1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự việt nam và việc đảm bảo quyền con người đối với người đối với người chưa thành niên phạm tội

67 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 871,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH S

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI ĐỐI

VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Người thực hiện:

LÊ VŨ HUY

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2011

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt và quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

1.1 Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt

1.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt

1.1.2 Các căn cứ quyết định hình phạt

1.1.2.1 Căn cứ vào các qui định của BLHS

1.1.2.2 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm

1.1.2.3 Căn cứ vào nhân thân người phạm tội

1.1.2.4 Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS

1.2 Một số vấn đề lý luận về quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

1.2.1 Khái quát về người chưa thành niên phạm tội

1.2.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

1.2.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

1.2.2 Khái niệm quyền con người

1.2.2.1 Định nghĩa

1.2.2.2 Các tính chất của quyền con người

1.2.2.3 Quyền con người và quyền công dân

1.3 Quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

1.3.1 Quyền con người của người chưa thành niên

1.3.2 Quyền con người đặc thù của người chưa thành niên phạm tội

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI

2.1 Các loại hình phạt không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

2.2 Giới hạn quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

2.2.1 Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm một tội 2.2.1.1 Quyết định hình phạt cảnh cáo đối với người chưa thành niên phạm tội 2.2.1.2 Quyết định hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội

2.2.1.3 Quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội

2.2.1.4 Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội 2.2.2 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội

Trang 3

2.3 Đánh giá chung

CHƯƠNG 3: NHỮNG BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 3.1 Về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

3.1.1 Bất cập trong quy định tại Điều 71 BLHS

3.1.2 Bất cập trong quy định hình phạt phần các tội phạm

3.2 Về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

3.2.1 Trong trường hợp phạm một tội

3.2.2 Trường hợp phạm nhiều tội

3.2.2.1 Qui định tại Điều 75 BLHS

3.2.2.2 Tổng hợp hình phạt cải tạo không giam giữ

3.3 Các trường hợp khác

3.3.1 Trường hợp người chưa thành niên phạm tội có nhiều bản án

3.3.2 Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội nhiều lần, tội liên tục

KẾT LUẬN

Trang 4

Bộ luật Hình sự hiện hành xây dựng một chương riêng quy định đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội Quy định này dựa trên cơ sở phân tích về tâm, sinh lý đối với người chưa thành niên Đây là đối tượng chưa phát triển đầy đủ

về thể chất cũng như về tâm, sinh lý, họ bị hạn chế về trình độ nhận thức cũng như

về kinh nghiệm sống, thiếu những điều kiện về bản lĩnh tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao nên họ dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm Do đó, pháp luật hình sự Việt Nam đã đặt ra những nguyên tắc riêng khi xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên Chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên là nhằm giúp

đỡ, cải tạo, giáo dục để người chưa thành niên nhận ra sai lầm từ đó sửa chữa những sai lầm của mình, tạo điều kiện để các em có khả năng tái hòa nhập cuộc sống

Tuy nhiên, các qui định của pháp luật hình sự hiện nay vẫn còn một số điểm hạn chế trong việc đảm bảo quyền của người chưa thành niên phạm tội, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng vì phải áp dụng các nguyên tắc của luật hình sự Do đó, tác

giả lựa chọn đề tài “Các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt

Nam và việc đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên phạm tội" làm đề

tài nghiên cứu khoa học nhằm nghiên cứu một cách toàn diện về quyền con người của người chưa thành niên phạm tội trong các quy định về hình phạt hiện hành trong pháp luật hình sự Việt Nam, hướng tới một hệ thống pháp luật hình sự ngày càng đảm bảo tốt hơn quyền con người

- Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là chủ đề mang tính thời sự nóng bỏng và nhạy cảm, được sự quan tâm không chỉ của dư luận xã hội mà còn của cả các nhà nghiên cứu lập pháp, không chỉ trong nước mà cả dư luận quốc tế Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa có công trình

Trang 5

2

khoa học nghiên cứu một các toàn diện và sâu sắc về vấn đề đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng các quy định của pháp luật hình sự Hiện nay, đã có một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật nghiên cứu về vấn đề này là

"Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội" do tác giả Đặng Thị

Thanh Thảo thực hiện (tháng 7 năm 2011), và một số bài viết ngắn đăng trên các tạp chí viết về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, những quy định về người chưa thành niên phạm tội và vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi cho các em, khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra – cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người chưa thành niên phạm tội…

Các bài viết trên tập trung vào các quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội mà chưa đề cập đến khía cạnh đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên Do đó, với một góc nhìn mới, nghiên cứu các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội dưới góc độ quyền con người, tác giả hy vọng sẽ góp phần vào việc bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng chính các quy định của pháp luật hình sự, bảo đảm tính nhân văn của pháp luật hình sự trong quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế

-Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định về quyết định hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam, từ đó xem xét và đánh giá các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về vấn đề đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

và kiến nghị những vấn đề cần giải quyết để ngày càng đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên trong pháp luật hình sự

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài đề cập đến các nội dung sau:

+ Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt và quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

+ Thực trạng các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội với việc đảm bảo quyền con người

+ Những bất cập trong các quy định về quyết định và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

-Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp sau để chuyển tải các nội dung của đề tài và đạt được mục đích nghiên cứu: phương pháp

Trang 6

3

duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp,

so sánh, thống kê

- Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Từ việc so sánh các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam với các quyền con người của người chưa thành niên đã được ghi nhận pháp luật quốc tế nhằm tìm ra những mặt tích cực cũng như hạn chế của pháp luật hình sự Việt Nam về việc đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên phạm tội trong các quy định về quyết định hình phạt, đề tài sẽ tìm ra những giải pháp hoàn thiện các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự nhằm ngày càng bảo đảm tốt hơn quyền con người của người chưa thành niên Các giải pháp dự kiến sẽ là đề xuất hoàn thiện các quy định hiện hành bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (các hình phạt được áp dụng, các hình phạt không được áp dụng, quyết định hình phạt, đường lối xử lý…), kiến nghị các giải pháp khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong quá trình thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian luật chưa được hoàn thiện

Với những giải pháp đề xuất, đề tài sẽ góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật hình sự hiện hành và giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm ngày càng bảo đảm tốt hơn quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng chính các quy định của pháp luật hình sự

- Bố cục của đề tài

Đề tài gồm những phần sau: Mục lục, Lời nói đầu, Nội dung, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo

Phần Nội dung gồm 3 chương:

+ Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt và quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

+ Chương 2: Thực trạng các quy định về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội với việc đảm bảo quyền con người

+ Chương 3: Những bất cập trong các quy định về quyết định và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

Trang 7

4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

VÀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.1 Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt

1.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt

Tội phạm và hình phạt là hai chế định cơ bản nhất trong luật hình sự và luôn đi đôi với nhau Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị đe dọa áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, đó chính là trách nhiệm hình sự (TNHS) Trong các hình thức của TNHS, hình phạt là hình thức cơ bản và quan trọng nhất Khi xác định một người là có tội thì Hội đồng xét xử (HĐXX) phải áp dụng hình phạt đối với

họ nếu không có căn cứ miễn TNHS hay miễn hình phạt Tuy nhiên, phần chế tài của mỗi tội danh thường có nhiều loại hình phạt với mức tối đa, mức tối thiểu của hình phạt đó, HĐXX phải lựa chọn một loại hình phạt cụ thể với một mức cụ thể đế áp dụng cho người phạm tội Hoạt động đó được gọi là quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt

Ví dụ: A phạm tội giết người thuộc trường hợp qui định tại khoản 1 Điều 93 BLHS có mức hình phạt là 12-20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Trong trường hợp này, khi áp dụng hình phạt đối với A, HĐXX phải lựa chọn 1 trong 3 loại hình phạt

đã được quy định tại Khoản 1 Điều 93 để áp dụng, giả sử HĐXX chọn hình phạt tù

có thời hạn thì phải tiếp tục lựa chọn mức áp dụng là bao nhiêu năm tù (trong giới hạn từ 12 đến 20 năm) Giả sử HĐXX lựa chọn loại hình phạt áp dụng là tù có thời hạn với mức hình phạt là 15 năm tù – đây là hoạt động quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là một trong những khâu quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự Sau khi định tội danh, nếu người phạm tội không có cơ sở để miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt thì phải quyết định hình phạt đối với

họ

Khi qui định các hình phạt trong các quy phạm pháp luật (QPPL) hình sự, xuất phát từ chỗ các CTTP được quy định trong BLHS chỉ là những khuôn mẫu (mô hình) pháp lý được xây dựng từ thực tế đa dạng của mỗi loại tội phạm nên trong các QPPL hình sự nhà làm luật cũng chỉ có có khả năng quy định những hình phạt với giới hạn tương đối (trong phạm vi khung hình phạt) đối với từng loại tội phạm

Tuy nhiên, trên thực tế, những hành vi tuy cùng phạm một tội danh nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn khác nhau, với các tình tiết luôn biến

1 Đại học Luật Tp.HCM, Tập bài giảng Luật hình sự, tr.247

Trang 8

5

hóa một cách đa dạng và phong phú Do đó, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và của các nguyên tắc của luật hình sự đòi hỏi hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội phải cụ thể trong phạm vi luật quy định, phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, phù hợp với nhân thân người phạm tội Do vậy, nhiệm vụ của Tòa án khi quyết định hình phạt là phải lựa chọn một hình phạt với một mức áp dụng cụ thể và biện pháp chấp hành hình phạt đó

* Về thẩm quyền quyết định hình phạt

Thẩm quyền quyết định hình phạt thuộc về cơ quan duy nhất đó là Tòa án Tòa

án nhân danh Nhà nước, căn cứ vào qui định của luật hình sự, áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, thể hiện sự lên án của Nhà nước, xã hội đối với hành vi phạm tội Hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án được thực hiện thông qua Hội đồng xét xử

* Ý nghĩa: Việc Tòa án quyết định một hình phạt công minh, có căn cứ và đúng

pháp luật có ý nghĩa quan trọng :

- Quyết định hình phạt đúng đắn chính là sự thực hiện các yêu cầu của các nguyên tắc của Luật hình sự trong việc áp dụng pháp luật hình sự

- Quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý để thực hiện mục đích của hình phạt là phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung và cũng thông qua đó đảm bảo hiệu quả của hình phạt

1.1.2 Các căn cứ quyết định hình phạt

Khi quyết định hình phạt, Tòa án có quyền lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng với người phạm tội Tuy nhiên, việc lựa chọn này không thể thực hiện một cách tùy tiện mà phải trên những cơ sở, căn cứ để lựa chọn nhằm bảo đảm tính công minh của pháp luật, nhằm áp dụng hình phạt tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Không thể quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, nếu quyết định hình phạt quá nhẹ thì sẽ không đạt được mục đích phòng ngừa của hình phạt, trong đó có mục cải tạo, giáo dục người phạm tội, còn nếu quyết định hình phạt quá nặng thì sẽ không công bằng, tạo tạm lý không tin tưởng vào pháp luật Do

đó, Điều 45 BBLHS quy định các căn cứ quyết định hình phạt như sau:

1.1.2.1 Căn cứ vào các qui định của BLHS

Các quy định của BLHS là căn cứ quyết định hình phạt bao gồm các quy định ở phần chung và ở phần các tội

- Căn cứ vào các quy định ở Phần chung của BLHS khi quyết định hình phạt nhằm xác định các vấn đề mang tính nguyên tắc về tội phạm và hình phạt

Trang 9

6

- Căn cứ vào các quy định ở phần các tội phạm của BLHS khi quyết định hình phạt là quy định về khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung cho từng loại tội, hay nói cách khác, đó chính là chế tài đối với một tội phạm cụ thể được qui định trong điều luật ở phần các tội phạm

Khi quyết định hình phạt, tòa án phải căn cứ vào “các qui định của BLHS” để

lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội Qui định này một mặt xuất phát từ việc các quy định về tội phạm và hình phạt làm cơ

sở cho việc quyết định hình phạt đều được qui định trong BLHS nên khi quyết định hình phạt bắt buộc phải dựa vào các qui định của BLHS; mặt khác nó cũng là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế XHCN trong quyết định hình phạt

1.1.2.2 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm

Chế tài là hậu quả pháp lý bất lợi do thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra, và việc áp dụng chế tài là nhằm răn đe, giáo dục người có hành vi vi phạm pháp luật Do

đó, việc áp dụng chế tài có hiệu quả hay không phải được tính toán trên cơ sở tính chất và mức độ của từng hành vi vi phạm Mức độ nghiêm khắc của chế tài phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi vi phạm gây ra, không quá nghiêm khắc, cũng không quá nhẹ so với hành vi vi phạm Vì vậy, trong luật hình sự, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đã được nhà làm luật sử dụng làm căn cứ chủ yếu khi quy định tội phạm, quy định loại hình phạt và khung chế tài đối với từng loại tội phạm cụ thể Do vậy, khi quyết định hình phạt (là việc lựa chọn loại

và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung chế tài cho phép) Tòa án bắt buộc phải

căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

1.1.2.3 Căn cứ vào nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn

đề TNHS của họ

Nhân thân người phạm tội được coi là căn cứ để quyết định hình phạt nhằm đạt được mục đích của hình phạt là trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới Bởi, việc áp dụng hình phạt có đạt được mục đích hay không còn phụ thuộc vào những đặc điểm nhân thân của người bị áp dụng Đối với những người có đặc điểm nhân thân khác nhau, dù họ cùng phạm một tội với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội như nhau nhưng khả năng cải tạo, giáo dục họ vẫn khác nhau, do đó, hình phạt áp dụng đối với họ là khác nhau

Trang 10

7

1.1.2.4 Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là những tình tiết không có ý nghĩa về mặt định tội, định khung hình phạt mà chỉ có tác dụng làm tăng hoặc giảm mức độ TNHS trong phạm vi một khung hình phạt nhất định Bởi, như đã nêu, tính nghiêm khắc của chế tài phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Do đó, khi xuất hiện các tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS thì nó sẽ làm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tăng lên hoặc giảm đi, do đó, mức hình phạt cũng phải được cân nhắc tăng hoặc giảm tương ứng

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 46 BLHS và các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 48 BLHS Trên thực tế, nhà làm luật không thể qui định được các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS có ảnh hưởng đến mức độ nào đối với việc quyết định hình phạt bởi vì ý nghĩa của từng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS tùy thuộc vào từng loại tội cụ thể, vào từng vụ án cụ thể Do vậy, khi quyết định hình phạt Tòa án phải đánh giá các tình tiết này có ảnh hưởng như thế nào đối với việc quyết định hình hình phạt Hay nói cách khác, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS được coi là một trong những căn cứ quyết định hình phạt

1.2 Một số vấn đề lý luận về quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

1.2.1 Khái quát về người chưa thành niên phạm tội

1.2.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên là những đối tượng dễ bị tổn thương và được các Nhà nước, các cộng đồng quan tâm bảo vệ Nghiên cứu khái niệm người chưa thành niên chính là nghiên cứu về phạm vi các đối tượng được xem là người chưa thành niên Người chưa thành niên có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

- Dưới góc độ tâm sinh lý:

Người chưa thành niên là những người đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển Từ khi mới sinh ra, con người đã phải trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau để đạt được sự trưởng thành với sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần Cho đến giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đời sống tâm lý của người chưa thành niên cũng có những biến đổi sâu sắc Họ có tâm lý muốn khẳng định mình, muốn được người khác chấp nhận Nhìn chung, ở lứa tuổi này, người chưa thành niên chịu sự tác động chủ yếu của môi trường sống Sự phát triển về nhân cách và sự hình thành các phẩm chất thuộc về nhân thân của họ chịu sự chi phối có tính chất quyết định bởi nền giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội

Trang 11

8

Về thể lực: phải đến giai đoạn đầu của tuổi thanh niên (14-15 đến 17-18 tuổi 2) thì sự phát triển của hệ xương mới bắt đầu được hoàn thiện, những cơ bắp tiếp tục

phát triển, nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng bắt đầu chậm lại Về hệ

thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc

bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn Số lượng dây thần kinh liên hợp, liên kết và các phần khác nhau của võ não được tăng lên Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp của

võ bán cầu đại não trong quá trình học tập và lao động.3

Do đó, có thể kết luận, dưới góc độ tâm sinh lý, người chưa thành niên là người

chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần

Theo pháp luật quốc tế, "người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Giới

hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền

tự do của người chưa thành niên".4 Quy định này cho thấy trong pháp luật quốc tế, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi

Tuy nhiên, tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng

Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 qui định: "Trẻ em có nghĩa là người dưới

18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" Như vậy, theo hai văn bản này, khái niệm người chưa thành niên và khái

niệm trẻ em đồng nhất với nhau – đều là người dưới 18 tuổi Ở tuổi từ đủ 18 trở lên thì được coi là người đã thành niên là đồng thời cũng không còn là trẻ em Các văn bản này lấy tuổi làm ranh giới xác định người đã thành niên và người chưa thành niên Tuy nhiên, các văn bản này này không xác định mức tuổi một cách tuyệt đối

mà quy định mở để từng quốc gia thành viên của Công ước có quyền xác định tuổi thành niên sớm hơn (tức dưới 18 tuổi) nhưng phải được qui định trong luật của quốc gia đó

2 Tâm lý tuổi học trò, Nxb Lao động, năm 2008, trang 42

3 Tâm lý tuổi học trò, Nxb Lao động, năm 2008, trang 43

4 Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990, mục a Quy tắc 2.1

Trang 12

9

Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên được qui định

trong nhiều văn bản khác nhau

Theo luật dân sự, khái niệm người chưa thành niên được qui định tại Điều 18

Bộ luật dân sự (BLDS): "Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên"

Theo luật lao động, khái niệm người chưa thành niên được qui định tại Điều

119 Bộ luật lao động (BLLĐ): "Người lao động chưa thành niên là người lao động

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, "Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16

tuổi" Theo pháp luật Việt Nam, trẻ em là người có độ tuổi dưới 16, nhưng qui định

này không trái với các Công ước của Liên hợp quốc vì tại Công ước về quyền trẻ em

có qui định "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp

dụng đối với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn" Như vậy, theo pháp luật

Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên và trẻ em là hai khái niệm khác biệt, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, còn trẻ em là người chưa đủ 16 tuổi

Sự tồn tại hai khái niệm khác nhau như đã nêu có thể sẽ gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên, bởi lẽ theo pháp luật quốc tế thì khái niệm người chưa thành niên và trẻ em là đồng nhất nên việc bảo vệ người chưa thành niên sẽ thực hiện theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 của Liên hợp quốc Còn theo pháp luật Việt Nam, việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên chưa có một văn bản riêng biệt Hiện nay các qui định về đảm bảo quyền con người của người chưa thành niên được ghi nhận một cách tập trung vào đối tượng người chưa thành niên dưới 16 tuổi bằng các qui định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo

5 Điều 68 BLHS 1999: "Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo những qui định của Chương này, "

Trang 13

10

dục trẻ em năm 2004 Quyền lợi cụ thể của những người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi chưa được ghi nhận chính thức trong một văn bản luật riêng biệt nào

Như vậy, thông qua các qui định trong các Công ước của Liên hợp quốc và các

văn bản pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể xác định: "Người chưa thành niên là

người chưa đủ 18 tuổi"

1.2.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Như đã phân tích ở trên, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi Bên cạnh đó, Điều 12 BLHS qui định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) như sau:

"1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

Trong luật hình sự Việt Nam, người phạm tội là người đã thực hiện hành vi bị luật hình sự qui định là tội phạm, nhưng không phải bất cứ người nào thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong BLHS cũng có thể trở thành người phạm tội Để trở thành chủ thể của tội phạm (người phạm tội) thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS Do vậy, người chưa thành niên phạm tội chỉ bao gồm các đối tượng ở các nhóm tuổi sau:

+ Người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi bị luật hình sự qui định là tội phạm, bất kể đó là loại tội phạm gì, được thực hiện với lỗi gì

+ Người từ đủ 14 đến chưa đủ 16 tuổi thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp này, nếu người chưa thành niên thực hiện hành vi nguy hiểm bị luật hình sự qui định là tội phạm rất nghiêm trọng thì họ chỉ phải chịu TNHS khi tội phạm đó được thực hiện với lỗi cố ý, còn nếu họ thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý thì không phải chịu TNHS Đối với trường hợp tội phạm mà những người ở độ tuổi này thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì họ đều phải chịu TNHS cho dù tội phạm đó được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý

Từ đó, chúng ta có thể xác định những trường hợp người chưa thành niên thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải là người phạm tội vì họ chưa

đủ tuổi chịu TNHS Cụ thể:

+ Người chưa đủ 14 tuổi

Trang 14

11

+ Người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự qui định là tội phạm ít nghiêm trọng (cố ý hoặc vô ý), hoặc tội phạm nghiêm trọng (cố ý hoặc vô ý), hoặc tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi vô ý

Ví dụ:

Người 15 tuổi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản theo Điều 138 BLHS thì tùy trường hợp mà người này có thể đủ tuổi chịu TNHS hoặc không Nếu hành vi của họ thuộc trường hợp qui định tại khoản 1 Điều 138 BLHS thì họ không phải chịu TNHS (chưa đủ tuổi chịu TNHS), vì đây là tội phạm ít nghiêm trọng, mức cao nhất của khung hình phạt là 3 năm tù Nhưng nếu hành vi của họ thuộc trường hợp qui định tại khoản 3 Điều 138 BLHS thì họ phải chịu TNHS (đủ tuổi chịu TNHS), vì đây là tội phạm rất nghiêm trọng được thực hiện với lỗi cố ý, mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 15 năm tù

Như vậy, có thể kết luận, người chưa thành niên phạm tội là người có năng

lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS đã thực hiện tội phạm được qui định trong BLHS khi chưa đủ 18 tuổi

* Cách tính tuổi chịu TNHS:

Tuổi chịu TNHS là dấu hiệu bắt buộc khi xác định chủ thể của tội phạm Một người chưa đủ tuổi theo qui định tại Điều 12 BLHS thì không thể trở thành chủ thể của tội phạm và đương nhiên họ không phải chịu TNHS Do đó, việc xác định chính xác tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có vai trò quan trọng đối với việc xác định một người có phải chịu TNHS hay không Bên cạnh đó, việc xác định chính xác tuổi còn nhằm giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đúng các chính sách, chủ trương, nguyên tắc, đường lối xử lý hình sự đối với những người ở các nhóm tuổi khác nhau (như người chưa thành niên, người già, )

Vấn đề xác định tuổi theo qui định của luật hình sự là tính tuổi tròn, tuổi đủ, nghĩa là phải đủ ngày, đủ tháng Ví dụ: Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, như vậy, người 17 tuổi 11 tháng 15 ngày vẫn được xem là người chưa đủ 18 tuổi và được xem là người chưa thành niên

Việc tính tuổi của bị can, bị cáo sẽ căn cứ trên những giấy tờ có ghi nhận ngày sinh của bị can, bị cáo mà trước hết chính là giấy khai sinh của họ.Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm sinh của bị can,

bị cáo vì những lý do như bị can, bị cáo không có giấy khai sinh, không có giấy tờ tùy thân Điều này sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tuổi chịu TNHS của bị can, bị cáo Tuy nhiên, Viện kiển sát nhân dân tối cao,

Trang 15

12

Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp và Bộ lao động, thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-

BLĐTBXH ngày ngày 12 tháng 07 năm 2011 về hướng dẫn thi hành một số quy định

của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, theo đó

hướng dẫn về việc tính tuổi của người phạm tội là người chưa thành niên Theo Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH, tuổi chịu TNHS sẽ tính như sau:

- Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của người phạm tội;

- Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quý đó làm ngày sinh của người phạm tội;

- Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của người phạm tội;

- Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm sinh đó làm ngày sinh của người phạm tội

Trong trường hợp đặc biệt, nếu không xác định được năm sinh của người phạm tội thì tiến hành trưng cầu giám định để xác định tuổi của người phạm tội

Như vậy, theo tinh thần của Thông tư liên tịch số TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH, việc xác định tuổi của người phạm tội được thực hiện theo nguyên tắc suy đoán có lợi Điều này xuất phát từ nghĩa vụ chứng minh tội phạm và người phạm tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyền nhưng buộc phải chứng minh là mình vô tội 6 Đồng thời, BLTTHS cũng qui định "không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" 7 Do đó, nếu cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được chính xác họ sinh vào ngày, tháng, năm nào thì phải suy đoán theo hướng tuổi thấp nhất cho họ (suy đoán có lợi)

6 Điều 10 BLTTHS 2003

7 Điều 9 BLTTHS 2003

Trang 16

bố như là khát vọng cao cả nhất của những người dân bình thường 8 Do đó, nhu cầu kiến thức về lĩnh vực quyền con người ngày càng trở nên cần thiết cho công chúng nói chung cũng như cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội

Quyền con người là một phạm trù đa diện do đó có nhiều cách định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định

Các học giả theo trường phái pháp luật tự nhiên cho rằng: quyền con người là đặc quyền tự nhiên Đặc quyền tự nhiên này do pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định Quan niệm khác xem con người cũng như quyền con người trong tổng hoà các mối quan hệ xã hội Theo quan niệm này, nhân quyền là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời đại khác nhau

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc

“chuyển nhượng” các quyền này Các quyền không thể tước bỏ bao gồm quyền được sống, quyền tự do (các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội) quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền

mà các công dân có được trong một nền dân chủ Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó

Học thuyết Mác-Lê Nin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng giá trị

8 Lời mở đầu Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948

Trang 17

14

tinh hoa của nhân loại về con người và quyền con người Các Mác đã xuất phát từ con người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật-xã hội ” Do đó quyền con người

là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội”

Từ những cách tiếp cận khác nhau đã xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người ở cấp độ quốc gia hay quốc tế

Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền

con người : "Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo

vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn

Ngoài ra, còn có các định nghĩa khác như "Quyền con người là những sự được

phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là

nhiên, cơ bản của con người Ở Việt Nam, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận

và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế 11 Như vậy, các quan điểm về quyền con người ở Việt Nam cũng thừa nhận quyền con người là những quyền tự nhiên, tuy nhiên phải có sự ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế

Theo Từ điển Tiếng Việt 1992, quyền là: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công

nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” Từ đó, có thể hiểu quyền con người

là những quyền mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng

Như vậy, trong tư tưởng nhân loại hiện đại thì con người và những gì thuộc về con người là những giá trị, mục đích cao cả nhất đối với mọi tổ chức và tất cả các xã hội Khái niệm quyền con người là một khái niệm mở bởi nó có thể thay đổi theo sự phát triển của con người và xã hội loài người Cũng vì lí do này mà việc bảo đảm thực hiện quyền con người là một quá trình liên tục và phức tạp gắn chặt với từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể Nhưng tựu chung lại, để quyền con người có thể được nhìn nhận là một giá trị cao cả thì Nhà nước phải là chủ thể đầu tiên có trách nhiệm thực hiện quyền con người bằng hệ thống pháp luật dân chủ và tiến bộ

Về bản chất, quyền con người là những vấn đề thuộc riêng về con người nên bản chất của quyền con người xuất phát từ chính bản chất của con người Con người

là một thực thể tự nhiên-xã hội, là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, cho

9 Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, trang 41

10 Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, trang 42

11 Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009, trang 42

Trang 18

15

nên quyền con người cũng vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội Do con người là một thực thể sinh học xã hội, cho nên quyền con người vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù Tính phổ biến của quyền con người có nghĩa quyền con người được áp dụng phổ biến mọi nơi, cho mọi đối tượng Tính đặc thù của quyền con người có nghĩa, quyền này ở mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ do trình độ phát triển khác nhau mà có đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện của quốc gia, lãnh thổ đó Quyền con người mang tính xã hội, nên trong xã hội có sự phân chia giai cấp nên nó vừa mang tính giai cấp sâu sắc, vừa là một giá trị của nhân loại Trong Nhà nước XHCN có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợí ích toàn xã hội Lợí ích cá nhân là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, đồng thời bảo đảm lợi ích của tập thể, của cả cộng đồng xã hội Tức là quyền con người phải được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợí ích xã hội

Như vậy, “quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người

mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội nhất định Quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính nhân loại và thống nhất với quyền dân tộc cơ bản”

Về đặc điểm của quyền con người đã được T.S Võ Thị Kim Oanh liệt kê như sau:

- Quyền con người là những giá trị vừa gắn liền với cá nhân con người, vừa gắn liền với lợi ích quốc gia dân tộc Bởi, con người là công dân của một nhà nước, là thành viên của một dân tộc, cộng đồng và không ai sống riêng rẻ ngoài cộng đồng

- Quyền con người vừa mang tính chất tự nhiên, vừa mang tính xã hội vì con người là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội Quyền con người xuất phát

từ đặc điểm tự nhiên của con người nhưng con người lại tồn tại trong xã hội nên quyền con người cũng mang tính xã hội và bị chi phối bởi các đặc tính của xã hội mà con người tồn tại

- Quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù Vấn đề bảo

vệ quyền con người là vấn đề chung của toàn cầu nhưng mỗi quốc gia ghi nhận và thực hiện vấn đề này ở những mức độ và cách thức khác nhau phụ thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia đó

Việc nắm vững bản chất và đặc điểm của quyền con người sẽ giúp tìm ra cách

lý giải cho việc tồn tại những mức độ khác nhau của việc bảo đảm quyền con người khi nghiên cứu các chế định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; tìm ra cách thức đảm bảo quyền con người và hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như cơ

Trang 19

có mà không phụ thuộc vào các nhân tố xã hội

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các quyền con người có tính phổ biến, nghĩa là như nhau giữa mọi người, tất cả các cá nhân đều có các quyền này Nhưng điều đó không có nghĩa là mức độ hưởng thụ các quyền này giữa các cá nhân là như nhau,

mà các quyền con người sẽ còn phụ thuộc vào tư cách chủ thể, hay nói cách khác, giữa các nhóm chủ thể khác nhau thì quyền của họ cũng khác nhau, nhưng những cá nhân trong cùng một nhóm chủ thể thì quyền của họ sẽ là như nhau

- Tính không thể chuyển nhƣợng

Quyền con người là những quyền không thể bị tước bỏ hoặc hạn chế bởi bất cứ một thế lực nào, kể cả Nhà nước Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận những trường hợp đặc biệt mà quyền con người có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế, đó chính là khi một cá nhân thực hiện những hành vi đi ngược với lợi ích của xã hội, ngược với tiêu chuẩn chung của loài người, của cộng đồng xã hội, khi đó, họ đã tự tách biệt mình khỏi xã hội loài người thậm chí xâm phạm lợi ích của cộng đồng nên quyền của họ có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nhằm bảo vệ quyền con người của những cá thể khác trong xã hội, đúng chuẩn mực chung của xã hội loài người

- Tính không thể phân chia

Các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, không quyền nào có giá trị cao hơn hay thấp hơn quyền nào Bất cứ một quyền nào bị xâm phạm thì cũng đã xâm phạm đến quyền con người

Tuy nhiên, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, trong từng bối cảnh xã hội mà việc thực hiện, bảo đảm các quyền con người có thể có các thứ tự ưu tiên khác nhau Các thức tự ưu tiên này không dựa trên các giá trị cao hay thấp của quyền con người

mà dựa trên tình hình cấp thiết của việc bảo đảm các quyền đó trong từng bối cảnh

cụ thể

Trang 20

17

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Các quyền con người nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự

vi phạm quyền này sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

1.2.2.3 Quyền con người và quyền công dân

Quyền con người có mối liên hệ mật thiết với quyền công dân Các Mác cho rằng quyền con người và quyền công dân luôn nằm trong một chỉnh thể thống nhất,

có mối quan hệ biện chứng với nhau “Quyền công dân chính là quyền con người

trong một xã hội cụ thể, trong một chế độ chính trị-xã hội nhất định với một nền pháp luật cụ thể do Nhà nước đó thừa nhận quy định”

Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi nhưng không hoàn toàn đồng nhất Quyền công dân là khái niệm xuất hiện cùng cách mạng tư sản Cách mạng tư sản đã đưa con người từ những thần dân trở thành những công dân với

tư cách là những thành viên bình đẳng trong một Nhà nước và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân trong pháp luật Như vậy, về bản chất, các quyền công dân chính là các quyền con người được các Nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình

Tuy nhiên, quyền công dân không phải hình thức cuối cùng và toàn diện của quyền con người Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chỉ cho những người có quốc tịch của nước đó Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định, và không phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người

Trong khi đó, quyền con người là một khái niệm rộng hơn Về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại Về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, chủ thể của quyền con người là tất

cả các thành viên của loài người, bất kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền

Trang 21

1.3 Quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

1.3.1 Quyền con người của người chưa thành niên

Người chưa thành niên là nhóm người dễ bị tổn thương và được quan tâm bảo

vệ không chỉ bằng pháp luật quốc gia mà còn được bảo vệ bằng các quy định của pháp luật quốc tế Do đó, khi nghiên cứu về quyền con người của người chưa thành niên, chúng ta có thể tiếp cận các quyền này ở hai góc độ là pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

* Theo pháp luật quốc tế (CRC – Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989)

Pháp luật quốc tế đồng nhất người chưa thành niên và trẻ em là một – người chưa

đủ 18 tuổi Do đó, khi nghiên cứu về quyền con người của người chưa thành niên trong pháp luật quốc tế chính là nghiên cứu về quyền con người của trẻ em Các quyền này được nghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc thông qua năm 1989 (CRC)

Công ước về quyền trẻ em (Convention on the Rights of the Child) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1989

Những điểm nổi bậc của Công ước:

- Mọi trẻ em đều có quyền cố hữu là được sống và các Nhà nước phải đảm bảo đến mức tối đa quyền được sống còn và phát triển của trẻ

- Mọi trẻ em đều có quyền có họ tên và quốc tịch khi sinh ra

- Trẻ em không thể bị tách rời khỏi các bậc cha mẹ, trừ khi điều đó do các nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành vì lợi ích của trẻ

- Các quốc gia phải giúp đỡ trẻ em đoàn tụ gia đình bắng cách cho phép trẻ em rời khỏi hay trở về đất nước của mình

Trang 22

19

- Cha mẹ có trách nhiệm hàng đầu trong việc nuôi dạy con cái, song Nhà nước phải cung cấp cho họ những trợ giúp cần thiết và phải phát triển những cơ sở chăm sóc trẻ em

- Trẻ em khuyết tật phải có quyền được chăm sóc, giáo dục và chữa trị đặc biệt

- Trẻ em có quyền được hưởng tình trạng sức khỏe ở mức cao nhất có thể được Các nhà nước phải đảm bảo cho tất cả các trẻ em được chăm sóc sức khỏe, trong đó chú trọng các biện pháp phòng ngừa, giáo dục sức khỏe và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ

em

- Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc và miễn phí Kỷ luật nhà trường phải tôn trọng nhân phẩm của trẻ em Giáo dục phải chuẩn bị cho trẻ em một cuộc sống trong tinh thần hiểu biết, hòa bình và khoan dung

- Trẻ em phải có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí và có các cơ hội bình đẳng trong các hoạt động văn hóa và nghệ thuật

- Nhà nước phải bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế và những công việc ảnh hưởng đến công việc học tập của các em hay làm tổn hại đến sức khỏe và hạnh phúc của các em

- Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại việc sử dụng bất hợp pháp những chất

ma túy và tham gia vào việc sản xuất, buôn bán các chất ma túy

- Phải nổ lực hết khả năng để xóa bỏ tệ nạn mại dâm, buôn bán và bắt cóc trẻ em

- Không được áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân cho những người phạm tội dưới 18 tuổi

- Trẻ em bị giam giữ phải giam tách biệt với người lớn và không bị tra tấn hay đối

xử, trừng phạt tàn bạo, hạ nhục

- Không trẻ em nào duối 15 tuổi phải tham gia vào các công việc chiến tranh Những trẻ em bị ảnh hưởng của xung đột vũ trang phải được bảo vệ đặc biệt

- Trẻ em người thiểu số hay bản địa phải được tự do thực hành văn hóa, tôn giáo

và ngôn ngữ riêng của dân tộc mình

- Trẻ em bị xao nhãng, bị bóc lột hay ngược đãi phải được giúp đỡ phục hồi và tái hòa nhập xã hội

