1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu lực của luật hình sự việt nam về không gian

202 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nguyên tắc này làm căn cứ để xác định hiệu lực về không gian của luật hình sự; - Thực trạng hiệu lực của BLHS năm 1999 đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và hành vi ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin nêu trong luận án là trung thực Các trích dẫn trong luận án đều được chú thích đầy đủ và chính xác Các kết quả nghiên cứu trong luận án chưa được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

VŨ THỊ THÚY

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án này không thể hoàn thành nếu tác giả không nhận được sự giúp đỡ tận tình và quý giá của các Thầy - Cô, đồng nghiệp, bạn hữu và Gia đình

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy – Cô và đồng nghiệp tại Trường Đại học Luật TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận án Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến NGƯT

GS TS Mai Hồng Quỳ (Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP.HCM), TS Nguyễn Thị Bích Ngọc (Trưởng Phòng đào tạo Sau đại học), TS Võ Thị Kim Oanh (Trưởng Khoa Luật hình sự), TS Phan Anh Tuấn (Trưởng Bộ môn Luật hình sự) đã dành cho tôi sự quan tâm sâu sát và hỗ trợ kịp thời, giúp tôi vượt qua những khó khăn, có điều kiện và thời gian để hoàn thành Luận án

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Trần Thị Quang Vinh (nguyên Trưởng Khoa Luật hình sự Trường Đại học Luật TP.HCM) và PGS TS Nguyễn Thị Phương Hoa (Phó Trưởng Khoa Luật hình sự Trường Đại học Luật TP.HCM) Hai Cô đã dành nhiều tâm huyết, tận tâm hướng dẫn tôi từ khi hình thành ý tưởng nghiên cứu đến khi hoàn thành Luận án này. Đặc biệt, hai Cô còn là người luôn khích lệ, động viên tôi trong những lúc khó khăn; đặt niềm tin rằng tôi có thể hoàn thành tốt Luận án Tôi vô cùng cảm kích trước tinh thần làm việc cầu thị và trách nhiệm, cùng với tình cảm chân tình của hai Cô

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã cho tôi những nhận xét, đánh giá và góp ý vô cùng quý báu để tôi hoàn thiện hơn Luận án của mình Trong đó, có những Thầy, Cô đã cho tôi những chỉ dẫn hữu ích trong suốt quá trình tôi thực hiện Luận án như: GS TS Nguyễn Ngọc Anh (Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Công An), PGS TS Trần Văn Độ (Nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao), TS Nguyễn Bá Ngừng (Trưởng Phòng Quản lý Đào tạo - Trường Đại học An ninh nhân dân), TS Võ Thị Kim Oanh (Trưởng Khoa Luật

Trang 5

hình sự - Trường Đại học Luật TP HCM), PGS TS Phạm Quang Phúc (Trưởng

Bộ môn Pháp luật - Trường Đại học Cảnh sát nhân dân), PGS TS Hoàng Thị Minh Sơn (Trường Đại học Luật Hà Nội), TS Phan Anh Tuấn (Tổ trưởng Bộ môn Luật hình sự - Trường Đại học Luật TP.HCM)…

Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đang công tác tại các tỉnh An Giang, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh, Đắc Lắk…; các Thầy - Cô đang nghiên cứu và giảng dạy tại Khoa Luật hình sự - Trường Đại học Luật TP HCM, Khoa Luật - Trường Đại học Huế và Khoa Pháp luật - Trường Đại học An Ninh nhân dân Quý vị đã dành nhiều thời gian quý giá của mình để giúp tôi thực hiện cuộc Khảo sát, làm cơ sở cho việc nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị trong Luận án này Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn hữu đã tích cực hỗ trợ tôi trong việc tìm kiếm các bản án, thu thập và xử lý các Phiếu khảo sát như: bà Mai Thị Mỹ Hạnh (Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình), ThS La Hồng (Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh

An Giang), ThS Ngô Thị Kim Khánh (Thẩm phán Tòa án nhân dân TP HCM), ThS Nguyễn Ngọc Kiện (Giảng viên Khoa Luật – Đại học Huế), ThS Nguyễn Quyết Thắng (Giảng viên Trường Đại học An ninh nhân dân), ThS Nguyễn Thị Ngọc Thi (Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bến Tre) và ThS Mai Thị Thủy (Giảng viên Khoa Luật hình sự - Trường Đại học Luật TP HCM)…

Cuối cùng, xin được bày tỏ tình cảm sâu lắng và lòng biết ơn sâu sắc đến Gia đình của tôi Xin cảm ơn Bố Mẹ đã định hướng, khích lệ, động viên và âm thầm hỗ trợ chúng con trong học tập Cảm ơn sự quan tâm của các Anh, Chị,

Em trong Gia đình Cảm ơn sự cảm thông, chia sẻ và hỗ trợ nhiệt thành của Chồng Cảm ơn Con trai đã là nguồn động lực mạnh mẽ giúp Mẹ có quyết tâm hoàn thành Luận án

Tôi vô cùng cảm động và một lần nữa xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và tình cảm chân thành của mọi người!

Tác giả Luận án: Vũ Thị Thúy

Trang 6

TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa TNHS: Trách nhiệm hình sự TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân Tối cao VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ KHÔNG GIAN 18

1.1 KHÁI NIỆM HIỆU LỰC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ KHÔNG GIAN 18

1.2 CÁC NGUYÊN TẮC XÁC LẬP HIỆU LỰC VỀ KHÔNG GIAN CỦA LUẬT HÌNH SỰ 22

1.2.1 Nguyên tắc lãnh thổ 22

1.2.2 Nguyên tắc mang cờ 25

1.2.3 Nguyên tắc quốc tịch chủ động 29

1.2.4 Nguyên tắc quốc tịch thụ động 31

1.2.5 Nguyên tắc bảo vệ 35

1.2.6 Nguyên tắc phổ cập 37

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH HIỆU LỰC VỀ KHÔNG GIAN CỦA LUẬT HÌNH SỰ 40

1.3.1 Vấn đề xác định nơi thực hiện tội phạm 40

1.3.2 Vấn đề quyền miễn trừ về hình sự 47

1.3.3 Vấn đề quyền không bị kết án hai lần vì một hành vi phạm tội 49

1.3.4 Vấn đề tội phạm kép 52

1.3.5 Vấn đề thẩm quyền đại diện 53

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU LỰC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KHÔNG GIAN 58

2.1 LỊCH SỬ QUY ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KHÔNG GIAN 58

2.2 THỰC TRẠNG HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VỀ KHÔNG GIAN 62

2.2.1 Thực trạng hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam 62

2.2.2 Thực trạng hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đối với hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam 79

Trang 8

2.3 NHỮNG ĐIỂM MỚI THEO QUY ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH

SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ KHÔNG GIAN 92

2.3.1 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với hành vi phạm tội xảy

ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam 93 2.3.2 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với hành vi phạm tội xảy

ra tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam 94 2.3.3 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện 95 2.3.4 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với hành vi phạm tội xâm hại Nhà nước hoặc công dân Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam 96 2.3.5 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với hành vi phạm tội xảy

ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở ngoài lãnh thổ Việt Nam 98 2.3.6 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 liên quan đến quyền miễn trừ

về hình sự 98

CHƯƠNG 3 QUY ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ KHÔNG GIAN TRONG MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ QUỐC GIA 103

MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 103

3.1.1 Quy định của một số điều ước quốc tế về xác lập hiệu lực của luật hình sự quốc gia đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ quốc gia 104 3.1.2 Quy định của một số điều ước quốc tế về xác lập hiệu lực của luật hình sự quốc gia đối với hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ quốc gia 110

3.2.1 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự một số quốc gia đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ quốc gia 118 3.2.2 Quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự một số quốc gia đối với hành vi phạm tội

ở ngoài lãnh thổ quốc gia 123

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QUY ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ KHÔNG GIAN 133

Trang 9

4.1 MỘT SỐ YÊU CẦU SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QUY ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ KHÔNG GIAN 133

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ KHÔNG GIAN 136

4.2.1 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam 136 4.2.2 Kiến nghị sửa đổi quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam đối với hành

vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam 142

KẾT LUẬN 146 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

CÁC VĂN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN CẤP TRƯỜNG

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại toàn cầu hóa, sự hợp tác giữa các quốc gia ngày càng mở rộng

và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, chính trị… Sự giao lưu này mang lại những lợi ích vô cùng to lớn về mọi mặt của đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng tạo môi trường thuận lợi cho những hành vi phạm tội xuyên quốc gia phát triển nhanh chóng như: hành vi phạm tội xảy ra ở nhiều quốc gia; hành vi phạm tội được thực hiện ở quốc gia này nhưng hậu quả của tội phạm xảy ra ở quốc gia khác; những người phạm tội trong một vụ án đồng phạm thực hiện hành vi của mình ở nhiều quốc gia; hành vi phạm tội của công dân quốc gia này trên lãnh thổ quốc gia khác; hành vi phạm tội ở quốc gia khác nhưng xâm hại lợi ích quốc gia hoặc công dân của mình; hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang cờ của quốc gia trên vùng trời quốc tế, vùng biển quốc tế hoặc trên lãnh thổ quốc gia khác… Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, công nghệ đã tạo điều kiện cho người phạm tội dễ dàng sử dụng công nghệ cao vào việc thực hiện tội phạm có tính chất xuyên quốc gia, nhất là trong lĩnh vực an ninh mạng, rửa tiền, khủng bố quốc tế Thực tiễn đó đòi hỏi các quốc gia cần quy định cụ thể hơn về hiệu lực của BLHS về không gian, nhất là quy định hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội thực hiện ở ngoài lãnh thổ quốc gia

Theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, quan điểm chỉ đạo của Đảng là tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia; xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế Với quan điểm chỉ đạo trên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có luật hình sự: Đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Trang 11

Trước tình hình đó và trong xu thế hội nhập quốc tế, thời gian qua, Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương về phòng, chống tội phạm Theo các điều ước này, Việt Nam có nghĩa vụ nội luật hóa các quy định liên quan đến lĩnh vực hình sự nhằm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của quốc gia thành viên, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Trong khi đó, theo đánh giá

của Ban soạn thảo BLHS năm 2015, “BLHS hiện hành chưa phản ánh được một cách đầy đủ và toàn diện những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm (…) Do vậy, việc xây dựng BLHS (sửa đổi)

là hết sức cần thiết nhằm tạo ra BLHS mới thực sự là công cụ sắc bén trong đấu tranh phòng, chống tội phạm rong tình hình mới” 1

