1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử hình thành và phát triển của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

102 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC THUYẾT PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 1.1 MỘT VÀI KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN HỌC THUYẾT PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -* -

TRẦN THỊ HOA MSSV: 3050051

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC THUYẾT PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật Niên khóa: 2005 – 2009

Người hướng dẫn:

Thạc sỹ Lê Thị Thanh Nhàn

Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2009

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC

THUYẾT PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

1.1 MỘT VÀI KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN HỌC

THUYẾT PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

1.2 SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC

NHÀ NƯỚC THỜI KỲ CỔ ĐẠI

1.2.1 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của các chính trị gia

ở Hy Lạp

1.2.2 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước tại La Mã

1.3 TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

THỜI KỲ TRUNG ĐẠI

1.4 TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

THỜI KỲ CẬN ĐẠI (1604 – 1917)

1.4.1 Thời kỳ phục hưng

1.4.2 Thời kỳ khai sáng

1.5 TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

THỜI KỲ HIỆN ĐẠI (1917- Hiện nay)

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG HỌC THUYẾT PHÂN

CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ

Trang 3

NƯỚC TẠI VIỆT NAM

2.1 PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở CÁC QUỐC

GIA TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

2.1.1 Phân quyền mềm dẻo ở các nước theo chính thể đại nghị

2.1.2 Phân quyền cứng tắn ở các nước theo chính thể cộng hòa

tổng thống

2.1.3 Phân quyền hỗn hợp đối với các nước theo hình thức chính

thể cộng hòa hỗn hợp

2.2 TỔ CHỨC VÀ THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

TẠI VIỆT NAM: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ

2.2.1 Sự phân công thực hiện quyền lực nhà nước trong lịch sử lập

hiến ở Việt Nam

2.2.2 Về tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay và một số

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Những quy định về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là một trong những nội dung quan trọng của bất kỳ bản Hiến pháp nào trên thế giới Ở Việt

Nam, tại Điều 2 Hiến pháp hiện hành ghi nhận: “Quyền lực nhà nước là thống

nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Như vậy, quyền lực nhà nước

là thống nhất, thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại diện của mình nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, đồng thời thông qua đó, một cách gián tiếp Nhà nước ta thừa nhận quyền lực nhà nước gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Cùng với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, các quy định về vấn đề này vẫn còn tồn tại những chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ cũng chưa được cụ thể hóa để các cơ quan nhà nước có thể phân công, phối hợp một cách chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả Thực trạng này đòi hỏi các nhà khoa học pháp lý và cơ quan lập pháp phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa những quy định về tổ chức bộ máy nhà nước Đứng trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm tạo ra sự đồng bộ, hiệu quả trong việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước

là công việc quan trọng hàng đầu hiện nay Theo chúng tôi, việc nghiên cứu lịch sử hình thành và quá trình ứng dụng học thuyết phân chia quyền lực nhà

Trang 5

nước vào tổ chức bộ máy nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới, để từ đó có thể vận dụng một cách linh hoạt vào tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam là việc làm hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng trên

Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Lịch sử hình thành và

phát triển của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước” để nghiên cứu và

làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật

2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Liên quan đến học thuyết phân chia quyền lực nhà nước có rất nhiều vấn

đề cần nghiên cứu Tuy nhiên, với giới hạn về kiến thức và trong phạm vi

nghiên cứu, đề tài xoay quanh ba vấn đề chính: thứ nhất, tìm hiểu về sự hình thành và nội dung của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước; thứ hai, trình

bày và đánh giá sự ứng dụng học thuyết này trong tổ chức bộ máy nhà nước ở

một số quốc gia; thứ ba, từ những nội dung đã trình bày, đưa ra các đề xuất

góp phần xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đã có một số công trình nghiên cứu về học thuyết phân chia quyền lực nhà nước và sự ứng dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước tại một số quốc gia

như công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Hồi: “Tư tưởng phân chia

quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước”; luận

văn thạc sĩ luật học của Lê Thị Thanh Nhàn: “Phân công và phối hợp giữa

các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước theo Hiến pháp Việt Nam hiện hành”; công trình nghiên cứu khoa học: “Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước và sự vận dụng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của một nhóm sinh viên Trường đại học Luật Hà Nội

Tuy nhiên, các đề tài trên không đi sâu vào việc phân tích một cách cụ thể sự

Trang 6

ra đời của tư tưởng phân quyền và sự hình thành, phát triển học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

Bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến vấn

đề này nhưng chỉ nghiên cứu và phân tích một vài khía cạnh của vấn đề mà không nghiên cứu tổng thể

Điểm mới của đề tài này thể hiện ở chỗ phân tích một cách khá chi tiết và

cụ thể về sự hình thành và phát triển của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước; đánh giá sự kế thừa, các ưu điểm, nhược điểm trong tư tưởng của các chính trị gia cũng như những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình vận dụng học thuyết phân chia quyền lực nhà nước tại một số quốc gia Bên cạnh đó là một vài kiến nghị về việc hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam

Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm nhiều vấn đề khác nhau vừa có yếu

tố mang tính lịch sử vừa có yếu tố mang tính thời sự Để tiếp cận vấn đề theo các góc độ khác nhau, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp, cụ thể như phương pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh và nhiều phương pháp khác, trong đó, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử giữ vai trò trọng tâm

5 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước nhằm mục đích:

- Hệ thống lại sự hình thành và phát triển học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

- Tìm phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước có hiệu quả đáp ứng yêu cầu của việc tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay

Để đạt được những mục đích trên cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Trang 7

- Trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài

- Phân tích sự hình thành của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

- Tìm hiểu sự vận dụng học thuyết trên ở một số quốc gia

- Từ thực trạng tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Việt Nam đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ và đạt được những mục đích trên, đề tài gồm có ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung gồm có 02 chương:

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

Chương 2: Thực tiễn áp dụng học thuyết phân chia quyền lực nhà nước ở một số quốc gia và một số kiến nghị đối với tổ chức bộ máy nhà nước tại Việt Nam

6 TÍNH ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu Ngoài ra, các

đề xuất có thể được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, áp dụng trong cải cách tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC THUYẾT PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

1.6 MỘT VÀI KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN HỌC THUYẾT PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

Từ trước đến nay, quyền lực là vấn đề được nhiều chính trị gia, các nhà

luật học nghiên cứu và tìm hiểu Do được tiếp cận và nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau; hơn nữa quyền lực là vấn đề khá phức tạp, vì vậy, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về quyền lực Tuy nhiên, có thể

hiểu một cách chung nhất rằng Quyền lực là quyền định đoạt và sức mạnh để

đảm bảo sự thực hiện [61; từ mục “quyền lực”]

Quyền lực xuất hiện cùng với sự hình thành của xã hội loài người và tồn tại theo sự phát triển của xã hội dưới hình thức này hay hình thức khác, quyền lực đảm bảo mọi thành viên trong xã hội tuân theo một ý hướng duy nhất đồng thời điều tiết mối tương quan giữa các thành viên sống chung trong xã hội đó Khi xã hội không có giai cấp thì quyền lực mang tính xã hội, khi giai cấp và nhà nước xuất hiện thì quyền lực mang tính chính trị hay còn gọi là quyền lực của giai cấp thống trị Quyền lực của giai cấp thống trị gồm có quyền lực nhà nước, quyền lực của đảng phái chính trị và quyền lực của các tổ chức chính trị

- xã hội Trong đó, quyền lực nhà nước là loại quyền lực trung tâm và quan trọng nhất

Tương tự như khái niệm về quyền lực, khái niệm về quyền lực nhà nước

cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, quyền lực nhà nước là sự

lãnh đạo chính trị đối với xã hội dựa vào sức mạnh của bộ máy nhà nước, là

Trang 9

công cụ thực hiện ý chí của giai cấp thống trị hoặc của toàn thể nhân dân [61;

từ mục “quyền lực nhà nước”]

Theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp biên soạn

có nêu ra những đặc điểm cơ bản của quyền lực nhà nước như sau:

“1) Luôn luôn gắn với sự tồn tại của chính quyền nhà nước; 2) Được phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 3) Do giai cấp, hoặc liên minh các giai cấp thống trị xã hội tổ chức và thực hiện; 4) Được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước” [59; 652]

Theo TS.Nguyễn Thị Hồi, quyền lực nhà nước là sức mạnh của nhà nước

có thể bắt các chủ thể khác trong quốc gia (các tổ chức, cá nhân, giai cấp, tầng lớp) phải phục tùng ý chí của nó [48; 14]

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền lực nhà nước nhưng chúng ta có thể nhận thấy quyền lực nhà nước là dạng quyền lực xã hội, mang tính ý chí, gắn liền với chủ quyền quốc gia, được thực hiện thông qua những định chế của nhà nước – pháp luật, là loại quyền lực mang tính giai cấp và mang mục đích chính trị rõ ràng Từ đó, theo chúng tôi, chúng ta có thể hiểu

một cách chung nhất rằng: quyền lực nhà nước là quyền lực công, thống

nhất, bao trùm lên toàn xã hội, là quyền lực của giai cấp hay liên minh giai cấp thống trị, được thực hiện bằng cả một hệ thống các cơ quan nhà nước

do giai cấp đó lập ra Quyền lực nhà nước có đủ sức mạnh để kiểm soát và bắt buộc các chủ thể khác phục tùng

