Trên thực tế trong một bản án hình sự Tòa án không phải chỉ quyết định áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt tiền, tịch thu tài sản đối với người phạm tội trường hợp qua xét xử xác đị
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do bản thân tôi nghiên cứu trên cơ sở được sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Bá Ngừng, luận văn này chưa từng được công bố trên bất kỳ tạp chí nào Trong luận văn
có sử dụng các tài liệu, số liệu thống kê hoàn toàn đảm bảo là sự thật
Tác giải luận văn
Nguyễn Thành Sang
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1 PHẦN NỘI DUNG Trang 5 Chương 1 Lý luận chung về thi hành hình phạt tiền và tịch
thu tài sản trong bản án hình sự Trang 5 1.1 Khái niệm, mục đích ý nghĩa của thi hành hình phạt tiền
và tịch thu tài sản Trang 5 1.2 Những quy định của luật pháp về thi hành hình phạt tiền
và tịch thu tài sản từ 1945 đến nay Trang 14 1.3 Những yếu tố chi phối thi hành hình phạt tiền và tịch thu
tài sản Trang 22 Chương 2 Thực trạng thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài
sản trong bản án hình sự và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác
thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản Trang 34 2.1 Quy trình thực hiện thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản
trong thực tế Trang 34 2.2 Khái quát tình hình về cơ quan thi hành án dân sự Trang 48
sản trong bản án hình sự từ năm 2007 đến nay Trang 51 2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tiền và tịch
thu tài sản trong bản án hình sự Trang 73 KẾT LUẬN Trang 88
Trang 5PHỤ LỤC 1: Kết quả Thi hành về việc 6 tháng đầu năm 2012
PH Ụ LỤC 2: Kết quả Thi hành về giá trị 6 tháng đầu năm 2012
PH Ụ LỤC 3: Số liệu thống kê án những bản án tuyên phạt tiền và tịch thu
đọng
PH Ụ LỤC 4: Biểu thống kê phân tích lý do các trường hợp không thể thi
điểm trước ngày 01/7/2009 ( ngày Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành)
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi hành bản án của Tòa án nói chung và thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động áp dụng pháp luật-một hoạt động cụ thể trong thực hiện pháp luật, đây là khâu cuối cùng của hoạt động áp dụng pháp luật Nếu không thực hiện hiệu quả, nghiêm túc bản án đã được Tòa án phán quyết, thì tất cả các hoạt động tố tụng trước đó trở nên vô hiệu trên thực tế, làm giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Tòa án, đối với chính quyền, là một tác nhân gây mất sự phát triển ổn định trật tự xã hội, mục tiêu của Bộ Chính trị xác định trong Nghị quyết số 49/NQ-TW, ngày 02 tháng 6 năm 2005 về cải cách tư pháp đến năm 2020 khó có thể thực hiện trọn vẹn
Trong điều kiện hiện nay, khi mà Đảng, Nhà nước thực hiện cơ chế kinh
tế mới- cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một điều không thể tránh khỏi là mâu thuẩn gay gắt, ganh đua quyết liệt trên thương trường sẽ dẫn đến không ít người lấy mục đích lợi nhuận, tiền bạc làm mục đích cao nhất, duy nhất trong cuộc đời mà bất chấp đạo lý, pháp lý Họ sẵn sàng phạm tội để có tiền bạc, sẵn sàng đánh đổi hàng chục năm tù để trốn tránh thực hiện hình phạt tiền và tịch thu tài sản trên thực tế Chính vì vậy, việc tổ chức thực thi hình phạt tiền, tịch thu tài sản trong bản án hình sực có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, là vấn đề nhạy cảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước Chính vì vậy, trong những năm gần đây công tác thi hành án dân sự nói chung và công tác thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự nói riêng ngày càng được Đảng, Nhà nước chú trọng, quan tâm Từ việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự đến việc tăng cường phát triển đội ngũ cán bộ thi hành án về số lượng cũng như về chất lượng nhằm nâng cao
Trang 7hiệu quả trong công tác tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản
án hình sự còn tồn tại những bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu để khắc phục từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự nói chung và công tác thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài
sản trong bản án hình sự nói riêng Bởi vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn “Thi
hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự” làm đề tài cho
luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề có liên quan về thi hành án dân sự đã có nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí như Dân chủ và pháp luật, nhưng thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự chưa được bàn luận nhiều Một số bài viết được đăng tải trên tạp chí như:
- Trần Quốc Toản, “Về hình phạt tiền trong luật một số nước”, Tạp chí nhà nướ và pháp luật số 07/2002,
- TS Trương Quang Vinh, “Hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 1999”, Tạp chí Luật học số 4/2002,
- Nguyễn Hoàng Lâm, “Một số vấn đề lý luận về hình phạt tiền”, Tạp chí Toà án số 16/2009,
- Lê Thị Kim Dung, “Vướng mắc xử lý tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước trong thi hành án dân sự”,
http://moj.gov.vn/thihanhan/list/nghiencuutraodoi ,
- Tạp chí nghề luật, “Toà án hay cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành quyết định phạt tiền trong bản án hình sự”, Học viện Tư pháp 1/2007,
- Công trình nghiên cứu có liên quan: luận văn thạc sĩ Phan Thành Bút -
“Giải quyết vấn đề dân sự trong tố tụng hình sự”
Trang 83 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế, bất cập trong thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu lý luận pháp lý và các quy định của pháp luật liên quan đến thi hành án nói chung và thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản
án hình sự nói riêng
- Tình hình thực hiện thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản
án hình sự, đề xuất giải pháp phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao hiệu quả hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực tế thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng, Nhà nước về Nhà nước và pháp luật tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
Trang 9- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn …
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ thêm lý luận về thi hành
án phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự, có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để tham khảo trong quá trình bổ sung, hoàn chỉnh pháp luật về thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 02
chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Lý luận chung về thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự
1.1 Khái niệm, mục đích ý nghĩa của thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản
1.2 Những quy định của luật pháp về thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản từ 1945 đến nay
1.3 Những yếu tố chi phối thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản
Chương 2 Thực trạng thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác thi hành
án phạt tiền và tịch thu tài sản
2.1 Quy trình thực hiện thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản trong thực
tế
2.2 Khái quát tình hình về cơ quan thi hành án dân sự
2.3.Tình hình thực hiện thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự từ năm 2007 đến nay
2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự
Trang 10Quan điểm khác về khái niệm thi hành án: Thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử nhằm thi hành bản án, quyết định của Toà án Công tác tổ chức thi hành án bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án trên thực tế và góp phần củng cố kết quả công tác xét xử trước đó Khi bản án, quyết định được đưa ra thi hành là đảm bảo hiệu lực pháp luật, hiệu lực quản
lý của Nhà nước, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội, nâng cao uy tín của Nhà nước trước nhân dân
Theo quan điểm của giáo sư, tiến sĩ khoa học Lê Cảm thừa nhận các giai đoạn trong tố tụng hình sự như : giai đoạn khởi tố hình sự, điều tra, truy tố, xét
xử Riêng đối với thi hành án thì theo ông: thi hành bản án (quyết định) của Tòa án, mặc dù trong giai đoạn hiện nay nhà làm luật Việt Nam vẫn coi là một giai đoạn tố tụng hình sự và chính thức ghi nhận nó trong Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003, nhưng theo quan điểm ông đó không thể và không phải là một giai đoạn tố tụng hình sự, mà là một chuyên ngành luật độc lập (Luật thi hành
án hình sự) với các quan hệ pháp luật, đối tượng điều chỉnh khác với Luật tố tụng hình sự”.[32]
Theo quan điểm của chúng tôi đồng tình với các quan điểm coi thi hành
án là giai đoạn tố tụng Vì nó có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc và các hoạt động trong giai đoạn này mang bản chất tư pháp hình sự, đồng thời
Trang 11nó được Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận Nhưng theo chúng tôi nhận thấy trong định nghĩa về thi hành án của Từ điển luật học thì thi hành án nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật là chưa chính xác
Vì hiệu lực pháp luật của bản án phát sinh không phải là do thi hành án mà nó đáp ứng những điều kiện khác do luật định (Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định) Do vậy, theo chúng tôi thi hành án là giai đoạn tố tụng tiếp theo của giai đoạn xét xử nhằm thi hành bản án, quyết định của Toà án Thi hành án góp phần đảm bảo tính khả thi những phán quyết của Tòa án vào thực tế cuộc sống
Hiện nay có nhiều nghiên cứu về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam, do vậy về khái niệm hình phạt tiền cũng được nhiều tác giả nêu lên
và phân tích khá cụ thể, dù cách thức diễn giải có khác nhau nhưng tựu chung
về nội dung của hình phạt tiền được hiểu như nhau Vì vậy có thể hiểu phạt tiền là một hình thức hình phạt trong hệ thống hình phạt Việt Nam, trong đó người phạm tội bị tước một khoản tiền xung vào công quỹ nhà nước Theo quy định tại Điều 30, Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do luật định Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do luật định Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng
Theo qui định tại Điều 40 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, trong đó Tòa án
Trang 12quyết định tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết
án sung quỹ nhà nước Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án
và gia đình họ có điều kiện sinh sống
Trong hệ thống hình phạt được quy định trong Luật hình sự nước ta thì hình phạt tiền, tịch thu tài sản và cải tạo không giam giữ là những hình phạt có tác động trực tiếp vào điều kiện kinh tế của người bị kết án Hình phạt cải tạo không giam giữ thì ngoài việc khấu trừ thu nhập còn hạn chế quyền tự do đi lại của người bị kết án, riêng về điểm này ở hình phạt tiền và tịch thu tài sản không có Vì vậy, giữa hình phạt tiền và tịch thu tài sản có những điểm tương đồng nhưng đồng thời ở mỗi loại hình phạt cũng có sự khác biệt nhau Sự giống và khác nhau giữa hình phạt tiền và tịch thu tài sản thể hiện như sau:
- Giống nhau: Hình phạt tiền và tịch thu tài sản là một trong những hình
phạt trong hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự Phạt tiền
và tịch thu tài sản là tước đi những quyền lợi vật chất của người bị kết án, có khả năng tác động một cách trực tiếp và có hiệu quả về mặt kinh tế đối với người phạm tội và thông qua đó tác động đến ý thức người phạm tội đã thực hiện đối với một số loại tội phạm Các hình phạt này do Tòa án có thẩm quyền
áp dụng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhằm thể hiện tính chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội khi thực hiện tội phạm Cả hai loại hình phạt này (tiền và tịch thu tài sản) khi
áp dụng đều để lại hậu quả pháp lý cho người phạm tội, đó là gây án tích đối với người phạm tội Ngoài ra khi áp dụng hình phạt tiền và tịch thu tài sản cũng gây nên khả năng tác động khác nhau đến ý thức của người bị kết án, qua
đó đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt
- Khác nhau: Tuy hình phạt tiền và tịch thu tài sản đều là những hình
phạt được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam nhưng mỗi hình phạt có đặc điểm và nội dung, hình thức áp dụng khác nhau
Trang 13Về nội dung hình phạt ta thấy cả hai loại hình phạt tiền và tịch thu tài sản là nhằm tước bỏ một số lợi ích vật chất của người bị kết án Tuy nhiên đối với hình phạt tiền, thì đối tượng cụ thể hơn – chỉ là tiền Việt Nam Còn tịch thu tài sản có nội hàm rộng hơn nhiều so với hình phạt tiền (tài sản bao gồm tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền về tài sản)
Về hình thức áp dụng thì hình phạt tiền có thể được áp dụng với hai tính chất, có thể được áp dụng với tính cách là hình phạt chính và cũng có thể được
áp dụng là hình phạt bổ sung khi áp dụng chung với một số hình phạt chính khác Nhưng đối với tịch thu tài sản thì chỉ được áp dụng với tính cách là hình phạt bổ sung Bộ luật hình sự quy định cụ thể những trường hợp áp dụng đối với hình phạt tiền như sau:
Hình phạt tiền với tính cách là hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản
lý công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định Với tính cách là hình phạt chính, phạt tiền thường được quy định trong chế tài lựa chọn với các hình phạt chính khác như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn Chế tài lựa chọn mở ra khả năng pháp lý cho việc Tòa án quyết định hình phạt chính phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh kinh tế của người phạm tội cũng như khả năng thi hành án Khi là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền được
áp dụng đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội về tham nhũng, ma túy hoặc các tội khác do Bộ luật hình sự quy định
Ngoài ra, cũng có thể thấy hình phạt tiền khi là hình phạt chính chỉ áp dụng cho các tội phạm mang tính chất ít nghiêm trọng, với tính cách là hình phạt chính thì hình phạt tiền được tuyên một cách độc lập Ngược lại hình phạt tịch thu tài sản mặc dù là hình phạt phạt bổ sung, nhưng được pháp luật quy định áp dụng đối với những tội phạm mang tính nghiêm trọng, tội rất nghiêm
Trang 14trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và phải được tuyên chung với các hình phạt chính khác kể cả tù chung thân hoặc tử hình
Dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung thì phạt tiền và tịch thu tài sản phải tổ chức thi hành trên thực tế mới đảm bảo được mục đích của hình phạt Cho nên công tác thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản cũng là một trong những khâu quan trọng để đảm bảo thực hiện tính trừng trị và giáo dục của hình phạt đối với người phạm tội.Thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án hình sự là tất cả các hoạt động theo luật của các chủ thể có thẩm quyền để hiện thực hóa hình phạt tiền, tịch thu tài sản mà Tòa án đã tuyên
Trên thực tế trong một bản án hình sự Tòa án không phải chỉ quyết định
áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt tiền, tịch thu tài sản đối với người phạm tội (trường hợp qua xét xử xác định rõ hành vi phạm tội của bị cáo), mà nhiều trường hợp trong bản án hình sự Tòa án quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp có liên quan đến tiền và tài sản: trả lại tài sản, tịch thu vật, tiền trực tiếp có liên quan đến tội phạm, bồi thường thiệt hại Do vậy dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa thi hành hình phạt tiền với việc thi hành các quyết định dân sự khác (có liên quan đến tiền, trài sản) trong bản án hình sự Cho nên cần có sự phân biệt rõ ràng giữa việc thi hành hình phạt tiền với thi hành các quyết định
về dân sự mà Toà án tuyên trong bản án hình sự
Hình phạt tiền ngay trong tên gọi cũng thể hiện yếu tố rất quan trọng so với các quyết định dân sự khác trong bản án hình sự đó là: một trong những hình phạt được quy định trong hệ thống hình phạt được Bộ luật Hình sự quy định Mà mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị và giáo dục người phạm tội khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Vì vậy, trong một bản án hình
sự thì khi Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng không nằm ngoài mục đích này Còn đối với các quyết định về dân sự khác trong bản
án hình sự không phải là hình phạt do vậy nó không tồn tại mục đích trừng trị
và giáo dục người phạm tội mà có tác dụng hỗ trợ giải quyết toàn diện vụ án
Trang 15Tổ chức thi hành hình phạt tiền là việc làm cho người bị kết án phải nộp vào ngân sách Nhà nước khoản tiền mà Toà án đã tuyên ( là việc trừng trị về mặt kinh tế, hạn chế các điều kiện về tài sản của người phạm tội, qua đó tác động đến ý thức người phạm tội buộc họ phải nhận thức được lỗi lầm mà phục thiện và không tái phạm) Song việc thi hành các quyết định về dân sự của Toà án trong bản án hình sự có liên quan điến tiền và tài sản như: trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại là việc thực hiện việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong vụ án được Nhà nước bảo vệ (có tác dụng
hỗ trợ hình phạt để giải quyết toàn diện vụ án)
Như vậy, xét ở góc độ lý luận, thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản là một dạng trong thực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật là quá trình làm cho pháp luật đi vào cuộc sống Nói cách khác thực hiện pháp luật là xử sự của các chủ thể phù hợp với yêu cầu của các quy phạm pháp luật Các hình thức thực hiện pháp luật, bao gồm: Tuân theo pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật:
Tuân theo pháp luật Là hình thức thực hiện pháp luật bằng cách không làm những việc pháp luật ngăn cấm.Thi hành pháp luật Là hình thức thực hiện pháp luật bằng cách thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật buộc phải làm; Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật bằng cách thực hiện quyền của chủ thể; áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật bằng cách nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng) tổ chức cho các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ
Áp dụng pháp luật được tiến hành theo các giai đoạn: Phân tích sự kiện (vụ việc); chọn quy phạm cần áp dụng; ra văn bản áp dụng và cuối cùng là tổ chức thực hiện văn bản
Phân tích sự kiện (vụ việc) ở góc độ chung nhất là làm rõ diễn biến
khách quan vụ án hình sự, vụ kiện dân sự hoặc các vụ việc có tính pháp lý khác Trong phạm vi đề tài này đề cập đến phân tích sự kiện là phân tích sự kiện là vụ án hình sự, tức là trên cơ sở tài liệu chứng cứ để đánh giá làm rõ nội
Trang 16dung bản chất của vụ án hình sự và đặc tính (đặc trưng) pháp lý của nó.Việc phân tích vụ án hình sự để tuyên phạt tiền, tịch thu tài sản trong bản án hình sự thuộc trách nhiệm của Tòa án, của Hội đồng xét xử
Trên cơ sở phân tích vụ án hình sự, Tòa án chọn quy phạm pháp luật cần
áp dụng, chọn hình phạt tiền, tịch thu tài sản phù hợp Để chọn đúng quy phạm cần thiết, chủ thể áp dụng pháp luật phải hiểu đúng nội dung, ý nghĩa, giá trị (hiệu lực) pháp lý của quy phạm Trên cơ sở phân tích sự kiện, lựa chọn qui phạm pháp luật, Tòa án ra ra văn bản áp dụng pháp luật, ra quyết định phạt tiền, tịch thu tài sản đối với người phạm tội Bằng việc ra văn bản áp dụng pháp luật, quyền và nghĩa vụ của chủ thể hoặc trách nhiệm pháp lý của chủ thể được cá biệt hóa Và cuối cùng là giai đoạn tổ chức thực hiện văn bản, đây là giai đoạn cuối cùng chiếm phần quan trọng trong cả quá trình áp dụng pháp luật Nếu văn bản áp dụng pháp luật không được thực hiện hoặc việc tổ chức thực hiện không tốt thì quyền và nghĩa vụ của chủ thể sẽ không được thực hiện đầy đủ, pháp luật sẽ không thể đi vào cuộc sống
Như vậy, thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản trong bản án hình sự là khâu cuối cùng trong quá trình áp dụng luật hình sự trong một vụ án cụ thể Việc phân tích sự kiện (vụ án hình sự) khách quan chính xác đến đâu, việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng sát hợp như thế nào nhưng tất cả sẽ trở nên vô nghĩa, không có giá trị trên thực tế nếu việc thi hành bản án nói chung (tổ chức thực hiện văn bản) và thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản nói riêng không được thực hiện
Một bản án hình sự áp dụng đối với người phạm tội, hình phạt tiền, tịch thu tài sản đối với người phạm tội được Tòa án tuyên bố công khai trên “công đường” để văn võ bá quan biết, để bàn dân thiên hạ biết nhưng trên thực tế không được thực thi nghiêm chỉnh sẽ gây thiệt hại không chỉ về kinh tế, tài sản không được sung công quỹ nhà nước mà nó còn gây nên tâm lý tiêu cực coi thường bản án, coi thường Tòa án mà thực chất sâu xa là coi thường pháp luật Nếu kẻ chiếm đoạt tài sản, xâm phạm tài sản, lợi ích hợp pháp của người
Trang 17khác không phải trả lại tài sản, không bị trừng phạt thì công bằng, công lý không được thực thi trên thực tế Đây là những lý do trực tiếp nhất làm giảm
uy tín của Đảng và Nhà nước ta trước mắt cũng như trong tương lai
Trong điều kiện hiện nay, khi Đảng và nhà nước ta thực hiện cơ chế kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một vấn đế có tính quy luật là
sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế này lên mọi lĩnh vực xã hội, trong đó
có thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản Sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường tạo nên sự ganh đua, cạnh tranh gay gắt trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong tích tụ và tập trung vốn, trong tìm kiếm lợi nhuận Chính sự tác động tiêu cực này đã làm cho một số không ít người sẵn sàng đánh đổi, “hy sinh” giá trị nhân thân để đổi lấy tài sản, sẵn sàng đi tù nhiều năm nhưng không chịu thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản Họ tìm cách tẩu tán, che dấu tài sản để trốn tránh thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản Chính vì vậy, thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản có hiệu quả, nghiêm minh sẽ là liệu pháp mạnh mẽ tác động đến ý thức người phạm tội nói riêng và công chúng nói chung, là biện pháp phòng ngừa tham nhũng, phòng ngừa vi phạm pháp luật hữu hiệu trên thực tế Nếu thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản không nghiêm minh, thì đó là liều thuốc kích thích tội phạm tham nhũng phát triển Hiện nay, vấn đề phòng, chống tham nhũng đang được tất cả các cấp ngành đề cao và hết sức quan tâm, nhất là trong giai đoạn cả nước ta đang thực hiện việc học tập, làm theo tư tưởng đạo đức và phong cách Hồ Chi Minh Chính vì vậy, trong hoạt động tư pháp cần tăng cường những biện pháp mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả trong việc phòng, chống loại tội phạm này, và khâu cuối cùng không kém phần quan trọng là tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong công tác thi hành nói chung và thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản nói riêng Như đã trình bày ở nội dung trên, thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản trong bản án hình sự là làm cho những hình phạt này có hiệu lực trên thực tế,
do đó bản thân của việc thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản không có mục đích riêng, không có mục đích tự thân Mục đích của hình phạt tiền, tịch
Trang 18thu tài sản là mục đích của thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản Chính vì vậy, thực thi hành hình phạt tiền phải đáp ứng mục đích yêu cầu sau:
- Hình phạt tiền, tịch thu tài sản là một dạng cụ thể trong hệ thống hình phạt Việt Nam, do đó nó có đặc trưng chung về mục đích của hình phạt, được qui định tại Điều 27 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, tức là hình phạt tiền, tịch thu tài sản đều có mục đích trừng trị và giáo dục cải tạo đối với người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới và mang tính phòng ngừa chung, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
- Mục đích đặc trưng của hình phạt tiền, tịch thu tài sản là thông qua sự thiệt hại về tài sản để trừng trị và giáo dục, phòng ngừa tội phạm
Trong cuộc sống mỗi con người có nhiều lợi ích khác nhau cần đạt tới, cần phải được thỏa mãn Tuy nhiên, nếu khái quát lại, mỗi người chỉ có hai loại lợi ích, đó là lợi ích về nhân thân và lợi ích về tài sản Lợi ích nhân thân,
là lợi ích về tinh thần, thể chất của mỗi cá nhân trong xã hội, như danh dự, nhân phẩm, uy tín, sự bất khả xâm phạm về thân thể…lợi ích về nhân thân không có đại lượng ngang giá, gắn liền với chủ thể không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật qui định khác Tác động vào lợi ích nhân thân của cá nhân là hình thức tác động đến ý chí chủ thể quyền một cách mạnh
mẽ nhất, trực tiếp nhất, và chính người phạm tội phải thực hiện hình phạt này Chính vì vậy, nhà làm luật quy định đa số hình phạt đối với người phạm tội là hình thức hạn chế tước bỏ quyền nhân thân
Lợi ích về tài sản, là lợi được hưởng lợi từ chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản do tài sản mang lại Lợi ích này là lợi ích ngoại thân của mỗi người, có đại lượng ngang giá, có thể chuyển giao cho người khác So với lợi ích về nhân thân, nếu một người phạm tội bị hạn chế tước bỏ lợi ích này thì sự tác động mang tính gián tiếp Người khác có thể gián tiếp thay thế thi hành hình phạt bằng cách chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người phạm tội để
Trang 19người này trực tiếp thực hiện Chính điều này sẽ dẫn đến tác dụng giáo dục, sự cảm nhận về sự tác động của hình phạt tiền và tịch thu tài sản còn tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, tình trạng tài sản của người phạm tội
Việc thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản khác với thi hành một số hình phạt khác được quy định trong luật Hình sự Việt Nam Đó là không trực tiếp tước bỏ hoặc hạn chế quyền về nhân thân của người bị kết án Do đó, trong quá trình tổ chức thi hành các loại hình phạt này không phải lúc nào cũng thuận lợi và mang lại hiệu quả cao nhất, hiệu quả trong công tác thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong nhiều trường hợp phải chịu sự chi phối bởi các yếu tố khác
1.2 Những quy định của luật pháp về thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản từ 1945 đến nay
Hình phạt tiền và tịch thu tài sản là một trong các hình phạt có lịch sử hình thành lâu đời Ở nước ta các hình phạt này được ghi nhận ở các Bộ luật hình sự từ thời phong kiến Dưới các triều đại phong kiến thì người áp dụng pháp luật là các quan lại, đồng thời cũng là người tổ chức thi hành các phán quyết của chính mình Trong phạm vi luận văn này tác giải sẽ không đề cập đến các quy định trong thời kỳ phong kiến mà chỉ nêu lên những quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay có liên quan đến thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới là thời
kỳ độc lập dân tộc mà dấu mốc là sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Khi mới thành lập chính quyền non trẻ nhà nước ta phải đối mặt với những khó khăn chồng chất, trong bối cảnh thù trong giặc ngoài tuy nhiên vẫn chú trọng đến việc ban hành những luật lệ đầu tiên để giữ gìn chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng vừa đạt được Một trong những sắc lệnh đầu tiên của chính quyền cách mạng là Sắc lệnh ngày 10/10/1945 giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất trong toàn quốc Đến ngày 24/01/1946 Sắc lệnh số 13-SL về tổ chức
Trang 20Tòa án và các ngạch Thẩm phán được ban hành Trong đó quy định ban Tư pháp xã có thẩm quyền thi hành những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên Sắc lệnh số 13-SL không chỉ rõ các mệnh lệnh của Thẩm phán nhưng có thể hiểu đó là các mệnh lệnh liên quan đến việc giải quyết án hình, án hộ theo thẩm quyền của Tòa án Sắc lệnh số 13 không có điều luật nào khác, cũng như không có văn bản nào trong thời điểm này quy định cụ thể về quyền thi hành mệnh lệnh của Thẩm phán cho cá nhân hay tổ chức nào khác với ban Tư pháp
xã Như vậy, có thể xem ban Tư pháp xã là tổ chức đầu tiên của chính quyền nhân dân có thẩm quyền thi hành án
Đến Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 thì thẩm quyền thi hành án không còn được quy định cho ban Tư pháp xã nữa mà quy định thẩm quyền thi hành
án giao cho Thẩm phán tòa án Sơ cấp và Thẩm phán tòa án Đệ nhị cấp Một trong những nhiệm vụ tư pháp cảnh sát của Thẩm phán sơ cấp là thi hành các mệnh lệnh của Biện lý và của Tòa án khác ủy thác cho Ở Tòa án đệ nhị cấp, nhiệm vụ tư pháp cảnh sát được giao cho ông biện lý Một trong những nhiệm
vụ tư pháp cảnh sát là thi hành những án đã có hiệu lực
Những quy định về thi hành án được phát triển lên một bước mới khi Sắc lệnh số 130-SL ngày 19/7/1946 ấn định thể thức thi hành án phải ghi trên các bản toàn sao hay trích sao bản án hoặc mệnh lệnh được ban hành Trong điều
3 của Sắc lệnh có quy định về người chịu trách nhiệm thi hành các lệnh, mệnh lệnh, hoặc án của các Tòa án là Chủ tịch, Phó chủ tịch và Thư ký của các xã, thị trấn hoặc khu phố Ở những nơi có thừa phát lại riêng thì đương sự có thể nhờ thứa phát lại riêng thi hành án hoặc mệnh lệnh Với Sắc lệnh 130-SL thể thức thi hành án không những được quy định bước đầu rõ ràng, mà còn làm rõ được cơ cấu tổ chức thi hành án trong thời kỳ này, đó là Ban tư pháp xã và thừa phát lại ở những nơi có thừa phát lại riêng Thừa phát lại là một chức danh công, được tổ chức ở một số nơi ở Việt Nam từ thời Pháp thuộc Thừa phát lại được nhà nước bổ nhiệm nhưng hành nghề tự do, có thẩm quyền thi hành án hoặc các mệnh lệnh của Tòa án
Trang 21Đến năm 1949, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 về việc thi hành án hình và hộ, xuất phát từ thực tế thi hành án hình
và hộ vẫn chưa được thống nhất, sự liên lạc giữa hai cơ quan tư pháp và hành chính để phụ trách những công việc này không đồng bộ và thiếu sự kiểm soát Thông tư số 24-BK quy định về thủ tục thi hành án tương đối chi tiết: nguyên tắc chấp hành, thể thức chấp hành, ai giúp việc thi hành, cách thức thi hành Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng đã quy định việc thi hành án giao cho thẩm phán huyện phụ trách Trong đó Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành án hình, hộ mà chính Tòa án huyện hay Tòa án cấp trên đã tuyên Đến năm 1960 Luật tổ chức Tòa án nhân dân được ban hành đã tiếp tục khẳng định nhiệm vụ thi hành án thuộc Tòa án và quy định cụ thể tại các Tòa
án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định về dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án và quyết định về hình sự
Đến năm 1972, các nhân viên chấp hành án làm nhiện vụ thi hành án ở Tòa án được gọi là Chấp hành viên Trong quyết định số 186-TC ngày 13/10/1972 của Chánh án Tòa án nhân tối cao về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên quy định: nay đặt Chấp hành viên tại các Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc Trung ương Chấp hành viên có nhiện vụ tổ chức thi hành những bản án, quyết định về dân
sự, những khoản phạt tiền, xử về bồi thường hoặc trả lại tài sản trong bản án
và quyết định về hình sự Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành bản án quyết định của Tòa án là Chấp hành viên tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành bản án hoặc nơi họ có tài sản Chấp hành viên tại các Tòa án nhân dân cấp huyện không những có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án mình mà còn có nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định của Tòa án cấp trên, của Tòa án nhân dân địa phương khác chuyển đến Nếu việc thi hành bản án hoặc quyết định có tính chất khó khăn,
Trang 22phức tạp hoặc nếu việc thi hành án tại cấp huyện không thuận tiện thì Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giao cho Chấp hành viên tại Tòa án cấp tỉnh thi hành Như vậy trong thời kỳ này không có cơ quan thi hành án riêng mà chỉ đặt ra Chấp hành viên tại các Tòa án chuyên trách việc thi hành bản án quyết định của Tòa án Công tác thi hành án đặt dưới sự chỉ đạo của Chánh án Tòa
án nhân dân cùng cấp Chấp hành viên thuộc Tòa án cấp trên không có quyền chỉ đạo Chấp hành viên cấp dưới mà chỉ giúp Chánh án nắm tình hình, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc công tác thi hành án của các Chấp hành viên tại các Tòa
án nhân dân cấp dưới và của Tư pháp xã, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thi hành án
Đáng chú ý là trong giai đoạn này Ban tư pháp xã vẫn có trách nhiệm trong việc thi hành án, thể hiện chủ yếu là trợ giúp nhân viên chấp hành án của Tòa án Thông tư số 2-TC ngày 26/02/1964 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xây dựng tổ hòa giải và kiện toàn tổ chức tư pháp xã quy định nhiệm vụ của Ủy ban hành chính cấp xã và khu phố cần xác định lại là công tác hòa giải những việc ly hôn, tuyên truyền giáo dục trong nhân dân, thi hành những mệnh lệnh của Tòa án về tống đạt giấy gọi và thi hành án Thông tư số 442-
TC ngày 04/7/1968 của Tòa án nhân dân tối cao về việc đẩy mạnh công tác thi hành án đã quy định rõ hơn chức năng của Ủy ban hành chính cấp xã trong công tác thi hành án Tuy nhiên trách nhiệm thi hành án của ủy viên Tư pháp cấp xã chỉ dừng lại ở việc giáo dục, theo dõi, đôn đốc đương sự tự nguyện chấp hành án mà không có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành án Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để thi hành án phải do Thẩm phán phụ trách công tác thi hành án ở Tòa án cấp huyện trực tiếp làm Tòa án cấp huyện có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các Ủy ban hành chính cấp xã về công tác thi hành án
Như vậy, trong suốt thời kỳ từ khi thành lập nhà nước Việt Nam đến giai đoạn năm 1972 việc tổ chức thi hành bản án của Tòa án nói chung và thi hành các bản án, quyết định về hình sự của Tòa án nói riêng, được giao cho các tổ
Trang 23chức khác nhau tùy theo bối cảnh lịch sử trong từng giai đoạn nhất định (Ban
tư pháp, Tòa án, ủy ban nhân dân cấp xã) Tuy nhiên vẫn chưa có quy định cụ thể nào về việc tổ chức thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong các bản
án về hình sự của Tòa án Nhưng qua các quy định chung như trên cũng có thể ngầm hiểu cơ quan nào có thẩm quyền tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án cũng là cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong các bản án về hình sự của Tòa án
Đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời thi việc tổ chức thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án đã được quy định trong Bộ luật Theo quy định trong thời hạn mười lăm ngày kể từ khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án, như vậy thẩm quyền ra quyết định thi hành án về phạt tiền vẫn thuộc cơ quan Tòa án cụ thể là Chánh
án sẽ ra quyết định thi hành và giao cho chấp hành viên của Tòa án tổ chức thi hành Quá trình tổ chức thi hành án thì Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc
cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên của Toà án thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan công an và các cơ quan Nhà nước hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã có quy định một số điều luật liên quan đến việc thi hành án, tuy nhiên cũng chỉ dùng lại ở việc xác định cơ quan có thẩm quyền thi hành án, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà chưa
có văn bản nào quy định một cách hệ thống về trình tự, thủ tục thi hành án Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 được ban hành, thì Pháp lệnh Thi hành án dân sự được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 28/8/1989 có hiệu lực ngày 01/01/1990, đây là văn bản rất quan trọng về thi hành án trong thời kỳ này Lần đầu tiên những quy định về thi hành án được pháp điển hóa, những quy định này về thi hành án đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng
Trang 24pháp luật trong việc thi hành án, góp phần đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể
và của cá nhân, đồng thời góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Đến năm 1992 những ý tưởng về việc phải ban hành một Pháp lệnh Thi hành
án dân sự mới thay cho Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 được hình thành Bởi lẽ, trong điểm 5, Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ nhất (năm 1992) quy định về một số điểm về thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã nêu: Việc bàn giao công tác thi hành án từ Tòa án nhân dân các cấp sang cho các cơ quan của Chính phủ phải được làm xong chậm nhất vào tháng 3 năm 1993 Do vậy, qua sau hai năm được áp dụng vào thực tế Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 được thay thế bằng Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 ra đời đánh dấu một sự thay đổi lớn trong công tác thi hành án nói chung và công tác thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản nói riêng Vì kể từ đây công tác thi hành án không còn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân dân như trước nữa, mà đã được chuyển giao cho cơ quan chuyên môn khác thực hiện Đó là cơ quan thi hành án dân sự sẽ được thành lập và hoạt động từ ngày 01/7/1993 Về trình tự, thủ tục thi hành
án ở cấp huyện sẽ do Đội thi hành án đảm nhận, ở cấp tỉnh sẽ do Phòng thi hành án chịu trách nhiện tổ chức thi hành Kể từ giai đoạn này thẩm quyền thi hành án thuộc về cơ quan Nhà nước khác thực hiện độc lập với Tòa án, sẽ không còn tình trạng Tòa án vừa thực hiện chức năng xét xử vừa tổ chức thi hành bản án
Trên thực tế thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 vẫn còn có hiệu lực và chưa được sửa đổi, bổ sung nên những quy định về thi hành án trong Bộ luật
và theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 chưa được thống nhất, dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật Để các văn bản luật được thống nhất Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992, 2000 Đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm
Trang 251988 được sửa đổi, bổ sung năm 2000 thì quy định về cơ quan có thẩm quyền thi hành án đã được thống nhất với Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993,
cụ thể tại khoản 5 Điều 227 quy định:
“Cơ quan thi hành dân sự thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản Chính
quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên trong việc thi hành án Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan Công an và cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm phối hợp” Theo các quy định này thì Bộ luật Tố tụng hình sự đã nêu rõ cơ quan có
thẩm quyền thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản là Cơ quan thi hành án
Cơ quan thi hành án được tổ chức và hoạt đông theo những quy định cụ thể tại Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, như vậy trình tự, thủ tục về thi hành
án phạt tiền và tịch thu tài sản trong các bản án quyết định hình sự của Tòa án được thực hiện theo những quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
1993 Toàn bộ những vấn đề về thi hành án như thủ tục thi hành án, hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án, đình chỉ thi hành án … về cơ bản không có nhiều thay đổi như đã được quy định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
1989 Tuy nhiên, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 ra đời trong bối cảnh nước ta đang chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy
có những vấn đề mới phát sinh liên quan đến quá trình thi hành án dẫn đến phát sinh nhiều tình huống vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án mà Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 chưa dự liệu, chưa điều chỉnh được Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đặt ra các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước lại tiếp tục xúc tiến những công việc cần thiết để ban hành một Pháp lệnh Thi hành án mới thay thế Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, chuẩn
bị cho một giai đoạn phát triển mới của những quy định về thi hành án dân sự Cùng với việc nghiên cứu sửa đổi những quy định về thi hành án dân sự, thì những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 mặc dù được được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhưng vẫn chưa điều chỉnh hết những vần đề xã hội
Trang 26mới phát sinh Đến ngày 26/11/2003 Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật
Tố tụng hình sự mới thay thế Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 Tuy Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 thay thế nhưng những quy định liên quan đến việc thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản về cơ bản không có sự thay đổi so với
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, khoản 5 Điều 257 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003 quy định “Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch
thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên trong việc thi hành án Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp” Như vậy theo
quy định tại Điều 257 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, ngoài việc giữ nguyên thẩm quyền của cơ quan thi hành án về thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, thì luật còn bổ sung thêm thẩm quyền cho cơ quan thi hành án về việc thi hành các quyết định dân sự trong bản án hình sự
Đến nay sau tám năm thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung nên về cơ bản những quy định trong Bộ luật này
về thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản không có thay đổi Tuy nhiên trên
cơ sở những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định thẩm quyền về thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản cho Cơ quan thi hành án dân
sự, thì đến nay những căn cứ để Cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành
là các quy định về thi hành án dân sự đã có hai lần được sửa đổi đó là: Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thay thế Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
1993 và Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thay thế Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được ban hành là xuất phát từ yêu cầu khách quan về cả lý luận và thực tiễn nhằm thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản lý, góp phần hoàn thiện các quy định về thủ tục thi hành án Luật Thi hành án dân sự ngoài việc quy định hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và
Trang 27Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự; Luật còn quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản,
án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại
Như vậy hiện nay việc tổ chức thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản trong các bản án, quyết định hình sự của Tòa án phải áp dụng trên cơ sở những quy định pháp luật hiện hành đó là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thi hành án dân sự
1.3 Những yếu tố chi phối trong thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản
Thi hành hình phạt tiền đạt hiệu quả cao, đạt trọn vẹn mục đích của hình phạt hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như: Các qui định của pháp luật liên quan đến hình phạt tiền, tịch thu tài sản; bản án của Tòa án chứa đựng các hình phạt tiền, tịch thu tài sản; Cơ quan tổ chức thi hành án
- Các quy định của pháp luật có liên quan đến thi hành án phạt tiền và
tịch thu tài sản
Các qui định của pháp luật liên quan đến thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản thuộc nhiều ngành luật khác nhau, mà trước hết và trực tiếp bao gồm pháp luật dân sự, hình sự, tố tụng hình sự, Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự
+ Các quy định của luật dân sự
Các quy định của luật dân sự trực tiếp quy định về tiền là gì, tài sản là gì, nội dung, phạm vi quyền sở hữu tài sản Đây là những qui định nhằm xác định
Trang 28cũng như hướng dẫn các chủ thể liên quan đến việc thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản như cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà cụ thể là Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ra phán quyết về hình phạt tiền
và tịch thu tài sản chính xác về đối tượng cũng như phạm vi của loại hình phạt này Hội đồng xét xử một vụ án cụ thể không thể ra quyết định tịch thu tài sản
mà đối tượng của sự tịch thu đó không phải là tài sản hoặc tịch thu những tài sản không thuộc phạm vi quyền sở hữu của người có tội-người bị tuyên hình phạt tịch thu tài sản
Các quy định của luật dân sự qui định về tiền là gì, tài sản là gì, nội dung, phạm vi quyền sở hữu tài sản cũng là những qui định hướng dẫn để cơ quan thi hành án, chấp hành viên thi hành án làm tiêu chí để xác định phạm vi, đối tượng quyền sở hữu của người bị tuyên tịch thu tài sản trong bản án hình sự Theo quy định của Bộ luật dân sự thì tài sản được hiểu như sau: tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163) Để cụ thể Bộ luật dân sự đã dành riêng một chương (chương XI) để quy định về các loại tài sản gồm 08 điều từ Điều 174 đến Điều 181 Ngoài ra, Bộ luật dân sự cũng có điều khoản quy định việc chấm dứt quyền sở hữu đối với loại tài sản bị tịch thu, cụ thể như sau: khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật
+ Các quy định của luật hình sự
Các quy định của luật hình sự Việt Nam về hình phạt tiền và tịch thu tài sản là những quy phạm trực tiếp nhất chi phối hoạt động xét xử của Tòa án Tòa án chỉ có thể lựa chọn các quy phạm pháp luật hình sự đã được dự liệu trước để buộc một người phạm một tội cụ thể cũng như hình phạt tương ứng với hình phạt đó Đương nhiên Tòa án cũng chỉ có thể tuyên hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản cụ thể đối với người phạm tội dựa trên các quy phạm của pháp luật hình sự Pháp luật hình sự quy định căn cứ quyết định hình phạt tiền,
Trang 29tịch thu tài sản, loại tội áp dụng cũng như mục đích của hình phạt phạt cần đạt được Các quy định của luật hình sự về hình phạt tiền và tịch thu tài sản thể hiện nội dung, bản chất của hình phạt tiền, là mục tiêu mà mọi hoạt động liên quan khác phải nhằm hướng tới
Điều 30 Bộ luật hình sự hiện hành không nêu khái niệm hình phạt tiền như một số nước trên thế giới Hiện nay, trong giới nghiên cứu lý luận hình sự cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hình phạt tiền Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung Điều 30 Bộ luật hình sự quy định về hình phạt tiền có thể được hiểu như sau:
Phạt tiền tước đi những quyền lợi vật chất của người bị kết án, có khả năng tác động một cách trực tiếp và có hiệu quả về mặt kinh tế đối với người phạm tội và thông qua đó tác động đến ý thực người phạm tội đã thực hiện đối với một số loại tội phạm cụ thể như các tội về xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính,… Mức phạm tiền khác nhau cũng gây nên khả năng tác động khác nhau đến ý thức của người bị kết án, qua
đó sẽ đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt Ngoài việc bị tước một khoản tiền nhất định để sung công quỹ Nhà nước, người bị kết án còn phải mang án tích trong một khoảng thời gian nhất định Phạt tiền có thể được áp dụng là hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính
Hình phạt tiền với tính cách là hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản
lý công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định Với tính cách là hình phạt chính, phạt tiền thường được quy định trong chế tài lựa chọn với các hình phạt chính khác như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn Chế tài lựa chọn mở ra khả năng pháp lý cho việc Tòa án quyết định hình phạt chính phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng
Trang 30nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh kinh tế của người phạm tội cũng như khả năng thi hành án
Khi là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền được áp dụng đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội về tham nhũng, ma túy hoặc các tội khác
do Bộ luật hình sự quy định
Điều 30 Bộ luật hình sự không quy định mức phạt tiền tối đa chung cho tất cả các tội có quy định phạt tiền mà chỉ quy định mức tối thiểu là một triệu đồng Mức phạt tiền được quy định đối với các tội phạm cụ thể căn cứ vào tính chất của ác tội phạm đó Bộ luật hình sự quy định mức phạt tiền bằng hai phương pháp đó là quy định mức phạt tiền cụ thể với việc chỉ ra giới hạn tối thiểu và giới hạn tối đa hoặc quy định mức phạt tiền bằng một số lần số tiền thu lợi bất chính
Khi quyết định hình phạt tiền dù là hình phạt chính hay bổ sung, Tòa án phải căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm đã thực hiện, tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động giá cả, có như vậy mới đảm bảo được tính khả thi của việc áp dụng hình phạt tiền trên thực tế Tiền phạt có thể nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án ấn định trong bản án Đây là quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người phạm tội có thể thi hành hình phạt tiền trên thực tế Đồng thời điều luật cũng quy định trách nhiệm của Tòa án phải xác định rõ thời hạn thi hành hình phạt này trong bản án
Đối với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tịch thu tài sản, thì tịch thu tài sản được hiểu là hình phạt bổ sung, tước một phần hoặc toàn bộ tài sản của người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng sung quỹ Nhà nước [33]
Nội dung pháp lý của hình phạt tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội sung quỹ Nhà nước nhằm làm cho người phạm tội không còn cơ sở kinh tế để tiếp tục phạm tội hoặc thu hồi triệt để các khoản thu lợi bất chính mà người phạm tội có được do thực hiện tội phạm
Trang 31Tuy nhiên, xét về bản chất thì hình phạt tịch thu tài sản không phải là bồi thường thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra, do đó có thể áp dụng đối với những tội phạm không gây ra thiệt hại về vật chất
Tịch thu tài sản là một hình phạt nghiêm khắc vì đã tước bỏ quyền tài sản của người phạm tội nên chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp điều luật về tội phạm cụ thể đó có quy định hình phạt này Hình phạt tịch thu tài sản có thể tuyên kèm với hầu hết các hình phạt chính kể cả hình phạt tử hình Tuy nhiên, Tòa án chỉ được tịch thu tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội, đối với tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều chủ sở hữu trong đó có người phạm tội, thì chỉ tịch thu phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội Mức độ tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người
bị kết án sẽ do tòa án quyết định tùy thuộc vào tính chất phạm tội trong từng
vụ án cụ thể và được ghi nhận cụ thể trong bản án Khi tịch thu toàn bộ tài sản không được tước đoạt tất cả mà phải dành cho người bị kết án và gia đình họ một khoản tài sản nhất định để đảm bảo điều kiện sinh sống, điều này thể hiện tính nhân đạo trong Luật Hình sự Nếu người bị kết án phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất do tội phạm gây ra hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, thì việc tịch thu tài sản của người đó được tiến hành đối với phần tài sản còn lại sau khi đã bồi thường đầy đủ các thiệt hại vật chất Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự năm 1999, hình phạt tiền được quy định với tư cách là hình phạt chính trong 68 Điều trong tổng số 263 Điều luật
về tội phạm cụ thể với các tội có hậu quả ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự hành chính và một số tội phạm khác
mà Bộ luật Hình sự quy định Với tư cách là hình phạt bổ sung, thì hình phạt tiền được quy định ở 103/263 Điều luật về tội phạm cụ thể, áp dụng đối với tội tham nhũng, ma túy, và một số tội phạm khác mà Bộ luật có quy định.[39] Riêng đối với tịch thu tài sản được quy định trong Bộ luật Hình sự có 24/263 Điều luật về tội phạm cụ thể
Trang 32Luật quy định khi áp dụng hình phạt tiền và tịch thu tài sản phải căn cứ vào điều kiện tài sản và hoàn cảnh sống thực tế của người phạm tội Mức phạt tiền được quy định tối thiểu là một triệu đồng và mức tối đa ( thông qua những điều luật ở phần các tội phạm cụ thể) đối với hình phạt chính là một tỷ đồng
và hình phạt bổ sung là năm trăm triệu đồng Ngoài ra, luật còn qu định cách tính tiền phạt theo bội số lần so với giá trị vật phạm pháp, đối với hình phạt chính là gấp 10 lần và đối với hình phạt bổ sung là gấp 5 lần
+ Luật tố tụng hình sự
Luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền, trình tự thi hành bản án hình
sự nói chung trong đó có hình phạt tiền, tịch thu tài sản Trong mối quan hệ giữa luật hình sự và tố tụng hình sự, thi luật hình sự là luật vật chất, luật nội dung còn luật tố tụng hình sự là luật hình thức Do đó, các quy định của luật tố tụng hình sự về thi hành án là hình thức, các quy hình phạt của luật hình sự là nội dung
Vần đề thi hành án đã được quy định trong pháp luật tố tụng hình mà cao nhất là được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự Bộ luật Tố tụng hình
sự hiện hành quy định thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án thành năm chương, gồm 17 điều Tuy nhiên, chỉ có ba điều luật hiện nay có liên quan đến thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản đó là Điều 256 (quy định
về thủ tục đưa bản án ra thi hành, trong đó có ban hành quyết định thi hành án), Điều 257 (quy định về cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án, trong đó có quy định về chủ thể thi hành hình phạt tiền
và tịch thu tài sản), Điều 267 (quy định về Thi hành hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản)
Theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định của Toà án thì Chánh án Toà án đã xử
sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Toà án khác cùng cấp
ra quyết định thi hành án ( kể cả thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản)
Trang 33Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án bao gồm nhiều cơ quan, tổ chức trong đó Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự
Điều 267 quy định về Thi hành hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, nhưng trong điều luật này không quy định các thủ tục tổ chức thi hành mà chỉ quy định việc gửi, tống đạt quyết định đưa bản án phạt tiền hoặc tịch thu tài sản cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến thi hành hình phạt này; và quy định cơ
sở pháp lý của việc tịch thu tài sản tại Bộ luật Hình sự
+ Các quy định của Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự và những văn bản dưới luật
Các quy định của Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự và những văn bản dưới luật như thông tư, chỉ thị,…nhằm cụ thể các đạo luật này trực tiếp điều chỉnh các hoạt động cụ thể, những quan hệ hết sức cụ thể trong quá trình tổ chức thi hành án nói chung và thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản nói riêng
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì chủ thể có trách nhiệm thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản là Cơ quan Thi hành án dân sự Nhưng hiện nay, về cơ cấu tổ chức, hoạt động nghiệp vụ của Cơ quan Thi hành án dân sự được điều chỉnh bởi Luật Thi hành án dân sự Do đó trình tự, thủ tục về thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản cũng như việc thi hành các quyết định về dân sự trong bản án hình sự phải thực hiện theo các quy định tại Luật Thi hành
án dân sự và các văn bản hướng dẫn có liên quan
Ngay tại Điều 1 của Luật Thi hành án dân sự đã xác định rõ phạm vi điều chỉnh của luật là các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự… Vì vậy, trong quá trình tổ chức thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản phải đảm bảo các quy định về thủ tục được ghi nhận tại chương III (Thủ
Trang 34tục thi hành án dân sự, có 40 điều luật từ Điều 26 đến Điều 65), khi tiến hành cưỡng chế phải đúng những quy định tại chương IV (Biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án, có 56 điều luật từ Điều 66 đến Điều 121 ), về thủ tục liên quan đến tịch thu tài sản còn được quy định tại các Điều 122, 123, 124 Các quy định cụ thể có liên quan đến thủ tục thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản tác giả sẽ nêu lên và phân tích ở phần quy trình nghiệp vụ thực hiện thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản
Do hiện tại Luật Thi hành án dân sự điều chỉnh việc thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản, nên Luật Thi hành án hình sự không đề cập về trình tự, thủ tục thi hành hai loại hình phạt này Nhưng trong Luật Thi hành án hình sự vẫn có quy định về công tác phối hợp giữa cơ quan chịu trách nhiệm thi hành
án hình sự với cơ quan Thi hành án dân sự Tại điểm g, khoản 1 Điều 16 Luật Thi hành án hình sự quy định: Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ có liên quan đến phạm nhân phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, các nghĩa vụ dân sự khác về nơi phạm nhân chấp hành án phạt tù, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của phạm nhân, nơi về cư trú của người được đặc xá, người được miễn chấp hành án phạt tù, người chấp hành xong án phạt tù, phạm nhân chuyển nơi chấp hành án phạt tù hoặc chết Còn hầu hết các quy định của Luật Thi hành án hình sự điều chỉnh trình tự, thủ tục thi hành các hình phạt khác (ngoài hình phạt tiền và tịch thu tài sản) và các biện pháp tư pháp được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành
Hiện nay trong lĩnh vực thi hành án dân sự có nhiều văn dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật thi hành án và những vấn đề có liên quan đến công tác thi hành án dân sự Tuy nhiên có liên quan đến quá trình tổ chức thi hành hình phạt tiền và tịch thu tài sản có các văn dưới luật trong ngành và liên
ngành như sau:
Nghi định 18/2002/N Đ-CP ngày 18/02/2002 của Chính phủ về việc quản lý kho vật chứng; Nghi định số 32/2006/N Đ-CP ngày 30/3/2006 cùa
Trang 35Chính phủ về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm; Nghị Định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự quy định; Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
về quan hệ phối hợp trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Thông tư số 90/2008/TT-BNN ngày 28/8/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu; Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT- BTP- TANDTC- VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự; Thông
tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02 tháng 12 năm 2011 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện một số thủ tục quản lý hành chính về thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT- BTP- BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an về quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự
+ Quy trình nghiệp vụ thực hiện thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản
Trên cơ sở quy định của pháp luật có liên quan, cơ quan thi hành án xây dựng quy trình nghiệp vụ thực hiện thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản Mặc dù đây là những quy định về thao tác, trình tự hoạt động trong thi hành
án, nó rất cụ thể chi tiết nhưng có vai trò quan trọng trong thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản nói riêng và thi hành án nói chung Chính nó chỉ ra phương pháp, cách thức từng công việc cụ thể, là cơ sở tạo nên “bộ tiêu chuẩn ISO” trong thi hành án
Tóm lại, thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản do nhiều ngành luật khác nhau quy định, nhiều văn bản pháp luật, văn bản pháp quy chi phối, do đó để mục tiêu thi hành án đạt hiệu quả cao nhất, đòi hỏi các quy định đó phải thống
Trang 36nhất, không mâu thuẫn chồng chéo, sát thực tế cuộc sống, khả thi và hướng tới mục tiêu của hình phạt mà luật hình sự đã xác định
- Bản án hình sự có quyết định về hình phạt tiền và tịch thu tài sản
Bản án của Tòa án quyết định hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản là sự hội
tụ quan trọng nhất của cả quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án, là kết quả của quá trình tố tụng hình sự, nó là cơ sở pháp lý duy nhất để cơ quan thi hành
án tổ chức thi hành quyết định về hình phạt tiền và tịch thu tài sản
Bản án theo Từ điển Luật học là văn bản phản ánh kết quả xét xử của tòa
án về một vụ án cụ thể (án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính), trong đó nêu rõ: ngày tháng mở phiên toà, thành phần Hội đồng xét xử, các bên tham gia tố tụng, nội dung sự việc nhận định của tòa án và quyết định của tòa án
Quan điểm khác cho rằng bản án chính là phán quyết của toà án nhân danh Nhà nước, nó thể hiện ý chí của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo đảm sự công bằng cho xã hội, bảo
vệ trật tự kỷ cương Nhà nước, giữ vững trật tự an toàn xã hội
Bản án hình sự là quyết định của tòa án thừa nhận bị cáo là người có tội hoặc không có tội, và người có tội phải chịu hình phạt hoặc được miễn hình phạt [29] Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về bản án, tuy nhiện tại điều này không nêu khái niệm thế nào là bản án mà chỉ quy định
cơ quan nào có thẩm quyền ban hành bản án như: Toà án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; và quy định cách thức trình bày, những nội dung cần phải có trong bản án: phải ghi rõ ngày giờ, địa điểm, nêu tên hội đồng xét xử, thông tin nhân thân về bị cáo và những người tham dự phiên tòa, trình bày việc phạm tội của bị cáo…
Như vậy theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có thể hiểu bản án hình sự như sau: bản án hình sự là văn bản do tòa án nhân danh Nhà nước ban hành nhằm phản ánh việc xét xử về một vụ án hình sự, qua đó quyết định bị
Trang 37cáo là người có tội hoặc không có tội, và quyết định hình phạt đối với người bị tuyên có tội
Bản án hình sự là một văn bản tố tụng hình sự ghi nhận các kết luận và quyết định của Hội đồng xét xử, cao hơn nữa đó là sự đánh giá của Nhà nước đối với một hành vi, một con người cụ thể khi hành vi đó, con người đó bị truy
tố trước Tòa án Bản án hình sự đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, do vậy bản án phải phản ánh trung thực diễn biến của vụ án và phải xác định rõ sự thật khách quan, đó là: có sự việc phạm tội xảy ra không?, ai là người đã thực hiện các hành vi đó
và hành vi đó có cấu thành tội phạm không?, nếu là tội phạm thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự?, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện của tội phạm đó… Căn cứ vào các kết luận, các phân tích, đánh giá nêu trên để Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội Nếu không có tội thì Hội đồng xét
xử phải xác định những căn cứ để tuyên bố bị cáo không phạm tội và giải quyết việc phục hồi danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo
Theo nguyên tắc "Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án" (Nguyên tắc suy đoán vô tội) - Điều 9 BLHS năm 2003
Do đó, bản án hình sự có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm Hoạt động xét xử mà kết quả là việc hội đồng xét xử ra bản án để xác định một người có tội hay không có tội, phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt có ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc và trước hết trực tiếp ảnh hưởng tới người bị đưa
ra xét xử Bản án hình sự tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không chỉ có ý nghĩa về mặt đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh mà còn mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm trong
xã hội, đồng thời tạo ra niềm tin của nhân dân vào công lý
Trang 38Để thi hành bản án được tốt, bản án phải có căn cứ, đúng luật không thể hiểu sai, hiểu nhiều nghĩa khác nhau Mọi sự sửa đổi phải theo đúng các qui định của luật pháp
- Chủ thể thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản
Ngoài những yếu tố chi phối hiệu quả thi hành hình phạt nói phạt tiền, tịch thu tài sản như đã nêu trên, hiệu quả thi hành hình phạt này phụ thuộc rất nhiều vào cơ quan thi hành án, chấp hành viên- người trực tiếp tổ chức thực hiện thi hành án Sự phối kết hợp giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan trong thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản
Cơ quan thi hành án và chấp hành viên chỉ có thể thực hiện có hiệu quả thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản khi có một cơ chế phù hợp, như: Các qui định cơ cấu hành chính tổ chức phù hợp, đầy đủ nhân sự có trình độ, có đạo đức… đáp ứng thi hành án phạt tiền tịch thu tài sản; các về chế độ chính sách đãi ngộ với hoạt động đặc thù của thi hành án…Ngoài ra, cơ quan thi hành án phải được trang bị phương tiện, điều kiện vật chất liên quan đến khả năng thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản
Do tiền, tài sản là những đối tượng phổ biến của giao lưu dân sự, do đó thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản có liên quan đến rất nhiều cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp…cá nhân khác nhau Vì vậy, phải có cơ chế phối hợp, sự chỉ đạo tập trung thống nhất trong phối hợp thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản có vai trò hết sực quan trọng trong thi hành hình phạt này
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN VÀ TỊCH THU TÀI SẢN TRONG BẢN ÁN HÌNH SỰ VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN
VÀ TỊCH THU TÀI SẢN
2.1 Quy trình thực hiện thi hành án phạt tiền và tịch thu tài sản trong
thực tế
- Ban hành quyết định thi hành án phạt tiền
Theo quy định tại khoản 5 Điều 257 Bộ luật Tố tụng hình sự thì thẩm quyền thi hành hình phạt tiền thuộc cơ quan thi hành án dân sự Cơ quan thi hành án dân sự hoạt động theo những quy định và thủ tục do pháp luật về thi hành án dân sự quy định Khi một bản án, quyết định của Tòa án thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự, việc thi hành bản án, quyết định đó sẽ được tiến hành theo thủ tục thi hành án dân sự được quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và những văn bản hướng dẫn thi hành Một trong những thủ tục đầu tiên của thủ tục thi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phải ra quyết định thi hành án, sau khi nhận được bản sao bản án, quyết định của Tòa án được quy định cụ thể tại các điều luật sau của Luật Thi hành án dân sự:
Điều 36 Luật Thi hành án dân sự quy định việc ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án sau khi nhận được bản án quyết định từ Tòa án như sau: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;…Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra
quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành
Tại điểm a khoản 1 Điều 36 thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án đối với phần bản án, quyết định có hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí
Trang 40Điều 28 Luật Thi hành án dân sự quy định việc chuyển giao bản án, quyết định của tòa án như sau: Đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
Qua các quy định như trên thì cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hình phạt tiền Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm có trách nhiệm chuyển giao bản sao bản án có phần quyết định phạt tiền cho cơ quan Thi hành án dân sự thi hành theo quy định của thủ tục thi hành án dân sự Thi hành án hình phạt tiền trong bản án hình sự được Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành Do vậy trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tiền theo bản án đã tuyên phải trên cơ sở căn cứ những quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự mà
cụ thể là Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự
Như vậy, kể từ khi Tòa án tiến hành chuyển giao bản án sang cho Cơ quan thi hành án tổ chức thi hành theo quy định tại Điều 28 Luật Thi hành án dân sự, thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền ban hành quyết định thi hành án về phần hình phạt tiền mà Tòa án đã tuyên trong bản án về hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự Về thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với hình phạt tiền đã được nêu và phân tích ở phần trên nên tác giải không đề cập lại nữa Do vậy chỉ xin nêu tiếp trình tự thi hành án phạt tiền phát sinh sau khi có quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án