trong Luật BVMT nhưng được quy định chi tiết tại Điều 20 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP, theo đó thời hạn thẩm định báo cáo ĐTM được quy định như sau:
Báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời hạn thẩm định tối đa là bốn mươi lăm (45) ngày làm việc, kể từ ngày
Trang 30nhận được đủ hồ sơ hợp lệ Trường hợp dự án phức tạp về tác động môi trường, thời hạn thẩm định tối đa là sáu mươi (60) ngày làm việc;
Báo cáo ĐTM không thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời hạn thẩm định tối đa là ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ Đối với những dự án phức tạp về tác động môi trường, thời hạn thẩm định là bốn mươi lăm (45) ngày làm việc
Thời gian phê duyệt báo cáo ĐTM được quy định tại Điều 22 Luật BVMT và Điều 20 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP, theo đó Thời hạn phê duyệt báo cáo ĐTM tối đa là mười lăm (15) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Lưu ý là thời hạn thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM không bao gồm thời gian chủ dự án hoàn chỉnh hồ sơ báo cáo ĐTM
Thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường
Thực hiện báo cáo ĐTM được hiểu là hoạt động sau thẩm định báo cáo ĐTM Các chủ thể thực hiện là chủ dự án, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở các cấp
và cơ quan tổ chức liên quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm bảo đảm thực hiện những nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường trong báo cáo ĐTM Vấn đề nay được quy định tại Điều 23 Luật BVMT 2005 và được hướng dẫn cụ thể bởi Nghị định 29/2011/NĐ-CP Cụ thể : Điều 21 Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định về cách thức chứng thực và trách nhiệm gửi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt đến các cơ quan, đơn vị liên quan; Điều 22 quy định về trách nhiệm của chủ dự án
về việc công khai và phương thức công khai thông tin về dự án đã được phê duyệt báo cáo ĐTM; Điều 23 quy định về trách nhiệm của chủ dự án trước khi đưa dự án vào vận hành chính thức; Điều 24 quy định về việc tổ chức kiểm tra, xác nhận các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường trước khi dự án đi vào vận hành chính thức đối với cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM; và các Điều từ 25 đến 28 quy định về hồ
sơ đề nghị kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án, các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án, quy trình và thời hạn kiểm tra, xác nhận việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án, cách thức tiến hành kiểm tra, xác nhận việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án
Như vậy, quy định của pháp luật về thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường của dự án sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt đã có tầm bao quát từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư cho tới giai đoạn dự án đưa vào vận hành chính thức Tuy nhiên, quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa dự liệu và quy định về bảo vệ môi trường khi dự án kết thúc hoạt động, bởi thực tế dự án vẫn có thể tác động bất lợi
Trang 31cho môi trường trong giai đoạn này, ví dụ như một nhà máy điện hạt nhân dù đã ngưng vận hành nhưng vấn đề xử lý về mặt môi trường đối với nó là cả một vấn đề hết sức quan trọng và tốn kém
Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình đánh giá môi trường
Việc tham vấn ý kiến trong quá trình lập báo cáo ĐTM là hết sức quan trọng, nhằm công khai hóa, minh bạch hóa công tác ĐTM; khai thác thông tin, kiến thức của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến dự án; khai thác kiến thức bản địa của nhân dân địa phương nơi thực hiện dự án Yêu cầu về tham vấn cộng đồng được quy định tại một số điều của Luật BVMT và được cụ thể hóa tại Nghị định 29/2011/NĐ-CP Cụ thể về trách nhiệm tham vấn, Điều 14 Nghị định nêu trên quy định trong quá trình lập báo cáo ĐTM, chủ dự án phải tổ chức tham vấn ý kiến của
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án và đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án; về cách thức tiến hành và yêu cầu về việc thể hiện kết quả tham vấn ý kiến trong báo cáo ĐTM, Điều 15 Nghị định số 29/2011/NĐ-
CP quy định việc tham vấn ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án được thực hiện theo cách thức sau đây: Chủ dự án gửi văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện cộng đồng dân
cư, tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án kèm theo tài liệu tóm tắt về các hạng mục đầu tư chính, các vấn đề môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường của dự
án xin ý kiến tham vấn; trong trường hợp cần thiết Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập đại diện của tổ chức, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án, thông tin cho chủ dự án biết về thời gian, địa điểm, thành phần tham gia buổi đối thoại, cùng chủ dự án chủ trì tổ chức buổi đối thoại trong thời hạn chậm nhất là mười (10) ngày làm việc, kể từ khi nhận được văn bản xin ý kiến tham vấn của chủ dự án; kết quả đối thoại giữa chủ dự án, cơ quan được tham vấn và các bên có liên quan được ghi thành biên bản, trong đó có danh sách đại biểu tham gia và phản ảnh đầy đủ những
ý kiến đã thảo luận, ý kiến tiếp thu hoặc không tiếp thu của chủ dự án; biên bản có chữ ký (ghi họ tên, chức danh) của đại diện chủ dự án và đại diện các bên liên quan tham dự đối thoại; trong thời hạn mười lăm (15) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến tham vấn, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm trả lời chủ dự án bằng văn bản và công bố công khai để nhân dân biết Quá thời hạn này, nếu cơ quan được tham vấn không có ý kiến bằng văn bản gửi chủ dự án thì được xem là cơ quan được tham vấn đã nhất trí với kế hoạch đầu tư của chủ dự án; Ý kiến tán thành, không tán thành của tổ chức, cá nhân được tham vấn phải được tổng hợp và thể hiện trung thực trong nội dung báo cáo ĐTM
Trang 32Các văn bản tham gia ý kiến của các cơ quan được tham vấn, biên bản cuộc đối thoại phải được sao và đính kèm trong phần phụ lục của báo cáo ĐTM
Các quy định về thủ tục nhằm đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM hiện nay tương đối chặt chẽ Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần đánh giá thêm như pháp luật chưa quy định cụ thể
ai là đại diện cộng đồng, việc đối thoại với chủ đầu tư chỉ được thực hiện “trong trường hợp cần thiết” và việc tổ chức hay không tổ chức đối thoại do UBND cấp xã xem xét quyết định, tuy nhiên lại không có hướng dẫn cụ thể thế nào là trường hợp cần thiết, điều này có thể dẫn đến sự tham gia của cộng đồng trong thực hiện ĐTM vẫn rất mờ nhạt, chỉ dừng lại ở người đại diện, ý kiến và nguyện vọng của người dân cũng chỉ mang tính chất tham khảo, nhằm đáp ứng quy định về trình tự, thủ tục
1.2.3 Kế hoạch quản lý môi trường của dự án
1.2.3.1 Khái niệm về kế hoạch quản lý môi trường của dự án
Pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường chưa có định nghĩa cụ thể KHQLMT là gì, thuật ngữ KHQLMT thậm chí còn chưa được đề cập đến trong Luật bảo vệ môi trường 2005 Chỉ đến khi Nghị định số 29/2011/NĐ-CP được ban hành mới đề cập đến thuật ngữ này, cụ thể tại Điều 22 quy định về công khai thông tin về dự án đã được phê duyệt báo cáo ĐTM của Nghị định 29/2011/NĐ-CP có qui định rằng KHQLMT được lập trên cơ sở chương trình quản lý môi trường đã đề xuất trong báo cáo ĐTM, bao gồm những nội dung chính sau đây14
:
Tổ chức và hoạt động của bộ phận chuyên trách về bảo vệ môi trường của dự án;
Kế hoạch giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường của dự án;
Trách nhiệm của chủ dự án và các nhà thầu thi công (nếu có) trong việc thực hiện các giải pháp, biện pháp giảm thiểu tác động xấu và phòng ngừa, ứng phó các
sự cố môi trường trong giai đoạn thi công xây dựng dự án;
Kế hoạch xây lắp các công trình bảo vệ môi trường;
Kế hoạch giám sát các nguồn thải phát sinh; giám sát môi trường xung quanh và những nội dung giám sát môi trường khác trong giai đoạn thi công xây dựng và giai đoạn dự án đi vào vận hành chính thức
Chủ dự án có trách nhiệm lập, phê duyệt và niêm yết công khai KHQLMT tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện việc tham vấn cộng đồng để nhân dân biết, kiểm tra, giám sát15
Trang 33Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ban hành ngày 18-07-2011 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường cũng không có qui định gì cụ thể hơn về KHQLMT
1.2.3.2 Mục đích ý nghĩa của kế hoạch quản lý môi trường của dự án
Theo nội dung quy định của pháp luật hiện hành thì KHQLMT chỉ nhằm công khai thông tin về chương trình quản lý môi trường đã đề xuất trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt
1.2.4 Cam kết bảo vệ môi trường của dự án
1.2.4.1 Khái niệm về cam kết bảo vệ môi trường của dự án
Cam kết Bảo vệ môi trường là một dạng đơn giản của báo cáo ĐTM, dành cho các dự án có qui mô nhỏ Tương tự ĐTM, CKBVMT được lập nhằm làm rõ các tác động tiêu cực lẫn tích cực của dự án đến môi trường tự nhiên và xã hội, là cơ sở
để xây dựng các biện pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của dự án
Khái niệm “Cam kết bảo vệ môi trường” được sử dụng trong Luật BVMT
2005 để thay thế cho khái niệm “Đăng ký đạt tiêu chu n môi trường” được dùng
trong thời kỳ đầu thực hiện Luật Bảo vệ Môi trường 1993 Theo các văn bản hướng dẫn dưới Luật Bảo vệ Môi trường 1993, tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện ĐTM, còn những dự án nhỏ, không phức tạp về môi trường thì chỉ cần thực hiện Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường để làm căn cứ cho việc xem xét và phê duyệt dự
án
1.2.4.2 Qui định của pháp luật về lập cam kết bảo vệ môi trường của dự án
Điều 24 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có qui định “cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình và đối tượng không thuộc quy định tại Điều 14
và Điều 18 của Luật này phải có bản cam kết bảo vệ môi trường”16, trong đó Điều
14 quy định về đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và Điều
18 quy định về đối tượng phải lập báo cáo ĐTM Ngoài ra, cam kết bảo vệ môi trường còn áp dụng cả với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình
Nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường, theo quy định tại Điều 25 Luật bảo
vệ môi trường 2005, bao gồm: Địa điểm thực hiện dự án; loại hình, quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng; các loại chất thải phát sinh; cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Như vậy trong bản cam kết bảo vệ môi trường, chủ dự án phải cam kết đã nhận dạng và dự báo được hết những tác
16
Điều 24 Luật bảo vệ môi trường năm 2005
Trang 34động do chất thải và do các yếu tố không liên quan đến chất thải, đồng thời cam kết thực hiện việc loại trừ hoặc giảm thiểu tất cả các tác động tiêu cực do dự án gây ra
Việc đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 26 Luật BVMT 2005, theo đó Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường; trường hợp cần thiết, có thể ủy quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký Thời hạn chấp nhận bản cam kết bảo vệ môi trường là không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản cam kết bảo vệ môi trường hợp lệ Đối tượng quy định phải lập cam kết bảo vệ môi trường chỉ được triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi đã đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường
Ngoài ra, tại Điều 27 Luật BVMT còn quy định Trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, theo đó tổ chức, cá nhân cam kết bảo vệ môi trường có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường; Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã chỉ đạo,
tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo
vệ môi trường17
1.2.4.3 Mục đích ý nghĩa của công tác cam kết bảo vệ môi trường của dự án
Tương tự như ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường của dự án nhằm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực do dự án gây ra đối với môi trường, giảm thiểu tác động và rủi ro và tiết kiệm thời gian và chi phí của dự án
1.3 Chính sách của Ngân hàng thế giới về bảo vệ môi trường của dự án
1.3.1 Định nghĩa về chính sách an toàn của Ngân hàng thế giới
Chính sách an toàn của WB là tập hợp các biện pháp nhằm đảm bảo các hoạt động phát triển đề xuất được thực hiện theo quan điểm bền vững về môi trường, tránh và/hoặc nhằm giảm thiểu các tác động xấu về môi trường, xã hội
1.3.2 Sự cần thiết của các chính sách an toàn
Chính sách an toàn của WB nhằm đưa ra các cam kết bền vững, với mục đích cải thiện chất lượng cuộc sống; cải thiện triển vọng và chất lượng tăng trưởng; bảo vệ chất lượng các tài sản chung của khu vực và thế giới
Một quy định quan trọng và xuyên suốt trong chính sách an toàn của WB là
quy định và thủ tục ĐTM Mục đích của quy định và thủ tục đánh giá môi trường
của Ngân hàng để đảm bảo rằng dự án phát triển đang được xem xét là thân thiện môi trường và bền vững, xác định sớm các tác động của dự án đối với môi trường
và cách hạn chế tác động tiêu cực được xác định sớm và đưa vào trong thiết kế dự
án Theo đánh giá của WB thì hiện nay vấn đề suy thoái môi trường và các mối đe
17
Chương 3 Luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 35dọa cho hạnh phúc con người và phát triển kinh tế, đây đang là vấn đề ngày càng được quan tâm hơn, nhiều quốc gia công nghiệp và đang phát triển, cũng như các nhà tài trợ, đã kết hợp thủ tục ĐTM vào việc ra quyết định có tài trợ vốn hay không tài trợ vốn của họ WB nhấn mạnh việc xác định sớm các vấn đề môi trường trong chu kỳ dự án, các giải pháp thiết kế cải thiện môi trường của dự án , và việc tránh, giảm nhẹ, hoặc bồi thường cho các tác động bất lợi của dự án đối với môi trường Bằng cách đề nghị làm theo các thủ tục ĐTM, Ngân hàng cũng như các cơ quan thực hiện, thiết kế, và khách hàng vay có thể giải quyết vấn đề môi trường ngay từ đầu do đó làm giảm các yêu cầu do phát sinh cho dự án và tránh tốn kém chi phí và
sự chậm trễ trong thực hiện dự án do các vấn đề chưa lường trước được18
1.3.3 Mục tiêu của chính sách an toàn
Giảm thiểu và quản lý rủi ro kỹ thuật của dự án
Đảm bảo các vấn đề môi trường và xã hội được đánh giá một cách kỹ lưỡng trong quá trình ra quyết định
Tạo cơ chế tham vấn và công bố thông tin
Lồng ghép các vấn đề an toàn vào các mục tiêu chính của dự án, quy trình và trách nhiệm giải trình các kết quả
1.3.4 Chính sách của Ngân hàng thế giới về an toàn môi trường cho dự án
1.3.4.1 Tổng quan về chính sách môi trường cho dự án
Chính sách an toàn môi trường của WB là một nền tảng để góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững Mục tiêu của các chính sách an toàn môi trường là để ngăn chặn và giảm thiểu tác hại không đáng có cho người và môi trường trong quá trình phát triển Các chính sách cung cấp hướng dẫn cho nhân viên ngân hàng và khách hàng vay trong việc xác định, chuẩn bị và thực hiện các chương trình, các dự
án Các chính sách an toàn môi trường đã góp phần nâng cao hiệu quả của các dự án được tài trợ bởi Ngân hàng Chính sách an toàn môi trường của Ngân hàng cung cấp
cơ sở cho sự tham gia của các bên liên quan trong thiết kế dự án và là một công cụ quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người dân địa phương19
Bộ chính sách an toàn cho môi trường và xã hội của WB áp dụng cho dự án đầu tư mà ngân hàng tài trợ có thể liệt kê dưới đây :
OP/BP 4.01: Đánh giá môi trường
OP/BP 4.04: Môi trường sống tự nhiên
OP/BP 4.07: Quản lý tài nguyên nước
18 World Bank (1999), Environmental Assessment Sourcebook 1999, Para 1, chapter1
19 http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/PROJECTS/EXTPOLICIES/EXTSAFEPOL/0,,menuPK: 584441~pagePK:64168427~piPK:64168435~theSitePK:584435,00.html
Trang 36 OP/BP 4.36: Rừng
OP/BP 4.09: Quản lý sâu bệnh
OP/BP 4.11: Tài sản văn hóa vật thể
OP/BP 4.12: Tái định cư không tự nguyện
OP/BP 4.10: Dân tộc thiểu số
OP/BP 4.37: An toàn đập
OP/BP 7.50: Dự án trên đường thủy quốc tế
OP/BP 7.60: Dự án trong khu vực có tranh chấp
Tiếp cận thông tin
Sử dụng hệ thống quốc gia
Trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ đề cập đến các chính sách liên quan đến môi trường, bỏ qua các chính sách liên quan đến vấn đề văn hóa, xã hội như chính sách về tài sản văn hóa vật thể(OP/BP 4.11), chính sách về tái định cư không tự nguyện(OP/BP 4.12), chính sách về dân tộc thiểu số(OP/BP 4.10), chính sách về dự
án án trên đường thủy quốc tế (OP/BP 7.50), chính sách về dự án trong khu vực có tranh chấp (OP/BP 7.60)
1.3.4.2 Chính sách môi trường sống tự nhiên
Môi trường sống tự nhiên (MTSTN) là khu vực đất và nước nơi còn tồn tại phần lớn các loại động thực vật bản xứ nguyên gốc Môi trường tự nhiên gồm nhiều loại hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ven bờ và hệ sinh thái biển, là những khu vực mới bị ảnh hưởng nhẹ bởi các hoạt động của con người nhưng vẫn giữ được các chức năng sinh thái và phần lớn các loài bản địa
Từ quan ngại của thế giới về sự suy giảm nhanh chóng đa dạng sinh học do con người gây ra, đặc biệt là tình trạng tuyệt chủng đang diễn ra của nhiều loài là nghiêm trọng và không thể đảo ngược, điều này chủ yếu do sự mất đi và suy thoái của các khu cư trú tự nhiên Ngoài ra chức năng khác của khu cư trú tự nhiên quan trọng không kém là cung cấp nước, kiểm soát lũ lụt…, cung cấp sản phẩm khai thác
từ các khu cư trú tự nhiên như cá, và nhiều sản phẩm khác rất quan trọng đối với sinh kế của người nghèo và người dân địa phương
Chính sách của WB là hỗ trợ bảo vệ, bảo tồn, duy trì và khôi phục các khu
cư trú tự nhiên và chức năng của chúng, việc bảo tồn MTSTN, cũng như các biện pháp khác để bảo vệ và cải thiện môi trường, là điều cần thiết cho sự phát triển bền vững lâu dài Chính sách này áp dụng đối với bất kỳ dự án nào có khả năng gây biến đổi lớn hoặc suy thoái các MTSTN, trực tiếp (do hoạt động xây dựng) hoặc gián tiếp (các hoạt động của con người do có dự án gây ra…), theo đó :
Trang 37 Đối với MTSTN quan trọng : MTSTN được pháp luật bảo vệ; Khu vực bảo tồn được đề xuất; Khu vực được biết đến về giá trị bảo tồn Ngân hàng không chấp nhận sự chuyển đổi hay hành động gây suy thoái nghiêm trọng của bất kỳ MTSTN quan trọng nào20
Đối với các MTSTN khác : Sự chuyển đổi hay suy thoái nghiêm trọng của bất
kỳ MTSTN nào khác chỉ được ngân hàng chấp nhận khi có đủ các điều kiện như sau :
Không có phương án lựa chọn khả thi nào khác;
Phương án lựa chọn cho tổng lợi ích vượt trội so với chi phí môi trường,và;
Dự án bao gồm các phương án giảm thiểu phù hợp (bao gồm thiết lập và/hoặc tăng cường các khu bảo tồn tương tự về mặt sinh thái)
Trong quyết định để hỗ trợ một dự án với tác động tiêu cực tiềm tàng trên một MTSTN, Ngân hàng sẽ đưa vào nội dung về khả năng của người vay trong việc thực hiện các biện pháp bảo tồn và giảm nhẹ thích hợp Nếu có vấn đề không thỏa
về yêu cầu năng lực và thể chế tiềm năng, Ngân hàng sẽ yêu cầu dự án phải bao gồm các nội dung phát triển năng lực của các tổ chức từ trung ương tới địa phương trong việc lập kế hoạch và quản lý môi trường hiệu quả Các biện pháp giảm thiểu quy định cho dự án có thể bao gồm nội dung nâng cao năng lực lĩnh vực thực tế của các cơ quan trung ương và địa phương
1.3.4.3 Quản lý tài nguyên nước
Chính sách của WB trong việc tham gia trong quản lý tài nguyên nước nhằm
hỗ trợ cho việc quản lý, cung cấp nước sạch, công trình vệ sinh, kiểm soát lũ lụt và nước cho hoạt động sản xuất trong một cách có hiệu quả về kinh tế, môi trường một cách bền vững và bảo đảm công bằng xã hội trong khai thác sử dụng tài nguyên nước Theo đó WB hỗ trợ vay trong các lĩnh vực ưu tiên sau:
Phát triển chiến lược toàn diện để đầu tư cho tài nguyên nước, hoàn thiện chính sách và tổ chức bảo vệ nguồn nước Trong chiến lược này khách hàng vay phát triển
và phân bổ tài nguyên nước, xem xét tác động liên ngành cho tổng thể một khu vực (ví dụ như một lưu vực sông)
Xây dựng chính sách giá ưu đãi để khuyến khích đầu tư vào việc bảo vệ, phát triển nguồn nước, tiết kiệm nước và phân bổ tốt hơn các nguồn tài nguyên nước Xã hội hóa dịch vụ cung cấp nước, khuyến khích các bên liên quan để góp phần xây dựng chính sách này WB nhận thấy rằng rất nhiều các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân, các đơn vị độc lập và các tổ chức cộng đồng có thể góp phần vào việc cung
20
http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/PROJECTS/EXTPOLICIES/EXTOPMANUAL/0,,contentMDK:20 064757~menuPK:64701637~pagePK:64709096~piPK:64709108~theSitePK:502184,00.html
Trang 38cấp nước Vì vậy chính sách sẽ hỗ trợ các chủ thể nêu trên tham gia vào dịch vụ cung cấp nước
Khôi phục và bảo tồn các hệ sinh thái thủy sinh và bảo vệ chống lại việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên nước ngầm, ưu tiên cung cấp dịch vụ nước và vệ sinh môi trường cho người nghèo
Tránh úng và mặn, liên quan đến vấn đề đầu tư thủy lợi, giám sát mực nước ngầm và thực hiện mạng lưới thoát nước khi cần thiết, và áp dụng biện pháp quản lý tốt nhất để kiểm soát ô nhiễm nước
Thiết lập khuôn khổ pháp lý và quy định chặt chẽ để đảm bảo rằng mối quan tâm của xã hội được đáp ứng, tài nguyên môi trường được bảo vệ, và tránh độc quyền trong lĩnh vực cấp, thoát nước WB yêu cầu hệ thống pháp luật hoặc thể chế thích hợp để tăng cường phối hợp và phân bổ hiệu quả các nguồn tài nguyên nước giữa các khu vực
Trong trường hợp phục hồi và phát triển rừng trồng là cần thiết để đáp ứng các mục tiêu này, WB hỗ trợ người vay thực hiện các hoạt động phục hồi rừng để duy trì hoặc tăng cường đa dạng sinh học và duy trì chức năng hệ sinh thái Đồng thời Ngân hàng cũng hỗ trợ người vay trong việc thiết lập cơ chế và thực hiện quản
lý, khai thác rừng trồng một cách bền vững, mang lại lợi ích, hiệu quả kinh tế đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với hàng hóa và dịch vụ rừng
Phạm vi của chính sách là áp dụng đối với bất kỳ dự án đầu tư nào vay vốn
WB mà có khả năng gây tác động tiêu cực đến diện tích và chất lượng rừng hoặc quyền lợi của người dân mà đời sống của họ phụ thuộc vào rừng hoặc có tương tác với rừng; hoặc làm thay đổi trong quản lý, bảo vệ hoặc sử dụng rừng tự nhiên hoặc rừng trồng
21 http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/PROJECTS/EXTPOLICIES/EXTOPMANUAL/0,,conten tMDK:20064668~menuPK:64701637~pagePK:64709096~piPK:64709108~theSitePK:502184,00.html