Việc xác định phạm vi không gian có hiệu lực của BLHS là vấn đề quan trọng

và được quy định trong BLHS của hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngay trong BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam năm 1985 đã quy định hiệu lực đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ và ngoài lãnh thổ Việt Nam Trong BLHS năm 1999, nhà làm luật tiếp tục kế thừa những quy định này của BLHS năm 1985 Những quy định đó đã khẳng định chủ quyền và là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền tài phán của Việt Nam đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam và đối với hành vi phạm tội của công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam, thậm chí trong một số trường hợp đặc biệt là của người nước ngoài thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Điều đó đã góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản và các quyền lợi hợp pháp của công dân; giúp kinh tế - chính trị - xã hội ổn định

và phát triển Tuy nhiên, khi phân tích, so sánh các quy định hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, với tập quán quốc tế và với pháp luật nước ngoài, tác giả thấy quy định hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian chưa cụ thể và đầy đủ Điều đó dẫn đến hệ quả là trong một số trường hợp có hành vi phạm tội xảy ra, gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc công dân Việt

1

Ban soạn thảo BLHS (sửa đổi), Báo cáo đánh giá tác động BLHS (sửa đổi), Hà Nội – 2015, tr.4-5

Trang 12

Nam nhưng BLHS Việt Nam chưa quy định hiệu lực áp dụng nên không bảo vệ được một cách hiệu quả quyền lợi của các chủ thể trên

Thực trạng trên đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian, đối chiếu với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, so sánh với luật hình sự một số nước trên thế giới, để vừa có thể bảo vệ tối ưu quyền lợi của Nhà nước, các tổ chức và công dân Việt Nam; đồng thời vẫn phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và có sự tương đồng với pháp luật hình sự của các quốc gia khác Trong bối cảnh đó, ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ và toàn diện về vấn

đề này Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian” làm luận án tiến sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài“Hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian”

nhằm đạt được những mục đích sau đây:

- Làm rõ được cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan tới vấn đề hiệu lực

của BLHS Việt Nam về không gian; chỉ ra được những bất cập trong các quy định của BLHS Việt Nam về vấn đề này;

- Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về hiệu lực của

BLHS Việt Nam về không gian

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án này là những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian, cụ thể như sau:

- Lý luận về hiệu lực của luật hình sự về không gian: Khái niệm và các nguyên tắc xác định quyền tài phán trong luật hình sự quốc tế như nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc mang cờ, nguyên tắc quốc tịch chủ động và bị động, nguyên tắc bảo vệ, nguyên tắc phổ cập Những nguyên tắc này làm căn cứ để xác định hiệu lực về không gian của luật hình sự;

- Thực trạng hiệu lực của BLHS năm 1999 đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam; Các văn bản

Trang 13

pháp luật của Việt Nam liên quan đến việc xác định hiệu lực của BLHS về không gian Ngoài ra, tác giả cũng phân tích quy định hiệu lực của BLHS

về không gian theo Điều 5 và Điều 6 BLHS năm 2015

- Quy định của một số điều ước quốc tế và BLHS một số quốc gia liên quan đến việc xác định hiệu lực của BLHS về không gian

Để làm sáng tỏ các quy định trên, tác giả nghiên cứu một số văn bản pháp luật khác có liên quan như các Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về đường cơ sở, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, vùng trời Việt Nam; Luật Biển Việt Nam; các Hiệp ước hoạch định biên giới của Việt Nam với Lào, Campuchia và Trung Quốc; các Pháp lệnh về ưu đãi và miễn trừ cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam…

Luận án cũng nghiên cứu quy định của một số điều ước quốc tế có liên quan đến vấn đề xác định hiệu lực của luật hình sự về không gian như Công ước quốc tế về luật biển, Công ước Viên về ngoại giao, Công ước Viên về lãnh sự… Ngoài ra, luận

án còn khảo sát quy định của BLHS một số quốc gia về hiệu lực theo không gian như Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Đức, Thụy Điển…

Luận án này nghiên cứu hiệu lực về không gian của luật hình sự chủ yếu dưới góc độ lý luận và thực trạng quy định của pháp luật trên cơ sở phân tích các quy định của BLHS Việt Nam, so sánh với pháp luật hình sự của một số quốc gia về vấn đề này

và đối chiếu với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập để đề xuất các kiến nghị sửa đổi quy định hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian

Luận án cũng khảo sát ý kiến chuyên gia và những người làm công tác thực tiễn, phân tích một số vụ việc trong và ngoài nước để minh chứng cho các nội dung

Trang 14

được nghiên cứu Do chủ yếu nghiên cứu quy định liên quan đến vấn đề hiệu lực của BLHS Việt Nam năm 1999 về không gian nên các số liệu thống kê và các bản án, vụ việc được tác giả khảo sát trong luận án chủ yếu trong khoảng thời gian từ khi Bộ luật này có hiệu lực đến năm 2014, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2010 đến năm 1014

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

“Hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian” là luận án tiến sĩ đầu tiên

ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về hiệu lực của BLHS Việt Nam đối với các hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam và ngoài lãnh thổ Việt Nam Luận án đã nghiên cứu cơ sở lý luận về hiệu lực về không gian của luật hình sự như: Khái niệm, các nguyên tắc xác lập và một số vấn đề ảnh hưởng đến hiệu lực của luật hình sự về không gian Đồng thời luận án cũng phân tích quy định hiệu lực của BLHS về không gian và thực tiễn áp dụng; đối chiếu quy định hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian với quy định của một số điều ước quốc tế và luật hình

sự một số nước, từ đó nhận xét, đánh giá quy định hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian, chỉ ra những điểm hạn chế và đề xuất kiến nghị sửa đổi BLHS Việt Nam

Vì vậy, luận án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung cơ sở lý luận về hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian, đặc biệt là cơ sở lý luận về các nguyên tắc xác lập hiệu lực của luật hình sự, một số vấn đề như xác định nơi thực hiện tội phạm, không xử lý hai lần đối với một hành vi phạm tội, tội phạm kép…

Thứ hai, những kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định hiệu lực của BLHS về không gian được đưa ra trên cơ sở khoa học và thực tiễn nên có thể giúp ích cho cơ quan lập pháp khi sửa đổi BLHS

Cuối cùng, luận án sẽ là nguồn tài liệu nghiên cứu cho các sinh viên, giảng viên luật, các nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy luật hình sự; đồng thời đây cũng là nguồn tài liệu để các điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán tham khảo

trong hoạt động thực tiễn

Trang 15

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1 T ng quan về tình hình nghiên cứu

1.1 u

Trên thế giới, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quyền tài phán hay thẩm quyền xét xử của các quốc gia trong luật quốc tế, các nguyên tắc chi phối việc xác định thẩm quyền xét xử, nơi thực hiện hành vi phạm tội… Những vấn đề này có quan hệ mật thiết với việc xác định hiệu lực của luật hình sự về không gian vì quyền tài phán của các quốc gia trong luật quốc tế là căn cứ pháp lý để các quốc gia xác lập hiệu lực của luật hình sự của mình đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia Các tài liệu này có thể phân thành các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về các nguyên tắc xác định quyền tài phán của các quốc gia trong luật quốc tế

Trong một số tài liệu về luật quốc tế, các tác giả đã trình bày về quyền tài phán của các quốc gia Các tài liệu này đã phân tích các nguyên tắc ảnh hưởng đến việc xác định quyền tài phán của mỗi quốc gia như nguyên tắc lãnh thổ (territorial principle), nguyên tắc mang cờ (flag principle), nguyên tắc quốc tịch chủ động (active nationality principle), nguyên tắc quốc tịch thụ động (passive nationality principle), nguyên tắc bảo vệ (protective principle) và nguyên tắc phổ cập (universality princilpe) Ngoài ra, một số tài liệu còn bàn về vấn đề giải quyết mâu thuẫn về quyền tài phán giữa các quốc gia khi một hành vi phạm tội thuộc quyền tài phán của hai quốc gia trở lên; hoặc một hành vi phạm tội vừa thuộc quyền tài phán của tòa án quốc gia, vừa thuộc quyền tài phán của tòa án quốc tế Một số tài liệu tiêu biểu bàn về vấn đề này như: Michael Akehurst (1972-1973), “Jurisdiction in International Law”, 46 Brit Y B Int'l L 145;

Anthony Aust (2005), Handbook of International Law, Cambridge University Press, New York; Malcolm N Shaw (2008), International Law, Cambridge University Press, New York; Peter Malanczuk (1997), Akehurst‟s Modern Introduction to International Law, Routledge, London and New York; Ian Brownlie (2003), Principles of Public International Law, Sixth Edition, Oxford University Press, New York; Cedric Ryngaert (2007), Jurisdiction in International Law, United States and European

Trang 16

Perspectives, PhD Thesis, Katholieke Universiteit Leuven, Faculteit Rechtsgeleerdheid…

Ngoài ra, còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật phân tích về các nguyên tắc xác định quyền tài phán đối với hành vi phạm tội xảy ra ở ngoài lãnh

thổ quốc gia Trong bài United States Jurisdiction over Extraterritorial Crime,

Christopher L Blakesley (1982)2 đã phân tích về ba nguyên tắc chi phối việc áp dụng luật hình sự Mỹ đối với hành vi phạm tội xảy ra bên ngoài lãnh thổ nước Mỹ gồm: nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc an ninh quốc gia và nguyên tắc phổ cập Khi phân tích về nguyên tắc lãnh thổ, tác giả nghiên cứu hai trường hợp áp dụng luật hình sự

Mỹ bên ngoài lãnh thổ Mỹ là: (i) khi một yếu tố cấu thành tội phạm xảy ra ở bên trong lãnh thổ Mỹ; (ii) khi tội phạm thực hiện bên ngoài lãnh thổ Mỹ nhưng hậu quả hoặc ảnh hưởng của nó xảy ra bên trong lãnh thổ Mỹ Cùng bàn về vấn đề này, Danielle Ireland-Piper cho rằng có năm nguyên tắc chi phối việc áp dụng luật hình sự của một quốc gia đối với hành vi phạm tội xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia đó: nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịch (chủ động và thụ động), nguyên tắc phổ quát, nguyên tắc an ninh và nguyên tắc ảnh hưởng („effects‟ principle).3 Trong khi đó, Cộng đồng Châu