Từ khi nhà nước xuất hiện cho đến nay, quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo nhiều cách thức khác nhau nhưng về cơ bản, việc tổ chức và thực hiện quyền lực này theo hai dạng cơ bản là tập trung và phân chia

Trang 10

 Hình thức tập trung quyền lực hay còn gọi là tập quyền, có nghĩa là quyền lực cao nhất của nhà nước thuộc về một cá nhân hay một cơ quan và cá nhân hay cơ quan đó có thể chi phối đến sự hình thành, cơ cấu, tổ chức và hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước Hình thức này được áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ Chiếm hữu nô lệ, thời kỳ Phong kiến và thời kỳ

Xã hội chủ nghĩa đối với các nước theo chính thể quân chủ chuyên chế và cộng hòa xã hội chủ nghĩa

 Hình thức phân chia quyền lực hay còn gọi là phân quyền, nghĩa là quyền lực nhà nước được phân tách thành các quyền khác nhau và được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước khác nhau, giữa các cơ quan này có mối liên hệ với nhau trong quá trình hoạt động Phân chia quyền lực nhà nước được thực hiện chủ yếu trong các thời kỳ Chiếm hữu nô lệ, Tư bản và Xã hội chủ nghĩa (được áp dụng ở một mức độ nhất định và có sự kết hợp nguyên tắc tập quyền

xã hội chủ nghĩa) Qua các thời kỳ khác nhau, hình thức phân chia quyền lực nhà nước được thực hiện theo các mức độ khác nhau:

- Thời kỳ chiếm hữu nô lệ, đối với các nước theo hình thức chính thể cộng hòa, sự phân chia quyền lực nhà nước mặc dù đã xuất hiện nhưng chưa

rõ ràng, chỉ dừng lại ở mức độ sơ khai, chức năng và nhiệm vụ còn chồng chéo

- Những hạn chế trên được khắc phục trong thời kỳ Tư bản, quyền lực nhà nước được phân chia rõ ràng, cụ thể và khoa học hơn; cơ chế kiểm soát, đối trọng hình thành là một bảo đảm để thực hiện phân chia quyền lực nhà nước, đây cũng là thời kỳ học thuyết phân chia quyền lực nhà nước được hình thành một cách có hệ thống

- Thời kỳ xã hội chủ nghĩa, mặc dù tuân thủ nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân nhưng để thực hiện quyền lực nhà

Trang 11

nước một cách có hiệu quả thì các nhà nước Xã hội chủ nghĩa cũng phân công

và giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau để thực hiện quyền lực nhà nước Mặc dù việc phân chia quyền lực không rõ nét nhưng qua đó, chúng ta vẫn thấy sự sự vận dụng học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

Trên đây là một số khái niệm cơ bản và quan trọng nhất, có tác dụng định hướng trong quá trình nghiên cứu của đề tài

1.7 SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THỜI KỲ CỔ ĐẠI

Học thuyết phân chia quyền lực nhà nước được hình thành trong khoảng thời gian khá dài và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau Tuy nhiên, những tư tưởng trong thời kỳ này về phân chia quyền lực nhà nước là một đóng góp quan trọng đối với sự hình thành học thuyết

Tư tưởng là toàn bộ những quan điểm của một người về một vấn đề nào

đó Còn học thuyết là toàn bộ những quan điểm, ý kiến, lý lẽ trình bày một cách có hệ thống như nguyên nhân, nội dung, đặc tính, vị trí, chủ thể của một vấn đề Như vậy, học thuyết mang tính khái quát và toàn diện hơn tư tưởng, là

sự kế thừa và hội tụ những giá trị tiến bộ một cách có chọn lọc và hệ thống Thời kỳ cổ đại không hình thành học thuyết phân chia quyền lực nhà nước vì

sự phân chia quyền lực còn nhiều hạn chế, chỉ đóng vai trò là nền tảng cho học thuyết sau này

1.7.1 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của các chính trị gia

ở Hy Lạp

Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước được hình thành từ rất sớm, những biểu hiện trong tổ chức bộ máy nhà nước Hy Lạp cổ đại được xem là mầm mống của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước

Trang 12

Trong thời kì cổ đại, nhà nước Hy Lạp gồm nhiều thành bang khác nhau, mỗi thành bành bang là một nhà nước độc lập, trong đó có hai thành bang lớn nhất là Athens và Xparta Tư tưởng phân quyền bắt nguồn từ tổ chức bộ máy nhà nước thành bang Athens

Nhà nước Athens ra đời vào khoảng thế kỷ VI tr.CN, bộ máy nhà nước được tổ chức theo hình thức chính thể cộng hòa quý tộc chủ nô, quyền lực chủ yếu tập trung vào tầng lớp quý tộc Bộ máy nhà nước được tổ chức thành nhiều cơ quan khác nhau như Hội đồng quý tộc, Hội nghị nhân dân, Hội đồng quan chấp chính Trong đó, Hội đồng quý tộc là cơ quan do tầng lớp quý tộc nắm giữ và tập trung nhiều quyền hành nhất, Hội nghị nhân dân đóng vai trò không quan trọng trước sự lộng quyền của Hội đồng dân tộc, Hội đồng quan chấp chính do tầng lớp quý tộc bầu ra và thực hiện các công việc do Hội đồng quý tộc giao[48; 25]

Mặc dù bộ máy nhà nước được tổ chức thành nhiều cơ quan khác nhau nhưng quyền lực nhà nước thực tế trong thời kỳ này không có sự phân chia mà tập trung trong tay giới quý tộc chủ nô – Hội đồng quý tộc Vì vậy, đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn gay gắt trong xã hội, mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ, mâu thuẫn giữa chủ nô với tầng lớp dân tự do (thương nhân, nông dân, thợ thủ công) Chính thực trạng này đã tác động rất lớn đến các chính trị gia tiến bộ,

họ đòi hỏi phải xây dựng một nhà nước theo chính thể Cộng hòa dân chủ, trong đó, quyền lực nhà nước được phân chia cho các cơ quan khác nhau Từ yêu cầu đó, các nhà chính trị thuộc phe chủ nô công thương đã tiến hành nhiều

cải cách, điển hình đó là Solon, Clisthenes, Ephialtes, Aristote…

1.7.1.1 Tư tưởng của Solon

Solon là đại diện cho tầng lớp chủ nô công thương, ông đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng, đặc biệt trong tổ chức bộ máy nhà nước Hy Lạp,

Trang 13

các cuộc cải cách của ông đặt cơ sở và bước đầu hình thành chính thể cộng hòa dân chủ chủ nô

Sau cải cách của ông bộ máy nhà nước gồm các cơ quan như: Hội đồng trưởng lão, Hội đồng 400 người, Tòa án công dân và Hội nghị nhân dân Trong đó, mỗi cơ quan thực hiện nhiệm vụ như sau:

Hội đồng trưởng lão (trước đây là Hội đồng quý tộc), là cơ quan tập

trung nhiều quyền hành nhất

Hội nghị nhân dân bắt đầu có thực quyền và được quyền tham gia quyết

định các vấn đề quan trọng của đất nước

Hội đồng 400 người, đây là cơ quan có chức năng tư vấn cao cấp, giải

quyết các công việc thường ngày, chuẩn bị các vấn đề quan trọng để đưa ra quyết nghị tại Hội nghị nhân dân

Tòa án công dân là cơ quan có nhiệm vụ xét xử [57; 32]

Như vậy, qua cải cách của Solon cho thấy tổ chức bộ máy nhà nước gồm nhiều cơ quan khác nhau với những nhiệm vụ tương ứng Mặc dù chưa rõ ràng nhưng có thể nói thông qua các cuộc cải cách này, tư tưởng của ông là mầm mống của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước sau này

1.7.1.2 Tư tưởng của Clisthenes

Clisthenes, một viên quan chấp chính, là người đại diện cho tầng lớp quý tộc chủ nô mới Kế thừa thành quả của Solon, Clisthenes tiếp tục xây dựng

nhằm hoàn chỉnh thiết chế cộng hòa dân chủ và theo đúng nghĩa của nó

Trong cải cách của mình, ông thành lập thêm Hội đồng 10 tướng lĩnh; bỏ Hội đồng 400 người và thành lập Hội đồng 500 người Như vậy, để thực hiện quyền lực nhà nước, trong bộ máy nhà nước gồm có sáu cơ quan có chức năng, nhiệm vụ như sau:

Trang 14

Hội đồng trưởng lão vẫn là cơ quan nắm giữ nhiều quyền lực, nắm quyền

ban hành các quy định pháp luật đồng thời giữ nhiệm vụ trong hoạt động tế lễ

Hội nghị nhân dân là cơ quan được quyền quyết định các vấn đề quan

trọng của đất nước

Hội đồng quan chấp chính thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quân sự, tế

lễ và xét xử

Hội đồng 500 người vẫn là cơ quan tư vấn, có nhiệm vụ giải quyết các

công việc thường ngày

Hội đồng 10 tướng lĩnh nắm giữ quyền chỉ huy quân đội đồng thời là cơ

quan hành chính cao nhất

Tòa án công dân tiếp tục thực hiện công việc xét xử Để bảo vệ thiết chế

cộng hòa vừa được thành lập, Clisthenes đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò1, đây

là hình thức biểu quyết bất tín nhiệm đầu tiên trong lịch sử, lần đầu tiên ý chí của người dân được coi trọng [57; 33]

Qua phần trình bày trên cho thấy, những điểm tiến bộ của Clishtenes trong xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước cộng hòa dân chủ, ông đã có sự phân tách về mặt quyền lực rõ ràng hơn so với Solon Tuy nhiên, Clisthenes chỉ dừng lại ở mức độ tương đối, chưa thực sự rõ ràng nên thẩm quyền của các

cơ quan nhà nước vẫn còn trùng lắp và chồng chéo nhau, sự phân chia quyền

lực nhà nước cho đến thời điểm này vẫn còn mờ nhạt

1.7.1.3 Tư tưởng của Ephialtes

Theo nhận xét của Aristote, Ephialtes là một nhà chính trị trung thành

với Tổ quốc và cương trực, không ai có thể mua chuộc được Ephialtes mong

1

Hàng năm, vào mùa xuân, Hội nghị nhân dân họp phiên đặc biệt, trong cuộc họp này, mọi người đều được quyền viết tên người mà mình nghi là có âm mưu thiết lập chế độ độc tài Người nào có tên trên 6.000 phiếu sẽ bị trục xuất khỏi Hy Lạp [57; 33]

Trang 15

muốn tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, người dân phải được tham gia vào công việc công, và có quyền đối với các viên chức đại diện cho

họ Ông tiến hành cải cách mang tính dân chủ nhằm lật đổ thế lực của Hội đồng trưởng lão, đây là cơ quan mà theo Ephialtes là cơ quan phản dân chủ về thành phần cũng như về chức năng với những quyền hạn to lớn Thông qua Hội nghị nhân dân, ông đưa ra một đạo luật tước bỏ mọi quyền lực chính trị và

tư pháp của Hội đồng trưởng lão, trao các quyền này cho các cơ quan dân cử Hội đồng trưởng lão chỉ có chức năng tiến hành các nghi thức tế lễ và xét xử các vụ án tôn giáo [48; 26]

Ông thực hiện phân chia quyền lực nhà nước theo các lĩnh vực khác nhau

và trao các quyền đó cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như sau: Quyền ban hành tất cả các đạo luật, các nghị định hay còn gọi là quyền lập pháp được trao cho Hội nghị nhân dân; Hội đồng 500 người thực hiện chức năng tư vấn và giải quyết các công việc thường ngày, đây chính là quyền hành pháp và cuối cùng, quyền xét xử còn gọi là quyền tư pháp thuộc về tòa

án [45; 182]

Bên cạnh đó, ông đã bước đầu đưa ra cơ chế nhằm hạn chế sự lạm quyền của các viên chức như: các nhà lập pháp phải chịu trách nhiệm trước dân chúng đối với hậu quả do các văn bản mà họ đề nghị thông qua gây ra, họ có thể bị truy tố và xét xử về những hành vi vi phạm pháp luật Đối với các viên chức hành chính, tư pháp thì được bầu lại sau mỗi năm

Như vậy, cuộc cải cách của Ephialtes thể hiện những tiến bộ vượt bậc so với Solon và Clisthenes Ông phân chia quyền lực nhà nước thành ba loại và trao cho các cơ quan dân cử khác nhau thực hiện đồng thời xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, chống lại sự tập trung quyền lực hay nói cách khác là chống lại sự hình thành nền độc tài chuyên chế Từ đó, có thể nói rằng, tư

Trang 16

tưởng của Ephialtes thể hiện sự phân chia quyền lực nhà nước Tuy nhiên, tư tưởng của ông còn vài điểm hạn chế như chưa xây dựng mối quan hệ giữa các

cơ quan trong quá trình thực hiện cũng như cơ chế kiểm soát và ngăn cản quyền lực quá đơn giản

1.7.1.4 Tư tưởng của Aristote (384 – 322 tr.CN)

Aristote xuất thân trong một gia đình thường dân, không có vị thế về chính trị, do đó, ông có một cái nhìn khách quan về các vấn đề chính trị cũng như nhà nước Ông có kiến thức uyên thâm trong nhiều lĩnh vực đặc biệt trong

lĩnh vực chính trị, được C.Mác đánh giá là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời kì cổ

đại” và được Ph.Ăngghen tôn vinh là “khối óc toàn diện nhất trong số những nhà triết học Hy Lạp” Ông viết rất nhiều tác phẩm về chính trị cũng như

chính thể của Athens trên cơ sở nghiên cứu pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước của một số quốc gia, trong đó phải kể đến tác phẩm “Chính trị” hay

“Luận về chính quyền”, là tác phẩm thể hiện tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước đầu tiên trong lịch sử mặc dù chỉ ở mức độ sơ khai

Qua nghiên cứu và lý giải về sự xuất hiện, thay thế lẫn nhau giữa các hình thức cai trị khác nhau: quân chủ, quý tộc, dân chủ và cộng hòa, Aristote

đã thể hiện thiện cảm với hình thức cai trị theo chế độ cộng hòa Theo ông, đây là hình thức vì lợi ích chung của số đông mà quyền cai trị thuộc về một nhóm người trung lưu và cũng là hình thức tránh được mọi sự thái quá; trong hình thức này, quyền lực nhà nước không tập trung trong tay một người nhưng cũng không bị phân tán và biến dạng

Theo ông, bộ máy nhà nước phải có ba bộ phận hay ba loại cơ quan nhà

nước đó là Hội nghị nhân dân, các viên chức của nhà nước và cơ quan tòa án

Sự phân công thực hiện quyền lực nhà nước như sau:

Trang 17

Về bộ phận thứ nhất, còn gọi là Hội nghị nhân dân, ông chỉ ra các chức

năng: "quyết định về vấn đề chiến tranh và hoà bình, lập ra hoặc phá vỡ

những liên minh, ban hành các đạo luật, những án tử hình, đi đày hoặc tịch thu tài sản" 2 Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì Hội nghị nhân dân nắm quyền lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia

Về bộ phận thứ hai là các Viên chức nhà nước hay còn gọi là các Pháp

quan, là cơ quan có nhiệm vụ thi hành các quyết nghị của Hội nghị nhân dân và quản lý các công việc khác nhau của đời sống xã hội, căn cứ vào nhiệm vụ có thể xem đây là cơ quan có chức năng hành pháp Aristote cho rằng cần có nhiều Pháp quan để thực hiện quản lý trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội: tài chính quốc gia, thị trường, xây dựng, đất đai, rừng, nhà cửa, Nhưng phải có một pháp quan có địa vị pháp lý cao nhất, có thể là cá nhân hoặc tập thể có đủ quyền lực để tập hợp nhân dân lại với nhau và chỉ huy họ như là người đứng đầu của nhà nước mà ngày nay gọi là Nguyên thủ quốc gia Như vậy, Aristote đã xây dựng chế độ Nguyên thủ quốc gia với tính chất vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp [48; 38]

Về bộ phận thứ ba là cơ quan tòa án, tòa án thực hiện chức năng xét xử nên

đây là cơ quan tư pháp, Aristote xây dựng hệ thống tòa án dựa trên thẩm quyền theo vụ việc, gồm có tám loại tòa, mỗi loại tòa sẽ thực hiện chức năng xét xử đối với từng loại vụ việc khác nhau như: Tòa án trừng phạt những người gây thiệt hại cho công chúng, Tòa án giải quyết các tranh chấp liên quan đến những hợp đồng

có giá trị lớn, Tòa phân xử những người nước ngoài về những vụ giết người…

Về cách thức lựa chọn các thẩm phán, ông đưa ra nhiều cách khác nhau nhưng

2

Transleted by William Ellis: “The Politics of Aristote or A Treatise on Government”, sđd, tr.133

Trang 18

tùy theo hình thức nhà nước và từng vụ việc cụ thể mà chọn thẩm phán trong nhân dân hay trong những người đặc biệt [48;41]

Không dừng lại ở việc trình bày về chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức

và thẩm quyền của ba bộ phận trong bộ máy nhà nước, Aristote còn đề cập một

cách khái quát đến mối quan hệ giữa ba bộ phận ấy trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, Hội nghị nhân

dân có quyền giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp, có thể lựa chọn, thẩm tra tư cách đạo đức và khiển trách các pháp quan, có quyền yêu cầu các pháp quan giải thích về cách xử sự của họ trong thời gian giữ chức vụ đồng thời có quyền thẩm tra tư cách đạo đức và khiển trách các quan tòa

Thứ hai, đối với cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, có thể tham gia

vào hoạt động của cơ quan lập pháp (Hội nghị nhân dân), có thể soạn thảo và trình dự án luật trước Hội nghị nhân dân, có quyền theo dõi việc thực hiện các quyết định, bản án của cơ quan tư pháp Ngoài ra, giữa các thành viên của cơ quan hành pháp có quyền theo dõi, kiểm tra và giám sát lẫn nhau

Thứ ba, đối với cơ quan tư pháp, có quyền xét xử các pháp quan (thành

viên cơ quan hành pháp)

Qua đó cho thấy ưu điểm lớn nhất trong tư tưởng của ông là đã nhận thức khá chính xác về chế độ cộng hòa dân chủ, nơi quyền lực nhà nước được phân định rõ ràng, có sự kiềm chế và hợp tác với nhau giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình hoạt động, điểm hạn chế trong tư tưởng của Aristote là không chú trọng vào việc hoàn thiện mối liên hệ, cơ chế chịu trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước đó

1.7.1.5 Tư tưởng của Polybius (201-120 tr.CN)

Trang 19

Polybius là một quý tộc người Hy Lạp Ông tiến hành phân chia quyền lực nhà nước tương tự như Aristote, tức bộ máy nhà nước được phân chia thành ba nhánh khác nhau với những nhiệm vụ khác nhau

Ngoài ra, Polybius đi xa hơn Aristote ở chỗ ông đòi hỏi các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước phải độc lập với nhau, không được vượt quyền nhau song phải hợp tác với nhau, có như thế mới mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của bộ máy nhà nước Đây là điều kiện đảm bảo sự phân chia quyền lực nhà nước có tính thực thi, phân quyền phải đi kèm chống lấn quyền và lạm quyền Cũng tương tự như các chính trị gia trước đó, ông chưa đi sâu, phân tích

rõ vấn đề

1.7.2 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước tại La Mã

Từ thế kỷ VI đến thế kỷ I trước công nguyên, tình hình chính trị - xã hội

ở La Mã cũng tương tự như ở Athens Trong thời gian đó, để tránh lập lại chế

độ bạo quyền mà họ đã chịu đựng dưới các triều đại vua chúa, nhất là dưới triều vua Tarquin, sau khi ông bị lưu đày vào năm 509 tr.CN, người La Mã đã xây dựng nền cộng hòa với phương thức phân chia quyền lực nhà nước

Người La Mã đã phân chia bộ máy nhà nước thành nhiều loại cơ quan khác nhau như: Hội nghị công dân, Viện nguyên lão, Hội đồng quan chấp

chính, Hội đồng quan án và Viện giám sát với những chức năng, nhiệm vụ riêng biệt như sau:

Loại cơ quan nhà nước thứ nhất là Hội nghị công dân có chức năng lập

pháp Trong hội nghị công dân gồm có hai hội nghị với chức năng và quyền hạn khác nhau:

Một là, Hội nghị Xenturi còn gọi là Hội nghị quý tộc, là hội nghị theo

đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền hành lớn như giải quyết các vấn

đề về chiến tranh và hòa bình, bầu các quan chức cao cấp của nhà nước, quyết

Trang 20

định các vấn đề quan trọng của quốc gia và thông qua các dự án luật do Viện nguyên lão soạn thảo

Hai là, Hội nghị nhân dân có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề về luật

pháp, những quyết nghị của Hội nghị nhân dân có hiệu lực như pháp luật với toàn thể nhân dân La Mã Đây là hội nghị mang tính dân chủ nhất nhưng bị bọn quan lại cao cấp khống chế để hạn chế quyền lực của nó nên không thể quyết định các vấn đề quan trọng của nhà nước Vì vậy, hội nghị này chỉ mang tính hình thức

Loại cơ quan thứ hai là Viện nguyên lão, thành phần chủ yếu của cơ

quan này là những quý tộc giàu sang, có thế lực, đã từng nắm giữ các chức quan cao cấp và do Hội nghị Xenturi bầu ra Mặc dù về nguyên tắc Hội nghị Xenturi là cơ quan quyền lực cao nhất, Viện nguyên lão là cơ quan thường trực của hội nghị này, nhưng trên thực tế, các quyết định của Hội nghị Xenturi phải được Viện nguyên lão thông qua mới có giá trị, đồng thời những chức quan cao cấp thường được bầu từ thành viên Viện nguyên lão Như vậy, Viện nguyên lão mới là cơ quan có quyền lực cao nhất, được quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.3

Loại cơ quan thứ ba là Hội đồng quan chấp chính, gồm hai viên Quan

chấp chính do Hội nghị Xenturi bầu ra, là chức quan cao cấp trong hàng quan lại Hai quan chấp chính có quyền rất lớn về quân sự cũng như dân sự, vừa là tổng chỉ huy quân đội vừa là người trực tiếp điều hành mọi công việc của xã

3

Cơ quan này có quyền phê chuẩn các quan chức cao cấp mới được bầu ra; quản lý tài sản của nhà nước; đề ra và chỉ đạo thực hiện các chính sách đối nội và đối ngoại; trông coi các công việc tôn giáo; có quyền thành lập phiên tòa và điều tra sơ bộ các vụ án quan trọng; có quyền giải thích pháp luật và kiến nghị xây dựng luật mới [57; 42].

Trang 21

hội, chỉ đạo thực hiện các quyết nghị của Viện nguyên lão và Hội nghị công dân Có thể nói đây là cơ quan có chức năng hành pháp Hai viên quan này có quyền lực ngang nhau và có thể kiểm soát lẫn nhau trong quá trình hoạt động

Loại cơ quan thứ tư là Hội đồng quan án, lúc đầu chỉ có hai người sau đó

tăng lên bảy người, do Hội nghị Xenturi bầu ra Cơ quan này có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề về hình sự và dân sự, vì vậy, có thể xem đây là cơ quan có chức năng tư pháp Khi Hội đồng Quan chấp chính vắng mặt thì Hội đồng quan án có thể đảm nhiệm thêm thẩm quyền của Quan chấp chính

Loại cơ quan thứ năm là Viện giám sát hay còn gọi là Viện quan bảo

dân Cơ quan này ra đời trên cơ sở nhượng bộ của tầng lớp quý tộc đối với tầng lớp bình dân nghèo Thành viên của Viện giám sát do Hội nghị nhân dân bầu Nhiệm vụ của cơ quan này là bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp bình dân, có quyền giám sát và có ý kiến đối với những việc làm của chính quyền, có quyền phủ quyết những quyết nghị của Viện nguyên lão, có quyền bắt giữ và lấy cung quan lại và nhân viên nhà nước Tuy nhiên, quyền lực của Viện giám sát bị hạn chế rất nhiều như không được quyền can thiệp về lĩnh vực quân đội

và quyền lực này chỉ được áp dụng trong phạm vi thành thị Trong trường hợp

Tổ quốc lâm nguy, khi một trong hai quan chấp chính được cử làm Quan độc tài thì quyền lực của Viện giám sát tạm thời bị đình chỉ [57; 43]

Qua phần trình bày trên cho thấy, người La Mã thực hiện phân chia và kết hợp quyền lực một cách khéo léo trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước theo hình thức chính thể cộng hòa quý tộc chủ nô:

 Các quyền được xem như quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được tách ra và trao cho các cơ quan khác nhau thực hiện

 Trong quá trình thực hiện, giữa các cơ quan bắt đầu có sự giám sát lẫn nhau: nghị quyết của Hội nghị Xenturi phải được Viện nguyên lão thông

Trang 22

qua; Viện giám sát có quyền phủ quyết các quyết định của Viện nguyên lão, thực hiện giám sát đối với hoạt động của các cơ quan khác… nhưng cơ chế này chưa chi tiết và cụ thể

 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức, thành phần nhân sự và nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan trên cho thấy nhà nước La Mã có sự kết hợp giữa các hình thức chính thể khác nhau: chính thể cộng hòa dân chủ, chính thể cộng hòa quý tộc và chính thể quân chủ chuyên chế

Sự phân chia và kết hợp khéo léo này đã giúp La Mã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế cũng như chính trị, đó cũng là một trong những yếu tố góp phần đưa La Mã trở thành một quốc gia hùng mạnh

Cùng một giai đoạn lịch sử nhưng tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước ở Hy Lạp và La Mã có sự khác biệt Sự tiến bộ trong tư tưởng phân chia quyền lực ở La Mã thể hiện ở hai điểm sau:

 Quyền lực nhà nước được phân chia rõ ràng và cụ thể hơn

 Để đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện một cách dân chủ và công bằng, người La Mã đã xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước Đây là điểm tiến bộ nhất mà trong tổ chức bộ máy nhà nước ở

Hy Lạp chưa thực hiện được

Tóm lại, quá trình phát triển của thời kỳ cổ đại đạt được rất nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là về mặt chính trị pháp lý Các chính trị gia ở Hy Lạp và La Mã đã đóng góp rất lớn trong lĩnh vực này Tuy còn tồn tại nhiều hạn chế nhưng thành tựu lớn nhất đó là sự hình thành tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước, là tư tưởng tiến bộ nhằm xây dựng và bảo vệ nền cộng hòa dân chủ, có ý nghĩa quan trọng cho các thế hệ sau trong quá trình hoàn thiện tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và đã đặt nền tảng với

Trang 23

những hạt nhân cơ bản, tạo cơ sở vững chắc cho sự hình thành học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

1.8 TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THỜI

KỲ TRUNG ĐẠI

Từ thế kỷ V đến thế kỷ X là giai đoạn đầu của thời kỳ phong kiến ở các nước phương Tây Cũng như các nước phương Đông, trong giai đoạn này, quyền lực nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều được tổ chức theo hình thức tập quyền, quyền lực nhà nước tập trung trong tay một người gọi là vua Tất

cả các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp đều tập trung trong tay vua, bên cạnh vua còn có bộ phận quan lại nhưng chỉ là những người giúp việc cho vua

và hoạt động vì lợi ích của vua Đây là thời kỳ của sự chuyên quyền và độc đoán

Sang thế kỷ XI, trong khi xã hội phương Đông vẫn phát triển theo chế độ quân chủ chuyên chế thì ở các nước phương Tây mà đặc biệt là các nước Tây

Âu, với sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp, xã hội xuất hiện tầng lớp thị dân tiến bộ đứng lên đấu tranh với các lãnh chúa phong kiến và nhà Vua để lấy quyền tự quản cho thành thị Tuy mức độ tự trị khác nhau song mỗi thành thị đều thiết lập ra một chính quyền để tự mình quản lý

Khi tầng lớp thị dân ngày càng lớn mạnh và tiến hành đấu tranh mạnh mẽ buộc nhà vua phải thừa nhận sự tồn tại của cơ quan đại diện các đẳng cấp giàu

có trong xã hội Cơ quan này được quyền độc lập quyết định các vấn đề về thuế, kiểm tra thu chi ngân sách nhà nước… Như vậy, quyền lực của nhà vua

bị hạn chế bởi một cơ quan có vị thế và nhiệm vụ hoàn toàn độc lập – cơ quan đại diện đẳng cấp, hay nói cách khác quyền lực nhà nước có sự phân chia giữa nhà vua và cơ quan đại diện đẳng cấp

Trang 24

Tóm lại, trong thời kỳ này tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước không phát triển mạnh mẽ do bị ảnh hưởng của nền quân chủ độc tài, phản dân chủ đặc biệt là sự ảnh hưởng của tư tưởng thần quyền mà giai cấp thống trị cố tình

áp đặt đối với nhân dân

1.9 TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THỜI

KỲ CẬN ĐẠI (1604 – 1917)

1.9.1 Thời kỳ phục hưng

Trong hơn 1000 năm của "đêm trường Trung cổ", hầu như các nhà nước

ở Châu Âu đều được tổ chức theo hình thức chính thể quân chủ chuyên chế và không hề có sự tiếp nối tư tưởng phân chia quyền lực từ thời kỳ cổ đại Nhưng với sự chuyên quyền của các vua, sự khủng hoảng của nhà nước phong kiến, cũng như sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo nên tiền đề cho cuộc các mạng tư tưởng sau này

Bối cảnh chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản và ảnh hưởng của phong trào phục hưng đã tạo ra nhiều quan điểm mới về nhà nước, cũng như về vai trò của nhà nước trong đời sống xã hội Các nhà tư tưởng cho rằng phải đề cao vai trò của pháp luật và sự tuân thủ pháp luật trong tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải phân chia quyền lực nhà nước

Vị trí trung tâm của các quan điểm này là xoay quanh vấn đề về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: làm sao để loại trừ sự độc đoán quyền lực trong tay một người hay một nhóm người, làm sao để bảo vệ được quyền tự do, bình đẳng của mọi cá nhân trong xã hội bằng pháp luật ?

Mặc dù trong thời kỳ này học thuyết phân chia quyền lực nhà nước không được tiếp tục hoàn thiện nhưng yếu tố xã hội đã tác động rất lớn đối với tư

Trang 25

tưởng của người dân mà đặc biệt là các chính trị gia, điều này có vai trò hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy sự trở lại của tư tưởng phân chia quyền lực và sự hình thành học thuyết phân chia quyền lực nhà nước trong thời kỳ khai sáng

1.9.2 Thời kỳ khai sáng

Tuy có nguồn gốc sâu xa từ thời kỳ cổ đại nhưng tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước chỉ được trình bày một cách có hệ thống, toàn diện và trở thành học thuyết chính trị pháp lý trong thời kỳ khai sáng Học thuyết này gắn

liền với các tên tuổi như: John Locke, Montesquieu, Rousseau

1.9.2.1 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của John Locke (1632-1704)

Ông là một bác sĩ kiêm triết gia người Anh vĩ đại, là một trong những người đi tiên phong trong phong trào chống chủ nghĩa chuyên chế tập quyền, kiên quyết đòi phải hạn chế quyền lực của nhà nước, quyền lực của nhà vua và ông cho rằng tổ chức nhà nước theo hình thức quân chủ lập hiến là thích hợp nhất để bảo vệ các quyền tự nhiên của con người

Tác phẩm “Hai chuyên luận về chính quyền” là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của nền triết học chính trị và chính trị học nhân loại, chính là nơi Locke thể hiện tư tưởng về hạn chế quyền lực nhà nước; về nội dung, phạm vi giới hạn của từng quyền; vị trí và mối quan hệ giữa các loại quyền lực nhà nước, ông đã đưa ra học thuyết của mình về nhà nước - một học thuyết đan xen các tư tưởng khế ước xã hội và phân chia quyền lực

 Về sự phân quyền, theo ông, để chống lại chế độ chuyên chế tập

quyền, quyền lực nhà nước phải chia làm ba loại: quyền lập pháp, quyền hành

pháp và quyền liên bang [54; 267] Cả ba loại quyền này đều do nhân dân ủy

quyền cho nhà nước hay nói cách khác, nhà nước nhận được các quyền lực đó

từ nhân dân thông qua việc chuyển nhượng bằng khế ước Do đó, cả quyền lực

Trang 26

nhà nước nói chung và từng loại quyền lực nhà nước nói riêng đều phải bị giới hạn bởi những điều khoản của khế ước đó

Về quyền lập pháp, ông cho rằng quyền lập pháp không những là quyền

lực tối cao, mà còn là quyền lực thiêng liêng và nên trao quyền này cho Nghị viện [54; 267] Tuy nhiên, đây chỉ là quyền tối cao trong số các quyền lực nhà nước, không phải là tối cao trong xã hội

Cơ quan lập pháp là cơ quan duy nhất có quyền ban hành pháp luật, nếu không có sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp - cơ quan đại diện cho cộng đồng

xã hội, thì một đạo luật không thể có giá trị pháp lý Đồng thời, mọi thành viên trong xã hội đều phải tuân thủ những quy định của luật mà cơ quan lập pháp

đã ban hành

Về quyền hành pháp, nếu như cơ quan lập pháp không hiện diện thường

xuyên thì việc thực hiện những đạo luật, những nghị quyết đã được ban hành luôn cần tồn tại một cơ quan thường trực, đó chính là cơ quan thực hiện quyền hành pháp Theo Locke, phải có một cá nhân đứng đầu cơ quan hành pháp thực hiện chức năng lãnh đạo, đó chính là nhà Vua Nhà Vua hoạt động theo khuôn khổ của pháp luật, có toàn quyền trong việc lựa chọn thành viên cho cơ quan hành pháp như bổ nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng và các quan chức khác Tuy nhiên, nhà Vua không có đặc quyền nhất định nào đối với Nghị viện nhằm tránh trường hợp nhà Vua thâu tóm quyền lực [54; 267]

Locke cho rằng quyền lực luôn có sức hấp dẫn đối với con người nên con người dễ bị cám dỗ bởi quyền lực và có xu hướng chiếm giữ nó Vì vậy, ông đòi hỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp phải được chia tách và do hai chủ thể khác nhau nắm giữ Nếu quyền lập pháp và hành pháp do một chủ thể nắm giữ thì chủ thể đó có thể không tuân thủ những đạo luật do chính họ ban hành, việc ban hành ra những đạo luật và thực thi các đạo luật đó chỉ thuận lợi cho

Trang 27

lợi ích cá nhân họ, đó cũng là một trong những biểu hiện của chế độ tập quyền chuyên chế, một chế độ mà Locke hoàn toàn phản đối

Về quyền liên bang, ông cho rằng quyền lực này “bao hàm quyền lực về

chiến tranh và hòa bình, tạo liên minh và lập đồng minh, cũng như tất cả mọi giao kết khác, với mọi cá nhân và cộng đồng, bên ngoài cộng đồng quốc gia”

[50; 201] Giải thích cho nguồn gốc của quyền liên hiệp, Locke chỉ ra rằng trong trạng thái tự nhiên, con người có những mối liên hệ với các cá nhân khác, bởi vậy, khi đã liên kết lại với nhau thành xã hội - cộng đồng quốc gia thì phải có mối quan hệ với cộng đồng quốc gia khác

Theo Locke, dù quyền hành pháp và quyền liên bang rất khác nhau, vì một thứ là sự thực thi các đạo luật đã có ở bên trong cộng đồng quốc gia đối với những thành viên của nó, còn một thứ là sự bảo đảm an ninh và lợi ích của các cá nhân cũng như toàn thể cộng đồng trong mối liên quan bên ngoài với các cá nhân và cộng đồng khác, nhưng thực chất chúng luôn thống nhất với nhau và khó chia tách nên khó có thể trao những quyền lực này cho những người khác nhau đảm nhiệm.4

Để thực hiện hai quyền lực này đều cần đến lực lượng xã hội và phải được thực hiện một cách thống nhất, nếu trao chúng cho những người khác nhau thì nhân dân phải theo những mệnh lệnh khác nhau và đến một lúc nào đó sẽ dẫn đến sự hỗn loạn và sụp đổ Vì vậy, hai quyền lực này phải được trao cho cùng một người, tại cùng một thời điểm và người này phải phụ thuộc vào quyền lực lập pháp, theo ông thích hợp nhất là trao hai quyền lực này cho nhà Vua

Trang 28

 Bên cạnh phân chia quyền lực nhà nước, ông còn chú trọng đến việc kiềm chế, đối trọng và hợp tác giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và liên bang để tránh sự lạm quyền và nhằm nâng

cao hiệu quả hoạt động trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước:

Thứ nhất, về mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và nhân dân, mặc dù

cơ quan nắm quyền lập pháp có rất nhiều quyền lực nhưng không có quyền cao nhất một cách tuyệt đối mà bị hạn chế bởi một số điều kiện nhất định, Locke đã vạch ra những ranh giới mà cơ quan lập pháp không được phép vượt qua:

Một là, cơ quan lập pháp không được và không thể tuyệt đối chuyên

quyền đối với nhân dân Nhân dân trao quyền lập pháp cho cơ quan lập pháp

là vì lợi ích chung của xã hội và để bảo vệ cho cuộc sống và tài sản của họ Vì vậy, cơ quan lập pháp không thể xâm phạm đến tính mạng hay sức khỏe của người khác mà không có lý do chính đáng

Hai là, quyền lập pháp phải là quyền lực thống trị bằng những văn bản

luật đã được ban hành, đang có hiệu lực và đã trải qua xem xét của tòa án Đây

là nguyên tắc để ngăn chặn sự độc đoán, chuyên quyền của cơ quan lập pháp Chỉ khi luật được minh định thì con người mới biết đâu là quyền, đâu là nghĩa

vụ của mình

Ba là, cơ quan lập pháp không có quyền tước đoạt tài sản của bất kì một

người nào mà không có sự đồng ý của người đó

Bốn là, cơ quan lập pháp không thể chuyển giao quyền làm luật vào tay

bất kỳ ai khác, bởi theo khế ước, các cá nhân trong xã hội đã trao quyền lực

vào cơ quan lập pháp với nhiệm vụ “để làm luật mà không phải là để làm nên

các nhà lập pháp, do đó, cơ quan lập pháp không có quyền gì để chuyển giao

Trang 29

thẩm quyền làm luật của họ và đặt nó vào tay người khác” [50; 196] Chỉ có

nhân dân mới có quyền lựa chọn và thay đổi chủ thể của quyền lập pháp Như vậy, quyền lập pháp chỉ là quyền được ủy thác từ nhân dân, hoạt động nhằm những mục đích nhất định nên nó là loại quyền lực phụ thuộc vào nhân dân - chủ thể thực sự của quyền lực nhà nước Nhân dân có quyền cách chức, thay đổi nhân viên của cơ quan lập pháp khi bất tín nhiệm

Thứ hai, trong hoạt động lập pháp, cơ quan hành pháp có những quyền hạn sau:

Một là, khi một đạo luật được cơ quan lập pháp ban hành thì phải được

nhà Vua - đứng đầu cơ quan hành pháp thông qua mới có hiệu lực pháp luật

Hai là, cơ quan hành pháp có quyền triệu tập cơ quan lập pháp Việc trao

quyền triệu tập cơ quan lập pháp cho cơ quan hành pháp không có nghĩa làm cho quyền hành pháp cao hơn quyền lập pháp mà chỉ để bảo vệ quyền lợi của nhân dân khi những quy định của pháp luật không còn phù hợp với điều kiện hiện tại Cơ quan hành pháp chỉ được thực hiện quyền này khi hiến pháp quy định hoặc là cho phép cơ quan hành pháp được quyền triệu tập cơ quan lập pháp ngoài quy định của pháp luật khi có lý do chính đáng như cần ban hành ngay một điều luật mới, sửa đổi hay bãi bỏ ngay một điều luật cũ hoặc nhu cầu cấp bách của xã hội

Ba là, cơ quan hành pháp được quyền điều chỉnh số lượng đại diện cho

mỗi địa phương trong cơ quan lập pháp theo thời gian để đảm bảo công bằng

và bình đẳng nhưng sự điều chỉnh này phải được sự đồng ý của nhân dân

Bốn là, Locke khẳng định rằng quyền hành pháp dù chỉ là quyền lực

được ủy thác để thực thi các đạo luật của cơ quan lập pháp nhưng không phải lúc nào cơ quan hành pháp cũng phải nhất nhất tuân thủ theo quyết định và luật pháp của cơ quan lập pháp, mà trong một số trường hợp nó có thể giải

Trang 30

quyết tự do theo ý chí riêng của nó Locke gọi đó là đặc quyền hành động của

cơ quan hành pháp Có đặc quyền này bởi không phải lúc nào cơ quan lập pháp cũng có thể tiên liệu hết những vấn đề của xã hội, nên cơ quan hành pháp

tự giải quyết theo ý mình, vì mục đích cuối cùng vẫn là lợi ích của nhân dân

Do đó, trong một số trường hợp, cơ quan hành pháp có thể giải quyết các vụ việc theo hướng khác, thậm chí là đi ngược lại với quy định trong pháp luật

Thứ ba, trong hoạt động hành pháp, nhà Vua là người nắm giữ quyền

hành pháp tối cao và quyền liên bang nhưng để tránh trường hợp nhà Vua thâu tóm quyền lực thì nhà Vua phải phụ thuộc vào cơ quan lập pháp, chịu trách nhiệm trước cơ quan lập pháp và có thể bị thay đổi, cách chức bởi cơ quan lập pháp [49; 55]

Ngoài ra, trong tư tưởng của Locke còn thể hiện một điểm tiến bộ đó là

sự thừa nhận nhân dân có quyền cầm vũ khí chống lại chính quyền khi chính quyền xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Tóm lại, ta có thể khẳng định tư tưởng phân quyền của Locke là một bước phát triển hơn hẳn so với các học giả thời kỳ cổ đại ở Hy Lạp và La Mã Ông đã kế thừa một cách có chọn lọc và biết phát huy theo chiều hướng tích cực Ngoài phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên bang, ông còn xây dựng cơ chế kiểm tra phối hợp giữa các

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lực đó nhằm hạn chế đến mức tối đa sự chuyên quyền và quản lý nhà nước có hiệu quả cao Những tư tưởng phân chia quyền lực của Locke sẽ là nền tảng đầu tiên vững chắc cho các học giả tư sản về sau tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

Điểm hạn chế trong tư tưởng của Locke là chỉ chú trọng đến quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên bang mà chưa đề cập và phân tách

Trang 31

quyền tư pháp; quan hệ hợp tác giữa các cơ quan nhà nước chưa thể hiện rõ nét

1.9.2.2 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của Montesquieu (1689-1755)

Charles de Secondat Montesquieu sinh ra trong một gia đình quý tộc người Pháp Ông là một nhà khai sáng vĩ đại của nước Pháp nói riêng và của thế giới nói chung Montesquieu đã phát triển một cách toàn diện học thuyết phân chia quyền lực nhà nước, sau này, khi nhắc tới học thuyết phân quyền người ta thường nghĩ đến tên tuổi của ông

Bàn về Tinh thần pháp luật - viên ngọc sáng trong kho tàng lý luận về

khoa học pháp lý cũng như triết học và nhiều môn khoa học xã hội khác của nhân loại, là tác phẩm đồ sộ nhất và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất của Montesquieu, là nơi ông thể hiện một cách sâu sắc toàn bộ tư tưởng của mình

Thành tựu to lớn nhất của Bàn về Tinh thần pháp luật chính là tư tưởng phân chia quyền lực Đây là vấn đề được Montesquieu tập trung thể

hiện trong chương 6 thuộc quyển 11, qua đó ta có thể dễ dàng nhận ra nhiều

sự tiếp thu, kết nối với tư tưởng phân quyền của Locke Ngay từ dòng đầu tiên

của chương này, Montesquieu đã khẳng định có ba loại quyền lực trong mỗi

nhà nước mà ngày nay gọi là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp5

điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự Với quyền lực thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn,

và huỷ bỏ hay sửa đổi các luật này Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược Với quyền lực thứ ba,

Trang 32

Ông cho rằng quyền lực nhà nước phải được phân chia để tránh sự chuyên quyền và độc tài; để mang lại tự do, công bằng và dân chủ cho nhân dân; để bảo vệ được quyền lợi của dân chúng6

Về quyền lập pháp, cũng giống như Locke, Montesquieu đặc biệt chú

trọng tới cơ quan lập pháp tuy nhiên ông không thừa nhận đây là cơ quan quan trọng nhất Ông cho rằng, trong một nước tự do thì mọi người dân cũng được tự do, do đó, họ có quyền tự quản và quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, nhân dân phải nắm quyền lập pháp

Nhưng theo ông, nếu mọi người dân đều tham gia vào công việc lập pháp như trong Hội nghị công dân của các nhà nước dân chủ thời cổ đại thì hoàn toàn không thích hợp và hiệu quả không cao Bởi vậy, tốt nhất dân chúng chỉ nên tham gia vào công việc của nhà nước bằng cách bầu chọn ra những người đại diện cho mình Cơ quan đại diện nhân dân – cơ quan lập pháp sẽ có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, khi cần giải quyết những công việc cấp bách, cơ quan đại diện nhân dân

nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân Người ta

sẽ gọi đây là quyền tư pháp, vì trên kia là quyền hành pháp quốc gia” [45; 105]

nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết” [45; 106]

Trang 33

không cần thiết phải hỏi ý kiến nhân dân nhưng sau đó phải báo cáo công việc với nhân dân

Montesquieu cho rằng cơ quan đại diện cho nhân dân gồm có hai bộ phận: Viện quý tộc (gồm các đại diện của tầng lớp quý tộc) và Viện thứ dân (gồm các đại diện của toàn thể dân chúng)

Cơ quan lập pháp có hai chức năng: chức năng quy định và chức năng

ngăn cản Trong đó, “chức năng quy định là quyền tự mình ra lệnh, hoặc tự

mình sửa lại điều mà người khác ra lệnh” còn “chức năng ngăn cản là quyền làm cho quyết định của người khác trở thành vô hiệu” [45; 113] Viện quý tộc

chỉ được tham gia vào hoạt động lập pháp với chức năng phê chuẩn hoặc ngăn cản chứ không có chức năng quy định, quyền quy định thuộc về Viện thứ dân

để đảm bảo nguyên tắc quyền lực chủ yếu thuộc về nhân dân

Về quyền hành pháp, Montesquieu cho rằng quyền hành pháp tối cao

nên thuộc về nhà vua hay nói cách khác là cơ quan hành pháp hoạt động theo chế độ thủ trưởng lãnh đạo Xuất phát từ bản chất của quyền hành pháp là thực hiện quản lý mọi mặt trong đời sống xã hội thường ngày, luôn cần đến những hành động tức khắc, kịp thời, nếu phải qua một cuộc họp bàn thì quyết định đưa ra thường đã muộn hơn yêu cầu thực tế, do đó, Montesquieu muốn tạo ra tính linh hoạt cho cơ quan hành pháp Ông cũng khẳng định nhà Vua nắm quyền bằng con đường thế tập chứ không phải do được bầu chọn ra; nếu được nghị viện bầu ra thì đó thường là người trong nghị viện, như thế thì quyền hành pháp và lập pháp không độc lập với nhau

Về vấn đề quân đội, Montesquieu cho rằng nó phải nằm dưới sự quản lý của cơ quan hành pháp chứ không phải của cơ quan lập pháp, như thế mới hợp với bản chất của quân đội là hành động chứ không phải là bàn cãi

Trang 34

Về quyền tư pháp, Montesquieu cho rằng nên giao cho những người

được nhân dân bầu chọn ra Hằng năm, nhân dân sẽ bầu chọn thẩm phán theo trình tự và thủ tục luật định với nhiệm kỳ là một khoảng thời gian nhất định Cơ chế này đảm bảo quyền tư pháp hoàn toàn độc lập và không bị phụ

thuộc vào cơ quan hay chức vụ nào Ông còn yêu cầu Thẩm phán phải là

người ngang địa vị hoặc cùng đẳng cấp với bị cáo để bị cáo không nghĩ họ đang nằm trong tay những kẻ sẵn sàng hại mình [45;103]

Bên cạnh phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh quyền lực riêng biệt, có chức năng và nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau, Montesquieu còn xây dựng cơ chế kiềm chế, đối trọng giữa các cơ quan nhà nước nhằm tránh sự lạm quyền và độc quyền dựa trên nguyên tắc quyền lực ngăn cản quyền lực:

Thứ nhất, trong hoạt động lập pháp, cơ quan hành pháp có quyền ngăn

cản cơ quan lập pháp, bởi nếu không cơ quan lập pháp sẽ trở thành chuyên quyền, sẽ tạo ra những đạo luật để tự ban cho mình mọi thứ quyền hành và

xoá bỏ các quyền lực khác Ông khẳng định: “quyền lực hành pháp phải vận

dụng chức năng ngăn cản để tham gia việc lập pháp, nếu không nó sẽ bị tước mất ưu quyền Nhưng trái lại, nếu quyền lực lập pháp tham gia vào việc hành pháp thì quyền hành pháp sẽ bị thủ tiêu” [45; 117] Ông chỉ rõ cơ quan hành

pháp chỉ thực hiện việc ngăn cản thông qua quyền phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết nghị của cơ quan lập pháp mà không được tham gia bàn cãi7

7“Quyền hành pháp chỉ tham gia việc lập pháp bằng chức năng ngăn cản, chứ không chen

vào bàn cãi công việc, mà cũng không phải làm các kiến nghị” [45; 117].

Trang 35

Thứ hai, trong hoạt động hành pháp, cơ quan lập pháp được quyền theo

dõi, giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp trong việc thực hiện các quyết nghị mà mình đưa ra Tuy nhiên, cơ quan lập pháp không có quyền phán xét trách nhiệm và đức hạnh của người có quyền hành pháp tối cao – nhà Vua, điều này vừa đảm bảo cơ quan lập pháp không trở nên chuyên quyền vừa đảm bảo quyền lực của thủ trưởng cơ quan hành pháp

Thứ ba, trong hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp phải là cơ quan độc

lập không nên kết hợp với bất cứ bộ phận nào của của cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Tuy nhiên, vì nhiệm vụ của cơ quan tư pháp chủ yếu là thực hiện hoạt động xét xử nên để bảo vệ quyền lợi của người bị xét xử ông đặt ra những ngoại lệ cho phép cơ quan tư pháp được quyền kết hợp với các cơ quan khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, cụ thể: khi một người thuộc giai cấp quý tộc bị truy tố và xét xử thì Thẩm phán phải là người thuộc Viện quý tộc Quy định này đảm bảo quyền tự do của công dân là được xét xử bởi những người cùng đẳng cấp

Viện quý tộc được quyền xét xử lại tất cả các vụ án do Tòa tối cao xét xử

mà bị kháng án và khi một quan chức nào đó vi phạm quyền lợi của nhân dân

mà các Thẩm phán không xét xử thì Viện thứ dân có quyền tố cáo sự việc trước Viện quý tộc

Cơ quan hành pháp có thể tham gia vào hoạt động tư pháp trong những trường hợp như: cơ quan hành pháp có quyền ra lệnh bắt giam một số người khi phạm một số tội nhất định

Qua phân tích về tư tưởng của Montesquieu về phân chia quyền lực nhà nước, nhận thấy có những vấn đề cần lưu ý như sau:

Thứ nhất, ông đã kế thừa tư tưởng của John Locke về quan điểm quyền

lực nhà nước:

Trang 36

Một là, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực tối cao

thuộc về nhân dân

Hai là, quyền lực nhà nước phải được phân chia thành các nhánh quyền

lực khác nhau

Ba là, cần xây dựng mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong quá

trình thực hiện chức năng của mình

Thứ hai, trên cơ sở kế thừa đó, ông đã phát huy và gần như hoàn thiện

học thuyết phân chia quyền lực nhà nước, những ưu điểm nổi bật trong tư tưởng của ông có thể kể ra là:

Một là, ông đã tách bạch quyền lực nhà nước thành ba loại quyền khác

nhau, ông tiến bộ hơn Locke ở chỗ đã tách hẳn quyền tư pháp ra khỏi hai nhánh quyền lập pháp và hành pháp, ba nhánh quyền này hoạt động tương đối độc lập với nhau

Hai là, nguyên tắc quyền lực ngăn cản quyền lực đã được ông vận dụng

một cách triệt để và cụ thể hơn hẳn so với những nhà tư tưởng đi trước nhằm nâng cao hiệu quả đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất sự lạm quyền của các

cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng của mình

Thứ ba, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, tư tưởng của ông vẫn còn

một số hạn chế nhất định như: có sự phân biệt giữa tầng lớp quý tộc và thường dân, chủ trương đề cao các đặc quyền của tầng lớp quý tộc hay nói cách khác

là ông mang nặng tư duy bảo thủ phong kiến

Qua phân tích trên cho thấy tư tưởng của Montesquieu đã tiến bộ vượt trội so với tư tưởng của các chính trị gia trước đó Ông đã thành công trong việc trình bày một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về học thuyết phân chia quyền lực nhà nước Mặc dù vẫn còn hạn chế nhưng tư tưởng của ông vẫn là nền tảng nòng cốt cho học thuyết phân chia quyền lực ngày nay đã và

Trang 37

đang được áp dụng rộng rãi trong tổ chức bộ máy nhà nước ở nhiều quốc gia như Anh, Mỹ Có thể khẳng định sau Aristote 1300 năm, với Charles de Secondat Montesquieu, tư tưởng phân chia quyền lực đã hồi sinh trở lại, và với lần trở lại này nó đã thực sự trở thành một học thuyết đầy đủ, trọn vẹn và hoàn hảo Montesquieu xứng đáng được mệnh danh là cha đẻ của tư tưởng phân quyền hiện đại

1.9.2.3 Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của Jean Jacques Rousseau (1712-1778)

Jean Jacques Rousseau là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nước Pháp đã góp phần hoàn thiện học thuyết phân chia quyền lực nhà nước

Bàn về Khế ước xã hội của Jean Jacques Rousseau là một tác phẩm đã

tạo ra sự chuyển biến lớn lao trong xã hội và đã trở thành di sản trí tuệ quý báu cho nhiều thế hệ Qua tác phẩm, ông đã trình bày một cách rất hoàn thiện về học thuyết khế ước xã hội: xã hội và nhà nước ra đời không phải do ý muốn của thần thánh mà do những con người liên kết lại với nhau thông qua một bản khế ước Theo khế ước, xã hội và nhà nước chỉ có thể tồn tại trong mối quan hệ hai chiều Một khi nhà nước vi phạm những nguyên tắc của khế ước

xã hội, lạm quyền, chà đạp lên quyền lợi của nhân dân thì nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và thiết lập một bản khế ước mới, tạo dựng một nhà nước mới

mà họ cho là phù hợp hơn và vì lợi ích của họ hơn

Dù nội dung chủ yếu của tác phẩm là trình bày về học thuyết khế ước

xã hội, nhưng bên cạnh đó, Rousseau đã đưa ra những quan điểm rất mới

mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Mặc dù ông cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất, thuộc về nhân dân và không thể phân chia nhưng ông vẫn thừa nhận sự tồn tại các quyền lập

Trang 38

pháp, hành pháp, tư pháp8

và phân quyền là phương cách tốt nhất để ngăn

chặn sự lạm quyền, ông đưa ra dẫn chứng: “ La Mã đến thời cực thịnh thì bắt

đầu quy vào cho một số người cả quyền lập pháp và quyền cai trị tối cao; từ

đó nảy sinh các tệ nạn độc đoán chuyên quyền và nhà nước La Mã cổ đại bước dần vào chỗ suy vong”[49; 82]

Khi nói về sự phân tách quyền lập pháp và quyền hành pháp, ông viết:

“Cơ thể chính trị cũng có những động lực như thế: sức mạnh và ý chí Một cái gọi là quyền lực lập pháp; cái kia gọi là quyền lực hành pháp Không có cái gì tự làm hoặc phải làm mà không dựa vào thứ quyền lực ấy” [49; 81] Như

vậy có thể thấy, quyền lập pháp thực chất là ý chí và quyền hành pháp thực chất

là sức mạnh của một cơ thể chính trị duy nhất, của quyền lực tối cao

Về quyền lập pháp, theo Rousseau, quyền lực lập pháp thuộc về nhân

dân và chỉ có thể thuộc về nhân dân [49; 122] Do đó, Hội nghị toàn dân gồm toàn thể nhân dân tham gia một cách trực tiếp là cơ quan có chức năng lập pháp, ông cho rằng quyền lập pháp không thể thực hiện theo chế độ đại diện, các đại biểu đại diện cho nhân dân chỉ có thể là những viên chức chấp hành,

họ không thể thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, nếu để cho họ quyết định thì quyền tự do của nhân dân không còn nữa, sau khi bầu cử nhân dân sẽ trở thành nô lệ

Về hoạt động của cơ quan lập pháp, Hội nghị toàn dân có thẩm quyền ban hành Hiến pháp và pháp luật, có quyền thành lập ra chính phủ và bầu ra các vị pháp quan Hội nghị này hoạt động theo kỳ họp định kỳ và cứ đến hạn, nhân dân tự giác về dự họp mà không cần triệu tập Đối với cuộc họp của Hội

nhưng trên thực tế người ta vẫn chia tách nó trong đối tượng Họ chia nó thành lực lượng

và ý chí, thành quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp, thành quyền quan thuế, quyền

tư pháp, quyền chiến tranh, thành cai trị đối nội và ứng phó đối ngoại” [49; 27]

Trang 39

nghị toàn dân thì không ai được quyền trì hoãn hay xóa bỏ Khi có trường hợp khẩn cấp hoặc có những vấn đề nằm ngoài chương trình dự kiến của quốc gia thì Hội nghị toàn dân có thể họp bất thường để giải quyết

Về quyền hành pháp, Rousseau trao cho Chính phủ Chính phủ có chức

năng thi hành các quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền lợi nhân

dân Chính phủ là một cơ quan gồm những người do nhân dân ủy quyền trong

đó có một người giữ chức năng lãnh đạo – Thủ tướng Về bản chất, quyền lực của Chính phủ chỉ là một cơ quan thực hành Nhưng người này không phải là ông chủ của nhân dân mà chỉ là những công chức, thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của nhân dân và không được đặt điều kiện với nhân dân, nhân dân hoàn toàn có quyền bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm họ

Tư tưởng phân quyền được thể hiện một cách gián tiếp khi ông khẳng định quyền hành pháp không thể trao vào tay cơ quan thực hiện quyền lập pháp9 Quyền lập pháp và hành pháp không thể do cùng một chủ thể nắm giữ Tuy nhiên, trong trường hợp khủng hoảng có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của đất nước thì một hoặc hai thành viên của Chính phủ có thể tập trung cả hai loại quyền lực này trong tay họ để quản lý, điều hành đất nước nhưng không được kéo dài quá một năm nhằm tránh sự hình thành chế độ quân chủ chuyên chế

Về quyền tư pháp, ông đề cao tầm quan trọng của cơ quan tư pháp, đây

là cơ quan có vai trò “đặt mỗi bộ phận” của nhà nước “vào đúng chỗ của nó,

làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa chính phủ với nhân dân, hoặc

cao, bởi lẽ quyền hành pháp chỉ liên quan đến những điều khoản cụ thể, không thuộc về thẩm quyền của luật cơ bản hoặc của cơ quan quyền lực tối cao” [49; 122].

Trang 40

giữa chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy khi cần”

[49; 218] Như vậy, ông đặc biệt đề cao vai trò và vị trí của cơ quan tư pháp Nhiệm vụ của cơ quan tư pháp là bảo tồn luật pháp và quyền lập pháp Một nhà nước có thể chế tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào cơ quan tư pháp Một cơ quan tư pháp hoạt động thông minh sẽ là chỗ dựa vững chắc cho một thể chế tốt, các vế cơ quan quyền lực tối cao, chính phủ và nhân dân được giữ ổn định ở vị trí của mình

Trong hoạt động kiềm chế và ngăn cản giữa các nhánh quyền lực, ông cho rằng quyền lập pháp thuộc về nhân dân nên không cần hạn chế quyền của cơ quan lập pháp và ông chỉ quan tâm, chú trọng đến sự hạn chế quyền lực của cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong hoạt động hành pháp, khi Chính phủ lạm quyền hoặc

thoái hóa thì nhân dân có quyền giải tán Chính phủ trong hai trường hợp:

Một là, khi người đứng đầu Chính phủ không quản lý nhà nước theo

pháp luật mà lấn át quyền lực của cơ quan lập pháp – cơ quan nhà nước tối cao

Hai là, khi các thành viên của Chính phủ thoán đoạt quyền hành một

cách riêng lẽ, gây xáo trộn hoạt động quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến sự bình ổn của quốc gia và quyền lợi của nhân dân

Thứ hai, trong hoạt động tư pháp, để hạn chế sự lạm quyền của cơ quan

tư pháp phải quy định thời hạn hoạt động của nó Hết thời hạn, các pháp quan trở lại làm người dân bình thường và dân chúng lại tổ chức bầu cử ra các pháp quan mới Cơ chế bầu cử này đảm bảo cho các pháp quan được bầu ra theo luật sẽ chỉ dựa vào luật mà làm việc chứ không phụ thuộc vào người khác nếu theo cơ chế chỉ định Điều này tạo nên sự độc lập trong hoạt động của cơ quan

tư pháp

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Vũ Hồng Anh (2004), “Đổi mới tổ chức và hoạt động Chính phủ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, (4(59)/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động Chính phủ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Năm: 2004
5. Nguyễn Bá Chiến (2006), “Về thuật ngữ "pháp quyền" trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (8/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thuật ngữ "pháp quyền" trong nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Bá Chiến
Năm: 2006
6. Nguyễn Đức Chính (2009), “Việc thực hiện quyền trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật của đại biểu Quốc hội”, Website đại biểu nhân dân thành phố Hồ Chí Minh http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc thực hiện quyền trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật của đại biểu Quốc hội”
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2009
7. Nguyễn Mạnh Cường (2002), “Yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền đối với đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (10T10/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền đối với đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 2002
8. Nguyễn Đăng Dung (2007), “Bàn thêm về vấn đề Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhƣng có sự phân công và phối kết hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (6(43)/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhƣng có sự phân công và phối kết hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2007
9. Nguyễn Đăng Dung (2007), “Đặc trƣng của chính thể cộng hòa tổng thống”, Website Lãnh đạo trong kỷ nguyên mới – Báo điện tử Vietnamnet www.lanhdao.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trƣng của chính thể cộng hòa tổng thống”
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2007
10. Nguyễn Đăng Dung (2009), “Cải cách tƣ pháp trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (2(203)/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tƣ pháp trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2009
11. Trần Thái Dương (2006), “Suy nghĩ về học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (1(35)/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Trần Thái Dương
Năm: 2006
12. Nguyễn Minh Đoan (2007), “Nguyên tắc Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (5(229)/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2007
13. Nguyễn Minh Đoan (2008), “Bàn thêm về sự phân công, phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 9-2008 (số 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về sự phân công, phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2008
14. Trần Văn Độ (2003), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (11/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2003
15. Trần Ngọc Đường (2005), “Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội nước ta hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (11(63)T11/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội nước ta hiện nay”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2005
16. Trần Ngọc Đường (2007), “Cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (1(122)/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2007
17. Trần Ngọc Đường (2009), “Tìm hiểu nguyên tắc "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp"”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (2+3(139+140)T1/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguyên tắc "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2009
18. Nguyễn Văn Hiện (2004), “Một số vấn đề về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (60/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Văn Hiện
Năm: 2004
19. Nguyễn Thị Hồi (2003), “Kinh nghiệm của một số nước về kiểm soát quyền lực nhà nước”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (6/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của một số nước về kiểm soát quyền lực nhà nước”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Hồi
Năm: 2003
20. Lê Quốc Hùng (2003), “Quyền lực nhà nước thống nhất và phân công”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (2T2/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lực nhà nước thống nhất và phân công”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Lê Quốc Hùng
Năm: 2003
21. Phạm Văn Hùng (2008), “Tòa án và vấn đề cải cách tƣ pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (19(135)T11/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án và vấn đề cải cách tƣ pháp”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Phạm Văn Hùng
Năm: 2008
22. Phạm Tuấn Khải (2005), “Quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội trong hoạt động xây dựng pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (8/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội trong hoạt động xây dựng pháp luật”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Phạm Tuấn Khải
Năm: 2005
61. Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia http://vi.wikipedia.org/wiki/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w