Trang 23

* Theo pháp luật Việt Nam

Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người Hiến pháp năm 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế

về nhân quyền

Trong pháp luật Việt Nam, chưa có một văn bản riêng biệt ghi nhận các quyền con người của người chưa thành niên Tuy nhiên, hiện nay chúng ta có một văn bản ghi nhận các quyền con người của một nhóm đối tượng trong nhóm người chưa thành niên là trẻ em, đó chính là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, thì trẻ em có những quyền cơ bản sau đây:

- Quyền được khai sinh và có quốc tịch của trẻ em

Quyền này được qui định tại Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, phù hợp với Điều 7 CRC

Trẻ em phải được khai sinh để xác định sự sinh ra và tồn tại tồn tại của một cá nhân trong cộng đồng xã hội nhằm tạo cơ sở thực hiện những biện pháp bảo vệ, chăm sóc tốt nhất dành cho trẻ

Quyền có quốc tịch cũng là một quyền tự nhiên của con người Khi trẻ được sinh

ra, ngoài việc khai sinh thì trẻ em còn phải có quốc tịch để xác lập quyền và nghĩa

Trang 24

21

vụ pháp lý giữa cá nhân và quốc gia mà trẻ em đó mang quốc tịch, tạo cơ sở pháp lý

để trẻ em được bảo hộ bằng pháp luật của quốc gia đó

- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em

Tương ứng với các qui định tại Điều 8, 18, 20, 24 CRC, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em được qui định tại Điều 12 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

Trẻ em là những người chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần Quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng của trẻ em là một quyền không thể thiếu nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ

- Quyền được sống chung với cha mẹ của trẻ em

Quyền này được qui định tại Điều 13 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, phù hợp với qui định tại Điều 9 CRC

Gia đình là môi trường sống tốt nhất dành cho trẻ Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục và nâng dỡ suốt đời cho mỗi con người, là môi trường hình thành và phát triển nhân cách ccho trẻ, là nơi để trẻ rèn luyện lối sống, đạo đức, tinh thần và kinh nghiệm sống cho trẻ 12 Do đó, trẻ em cần có gia đình, mà người bảo hộ theo pháp luật đương nhiên của trẻ chính là cha mẹ của chúng

- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự của trẻ em

Tương ứng với các nội dung tại Điều 16, 31, 32, 34, 35, 36, 37 CRC, Điều 14 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 qui định trẻ em đực gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự Con người có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc13 Đó là những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người đã được

cả cộng đồng thế giới thừa nhận

- Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Quyền này được qui định tại Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, phù hợp với qui định tại Điều 24 CRC

12 Con hư tại ai?, Nxb Thanh Hóa, 2008, trang 77

13 Tuyên ngôn độc lập của Hoa kì 1776

Trang 25

22

Trẻ em là người chưa phát triển toàn diện về thể chất cũng như về tinh thần Do

đó, trẻ em là đối tượng cần phải chăm sóc đặc biệt để phát triển trí tuệ, thể chất tinh thần và đạo đức Theo đó, cha mẹ là người chịu trách nhiệm đầu tiên đối với việc chăm sóc trẻ

- Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch của trẻ em

Quyền này được qui định tại Điều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, phù hợp với qui định tại Điều 31 CRC

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Do đó, trẻ em cần phải được tham gia vào các hoạt động xã hội để được phát triển toàn diện, bao gồm các hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch

- Quyền được phạt triển năng khiếu của trẻ em

Quyền này được qui định tại Điều 8 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

Trẻ em có quyền được phát triển năng khiếu và được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển năng khiếu

- Quyền sở hữu tài sản của trẻ em

Quyền này được qui định tại Điều 19 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

Trẻ em được sở hữu và thừa kế tài sản theo qui định của pháp luật Tuy nhiên, trẻ

em không thể tự mình tham gia vào các quan hệ dân sự mà cha mẹ, người giám hộ

có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em, đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự, giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em

Trang 26

23

- Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội của trẻ em

Quyền này được qui định tại Điều 20 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

2004, phù hợp với các qui định tại Điều 12, 13, 14, 15, 17 CRC

- Quyền của những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Phù hợp với các qui địn tại Điều 19, 20, 21, 23 CRC, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 dành một chương riêng qui định về các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi (Điều 51); trẻ

em bị khuyết tật, trẻ em là nạn nhận của chất độc hóa học (Điều 52); trẻ em nhiễm HIV/AIDS (Điều 53); trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, trẻ em phải làm việc xa gia đình (Điều 54); trẻ em lang thang (Điều 55); trẻ

em bị xâm hại tình dục (Điều 56); trẻ em nghiện ma túy (Điều 57); trẻ em vi phạm pháp luật (Điều 58);

1.3.2 Quyền con người đặc thù của người chưa thành niên phạm tội

Pháp luật quốc tế đồng nhất người chưa thành niên với trẻ em, đó là người chưa

đủ 18 tuổi Do đó, khi nghiên cứu về quyền con người của người chưa thành niên trong pháp luật quốc tế chính là nghiên cứu về quyền con người của trẻ em Trẻ em

có những quyền con người nói chung đã được ghi nhận tại các Công ước của Liên hợp quốc về quyền con người Bên cạnh đó họ còn có những quyền đặc thù được nghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em (Convention on the Rights of the Child (sau đây gọi tắt là CRC))14 Việt Nam đã phê chuẩn CRC ngày 20/2/1990 Trong pháp luật Việt Nam, hiện nay chưa có một văn bản riêng biệt ghi nhận các quyền con người của người chưa thành niên Tuy nhiên, chúng ta có một văn bản ghi nhận các quyền con người của một nhóm đối tượng trong nhóm người chưa thành niên là trẻ em, đó chính là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Như vậy, về cơ sở pháp lý, chúng ta chỉ có pháp luật qui định về quyền của người chưa thành niên chưa đủ 16 tuổi (tức trẻ em) mà chưa có một văn bản pháp luật riêng biệt qui định về quyền của người chưa thành niên Tuy nhiên, khi nghiên cứu Hiến pháp và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, tác giả nhận thấy các văn bản này quy định những quyền con người của trẻ em nói chung, không có quy định

về những quyền con người đặc thù của người chưa thành niên phạm tội hay trẻ em phạm tội, có nghĩa là những quyền con người riêng biệt của người chưa thành niên

14 Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc được thông qua theo Nghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1989

Trang 27

24

phạm tội so với người thành niên phạm tội Hiện nay, tại Việt Nam, những quyền con người của người chưa thành niên phạm tội so với người thành niên phạm tội chỉ được ghi nhận và thể hiện thông qua các quy định của BLHS Do đó, trong mục này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu và phân tích các quyền con người của người chưa thành niên phạm tội đã được ghi nhận trong hai văn kiện của Liên hợp quốc về quyền con người là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (sau đây gọi

là Công ước 1966) và CRC Từ đó, đối chiếu, so sánh với các quy định hiện hành về hình phạt trong BLHS 1999 nhằm đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam

Về nguyên tắc, cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp phải bảo đảm các quyền con người của người chưa thành niên đã được pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế ghi nhận Tuy nhiên, vì họ là người phạm tội nên sẽ có những quyền bị hạn chế Đối với người chưa thành niên phạm tội, xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của họ là những người chưa phát triển toàn diện về thể chất cũng như về tâm sinh lý nên họ được pháp luật ưu tiên ghi nhận những quyền con người đặc biệt hơn so với người đã thành niên phạm tội Những quyền đặc trưng có thể kể đến bao gồm:

- "Án tử hình không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm

pháp" (Khoản 5 Điều 6 Công ước 1966) Quy định này cũng được ghi nhận tại Điều

37 CRC: "Không được áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân mà không có khả

năng phóng thích cho những người phạm tội dưới 18 tuổi" Như vậy, tại CRC đã mở

rộng thêm một hình phạt không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội (theo CRC là trẻ em) là hình phạt tù chung thân mà không có khả năng phóng thích

Tử hình và tù chung thân là hai hình phạt có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất được quy định trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia Xu hướng chung của thế giới hiện nay là bãi bỏ hình phạt tử hình, mặc dù vẫn còn một số quốc gia duy trì hình phạt này Đối với các quốc gia còn duy trì hình phạt tử hình, Công ước 1966 và CRC ràng buộc các quốc gia thành viên không được áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên phạm tội Đồng thời CRC cũng ràng buộc các quốc gia thành viên không được áp dụng hình phạt tù chung thân không có khả năng phóng thích với các đối tượng này vì lý do nhân đạo Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, hình phạt tù chung thân không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở đây là tù chung thân không có khả năng phóng thích, nghĩa là không được giảm án trong quá trình thi hành án, người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù suốt đời

- Trong các vụ án liên quan đến người chưa thành niên cần căn cứ vào tuổi của

họ (khoản 4 Điều 14 Công ước 1966, khoản 1 Điều 41 CRC) Liên quan đến tuổi,

Trang 28

- Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục, việc xét xử phải hướng về mục tiêu cải huấn can phạm (khoản 4 Điều 14 Công ước 1966)

Công ước 1966 cũng xác định mục đích của việc xử lý trẻ em không nhằm trừng trị hay trả thù mà nhằm hướng đến cải huấn các em, hay nói cách khác chính là cải tạo, giáo dục các em trở thành những công dân có ích cho xã hội

Tương ứng với quy định tại khoản 4 Điều 14 Công ước 1966, CRC cũng có những quy định cụ thể hóa:

+ Trẻ em vi phạm pháp luật phải được phải được đối xử theo cách thức nhằm nâng cao ý thức của các em về nhân phẩm và giá trị cá nhân để hội nhập các em vào

xã hội (Điều 40 CRC)

+ Các quốc gia thành viên phải có sẵn các biện pháp xử lý trẻ em vi phạm pháp luật hình sự mà không phải sử dụng đến quá trình tố tụng tư pháp, miễn là các quyền con người và những điều kiện bảo vệ hợp pháp được tôn trọng đầy đủ (điểm b khoản

Trang 29

26

+ Chỉ áp dụng hình phạt tù đối với trẻ em khi đó là biện pháp cuối cùng và trong thời gian thích hợp ngắn nhất, đảm bảo không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện (Điểm b Điều 37 CRC)

+ Trẻ em bị giam giữ phải giam tách biệt với người lớn và không bị tra tấn hay đối xử, trừng phạt tàn bạo, hạ nhục (Điều 37 CRC)

Những quy định trên cho thấy việc xử lý trẻ em vi phạm pháp luật trước hết là nhằm mục đích giáo dục các em Các quốc gia thành viên CRC phải đặt mục tiêu bảo

vệ quyền lợi của trẻ chứ không nhằm trừng phạt họ Từ yêu cầu chung đó, các Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải có sẵn những biện pháp nhằm miễn TNHS

cho trẻ em, mà các Công ước này gọi là "không phải sử dụng đến quá trình tố tụng tư

pháp" Việc áp dụng các thủ tục tư pháp hình sự chỉ đặt ra khi đó là lựa chọn tốt nhất

dành cho trẻ em Do đó, các quốc gia thành viên CRC khi xử lý trẻ em vi phạm pháp luật phải ưu tiên áp dụng các biện pháp miễn trách nhiệm hình sự, các biện pháp thay thế hình phạt và ưu tiên áp dụng các hình phạt không tước tự do của trẻ em Chỉ trong trường hợp đặc biệt cần thiết thì mới áp dụng hình phạt tù đối với trẻ em và chỉ trong giới hạn tối thiểu cần thiết, nghĩa là chỉ áp dụng hình phạt tù ở mức thấp nhất

có thể Đồng thời, trẻ em khi bị truy cứu TNHS phải được đối xử và được tiến hành theo những trình tự, thủ tục đặc biệt Đó chính là việc giam tách biệt người chưa thành niên với những đối tượng khác, không được tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo hay hạ nhục người chưa thành niên bị truy cứu TNHS

Đây chính là những quy định khung về quyền con người của người chưa thành niên phạm tội đã được ghi nhận tại các Công ước quốc tế của Liên hợp quốc Các quy định này phải được các quốc gia thành viên nội luật hóa vào pháp luật hình sự của quốc gia mình một cách chi tiết và cụ thể

Trang 30

27

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VỚI VIỆC ĐẢM

BẢO QUYỀN CON NGƯỜI

Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, ngoài các căn

cứ quyết định hình phạt tại Điều 45 BLHS, Tòa án phải căn cứ vào các quy định về các loại hình phạt không áp dụng, điều kiện và giới hạn áp dụng của từng loại hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm bảo đảm các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội đã được quy định tại Điều 69 BLHS Đây là cơ sở để bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội

Trên cơ sở lý luận tại Chương 1 về các quyền con người của người chưa thành niên phạm tội, chương này phân tích và đánh giá thực trạng quy định hiện hành của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và việc bảo đảm quyền con người Nội dung của Chương sẽ tập trung nghiên cứu các loại hình phạt không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, điều kiện và giới hạn áp dụng của các loại hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội Trên cơ sở đó đánh giá sự bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội trong các quy định này so với quyền con người của người chưa thành niên phạm tội đã được ghi nhận trong các Công ước của Liên hợp quốc

2.1 Các loại hình phạt không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được qui định trong BLHS, do Tòa án áp dụng nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội15 Với tính chất là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, khi quy định và áp dụng hình phạt, Nhà nước cũng mong muốn đạt đến một kết quả nhất định trong đấu tranh phòng chống tội phạm Do đó, Điều 27 BLHS năm

1999 đã xác định cụ thể mục đích của hình phạt như sau : “Hình phạt không chỉ

nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”

15 Điều 26 BLHS 1999

Trang 31

28

Như vậy, khi áp dụng hình phạt, cơ quan tiến hành tố tụng cần phải đảm bảo mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng với mục đích chính là cải tạo, giáo dục người phạm tội Điều 28 BLHS quy định hệ thống hình phạt gồm bảy hình phạt chính và bảy hình phạt bổ sung Trong đó, có những hình phạt có tính nghiêm khắc rất cao, tước bỏ những quyền thiết thân nhất của con người, kể cả quyền được sống Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm tội là những người chưa phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần thì việc áp dụng các hình phạt có tính cưỡng chế nghiêm khắc quá cao không phải là một lựa chọn hợp lý Do đó, không phải tất

cả các hình phạt được quy định trong BLHS đều được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội mà sẽ có những hình phạt được áp dụng và những hình phạt không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Khoản 5 Điều 69 BLHS quy định: “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình

đối với người chưa thành niên phạm tội

Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội”

Đối với các hình phạt chính, BLHS qui định có hai loại hình phạt chính không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, đó chính là hai loại hình phạt

có tính nghiêm khắc cao nhất trong hệ thống hình phạt là hình phạt tù chung thân và

16 Điều 34 BLHS 1999

Trang 32

29

Tử hình là hình phạt đặc biệt, có nội dung cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong

hệ thống hình phạt vì đã tước bỏ quyền sống của người bị kết án, tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Tử hình là loại hình phạt có nội dung cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt Tính nghiêm khắc của hình phạt này thể hiện ở sự tước bỏ quyền được sống của người phạm tội nhằm loại trừ họ ra khỏi đời sống xã hội vì xét thấy người phạm tội không còn khả năng cải tạo, giáo dục và vì sự cần thiết của việc phòng ngừa chung

Điều 35 BLHS quy định hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên, quan điểm hiện nay của Nhà nước ta là hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, ngay cả khi có đủ điều kiện để áp dụng hình phạt

tử hình, thì việc lựa chọn hình phạt tử hình phải là khả năng cuối cùng khi Tòa án xét thấy không thể áp dụng loại hình phạt khác được quy định trong chế tài vì tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm Trong chế tài của các tội phạm, hình phạt tử hình luôn được quy định trong chế tài lựa chọn với hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân

Hai hình phạt tù chung thân và tử hình đều xác định người bị kết án không còn khả năng cải tạo giáo dục, cần cách ly vĩnh viễn khỏi xã hội vì đây là người đã xác định rõ ràng trạng thái tâm lý chống đối xã hội, đi ngược hoàn toàn với lợi ích của loài người Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm tội, với trạng thái tâm lý của họ khi phạm tội là những người đang phát triển về thể chất cũng như trí tuệ, tinh thần, hay nói cách khác, thể chất và tinh thần của người chưa thành niên là chưa hoàn thiện, họ chưa hoàn toàn xác định được tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chưa hoàn thiện về nhân cách nên khả năng cải tạo giáo dục họ trong một khoảng thời gian

là có thể thực hiện được, để uốn nắn họ trở thành những công dân có ích cho xã hội

mà không cần thiết phải cách ly vĩnh viễn họ khỏi xã hội Do đó, BLHS qui định không áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với người chưa thành niên

phạm tội, để họ có cơ hội sửa đổi, sửa chữa lỗi lầm Phù hợp yêu cầu "không được

áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân mà không có khả năng phóng thích cho những người phạm tội dưới 18 tuổi" quy định tại Điều 6 Công ước 1966 và Điều 37

CRC

Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

BLHS năm 1999 quy định không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi xuất phát từ các lý do như người chưa thành niên trong độ tuổi này thường đang trong độ tuổi đi học, chưa có việc

Trang 33

30

làm, chưa có thu nhập hoặc có nhưng chưa ổn định và cũng chưa có tài sản riêng Bên cạnh đó, người chưa thành niên trong độ tuổi từ đủ 14 đều dưới 16 còn chưa được pháp luật cho phép tự tham gia vào các quan hệ xã hội một cách độc lập Theo qui định của BLLĐ, người từ đủ 15 tuổi trở lên mới tham gia vào các quan hệ lao động và có thu nhập riêng (trừ một số trường hợp đặc biệt)17 Như vậy, nếu áp dụng hình phạt tiền với những đối tượng này sẽ đem lại gánh nặng cho gia đình vì gia đình

là nơi bảo trợ các khoản chi phí, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình rèn luyện, tu dưỡng, sửa chữa sai lầm của họ Vì thế khả năng chấp hành hình phạt không cao và cũng không đáp ứng được yêu cầu của hình phạt

Luật hình sự không cho phép áp dụng hình phạt tiền đối với người người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi trở lên mà chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và cũng chỉ trong trường hợp người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng nhằm đảm bảo cho tính khả thi của hình phạt tiền áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bởi vì để có tài sản riêng và thu nhập để chấp hành hình phạt tiền thì phải phù hợp với các qui định của các ngành luật khác như luật dân sự, luật lao động

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội

Khoản 5 Điều 69 BLHS 1999 quy định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội Việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội nhằm hỗ trợ cho hình phạt chính, hướng tác động chủ yếu của hình phạt bổ sung là để loại bỏ những điều kiện mà người bị kết án có thể sử dụng để tiếp tục thực hiện tội phạm Chức năng này của hình phạt bổ sung sẽ giúp hình phạt chính đạt được mục đích phòng ngừa riêng bằng việc ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng biệt của người chưa thành niên phạm tội về sự phát triển, nhận thức, tâm sinh lý nên nếu áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội thì không những không đạt được mục đích mà hình phạt bổ sung hướng đến mà còn có thể trở thành gánh nặng Từ đó, tác động tiêu cực đến khả năng cải tạo, giáo dục của người chưa thành niên phạm tội

2.2 Giới hạn quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Khi cân nhắc thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án căn cứ vào Điều 71 BLHS 1999 để xác định các hình phạt phạt cụ thể được áp dụng đối với họ Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm:

1 Cảnh cáo;

17 Điều 120 BLLĐ: Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Lê Văn Cảm (2010), Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Sách chuyên khảo: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (NXb ĐHQG Tp.HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2010
28. Bùi Thành Chung (2009), Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra - cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người chưa thành niên phạm tội,http://www.pup.edu.vn/dien-dan-phap-luat Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra - cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Bùi Thành Chung
Năm: 2009
29. Dương Tuyết Miên (2009), Quyết định hình phạt với người chưa thành niên phạm tội, Tạp Chí Luật Học– Trường Đại Học Luật Hà Nội,http://tholaw.wordpress.com/2009/04/29/quyết-dịnh-hinh-phạt-với-người-chưa-thanh-nien-phạm-tội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt với người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Năm: 2009
30. Đinh Xuân Nam (2010), Thực trạng và giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên, http://luatviet.net/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên
Tác giả: Đinh Xuân Nam
Năm: 2010
31. Võ Thị Kim Oanh (2010) (Chủ biên), Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, NXb ĐHQG Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam
32. Đinh Văn Quế, Thanh thiếu niên phạm tội: Vẫn còn bị trừng phạt thay vì giáo dục, http://thethao.tuoitre.vn, Thứ Sáu, 17/06/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh thiếu niên phạm tội: Vẫn còn bị trừng phạt thay vì giáo dục
33. Vũ Thị Thu Quyên (2011), Pháp luật bảo vệ quyền con người - nghiêm cứu trường hợp người chưa thành niên phạm tội, http://ajc.edu.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo vệ quyền con người - nghiêm cứu trường hợp người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Vũ Thị Thu Quyên
Năm: 2011
34. Đặng Thị Thanh Thảo (2011), Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật.35., http://www.pup.edu.vn/tap-chi-khoa-hoc-giao-duc-canh-sat-nhan-dan/tap-chi-so-4/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Đặng Thị Thanh Thảo
Năm: 2011
36. Phan Anh Tuấn (2010), Bảo vệ quyền con người trong các quy định của phần chung của BLHS 1999, Sách chuyên khảo: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (NXb ĐHQG Tp.HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người trong các quy định của phần chung của BLHS 1999
Tác giả: Phan Anh Tuấn
Năm: 2010
37. Trần Thị Quang Vinh (2010), Bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật hình sự trong phần các tội phạm BLHS 1999, Sách chuyên khảo: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (NXb ĐHQG Tp.HCM) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật hình sự trong phần các tội phạm BLHS 1999
Tác giả: Trần Thị Quang Vinh
Năm: 2010
26. Bộ tư pháp (2010), Những quy định về người chưa thành niên phạm tội và vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi cho các em Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm