Vì vị thế yếu hơn trong các mối quan hệ, đối với quan hệ lao động pháp luật lao động Việt Nam có Chương X: Những quy định riêng về lao động nữ gồm 8 điều từ Điều 153 đến Điều 160 và các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ TRUNG HIẾU
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ - THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ NIÊN KHÓA 2010-2014
Người hướng dẫn: ThS Bùi Thị Kim Ngân
Giảng viên khoa Luật Dân sự
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT HỌC Chuyên ngành: luật Dân sự
Giảng viên hướng dẫn:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Là một sinh viên Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh suốt bốn năm được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giảng viên, tích góp được một lượng kiến thức cũng như kĩ năng sống nhất định, được giáo dục cả về kiến thức lẫn đạo đức Luận văn tốt nghiệp như một bài báo cáo về kết quả mà cá nhân em học hỏi được trong quá
trình học tập tại trường bên cạnh sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Cô: Bùi Thị
Kim Ngân Em xin cam kết tất cả nội dung của công trình này hoàn toàn là giá trị lao
động, tìm tòi, học hỏi của bản thân em trên cơ sở có sự tham khảo công trình của những người nghiên cứu trước, những nguồn thông tin và số liệu đưa ra có nguồn gốc
rõ ràng, trung thực Em xin cam kết bài nghiên cứu chưa từng được công bố trước đây
Do kiến thức và kinh nghiệm bản thân còn nhiều hạn chế nên công trình nghiên cứu của em còn nhiều thiếu sót, hi vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè để có thể hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 6 năm 2014
Tác giả Phạm Thị Trung Hiếu
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
(Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc)
Nghị định 95/2013/NĐ-CP
Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm
Thông tư 26/2013/TT-BLĐTBXH
Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 10 năm 2013 Ban hành danh mục các công việc không được sử dụng lao động nữ
Trang 6MỤC LỤC
Lời mở đầ u 1
Chương 1: Khái quát về lao động nữ 1.1 Khái niệ m về n gười la o độ n g, la o độn g nữ, đ ặc đ iể m vai trò của lao động nữ 5
1.1.1 Khái ni ệ m về n gười lao đ ộn g 5
1.1.2 K h ái n i ệ m về l a o đ ộn g n ữ, đ ặc đ i ể m va i t r ò c ủa l a o đ ộ n g n ữ 9
1.1.2.1 Khái ni ệ m, đặc đi ể m về lao đ ộ ng n ữ 9
1.1.2.2 Vai trò c ủa lao độn g nữ 10
1.2 Sự cầ n thiết ph ải bảo vệ qu yền và lợi ích hợp pháp của la o độn g nữ tron g nề n kinh tế th ị trườn g 13
1.3 Các quy định cơ bản về lao động nữ trong hệ thống pháp luật Việt Na m 15
1.3.1 Quy định về lao động nữ trong các bản Hiến pháp 15
1.3.2 Quy định về lao động nữ trong các văn bản pháp luật 17
1.3.2.1 Luật B ình đẳ n g giới 17
1.3.2.2 Bộ luật Dân s ự 18
1.3.2.3 Luật B ảo hiể m x ã hội 19
1.3.2.4 Luật H ôn nhâ n và gia đìn h 19
1.3.2.5 Bộ luật Hình s ự 19
1.4 Quy định về lao động nữ trong pháp luật lao động 20
1.4.1 Quan hệ lao độ n g t ron g nề n ki n h tế thị tr ườn g và cơ sở kinh tế - xã hội c ủa việ c hìn h thà nh và ph át tri ể n lực lượn g lao độn g nữ ở nước ta 20
1.4.2 Nội dun g phá p luật Vi ệt Na m hi ệ n hành về lao đ ộn g n ữ.25 1.4.2.1 Chế độ tuyển dụ n g, việc là m 25
1.4.2.2 Tiền lươn g 26
1.4.2.3 Thời giờ là m việc, thời giờ n gh ỉ ngơi 27
Trang 71.4.2.4 An toàn lao động, vệ sinh lao động 28
1.4.2.5 Kỷ luật lao độn g 29
1.4.2.6 Chấ m dứt hợp đồ n g lao độ n g 30
1.4.2.7 Bảo hiể m xã hội 30
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động nữ tại các doanh nghiệ p ở Bình Dương - M ột số giải pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ trong quan hệ lao động 2.1 Tình hình th ực hiện q uy địn h của pháp luậ t lao độ n g về l ao độn g nữ tại Bình D ươn g 35
2.2 Thực trạn g áp dụ n g pháp lu ật về la o độn g nữ tại các do anh n gh iệp ở Bình Dương 39
2.3 Nguyên n hân c ủ a thực trạn g sử dụn g la o độn g n ữ tại các do anh nghiệp ở Bìn h Dươn g 51
2.4 Một số giải ph áp để b ảo vệ quyền và lợi ích hợ p pháp của la o độn g nữ tron g quan hệ l ao độn g 53
2.4.1 Hoàn thi ện h ệ thốn g p háp luậ t la o độn g Việ t Na m 54
2.4.2 Hoàn thi ện về cơ chế thực t hi ph áp luật 60
2.4.3 Gia nhập và phê ch uẩn cá c Côn g ước Quốc tế liên quan đ ến lao động nữ 61
K ế t l uậ n 6 3
T à i li ệ u t h a m kh ả o
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam trở thành thành viên WTO (tổ chức thương mại thế giới) ngày 01/7/2007 là bước tiến quan trọng khẳng định Việt Nam có nền kinh tế thị trường, đồng thời tạo điều kiện hội nhập quốc tế, mở rộng giao thương, thu hút đầu tư của các nước trên thế giới nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa nâng cao đời sống nhân dân, cải thiện cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần Trong đó phải kể đến tác động tích cực trong việc giải quyết được việc làm cho hàng ngàn người lao động trong cả nước Với xu hướng hội nhập quốc tế, trình độ người lao động dần được cải thiện, nếu trước đây nguồn nhân công giá rẻ là lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực thì những năm gần đây mức lương của công nhân lao động không ngừng tăng cao, thay vào đó lợi thế về tay nghề khéo léo và linh hoạt của công nhân lao động được khách hàng nước ngoài đánh giá rất cao Chính lợi thế đó tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nữ tham gia vào hoạt động lao động sản xuất
Gần 50% lực lượng lao động nước ta là lao động nữ, họ tham gia vào nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; y tế, văn hóa xã hội; lãnh đạo, quản lý, cán bộ quản lý trong bộ máy Nhà nước, một số ngành nghề lao động nữ chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối như: may mặc, giày da, giáo viên mầm non, Tuy nhiên, lao động nước ta hiện nay do trình độ dân trí thấp, kiến thức pháp luật chưa cao nên việc bị lạm dụng, bóc lột sức lao động xảy ra thường xuyên phổ biến nhất là vùng nông thôn Lao động nữ bị xâm phạm quyền lợi nhưng vẫn không thể tự bảo vệ bản thân vì nhiều lí do như nhu cầu việc làm, gánh nặng gia đình họ chấp nhận làm việc trong môi trường không đảm bảo, công việc nặng nhọc độc hại, tăng ca, làm thêm giờ, không đảm bảo được giờ giấc nghỉ ngơi thậm chí xuất hiện nhiều biến tướng còn trở nên nghiêm trọng hơn như lạm dụng tình dục Để giữ được việc làm người lao động nói chung hay lao động nữ nói riêng không dám phản kháng hay khởi kiện khi bị xâm phạm quyền lợi chính đáng của họ
Lao động nữ có thể trạng yếu hơn so với lao động nam về tinh thần, sức khỏe Hơn thế không những có chức năng lao động sản xuất họ còn có trách nhiệm trong gia đình là vợ, là mẹ khiến cho trách nhiệm trên vai người phụ nữ càng to lớn, nặng nề Vì
vị thế yếu hơn trong các mối quan hệ, đối với quan hệ lao động pháp luật lao động
Việt Nam có Chương X: Những quy định riêng về lao động nữ (gồm 8 điều từ Điều
153 đến Điều 160) và các văn bản hướng dẫn như Nghị định 43/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
Trang 9của người lao động; Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động; Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của
Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động; Nghị định 46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tranh chấp lao động; Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 10 năm 2013 của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội ban hành danh mục các công việc không được sử dụng lao động nữ; nhằm dành những ưu đãi riêng lợi thế hơn cho lao động nữ, để bảo vệ quyền lợi của lao động nữ
Cùng với những lí do trên em hi vọng có thể tìm hiểu rõ các quy định pháp luật
để có thể giúp đỡ những người lao động nữ xung quanh cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân trong lương lai
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình tìm kiếm thông tin thực hiện công trình nghiên cứu, em nhận thấy có nhiều bài viết có cùng mục đích, đối tượng nghiên cứu liên quan đến pháp luật
về lao động nữ, những bài viết bình luận, những đóng góp kiến nghị để hoàn thiện quy định pháp luật, biện pháp đảm bảo cơ chế thực thi pháp luật của thầy cô, hay công trình nghiên cứu của anh chị sinh viên Trong đó có thể kể đến công trình:
Lao động nữ và việc thực hiện các quy định của pháp luật đối với lao động nữ trong doanh nghiệp tại một số tỉnh miền Nam năm 1999 Tác giả Trần Thị Ngọc Chung
