Chương 1 TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI 1.1 Khái quát về quyền lực nhà nước Từ khi xã hội có sự phân chia thành các giai cấp đối lập, giữa chúng luôn m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT T.P HỒ CHÍ MINH
TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TRONG LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khóa: 2005 – 2009
Người hướng dẫn:
Thạc sĩ NGUYỄN MẠNH HÙNG
TP.HCM – Năm 2009
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu
Chương 1 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch
sử nhân loại 1
1.1 Khái quát về quyền lực nhà nước 1
1.2 Lịch sử phát triển của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước 4
1.2.1 Aristote (348 – 322 TCN) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước 5
1.2.2 John Locke (1632 - 1704) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước 6
1.2.3 C L Montesquieu (1689 – 1775) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước .7
1.2.4 J J Rousseau (1712 - 1778) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước 12
1.3 Giá trị khoa học và ý nghĩa thời đại của thuyết phân quyền 13
1.4 Hiến pháp - bản văn ghi nhận sự phân quyền 16
1.5 Sự áp dụng tư tưởng phân quyền ở một số chính thể đương đại 17
1.5.1 Chính thể cộng hòa tổng thống 17
1.5.2 Chính thể đại nghị 21
1.5.3 Chính thể cộng hòa hỗn hợp 22
Chương 2 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam 25
Trang 32.1 Tư tưởng phân quyền thể hiện trong các bản Hiến pháp
của Việt nam 25
2.1.1 Hiến pháp năm 1946 25
2.1.2 Hiến pháp năm 1959 35
2.1.3 Hiến pháp năm 1980 43
2.1.4 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) 48
2.2 Sự cần thiết phải nhận thức lại giá trị của tư tưởng phân quyền và một số góp ý trong việc vận dụng những hạt nhân hợp lý của tư tưởng này trong tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay 57
2.2.1 Sự cần thiết phải nhận thức lại giá trị của tư tưởng phân quyền 57
2.2.2 Một số góp ý trong việc vận dụng những hạt nhân hợp lý của tư tưởng phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay 61
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền lực là phạm trù trung tâm và là một trong những phạm trù chính trị quan trọng nhất, gắn bó mật thiết nhất với chính trị Quyền lực là loại quan hệ xã hội đặc biệt, có mặt trong tất cả các giai đoạn phát triển của xã hội loài người Nó là hạt nhân và phương tiện để thực hiện bất kỳ chính sách nào Đấu tranh giành và giữ quyền lực là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của đời sống xã hội Vấn đề quyền lực là vấn đề trung tâm trong lịch sử tư tưởng chính trị và các học thuyết chính trị ngày nay Như ta đã biết quyền lực bao giờ cũng có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình Ngay các nhà tư tưởng cổ đại cũng đã từng tự hỏi: làm sao ngăn chặn được sự tiếm quyền và làm sao ngăn chặn được các chế độ độc đoán, đàn áp, khủng bố? Làm thế nào để bảo vệ người dân khỏi sự đàn áp của bộ máy nhà nước? Một trong những biện pháp giải quyết vấn đề tồn tại hàng thế kỉ đó là xây dựng một cơ chế quyền lực nhà nước đủ sức tự ngăn chặn việc tiếm quyền và sử dụng quyền lực trái với quyền lợi của người dân Lý thuyết về phân quyền đã cung cấp cho ta một cơ chế như vậy Lý thuyết này cho rằng cần phải phân chia quyền lực vốn là một thể thống nhất thành các nhánh độc lập nhưng liên kết với nhau, có khả năng hợp tác và kiểm soát lẫn nhau Nhiệm vụ của lý thuyết phân quyền là loại trừ khả năng tập trung toàn bộ quyền lực vào tay một người hoặc một tổ chức, không để cho người hay tổ chức đó trở thành người có quyền lực tuyệt đối, vừa ban hành luật, vừa thực thi luật vừa trừng phạt những hành động bất tuân Với những giá trị
Trang 5có tính “ưu thắng” như vậy, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước đã
được vận dụng linh hoạt và trở thành nguyên tắc quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước ở các nước tư bản phát triển
Việt nam trong một thời gian dài, Đảng và Nhà nước ta đã đề cao vai trò của nguyên tắc tập quyền, quyền lực nhà nước được thống nhất vào Quốc hội Tổ chức bộ máy nhà nước đã bộc lộ những bất cập và nảy sinh nhiều vấn đề gắn liền với bản chất của quyền lực nhà nước như: có sự lạm quyền từ phía bộ máy nhà nước, chồng chéo thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước chưa được phát huy… Yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền trước tiên là khắc phục những tồn tại trên, nhằm đảm bảo hiệu quả, hiệu lực thực thi quyền lực nhà nước Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị khách quan mang tính thời đại của lý thuyết phân quyền thông qua lịch sử ra đời và phát triển của nó là sự cần thiết mang tính cấp bách để từ đó chuyển hóa nó vào trong mô hình bộ máy nhà nước ta đáp ứng tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước trong tổ chức bộ máy nhà nước Qua tìm hiểu sự thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử lập hiến Việt nam, đánh giá những gì đã đạt được và những tồn tại cần loại bỏ Qua đó, đề xuất một số kiến nghị về việc vận dụng những giá trị của nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước trong tổ chức bộ máy nhà nước ta nhằm đem lại
Trang 6hiệu quả trong hoạt động nhà nước chống lại sự thâu tóm trong quyền lực
nhà nước
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Làm rõ bản chất của quyền lực nhà nước
Tìm kiếm phương thức hạn chế quyền lực nhà nước thông
qua nội dung của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước
Phân tích giá trị khoa học và ý nghĩa thời đại của tư tưởng
phân chia quyền lực
Phân tích, đánh giá cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước có hay không sự vận dụng tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong
lịch sử lập hiến của Việt nam
Đề xuất một số kiến nghị về tổ chức bộ máy nhà nước có
khai thác yếu tố tích cực của nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nguyên cứu: luận văn này chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá, làm rõ sự thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong phạm vi các cơ quan nhà nước ở trung ương trong lịch sử lập hiến Việt nam và đưa ra một số đề xuất mang định hướng tham khảo trong tổ chức bộ máy nhà nước
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các cơ quan nhà nước
ở trung ương qua hiến định
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn này hoàn thành sẽ góp phần làm sáng rõ những điểm lý luận và thực tiễn của phương thức hạn chế quyền lực nhà nước
Trang 7chống sự chuyên chế, độc tài và đề xuất một số ý kiến về tổ chức bộ máy nhà nước ta trong tương lai
- Kết quả của luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn này gồm:
- Lời nói đầu
- Hai chương:
Chương 1: Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong
lịch sử nhân loại
Chương 2: Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước trong
lịch sử lập hiến Việt nam
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8Chương 1
TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI
1.1 Khái quát về quyền lực nhà nước
Từ khi xã hội có sự phân chia thành các giai cấp đối lập, giữa chúng luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau về lợi ích trên bình diện kinh tế và chính trị để bảo vệ quyền lợi của mình, tổ chức thị tộc trở nên bất lực trước bối cảnh lịch sử như vậy và nó trở nên không còn phù hợp nữa Yêu cầu đặt ra là phải có một tổ chức đứng ra dập tắt mọi xung đột công khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế dưới một hình thức hợp pháp Tổ chức đó là nhà nước
Như vậy, nhà nước ra đời một cách khách quan và cần thiết khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định Nhà nước không phải là
“một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội”, mà là “một lực lượng nảy sinh từ xã hội”, một lực lượng “tựa hồ như đứng trên xã hội”, nó có nhiệm
vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng
“trật tự”
Là một tổ chức công quyền, nhà nước thiết lập một quyền lực đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư như trong chế độ thị tộc nữa mà
“tuồng như” tách rời và đứng lên trên xã hội Quyền lực này mang tính
chính trị, giai cấp và được thực hiện bởi một tầng lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý Lớp người này tổ chức thành các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy thống trị như quân đội, tòa án, cảnh
Trang 9sát… có sức mạnh cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị, bắt các tầng lớp khác phải phục tùng theo ý chí của mình Như vậy, quyền lực là một thuộc tính cần phải có của nhà nước, được gọi là quyền lực nhà nước Nếu quyền lực nhà nước được thực hiện bởi những con người có đứùc hạnh và tài năng và với mục đích vì nhân dân thì sự chế ngự quyền lực nhà nước là không cần thiết Nhưng một trong những đặc trưng quan trọng nhất của quyền lực nhà nước là tính độc quyền sử dụng sức mạnh vũ lực, hay được coi là sự độc quyền sử dụng sức mạnh cưỡng chế với toàn thể cư dân Không một chủ thể nào có thể cạnh tranh với nhà nước trong việc sử dụng sức mạnh cưỡng chế Hơn nữa, quyền lực nhà nước lại dựa trên nguồn của cải vật chất to lớn và bộ máy đồ sộ cho nên nó trở nên nguy hiểm đối với lợi ích hợp pháp của công dân Xuất phát từ đặc tính này của quyền lực nhà nước cần được chế ngự
Thực tế lịch sử đã chứng minh nhân loại đã phải đối mặt với sự chuyên chế, độc đoán từ sự lạm quyền của nhà nước Lịch sử đã cho thấy sự tàn bạo của nền quân chủ chuyên chế và chế độ độc tài phát xít khi quyền lực nhà nước không bị hạn chế Từ xã hội thị tộc, con người sống trong chế độ quân bình, mọi người đều có mức sống và quyền như nhau, không ai hơn ai, xã hội là một tập hợp của những con người không có sự phân chia giai cấp; con người tiến vào xã hội có nhà nước Đầu tiên là nhà nước chiếm hữu nô lệ, rồi chế độ phong kiến, mỗi một nhà nước lúc bấy giờ là sự cai trị của một cá nhân nắm trong tay cả thần quyền và thế quyền đã mang đến cho nhân loại thảm họa của sự mất tự do, mất quyền con người
Trang 10Sở dĩ nhà nước luôn luôn có xu hướng lạm quyền, ảnh hưởng đến sự tự do của con người và quyền lực nhà nước cần được chế ngự, vì nhà nước là một định chế do con người tạo ra nên nó mang bản tính của con người và không có một sản phẩm nào của con người là hoàn thiện cả
Con người là một thực thể sinh học, vì vậy, bên cạnh cái “người” với
những đức tính tốt như sáng tạo, chăm chỉ, thông minh được hình thành trong một quá trình lao động xã hội giữa người với người thì còn có cả cái
“con” với tính tham lam, sự tùy tiện, nổi bật là tính cách đam mê quyền
lực Một câu hỏi đặt ra là tính đam mê quyền lực là gì? Nó ở khía cạnh tốt hay xấu? Và tại sao ai ai trong xã hội loài người đều mang trong mình sự đam mê quyền lực ấy? Trả lời cho vấn đề đặt ra, ta thấy quyền lực là cái trao cho con người nhiều thứ, từ vật chất đến danh vọng và cả uy thế buộc người khác phải phục tùng mình Điều đó kích thích con người lao vào, chiếm lấy quyền lực, bành trướng nó phình to, phủ lên mọi người để được hơn họ, được cưỡng chế họ Nhưng bản thân sự đam mê quyền lực không
phải là xấu nếu nó nằm trong phạm vi “cần thiết”, nó thúc đẩy con người
phấn đấu, tạo động lực tiến bộ xã hội, nếu ranh giới mỏng manh của sự
“cần thiết” bị phá bỏ thì sự đam mê quyền lực dẫn đến xâm hại đến tự do
của người khác Và với quyền lực, một công cụ đầy ma lực tiềm ẩn sức mạnh tiềm tàng vô biên không thể lường trước, cộng với bản tính đam mê quyền lực của con người, khi nắm quyền lực trong tay mà không có một
cơ chế hạn chế quyền lực thì tất yếu hậu quả là: “quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến sự tha hóa tuyệt đối”, yêu cầu đặt ra là phải có một phương thức
hạn chế quyền lực nhà nước Nó buộc con người phải đi đến một lựa chọn không thể nào khác: phải thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của nó, trước hết vì
Trang 11chính bản thân nhà nước, sau nữa là vì toàn xã hội và vì các thế hệ tương lai Như vậy, mọi nhà nước đều mang trong mình nguy cơ nảy sinh sự lạm quyền và cần có sự hạn chế quyền lực, ngăn ngừa con người dùng quyền lực chiếm lấy và mở rộng quyền lực
Hậu quả của sự lạm quyền gây cho nhân loại phải đối mặt với sự chuyên chế, độc đoán, áp đặt và nhà nước đối mặt với sự diêït vong Vì vậy, cần có môït phương thức chống lại sự lạm quyền, chống lại sự tập trung quyền lực Trước những đòi hỏi vừa như âm ỉ, vừa như bùng nổ ở một số giai đoạn trong lịch sử nhân loại các nhà tư tưởng với những lý
luận của mình đã cố gắng tìm kiếm “liều thuốc” phòng ngừa và trị liệu
“căn bệnh” lạm quyền một cách có hiệu quả Điều đó được thể hiện trong
lịch sử các học thuyết chính trị về phân chia quyền lực nhà nước
1.2 Lịch sử phát triển của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước
- “Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước là tổng thể các quan điểm về việc chia tách quyền lực nhà nước thành các loại quyền lực khác nhau, về cơ chế vận hành của từng loại quyền lực và mối quan hệ ngăn cản, kiềm chế, kiểm soát hoặc đối trọng với nhau giữa các loại quyền lực ấy trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước”[24, tr.20]
- Tư tưởng phân quyền không đơn thuần chỉ diễn ra ở chiều ngang, mà còn cần thiết ở cả chiều dọc, và ở bất cứ lĩnh vực nào của nhà nước (theo ông Samuel Kercheval, Thomas Jefferson – Tổng thống thứ ba của Hoa kỳ) Phân quyền ngang: theo tư tưởng của Aristote, Locke, và được hoàn thiện bởi Montesquieu thì phân quyền chỉ áp dụng ở các cơ quan nhà nước ở trung ương Quyền lực nhà nước được phân chia thành các nhánh khác nhau, do các cơ quan khác nhau nắm giữ để không một cá
Trang 12nhân hay tổ chức nào nắm được trọn vẹn quyền lực nhà nước Theo đó, hoạt động của các cơ quan quyền lực công có sự chuyên môn hóa, mỗi cơ quan chỉ hoạt động nhằm thực hiện chức năng riêng của mình, không làm ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan khác Quyền lực giữa các cơ quan quyền lực cân bằng, không có loại quyền lực nào vượt trội hơn Các
cơ quan quyền lực giám sát, kiềm chế – đối trọng và chế ước lẫn nhau để không có một cơ quan nào có khả năng lạm quyền Để hạn chế quyền lực nhà nước thì quyền lực nhà nước không chỉ phân chia theo chiều ngang thành các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp mà còn phải tiếp tục phân chia ở chiều dọc giữa trung ương và địa phương Chính sự phân quyền này mà quyền lực nhà nước ở trung ương bị hạn chế Đến lượt mình, quyền lực của cơ quan địa phương lại bị phân chia thành lập pháp địa phương và hành pháp địa phương Ở phạm vi của luận văn này tác giả chỉ đề cập đến vấn đề phân chia quyền lực theo tư tưởng của Montesquieu theo chiều ngang
- Nội dung của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước được khởi phát và hoàn thiện cùng với sự phát triển của lịch sử học thuyết phân quyền Qua tìm hiểu lịch sử các học thuyết chính trị – pháp lý về tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước, ta nhận thấy tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước có cả một quá trình phát triển lịch sử cùng với thế hệ các tư tưởng gia: Aristote, John Locke… và chính Montesquieu là người đã biến những phác thảo còn sơ sài, những quan điểm, những ý tưởng chưa hoàn thiện ấy thành học thuyết chứa đựng cả một giá trị tư duy khoa học mang tính khách quan và văn minh nhân loại cao cả
Trang 131.2.1 Aristote (348 – 322 TCN) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước
Aristote được xem là “người sáng lập ra khoa học chính trị” tức
chính trị học – khoa học chuyên nghiên cứu về quyền lực, chính thể, tổ chức và hoạt động của nhà nước Ông đã dành gần hết cuộc đời mình để khảo cứu các thành bang Hy lạp và Hiến pháp Athense để rút ra những kết luận khoa học mà tầm vóc của nó không chỉ dừng lại ở đương thời Trong các nghiên cứu của mình về nhà nước, Aristote đã thể hiện những ý
tưởng về sự phân chia quyền lực Trong tác phẩm Politics (chính trị) được
viết từ cơ sở nghiên cứu tổ chức bộ máy nhà nước của 158 quốc gia, ông cho rằng để đảm bảo sự công bằng thì nhà nước phải được tổ chức có quy củ Quy củ này có được từ sự phân chia quyền lực trong nhà nước thành
ba bộ phận: bộ phận tư vấn pháp lý về hoạt động của nhà nước, bộ phận thứ hai là các tòa thị chính, bộ phận thứ ba là các cơ quan tư pháp và chính sự khác nhau của chế độ nhà nước bắt nguồn từ sự khác nhau của mỗi bộ phận này Tuy nhiên, tư tưởng của Aristote mới chỉ dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chứ chưa chỉ rõ mối quan
hệ bên trong giữa các thành tố đó
1.2.2 John Locke (1632 - 1704) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước
Vào đầu thế kỷ 17, người dân Châu âu được hấp thụ nhiều quan điểm quốc trị sáng giá, trong đó có tư tưởng của nhiều đại triết gia như Thomas Hobbes, James Harring, John Locke… Đa số các triết gia vào thời đó tin tưởng là quyền lợi cá nhân sẽ được phục vụ tốt hơn nếu uy quyền của Chính phủ bị giới hạn và quyền tự do cá nhân được đề cao Và John
Trang 14Locke là một trong những nhà tư tưởng đi tiên phong trong việc chống chế độ chuyên chế, đòi hạn chế quyền lực của nhà nước và của Nhà vua, đảm bảo tự do của cá nhân bằng những phác thảo ban đầu về một nhà nước có sự phân chia quyền lực Tư tưởng của ông là sự kế thừa những gì mà Aristote đã xây dựng được trong quá khứ và phát triển lên tầm cao hơn
Trong tác phẩm “Hai luâïn thuyết về Chính phủ” Locke đề cao quyền tự
do, bình đẳng của con người, ông cho rằng quyền tư hữu, tự do và bình đẳng là quyền tự nhiên không thể bị tước đoạt Ông phủ nhận chế độ quân chủ chuyên chế vì chế độ này xâm phạm đến tự do về sở hữu và con người không được đảm bảo tránh khỏi sự xâm phạm đến quyền lợi của mình Và để đảm bảo tự do của con người, ông cho rằng điều kiện tiên quyết là cần có sự phân chia hay phân biệt các quyền lực Theo ông quyền lực nhà nước được chia làm ba quyền: lập pháp, hành pháp và liên hợp Để thực thi ba quyền này cần phải tổ chức thành các cành quyền lực nắm giữ nó: quyền lập pháp thuộc về Nghị viện; quyền hành pháp thuộc về Nhà vua, Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các Bộ trưởng, Chánh án và các quan chức khác, hoạt động của Nhà vua phụ thuộc vào pháp luật; Nhà vua thực hiện quyền liên minh (liên hợp) giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình, đối ngoại Về vị trí của các cơ quan, ông cho rằng lập pháp phải ở vị trí tối cao và được duy trì mãi mãi,
độc lập với các nhành quyền lực khác, vì “ai có thể đẻ ra luật lệ cho người khác thì phải đặt cao hơn”
1.2.3 C L Montesquieu (1689 – 1775) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước
Trang 15Với những tác phẩm có giá trị nhân văn, khoa học cùng với tính khách quan của thời đại, Montesquieu đã xây dựng nên luận thuyết về sự
phân chia quyền lực và được xem là “cha đẻ” của học thuyết phân quyền
xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ ở Châu âu
Trước cách mạng tư sản, nước Pháp là một nước quân chủ chuyên chế phong kiến, Nhà vua nắm mọi quyền hành, hầu như không chịu một sự kiểm soát nào Vua có quyền quyết định mọi công việc đối nội và đối ngoại của nhà nước, coi quyền của mình là do Trời ban cho để
thay mặt Trời cai trị các thần dân, “chăn dắt con dân” của mình Chế độ
quân chủ chuyên chế bảo vệ chặt chẽ sự phân chia đẳng cấp trong xã hội phong kiến Xã hội chia làm ba đẳng cấp: tăng lữ là đẳng cấp thứ nhất, quý tộc là đẳng cấp thứ hai, và đẳng cấp thứ ba bao gồm tất cả các tầng lớp còn lại: tư sản, nông dân, bình dân thành thị, công nhân… Hai đẳng cấp trên có đặc quyền và có liên hệ chặt chẽ với nhau chiếm 1% dân số, nhưng lại giữ vị trí thống trị, nắm tất cả các chức vụ cao trong nhà nước,
nhà thờ, các chức chỉ huy trong quân đội, hợp thành đẳng cấp “cung đình”
luôn luôn ở bên cạnh Nhà vua, kiêu hãnh về dòng dõi, quen sống trên thành quả của nhân dân lao động Họ là đẳng cấp thứ ba chiếm hơn 99% dân số nhưng bị tước đoạt mọi quyền chính trị, không được tham gia vào các cơ quan nhà nước, bị phụ thuộc và phải phục vụ cho các đẳng cấp có đặc quyền
Cùng với sự phát triển của công thương nghiệp, đến cuối thế kỷ XVIII giai cấp tư sản đã bắt đầu hình thành một giai cấp mạnh, giàu có và dần có thế lực kinh tế cùng với các tầng lớp khác nhau của đẳng cấp thứ
ba chống lại chế độ phong kiến, giai cấp này thường không bền vững và
Trang 16mang tính nhất thời Trong nội bộ của nó cũng diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp và cuộc đấu tranh này được đặc biệt đẩy mạnh vào những năm 1789 – 1794, thời kỳ phát triển cách mạng tư sản Pháp Cuộc đấu tranh giai cấp và đảng phái khốc liệt được thể hiện trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản với tư tưởng phong kiến phản động, cũng như cuộc xung đột các trường phái tư tưởng chính trị của các tầng lớp khác nhau thuộc đẳng cấp thứ ba Các nhà tư tưởng tư sản dùng vũ khí tư tưởng của mình nhân danh dân tộc đánh vào chế độ lúc bấy giờ Và các tư tưởng chính trị pháp lý thời bấy giờ của Pháp là những tư tưởng phong phú đa dạng nhất phản ánh sinh động cuộc giao tranh chống lại cái cũ, cái lạc hậu Thời vĩ đại đã sản sinh ra những nhà tư tưởng vĩ đại đặt nền móng cho cách mạng tư sản Hệ thống các tư tưởng này tập trung vào ba khuynh hướng: khai sáng, dân chủ cách mạng và chủ nghĩa xã hội không tưởng Điểm chung nhất của các khuynh hướng chính là chống lại chế độ phong kiến chuyên chế Pháp thời bấy giờ
Khai sáng là một trong những trào lưu chính trong hệ tư tưởng chính trị Pháp thế kỷ XVIII Nó thể hiện quyền lợi của các tầng lớp khác nhau thuộc đẳng cấp thứ ba Các nhà khai sáng như Vonte, Montesquieu, và các nhà triết học duy vật Pháp… với những quan điểm chống chế độ phong kiến, chống hệ tư tưởng phong kiến và đồng thời bảo vệ sở hữu tài sản Về mặt khách quan, khai sáng là hệ tư tưởng của toàn bộ đẳng cấp thứ ba trong điều kiện nước Pháp tiền cách mạng, được thể hiện như hệ tư tưởng tư sản, vì lẽ thực hiện chương trình như các nhà khai sáng sẽ đưa tới thiết lập chính chế độ tư sản Song về mặt chủ quan, nhiều nhà khai sáng là những nhà tư tưởng của quần chúng bị áp bức, và thậm chí ngay cả
Trang 17những nhà khai sáng bảo vệ lợi ích của tầng lớp tư sản thuộc đẳng cấp thứ
ba cũng đứng lên nhân danh toàn xã hội Các nhà khai sáng đã đấu tranh chống chế độ quân chủ phong kiến, tư tưởng tôn giáo tô vẽ cho chế độ đó Họ đưa ra tư tưởng bình đẳng chống lại đặc quyền đẳng cấp, tư tưởng chủ quyền nhân dân chống chủ quyền Nhà vua Họ tuyên bố chế độ phong
kiến là không “hợp lý”, phải được thay thế bằng chế độ “hợp lý”, phù hợp với trật tự “tự nhiên”
Chính trước những thực tế lịch sử với những nỗi thống khổ của nhân dân bị đày đọa trong một chế độ chỉ có cai trị độc đoán chứ không
có dân chủ, không có “hương sắc” của tự do Những người khai sáng, với
sự thôi thúc của lịch sử, trách nhiệm trước xã hội, họ đã cảm nhận được
“sứ mệnh ẩn tàng” mà lịch sử trao cho Và họ đã đón lấy, hoàn thành nó
một cách xuất sắc Nói cách khác phong trào khai sáng Pháp ra đời là sự đáp ứng trước những đòi hỏi của lịch sử, một phản ứng về mặt văn hóa – tinh thần, tư duy – học thuật trước những trật tự xã hội hiện hành Các tác phẩm của những nhà khai sáng thể hiện tinh thần chống thế quyền bạo ngược và thần quyền giáo điều, chống lại sự u tối nhận thức và sự bất khoan dung về chính trị
Montesquieu là nhà tư tưởng điển hình của phong trào khai sáng, mỗi tác phẩm của ông là một vũ khí đánh vào chế độ lúc bấy giờ Trong
tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, ông kịch liệt lên án chế độ quân chủ
chuyên chế - một tổ chức tồi tệ, phi lý Trong chế độ chuyên chế, bản thân pháp luật không được tồn tại, xã hội sẽ được quản lý bằng những ý chí độc đoán từ những nhà cầm quyền, hoặc nếu như pháp luật có trên thực tế mà được tập trung vào một người duy nhất là trái với bản chất của
Trang 18nó, bởi pháp luật gồm nhiều lĩnh vực, phân ngành rõ rệt Điều đó sẽ tất yếu dẫn đến sự lạm quyền Vì vậy, việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể đồng thời là sự thanh toán chế độ chuyên chế Theo Montesquieu, một khi quyền lực tập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổ chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn Từ đó, Montesquieu chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân Montesquieu cho rằng nên tách bạch các
nhánh quyền lực và ông khẳng định: “Trong bất cứ quốc gia nào đều có
ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp, và quyền tư pháp” Ông cho rằng: “khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện nguyên lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”. Như vậy, ông chủ trương phân quyền: lập pháp gồm quyền làm luật, sửa đổi, hoặc hủy bỏ luật do Nghị viện đảm nhiệm; hành pháp là quyền quyết định và thực thi những vấn đề đối nội, chiến tranh, quốc phòng, an ninh, kinh tế do một cơ quan hành động đảm nhận như Chính phủ; tư pháp là quyền trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp không nên giao cho một các
Trang 19quan chức thường trực, cố định đảm nhận mà nên do đoàn thể cử ra, trong thời hạn cố định Chính việc tách quyền lực xét xử – quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyền khác, là điểm tiến bộ trong tư tưởng phân quyền của ông so với Locke
Bên cạnh, sự phân quyền cho các cơ quan nhà nước ở trung ương nắm giữ các nhánh quyền lực nhà nước thì Montesquieu còn xác định mối quan hệ giữa các cơ quan đó Đó là sự kiểm soát đến từ bên trong bộ máy nhà nước, được thực hiện một cách thường trực và thường xuyên, là sự ước chế lẫn nhau một cách khép kín, mỗi thành phần có quan hệ vừa trực tiếp vừa trung gian điều tiết với các cơ quan khác theo phương thức dùng
“quyền lực chế ngự quyền lực”
Với những gì mà mình đã xây dựng được, Montesquieu được
nhân loại ngày nay ví như là “cha đẻ” của học thuyết phân quyền Tư
tưởng của ông là sự kế thừa có chọn lọc, và phát triển hoàn thiện các quan điểm về sự phân chia quyền lực nhà nước của các nhà tư tưởng chính trị đi trước Ông là người đầu tiên tuyên bố rằng việc phân quyền phải là luật tối thượng của bộ máy nhà nước vì chỉ có như thế mới đảm bảo được quyền tự do chính trị của các công dân Ông đã đi xa hơn Locke khi đưa ra ba thành tố của chính quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhưng sự khác nhau căn bản giữa lý thuyết của Locke và của Montesquieu chính là ở chỗ hai ông đã có quan niệm hoàn toàn khác nhau về vai trò của cơ quan lập pháp Nếu như Locke nhấn mạnh vai trò tối cao của cơ quan lập pháp, coi nó là sự bảo đảm cho việc thống nhất quyền lực nói chung thì Montesquieu lại nhìn thấy vai trò tiêu cực của
Trang 20mọi quyền lực, dù quyền ấy thuộc về ai thì cũng thế: quan chức hay cơ quan đại diện cũng vậy mà thôi
1.2.4 J J Rousseau (1712 – 1778) và tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước
Rousseau là người chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể công dân trong xã hội Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp và hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và Chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như việc ngăn chặn được xu hướng lạm quyền Ngoài ra, ông còn nêu lên vai trò quan trọng của cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định của nhà nước, cũng như cho sự cân bằng giữa các cơ quan quyền lực tối cao, Chính phủ và nhân dân Nhưng, cách phân quyền của Rousseau không giống với Locke và Montesquieu, bởi ông luôn khẳng định một điều duy nhất rằng:
“những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao”
1.3 Giá trị khoa học và ý nghĩa thời đại của thuyết phân quyền
Tư tưởng phân quyền với nội dung đã trình bày ở trên đã thể hiện được những giá trị tiến bộ của nó Những giá trị đó đã được kiểm
Trang 21chứng trong thực tiễn chính trị hàng trăm năm ở các nước tư bản phát triển:
- Nhà nước phân quyền theo đúng nghĩa (theo thuyết phân quyền hiện đại, hoàn chỉnh) đầu tiên trong lịch sử cũng là nhà nước do giai cấp tư sản cầm quyền, nhưng, cũng như bao giá trị khác sinh ra trong xã hội tư sản, như: kinh tế chính trị, xã hội công dân, dân chủ, khoa học công nghệ…, cùng với sự ưu việt hơn hẳn của nó so với chế độ chuyên chế, đã trở thành những giá trị chung của loài người Phân quyền với tư cách là cơ chế phân tản quyền lực về các định chế chính trị có trong xã hội – kể cả nhân dân ở hình thái cộng đồng lẫn cá nhân, ngăn ngừa sự định hình một quyền lực tối cao đứng trên nhân dân, nó cũng không còn là cái gì đó thuần tư sản, mà cũng đã mang trong mình giá trị của toàn nhân loại Chính thực tế lịch sử và lý luận đã chứng minh cho điều đó Xét về mặt lý luận cho thấy phân quyền là một phương thức nhằm hạn
chế quyền lực nhà nước, là một “giải pháp đặc thù gắn liền với đặc thù quyền lực nhà nước” [29, tr.224], là một giải pháp phòng ngừa và chữa trị
các căn bệnh xuất phát từ quyền lực; về mặt lịch sử sự phân quyền đã được áp dụng ở các nước phương Tây thời cổ đại như nhà nước Athense, nhà nước Hy lạp cổ đại và ở phương Đông từ thời cổ đại (vua Hoàn Tề Công trước khi quyết định lập Quản Trọng làm trọng phụ và giao cho ông
ta nhiều quyền hành, ông hỏi ý kiến của các đại thần khác trong triều về việc này thì ông ngộ ra một điều là không nên mang quyền đặt vào một cá nhân quá nhiều, tất yếu sẽ có sự lạm quyền, ảnh hưởng đến quốc gia và ngai vàng của mình, vì vậy ông đã phân chia các quyền cho các đại thần khác nhau nắm giữ) Như vậy, với tư cách là nhà nước cách mạng
Trang 22hơn hẳn nhà nước chuyên chế trước đó – do độ chín về mặt lịch sử, cũng như các điều kiện khách quan về kinh tế, chính trị, tư tưởng, tri thức, và cả tính nhân văn, phân quyền đã lần đầu tiên được nâng lên thành một hệ tư tưởng, một hệ tư tưởng chính trị tự giác trong vấn đề về nhà nước [29, tr.224]
- Lý thuyết phân quyền được hình thành như là sự phủ định biện chứng về mặt tư tưởng các lý thuyết tập quyền chuyên chế, đánh dấu sự chấm dứt của chế độ quân chủ chuyên chế, độc tài và đặt nền móng cho sự hình thành các thể chế tự do, dân chủ Cơ chế tập quyền là cơ chế
mà ở đó “quyền lực nhà nước thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan và cá nhân và cơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước khác” [24, tr.18] Cơ chế tập
quyền có những ưu thế của riêng nó, song tùy vào những hoàn cảnh cùng với sự phát triển của xã hội, tập quyền đã không thể đảm đương vai trò mới trong xã hội Nó bộc lộ những hạn chế và đem đến những tai họa cho nhà nước, cho con người, tất yếu nó sẽ bị thay thế bởi một cơ chế khác phù hợp hơn Phân quyền được coi là một cơ chế đối lập với sự tập trung quyền lực và là sự đối lập hoàn toàn với cơ chế tập quyền
- Với việc trao quyền lực của nhân dân cho các nhánh quyền lực nhà nước khác nhau (lập pháp, hành pháp, tư pháp) đã hình thành nên quá trình phân công lao động quyền lực nhằm tạo sự chuyên nghiệp hóa, chuyên môn hóa chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành trong cơ chế thực thi quyền lực nhà nước Và từ sự phân công cho các cơ quan khác nhau
thực hiện những chức năng khác nhau của nhà nước, “lập pháp, hành pháp, tư pháp trở thành ba phạm vi chuyên môn của quyền lực nhà nước với sự phân định cụ thể chủ thể, quyền hạn trách nhiệm của mỗi quyền, đối
Trang 23tượng, phạm vi điều tiết, phạm vi triển khai việc thực hiện quyền hạn của mỗi quyền” [29, tr.217] tạo nên niềm tự hào về công việc của mình Mỗi
cơ quan theo những quy định của Hiến pháp và với niềm tự hào của mình sẽ phát huy năng lực cần có trong phạm vi của mình một cách chuyên sâu, khoa học hơn, chuyên nghiệp hơn Với việc phân công lao động trong bộ máy nhà nước về việc thực thi quyền lực nhà nước, đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan nhà nước có tính chất chuyên sâu, suy cho cùng là nhằm mục đích tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước [13, tr.86]
- Lý thuyết phân quyền đánh dấu sự phát triển hiện đại về tính kỹ thuật chính trị – pháp lý trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, dùng phân quyền để kiểm soát sự lạm quyền Đó là cơ chế kiềm chế – đối trọng, kiểm tra và ước chế lẫn nhau trong hoạt động của ba nhánh quyền lực, nhờ đó loại trừ nguy cơ tập trung tất cả quyền lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất nào đó – nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hóa trong quá trình thực thi quyền lực Phân quyền là sự phân chia thể hiện tính kỹ thuật –
pháp lý trong tổ chức thực thi quyền lực nhà nước vì bản chất “quyền lực nhà nước là một thực thể trừu tượng không thể phân chia, và phân quyền như những biểu hiện khác nhau của quyền lực nhà nước” [29, tr.202]
- Lý thuyết phân quyền là một đóng góp lớn về lý luận và thực tiễn chính trị về nhà nước pháp quyền, bởi nó được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc lấy pháp luật làm tối thượng, lấy bảo đảm các quyền tự do công dân làm mục đích cuối cùng Nó khẳng định bất cứ một chế độ nào mà không thực hiện sự phân chia quyền lực, không đề cao
Trang 24pháp luật và kiểm soát quyền lực thì đó không phải là nhà nước pháp quyền Ở đây, phân quyền vẫn được khẳng định là đặc trưng căn bản của nhà nước có Hiến pháp, nhà nước pháp quyền, hay nhà nước tự do dân chủ, trong đó phẩm giá cá nhân được tôn trọng và quyền tự do được đảm bảo
Như vậy, phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị – pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính
trị thế giới Với sự ra đời của mình thuyết phân quyền “đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ.”[36] Sự hình
thành và phát triển của học thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội, hướng đến xác lập các mối quan hệ cơ bản giữa pháp luật và quyền lực, cá nhân và cộng đồng, công dân và nhà nước nhằm bảo đảm tính hiệu quả cao nhất của việc thực thi quyền lực Chính vì vậy, phân quyền được coi là một tất yếu khách quan trong các nhà nước dân chủ, là điều kiện đảm bảo cho những giá trị tự do được phát huy, là tiêu chí đánh giá sự tồn tại và phát triển của nhà nước pháp quyền, nơi chủ quyền nhân dân giữ vai trò tối thượng
1.4 Hiến pháp - bản văn ghi nhận sự phân quyền
Cùng với sự ra đời của Hiến pháp là sự chấm dứt hàng ngàn năm thống trị của chế độ phong kiến và là sự khẳng định của chế độ tư
bản Trong xã hội mà các thần dân được chăn dắt bởi “Thiên tử” và các
cận thần của Ngài dưới chế độ phong kiến, nơi mà họ được bao bọc bởi vỏ bọc hoàn hảo của yếu tố thần thánh, thì không có bất cứ một ràng buộc pháp luật nào để đi tới việc hạn chế quyền lực của chính bản thân
Trang 25họ Vì vậy, tư tưởng có một đạo luật đứng trên các đạo luật khác lại hạn chế chính quyền lực của mình thì không phù hợp với hệ thống chuyên chế thời bấy giờ Nhưng, cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, mầm mống giai cấp tư sản lan tỏa trong xã hội phong kiến Từ sự phát triển lớn mạnh sau này của họ với cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến đã đặt ra yêu cầu là xây dựng một bản Hiến pháp nhằm phá vỡ đi nguyên tắc truyền ngôi thế tập trong nhà nước phong kiến và để xác định quyền lực nhà nước không phải là thiên định, không thần bí, không là của riêng một thế lực nào, mà thuộc về nhân dân Khẳng định quyền của nhân dân được tham gia vào giải quyết các công việc của nhà nước, xác định quyền con người, ngăn cấm mọi hành vi vi phạm đến quyền con người từ bất kể phía nào mà quan trọng nhất là từ phía nhà nước Vì vậy, Hiến pháp phải là một bản văn quy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, là bản văn khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân Nhưng để đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân tránh xu hướng lạm quyền thường xuyên xảy ra trong lịch sử thì Hiến pháp phải bảo đảm mục đích hạn chế quyền lực nhà nước và đi đến ghi nhận sự phân chia quyền lực nhà nước
(“Ởû đâu không có phân quyền thì ở đó không có Hiến pháp”)
1.5 Sự áp dụng tư tưởng phân quyền ở một số chính thể đương đại
1.5.1 Chính thể Cộng hòa tổng thống
Nhà nước theo hình thức chính thể này áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách đậm nét nhất, sự phân công quyền lực thể hiện tuyệt đối theo cách thức cứng rắn Nhà nước có Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu bộ máy hành pháp, do nhân dân trực tiếp bầu ra Môït thành viên của Chính phủ đều do Tổng thống bổ nhiệm, và chịu
Trang 26trách nhiệm trước Tổng thống, không chịu trách nhiệm trước Nghị viện, không có chức danh Thủ tướng Như vậy, do sự tấn cử của nhân dân một cách trực tiếp hay gián tiếp bầu ra và với hai chức danh Nguyên thủ quốc gia cộng với người đứng đầu hành pháp trong một chế định Tổng thống nên Tổng thống có toàn quyền trong việc quyết định nhân sự của Chính phủ Ông tự mình lựa chọn, bổ nhiệm, bãi nhiệm nhân sự vào bất cứ thời điểm nào Về nguyên tắc, các Bộ trưởng chỉ là những người giúp việc cho Tổng thống, thực hiện những chính sách của Tổng thống, không được mâu thuẫn với đường lối chính sách của Tổng thống
Nhà nước Hoa kỳ là mô hình nhà nước đặc trưng của chính thể cộng hòa tổng thống Hiến pháp Hoa kỳ áp dụng tuyệt đối nguyên tắc phân chia quyền lực: lập pháp là lập pháp, hành pháp là hành pháp, tư pháp là tư pháp, chứ không có sự phối hợp lẫn nhau và không chịu trách nhiệm lẫn nhau Việc phân quyền chủ yếu thể hiện qua mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp Lập pháp do Nghị viện, được phân thành hai viện: Thượng viện và Hạ viện, đều do nhân dân trực tiếp bầu ra và đảm nhận (điều 1, Hiến pháp Hoa kỳ); hành pháp do Tổng thống, do nhân dân gián tiếp bầu ra, đảm nhận (Điều 2, Hiến pháp Hoa kỳ), Tổng thống không chịu trách nhiệm trước Nghị viện Lập pháp và hành pháp cùng chịu trách nhiệm trước cử tri, lập pháp không được lấn sân sang hành pháp và ngược lại hành pháp cũng không được can thiệp vào hoạt động của lập pháp của Nghị viện Và giữa các cơ quan thiết lập cơ chế kiềm chế – đối trọng, để không có cơ quan nào có cơ hội lợi dụng quyền lực
Cơ chế kiềm chế – đối trọng trong Hiến pháp Mỹ thể hiện:
Trang 27- Cơ chế kiềm chế – đối trọng giữa lập pháp và hành pháp: Tổng thống có quyền phủ quyết dự luật của Nghị viện: tất cả các dự án luật đã được Hạ nghị viện và Thượng nghị viện thông qua, trước khi trở thành luật, sẽ phải đệ trình lên Tổng thống Hợp chủng quốc hoa kỳ Nếu Tổng thống tán thành dự luật, Tổng thống sẽ ký vào dự án luật đó Nếu không Tổng thống sẽ gửi trả lại, với lời bác của Viện đã khởi xướng dự án luật đó Nhưng, Nghị viện được Hiến pháp trao cho quyền vượt qua quyền phủ quyết dự luật của Tổng thống thể hiện: khi Viện nhận được dự án luật bị gửi trả lại phải ghi tường tận các bác luận của Tổng thống tới Viện thứ hai, và nếu 2/3 Viện này cũng tán thành thì dự án luật mới trở thành luật (Khoản 7, điều 1, Hiến pháp Mỹ) Và một số quyền thể hiện sự kiềm chế – đối trọng giữa lập pháp và hành pháp như: Tổng thống có quyền triệu tập Nghị viện họp phiên đặc biệt, Phó tổng thống – Chủ tịch Thượng viện có quyền bỏ phiếu (tại Thượng viện) khi có số phiếu ngang nhau Ngược lại, lập pháp có quyền điều tra đối với Tổng thống, có quyền đàn hạch và phế truất Tổng thống, từ chối phê chuẩn sự bổ nhiệm và các hiệp ước do Tổng thống ký (Hiến pháp qui định cho Tổng thống có quyền bổ nhiệm các quan chức cao cấp khác của nhà nước liên bang, từ hàm cấp Bộ trưởng cho đến Thẩm phán của Tòa án tối cao, cũng như đại sứ các nước, nhưng những người được bổ nhiệm chỉ thực hiện nhiệm vụ khi có sự phê chuẩn của Thượng nghị viện (khoản 2, điều 2, Hiến pháp Hoa kỳ)
- Kiềm chế – đối trọng giữa lập pháp và tư pháp: Lập pháp có quyền thay đổi qui mô hệ thống Tòa án liên bang và số lượng Thẩm phán Tòa án tối cao liên bang, có quyền từ chối phê chuẩn ứng cử viên Thẩm phán Tòa án tối cao liên bang, đàn hạch và phế truất Thẩm phán
Trang 28Tòa án tối cao liên bang; Thẩm phán có quyền tuyên bố luật vi hiến, Chánh án Tòa án tối cao liên bang làm chủ tọa phiên tòa đàn hạch Tổng thống tại Thượng nghị viện
- Kiềm chế – đối trọng giữa tư pháp và hành pháp: Thẩm phán tuyên bố hoạt động của ngành hành pháp vi hiến, buộc các nhân viên hành pháp ra hầu tòa, Chánh án Tòa án tối cao liên bang làm chủ tọa phiên tòa đàn hạch Tổng thống tại Thượng nghị viện; ngược lại hành pháp có quyền bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tối cao liên bang và các Tòa án liên bang, ân xá cho những người bị Tòa án tối cao tuyên án, từ chối thi hành các quyết định của Tòa án
Việc phân chia quyền lập pháp và hành pháp của Hiến pháp Hoa kỳ không giản đơn chỉ được thể hiện qua việc phân vạch rạch ròi giữa các vấn đề thuộc về chức năng mà còn cả việc phân định về mặt nhân viên Theo quy định tại khoản 6, điều 2, Hiến pháp Hoa kỳ quy định những người là Nghị viên không được kiêm nhiệm các chức sắc trong bộ máy hành pháp
Trên thực tế, không phải lúc nào việc tổ chức quyền lực nhà nước Mỹ cũng hoàn toàn tuân thủ một cách triệt để nguyên tắc phân quyền Quyền lực nhà nước bao giờ cũng là một thực thể hoàn chỉnh, chúng không thể chia cắt, tách rời nhau, như cách quy định trong Hiến pháp Thể hiện, mặc dù, không được Hiến pháp trao cho quyền sáng kiến pháp luật, nhưng Tổng thống Mỹ can thiệp rất sâu vào quá trình lập pháp của Nghị viện, thể hiện ở việc Tổng thống đọc các thông điệp về tình hình đối nội và đối ngoại của đất nước trước các kỳ họp của Nghị viện, qua đó Tổng thống gợi ý cho Nghị viện ban hành các dự luật trong thời
Trang 29gian tới, cùng với quyền phủ quyết của Tổng thống với các dự luật đã được Nghị viện thông qua Và để thực hiện được quyền lực nhà nước thì, lập pháp và hành pháp buộc phải kết hợp với nhau, vì nếu hành pháp luôn chống đối lập pháp thì lập pháp không thể thực hiện được ý chí của mình, ngược lại nếu Nghị viện không biểu quyết các luật về ngân sách, thuế, tài chính… thì hành pháp không thể thực thi quyền cai trị, quản lý xã hội của mình Vì vậy, sự phân quyền trong chính thể cộng hòa tổng thống đã được mềm hóa bởi sự thỏa thuận, mặc cả, trao đổi, thương thuyết giữa lập pháp và hành pháp Người ta gọi những hành động ngoài sự quy định
của Hiến pháp là hành động “đi đêm” với nhau giữa các cơ quan này, và chính thể cộng hòa tổng thống được coi là “chế độ đại nghị hàng lang”
1.5.2 Chính thể đại nghị
Việc áp dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước một cách mềm dẻo tạo nên chính thể đại nghị Chính thể đại nghị gồm có cộng hòa đại nghị và quân chủ đại nghị với những đặc điểm tổ chức bộ máy tương tự nhau: Nghị viện là cơ quan làm luật, Nguyên thủ quốc gia là Tổng thống hay Nhà vua không đồng thời là người đứng đầu hành pháp, ở đó Thủ tướng người đứng đầu bộ máy hành chính không những chịu trách nhiệm trước Nguyên thủ quốc gia, mà còn chịu trách nhiệm trước Nghị viện, hành pháp và lập pháp chịu trách nhiệm lẫn nhau trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước và một đặc điểm nữa là
nguyên tắc quyền lực tối cao thuộc về Nghị viện (“Nghị viện là hết ý, Nghị viện có thể làm được mọi điều trừ cái việc biến đàn ông thành đàn bà”) Như vậy, ở chính thể đại nghị mặc dù có sự phân chia quyền lực
giữa lập pháp và hành pháp nhưng giữa chúng vẫn có sự kết hợp và chịu
Trang 30trách nhiệm lẫn nhau: Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, Chính phủ được thành lập trên cơ sở Nghị viện, Chính phủ được quyền trình các dự án luật trước Nghị viện… Sự chịu trách nhiệm lẫn nhau giữa chúng đã tạo nên một sợi dây gắn kết các bộ phận trong bộ máy nhà nước, Chính phủ chỉ tồn tại khi còn sự tín nhiệm của Nghị viện và ngược lại Chính phủ cũng được trao cho quyền kiểm soát Nghị viện bằng quyền giải tán Nghị viện trước thời hạn của Chính phủ
Lý luận và các quy định hiến định là vậy, nhưng trên thực tế, sự phân quyền trong chính thể đại nghị cũng có những biến dạng nhất định Chính phủ được thành lập trên cơ sở Nghị viện, Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện nhưng trong quá trình phối kết hợp để thực thi quyền lực nhà nước và với hoạt động cứng rắn của các đảng phái chính trị
ở các nước theo chính thể đại nghị (mà tiêu biểu là ở nước Anh) thì sự phân quyền đi theo một hướng khác Đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện (đảng cầm quyền) sẽ đứng ra thành lập Chính phủ, đã chi phối Nghị viện và kiểm tra các hoạt động của Nghị viên Chính phủ là nơi hoạt động của ban chấp hành của đảng cầm quyền Vì thế, việc Nghị viện đặt vấn đề bất tín nhiệm với Chính phủ là điều rất hiếm khi xảy ra (có thể với đảng đối lập thì có, nhưng với kỷ luật đảng chặt chẽ ở các nước này thì số phiếu ủng hộ của đảng đối lập trong Nghị viện là rất ít); ngược lại vấn đề giải tán Nghị viện trước thời hạn cũng có số phận tương tự như vậy vì khi
đa số Nghị viên và Chính phủ cùng một đảng thì sẽ không có mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp Các quy định của Hiến pháp về sự chịu trách nhiệm lẫn nhau giữa các cơ quan ở trung ương không còn nguyên nghĩa ban đầu nữa Sự phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp theo
Trang 31quy định của Hiến pháp không còn nữa mà có chăng chỉ là sự phân chia giữa một đảng cầm quyền và các đảng đối lập có trách nhiệm
1.5.3 Chính thể cộng hòa hỗn hợp
Việc kết hợp mô hình tổ chức nhà nước theo chính thể đại nghị và cộng hòa tổng thống tạo ra một mô hình chính thể hỗn hợp Nó vừa có đặc điểm của nhà nước cộng hòa tổng thống như: Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra, Tổng thống vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là chức danh đứng đầu Chính phủ; và mang đặc điểm của chính thể đại nghị như: có chức danh Thủ tướng đứng đầu Chính phủ, Chính phủ do Tổng thống chỉ định nhưng phải có sự phê chuẩn của Nghị viện, phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, có thể bị Nghị viện bất tín nhiệm và Nghị viện có thể bị
Tổng thống giải tán
Hình mẫu của chính thể này là mô hình nhà nước Pháp theo Hiến pháp năm 1958 Chính phủ Pháp do Thủ tướng đứng đầu Nhưng, thực ra Chính phủ đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng thống Tổng thống chủ tọa các phiên họp Hội đồng bộ trưởng để quyết định các chính sách của quốc gia Thủ tướng chỉ được quyền lãnh đạo các phiên họp này khi Tổng thống cho phép Thủ tướng chỉ được quyền chủ tọa các phiên họp Nội các để chuẩn bị cho các phiên họp của Hội đồng bộ trưởng và lãnh đạo Chính phủ thực thi các chính sách đã được Tổng thống hoạch định, và phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện và Tổng thống việc thực thi các chính sách này Tổng thống càng có nhiều quyền lực hơn trong trường hợp Tổng thống và đa số Nghị viên cùng một đảng Quyền hạn của Thủ tướng và Chính phủ chỉ được gia tăng khi đa số Nghị viện không cùng một đảng với Tổng thống Ví dụ Đảng xã hội của Tổng thống
Trang 32Mitterand trong cuộc bầu cử Nghị viện năm 1986 và năm 1993 không giành được thắng lợi, không chiếm đa số ghế ở Nghị viện, buộc Tổng thống phải bổ nhiệm Thủ tướng là người không thuộc đảng phái của mình, cho nên cộng hòa Pháp hiện nay có xu hướng nghiêng về chính thể cộng hòa đại nghị
Tóm lại, nhà nước ra đời là sự cần thiết khách quan của sự phát triển xã hội loài người, nhưng nhà nước luôn có xu hướng lạm quyền Sự lạm quyền này xuất phát từ bản chất của quyền lực nhà nước - một loại quyền lực đặc biệt có sức mạnh vô biên, và từ bản tính của con người – bản tính đam mê quyền lực Sự lạm quyền dẫn đến độc đoán, chuyên chế là mối nguy hại cho nhân loại và cho sự tồn tại của nhà nước Vì vậy, cần thiết phải có phương thức nhằm hạn chế quyền lực Các nhà tư tưởng chính trị gia thế giới đã tìm thấy ở phân quyền một cơ chế độc đáo tự động chống lại sự lạm quyền và chuyên chế Với những giá trị mang tính tối ưu của mình, tư tưởng phân quyền đã được vận dụng một cách linh hoạt trong tổ chức bộ máy các nước tư sản hiện đại tạo nên những chính
thể khác nhau
Trang 33Chương 2
TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TRONG LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM
Hiến pháp là bản văn ghi nhận sự phân chia quyền lực nhà nước,
“Ở đâu không có sự phân quyền thì ở đó không có Hiến pháp” Lịch sử lập
hiến ở Việt Nam với mức độ khác nhau đã minh chứng cho sự tồn tại của
tư tưởng phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước
2.1 Tư tưởng phân quyền thể hiện trong các bản Hiến pháp của Việt Nam
2.1.1 Hiến pháp năm 1946
Trang 34Hiến pháp năm 1946 là bản văn thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước tương đối rõ Điều này được lí giải từ cơ sở Hiến pháp năm 1946 là sản phẩm trí tuệ của ban soạn thảo, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm nhuần tư tưởng phân chia quyền lực trong quá trình học hỏi các giá trị của nhân loại và dân tộc Trước khi Hiến pháp năm 1946 ra đời, Việt nam trong thời kỳ cai trị của đế quốc Pháp, tổ chức của nhà
nước không dựa trên cơ sở hiến định, đó là một “chính quyền thuộc địa bất hợp hiến” Chính sự cai trị tùy tiện, lạm quyền của chính quyền bất
hợp hiến của thực dân Pháp là một động lực thúc đẩy sự du nhập và phát triển của chủ nghĩa lập hiến ở Việt nam Trước tình cảnh đồng bào của mình phải chịu sự lạm quyền của chính quyền thực dân, những người yêu nước Việt nam đã nhận thấy sự cần thiết của việc giới hạn quyền lực của chính quyền bằng Hiến pháp để bảo vệ các quyền và tự do của người dân Vì vậy, Chủ nghĩa lập hiến ở phương Tây được dịp để du nhập và phát triển ở Việt nam Chủ nghĩa lập hiến bắt nguồn từ ý tưởng về tự do chính trị ở Châu âu và Mỹ như là sự đảm bảo đối với quyền sống, quyền tài sản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng của cá nhân Để đảm bảo các quyền đó, các tác giả nhấn mạnh đến sự kiểm soát các nhánh quyền lực của chính quyền, sự bình đẳng trước pháp luật, độc lập tư pháp, sự tách biệt nhà thờ khỏi nhà nước Chủ nghĩa lập hiến phương Tây đã du nhập mạnh mẽ vào Việt nam đặc biệt qua làn sóng Tân thư cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX Tinh thần pháp luật của Montesquieu, Khế ước xã hội của
Rousseau, các tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa lập hiến đã sớm được
du nhập vào Nhật bản, Trung quốc, rồi sau đó vào Việt nam Hồ Chí Minh là một trong các nhà tư tưởng yêu nước của Việt nam đã tiếp nhận
Trang 35những tinh hoa của nền chính trị phương Tây và có mong muốn vận dụng nó vào nước nhà Hồ Chí Minh sớm tiếp xúc với các tác phẩm về chủ nghĩa lập hiến của các tác giả phương Tây Điển hình là các tác phẩm
Khế ước xã hội của Rousseau và Tinh thần pháp luật của Montesquieu
Thuở nhỏ, Hồ Chí Minh đã có cơ hội tiếp xúc với các tác phẩm trên qua các bản dịch của nhóm Duy tân bên Trung quốc Chính những tác phẩm này đã giúp cho Người tiếp cận được các vấn đề về: chủ quyền nhân dân, dân quyền, tam quyền phân lập, … Bên cạnh chủ nghĩa hợp hiến của các tác giả phương Tây về mặt lý luận, thì cách mạng dân chủ ở Mỹ, Anh, Pháp và thực tiễn tổ chức chính quyền theo chủ nghĩa hợp hiến của các quốc gia này cũng ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh Người đã tận mắt chứng kiến thực tiễn vận dụng lý thuyết đó ở các nước phương Tây, và không còn bở ngỡ với thuyết tam quyền phân lập được áp dụng phổ biến ở bộ máy các nước này Và Hồ Chí Minh cũng được tiếp thu tư tưởng phân chia quyền lực từ các nhà tư tưởng đi trước ở Việt nam Phan Bội Châu đã đề
cập đến sự phân quyền giữa lập pháp và hành pháp: “Hình pháp, chính lệnh, thuế khóa, tiêu dùng đều do Nghị viện quyết định Chính phủ không được can thiệp vào Hàng năm đến kỳ Nghị viện họp, các Nghị viên tụ tập đông đủ Chính phủ phải trình bày dự án trước Nghị hội Nghị hội tức là nhân dân…” [44, tr.10] Phan Châu Chinh chủ trương tam quyền phân lập
giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo ông, lập pháp thuộc về Nghị viện, hành pháp thuộc về Giám quốc (Tổng thống) do Nghị viện bầu ra, quyền tư pháp giao cho các cơ quan xét xử độc lập với hai cơ quan kia; Huỳnh Thúc Kháng cũng đi theo tinh thần của chế độ đại nghị được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp, có sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp,
Trang 36và tư pháp; và các tư tưởng của Phạm Quỳnh, luật sư Phan Anh, Vũ Đình Hòe cũng chủ trương phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước Hiến pháp 1946 là sản phẩm của sự tiếp thu văn hóa Đông, Tây về chủ nghĩa lập hiến nói chung và về tư tưởng phân quyền nói riêng Dù không trực tiếp khẳng định sự phân quyền, nhưng các ngành quyền lực trong Hiến pháp bao gồm ba ngành phân công khá mạch lạc Lí giải cho việc không chính thức ghi nhận thuyết phân quyền là một nguyên tắc công khai trong Hiến pháp 1946 được xác định từ sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác – Lê nin về Hiến pháp Chủ nghĩa Mác không quan niệm Hiến pháp là một công cụ giới hạn quyền lực nhà nước như quan niệm chủ nghĩa lập hiến tự do ở phương Tây, ngược lại Hiến pháp là một công cụ tổ chức việc cai trị Chủ nghĩa Mác đề cao quyền lực nhà nước, do đó Hiến pháp không phải là công cụ hạn chế quyền lực nhà nước Chính những tư tưởng đó được phản ánh với mức độ nhất định trong bản Hiến pháp đầu tiên của Việt nam, Hiến pháp thiết lập một mô hình chính quyền vừa phân công quyền lực nhưng vẫn tập quyền
- Theo tinh thần của các qui định trong Hiến pháp 1946, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước được thể hiện tương đối rõ:
Nghị viện nhân dân: Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thể hiện qua các quyền: Nghị viện có quyền lập pháp, biểu quyết ngân sách, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài (điều 23, Hiến pháp); bầu Chủ tịch nước, quyết định các vấn đề tuyên chiến và có thể tuyên bố tự giải tán; xem xét việc bãi
Trang 37miễn một Nghị viện; phê chuẩn việc lựa chọn Thủ tướng của Chủ tịch nước, việc lựa chọn các Bộ trưởng của Thủ tướng Chính phủ
Chính phủ: Chính phủ là cơ quan cao nhất của toàn quốc,
cơ cấu của Chính phủ gồm có Chủ tịch nước và Nội các (điều 44) Chủ tịch nước do Nghị viện bầu ra có nhiệm vụ, quyền hạn theo điều 49 của Hiến pháp như: thay mặt nhà nước, tổng chỉ huy quân đội, bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và các nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan của Chính phủ… Qua những nhiệm vụ, quyền hạn Hiến pháp trao cho, với vai trò vừa là người lãnh đạo Chính phủ – đứng đầu hành pháp, quyền hạn
của Chủ tịch nước rất lớn “không phải chịu bất kể trách nhiệm nào trừ khi phạm tội phản bội Tổ quốc”, chính điều đó tạo nên nét độc đáo của Hiến
pháp năm 1946, và mang lại sự độc lập cho nhánh quyền hành pháp
Tòa án: Hiến pháp 1946 có một chương riêng để qui định về cơ quan tư pháp, thể hiện cơ quan tư pháp là một nhánh quyền lực có sự độc lập nhất định với các cơ quan quyền lực khác trong bộ máy nhà nước ở trung ương Tòa án được xác định là cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, gồm có Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp Các viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm, và độc lập khi xét xử Hệ thống Tòa án theo Hiến pháp này có nhiều điểm độc đáo, phong phú và cần được kế thừa có chọn lọc trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
- Cùng với cách thức tổ chức nhà nước có sự phân định chức năng giữa các nhánh cơ quan trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, thì Hiến pháp năm 1946 còn có những quy định nhằm trù liệu, ngăn ngừa sự lạm quyền của chính các cơ quan này
Trang 38 Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp: Trong mối quan hệ với các cơ quan khác, Nghị viện nhân dân có tính trội hơn hẳn, là cơ quan có quyền cao nhất Nghị viện thành lập ra Chính phủ thông qua việc bầu Chủ tịch nước và sự lựa chọn Bộ trưởng của Thủ tướng Thông qua quyền biểu quyết về ngân sách Nghị viện nắm trong tay ngân khố của quốc gia, và có những quyết sách buộc Chính phủ phải thực thi Nghị viện còn có quyền giám sát các hoạt động của các thành viên của Chính phủ, có quyền chất vấn các chức vụ hành chính về nhiệm vụ và quyền hạn của họ, có quyền truy tố và xét xử Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước hay một nhân viên Nội các khi họ phạm tội phản bội Tổ quốc, Nghị viện còn có thể lật đổ Chính phủ thông qua việc bỏ phiếu bất tín nhiệm các nhân viên Nội các (điều 54, Hiến pháp) Và theo phương thức hai chiều kiềm chế lẫn nhau, hành pháp cũng được Hiến pháp trao cho mình những quyền hạn làm vỏ bọc cho sự đối trọng với lập pháp: Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại những luật mà Nghị viện đã biểu quyết; Chủ tịch nước theo điều 54, Hiến pháp có quyền đưa vấn đề tín nhiệm Nội các ra Nghị viện thảo luận lại trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các; Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào trừ tội phản bội Tổ quốc; việc bắt bớ và truy tố trước Tòa án một nhân viên Nội các về thường tội phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng chính phủ Những quy định của Hiến pháp về chế định Chủ tịch nước với nhiều quyền hạn như vậy, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của Việt nam lúc cách mạng Tháng tám mới thành công Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 2 phải thông qua Hiến pháp năm 1946 trong tình hình chính quyền cách mạng non trẻ phải đương đầu với một nguy cơ cực kỳ to lớn, là ở miền
Trang 39Nam thì đã xảy ra chiến tranh chống thực dân Pháp trở lại, ở miền Bắc thì quân đội Pháp đang ráo riết lấn tới chuẩn bị đánh đổ Chính phủ của chủ
tịch Hồ Chí Minh Có thể nói Hiến pháp 1946 ra đời trong tình thế “một thùng thuốc súng” sắp nổ Trong tình hình đó, Hiến pháp phải định ra một
thiết chế không phải xây dựng một đất nước hòa bình, mà chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp Nó đòi hỏi phải có một thiết chế quyền lực thích ứng, một nhà nước dân chủ mạnh, một bộ máy thực thi quyền lực mạnh, tập trung đủ quyền lực, cụ thể là quyền hành chính nhà nước, tức quyền quản lý thường xuyên nhà nước vào tay một Chính phủ mạnh Một thiết chế quyền lực như vậy phải là một thiết chế mà Chủ tịch nước phải là người đứng đầu Chính phủ, và quyền hạn của Chủ tịch nước phải được tăng cường để đối mặt với những khó khăn, thách thức cùng những âm mưu lật đổ nhà nước ta
Mối quan hệ giữa hành pháp, và tư pháp: Các viên chức tư pháp đều do Chính phủ bổ nhiệm, nhưng Tòa án được Hiến pháp trao cho quyền ngăn chặn sự lộng quyền của hành pháp bằng việc truy tố, xét xử các nhân viên Nội các
Mối quan hệ giữa lập pháp và tư pháp: Trong các mối quan hệ đã được phân tích ở trên thì mối quan hệ giữa tư pháp và lập pháp có phần độc lập hơn, thể hiện các viên chức Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm (điều 64, hiến pháp)
- Mỗi cơ quan nhà nước như một thực thể mà sự tồn tại của nó đều có những ý nghĩa và nhiệm vụ riêng vì thế cần có một bản tính riêng Hiến pháp năm 1946 đã lột tả được những bản tính cần phải có của các cơ quan nhà nước
Trang 40 Nghị viện nhân dân: Nghị viện là cơ quan do dân bầu ra với những nhiêm vụ nặng nề như: ban hành các đạo luật có hiệu lực, về nguyên tắc là bao trùm lên tất cả các lĩnh vực, mọi đối tượng trên lãnh thổ Việt Nam và các đối tượng khác ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng chịu sự chi phối của pháp luật Việt Nam Các đạo luật ấy còn phải bảo đảm được tính hợp pháp, hợp lý, và phải tính đến yếu tố thay đổi của các lĩnh vực Vì vậy, chủ thể thực hiện nhiệm vụ này không thể là một cá nhân được mà phải có sự kết hợp của các bộ óc có hiểu biết được nhân dân tin tưởng và ủy thác trách nhiệm cho Vì là một tập thể người nên để có những quyết sách đứng đắn, thể hiện được ý chí của toàn dân thì giữa họ
phải có sự bàn bạc thận trọng, thấu đáo, phải là một tập thể (“một bộ óc biết nghĩ là tốt nhưng nhiều thì tốt hơn”) với những quyết sách khôn
ngoan, phải dung hòa được lợi ích đa dạng trong nhân dân Thường thì một tập thể mà không có tiếng nói chung, không có một lý tưởng, một mục tiêu cùng hướng tới thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn, chia rẽ Vì thế, Hiến pháp phải là bàn cờ để tập hợp được những con người ấy lại với nhau trong khuôn khổ của một Nghị viện và những chiến binh trong bàn cờ của một đội ấy phải cùng đồng tâm hiệp lực bảo vệ quyền lợi của nhân dân Nghị viện trong Hiến pháp 1946 đã thể hiện được đặc tính sơ khởi cần phải có như đã đề cập ở trên Nghị viện theo Hiến pháp là một Nghị viện đoàn kết, dân chủ và thận trọng thể hiện: Nghị viện nhân dân
do nhân dân trực tiếp bầu ra với nhiệm kỳ ba năm một lần, cứ 5 vạn dân có một Nghị viên; Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe, các báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị viện; phải có quá nửa tổng số Nghị sỹ tới họp hội nghị mới được