Âu đã ra một bản báo cáo vào năm 1990 về thẩm quyền hình sự ở ngoài lãnh thổ lại chỉ ra sáu nguyên tắc ảnh hưởng đến quyền tài phán của một quốc gia đối với hành vi phạm tội xảy ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia gồm: nguyên tắc quốc tịch chủ động, nguyên tắc mang cờ, nguyên tắc quốc tịch thụ động, nguyên tắc an ninh, nguyên tắc đại diện, nguyên tắc phổ quát.4 Dù có một số điểm khác nhau khi phân tích về các nguyên tắc ảnh hưởng đến quyền tài phán hình sự đối với hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ quốc gia, nhìn chung các công trình trên đều thừa nhận các nguyên tắc cơ bản như: nguyên tắc quốc tịch chủ động, nguyên tắc quốc tịch thụ động, nguyên tắc an ninh và nguyên tắc phổ quát Những nguyên tắc này là nền tảng lý luận để các nhà làm luật quy định phạm vi áp dụng BLHS đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia

2

Christopher L Blakesley (1982), “United States Jurisdiction over Extraterritorial Crime”, The

Journal of Criminal Law & Criminheidology, Vol.73, No.3

Trang 17

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về việc xác định nơi thực hiện tội phạm (locus delicti)

Nơi thực hiện tội phạm là một vấn đề liên quan đến nguyên tắc lãnh thổ và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hiệu lực của BLHS về không gian, nhất là trong trường hợp hành vi phạm tội bắt đầu, kết thúc hoặc hậu quả xảy ra ở các quốc gia

khác nhau Trong bài viết Criminal Jurisdiction and the Territorial Principle5, Wendell Berge đã nêu ra các quan điểm khác nhau về nơi thực hiện tội phạm theo luật của Anh và một số bang của Mỹ, đó là: (i) nơi tội phạm bắt đầu; (ii) nơi tội phạm hoàn thành; (iii) nơi hậu quả của tội phạm xảy ra; (iv) nơi toàn bộ hoặc một phần hành vi phạm tội xảy ra hoặc hậu qủa của tội phạm xảy ra Một vấn đề quan trọng khác được tác giả đặt ra trong bài viết này là xác định nơi thực hiện tội phạm trong những vụ án đồng phạm mà những người phạm tội thực hiện hành vi của mình (tổ chức, giúp sức, xúi giục, thực hành) ở các quốc gia khác nhau

Trong bài viết Locus Delicti and Criminal Jurisdiction6 (nơi thực hiện tội phạm

và quyền tài phán về hình sự), H D Wolswijk đã bàn khá chi tiết về các vấn đề liên

quan như: Khái niệm nơi thực hiện tội phạm, tội phạm xuyên biên giới và các học thuyết về nơi thực hiện tội phạm, học thuyết mở rộng nơi thực hiện tội phạm và ảnh

hưởng của việc mở rộng đó đến TNHS Trong bài viết “Territorial Jurisdiction over Cross-frontier Offences: Revisiting a Classic Problem of International Criminal Law”7 (Thẩm quyền theo lãnh thổ đối với các tội phạm xuyên biên giới: Nhìn lại một

vấn đề cổ điển của luật hình sự quốc tế), Cedric Ryngaert đã điểm lại các quan điểm khác nhau về nơi thực hiện tội phạm, nhất là đối với các tội phạm xuyên quốc gia

- Thứ ba, các công trình nghiên cứu về vấn đề không truy tố hai lần đối với một hành vi phạm tội (nguyên tắc “double jeopardy” hoặc “ne bis in idem”)

Cedric Ryngaert (2009), “Territorial Jurisdiction over Cross-frontier Offences: Revisiting a Classic

Problem of International Criminal Law”, Internatinal Criminal Law Review, (9)

Trang 18

Trong thực tế, có nhiều hành vi phạm tội xuyên quốc gia hoặc có một hành vi xảy ra ở một quốc gia nhưng thuộc quyền tài phán của nhiều quốc gia khác nhau Trong trường hợp này, người phạm tội sẽ chịu TNHS theo pháp luật của một trong số các quốc gia đó hay họ phải chịu TNHS theo pháp luật của tất cả các quốc gia liên quan về hành vi phạm tội của mình? Theo quy định tại Điều 15.7 Công ước quốc tế về

các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Không một người nào bị đưa ra xét xử hoặc

bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà một bản án có hiệu lực pháp luật

đã tuyên hoặc về tội phạm mà người đó đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật

tố tụng hình sự của mỗi nước” Tuy nhiên, vấn đề không truy tố cùng một tội hai lần

trên thực tiễn cũng như trong khoa học luật hình sự có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng không truy tố hai lần đối với một hành vi phạm tội là việc không truy tố lần thứ hai đối với cùng một hành vi phạm tội bởi một quốc gia (single sovereignty double jeopardy) Quan điểm thứ hai cho rằng không truy tố hai lần đối với một hành vi phạm tội là việc không truy tố lần thứ hai đối với cùng một hành vi phạm tội bởi một quốc gia khác với quốc gia đã truy tố lần thứ nhất (dual sovereignty double jeopardy).8 Liên quan đến luận án này, tác giả quan tâm đến vấn

đề không truy tố lần thứ hai đối với cùng một hành vi phạm tội bởi một quốc gia khác với quốc gia đã truy tố lần thứ nhất Có một số công trình sau đây bàn về vấn đề này

như: Roy W Sears (1960), Illinois Double Jeopardy Act: An Empty Gesture, Criminal Law Comments and Abstracts, Vol.51, 1960; Criminal Law, International Law

Update, Volume 16, October 2010; Vivienne O'Connor and Colette Rausch, editors

(2007), Model Codes for Post-Conflict Criminal Justice, Volume 1: Model Criminal Code, Peacebuilding and the Rule of Law

Ngoài ra, một số tác giả còn bàn đến vấn đề không truy tố lần thứ hai đối với một hành vi phạm tội trong những vụ án hình sự vừa thuộc quyền tài phán của tòa án hình sự quốc tế, vừa thuộc quyền tài phán của tòa án hình sự quốc gia (nếu tòa hình sự quốc tế đã xét xử hành vi đó thì tòa hình sự quốc gia sẽ không xét xử, và ngược lại)

Một số bài viết đề cập đến vấn đề này như: Mark Klamberg (2009), International Criminal Law in Swedish Courts: The Principle of Legality in the Arklov Case, International Criminal Law Review 9; Kate Gibson (2009), An Uneasy Co-existence:

8

Roy W Sears (1960), “Illinois Double Jeopardy Act: An Empty Gesture”, Criminal Law Comments

and Abstracts, Vol.51

Trang 19

The Relationship Between Criminal Courts a Criminalnd Their Domestic Counterparts, International Criminal Law Review 9

Thứ tư, các công trình nghiên cứu về vấn đề tội phạm kép (double/dual criminality)

Khi công dân của một quốc gia phạm tội hoặc bị xâm hại bên ngoài lãnh thổ quốc gia đó, nếu áp dụng nguyên tắc quốc tịch (chủ động hoặc bị động), một số quốc gia đòi hỏi hành vi đó phải bị quy định là tội phạm theo luật của nơi hành vi được thực hiện và nơi người phạm tội hoặc nạn nhân đó mang quốc tịch – nói cách khác hành vi này phải là “tội phạm kép” (double/dual criminality) Vấn đề này được đề cập đến khi một số tác giả phân tích về nguyên tắc quốc tịch hoặc vấn đề dẫn độ tội phạm (hành vi phải cấu thành tội phạm theo luật của quốc gia yêu cầu dẫn độ và quốc gia được yêu cầu dẫn độ) điển hình như một số tài liệu sau: Council of Europe (1990),

Extraterritorial Criminal Jurisdiction, European Committee on Crime Problems, Strasbourg; Malcolm N Shaw (2008), International Law, Cambridge University

Press, New York

Cuối cùng, các công trình nghiên cứu về vấn đề quyền miễn trừ về hình sự (immunity from jurisdiction)

Theo nguyên tắc lãnh thổ, BLHS của của một quốc gia được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia đó Tuy nhiên, trong một

số trường hợp, hành vi phạm tội được thực hiện bởi một số chủ thể có chức năng đặc biệt (nhân viên ngoại giao, nhân viên lãnh sự, nhân viên phái đoàn đại diện thường trực của quốc gia tại các tổ chức quốc tế…) sẽ được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ

về hình sự nên họ có thể sẽ không bị xử lý theo pháp luật của quốc gia nơi tội phạm được thực hiện Một số tác giả như Peter Malanczuk, Malcolm N Shaw đã phân tích các khía cạnh liên quan đến quyền miễn trừ về hình sự này như quyền miễn trừ về ngoại giao, quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự, quyền miễn trừ của nhân viên các tổ chức quốc tế, việc từ chối quyền miễn trừ… Các tài liệu tiêu biểu về vấn đền này

gồm: Malcolm N Shaw (2008), International Law, Cambridge University Press, New York; Peter Malanczuk (1997), Akehurst‟s Modern Introduction to International Law, Routledge, London and New York; Timothy D Scandurro (1987), Immunity, American Criminal Law Review, Vol.24; Anthony J Colangelo (2013), Jurisdiction,

Trang 20

Immunity, Legality, and Jus Cogens, Chicago Journal of International Law, Vol.14,

No.1

Ngoài ra, một số tác giả còn bàn đến hiệu lực của luật hình sự quốc gia đối với

hành vi phạm tội thực hiện trên các tàu vũ trụ, châu Nam cực, trên quỹ đạo trái đất

u t

Hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian là vấn đề đã được đề cập đến trong tất cả các giáo trình luật hình sự của các cơ sở đào tạo luật và trong một số công trình nghiên cứu khoa học luật hình sự khác ở Việt Nam như bài viết trên tạp chí khoa học pháp lý, luận án tốt nghiệp của sinh viên luật Tuy nhiên, số lượng các công trình khoa học nghiên cứu về chủ đề này ở Việt Nam không nhiều và chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung, chưa có một cuốn sách chuyên khảo hoặc một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ hoặc Nhà nước về vấn đề này Các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, vấn đề xác định hiệu lực của luật hình sự Việt Nam đối với các hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam

Các tài liệu nghiên cứu tập trung phân tích quy định tại Điều 5 BLHS về hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, qua đó bình luận và làm sáng tỏ một số khái niệm như: các bộ phận hợp thành lãnh thổ Việt Nam, nơi thực hiện tội phạm, những trường hợp được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự Trong khi các giáo trình luật hình sự, bài báo khoa học đề cập đến các nội dung trên mang tính chất giới thiệu khái quát và liệt

kê thì các luận văn thạc sĩ đã bước đầu phân tích sâu hơn về các vần đề này như:

- Chỉ ra các căn cứ pháp lý (pháp luật quốc gia và quốc tế) để xác định ranh

giới lãnh thổ quốc gia (đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời); nêu và phân tích khái niệm “lãnh thổ mở rộng”, “lãnh thổ bay”, “lãnh thổ bơi”;