Pháp luật Việt Nam về người lao động nữ làm công ăn lương Thực trạng áp dụng tại các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 Tác giả Hòa Thị Thủy
Pháp luật lao động Việt Nam về người lao động nữ và thực trạng áp dụng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện nay năm 2013 Tác giả Trần Thị Thanh Thúy
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các anh chị đi trước cũng xoay quanh quyền lợi của lao động nữ, thực trạng của những quy định pháp luật cũng như thực trạng áp dụng pháp luật tại các doanh nghiệp, nêu ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật để bảo vệ quyền lợi lao động nữ Tuy nhiên, do tình hình kinh tế xã hội có nhiều chuyển biến làm phát sinh nhiều vấn đề trong việc sử dụng lao động nói chung và lao động nữ nói riêng pháp luật cũng cần phải đổi mới để phù hợp, minh chứng rõ ràng nhất chính là sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013
đã có những thay đổi tích cực nhằm bảo vệ quyền lợi lao động nữ nhiều hơn
Trang 103 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là pháp luật lao động Việt Nam về sử dụng lao động nữ, thực trạng áp dụng tại các doanh nghiệp
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ lao động giữa lao động nữ và người sử dụng lao động Trong đó, tập trung nghiên cứu là lao động nữ làm công ăn lương làm việc theo hợp đồng lao động
Về thực trạng, em chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp ở Bình Dương, khu đô thị mới thu hút nhiều nguồn đầu
tư nước ngoài, thu hút hàng ngàn người lao động trên khắp cả nước cũng là nơi phản ánh một phần rõ nét và chân thật thực trạng áp dụng pháp luật lao động
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sử dụng để tiến hành công trình là sự kết hợp nhiều phương pháp: phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp đánh giá, tổng hợp, Với từng nội dung khác nhau sẽ sử dụng những phương pháp thích hợp và phù hợp với khả năng thực hiện
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với kiến thức của bản thân thể hiện được cách nhìn của một sinh viên luật đối với các quy định của pháp luật, trong tương lai là cách nhìn của một người lao động trước những quyền lợi bản thân Với đề tài nghiên cứu này, em hy vọng đóng góp một phần nhỏ kiến thức bản thân vào kho tư liệu luật học, đồng thời giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về pháp luật lao động Việt Nam và thực trạng áp dụng đối với lao động
nữ Qua đó, thấy được mặt tích cực cũng như hạn chế của pháp luật để có hướng khắc phục hoàn thiện hơn Từ đó có một phần giá trị tham khảo đối với người đọc trong quá trình nghiên cứu, học tập, giảng dạy vấn đề này
6 Bố cục của luận văn
Bố cục trình bài bao gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Khái quát về lao động nữ
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động nữ tại các doanh nghiệp ở Bình Dương - Một số giải pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của lao động nữ trong quan hệ lao động
Do đề tài nghiên cứu khá rộng, thời gian cũng như năng lực có giới hạn, văn bản pháp luật nằm ở nhiều lĩnh vực khác nhau cũng như thực tiễn có nhiều biến động khó nắm bắt, do đó việc nghiên cứu khó tránh khỏi thiếu sót Em hi vọng nhận được nhiều
ý kiến đóng góp, phê bình từ quý thầy cô, anh chị, các bạn để đề tài trở nên hoàn thiện hơn
Trang 11Chương 1: Khái quát về lao động nữ
động nữ
1.1.1 Khái niệm về người lao động
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên nhằm thay đổi tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người, mặt khác trong quá trình tác động vào giới tự nhiên làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, quy luật, những hiện tượng mà con người có thể nhận thức được Đó chính là vai trò của lao động đối với nhận thức con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Lực lượng sản xuất là biểu hiện tác động của con người vào giới tự nhiên, trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã hội con người tổng hợp sức mạnh của mình để chinh phục giới tự nhiên, lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên tạo ra của cải vật chất cho xã hội Như vậy, người lao động với khả năng lao động của họ cùng với tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động kết hợp lại với nhau tạo nên lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất hàng đầu chính là công nhân, là người lao động
Người lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu vì họ trực tiếp sử dụng tư liệu sản xuất bằng kỹ năng lao động của mình tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Xã hội ngày càng phát triển, người lao động cũng chính là chủ thể trực tiếp cải tiến tư liệu sản xuất, công cụ lao động với cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ
Theo C.Mác: “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động sản xuất tạo ra những vật có ích”1
Hiểu cách giản đơn nhất người lao động là người có sức lao động, tuy nhiên không phải người có sức lao động nào cũng là người lao động Người lao động là người sử dụng sức lao động dưới dạng hàng hóa sức lao động, điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa sức lao động:
Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ sức lao động của mình và được bán sức lao động như một hàng hóa, với điều kiện này không thừa nhận nô lệ (thời kỳ nô lệ chiếm hữu) là người lao động vì họ thuộc quyền sở hữu
1 Giáo trình Những Nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin Nxb Chính trị Quốc gia (năm 2009), tr 233
Trang 12của chủ nô, không có quyền bán sức lao động của mình, không có quyền quyết định hay lựa chọn nghề nghiệp, hay thỏa thuận quyền lợi cho bản thân;
Thứ hai, người có sức lao động không có tư liệu sản xuất, để tồn tại buộc phải bán sức lao động của mình để sống Điều kiện này loại trừ những người có tư liệu sản xuất, họ có điều kiện làm ra sản phẩm nuôi sống bản thân không cần phải bán sức lao động
Trong thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, Nhà nước với chủ trương
“thực hiện nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động”2
, quan hệ lao động trong thời kỳ này mang tính chất mệnh lệnh hành chính bởi trong đó không có sự thương lượng, thỏa thuận Khái niệm người lao động thời kỳ này còn rất rộng bao gồm những người làm việc theo biên chế nhà nước kể cả những người làm công ăn lương, những người làm công chức, viên chức nhà nước và những người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân Đại hội Đảng lần thứ VI không chỉ mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển của đất nước bằng
sự khẳng định nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu mà còn tạo cơ hội để người lao động phát huy khả năng làm việc của mình và đạt được nhiều thành tựu trong quá trình lao động sản xuất Trong đó, quan hệ lao động diễn ra đa dạng và phong phú, là quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động làm công ăn lương Quan hệ lao động lúc này được xác lập trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau
Theo khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2012: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên,
có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, được điều hành của người sử dụng lao động
Theo quy định pháp luật Việt Nam, người lao động là người có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động:
Năng lực pháp luật lao động: năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định khi tham gia vào quan hệ pháp luật họ được hưởng quyền
và có những nghĩa vụ, năng lực pháp luật lao động là khả năng mà pháp luật quy định cho người lao động có quyền được làm việc, hưởng tiền lương, chế độ về thời giờ làm việc thời gian nghỉ ngơi, bên cạnh đó người lao động còn phải gánh vác những nghĩa vụ như cam kết trong hợp đồng, theo sự điều hành và quản lý của người sử dụng lao động
2 Điều 18 Hiến pháp 1980
Trang 13Năng lực hành vi lao động: năng lực hành vi của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình thực hiện quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào một quan hệ pháp luật Năng lực hành vi lao động là khả năng của người lao động bằng chính hành vi của mình tham gia quan hệ pháp luật lao động để được hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ trong quá trình lao động Năng lực hành vi lao động được thể hiện bằng hai yếu tố thể lực và trí lực, thể lực chính là sức khỏe bình thường của người lao động để thực hiện một công việc nhất định; trí lực là khả năng nhận thức của người lao động đối với công việc của họ và mục đích họ thực hiện công việc Trong quan hệ lao động năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động được xuất hiện khi công dân đạt đến một độ tuổi nhất định
Độ tuổi lao động: được tính từ thời điểm bắt đầu lao động đến khi nghỉ hưu Trong đó, tuổi bắt đầu lao động từ đủ 15 tuổi trở lên, khi sử dụng lao động chưa thành niên cần lưu ý các nguyên tắc như: chỉ sử dụng vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách; các quy định đặc thù về lao động, tiền lương, sức khỏe, ; không sử dụng người chưa thành niên vào các công việc nặng nhọc, nguy hiểm như: mang, vác vật nặng quá thể trạng người chưa thành niên, công việc liên quan đến hóa chất, khí gas, chất nổ ; không sử dụng người lao động chưa thành niên vào những nơi làm việc ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thể trạng, nhân cách như: nơi sản xuất kinh doanh cồn, bia, thuốc lá, các chất tác động đến tinh thần, vũ trường, khách sạn, hoặc những khu vực độc hại nguy hiểm như: dưới nước, hầm mỏ, công trường xây dựng, ; tạo điều kiện để người chưa thành niên được học tập văn hóa
Đối với một số ngành nghề đặc thù công việc nhẹ nhàng theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tại Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có hiệu lực từ ngày 01/8/2013 quy định danh mục công việc được sử dụng người dưới 15 tuổi, pháp luật cho phép sử dụng lao động từ 13 đến dưới 15 tuổi (lao động có năng lực hành vi lao động không đầy đủ) Tuy nhiên, ngoài những quy định riêng biệt áp dụng đối với lao động chưa thành niên, khi sử dụng lao động từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi phải tuân theo các quy định như: chỉ
sử dụng lao động từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi vào các công việc nhẹ nhàng theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định; ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật và được sự đồng ý của người lao động; sắp xếp thời gian làm việc đến việc học của người lao động; đảm bảo các điều kiện về an toàn - vệ sinh phù hợp với lứa tuổi
Việc quy định độ tuổi lao động nhằm bảo đảm khả năng lao động cho con
người, pháp luật lao động quy định riêng mục 1 Chương X: Những quy định riêng đối
Trang 14với lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác quy định những điều luật
riêng để bảo vệ quyền lợi đối với người lao động chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần tránh trường hợp lạm dụng, bóc lột lao động ảnh hưởng đến quá trình phát triển bình thường của con người
Làm việc theo hợp đồng lao động: hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động3 Hợp đồng lao động cũng là cơ sở để người lao động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Được trả lương: người lao động khi họ không có tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm nuôi sống bản thân và gia đình vì vậy phải bán sức lao động của mình, tiền lương là định lượng cho giá trị sức lao động mà người lao động bỏ ra Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người, muốn tái sản xuất ra năng lực đó người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc, ở, di chuyển,… ngoài ra còn phải đáp ứng nhu cầu trong gia đình, những thành viên phụ thuộc Chỉ có như vậy sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất một cách hiệu quả và liên tục, tiền lương chính là công cụ giúp người lao động thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu đó
Trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người lao động phải chịu sự quản lý
và điều hành của người sử dụng lao động: đặc điểm của quan hệ lao động khác biệt so với một số quan hệ lao động do pháp luật Dân sự điều chỉnh như hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công Bên thuê dịch vụ, bên đặt gia công không có quyền điều hành, giám sát, tổ chức công việc đối với bên cung ứng dịch vụ, bên nhận gia công, họ chỉ quan tâm đến kết quả công việc, sản phẩm cuối cùng Mặt khác, quan hệ lao động do pháp luật lao động điều chỉnh thể hiện quyền uy của người sử dụng lao động đối với người lao động bằng việc người lao động phải chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động
1.1.2 Khái niệm về lao động nữ, đặc điểm vai trò của lao động nữ
Khi tham gia quan hệ lao động trên nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật tuy nhiên không phải mọi người đều được pháp luật bảo vệ quyền lợi như nhau mà còn tùy vào thể lực, trí lực của từng cá nhân và đặc điểm về khả năng nhận thức, độ tuổi, giới tính hay tính chất công việc, Pháp luật có những quy định riêng biệt nhằm bảo vệ người lao động khi tham gia quan hệ lao động đồng thời đảm bảo họ
3 Điều 15 Bộ luật Lao động 2012
Trang 15có thể hoàn thành cam kết đã thỏa thuận với người sử dụng lao động Như với đối tượng lao động là người vị thành niên chưa phát triển toàn diện về thể chất và tâm lý; đối tượng lao động là người cao tuổi đã suy giảm khả năng lao động; đối tượng lao động là người khuyết tật với khả năng lao động bị hạn chế Chính vì những đặc điểm riêng biệt pháp luật lao động có những quy định riêng phù hợp với đặc trưng của mỗi đối tượng lao động trong đó có lao động nữ với vai trò đối với gia đình và xã hội thêm
vào đó là đặc điểm cơ thể, chức năng làm mẹ ảnh hưởng đến quá trình làm việc
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm về lao động nữ
Lao động nữ được hiểu trước tiên là người lao động làm công ăn lương theo hợp đồng lao động được pháp luật lao động Việt Nam điều chỉnh, có nghĩa là người lao động được định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 BLLĐ, bên cạnh đó họ còn là người có giới tính là nữ Việc phân định như vậy là do sự khác biệt về đặc điểm sinh học cũng như đặc điểm xã hội của nữ giới
Đặc điểm sinh học: nữ giới được xem là phái đẹp, phái yếu trong xã hội có cấu tạo cơ thể khác biệt đáng kể so với nam giới Những đặc điểm sinh học tự nhiên ảnh hưởng lớn đến khả năng tham gia lao động của lao động nữ như: thời kỳ kinh nguyệt, trước và sau khi sinh con đều tác động đến sức khỏe, tâm lý, vì vậy trong những thời
kỳ này cần có chế độ nghỉ ngơi, tịnh dưỡng thích hợp để bảo đảm sức khỏe cho người
mẹ và trẻ em
Đặc điểm xã hội: tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu vào tiềm thức mỗi người Việt Nam trong đó nam giới được đề cao hơn phụ nữ Nam giới là trụ cột,
là niềm danh dự của gia đình, việc duy trì nòi giống phụ thuộc vào người con trai Phụ
nữ được mặc định là chăm lo việc nội trợ, bếp núc, chăm sóc các thành viên khác trong gia đình, những đóng góp của lao động nữ khi tham gia vào hoạt động sản xuất cũng không được thừa nhận và trả công ngang bằng với nam giới Chính những tư tưởng, định kiến lạc hậu kìm hãm khả năng tiếp cận nghề nghiệp, kỹ thuật hiện đại của phụ nữ
Những đặc điểm tự nhiên và đặc điểm xã hội là nguyên nhân khiến lao động nữ thiệt thòi, chịu bất công về nhiều mặt khi tham gia các quan hệ xã hội Không phải người phụ nữ nào cũng nhận được sự thông cảm, chia sẻ của chồng, của xã hội, thực
tế rất nhiều trường hợp người phụ nữ phải lựa chọn giữa hạnh phúc gia đình và cơ hội việc làm, cơ hội thăng tiến, cơ hội nâng cao trình độ (đặc biệt là giới trí thức), tất nhiên đa số chị em phụ nữ đều chọn giữ gìn hạnh phúc gia đình của mình Từ áp lực
về tâm lý công việc ở doanh nghiệp, công sở đến công việc gia đình đòi hỏi mọi người
Trang 16phải nhìn nhận một cách khách quan, thực tế hơn về trách nhiệm và tài năng của người phụ nữ
1.1.2.2 Vai trò của lao động nữ
Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm qua các giai đoạn khó khăn, gian khổ đã thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất không chịu khuất phục của dân tộc ta trước mọi thế lực to lớn trên thế giới Từ thời đại các vua Hùng dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh qua bao nhiêu cuộc đấu tranh, đất trời nước Nam bao nhiêu lần bị quân thù giày xéo, nhân dân nước ta chịu bao nhiêu khốn khổ nhưng hình ảnh người phụ nữ truyền thống Việt Nam kiên cường, đảm đang, lao động cần cù, chiến đấu anh dũng từ xưa đến nay vẫn không hề thay đổi Ngạn ngữ nước Nam có câu: “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” để nói lên ý chí không chịu khuất phục của phụ nữ nước ta từ xưa Hình ảnh các vị nữ anh hùng trong công cuộc đấu tranh của dân tộc vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí thế hệ người Việt sau này: hình ảnh Trưng Trắc và Trưng Nhị phất cờ nổi dậy đánh đuổi quân Nam Hán; hình ảnh vị nữ tướng cưỡi voi đánh giặc Bà Triệu; thế kỷ XVIII có bà Bùi Thị Xuân chỉ huy trận đánh Trấn Ninh lừng danh; thời kỳ thực dân Pháp cấu kết với phong kiến thống trị nhân dân ta có bà Đinh Phu Nhân; thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có chị Nguyễn Thị Minh Khai, chị Võ Thị Sáu, chị Út Tịch, Đó mới thấy tinh thần yêu nước, bất khuất, quả cảm, kiên cường của người phụ nữ chân yếu tay mềm không hề thua kém bất kỳ ai trong xã hội
Thêm vào đó là hình ảnh người phụ nữ cần cù, chăm chỉ, đảm đang tham gia tích cực lao động sản xuất Từ lịch sử đấu tranh của dân tộc cũng ghi nhận hình ảnh người phụ nữ hăng say lao động là hậu phương vững chắc cho chiến sĩ nơi tiền tuyến Bác
Hồ nói: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào không có đàn bà tham gia”4 Với sự tham gia đông đảo, tích cực và thường xuyên người phụ nữ trong hoạt động sản xuất đã góp phần không nhỏ trong nền nông nghiệp Việt Nam xưa đạt được những thành tựu đáng kể giải quyết được vấn đề tăng vụ, chuyển vụ, góp phần đáng kể trong việc tăng năng suất lao động đủ sức chi viện cho chiến trường và cho gia đình Với thiên chức làm mẹ, làm vợ quán xuyến mọi việc trong gia đình, chăm lo đến từng miếng cơm, giấc ngủ cho cha mẹ, cho chồng, cho con gánh nặng gia đình trên vai người phụ nữ Với tư tưởng “việc bếp núc là việc của đàn bà” đã ăn sâu vào tiềm thức không chỉ của đàn ông mà ngay cả người phụ nữ cũng mặc nhiên cam chịu Trách nhiệm của người phụ nữ trong gia đình là không thể chối bỏ được hình thành
4phu-nu.html
Trang 17http://www.lhu.edu.vn/334/17698/Tu-tuong-va-tinh-cam-cua-Bac-Ho-voi-nên đức tính cần cù vị tha, khiêm nhường, chung thủy vì gia đình xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ phong tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến và “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới đất nước
Ngày nay, không còn tình trạng người bóc lột người con người được giải phóng, người lao động có cơ hội phát huy khả năng của mình trong mọi lĩnh vực, người phụ
nữ thoát khỏi ràng buộc trong khuôn khổ gia đình có điều kiện tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội Vai trò phụ nữ cũng được mở rộng hơn từ vai trò người mẹ người vợ trong gia đình đến người phụ nữ tham gia vào lao động sản xuất, trở thành lực lượng lao động chiếm số lượng đông đảo như ngày nay Với đức tính cần cù, chăm chỉ, thông minh, sáng tạo, chịu thương chịu khó trong hoạt động sản xuất khiến vai trò lao động nữ ngày càng được coi trọng Vừa là nhân vật trung tâm tạo dựng hạnh phúc gia đình, vừa tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, lao động nữ xứng đáng với
sự tôn vinh của cộng đồng và xã hội
Nền kinh tế thị trường góp phần không nhỏ giúp khơi dậy tiềm năng của lao động nữ, tạo cơ hội cạnh tranh công bằng, bình đẳng giữa người lao động Với các chính sách mở cửa thị trường thu hút đầu tư của Đảng và Nhà nước vào các ngành công nghiệp nhẹ tính đến năm 2012 nước ta có khoảng 3.700 doanh nghiệp ngành dệt may; giày da có khoảng 840 doanh nghiệp5 tạo cơ hội việc làm cho nhiều phụ nữ trên
cả nước, tạo điều kiện cho lao động nữ phát huy khả năng, sáng tạo của mình trong quá trình lao động, sản xuất
Minh chứng rõ ràng nhất là sự đóng góp, vị trí của người phụ nữ trong tất các các lĩnh vực của đời sống xã hội như bà Trương Thị Lệ Khanh – Chủ tịch Hội đồng quản trị Vĩnh Hoàn trong lĩnh vực kinh doanh, chế biến và xuất khẩu cá tra chỉ khởi đầu từ một xưởng đông lạnh nhỏ đến thời điểm hiện tại bà Khanh là người giàu nhất trong số doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản Chị Nguyễn Thị Thanh Hằng – chủ trang trại ngựa bạch Vạn An, xã Yên Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội Đây không chỉ là trang trại ngựa bạch lớn nhất miền Bắc mà còn là trang trại đầu tiên của nước ta nghiên cứu, bảo tồn, nhân giống và nuôi thành công loại ngựa bạch quý hiếm, không chỉ tạo ra cơ ngơi khang trang cho bản thân mình, chị còn tạo công ăn việc làm cho vô
số người xung quanh vùng, hiện nay trang trại của chị đã giải quyết việc làm cho 20 lao động với mức lương từ 3 – 5 triệu/người/tháng và nhiều lao động thời vụ6
Trang 18Trong lĩnh vực y học, PGS TS Khu Thị Khánh Dung – Phó giám đốc, Trưởng khoa Hồi sức cấp cứu sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung ương Là lãnh đạo quản lý kiêm trưởng khoa chuyên môn, cô luôn thực hiện tốt công việc được giao đồng thời không ngừng cập nhật các phương pháp điều trị mới, cải tiến máy móc trang thiết bị phục vụ công tác điều trị, chăm sóc sức khỏe các trẻ em sơ sinh Không những thế, cô còn tích cực trong các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, luôn quan tâm tạo điều kiện để cán
bộ, nhân viên khác hoàn thành nhiệm vụ Bản thân cô luôn tích cực tham gia các phong trào thi đua, vận động mọi người tham gia các hoạt động từ thiện nhân đạo, xã hội, hỗ trợ các bệnh nhi có hoàn cảnh đặc biệt Về công việc gia đình, gia đình cô luôn đạt chuẩn gia đình văn hóa, hai con cô đều thành đạt7
Trong một nghiên cứu của Grant Thomton cuối năm 2013, cho thấy phụ nữ Việt Nam ngày càng có vị trí lãnh đạo trong các doanh nghiệp Tỉ lệ nữ trong hội đồng quản trị các doanh nghiệp Việt Nam là 30% trong khi tỉ lệ trung bình toàn cầu là 19%
Tỉ lệ nữ Đảng viên trong Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tăng từ 25% năm 2005 lên 30% năm 20108
Với những đức tính quý báu, phẩm chất đáng trân trọng, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà” tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực trong các lĩnh vực, ngày càng khẳng định vị trí vai trò của bản thân đối với toàn xã hội
trong nền kinh tế thị trường
Gần 100 năm bị thực dân Pháp thống trị thân phận người người phụ nữ lại càng khốn khổ hơn, ngay từ những năm đầu xâm lược giặc Pháp đã đốt phá, giết chóc và hãm hiếp gây biết bao nỗi ai oán Toàn thể nhân dân Việt Nam bị áp bức bóc lột, trong
đó giai cấp công - nông là lực lượng chủ yếu vùng lên chống bọn thống trị thực dân phong kiến Phụ nữ Việt Nam chiếm số đông trong quần chúng nhân dân lao động không những bị áp bức về dân tộc, về giai cấp mà còn bị áp bức về giáo lý phong kiến kìm hãm trói buộc nên họ có tinh thần đấu tranh rất mạnh mẽ Phụ nữ tham gia trong mọi lĩnh vực từ tiền tuyến đến hậu phương, từ những việc gia đình đến việc xã hội Có phụ nữ tham gia thì cách mạng mới thành công mặt khác cách mạng có thành công, dân tộc được độc lập, giai cấp được giải phóng thì phụ nữ mới được giải phóng Tư tưởng ấy thâm nhập vào phong trào công nhân, nông dân, học sinh, tiểu thương trở thành động lực tinh thần cổ vũ các phong trào đấu tranh tiến lên mạnh mẽ Từ đấy phụ
7 Phụ nữ Đà Nẵng (phunudanang.org.vn)
8
Blogs.worldbank.org/eastasiapacific/vi/does-women-leadership-vietnam-mattervietnamese
Trang 19nữ Việt Nam cùng với toàn thể dân tộc có phương hướng hoạt động cứu nước rõ ràng:
Cách mạng giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ
Không thể phủ nhận vai trò to lớn cũng như những đóng góp của người phụ nữ trong lịch sử từ những việc trong gia đình đến xã hội Vị trí người phụ nữ ngày càng được nâng cao trong xã hội Việt Nam theo nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa đã tạo nhiều thuận lợi cho nước ta hồi phục sau khi trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, là cơ hội để Việt Nam hòa nhập và theo kịp các quốc gia khác trên thế giới
Nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế tự do cạnh tranh có sự điều chỉnh của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa do còn quá non trẻ khi chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường tự
do cạnh tranh nên cần có sự tham gia điều tiết, quản lý của Nhà nước Thực tế cho thấy các chính sách cải cách kinh tế gần đây ở Việt Nam đã ảnh hưởng tích cực tới cấu trúc và sự tăng trưởng kinh tế Các biện pháp kinh tế như kiểm soát lạm phát, giảm dần thiếu hụt ngân sách, thực thi các chính sách tiền tệ thắt chặt,… kết hợp với các biện pháp tự do hoá như giảm bớt sự can thiệp của chính phủ đối với các hoạt động của kinh tế, đã tạo nên những chuyển biến đáng mừng về tốc độ tăng trưởng và
ổn định nền kinh tế
Kinh tế thị trường tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, cải tiến phương thức làm việc, nâng cao năng suất tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp đối với các đối thủ nước ngoài trong nền kinh tế mở cửa hiện nay Đồng thời tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động với các chính sách thu hút đầu tư của chính phủ Vì vậy, việc cấp thiết của pháp luật là tạo ra cơ chế bảo vệ người lao động trong mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
Việt Nam là nước có lợi thế và tiềm năng về nguồn lao động Dân số cả nước năm 2012 khoảng 88.780.000 người trong đó dân số nam 43.920.000 người, dân số nữ chiếm 44.860.000 người Trong đó, số người trong độ tuổi lao động (từ 15 - 60 tuổi) là 53.098.000 người, trong đó lao động nam chiếm 51,4%, lao động nữ chiếm 48,6%9
Như vậy, cơ cấu lao động theo giới tính nam và nữ gần như tương đương với nhau Số lượng lao động nữ ngày càng gia tăng qua các năm
Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cũng tồn tại những mặt trái, khuyết điểm đối với người lao động: tình trạng thất nghiệp, dân trí thấp, tệ nạn xã hội, mà lao động nữ cũng là người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Do những đặc điểm tâm sinh lý,
9 Theo Tổng cục Thống kê
Trang 20lao động nữ có thể làm việc trong môi trường nhất định với những công việc nhất định, hạn chế cơ hội ứng tuyển của lao động nữ đối với nhu cầu tuyển dụng Còn khi doanh nghiệp có nhu cầu giảm bớt lực lượng lao động thì nữ giới là đối tượng dễ mất việc đầu tiên
Kinh tế thị trường đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cái gì có lãi thì làm để đạt lợi nhuận cao nhất vì vậy người sử dụng lao động ra sức bóc lột sức lao động, giảm mọi chi phí đến mức thấp nhất nhằm hạ giá thành sản phẩm trong đó có việc giảm chi phí nhân công Do sức ép về việc làm, hạn chế về trình độ, tay nghề, để có thể cạnh tranh việc làm với nam giới, lao động nữ phải chấp nhận làm việc trong môi trường độc hại, không an toàn, chấp nhận tăng ca thường xuyên, liên tục, làm ảnh hưởng
đến sức khỏe và chức năng làm mẹ của phụ nữ
Với vai trò của người phụ nữ trong xã hội cũng như lao động nữ trong hoạt động sản xuất nói riêng, cùng với sự tiến bộ của xã hội và những tiêu cực còn tồn tại trong quá trình sử dụng lao động nữ, việc bảo vệ lao động nữ trong nền kinh tế thị trường là hết sức cần thiết và cấp bách cần sự quan tâm của toàn xã hội
1.3 Các quy định cơ bản về lao động nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Phụ nữ chiếm một nửa dân số trên thế giới là lực lượng lao động góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở mỗi quốc gia Vai trò của người phụ nữ được gia đình và xã hội thừa nhận, tuy nhiên tồn tại đâu đó vẫn có những áp bức bất công, phân biệt đối xử Tại Việt Nam, được Đảng và Nhà nước quan tâm bằng những hình thức đãi ngộ nhất định thể hiện qua chính sách đường lối qua từng giai đoạn được cụ thể hóa bằng các quy phạm pháp luật Trong đó, không chỉ riêng ngành Luật Lao động mà còn thể hiện
ở rất nhiều ngành luật khác kể cả Hiến pháp tối cao, quy định về lao động nữ được thể
hiện gián tiếp thông qua các quy định về quyền và nghĩa vụ của phụ nữ
1.3.1 Quy định về lao động nữ trong các bản Hiến pháp
Kể từ khi nước ta giành được độc lập, con người được giải phóng kể từ đó quyền con người được bảo vệ toàn diện hơn Quyền phụ nữ mới được đề cập và nhìn nhận một cách chính thức, những văn bản đầu tiên về quyền công dân trong đó có quyền phụ nữ được ban hành Tháng 10/1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức được ban hành, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận Hồ Chủ Tịch nói: “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân” Cụ thể Điều 9
Trang 21Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”
Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã khẳng định phụ nữ bình đẳng với đàn ông, vấn đề này Bác Hồ nhìn nhận để thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ cần một thời gian đấu tranh khó khăn và lâu dài, không chỉ dừng lại ở việc phân công công việc bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình mà còn có “sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội”10 trong đó đưa người phụ nữ tham gia vào các ngành nghề như nam giới, tạo điều kiện để người phụ nữ có thể tham gia học hỏi, giao lưu, học tập nâng cao trình độ,… Điều 24 Hiến pháp 1959 quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã
cụ thể quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình
Hiến pháp 1980, không quy định từng điều luật riêng cho phụ nữ mà quy định lồng với các quy định về quyền của công dân như một cách gián tiếp thừa nhận quyền lợi lao động nữ Được thể hiện cụ thể ở các điều sau:
Điều 55 quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” Hiến pháp Việt Nam xác định “Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp”11
Điều 63 quy định: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Phụ nữ và nam giới việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻ nếu là xã viên hợp tác
xã Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà
ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi xã hội khác, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập và nghỉ ngơi”
Hiến pháp bảo vệ người phụ nữ trong quan hệ gia đình, gián tiếp phủ định tư tưởng “trọng nam khinh nữ” Điều 64 quy định: “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” Việc lồng ghép vào các quy
10 Trích “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam”, Nxb Phụ nữ
11 Điều 57 Hiến pháp 1980
Trang 22định về quyền công dân đảm bảo phụ nữ được thực hiện đầy đủ các quyền của một công dân Việt Nam bình đẳng trước pháp luật
Quyền của phụ nữ trong Hiến pháp năm 1992 kế thừa những quy định tiến bộ của Hiến pháp năm 1980 nhưng bổ sung thêm quy định tại Điều 63: "Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ"
Hiến pháp 2013 có những sửa đổi, bổ sung và phát triển thể hiện tầm quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có cả quyền của phụ nữ Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn, hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em Điều 26 Hiến pháp một lần nữa nhấn mạnh: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt”; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới
Xã hội ngày càng phát triển, quyền lợi của người phụ nữ ngày càng được củng
cố và mở rộng thể hiện bằng việc Hiến pháp ghi nhận quyền đầy đủ và cụ thể hơn, phụ
nữ trong đó bao gồm lao động nữ có các quyền con người và công dân một cách toàn diện, ngoài ra còn ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ
1.3.2 Quy định về lao động nữ trong các văn bản pháp luật
Hiến pháp ghi nhận các quyền cơ bản của phụ nữ nói chung hay lao động nữ nói riêng được cụ thể vào các ngành luật riêng biệt, trong đó văn bản pháp luật ghi nhận quyền của phụ nữ tiêu biểu phải kể đến là Luật Bình đẳng giới, Bộ luật Dân sự, Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Cư trú, Bộ luật Hình sự, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Quốc tịch,
1.3.2.1 Luật Bình đẳng giới
Chỉ số GII (chỉ số bất bình đẳng về giới) của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và thế giới có chiều hướng giảm xuống qua các năm đã chứng tỏ bất bình đẳng giới của Việt Nam đã được cải thiện nhanh, được các tổ chức quốc tế đánh giá là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong 20 năm qua Theo thống kê của
Trang 23Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP (United Nations Development Programme)12:
Thứ bậc trong khu
vực
Thứ bậc trên thế giới
Luật Bình đẳng giới Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật Bình đẳng giới gồm 6 Chương, 44 Điều quy định
về bình đẳng giới tại Việt Nam
Luật Bình đẳng giới quy định mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ sự phân biệt về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến đến bình đẳng thực chất giữa nam và nữ trong thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực đời sống và gia đình13 Nguyên tắc cơ bản bình đẳng giới: bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
và gia đình; không bị sự phân biệt đối xử về giới; việc thúc đẩy về giới, chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật; trách nhiệm thực hiện thuộc về tổ chức, gia đình, cá nhân
Bên cạnh đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ, luật Bình đẳng giới còn khẳng định khả năng vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội bằng các quy định bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, tạo điều kiện
để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình; xóa bỏ các phong tục tập quán lạc hậu cản trở quá trình thực hiện bình đẳng giới
1.3.2.2 Bộ luật Dân sự
Nguyên tắc bình đẳng được khẳng định một lần nữa trong Bộ luật Dân sự tại những điều luật đầu tiên cụ thể tại Điều 5 quy định: trong quan hệ dân sự, các bên đều
12 Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
13Điều 8 Luật Bình Đẳng Giới
Trang 24bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau Lao động nữ được hưởng mọi quyền lợi đồng thời cũng phải tuân thủ các nghĩa vụ trong quan hệ dân sự như mọi công dân khác
1.3.2.3 Luật Bảo hiểm xã hội
Cũng như mọi người lao động lao động nữ có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp, trợ giúp lao động nữ khi gặp phải những sự kiện ảnh hưởng đến khả năng lao động hoặc thu nhập như: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, thất nghiệp,… Thêm vào đó lao động nữ còn được hưởng các chế độ đặc thù của người phụ nữ: chế độ thai sản, lao động nữ được hưởng các chế độ khám thai (nghỉ việc có hưởng chế độ phụ cấp); dưỡng sức sau khi sinh nếu sức khỏe yếu
1.3.2.4 Luật Hôn nhân và gia đình
Quyền lợi người phụ nữ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ thông qua chế định hôn nhân một vợ - một chồng; nguyên tắc vợ chồng bình đẳng; quyền bình đẳng cha mẹ trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung; việc vợ chồng có nghĩa vụ cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, đảm bảo quyền và lợi ích phụ nữ trẻ em khi giải quyết ly hôn,…
1.3.2.5 Bộ luật Hình sự
Lao động nữ có nghĩa vụ tuân thủ các quy định pháp luật hình sự nếu không cũng sẽ chịu những hậu quả bất lợi như mọi công dân Việt Nam Tuy nhiên, để bảo vệ phụ nữ có thai Bộ luật Hình sự quy định hành vi phạm tội đối với phụ nữ có thai là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự14 và cũng là tình tiết tăng nặng định khung: Giết người mà biết là có thai (điểm b khoản 1 Điều 192), cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ đối với phụ nữ đang có thai (điểm d khoản Điều 104), hành
hạ phụ nữ có thai (điểm a khoản 2 Điều 110), tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đối với phụ nữ mà biết là đang có thai (điểm d khoản 2 Điều 197), cưỡng bức, lôi kéo
sử dụng trái phép chất ma tuý đối với phụ nữ mà biết là đang có thai (điểm đ khoản 2 Điều 200),… Bên cạnh đó còn các điều khoản khoan hồng, nhân đạo được áp dụng riêng đối với phụ nữ có thai thể hiện chính sách đãi ngộ của Đảng và Nhà nước thể hiện qua các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: người phạm tội là phụ nữ có thai được quy định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 46) Chính
14 Điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự
Trang 25sách nhân đạo, khoan hồng đối với phụ nữ mang thai và đang nuôi con nhỏ được thể hiện cả trong việc áp dụng hình phạt và thi hành án như không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử, không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi
1.4 Quy định về lao động nữ trong pháp luật lao động
1.4.1 Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường và cơ sở kinh tế - xã hội của việc hình thành và phát triển lực lượng lao động nữ ở nước ta
Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường
Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động với người sử dụng lao động15
Trong thời kỳ thực hiện chính sách tập trung bao cấp, nền kinh tế bị khủng hoảng trầm trọng, số người nghèo đói gia tăng, chỉ số lạm phát tăng cao với bệnh chủ quan duy ý chí hành động nóng vội, buông lỏng trong việc quản lý kinh tế Quan hệ lao động không mang tính chất thỏa thuận, thương lượng mà mang tính mệnh lệnh hành chính làm việc theo chỉ tiêu, mệnh lệnh, chỉ đạo của Nhà nước, không có sự tự do sáng tạo, con người không có cơ hội phát huy năng lực bản thân kìm hãm sự phát triển kinh tế trong thời gian dài
Trước thực trạng đất nước chậm phát triển lạc hậu Đại hội Đảng lần thứ VI năm
1986 đã đề ra đường lối đổi mới đất nước, chủ trương thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần xóa bỏ nền kinh tế tự cung tự cấp kém phát triển Định hướng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần gắn liền với nền kinh tế thị trường định hướng
Xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ tạo điều kiện giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế thúc đẩy sản xuất kinh tế, nâng cao năng suất sản xuất, là bước tiến quan trọng giúp nước ta thoát khỏi khủng hoảng từng bước vươn lên Với đường lối đổi mới đúng đắn, quan hệ lao động cũng thay đổi theo hướng tích cực hơn, từ quan hệ xã hội mang nặng tính mệnh lệnh hành chính chuyển sang quan hệ bình đẳng hơn, người lao động
và người sử dụng lao động có điều kiện tự do rất lớn trong sự quyết định bắt đầu, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ lao động của mình Người lao động tự có những quyết định quan trọng đối với nghề nghiệp của mình phụ thuộc vào nhân tố cá nhân và tình hình kinh tế - xã hội, không ai khác đưa ra quyết định cho họ, không một cơ quan tổ chức, kế hoạch quyết định họ sẽ làm việc ở đâu với tiền lương là bao nhiêu, mọi người đều có tự do theo đuổi nghề nghiệp mà họ lựa chọn nhưng chỉ những người có khả
15 Khoản 6 Điều 3 BLLĐ
Trang 26năng đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công việc mà họ lựa chọn mới được người sử dụng lao động tuyển chọn Tương tự như thế, người sử dụng lao động chỉ tuyển dụng những người có thể hoặc sẽ có thể làm những công việc mà họ cần thuê để làm và để giữ người lao động tiếp tục làm việc cho mình, họ phải đưa ra những mức lương và điều kiện lao động cạnh tranh so với các công ty khác
Sự cạnh tranh giữa những người lao động đi tìm việc làm tốt và những người sử dụng lao động tìm người lao động giỏi là hoạt động xảy ra thường xuyên và liên tục trong nền kinh tế thị trường
Cơ sở kinh tế - xã hội của việc thúc đẩy hình thành và phát triển lao động
nữ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam:
Với chính sách đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, hiện đại hóa – công nghiệp hóa đất nước, thu hút đầu tư tạo nhiều cơ hội cho người lao động trên cả nước tham gia hoạt động lao động sản xuất, nguồn nhân lực càng có điều kiện phát huy năng lực tạo nguồn của cải vật chất cho xã hội và thu nhập cho bản thân Việc thừa nhận sức lao động là hàng hóa hình thành nên một lực lượng lao động phong phú, trong đó lực lượng lao động nữ là lực lượng lao động đặc thù được hình thành do nhiều yếu tố như: yếu tố lịch sử, yếu tố thời đại, yếu tố điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó yếu tố kinh tế - xã hội có vai trò quyết định trong sự hình thành phát triển lực lượng lao động nữ ở Việt Nam
Đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa được xác định tại Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đường lối này tiếp tục được khẳng định tại Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm 1991) sau
đó đã được thể chế hóa tại Điều 15 Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể là nền tảng” Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định đường lối chủ trương về nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tại Điều 51; bên cạnh đó nhà nước còn khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh phát triển bền vững các ngành kinh tế góp phần xây dựng đất nước
Như vậy việc thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa được coi là cơ sở kinh tế xã hội cho việc hình thành và phát triển lực lượng lao động nữ tại Việt Nam
Trang 27Khả năng của lao động nữ ngày càng được xã hội thừa nhận Bảng biểu sau thể hiện mức độ tham gia của lao động nữ ngày càng tăng cao từ sau quá trình đổi mới, số lượng lao động nữ tham gia hoạt động sản xuất tăng dần qua các năm16
21926,4 23339,8 22940,8 23898,6 24800,7 25305,9 26024,7 26595,5
20848,5 20640,5 22267,2 22562,2 22942,9 23742,6 24327,3 25103,5
Chính việc thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tạo điều kiện thành lập nhiều doanh nghiệp với nhiều loại hình khác nhau, với thời gian làm việc linh hoạt, xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, gia công tại gia tạo điều kiện thuận lợi cho người phụ nữ trong việc vừa tham gia sản xuất, vừa chăm lo cuộc sống gia đình Theo thống kê trên, lực lượng lao động nữ luôn nằm ở mức xấp xỉ 50%, điều này cho thấy trong các doanh nghiệp thì lực lượng lao động nữ ngày càng chiếm số lượng gần bằng nam giới, vai trò của nữ giới và nam giới ngày càng bình đẳng Thực tế, các doanh nghiệp có các vị trí chủ chốt là nữ cũng không hiếm
Tác động của chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước không chỉ tác động đến
sự hình thành lực lượng lao động nữ ở nước ta mà còn có tác động tích cực đến quá trình phát triển của lực lượng lao động nữ, tác động đến trình độ chuyên môn khả năng lao động, cơ cấu ngành nghề, tác phong làm việc:
Trình độ chuyên môn: trước Cách mạng tháng Tám, cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta chiếm 95%, không mang lại nhiều lợi nhuận chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người Giai đoạn đổi mới đất nước, thị trường mở cửa nhiều chính sách thu hút nhà đầu tư nước ngoài với những khu công nghệ cao ngày càng phát triển đòi hỏi người lao động không chỉ đáp ứng về sức khỏe, bán sức lao động đơn thuần
mà đòi hỏi các khả năng về trình độ, kỹ thuật đòi hỏi kiến thức trong việc sử dụng máy móc hiện đại thay thế cho sức người Nhu cầu đối với nhà tuyển dụng là người
16 Thống kê lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 01/7 hàng năm theo giới tính Tổng cục Thống kê
Trang 28lao động phải có tay nghề, đã qua đào tạo, nhu cầu này bắt buộc người lao động, trong
đó có lao động nữ không ngừng học hỏi, tìm tòi nâng cao trình độ bản thân để tồn tại trong thị trường tự do cạnh tranh, tồn tại trong sự đào thải của thị trường lao động Qua các cuộc điều tra về lao động cũng cho thấy tỷ lệ lao động trên 15 tuổi qua đào tạo tăng nhiều về số lượng ở cả nam và nữ tuy còn tập trung ở vùng thành thị, khu vực nông thôn tỷ lệ còn hạn chế17
Năm Tổng số Theo giới tính (%) Theo khu vực (%)
12,3 12,9 13,2 13,8 14,3 14,9 15,6 16,3 16,7 16,2 17,2 18,8
9,0 9,5 9,7 10,2 10,6 11,2 11,6 12,2 12,8 12,8 13,5 14,7
24,9 25,6 26,0 26,5 27,2 28,4 29,7 31,5 32,0 30,6 30,9 31,8
5,9 6,4 7,0 7,3 7,6 8,1 8,3 8,3 8,7 8,5 9,0 10,3
Yêu cầu của nhà tuyển dụng đối với người lao động về trình độ chuyên môn, kỹ thuật đòi hỏi lao động nữ phải tiếp thu học hỏi để đáp ứng yêu cầu nhà tuyển dụng theo kịp tiến độ phát triển của khoa học kỹ thuật
Cơ cấu ngành nghề: nền kinh tế thị trường thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp, tạo điều kiện tiếp cận công việc cho lao động nữ, trong đó có những ngành nghề mà
nữ giới chiếm số lượng lớn, các nhà tuyển dụng ưu tiên tuyển dụng như: dệt may, giày
da, dịch vụ bán hàng, chế biến thực phẩm, Thống kê 9 tháng đầu năm 2012 lao động
nữ hoạt động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 49,5%, công nghiệp và xây dựng là 16,8%, dịch vụ 33,7% trong tổng số lao động nữ; trong đó 85,8% tổng số lao động nữ hoạt động trong khu vực ngoài nhà nước18
Theo dự đoán của các chuyên gia,
17 http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=387&idmid=3&ItemID=14219
18 Báo cáo lao động và việc làm 9 tháng đầu năm 2012 của Tổng cục Thống kê
Trang 29năm 2014 nhóm ngành Du lịch – Nhà hàng – Khách sạn đang cần một số lượng lao động lớn khoảng 40.000 lao động nhưng số lượng sinh viên chuyên ngành chỉ đáp ứng 60%19 Trong nhóm ngành nghề này, nữ giới có khả năng được tuyển dụng rất cao trong các vị trí như: lễ tân, buồng phòng, quản trị bếp, điều hành tour, phiên dịch viên,
Tác phong làm việc: trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, không những đòi hỏi lao động nữ phải có trình độ kỹ thuật chuyên môn mà còn yêu cầu tác phong làm việc chuyên nghiệp, không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật chuyên môn, chủ động sáng tạo và năng động trong cuộc sống và công việc Lao động nữ ngày càng có
vị trí cao trong doanh nghiệp nên tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc chuyên nghiệp cũng như ý thức tôn trọng nội quy lao động dần được nâng cao
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất trên thế giới nhưng trình độ lao động còn thấp trong đó lao động trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ lớn 32,61%20 Nguồn thu nhập thấp, không ổn định ảnh hưởng đến khả năng tái sản xuất, ổn định cuộc sống cần được sự quan tâm của toàn xã hội
mà Bộ luật lao động qua nhiều lần sửa đổi bổ sung, thay thế đã có nhiều điểm tiến bộ nhằm bảo vệ lao động nữ Bộ luật Lao động 2012 dành Chương X quy định riêng về lao động nữ Những quy định trong Bộ luật Lao động có ý nghĩa quan trọng gắn liền với quan hệ lao động, với cuộc sống người lao động, đảm bảo quyền lợi cho lao động
nữ an tâm làm việc học tập nâng cao tay nghề củng cố cuộc sống cho bản thân
1.4.2 Nội dung pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động nữ
Lịch sử hình thành pháp luật lao động gắn liền với pháp luật đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta, lịch sử đã chứng minh vai trò của người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với thắng lợi toàn diện của dân tộc Từ Cách mạng tháng Tám lực lượng lao động nữ ngày càng nhiều, đặt ra nhu cầu cần những quy phạm pháp luật bảo
vệ quyền lợi người lao động nói chung cũng như lao động nữ nói riêng Tùy từng giai đoạn của đất nước, pháp luật về lao động nữ có những thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn nước ta bị bao vây bởi các thế lực thù địch, chính quyền còn non trẻ, lao động nữ là hậu phương vững chắc hỗ trợ quân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, pháp luật lúc bấy giờ đã công nhận quyền bình đẳng của người phụ nữ
19 Mạng Việc làm & Tuyển dụng CareerBuilder.vn
20 Điều tra lao động - việc làm Tổng cục Thống kê 2010
Trang 30thông qua hình thức sắc lệnh khuyến khích lao động nữ tăng gia sản xuất, hạn chế bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với lao động nữ Giai đoạn khôi phục đất nước sau chiến tranh bằng các kế hoạch 05 năm nhằm kêu gọi tăng gia sản xuất trên mọi lĩnh vực, các văn bản pháp luật được thể hiện dưới hình thức nghị định thông tư có đối tượng điều chỉnh là công nhân, viên chức nhà nước, pháp luật lao động trong thời kỳ này điều chỉnh quan hệ lao động của cả công nhân và viên chức phạm vi điều chỉnh tập trung vào khu vực kinh tế nhà nước nên phương pháp điều chỉnh còn mang nặng tính mệnh lệnh phục tùng Giai đoạn đổi mới đất nước, khi tiếp cận nền kinh tế thị trường đã có
sự phân chia rõ nét giữa quan hệ lao động làm công ăn lương trên cơ sở HĐLĐ với quan hệ lao động là cán bộ, công chức nhà nước
Bộ luật Lao động đầu tiên được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 23/6/1994 được sửa đổi bổ sung 03 lần năm 2002, 2006 và 2007 Ngày 18/6/2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Lao động mới theo Luật số 10/2012/QH13 Bên cạnh các quy định chung trong BLLĐ 2012 thì lao động nữ còn được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật ở Chương X trong Bộ luật này cùng những văn bản hướng dẫn và các chương trình quốc gia liên quan đến lao động nữ
1.4.2.1 Chế độ tuyển dụng, việc làm
Việc làm không chỉ là vấn đề quan tâm riêng của NLĐ mà còn là vấn đề xã hội
mà tất cả các Nhà nước phải quan tâm giải quyết Đối với NLĐ thì việc làm là phương thức kiếm sống vừa là một điều kiện quan trọng giúp NLĐ phát triển nhân cách, giữ gìn nhân phẩm; còn đối với xã hội, nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ giúp cho xã hội phát triển ổn định, bền vững, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội21
Điều 4 BLLĐ quy định: “Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên” Quy định này mang tính nền tảng trong toàn bộ các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động, thể hiện sự bình đẳng trong quan hệ việc làm nói chung, lao động nữ nói riêng NSDLĐ thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác
Thêm vào đó để bảo vệ người lao động nữ trước những ảnh hưởng bởi các điều kiện lao động có tính chất độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, chức năng làm mẹ, khả năng nuôi con hay thậm chí cả đứa trẻ sau này Điều 160 BLLĐ quy định những công việc không được sử dụng lao động nữ: “Công việc có ảnh hưởng tới chức
21Giáo trình Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr 130
Trang 31năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành; công việc phải ngâm mình thường xuyên dưới nước; công việc làm thường xuyên dưới hầm mỏ” Những công việc không được sử dụng lao động nữ bao gồm 77 công việc được quy định cụ thể tại Thông tư số 26/2013 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định các công việc không được sử dụng lao động nữ tránh những tác hại của công việc, môi trường làm việc đến sức khỏe, chức năng làm mẹ và nuôi con của người phụ nữ
Nhìn chung các quy định về tuyển dụng, việc làm tạo sự bình đẳng trong quá trình tuyển chọn NLĐ trong đó có sự ưu tiên hơn đối với lao động nữ bằng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động nữ; đồng thời quy định các công việc phụ nữ không được tham gia nhằm bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ - nhóm lao động đặc thù
1.4.2.2 Tiền lương
Chế định tiền lương của lao động nữ được quy định chung trong các điều khoản
áp dụng với tất cả người lao động trên nguyên tắc lao động nữ được bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính khi làm công việc có giá trị như nhau Theo đó, lao động nữ bảo đảm quyền lợi như mọi NLĐ, pháp luật lao động quy định NSDLĐ phải tuân thủ các nguyên tắc trả lương như trả lương trực tiếp, trả lương đầy
đủ, trả lương đúng hạn, trả lương bằng tiền Thêm vào đó để đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho NLĐ, pháp luật quy định mức lương tối thiểu – là mức lương thấp nhất phải trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu tối thiểu của NLĐ và gia đình họ, mức lương tối thiểu này sẽ căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội và mức lương trên thị trường lao động sẽ được áp dụng trên từng vùng khác nhau
So với trước đây, BLLĐ có một vài quy định mới về vấn đề tiền lương như quy định về Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan tư vấn cho Chính phủ về điều chỉnh
và công bố mức lương tối thiểu, bao gồm các thành viên là đại diện Bộ LĐTBXH, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và tổ chức đại diện NSDLĐ ở cấp Trung ương22 Thêm đó, về tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm ngoài những quy định đang hiện hành theo khoản 1 và 2 Điều 97 NLĐ còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm ban ngày23
22 Khoản 1 Điều 92 BLLĐ
23Khoản 3 Điều 97 BLLĐ
Trang 32Với những nguyên tắc của chế định tiền lương cũng như thay đổi BLLĐ đều có
xu hướng bảo vệ NLĐ, đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho lao động nữ trong quá trình hoạt động sản xuất
1.4.2.3 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
So với lao động là nam giới, lao động nữ chịu nhiều áp lực và sức ép thời gian hơn vì ngoài thời gian làm việc người phụ nữ còn có trách nhiệm chăm lo đời sống gia đình Đặc biệt trong thời gian mang thai ảnh hưởng rất lớn đến thể lực cũng như tinh thần người phụ nữ Vì vậy, để giảm thiểu áp lực trên vai lao động nữ các quy định về thời gian làm việc đối với lao động đặc thù này cũng linh động hơn:
Nhà nước khuyến khích NSDLĐ áp dụng chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, làm việc tại nhà;
NSDLĐ không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và
đi công tác xa đối với lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo; lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng;
Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương24
Thời giờ nghỉ ngơi: nghỉ ngơi là một trong các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận: “Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương và chế độ nghỉ ngơi”25 Vì những đặc điểm sinh lý có những khoảng thời gian sức khỏe, tâm lý bị ảnh hưởng lao động nữ cần được nghỉ ngơi, pháp luật quy định về thời giờ nghỉ ngơi áp dụng riêng cho lao động nữ:
Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút;
Trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời giờ làm việc;
Lao động nữ trong thời kì thai sản còn được nghỉ hưởng nguyên lương Một đổi mới quan trọng trong BLLĐ 2012 có ý nghĩa to lớn đến quyền lợi lao động nữ là thời gian nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng thay vì 04 tháng so với trước đây Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm 01 tháng Hết thời gian thai sản theo quy định nếu có nhu cầu, lao
24 Khoản 1, 2 Điều 153 BLLĐ
25 Khoản 2 Điều 35 Hiến pháp
Trang 33động nữ vẫn có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thỏa thuận với NSDLĐ
1.4.2.4 An toàn lao động, vệ sinh lao động (ATLĐ, VSLĐ)
Bảo đảm ATLĐ, VSLĐ không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của NSDLĐ mà còn
là trách nhiệm của NLĐ, toàn thể xã hội Lao động nữ là đối tượng chân yếu tay mềm đòi hỏi cần có sự quan tâm về điều kiện lao động, chăm sóc bảo vệ sức khỏe của Nhà nước, cơ quan tổ chức, các cấp, các ngành và của NSDLĐ Ngoài những quy định về ATLĐ, VSLĐ quy định tại Chương IX BLLĐ, pháp luật lao động có những quy định dành riêng phù hợp với nhu cầu cơ bản của lao động nữ:
Chính sách Nhà nước đối với lao động nữ: có những biện pháp cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe nhằm giúp lao động nữ phát huy hiệu quả năng lực nghề nghiệp;
NSDLĐ không được sử dụng lao động nữ vào những công việc có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con theo quy định của nhà nước;
NSDLĐ không được sử dụng lao động nữ vào công việc phải ngâm mình thường xuyên dưới nước, công việc làm thường xuyên dưới hầm mỏ
Bên cạnh các yêu cầu điều kiện làm việc an toàn, pháp luật còn quy định về môi trường làm việc vệ sinh, hợp lý cho lao động nữ trong các sinh hoạt cá nhân bảo đảm
có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc;
Với chức năng làm mẹ, để đảm bảo an toàn cho cả người mẹ và đứa trẻ, lao động
nữ trong thời kỳ mang thai còn được hưởng các chế độ lao động như:
Mang thai từ 07 tháng tuổi hoặc 06 tháng nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì NSDLĐ không được
sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa;
Mang thai từ tháng thứ 07 được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc giảm bớt
01 giờ làm việc hàng ngày nếu làm công việc nặng nhọc
1.4.2.5 Kỷ luật lao động
NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý của NSDLĐ Trong quá trình lao động, sản xuất NLĐ phải tuân thủ nội quy lao động để dây chuyền sản xuất vận hành theo quy trình nhất định Thực tế, trên mỗi hợp đồng lao động đều quy định rõ NLĐ phải tuân thủ theo sự điều hành, quản lý của NSDLĐ, quyền điều hành quản lý của NSDLĐ và nghĩa vụ tuân thủ theo sự điều hành quản lý của NLĐ cũng được pháp luật lao động ghi nhận26 Trong đó, NLĐ phải chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân thủ theo sự điều hành của NSDLĐ; NSDLĐ
26 Tại khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 1 Điều 6 BLLĐ
Trang 34được quyền bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh; khen thưởng
và xử lý kỷ luật lao động
Ngoài việc tuân thủ sự điều hành, quản lý của NSDLĐ, nội quy lao động như mọi người lao động khác lao động nữ trong thời kỳ mang thai và giai đoạn đầu phát triển của đứa trẻ được hưởng những ưu đãi:
Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp NSDLĐ là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc NSDLĐ không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý
kỷ luật lao động
Những quy định thể hiện sự ưu đãi với lao động nữ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phụ nữ và trẻ em, giúp lao động nữ ổn định tâm lý, tránh trường hợp NSDLĐ phân biệt đối xử đối với phụ nữ mang thai
1.4.2.6 Chấm dứt hợp đồng lao động
Chấm dứt hợp đồng lao động ảnh hưởng quan trọng đến cuộc sống NLĐ đặc biệt
là lao động nữ không những ảnh hưởng đến nguồn thu nhập hàng ngày còn ảnh hưởng đến tinh thần, tâm lý NLĐ Chính vì thế pháp luật có những quy định nhằm hạn chế việc chấm dứt hợp đồng đối với lao động nữ:
NSDLĐ không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
Trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi không bị
xử lý kỷ luật lao động trong đó có hình thức kỷ luật sa thải;
Một quy định mới trong BLLĐ 2012 cho phép lao động nữ mang thai đơn phương chấm dứt HĐLĐ hoặc tạm hoãn HĐLĐ nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi, thời hạn phải báo trước cho NSDLĐ tùy thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định thay vì chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ như trước đây Quy định này có điểm tiến bộ hơn giúp lao động nữ có thể quay trở lại làm việc khi sức khỏe ổn định hoặc sau khi sinh con27
Những quy định về cơ sở pháp lý, thủ tục chấm dứt HĐLĐ, hậu quả khi chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật một cách chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi lao động nữ với
27Điều 156 BLLĐ