- Chỉ ra những điểm bất cập trong quy định của về hiệu lực của BLHS đối

với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam như: chưa xác định

rõ hành vi phạm tội như thế nào được xem là thực hiện tại Việt Nam; chưa quy định đầy đủ về những trường hợp được hưởng quyền miễn trừ về hình

sự

Trang 21

- Đề xuất hướng hoàn thiện quy định của Điều 5 về hiệu lực của BLHS đối

với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, theo đó bổ sung định nghĩa về nơi thực hiện tội phạm, bổ sung quy định về hiệu lực của BLHS Việt Nam đối với hành vi phạm tội trên các tàu biển, phương tiện bay hàng không và vũ trụ mang quốc tịch Việt Nam

Thứ hai, vấn đề xác định hiệu lực của luật hình sự Việt Nam đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam

Vấn đề hiệu lực của luật hình sự Việt Nam đối với hành vi phạm tội thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam quy định tại Điều 6 BLHS Theo đó, BLHS Việt Nam có thể được áp dụng đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam bởi công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam hoặc người nước ngoài phạm các tội được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia Các tài liệu liên quan đã phân tích quy định trên tại Điều 6 BLHS, qua đó đề cập đến một số nguyên tắc liên quan đến việc xác định hiệu lực của BLHS Việt Nam đối với hành vi phạm tội được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam như nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc phổ cập

Những tài liệu tiêu biểu nghiên cứu về hiệu lực của luật hình sự Việt Nam đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam và đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam gồm:

- Các giáo trình và sách chuyên khảo về luật hình sự như: Lê Văn Cảm chủ biên

(2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2011), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Tập I), Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân; Võ Khánh Vinh chủ biên (2011), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung),

Khoa Luật - Đại học Huế, NXB Công an nhân dân; Trần Thị Quang Vinh chủ biên

(2012), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Trường Đại học Luật TP.HCM, NXB Hồng Đức; Đào Trí Úc (2000), luật hình sựViệt Nam, Quyển 1, Những vấn đề chung, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội… và một số giáo trình, sách bình

luận khoa học BLHS khác

- Các bài báo trên tạp chí khoa học như: Nguyễn Thị Phương Hoa, Hoàn thiện quy định về hiệu lực theo không gian của BLHS, Tạp chí khoa học pháp lý, số

Trang 22

03(82)/2014; Võ Khánh Vinh, Hiệu lực của BLHS về không gian, Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật số 58, tháng 3/1987

- Các luận văn thạc sĩ như: Trần Thị Quế Hương (2012), Hiệu lực theo không gian của Đạo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP.HCM; Nguyễn Xuân Lượt (2012), Một số vấn đề cơ bản về chế định hiệu lực của BLHS trong pháp luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc

gia Hà Nội

Thứ ba, nghiên cứu hiệu lực về không gian trong luật hình sự một số quốc gia

Rất ít tài liệu trong nước đề cập đến quy định của BLHS một số quốc gia về hiệu

lực theo không gian của BLHS Trong luận văn thạc sĩ “Hiệu lực theo không gian của Đạo luật hình sự Việt Nam”, tác giả Trần Thị Quế Hương đã nghiên cứu hiệu lực về

không gian trong BLHS Thụy Điển, Liên bang Nga và Cộng hòa Liên bang Đức Tác giả đã phân tích quy định của BLHS mỗi quốc gia nêu trên về hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ quốc gia và hiệu lực của BLHS đối với

hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia đó Trong luận văn thạc sĩ “Một số vấn đề cơ bản về chế định hiệu lực của BLHS trong pháp luật hình sự Việt Nam”, tác

giả Nguyễn Xuân Lượt (2012), Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu

về hiệu lực theo không gian trong BLHS Nhật Bản, Trung Quốc và Thụy Điển Khi phân tích pháp luật của mỗi quốc gia về hiệu lực của BLHS theo không gian, các tác giả đã đánh giá các quy định liên quan đến vấn đề nghiên cứu Những đánh giá này làm tiền đề để tác giả so sánh với các quy định của BLHS Việt Nam về hiệu lực về không gian

Thứ tư, nghiên cứu về các nguyên tắc ảnh hưởng đến quy định của BLHS của một quốc gia về hiệu lực về không gian

Trong một số tài liệu, các tác giả đã đề cập đến một số nguyên tắc với tư cách là

cơ sở của quy định về hiệu lực về không gian của luật hình sự như nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc an ninh quốc gia, nguyên tắc phổ cập Các tài liệu này gồm: Đào Trí Úc (2000), “Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1, Những vấn đề

chung”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Thị Thuận chủ biên (2007), Luật hình sự quốc tế, NXB Công an nhân dân; Trần Thị Quế Hương (2012), Luận văn thạc

sĩ “Hiệu lực theo không gian của Đạo luật hình sự Việt Nam”, Trường Đại học Luật

Trang 23

TP.HCM; Nguyễn Thị Phương Hoa, Hoàn thiện quy định về hiệu lực theo không gian của BLHS, Tạp chí khoa học pháp lý, số 03(82)/2014; Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Thị Thúy, “Triển khai quy định “không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” của Hiến pháp năm 2013 trong Bộ luật hình sự và BLTTHS”, Đặc san Khoa học Pháp lý, (02);

Vũ Thị Thúy, “Nội luật hóa quy định của công ước chống tra tấn (CAT) về quyền tài phán trong BLHS Việt Nam”, Đặc san Khoa học pháp lý, (03)…

3 Đá á tổng quan tình hình nghiên c u

Trên thế giới, việc nghiên cứu về quyền tài phán nói chung và hiệu lực của luật hình sự nói riêng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Như trên đã phân tích, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau về quyền tài phán của một quốc gia như: các nguyên tắc xác định quyền tài phán, vấn đề không truy tố hai lần đối với một hành vi phạm tội, xác định nơi thực hiện tội phạm, quyền miễn trừ hình sự Đây chính là cơ sở và là tiền đề để xác định hiệu lực về không gian của luật hình sự mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào trên thế giới nghiên cứu về hiệu lực của BLHS Việt Nam về không gian

Ở Việt Nam, hiệu lực của luật hình sự về không gian không phải là một chủ đề mới trong khoa học luật hình sự Tuy nhiên, so với các đề tài nghiên cứu khác, đây thực sự là một vấn đề chưa nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu các nhà khoa học luật hình sự trong nước Như trên đã liệt kê, các công trình khoa học nghiên cứu

về vấn đề này chưa nhiều và chưa xứng với tầm quan trọng và ý nghĩa của nó trong khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn áp dụng BLHS Các tác giả đã phân tích các quy định của BLHS hiện hành và bước đầu nghiên cứu về các nguyên tắc ảnh hưởng đến việc xác định hiệu lực của luật hình sự về không gian, xác định nơi thực hiện tội phạm, xác định phạm vi không gian BLHS Việt Nam có hiệu lực Tuy nhiên, các công trình khoa học ở trong nước nghiên cứu về hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian còn ở mức độ khái quát và sơ lược

Trong Luận án này, bên cạnh việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây về hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian, tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề như: khái niệm hiệu lực của luật hình sự về không gian, các nguyên tắc ảnh hưởng đến việc xác định hiệu lực của luật hình sự về không gian, nơi thực hiện tội phạm, quyền miễn trừ về hình sự, nghiên cứu luật hình

Trang 24

sự một số quốc gia về vấn đề này, từ đó đề ra định hướng sửa đổi quy định của BLHS Việt Nam về hiệu lực theo không gian

Ngoài ra, có một số vấn đề mà các công trình khoa học trên chưa đề cập đến sẽ

được tác giả nghiên cứu trong Luận án này như: quy định của một số điều ước quốc tế liên quan đến việc xác định hiệu lực về không gian của luật hình sự; quyền không bị

xử lý hai lần đối với một hành vi phạm tội, vấn đề tội phạm kép; thực tiễn áp dụng quy định về hiệu lực của BLHS Việt Nam đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam…

Cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có một luận án tiến sĩ nào nghiên cứu về “Hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian” Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian trong bối cảnh hiện nay rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, trước hết, tác giả phải thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu về khái niệm hiệu lực của luật hình sự Việt Nam theo không gian, các nguyên tắc ảnh hưởng đến việc xác lập hiệu lực về không gian của luật hình sự cũng như các vấn đề khác có liên quan

Thứ hai, khảo sát, đánh giá các quy định của BLHS và các văn bản pháp luật liên quan đến việc xác định hiệu lực của BLHS Việt Nam đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam và ngoài lãnh thổ Việt Nam Đồng thời khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về hiệu lực của BLHS năm 1999 về không gian

Thứ ba, đối chiếu quy định của BLHS Việt Nam về không gian với quy định của một số điều ước quốc tế có liên quan đến vấn đề này để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt Nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định nghĩa vụ của các quốc gia phải xác lập hiệu lực của luật hình sự về không gian mà hiện nay BLHS Việt Nam chưa quy định hiệu lực áp dụng thì cần đề xuất hướng sửa đổi

Thứ tư, tham khảo quy định hiệu lực về không gian trong BLHS một số quốc gia để học hỏi kinh nghiệm, cách thức quy định phù hợp với điều kiện của Việt Nam

Trang 25

Cuối cùng, đưa ra những kiến nghị cụ thể để sửa đổi các quy định hiệu lực về không gian trong BLHS Việt Nam

3 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan về vấn đề nghiên cứu của luận án, Kết luận, Các công trình khoa học đã công bố liên quan đến nội dung của luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung của luận án gồm bốn vấn đề sau đây:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về hiệu lực của luật hình sự về không gian Chương 2 Thực trạng hiệu lực của luật hình sự Việt Nam về không gian

Chương 3 Quy định hiệu lực của luật hình sự về không gian trong một số điều ước quốc tế và Bộ luật hình sự một số quốc gia

Chương 4 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về không gian

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận án này sử dụng các phương pháp nghiên cứu điển hình trong lĩnh vực luật học như sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng xuyên suốt luận án để nhận thức từ chi tiết đến khái quát về vấn đề được nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu của các công trình đã được công bố trước đó trong và ngoài nước dùng để tiếp thu các kiến thức về vấn đề nghiên cứu, các thành tựu của các nhà khoa học đã đạt được về vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp so sánh được dùng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa luật hình sự Việt Nam với luật hình sự của một số quốc gia và một số điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề hiệu lực về không gian Từ đó sẽ đánh giá ưu điểm và hạn chế của BLHS Việt Nam về vấn đề được nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử dùng để nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của các nguyên tắc ảnh hưởng đến việc quy định về hiệu lực theo không gian trong luật hình sự, cũng như quy định của pháp luật hình sự về vấn đề này

Trang 26

- Phương pháp nghiên cứu án điển hình được dùng để phân tích các vấn đề thực tiễn khi áp dụng quy định của BLHS Việt Nam về hiệu lực theo không gian trong một

số vụ án cụ thể

- Phương pháp chuyên gia được áp dụng để khảo sát ý kiến của các chuyên gia (cán bộ làm việc trong lĩnh vực tư pháp hình sự và các nhà khoa học) về các vấn đề pháp lý, thực tiễn áp dụng và đánh giá của họ về quy định của BLHS Việt Nam năm

1999 về hiệu lực theo không gian

Trang 27

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ KHÔNG GIAN

1.1 KHÁI NIỆM HIỆU LỰC CỦA LUẬT HÌNH SỰ VỀ KHÔNG GIAN

Hiệu lực của một văn bản quy phạm pháp luật là phạm vi thời gian, không gian

và đối tượng mà văn bản đó tác động tới, nghĩa là các quy phạm của văn bản này trở thành các quy tắc xử sự bắt buộc đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan9 Với cách tiếp cận này, hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật thường được phân loại thành hiệu lực về thời gian, không gian và đối tượng áp dụng Trong đó, hiệu lực của

văn bản quy phạm pháp luật về không gian là “giới hạn phạm vi lãnh thổ mà văn bản

đó có hiệu lực”10

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, khi bàn về hiệu lực của luật hình sự, các nhà khoa học thường phân chia thành hai loại là hiệu lực về thời gian và hiệu lực về không gian11, đồng thời coi hiệu lực về đối tượng áp dụng như một nội dung trong hiệu lực về không gian của luật hình sự Trong đó, hiệu lực về không gian của luật hình sự được chia ra làm hai phạm vi là hiệu lực của luật hình sự đối với các hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam (dù người phạm tội là công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không quốc tịch) và hiệu lực của luật hình sự đối với một số hành vi phạm tội thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam (do công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam thực hiện; hoặc do người nước ngoài thực hiện các tội phạm được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên) Trong các giáo trình luật hình sự, khi trình bày vấn đề hiệu lực về không gian, có tác giả chỉ phân tích nội dung tại Điều 5 và Điều 6 BLHS mà không

Việt Nam – Phần chung, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.41-54; Cao Thị Oanh chủ biên

(2010), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.31-37

Trang 28

định nghĩa thuật ngữ này12

; có tác giả đã định nghĩa hiệu lực về không gian của luật hình sự như: Giáo trình luật hình sự của Đại học Luật Hà Nội cho rằng luật hình sự Việt Nam có hiệu lực trong khoảng không gian nhất định và đối với một số người nhất định13; Giáo trình luật hình sự của Đại học Luật TP.HCM định nghĩa hiệu lực về không gian là phạm vi áp dụng của luật hình sự đối với hành vi phạm tội thực hiện trong không gian nhất định và đối với một số người nhất định14 Như vậy, theo các định nghĩa trên, trong nội hàm của khái niệm hiệu lực về không gian đã bao gồm cả hiệu lực về đối tượng áp dụng của luật hình sự

Tác giả tán thành quan điểm hiểu hiệu lực về không gian theo nghĩa rộng như trên (trong hiệu lực về không gian bao hàm cả hiệu lực về đối tượng áp dụng), bởi vì tại một thời điểm, mỗi cá nhân luôn gắn với một địa điểm (khoảng không gian) xác định15

Khi luật hình sự quy định hiệu lực đối với hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam và ngoài lãnh thổ Việt Nam là đã đồng thời quy định hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội do các chủ thể (đối tượng áp dụng) thực hiện tại các địa điểm đó Giữa hiệu lực về không gian và hiệu lực về đối tượng áp dụng có mối “quan hệ chặt chẽ”16 với nhau, không thể tách rời nên chúng ta không nên phân chia hiệu lực về không gian và hiệu lực về đối tượng áp dụng thành hai loại riêng biệt

Quan điểm phân chia hiệu lực của luật hình sự thành hai loại là hiệu lực về thời gian và hiệu lực về không gian không chỉ được thể hiện trong khoa học luật hình sự

mà còn được thể hiện trong BLHS Trong các BLHS của Việt Nam năm 1985, 1999

và 2015, nhà làm luật đều quy định hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam và ở ngoài lãnh thổ Việt Nam (hiệu lực về không gian) và hiệu lực của BLHS về thời gian Như vậy, các BLHS trên chỉ quy định về hiệu lực về không gian (trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam) và thời gian của BLHS mà không có điều luật nào trực tiếp quy định về hiệu lực về đối tượng áp dụng

12

Võ Khánh Vinh chủ biên (2008), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Công an

nhân dân, không đưa ra định nghĩa hiệu lực của luật hình sự về không gian

13

Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2000), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,

tr.25

14

Trần Thị Quang Vinh chủ biên (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, NXB

Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.34

15

Trong khoa học điều tra hình sự có khái niệm “chứng cứ ngoại phạm”: nếu người bị tình nghi đang

ở một địa điểm khác tại thời điểm hành vi phạm tội xảy ra, điều đó chứng tỏ anh ta không có mặt tại hiện trường vụ án đó lúc tội phạm được thực hiện

16

Võ Khánh Vinh chủ biên (2010), trích dẫn số 12, tr.309

Trang 29

(áp dụng đối với cá nhân, tổ chức nào) Tuy nhiên, trong nội dung Điều 5 và Điều 6 BLHS năm 2015, nhà làm luật đã chỉ ra các đối tượng bị áp dụng BLHS Việt Nam trong từng trường hợp Điều 5 BLHS năm 2015 quy định: Bộ luật này có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, dù hành vi đó do công dân Việt Nam, người không quốc tịch hay người nước ngoài thực hiện Điều 6 BLHS năm

2015 chỉ ra ba đối tượng phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị áp dụng BLHS Việt Nam gồm công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam và người nước ngoài Thực chất, Điều 5 và 6 BLHS năm 2015 là những quy định hiệu lực của BLHS về không gian (đối với hành vi phạm tội ở trên hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam), nhưng ẩn trong đó đã bao hàm cả hiệu lực theo đối tượng áp dụng của BLHS (công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam và người nước ngoài) Như vậy, có sự thống nhất về cách thức phân chia hiệu lực của luật hình sự trong khoa học luật hình sự và BLHS Việt Nam

Hiện nay, BLHS Việt Nam năm 2015 đã bổ sung pháp nhân có thể trở thành chủ thể của tội phạm Vì vậy, tác giả cho rằng khi định nghĩa về hiệu lực theo không gian của luật hình sự, chúng ta không nên khẳng định đó là hiệu lực của luật hình sự

đối với “một số người” (cá nhân) nhất định mà nên thay bằng “cá nhân hoặc pháp

nhân có liên quan”

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Hiệu lực của luật hình sự về không gian là khả năng các quy định của BLHS trở thành quy tắc xử sự bắt buộc đối với các

cá nhân và pháp nhân có liên quan trong phạm vi lãnh thổ xác định

Với định nghĩa trên, hiệu lực của luật hình sự về không gian có một số đặc điểm sau:

Hiệu lực của luật hình sự về không gian luôn gắn với phạm vi lãnh thổ xác định Phạm vi lãnh thổ mà BLHS có hiệu lực rất rộng, có thể là trong lãnh thổ quốc gia hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia

Hiệu lực của BLHS đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trong lãnh thổ quốc gia xuất phát từ chủ quyền quốc gia Bởi vì chủ quyền quốc gia là là quyền tối cao, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của quốc gia đối với mọi hành vi của cá nhân, pháp nhân (kể cả cá nhân, pháp nhân nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế) trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền thực hiện mọi hoạt động không bị luật quốc tế cấm Chủ quyền quốc gia được thực hiện thông qua

Trang 30

hoạt động của hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, quốc gia có quyền ban hành pháp luật có phạm vi áp dụng trên toàn lãnh thổ của mình, bắt buộc mọi cá nhân, pháp nhân phải tuân thủ, trừ trường hợp đặc biệt đối với người được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ Trong lĩnh vực luật hình sự, chủ quyền quốc gia được thể hiện thông qua quy định hiệu lực của BLHS đối với mọi hành vi phạm tội do các cá nhân, pháp nhân thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

đó Vì vậy, BLHS của các quốc gia đều quy định hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ quốc gia

Hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ quốc gia không gắn với chủ quyền quốc gia nên BLHS chỉ có hiệu lực đối với một số đối tượng nhất định (người mang quốc tịch hoặc thường trú ở quốc gia đó; xâm phạm lợi ích quốc gia…) Hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa nhà nước với các cá nhân, pháp nhân hoặc tàu biển, tàu bay mang quốc tịch quốc gia đó hoặc nhằm bảo vệ các lợi ích đặc biệt quan trọng của quốc gia hoặc cộng đồng quốc tế Vì vậy, hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia có đối tượng áp dụng hạn chế hơn

so với hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội trong lãnh thổ quốc gia Nếu BLHS của quốc gia có hiệu lực áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội được thực hiện trong lãnh thổ quốc gia đó (dù chủ thể là các cá nhân, pháp nhân của quốc gia đó hoặc của nước ngoài) thì nó chỉ có hiệu lực đối với một số hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia (như do công dân hoặc người không quốc tịch thường trú tại quốc gia đó thực hiện…)

Trong phạm vi lãnh thổ mà BLHS có hiệu lực, các quy định của BLHS trở thành quy tắc xử sự bắt buộc đối với các cá nhân và pháp nhân có liên quan Khi BLHS có hiệu lực đối với các hành vi phạm tội được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ hoặc ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia, các quy định của BLHS đó trở thành quy tắc xử

sự bắt buộc mà các cá nhân hoặc pháp nhân có liên quan phải thực hiện Các quy tắc

xử sự này được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước (hình phạt, các biện pháp tư pháp…) Nếu các cá nhân hoặc pháp nhân liên quan thực hiện các hành vi (hành động hoặc không hành động) trái với quy định của BLHS này, họ bị

đe dọa phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi được quy định trong bộ luật đó Đồng thời, nhà nước có cơ chế đảm bảo cho các biện pháp cưỡng chế trên được thực thi

Trang 31

(thông qua các quy định của BLTTHS về thủ tục và thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án)

Quy định hiệu lực của BLHS về không gian có ý nghĩa là cơ sở để nhà nước áp dụng các quy định của BLHS đối với một hành vi phạm tội thực hiện trong lãnh thổ quốc gia hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia, xác định những trường hợp mà các quy định của BLHS trở thành quy tắc xử sự bắt buộc đối với các cá nhân và pháp nhân có liên quan Ngoài ra, quy định hiệu lực về không gian của luật hình sự còn là căn cứ để các

cơ quan tiến hành tố tụng của quốc gia tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử và thi hành án hình sự đối với một hành vi phạm tội Đồng thời, các quy định hiệu lực về không gian của luật hình sự là cách thức hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của quốc gia; góp phần tích cực trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hoạt pháp của các tổ chức, cá nhân

1.2 CÁC NGUYÊN TẮC XÁC LẬP HIỆU LỰC VỀ KHÔNG GIAN CỦA LUẬT HÌNH SỰ

Trong tập quán quốc tế, từ lâu đã tồn tại các nguyên tắc phân định quyền tài phán của các quốc gia trong các lĩnh vực hình sự, dân sự và kinh tế Các nguyên tắc này được chấp nhận bởi các quốc gia và cộng đồng quốc tế vì nó phù hợp với luật quốc tế và là cơ sở để các quốc gia xác lập thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng trong luật hình thức và hiệu lực áp dụng các văn bản luật nội dung Khi một quốc gia có quyền tài phán đối với một hành vi phạm tội, nghĩa là BLHS của quốc gia đó phải có hiệu lực đối với hành vi phạm tội này; đồng thời Bộ luật tố tụng hình sự của quốc gia đó quy định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử đối với hành vi phạm tội đó

Vì vậy, trong lĩnh vực luật hình sự, các nguyên tắc xác lập quyền tài phán của quốc gia trong luật quốc tế đồng thời là các nguyên tắc xác lập hiệu lực của luật hình sự về không gian Các nguyên tắc đó gồm: Nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc mang cờ, nguyên tắc quốc tịch chủ động, nguyên tắc quốc tịch thụ động, nguyên tắc bảo vệ và nguyên tắc phổ cập

1.2.1 Nguyên tắc lãnh th

Lãnh thổ quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Một trong những chức năng chính của nhà nước là duy trì trật tự bên trong lãnh quốc gia và mỗi quốc gia có chủ quyền để tự quyết các vấn đề trong phạm vi lãnh thổ của mình, trong đó có quyền xét xử về hình sự Theo đó, luật hình sự của một quốc

Trang 32

gia có hiệu lực đối với bất kỳ người nào đã thực hiện một hành vi phạm tội trong lãnh thổ quốc gia đó17 Luật quốc tế gọi đây là “thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ” hay

“nguyên tắc lãnh thổ” (“territorial jurisdiction” hoặc “territorial principle”) Nguyên tắc lãnh thổ ngày nay được thừa nhận là nguyên tắc căn bản, quan trọng nhất trong việc xác lập thẩm quyền xét xử về hình sự18

Trong lịch sử, ở thời kỳ cổ đại, nguyên tắc lãnh thổ không phải là nguyên tắc

cơ bản trong việc xác lập quyền tài phán19 Tuy nhiên, từ đầu Thế kỷ 13, khi Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã nhấn mạnh: tầm ảnh hưởng của pháp luật bị giới hạn bởi lãnh thổ của quốc gia đã ban hành luật đó20, đã tạo ra nền tảng pháp lý cho việc hình thành nguyên tắc lãnh thổ Nhưng phải đến Thế kỷ 17 - một Thế kỷ đánh dấu sự gia tăng của nhà nước hiện đại và hoàn toàn tự chủ, là kết quả của các Hiệp ước hòa bình Westphalia21 được ký năm 1648, vai trò quan trọng của nguyên tắc lãnh thổ trong công pháp quốc tế đã dần thay thế nguyên tắc quốc tịch, và học thuyết khi một người chuyển đến vùng lãnh thổ khác sẽ không mang theo pháp luật của mình, mà họ phải tuân theo pháp luật ở vùng lãnh thổ họ đang sinh sống, đã được ủng hộ22

17

Vivienne O'Connor and Colette Rausch, editors (2007), Model Codes for Post-Conflict Criminal

Justice, Volume 1: Model Criminal Code, Peacebuilding and the Rule of Law,

[http://www.usitr.org/model-codes-post-conflict-justice-/publication-the-model-codes/english-version-volume-1], (truy cập ngày 12/4/2015), Điều 4 BLHS Mẫu Thông tin về tài liệu: “Model

Criminal Code” - “BLHS Mẫu” (thường được viết tắt trong tiếng Anh là “MCC”) là kết quả nghiên cứu trong sáu năm (từ năm 2001 đến năm 2007) của hơn 200 chuyên gia và những người làm công tác thực tiễn từ khắp nơi trên thế giới, sau đó được hai tác giả là Vivienne O'Connor và Colette Rausch biên tập lại Công trình này bao gồm Dự thảo một BLHS Mẫu để các quốc gia tham khảo và phần bình luận kèm theo mỗi điều luật Dự án được tổ chức bởi sự hợp tác giữa Viện Hòa bình Mỹ và Trung tâm Nhân quyền Ai-len phối hợp với Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc và Văn phòng Liên hợp quốc về Ma túy và Tội phạm (tác giả thông tin)

18

Anthony Aust (2010), Handbook of International Law, Cambridge University Press, tr.43; Council

of Europe (1990), trích dẫn số 6, tr.8

19

Thời kỳ cổ đại, nguyên tắc quốc tịch là nguyên tắc cơ bản trong việc xác lập thẩm quyền xét xử của

một quốc gia Xem: Cedric Ryngaert (2007), Jurisdiction in International Law, United States and

European Perspectives, PhD Thesis, Katholieke Universiteit Leuven, Faculteit Rechtsgeleerdheid,

[https://lirias.kuleuven.be/bitstream/1979/911/2/doctoraat.pdf], (truy cập ngày 10/02/2015), tr.47

20

Cedric Ryngaert (2007), trích dẫn số 25, tr.51

21

“The Peace of Westphalia” là một số Hiệp ước hòa bình được ký từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1648

ở Osnabrück và Münster Những Hiệp ước này đã kết thúc 30 năm chiến tranh (1618–1648) ở Đế chế

La Mã và 80 năm chiến tranh (1568–1648) giữa Tây Ban Nha và Hà Lan, trong đó Tây Ban Nha chính thức công nhận sự độc lập của nước Cộng hòa Hà Lan,

[http://en.wikipedia.org/wiki/Peace_of_Westphalia], (truy cập ngày 16/4/2015)

22

Cedric Ryngaert (2007), trích dẫn số 25, tr.51

Trang 33

Ngày nay, nguyên tắc lãnh thổ được chấp nhận như một khái niệm nền tảng và quan trọng nhất cho việc xác lập thẩm quyền xét xử về hình sự, xuất phát từ vấn đề chủ quyền quốc gia phải được thực thi bởi Nhà nước bên trong lãnh thổ của nó23 Tuy nhiên, vấn đề gây tranh cãi ở đây chủ yếu tập trung vào việc xác định thế nào là hành

vi phạm tội xảy ra trong lãnh thổ của quốc gia, nhất là trong trường hợp một phần của hành vi phạm tội xảy ra ở lãnh thổ nước này, phần còn lại của hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ quốc gia khác, hoặc hành vi phạm tội xảy ra ở quốc gia này nhưng hậu quả hoặc sự ảnh hưởng của tội phạm xảy ra ở lãnh thổ quốc gia khác Trong trường hợp này, luật quốc tế phân chia thành hai học thuyết khác nhau về nguyên tắc lãnh thổ: Nguyên tắc lãnh thổ chủ quan (subjective territorial jurisdiction/principle) và nguyên tắc lãnh thổ khách quan (objective territorial jurisdiction/principle)24 Nguyên tắc lãnh thổ chủ quan coi hành vi phạm tội ở một quốc gia là trường hợp toàn bộ hoặc một phần hành vi phạm tội xảy ra ở bên trong lãnh thổ đó, kể cả khi tội phạm được hoàn thành hoặc kết thúc ở nước ngoài; nguyên tắc lãnh thổ khách quan coi hành vi phạm tội ở một quốc gia là trường hợp hậu quả hoặc sự ảnh hưởng của tội phạm xảy

ra bên trong lãnh thổ quốc gia, nhưng những yếu tố khác của tội phạm diễn ra hoàn toàn bên ngoài lãnh thổ quốc gia đó25 Ví dụ: trong trường hợp một người ở quốc gia

X dùng súng bắn qua biên giới giết chết một người ở quốc gia Y Theo nguyên tắc lãnh thổ chủ quan, hành vi phạm tội này thực hiện ở quốc gia X nên quốc gia X có quyền xét xử; theo nguyên tắc lãnh thổ khách quan, hành vi phạm tội này thực hiện ở quốc gia Y (vì hậu quả của tội phạm xảy ra ở lãnh thổ nước Y) nên quốc gia Y có quyền xét xử Hoặc trong vụ án Lotus26, Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế nhận

23

Council of Europe (1990), trích dẫn số 6, tr.8

24

Christopher W Robbins (2009), “Finding Terrorists‟ Intent: Aligning Civil Antiterrorism Law with

National Security”, St.John‟s Law Review, Vol.83, tr.1214

25

Christopher L Blakessley & Dan E Stigall (2007), “The Myopia of U.S v Martinelli:

Extraterritorial Jurisdiction in the 21st Century”, The George Washington International Law Review,

Vol.39, tr.15; Christopher W Robbins (2009), trích dẫn số 30, tr.1214

26

Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Ngày 02/8/1926, tàu Lotus của Pháp đã đâm vào tàu Boz-Kourt

của Thổ Nhì Kỳ trên vùng biển quốc tế Hậu quả làm cho tàu Boz-Kourt bị chìm, 8 thủy thủ của tàu này bị mất tích và 10 người sống sót, bao gồm cả thuyền trưởng Những người sống sót trở về Thổ Nhì Kỳ trên con tàu Lotus của Pháp Tại Thổ Nhĩ Kỳ, sĩ quan trực ban của tàu Lotus (đại úy Demons, quốc tịch Pháp) và thuyền trưởng của tàu Boz-Kourt đã bị Tòa án Thổ Nhì Kỳ kết tội ngộ sát Trong

đó, Demons bị kết án 80 ngày tù và bị phạt tiền Chính phủ Pháp phản đối phán quyết này vì cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã vi phạm luật quốc tế và không có thẩm quyền xét xử vụ việc Đồng thời, phía Pháp yêu cầu Thổ Nhĩ Kỳ thả Demons hoặc chuyển giao vụ việc này cho Tòa án Pháp giải quyết Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng hành vi phạm tội này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Thổ Nhĩ Kỳ theo quy định tại Điều 6 BLHS nước này Cuối cùng, Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ đồng ý chuyển vụ việc tranh chấp

Trang 34

định: Hành vi phạm tội mà Đại tá Demons bị truy tố là do cẩu thả hoặc thiếu thận trọng, được thực hiện trên tàu Lotus, nhưng đã gây ảnh hưởng đến tàu Boz-Kourt (làm tàu này bị chìm) Hai yếu tố này, về mặt pháp lý, hoàn toàn không thể tách rời, nếu thiếu một trong hai dấu hiệu đó thì hành vi phạm tội không tồn tại Vì vậy, mỗi bên có thể thực thi thẩm quyền đối với toàn bộ vụ việc Đây là một vụ án có thẩm quyền đồng thời27 Bên cạnh đó, Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế đánh giá: Hành vi phạm tội gây ảnh hưởng cho tàu mang cờ của Thổ Nhĩ Kỳ - nơi được đồng nhất với lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ, nên việc áp dụng luật hình sự của Thổ Nhĩ Kỳ không thể bị coi là vi phạm, mặc dù hành vi phạm tội được thực hiện bởi người nước ngoài28 Nếu hành vi phạm tội xảy ra ở nước ngoài nhưng một trong những yếu tố cấu thành tội phạm hoặc ảnh hưởng của nó diễn ra trên lãnh thổ của quốc gia thì cũng được coi là thực hiện trên lãnh thổ quốc gia Vì vậy, theo cách giải thích này, Tòa án Pháp cũng

có quyền giải quyết vụ án29 Như vậy, qua đánh giá của mình, Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế đã thừa nhận cả nguyên tắc lãnh thổ chủ quan (cho phép Tòa án Pháp giải quyết vụ án – xác định thẩm quyền xét xử theo nơi thực hiện hành vi) và nguyên tắc lãnh thổ khách quan (cho phép Tòa án thổ Nhĩ Kỳ giải quyết vụ án - xác định thẩm quyền xét xử theo nơi thiệt hại của tội phạm xảy ra)

Việc áp dụng nguyên tắc lãnh thổ (chủ quan hoặc/và khách quan) liên quan mật thiết đến vấn đề xác định nơi thực hiện tội phạm (locus delicti) sẽ được phân tích trong Mục 1.3.1 của Luận án

1.2.2 Nguyên tắc mang cờ

Nguyên tắc mang cờ (flag principle) là nguyên tắc chi phối thẩm quyền xét xử

về hình sự của quốc gia đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trên tàu biển hoặc tàu bay mang cờ của quốc gia đó30

thẩm quyền xét xử cho Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế giải quyết Ngày 07/9/1927, Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế đã ra phán quyết: Việc Tòa án Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành các thủ tục tố tụng kết án Demons không vi phạm pháp luật quốc tế Xem: S.S Lotus (Fr v Turk.), 1927 P.C.I.J (ser A)

No.10 (Sept 7), [http://www.worldcourts.com/pcij/eng/decisions/1927.09.07_lotus.htm], (truy cập

Trang 35

Trong khoa học luật quốc tế, có quan điểm cho rằng ngoài các bộ phận cấu thành lãnh thổ tự nhiên của quốc gia như vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất, lãnh thổ quốc gia còn có các tàu biển, tàu bay hoặc các công trình, thiết bị nhân tạo của quốc gia (như hệ thống cáp ngầm, ông dẫn ngầm, đảo nhân tạo…) mang cờ hoặc dấu hiệu riêng biệt, hợp pháp của quốc gia ở vùng biển cả, không phận quốc tế, châu Nam cực… được thừa nhận có chế độ pháp lý như lãnh thổ quốc gia, được gọi là

“lãnh thổ di động”, “lãnh thổ bay” hay “lãnh thổ bơi”31 Theo quan điểm này, “nguyên tắc lãnh thổ” chi phối việc xác định hiệu lực của BLHS đối với cả hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ tự nhiên và “lãnh thổ di động” đó nên họ không tách

“nguyên tắc mang cờ” thành một nguyên tắc độc lập trong việc xác định quyền tài phán

Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng lãnh thổ quốc gia chỉ bao gồm các bộ phận lãnh thổ tự nhiên của quốc gia, không bao gồm các tàu biển, tàu bay mang cờ hoặc đăng ký của quốc gia bởi vì đây chỉ là các phương tiện vật chất được đăng ký hoặc mang cờ của quốc gia và quốc gia đó có một số quyền chủ quyền trên các phương tiện này, trong đó có quyền tài phán Theo quan điểm này, “nguyên tắc lãnh thổ” chỉ chi phối việc xác định hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội thực hiện trong lãnh thổ tự nhiên của quốc gia; trong khi “nguyên tắc mang cờ” chi phối việc xác định hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên các tàu bay, tàu biển đăng

ký hoặc mang cờ của quốc gia đang ở ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia đó Nguyên tắc mang cờ độc lập với nguyên tắc lãnh thổ nên khi quy định về quyền tài phán đối với các tội phạm có tính chất quốc tế, phần lớn các công ước tách riêng quyền tài phán đối với các hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia (nguyên tắc lãnh thổ) với quyền tài phán đối với hành vi phạm tội thực hiện trên tàu biển hoặc tàu bay mang

cờ hoặc đăng ký ở quốc gia đó (nguyên tắc mang cờ)

Tác giả tán thành quan điểm cho rằng các tàu biển, tàu bay mang cờ hoặc đăng

ký ở một quốc gia không phải là “lãnh thổ” của quốc gia bởi vì đó là các phương tiện

do con người tạo ra và quốc gia mà tàu bay, tàu biển mang cờ chỉ có một số quyền chủ quyền nhưng không có chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt và tuyệt đối trên các thiết bị này khi chúng ở ngoài lãnh thổ tự nhiên của mình

31

Trần Thị Thùy Dương, Nguyễn Thị Yên chủ biên (2013), Giáo trình công pháp quốc tế (Quyển 1),

NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.234

Trang 36

Theo quy định của luật hàng hải và hàng không quốc tế, tàu biển và tàu bay đăng ký tại quốc gia nào sẽ mang cờ và có quốc tịch của quốc gia đó và mỗi tàu bay, tàu biển chỉ được phép đăng ký tại một quốc gia Khi một hành vi phạm tội được thực hiện trên các tàu biển và tàu bay này thì thẩm quyền xét xử thuộc về quốc gia mà tàu biển hoặc tàu bay đó mang cờ hoặc đăng ký Tập quán quốc tế coi đây là trường hợp xác lập thẩm quyền xét xử theo nguyên tắc mang cờ Hiện nay, việc xác lập quyền tài phán theo nguyên tắc mang cờ được thừa nhận rộng rãi trong các điều ước quốc tế32

và luật hình sự của các quốc gia33 Tuy nhiên, vẫn tồn tại hai vấn đề còn tranh luận liên quan đến nguyên tắc mang cờ

Thứ nhất, vấn đề liên quan đến phạm vi áp dụng nguyên tắc mang cờ khi hành

vi phạm tội thực hiện trên một con tàu mang cờ của một quốc gia đang ở trong lãnh hải của quốc gia khác hoặc khi một tàu bay đang bay qua lãnh thổ quốc gia khác Trong tình huống này, theo các chuyên gia nghiên cứu về thẩm quyền xét xử hình sự ở ngoài lãnh thổ quốc gia của Cộng đồng Châu Âu, nguyên tắc mang cờ vẫn được áp

dụng: “Không có chứng cứ trong các quy định luật quốc tế về việc chỉ định thẩm quyền xét xử thuộc về quốc gia nào, nhưng một trong số các quốc gia đó xác lập thẩm quyền theo nguyên tắc mang cờ” 34 Quan điểm này được học giả Manfred Nowak và

Elizabeth McArthur chia sẻ qua tình huống: Nếu một hành vi phạm tội thực hiện trên tàu bay của Mỹ đang bay trên lãnh thổ của Anh thì cả Anh và Mỹ đều có quyền xét

xử, trong đó Mỹ xác lập thẩm quyền xét xử theo nguyên tắc mang cờ, Anh xác lập thẩm quyền xét xử theo nguyên tắc lãnh thổ35

Thứ hai, vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội trên tàu bay hoặc tàu biển mang

cờ của quốc gia được coi là thực hiện trong lãnh thổ hay ngoài lãnh thổ quốc gia? Có quan điểm cho rằng hành vi phạm tội trên tàu bay hoặc tàu biển mang cờ của quốc gia được coi là thực hiện trong lãnh thổ quốc gia đó Từ đầu Thế kỷ 19, Tòa án Mỹ đã coi

32

Một số công ước quốc tế quy định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ hoặc có quyền xác lập thẩm quyền xét xử của mình đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên tàu bay, tàu biển mang cờ nước mình như: Công ước về trấn áp hành vi chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay năm 1970, Công ước ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hoạt động hàng không dân dụng năm 1971, Công ước quốc tế bảo vệ về mặt vật lý vật liệu hạt nhân năm 1979, Công ước về trấn áp các hành vi bất hợp pháp xâm phạm an toàn hành trình hàng hải năm 1988…

Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nations Convention Against Torture, A

commentary, Oxford University Press, tr.309

Trang 37

những tàu biển mang cờ Mỹ là một phần lãnh thổ của Mỹ, và vì thế, những hành vi phạm tội được thực hiện trên tàu biển mang cờ Mỹ thì thuộc quyền tài phán của Mỹ36 Đến đầu Thế kỷ 20, quan điểm này được khẳng định lại qua vụ án Lotus, Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế coi hành vi phạm tội của Đại tá Demons gây ra ảnh hưởng trên tàu của Thổ Nhĩ Kỳ - nơi được đồng nhất với lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ nên được coi là phạm tội ở Thổ Nhĩ Kỳ37 Ngày nay, BLHS một số quốc gia cũng coi hành

vi phạm tội thực hiện trên tàu bay hoặc tàu biển mang cờ của quốc gia là tội phạm thực hiện trong lãnh thổ quốc gia đó (Điều 113-3 và 113-4 BLHS Pháp; Điều 11 BLHS Nga) Những người theo quan điểm này thừa nhận thẩm quyền xét xử của quốc gia đối với hành vi phạm tội thực hiện trên tàu bay hoặc tàu biển mang cờ quốc gia, nhưng họ coi như phạm tội ở trong lãnh thổ hoặc lãnh thổ mở rộng của quốc gia38

Ngược lại, có quan điểm cho rằng hành vi phạm tội trên tàu bay hoặc tàu biển mang cờ của quốc gia được coi là thực hiện ở ngoài lãnh thổ quốc gia Điều đó được thể hiện trong quá trình soạn thảo Công ước quốc tế về chống tra tấn, nhóm nghiên cứu (“Working Group”) cho rằng cần phân biệt nguyên tắc mang cờ với nguyên tắc lãnh thổ Nguyên tắc lãnh thổ được áp dụng đối với các hành vi phạm tội thực hiện trên vùng đất, vùng nước, vùng trời, thậm chí là các vùng chiếm đóng quân sự hoặc thuộc địa của một quốc gia, được coi là phạm tội bên trong lãnh thổ quốc gia Trong khi nguyên tắc mang cờ được áp dụng đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên tàu bay hoặc tàu biển mang cờ của quốc gia đang ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia39 Hoặc trong BLHS Mẫu40, các chuyên gia đã coi hiệu lực của luật hình sự đối với hành

vi phạm tội thực hiện trên tàu bay đang bay hoặc tàu biển đăng ký hoặc mang cờ của quốc gia là hiệu lực của luật hình sự đối với hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ quốc gia đó Một số điều ước quốc tế và BLHS của một số quốc gia cũng quy định nguyên tắc mang cờ đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia

Tác giả tán thành quan điểm cho rằng nguyên tắc mang cờ là một nguyên tắc độc lập với nguyên tắc lãnh thổ trong việc xác lập hiệu lực của luật hình sự đối với

Trang 38

hành vi phạm tội và cần coi hành vi phạm tội trên tàu bay hoặc tàu biển của quốc gia đang ở ngoài lãnh thổ quốc gia đó là trường hợp phạm tội ở ngoài lãnh thổ quốc gia Bởi vì, trong khi nguyên tắc lãnh thổ xác lập thẩm quyền dựa trên các vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia thì nguyên tắc mang cờ không căn cứ vào lãnh thổ quốc gia mà căn cứ vào nơi đăng ký của tàu bay hoặc tàu biển41, vị trí của tàu bay hoặc tàu biển khi hành vi phạm tội đó diễn ra là đang ở ngoài lãnh thổ của quốc gia mà nó mang cờ Tương tự như nguyên tắc quốc tịch chủ động, nguyên tắc mang cờ dựa trên mối quan hệ giữa tàu bay, tàu biển với quốc gia mà các phương tiện đó mang cờ Khi tàu bay, tàu biển đăng ký tại một quốc gia thì nó sẽ mang cờ và có “quốc tịch” của quốc gia đó Quốc gia này có nghĩa vụ bảo bộ pháp lý đối với tàu bay và tàu biển này, đồng thời có quyền yêu cầu thủy thủ đoàn và tất cả những người đang có mặt trên con tàu này phải tuân thủ pháp luật của mình, dù nó đang ở ngoài lãnh thổ quốc gia, trong

đó bao gồm cả nghĩa vụ tuân thủ quy định của luật hình sự Vì vậy, nếu có hành vi phạm tội được thực hiện trên tàu bay hoặc tàu biển này thì luật hình sự của quốc gia

mà tàu bay hoặc tàu biển đó mang cờ sẽ được áp dụng

1.2.3 Nguyên tắc quốc tịch chủ động

Theo nguyên tắc quốc tịch chủ động (“active personality principle” hoặc

“active nationality principle”)42, một quốc gia có thẩm quyền xét xử đối với những hành vi phạm tội do công dân của mình thực hiện, kể cả khi họ phạm tội ở ngoài lãnh thổ quốc gia43 Nguyên tắc này xác lập hiệu lực của BLHS dựa trên cơ sở quốc tịch của người phạm tội Sự tồn tại của nguyên tắc này xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân Khi một người mang quốc tịch một quốc gia, họ có nghĩa vụ trung thành với quốc gia đó, bao gồm cả nghĩa vụ tuân theo pháp luật, dù họ ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới Ngược lại, Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ công dân của mình, nhất là khi họ đang ở nước ngoài Vì vậy, khi một người mang quốc tịch một quốc gia, phạm tội ở quốc gia khác, quốc gia mà người phạm tội mang quốc tịch có những lý do chính đáng và lợi ích liên quan để xác lập thẩm quyền xét xử đối với hành vi phạm tội đó Thứ nhất, quốc gia này muốn giáo dục, cải tạo công dân của mình, ngăn ngừa họ

41

Vũ Thị Thúy (2014), “Nội luật hóa quy định của công ước chống tra tấn liên quan đến quyền tài

phán trong BLHS Việt Nam”, Đặc san Khoa học pháp lý, (03), tr.39

Trang 39

phạm tội mới, nhất là khi pháp luật của quốc gia đó cấm dẫn độ công dân của mình cho nước ngoài xét xử Thứ hai, nguyên tắc quốc tịch được coi như một biện pháp bảo

hộ đối với công dân của họ khi phạm tội ở nước ngoài, nhất là trong trường hợp pháp luật của quốc gia nơi tội phạm được thực hiện quy định hình phạt nặng hơn pháp luật của quốc gia mà người phạm tội mang quốc tịch Thứ ba, tình trạng phạm tội của công dân quốc gia này ở một quốc gia khác sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự

và hình ảnh của quốc gia đó trong cộng đồng quốc tế nên quốc gia mà người phạm tội mang quốc tịch muốn xử lý người phạm tội là công dân của mình để bảo vệ danh dự

và thể diện quốc gia.44

Nguyên tắc quốc tịch là nguyên tắc quan trọng nhất trong việc xác lập thẩm quyền xét xử của các quốc gia ở Châu Âu lục địa từ thời cổ đại45 Nguyên tắc này đã được công nhận tại thời kỳ Bartolus46

ở các thành bang miền bắc nước Ý Nó lần đầu tiên được hệ thống hóa trong luật pháp của Liên bang Đức, Thụy Sĩ, Sardinia và Tuscany vào giữa Thế kỷ 19 Ở các nước Anglo-Saxon, nơi đề cao nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịch chủ động theo truyền thống chậm phát triển47

Ngày nay, nguyên tắc quốc tịch được thừa nhận rộng rãi làm nền tảng cho thẩm quyền xét xử của quốc gia đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia48 Luật hình sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định hiệu lực áp dụng đối với hành vi phạm tội do công dân của mình thực hiện ở nước ngoài Tuy nhiên, phạm vi áp dụng nguyên tắc quốc tịch ở mỗi quốc gia có sự khác nhau Có quốc gia áp dụng nguyên tắc quốc tịch đối với tất cả các tội phạm (Việt Nam); có quốc gia chỉ áp dụng nguyên tắc quốc tịch đối với một số loại tội phạm nghiêm trọng như giết người, phản bội tổ quốc (Vương Quốc Anh), hoặc các tội phạm được BLHS quy định một mức hình phạt tù tối thiểu nhất định (Phần Lan) Có quốc gia cho phép

Bartolus de Saxoferrato (tiếng Ý: Bartolo da Sassoferrato) (1313 - 1357) là một giáo sư luật của Ý

và là một trong các luật gia lục địa nổi bật nhất của Luật La Mã thời Trung Cổ Ông được biết đến như một nhà bình luận hoặc bình chú luật Sự ngưỡng mộ của các thế hệ sau này của luật sư dân sự được thể hiện qua câu ngạn ngữ “íurista nisi bartolista” - không ai là một luật gia tốt trừ khi anh ta là một Bartolist (tức là một tín đồ của Bartolus) Xem:

http://en.wikipedia.org/wiki/Bartolus_de_Saxoferrato, (truy cập ngày 02/6/2015)

47

Cedric Ryngaert (2007), trích dẫn số 25, tr.100-101

48

Ian Brownlie (2003), Principles of Public International Law, Sixth Edition, Oxford University

Press, New York, tr.301

Trang 40

áp dụng nguyên tắc quốc tịch, kể cả khi hành vi đó không được coi là tội phạm theo luật hình sự của quốc gia nơi hành vi được thực hiện (Thụy Điển); nhưng có quốc gia chỉ áp dụng nguyên tắc quốc tịch khi hành vi đó bị coi là tội phạm theo luật hình sự của quốc gia nơi tội phạm được thực hiện và quốc gia người phạm tội mang quốc tịch49 (Liên bang Nga) Bên cạnh đó, có quốc gia chỉ áp dụng nguyên tắc quốc tịch đối với người phạm tội đang là công dân nước mình phạm tội ở nước ngoài (Trung Quốc), nhưng có quốc gia mở rộng nguyên tắc quốc tịch đối với cả trường hợp người không quốc tịch thường trú tại nước mình (Nhật Bản, Việt Nam) hoặc người nước ngoài đang cư trú tại nước mình (Thụy Điển), hoặc người trở thành công dân nước mình sau khi phạm tội và trước khi bị kết án (Phần Lan, Pháp) Nhìn chung, nguyên tắc quốc tịch được áp dụng mở rộng ở các quốc gia theo thệ thống luật Châu Âu lục địa (Civil Law) hơn so với các quốc gia theo thệ thống thông luật (Common Law)50

Tuy nhiên, các quốc gia theo hệ thống thông luật chưa bao giờ phản đối việc mở rộng thẩm quyền xét xử theo nguyên tắc quốc tịch chủ động ở các quốc gia châu Âu lục địa Ngược lại,

Mỹ đã từng hỗ trợ cho Hy Lạp và Ý để truy tố người phạm tội mang quốc tịch của các quốc gia này phạm tội trên lãnh thổ Mỹ51

1.2.4 Nguyên tắc quốc tịch thụ động

Theo nguyên tắc quốc tịch thụ động (passive personality/nationality principle), một quốc gia có quyền xét xử đối với người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ quốc gia xâm hại công dân của mình52 Việc xác lập thẩm quyền xét xử đối với hành

vi phạm tội trong trường hợp này dựa trên cơ sở quốc tịch của nạn nhân

Nguyên tắc quốc tịch thụ động có nguồn gốc từ thời Trung cổ với quan niệm đối tượng chủ yếu của luật hình sự là bảo vệ sự thái bình của triều đại (“King‟s Peace”) – bao gồm bảo vệ lợi ích của cộng đồng và cá nhân – trong đó pháp luật quốc gia của nạn nhân có sự đánh giá tốt nhất về cách thức nạn nhân được bảo vệ53 Đến

Thế kỷ 19, các nhà tội phạm học Đức đã đề xuất khái niệm được gọi là “Realsystem”

(tạm dịch: “hệ thống thực tế”) – một sự kết nối giữa nguyên tắc quốc tịch thụ động và

49

Liên quan đến vấn đề “tội phạm kép”, sẽ được đề cập đến ở Mục 1.3.4 của Luận án

50

Michael Akehurst (1972-1973), “Jurisdiction in International Law”, 46 Brit Y B Int'l L 145,

tr.157; Nguyễn Thị Thuận chủ biên (2007), Luật hình sự quốc tế, NXB Công an nhân dân, tr.84

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm