1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển

69 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Bảo Hiểm Hàng Hóa Vận Chuyển Bằng Đường Biển
Tác giả Phạm Thái Sơn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thủy
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoải ra, trong từng quan hệ bảo hiểm cụ thể, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển còn được điều chỉnh bởi các quy tắc và điều khoản của doanh nghiệp bảo hiểm đó ban hàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu nêu trong khóa luận

là trung thực.Kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả khóa luận

Trang 4

Mục lục

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 4

1.1 Khái quát về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 4

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 4

1.1.2 Đặc trưng của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 4

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 6

1.2 Quy định pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 10

1.2.1 Đối tượng bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm 12

1.2.2 Phí bảo hiểm 20

1.2.3 Thời hạn bảo hiểm 25

1.2.4 Tổn thất và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 35

Chương 2.NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI VIỆT NAM 42

2.1 Những bất cập của pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 43

2.1.1 Đối tượng bảo hiểm, quyền lợi bảo hiểm 43

2.1.2 Phí bảo hiểm 45

2.1.3 Thời hạn bảo hiểm 47

Trang 5

2.1.4 Tổn thất và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng

đường biển 49

2.2 Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển tại Việt Nam 52

2.2.1 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLHH 52

2.2.2 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật KDBH 57

KẾT LUẬN 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

BLDS Bộ luật Dân sự

BLHH Bộ luật Hàng hải

LKDBH Luật Kinh doanh Bảo hiểm

QTC Quy tắc chung do Bộ Tài chính ban hành

QTCB Quy tắc chung do Tập đoàn bảo hiểm – tài chính Bảo Việt ban

hành MIA Luật Bảo hiểm Hàng hải Anh (Marine insurance Act)

ICC Điều kiện bảo hiểm hàng hóa (Institute cargo Clauses)

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động vận tải hàng hải với lịch sử phát triển từ rất sớm đã và đang là một mắt xích quan trọng để đưa các quốc gia xích lại gần nhau hơn Với những ưu điểm vượt trội như giá cước thấp, trọng tải lớn và có thể đi đến gần như mọi quốc gia có đường bờ biển, không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của hoạt động vận tải hàng hải đối với nền kinh tế thế giới

Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm là những rủi ro mà hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có thể gặp phải.Biển là một môi trường khắc nghiệt, vì vậy khi rủi ro xảy ra thiệt hại cho tàu và đặc biệt là hàng hóa được chuyên chở trên tàu thường không thể tránh khỏi.Nhằm bảo vệ lợi ích của chủ hàng cũng như thúc đẩy sự phát triển của hoạt động vận tải biển, bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển ra đời, là một cột mốc quan trọng trong lịch sử của bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động vận tải hàng hải Với những quốc gia có đường bờ biển dài đi kèm với những cơ sở hạ tầng cầu cảng phát triển như Việt Nam, hoạt động vận tải hàng hải sớm đã là một ngành mũi nhọn, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm

Hiện nay, lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển đang được điều chỉnh trực tiếp bởi BLHH năm 2005, LKDBH năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 và BLDS năm 2005 Ngoải ra, trong từng quan hệ bảo hiểm cụ thể, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển còn được điều chỉnh bởi các quy tắc và điều khoản của doanh nghiệp bảo hiểm đó ban hành.Song song với những ưu điểm của pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, vẫn còn tồn tại một số bất cập cần phải nghiên cứu và sửa đổi kịp thời

Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển được công bố.Tuy nhiên, những vấn đề đặc trưng về pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường

Trang 8

biển vẫn chưa được các tác giả nghiên cứu một cách cụ thể, chưa đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu về lĩnh vực ngày cảng phát triển này

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu hai mục đích chính gồm:

Thứ nhất, nghiên cứu một cách khái quát, trên cơ sở đó làm rõ một số những quy định đặc trưng của pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

Thứ hai, từ kết quả của sự nghiên cứu, khóa luận sẽ nêu lên một số những bất cập trong quy định của pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và những định hướng hoàn thiện để những quy định này phù hợp với tình hình thực tế và bảo vệ lợi ích của các bên tham gia quan hệ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

3 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để nghiên cứu đề tài một cách cụ thể và toàn diện.Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong khóa luận gồm phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và đánh giá.Trong

đó, phương pháp phân tích đóng vai trò chủ đạo, được sử dụng xuyên suốt trong nội dung của khóa luận

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung nghiên cứu về những vấn đề mang tính khái quát của pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

và những đặc trưng cơ bản trong quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này

Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu và phân tích những cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu là nguồn luật trong nước, bên cạnh đó còn có một số những quy định của một số quốc gia có bề dày lịch sử trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

5 Ý nghĩa của khóa luận

Trang 9

Với khả năng hạn chế của một sinh viên, tác giả không thể đào sâu tìm hiểu

về mọi mặt toàn diện của đề tài Tác giả hy vọng khóa luận sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của các sinh viên về lĩnh vực bảo hiểm nói chung và đặc biệt là lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển Ngoài ra, với những phân tích và đánh giá sâu sắc về một số những quy định của pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, tác giả hy vọng khóa luận sẽ có giá trị như một tài liệu tham khảo góp phần cho các nhà lập pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, khóa luận gồm cho hai chương:

Chương 1: Những nội dung cơ bản của pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

Chương 2: Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển tại Việt Nam

Trang 10

Chương 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT BẢO HIỂM

HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1.1 Khái quát về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

Hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã xuất hiện từ khoảng thể

kỷ thứ V trước công nguyên1, qua thời gian, vận tải biển đã chứng minh rằng đây là một phương thức vận tải hiệu quả, tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, giống như mọi hoạt động vận chuyển khác, đi cùng với hoạt động vận chuyển hang hóa bằng đường biển là những rủi ro hàng hải mà nếu gặp phải thì khả năng xảy ra tổn thất là không tránh khỏi và người chịu thiệt hại nhiều nhất chính là chủ hàng Từ hình thức đối phó với rủi ro đơn giản nhất là ngăn ngừa, hạn chế rủi ro bằng cách phân tán lô hàng thành nhiều chuyến hàng, đến biện pháp chuyển nhượng rủi ro mà cụ thể chính là hoạt động bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, có thể nói rằng hoạt động ngoại thương đã đặt nền móng cho sự ra đời của hoạt động bảo hiểm và một trong những nghiệp vụ bảo hiểm đầu tiên ra đời đó chính là bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

Khái niệm bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển có thể định nghĩa như sau: bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã được các bên thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp khoản tiền gọi là phí bảo hiểm2

1.1.2 Đặc trưng của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển có ba đặc trưng sau:

1

Nguyễn Vũ Hoàng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận

chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 49

2

Phạm Thị Lan Anh (2007), Giáo trình Bảo hiểm trong ngoại thương, NXB Hà Nội, Hà Nội, tr

12

Trang 11

Thứ nhất, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển ra đời do nhu cầu chính đáng của chủ hàng về việc bảo vệ quyền lợi tài chính của mình hoặc người có quyền lợi liên quan đến hàng hóa trước những rủi ro “Không có rủi ro thì không có bảo hiểm”3, vì vậy đặc trưng nổi bật nhất của bảo hiểm hàng hóa chính là sự chia sẻ rủi ro giữa những người có khả năng gặp cùng loại rủi ro đó, tránh cho một chủ thể phải tự mình chịu toàn bộ thiệt hại xảy ra Biện pháp đối phó với rủi ro hiệu quả nhất đó chính là chuyển nhượng rủi ro, mà đại diện của biện pháp này là hoạt động bảo hiểm.Chuyển nhượng rủi ro nghĩa là hành động san sẻ rủi ro của mình với những chủ thể khác Hoạt động bảo hiểm hàng hóa đã tuân theo nguyên tắc của biện pháp chuyển nhượng rủi ro, đó là tập hợp những chủ thể có khả năng gặp rủi ro hàng hải và điều hành một quỹ do các thành viên này đóng góp tạo thành Trường hợp khi có thành viên bất kỳ gặp phải rủi ro hàng hải được bảo hiểm, doanh nghiệp điều hành quỹ sẽ tiến hành khôi phục lại quyền lợi tài chính cho chủ thể bị tổn thất, tránh việc người được bảo hiểm phải tự mình chịu mọi tổn thất

Thứ hai, bảo hiểm chính là “sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”4

.Bảo hiểm hàng hóa cũng có đặc trưng tương tự, đó là sự chia sẻ tổn thất giữa những người tham gia bảo hiểm hàng hóa trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm.Doanh nghiệp bảo hiểm với bản chất là một chủ thể kinh doanh, vì vậy họ luôn hướng đến mục đích cuối cùng của mình, đó là lợi nhuận Nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng như thực hiện đúng với nhiệm vụ và vai trò của bảo hiểm, tùy thuộc vào điều kiện bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành thu phí của người mua bảo hiểm Phần lớn nguồn phí này sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để hình thành nên quỹ bảo hiểm Cần phải hiểu rằng, nguyên tắc hoạt động của quỹ bảo hiểm dựa trên nguyên tắc số đông, tức là càng nhiều người tham gia vào quỹ, xác suất rủi ro xảy ra với từng thành viên càng nhỏ dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm càng có lợi nhuận Thêm vào đó, nếu như càng có nhiều thành viên tham gia quỹ bảo hiểm, tình hình tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ được đảm bảo, dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm dễ dàng thanh toán, chi trả chi phí bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm, với tư cách là bên trung gian giữa những người mua bảo hiểm, quản lý và phân phối quỹ bảo hiểm

Trang 12

đến những thành viên tham gia bảo hiểm hàng hóa Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm hàng hóa là một sự cam kết mà theo đó người được bảo hiểm có thể hoặc không được nhận sản phẩm bảo hiểm Sở dĩ như vậy bởi hoạt động bảo hiểm hàng hóa gắn liền với rủi ro, nếu rủi ro được bảo hiểm xảy ra gây tổn thất cho hàng hóa thì người được bảo hiểm mới được bồi thường, khôi phục lại tình trạng tài chính của mình.Chính vì vậy, có thể thấy rằng tuy tất cả các thành viên trong quỹ bảo hiểm đều đóng phí, nhưng không phải thành viên nào cũng nhận được sự bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm.Trong hoạt động bảo hiểm hàng hóa, các thành viên chia sẻ tổn thất với nhau, thông qua một chủ thể trung gian, đó là doanh nghiệp bảo hiểm Các hành vi gian dối của người được bảo hiểm nhằm chiếm đoạt khoản tiền bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm đều không hợp pháp bởi các hành vi này vi phạm hợp đồng bảo hiểm và gây tổn hại đến quyền và lợi ích của các thành viên khác trong quỹ bảo hiểm

Thứ ba, bảo hiểm hàng hóa chính là sự cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm

về việc bồi thường cho người được bảo hiểm khi có tổn thất do sự kiện được bảo hiểm gây ra Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm và đóng đủ phí bảo hiểm, người mua bảo hiểm đã chuyển nhượng rủi ro mà mình có thể sẽ gặp phải sang doanh nghiệp bảo hiểm Điều này có nghĩa, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm bằng khả năng tài chính của mình, có nghĩa vụ phải chi trả cho người được bảo hiểm những tổn thất đã được bảo hiểm.Để đảm bảo cho khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra, nhà nước cũng đã ban hành những văn bản nhằm điều chỉnh cơ chế hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm

Từ ba đặc trưng nổi bật nhất của bảo hiểm hàng hóa, có thể thấy rằng nghiệp

vụ bảo hiểm hàng hóa cũng mang những nét tương đồng với bảo hiểm tài sản và hoạt động bảo hiểm nói chung Sở dĩ như vậy vì đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa và bảo hiểm tài sản có nhiều đặc điểm giống nhau và mục đích của bảo hiểm hàng hóa vẫn không trái với mục đích của hoạt động bảo hiểm, đó là bảo vệ quyền lợi tài chính cho người được bảo hiểm

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

1.1.3.1 Nguyên tắc quyền lợi có thể bảo hiểm

Trang 13

Nguyên tắc quyền lợi có thể bảo hiểm giữ vai trò là nguyên tắc chủ đạo, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghiệp vụ bảo hiểm tài sản nói chung và bảo hiểm hàng hóa nói riêng Theo nguyên tắc này, người muốn mua bảo hiểm bắt buộc phải có lợi ích bảo hiểm Dù tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm, người mua bảo hiểm không bắt buộc phải có lợi ích bảo hiểm nhưng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, người được bảo hiểm muốn được bồi thường thì bắt buộc phải có lợi ích bảo hiểm tại thời điểm này

Trong bảo hiểm hàng hóa, lợi ích bảo hiểm bắt buộc phải thể hiện dưới dạng lợi ích về tài chính, nghĩa là lợi ích của đối tượng bảo hiểm bắt buộc phải được quy đổi ra tiền hoặc vật định giá khác Vì nếu lợi ích bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa không thể tính được bằng tiền thì công tác xác định thiệt hại cũng như bồi thường thiệt hại sẽ rất khó khăn, doanh nghiệp bảo hiểm không có cơ sở để xác định mức bồi thường dẫn đến việc các bên trong quan hệ bảo hiểm sẽ không thể đi đến một thỏa thuận chung về giá trị bồi thường Ngoài ra, lợi ích bảo hiểm còn phải là lợi ích hợp pháp.Theo quy định của pháp luật dân sự, một trong những nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự đó là nguyên tắc tuân thủ pháp luật5 và quan hệ bảo hiểm cũng không phải là ngoại lệ Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa trước hết muốn có hiệu lực thì phải đáp ứng các quy định tại Điều 122 BLDS năm 20056, vì vậy mọi lợi ích không hợp pháp đều không được bảo hiểm theo các quy định của hợp đồng bảo hiểm7

1.1.3.2 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối xuất phát từ bản chất của hoạt động bảo hiểm – bảo hiểm chỉ bảo hiểm cho những biến cố không chắc chắn xảy ra.Vì vậy, các bên trong quan hệ bảo hiểm chỉ có thể hình dung và suy đoán xác suất của rủi ro

để đi đến quyết định giao kết hợp đồng Các bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm đều hướng đến những quyền lợi của riêng mình, tuy nhiên quyền lợi của một bên trong quan hệ dân sự lại là nghĩa vụ của bên còn lại, vì vậy quyền lợi và nghĩa vụ

Trang 14

của các bên thường đối nghịch nhau Khi tham gia hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, người mua bảo hiểm chỉ muốn đối tượng bảo hiểm được tham gia bảo hiểm với số phí rẻ nhất nhưng điều kiện bảo hiểm phải tốt nhất và mức bồi thường phải cao nhất Ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ muốn thu phí bảo hiểm cao và càng ít rủi ro xảy ra cho đối tượng bảo hiểm cộng với mức bồi thường càng thấp càng tốt Chính vì vậy, việc các bên trung thực với nhau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm hàng hóa là rất quan trọng Nếu một trong các bên không làm đúng theo nguyên tắc này thì hợp đồng bảo hiểm hàng hóa sẽ không có hiệu lực hoặcmất hiệu lực

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối trọng bảo hiểm hàng hóa thể hiện chủ yếu thông qua doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm.Về doanh nghiệp bảo hiểm, do đây là một tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanhbảo hiểm nên kiến thức của doanh nghiệp này đối với nghiệp vụ bảo hiểm là rất rộng Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích cặn kẽ những nội dung có liên quan của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, gồm mức phí, thời hạn bảo hiểm, các điều kiện bảo hiểm,… Thông qua những thông tin về đối tượng bảo hiểm mà người mua bảo hiểm cung cấp, doanh nghiệp bảo hiểm phải đánh giá rủi ro một cách trung thực, công bằng để không gây bất lợi cho người mua bảo hiểm Đối với người mua bảo hiểm, do là chủ thể có mối liên hệ trực tiếp với đối tượng bảo hiểm nên sẽ nắm những thông tin chi tiết về đối tượng này Do đó, người mua bảo hiểm khi tiến hành nộp đơn yêu cầu bảo hiểm phải mô tả một cách rõ ràng, chi tiết những đặc điểm, đặc tính của đối tượng bảo hiểm8 Việc giấu những thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm được xem như là hành vi gian dối trong quan hệ bảo hiểm và có thể dẫn đến hậu quả là hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

8

TS Nguyễn Thị Thủy (2006), Các yếu tố chi phối quy định của pháp luật trong bảo hiểm tài sản,

Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4(35), tr.13.

9Đỗ Hữu Vinh (2009), Bảo hiểm và giám định hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường

biển, NXB Giao thông vận tải, Tp HCM, tr.63.

Trang 15

cho lợi ích của người được bảo hiểm Cũng cần phải lưu ý rằng sự bồi thường này mang tính chất khôi phục chứ không đem lại bất kỳ thu nhập nào cho người được bảo hiểm Vì vậy, dựa trên những số liệu đánh giá tổn thất trên thực tế, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành bồi thường cho người được bảo hiểm, giá trị bồi thường sẽ chỉ có thể ít hơn hoặc bằng số tiền người được bảo hiểm bị thiệt hại trên thực tế Cũng có những trường hợp người được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền bồi thường lớn hơn giá trị hàng hóa bị thiệt hại trên thực tế, ví dụ trường hợp ngoài tổn thất về hàng hóa, còn có những chi phí khác phát sinh như chi phí khắc phục tổn thất, chi phí cứu dỡ hàng hóa,… Đây là những chi phí mà người được bảo hiểm phải bỏ ra để giữ cho mức độ tổn thất ở cấp thấp nhất.Phần thiệt hại vượt quá trên thực tế lúc này của hàng hóa là những chi phí mà người được bảo hiểm bỏ ra nhằm thực hiện nghĩa vụ phòng ngừa và hạn chế tổn thất chứ không mang mục đích trục lợi.Vì vậy, khi tiến hành bồi thường, ngoài giá trị thiệt hại thực tế của hàng hóa, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ phải bồi hoàn những chi phí này cho người được bảo hiểm Hoặc trong trường hợp người được bảo hiểm hưởng một lợi ích may mắn bất ngờ từ chi phí bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm như sự gia tăng

tỷ giá hối đoái hoặc sự gia tăng giá trị hàng hóa

Như vậy, nguyên tắc bồi thường không chỉ giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm mà còn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc chống lại hành vi trục lợi bảo hiểm Vì theo nguyên tắc này, người được bảo hiểm chỉ có thể được bồi thường đầy đủ những lợi ích chính đáng đã bị thiệt hại

mà không thể có được bất kỳ lợi nhuận nào từ việc bồi thường của doanh nghiệp

bảo hiểm

1.1.3.4 Nguyên tắc thế quyền

Trong hoạt động bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc thế quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Nếu nguyên tắc bồi thường chi phối hoạt động bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm thì nguyên tắc thế quyền sẽ chi phối hoạt động truy đòi bồi hoàn của doanh nghiệp bảo hiểm.Nói cách khác, nguyên tắc thế quyền thể hiện ở việc doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thay mặt người được

Trang 16

bảo hiểm để đòi người thứ ba gây thiệt hại bồi thường cho mình, sau khi đã hoàn tất việc bồi thường cho người được bảo hiểm10

Nguyên tắc thế quyền chỉ được thực hiện ở giai đoạn sau khi bồi thường tổn thất.Sở dĩ, doanh nghiệp bảo hiểm đã cam kết gánh chịu rủi ro cho người được bảo hiểm, khi thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường trước cho người được bảo hiểm như cam kết trong hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên, quan hệ bảo hiểmsẽ không chấm dứt ngay sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã hoàn thành nghĩa

vụ bồi thườngnếu rủi ro này phát sinh từ hành vi của bên thứ ba thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì nguyên tắc bồi thường chi phối giá trị của khoản bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm mà người được bảo hiểm nhận được nên lúc này người được bảo hiểm không thể vừa được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường cho tổn thất của hàng hóa, vừa được người thứ ba trực tiếp gây ra thiệt hại cho hàng hóa trả tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nên sau khi nhận được khoản bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm, người được bảo hiểm

có nghĩa vụ chuyển giao quyền yêu cầu bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm với tư cách là chủ thể cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, sau khi hoàn thành nghĩa vụ của mình sẽ

có quyền thay mặt người được bảo hiểm truy đòi chủ thể có hành vi gây ra tổn thất cho hàng hóa

Nguyên tắc này mang nhiều ý nghĩa quan trọng trong quan hệ bảo hiểm.Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, nguyên tắc này bảo đảm cho quyền đòi bồi hoàn, tránh cho doanh nghiệp bảo hiểm phải tự mình gánh chịu tổn thất do chủ thể khác gây ra.Đối với người được bảo hiểm, nguyên tắc này góp phần vào hoạt động chống trục lợi bảo hiểm, tránh tình trạng người được bảo hiểm được bồi thường hai lần cho một tổn thất

1.2 Quy định pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển

Pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là một bộ phận thuộc pháp luật bảo hiểm Do vậy, pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển vừa chịu sự điều chỉnh bởi các quy định của luật chung vừa chịu sự điều

10

TS Nguyễn Thị Thủy (2008), Chuyển giao quyền yêu cầu bồi hoàn trong bảo hiểm tài sản, Tạp

chí Khoa học pháp lý, số 5(48), tr.18.

Trang 17

chỉnh bởi các luật chuyên ngành Trong hệ thống pháp luật nước ta, các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh hoạt động bảo hiểm hàng hóa là BLDS, LKDBH và BLHH

Quan hệ bảo hiểm về bản chất là một quan hệ dân sự, vì vậy quan hệ này cũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của BLDS Tuy nhiên, các quy định của BLDS chỉ mang tính khái quát, điều chỉnh những vấn đề chung nhất của các quan

hệ dân sự Hơn nữa, một số các quy định chung của BLDS không thể áp dụng vào quan hệ bảo hiểm được vì sẽ làm sai lệch bản chất của hoạt động bảo hiểm, ví dụ như trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong BLDS không thể áp dụng được vào hoạt động bồi thường trong quan hệ bảo hiểm Vì vậy, LKDBH ra đời nhằm trực tiếp điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh bảo hiểm, bao gồm quan hệ giữa các bên trong hợp đồng bảo hiểm, quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác định địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia bảo hiểm và quan hệ giữa Nhà nước với các chủ thể kinh doanh bảo hiểm

Tuy nhiên, đối với từng loại nghiệp vụ bảo hiểm thì LKDBH chỉ đóng vai trò

là luật chung Vì vậy, hoạt động bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển còn chịu sự điều chỉnh của BLHH bởi mối quan hệ trực tiếp với hoạt động hàng hải Tuy nhiên, vì BLHH có phạm vi điều chỉnh đối với tất cả các hoạt động liên quan đến hàng hải, nên hoạt động bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển nói riêng cũng chỉ là một phần, là sự cụ thể hóa của LKDBH đối với lĩnh vực bảo hiểm hàng hải Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi hợp đồng bảo hiểm hàng hóa phải quy định cụ thể, rõ ràng về quyền, nghĩa vụ các bên cũng như những điều kiện bảo hiểm Để hoạt động bảo hiểm hàng hóa diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, căn cứ vào các bản ICC do Hiệp hội bảo hiểm London soạn thảo, Bộ Tài chính và các doanh nghiệp đã xây dựng những bộ quy tắc có nội dung quy định cụ thể về những hoạt động bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển nói riêng11 Các bộ quy tắc này đóng vai trò như luật riêng của các bên trong quan hệ bảo hiểm hàng hóa.Hợp đồng bảo hiểm giữa các bên cũng dẫn trực tiếp

11 Khoản 3 Điều 20 Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 quy định chi tiết Luật kinh doanh bảo hiểm cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm được chủ động xây dựng và triển khai quy tắc, điều khoản và phí bảo hiểm đối với sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ

Trang 18

những quy định tại bộ quy tắc để điều chỉnh trực tiếp quan hệ bảo hiểm Khi giao kết và giải quyết các tranh chấp liên quan đến hoạt động bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, quy tắc chung do doanh nghiệp bảo hiểm ban hành với vai trò là luật của đôi bên nên thường được các chủ thể có thẩm quyền giải quyết áp dụng triệt để Hiện nay, trong thị trường bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thì Tập đoàn bảo hiểm – tài chính Bảo Việt chiếm phần lớn thị phần12.Qua đó,

có thể thấy Bảo Việt đang là doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu và định hướng cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác trong lĩnh vực này Vì vậy, do phạm vi nghiên cứu giới hạn, đề tài sẽ chỉ nghiên cứu quy tắc chung do Bảo Việt ban hành, đó là QTCB

2004

Ngoài ra, bởi hoạt động bảo hiểm hàng hải có bề dày lịch sử phát triển ở các quốc gia mạnh về hoạt động giao thương buôn bán đường biển như Anh Quốc, vì vậy việc nghiên cứu MIA 1906 cũng rất cần thiết để có cái nhìn sâu hơn nữa về những quy định của pháp luật bảo hiểm hàng hải Thêm nữa, trong điều khoản tập quán và luật pháp tại các quy định chung do các doanh nghiệp bảo hiểm ban hành thường quy định rằng bảo hiểm được chi phối bởi luật pháp và tập quán Anh Bên cạnh MIA 1906 cũng có một số các công ước mang tính quốc tế quy định về hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển như Quy tắc Hague 1924, Nghị định thư Hague – Visby 1968,…

Vì vậy, muốn nghiên cứu pháp luật bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển một cách toàn diện nhất, ngoài những văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, cần phải nghiên cứu thêm các quy tắc và điều khoản bảo hiểm

do các chủ thể tham gia hoạt động bảo hiểm hàng hải ban hành và nghiên cứu, so sánh với các văn bản pháp luật nước ngoài

1.2.1 Đối tượng bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm

1.2.1.1 Đối tượng bảo hiểm

Trong bất kỳ quan hệ pháp luật nào, việc xác định đối tượng điều chỉnh luôn

là vấn đề được đặt lên hàng đầu và quan trọng nhất Xác định đối tượng điều chỉnh

12

Theo số liệu thống kê năm 2013 của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam tại

http://avi.org.vn/News/Item/1971/202/vi-VN/Default.aspx cập nhật lúc 19h30 ngày 25 tháng 5 năm

2014

Trang 19

của một quan hệ pháp luật không chỉ giúp cho quan hệ pháp luật đó diễn ra đúng với bản chất, mục đích của nó, mà còn giảm thiểu tối đa những tranh chấp không đáng có cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó Mọi quan hệ pháp luật tồn tại hiện nay đều có phạm vi đối tượng điều chỉnh cụ thể Có thể nói, đối tượng điều chỉnh của một quan hệ pháp luật cụ thể chính là tập hợp những đối tượng xác định,

có những đặc tính cơ bản giống nhau và đều bị chi phối bởi những quy định được đặt ra trong quan hệ pháp luật đó

Đối với quan hệ bảo hiểm, đối tượng điều chỉnh trong quan hệ bảo hiểm rất

đa dạng bởi nhu cầu bảo hiểm hiện nay rất lớn và phong phú Bảo hiểm ra đời với mục đích là một công cụ hữu hiệu để chống lại rủi ro, hạn chế rủi ro, mà rủi ro lại luôn là những “tai nạn, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên”13, vì vậy để hạn chế tối đa rủi ro xảy ra, con người thường tìm đến bảo hiểm Ngày nay, để đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của người mua bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm đã cho ra đời rất nhiều những loại hình bảo hiểm, đi kèm với đó là những điều kiện bảo hiểm khác nhau Theo như khoản 2 Điều 7 LKDBH năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 thì trong nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có hoạt động bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển Tuy nhiên, căn cứ phân loại của Điều 7 không dựa vào đối tượng bảo hiểm mà dựa vào tính chất của nghiệp vụ bảo hiểm, vì vậy nếu dựa vào tên gọi của các nghiệp vụ bảo hiểm theo Điều 7, người mua bảo hiểm sẽ khó hình dung được đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm

cụ thể là gì Để khắc phục hạn chế của LKDBH, BLDS năm 2005 quy định “Đối tượng bảo hiểm bao gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật”14 Tuy nhiên, vai trò của BLDS trong quan hệ bảo hiểm chỉ đóng vai trò là đạo luật mẫu, thể hiện những quan điểm cơ bản nhất của nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ pháp luật tư, thiết lập những nguyên tắc quan trọng nhất cho các mối quan hệ trong đời sống dân sự Vì vậy, để khắc phục thực trạng này, BLHH đã có những điều luật quy định cụ thể về đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển nói riêng

Trang 20

“Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm tàu biển, tàu biển đang đóng, hàng hoá, tiền cước vận chuyển hàng hoá, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tàu, tiền thuê mua tàu, tiền lãi ước tính của hàng hoá, các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khoản tiền được bảo đảm bằng tàu, hàng hoá hoặc tiền cước vận chuyển”15 Quy định trên không chỉ liệt

kê đối tượng của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển mà còn bao hàm tất cả những nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải, trong đó gồm bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển Có thể thấy rằng từ khái niệm đối tượng bảo hiểm hàng hải của BLHH, trong phạm vi nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đối tượng bảo hiểm là “hàng hóa”, “tiền cước vận chuyển hàng hóa”, “tiền lãi ước tính của hàng hóa” hay nói một cách khác là hàng hóa và những lợi ích vật chất liên quan đến hàng hóa Ở đây, cần phân biệt rõ giữa khái niệm hàng hóa nói chung và hàng hóa

là đối tượng của bảo hiểm vận chuyển hàng hóa bằng đường biển nói riêng Vì không phải bất kỳ hàng hóa nào liên quan đến hoạt động hàng hải cũng đều là đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm hàng hóa “Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán”16, nói cách khác, theo chủ nghĩa Mác – Lênin thì hàng hóa phải vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị trao đổi Loại hàng hóa thuộc phạm vi đối tượng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển cũng có hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tuy nhiên nó không bao gồm tất cả các loại hàng hóa nói chung Về khái niệm “hàng hóa” trong hàng hải, BLHH liệt kê rõ hàng hóa gồm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng và các động sản khác,

kể cả động vật sống, công-te-nơ hoặc công cụ tương tự do người gửi hàng cung cấp

để đóng hàng được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển17 Đây chính là điểm tiến bộ của BLHH hiện hành so với BLHH năm 1990 bởi BLHH năm 1990 không đưa ra khái niệm hàng hóa nhưng vẫn đề cập đến khái niệm

15 Điều 225, BLHH năm 2005

16

Nguyễn Văn Hảo – Nguyễn Đình Kháng – Lê Danh Tốn (2011), Giáo trình Kinh tế chính trị

Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 36

17 Khoản 2 Điều 70, BLHH năm 2005

Trang 21

hàng hóa trong khá nhiều điều luật, gây sự khó hiểu cho người đọc về khái niệm hàng hóa

Nhằm phân biệt sự khác nhau giữa hàng hóa là đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và các loại hàng hóa khác, áp dụng khái niệm “hàng hóa” trong BLHH, người ta căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương của các tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hóa trong các hợp đồng mua bán ngoại thương Vậy nên, chỉ có những hàng hóa được ghi rõ trong hợp đồng mua bán ngoại thương mới là đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển hay thường được gọi là hàng hóa xuất nhập khẩu.Đó chính là đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển.Ngoài ra, việc xác định rõ hàng hóa là đối tượng bảo hiểm cũng đã giải quyết được vấn đề phân biệt giữa hàng hóa được tàu chuyên chở và hàng hóa là vật dụng, tư trang của thuyền viên trên tàu Nếu hàng hóa là vật dụng, tiền bạc thuộc sở hữu cá nhân thuyền viên trên tàu hoặc hàng hóa không được kê khai minh bạch trong hợp đồng vận chuyển, khi bị mất mát, tổn thất dù cho nguyên nhân gây ra tổn thất là do rủi ro được bảo hiểm nhưng sẽ vẫn không được bảo hiểm bởi các hàng hóa này không là đối tượng vận chuyển của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Sở dĩ chỉ có hàng hóa được ghi trong hợp đồng vận chuyển mới là đối tượng bảo hiểm vì theo nguyên tắc quyền lợi có thể bảo hiểm, người được bảo hiểm chỉ có quyền lợi đối với hàng hóa được ghi rõ trong hợp đồng vận chuyển chứ không phải mọi loại hàng đang được chở trên tàu.Rõ ràng, quy định khái niệm về hàng hóa của BLHH đã tạo nên cách hiểu thống nhất về đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, hạn chế được phần nào hành vi trục lợi bảo hiểm thông qua cách giải thích sai lệch về khái niệm đối tượng bảo hiểm

Về đối tượng bảo hiểm, Luật Bảo hiểm Hàng hải 1906 của Anh quy định rõ đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hải là những hành trình hàng hải hợp pháp

và định nghĩa hành trình hàng hải tại khoản 2 Điều 318 Khái niệm “đối tượng bảo hiểm” cũng được định nghĩa trong Phụ bản thứ nhất, mục 17 phần quy tắc giải thích

Trang 22

đơn bảo hiểm của MIA 1906 quy định hàng hóa có nghĩa là “hàng hóa có tính chất thương mại và không bao gồm đồ đạc cá nhân hay lương thực dự trữ để dùng trên tàu Nếu không có tập quán trái ngược hàng hóa chở trên boong và súc vật không thể gọi chung là hàng hóa” Ngoài ra, khái niệm “động sản” được nhắc đến trong khái niệm “đối tượng bảo hiểm” cũng được giải thích rõ tại Điều 90 MIA 1906 là

“động sản có nghĩa là mọi tài sản hữu hình ngoài con tàu và bao gồm cả tiền bạc và những chứng khoán có giá trị và các tài liệu khác” Khoản 3 Điều 16 Luật này cũng quy định rõ giá trị bảo hiểm của hàng hóa là tài sản bảo hiểm lúc ban đầu cộng với những chi phí về việc xếp hàng và những chi phí về bảo hiểm đối với toàn bộ tài sản

Có thể thấy rằng phạm vi đối tượng bảo hiểm của MIA vừa rộng hơn, lại vừa hẹp hơn so với BLHH Việt Nam MIA đã loại động vật sống ra khỏi phạm vi đối tượng bảo hiểm và thêm vào đó là tiền bạc, chứng khoán và các tài liệu khác Cách hiểu về khái niệm hàng hóa của MIA 1906 khá giống với Quy tắc Hague 1924 và Nghị định thư Hague – Visby 196819 Tuy nhiên, nếu không coi động vật sống là đối tượng bảo hiểm sẽ là một sự thiếu sót lớn Bởi theo định nghĩa hàng hóa của kinh tế chính trị Mác – Lênin thì chỉ cần đáp ứng đủ 2 điều kiện cơ bản – 1) là sản phẩm của lao động; 2) thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán, đã trở thành hàng hóa Rõ ràng động vật sống hoàn toàn có thể hội đủ 2 điều kiện nêu trên, tuy nhiên MIA vẫn không coi động vật sống là đối tượng bảo hiểm và chỉ thừa nhận khi tồn tại tập quán quy định ngược lại Đồng thời, việc quy định tiền bạc, chứng khoán và các tài liệu khác là đối tượng bảo hiểm là khá thừa bởi hiện nay, với những phương tiện vận chuyển hiện đại hơn, những phương thức chuyển giao nhanh chóng tiện lợi hơn, việc vận chuyển những đối tượng trên bằng đường biển không còn mang tính hiệu quả cao như trước đồng thời lại vẫn tồn tại quá nhiều rủi ro Vì vậy, phạm vi đối tượng bảo hiểm được nêu trong BLHH của Việt Nam hiện nay là khá hợp lý và theo kịp những thay đổi trong các mối quan hệ

xã hội hiện đại

19

Khoản c Điều 1, Quy tắc Hague 1924 quy định: “Hàng hóa gồm tài sản, đồ vật, hàng hóa và vật phẩm các loại, ngoại trừ súc vật sống và hàng hóa theo hợp đồng chuyên chở được khai là xếp trên boong và thực sự được chở như thế”

Trang 23

Khi nghiên cứu hàng hóa là đối tượng của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, cũng cần phải nghiên cứu sâu đến tính chất, đặc điểm của từng loại hàng hóa như hàng thông thường, hàng nguy hiểm, hàng dễ vỡ, hàng mau hỏng… Những đặc điểm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm cũng như trong việc xác định nguyên nhân gây ra tổn thất, hư hỏng Vì vậy, những loại hàng hóa có tỉ lệ tổn thất cao sẽ phải chịu phí bảo hiểm cao hơn những loại hàng hóa khác, mặc dù cùng chung điều kiện bảo hiểm và cùng một phiêu trình hàng hải Trong thực tiễn thương mại hàng hải quốc tế, doanh nghiệp bảo hiểm đã thống kê ra một số loại hàng hóa có tỉ lệ tổn thất cao như xi măng đóng bao giấy dễ

bị rách vỡ, than đá dễ tự bốc cháy, thủy tinh, sứ dễ vỡ,… Vì tính chất và đặc điểm của mỗi loại hàng hóa có ảnh hưởng rất lớn tới sự an toàn trong hành trình, do vậy, khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thường yêu cầu chủ hàng phải khai báo đầy đủ, chi tiết về đối tượng bảo hiểm như tên hàng hóa, ký mã hiệu, trọng lượng, bao bì đóng gói,… Việc khai báo đầy đủ, chi tiết về đối tượng bảo hiểm giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm có thể dự trù trước một số sự cố bảo hiểm có thể xảy ra.Trên cơ sở đó hướng dẫn người mua bảo hiểm lựa chọn điều kiện bảo hiểm cho thích hợp, tránh hậu quả khi có tổn thất lại không được bồi thường vì không thuộc rủi ro bảo hiểm

1.2.1.2 Quyền lợi bảo hiểm

Quyền lợi bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm là hai vấn đề có mối quan hệ nội tại không thể tách rời.Đối tượng bảo hiểm thể hiện sự tồn tại của giá trị hàng hóa, còn quyền lợi bảo hiểm phản ánh khả năng mà chủ thể được hưởng giá trị của hàng hóa và những quyền lợi phát sinh từ giá trị của hàng hóa đó Căn cứ vào khoản 2 Điều 226 BLHH20, các tiêu chí để xác định một người có quyền lợi bảo hiểm là người đó phải có liên quan đến đối tượng bảo hiểm và mối liên hệ đó được thể hiện bằng việc người đó sẽ thu được lợi nhuận nếu đối tượng bảo hiểm đến cảng đến an toàn hoặc không thu được lợi nhuận nếu đối tượng bảo hiểm bị tổn thất, hư hỏng, mất mát MIA cũng có quy định tương tự như pháp luật Việt Nam về việc xác định

20

Khoản 2 Điều 226, BLHH 2005 quy định: “Người có quyền lợi trong một hành trình đường biển khi có bằng chứng chứng minh là có liên quan đến hành trình này hoặc bất kỳ đối tượng có thể bảo hiểm nào gặp rủi ro trong hành trình mà hậu quả là người đó thu được lợi nhuận khi đối tượng bảo hiểm đến cảng an toàn hoặc không thu được lợi nhuận khi đối tượng bảo hiểm bị tổn thất, hư hỏng,

bị lưu giữ hoặc phát sinh trách nhiệm”

Trang 24

người có quyền lợi bảo hiểm tại Điều 5 “Theo quy định của đạo luật này, người có quyền lợi có thể bảo hiểm là người liên quan đến một hành trình đường biển Một người được coi là liên quan đến một hành trình đường biển khi ấy có liên quan hợp pháp hoặc công bằng đối với hành trình hoặc bất cứ tài sản có thể bảo hiểm nào chịu rủi ro trong cuộc hành trình đó, kết quả là người ấy có thể có lợi nếu tài sản bảo hiểm được an toàn hay về được bến đúng hạn, hoặc có thể bị thiệt hại do tài sản bảo hiểm bị tổn thất hay bị lưu giữ, hoặc có thể chịu trách nhiệm về tổn thất đó” Như vậy, mặc dù có nhiều loại quyền lợi bảo hiểm khác nhau, trong hầu hết các trường hợp, bản thân hàng hóa là đối tượng bảo hiểm và theo đó người được bảo hiểm có quyền lợi bảo hiểm, vì họ phải chịu thua thiệt khi hàng hóa bị tổn thất Đối với hợp đồng mua bán ngoại thương thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và rủi

ro từ người bán sang người mua cũng là thời điểm chuyển giao quyền lợi bảo hiểm Chẳng hạn, theo hợp đồng CIF (Cost Insurance Freight) trong INCOTERM 2010 thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và rủi ro gây mất mát hoặc thiệt hại cho hàng hóa từ người bán sang người mua là khi hàng hóa đã được xếp lên tàu tại cảng xếp hàng

Ngoài ra, việc xác định thời điểm quyền lợi bảo hiểm được hình thành vào giai đoạn nào trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm sẽ quyết định tính hợp pháp của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển.Vì nếu người được bảo hiểm không có quyền lợi bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm thì sẽ không được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường tổn thất Điều này hoàn toàn hợp lý bởi nếu không có quyền lợi bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm, khi đó dù tổn thất xảy ra cho đối tượng bảo hiểm, người được bảo hiểm vẫn sẽ không chịu bất kỳ thiệt hại gì do không có quyền lợi bảo hiểm cũng như bất kỳ mối quan hệ nào đối với đối tượng bảo hiểm Do vậy, nếu bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm trong trường hợp này sẽ làm sai lệch mục đích của bảo hiểm, đó là phục hồi trạng thái kinh tế ban đầu cho người được bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm Về vấn đề này, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam quy định khá giống với pháp luật bảo hiểm của Anh trong

Trang 25

việc xác định thời điểm một người có quyền lợi bảo hiểm21 Điều 6 MIA 1906 đề cập đến một tập quán đã tồn tại từ rất lâu đó là “đã tổn thất hay chưa tổn thất” (lost

or not lost) Tại Phụ bản MIA, Quy tắc giải thích đơn bảo hiểm số 1 cho rằng “đã tổn thất hay chưa tổn thất” nghĩa là đơn bảo hiểm sẽ tiến hành bảo hiểm cho những tổn thất xảy ra cho hàng hóa trước khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực nếu người được bảo hiểm không biết điều đó vào lúc thực hiện hợp đồng bảo hiểm Hiệu lực của điều khoản này làm cho hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm được ký vào lúc hành trình đã bắt đầu có hiệu lực hồi tố từ khi hành trình mới bắt đầu Trên thực tế, khi hàng hóa đã được vận chuyển với hàng ngàn kiện hàng container hoặc hàng vạn tấn hàng trên một con tàu thì việc người được bảo hiểm phát hiện ra hàng hóa của mình

bị tổn thất sau khi đã được vận chuyển để trục lợi bảo hiểm là việc khó có thể tiến hành được, trừ những rủi ro lớn được giới thông tin đại chúng quan tâm và đưa tin, nhưng việc đó lại rất khó xảy ra bởi rất dễ bị phát hiện22

Trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thì quyền lợi bảo hiểm của người được bảo hiểm chủ yếu là giá trị của đối tượng bảo hiểm Giá trị của đối tượng bảo hiểm là quyền lợi lớn nhất mà người được bảo hiểm sẽ nhận được nếu hàng hóa không bị tổn thất và đến cảng đến an toàn Tuy nhiên, với đặc tính của hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là hàng hóa thường mất một thời gian khá dài mới tới được cảng đến và vị trí của cảng đi và cảng đến thường là các quốc gia khác nhau.Nên ngoài giá trị của chính hàng hóa được vận chuyển, nó còn

21 Khoản 3 Điều 226, BLHH năm 2005 quy định như sau:“Người được bảo hiểm phải có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất và có thể không có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm tham gia bảo hiểm Khi đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm theo điều kiện

có tổn thất hoặc không có tổn thất thì người được bảo hiểm vẫn có thể được bồi thường mặc dù sau khi tổn thất xảy ra mới có quyền lợi bảo hiểm, trừ trường hợp người được bảo hiểm biết tổn thất đã xảy ra, còn người bảo hiểm không biết việc đó Trường hợp người được bảo hiểm không có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất thì không thể có được quyền đó bằng bất

kỳ hành động hay sự lựa chọn nào sau khi người được bảo hiểm biết tổn thất đã xảy ra”

Điều 6 MIA 1906 cũng quy định tương tự: “Người được bảo hiểm đương nhiên phải có liên quan đến đối tượng bảo hiểm khi gặp tổn thất, mặc dù ông ta không nhất thiết phải có liên quan từ khi bắt đầu bảo hiểm Với điều kiện đối tượng bảo hiểm "đã tổn thất hay chưa tổn thất", người được bảo hiểm có thể được bồi thường mặc dù người đó có thể chưa có quyền lợi bảo hiểm sau khi tổn thất xảy ra, trừ khi tại thời điểm hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực, người được bảo hiểm biết sự tồn tại của tổn thất đó còn người bảo hiểm thì không biết Trong trường hợp người được bảo hiểm không có quyền lợi bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất thì ông ta sẽ không thể có được quyền lợi

đó bằng bất kỳ hành động hoặc sự lựa chọn nào sau khi người được bảo hiểm biết tổn thất đã xảy ra”.

22

TS Trần Sĩ Lâm (2014), Phòng chống hiệu quả loại hình gian lận hàng hải: Trục lợi bảo hiểm

hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, số 3, tr.37.

Trang 26

mang lại một số các quyền lợi khác cho người được bảo hiểm như: phần lãi dự tính của hàng hóa với mức tối đa là 10% theo giá CIF; giá trị tăng thêm của hàng hóa;

thuế nhập khẩu nếu hàng hóa chỉ bị tổn thất một phần Đây chính là điểm khác biệt giữa quyền lợi bảo hiểm của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và bảo hiểm tài sản nói chung

Như vậy, quyền lợi bảo hiểm không chỉ là quyền sở hữu của người được bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm, mà đi cùng với đối tượng bảo hiểm còn có những quyền lợi bảo hiểm khác mà người được bảo hiểm cần được bảo hiểm.Vì vậy, khi nghiên cứu về quyền lợi bảo hiểm, ta không chỉ nghiên cứu về giá trị của đối tượng bảo hiểm mà còn phải quan tâm đến những yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến giá trị của đối tượng bảo hiểm

1.2.2 Phí bảo hiểm

Quan hệ bảo hiểm giữa người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm mang bản chất là một quan hệ dân sự, trong đó doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho người mua bảo hiểm Như vậy, có thể hiểu rằng, thông qua quan hệ bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm đang bán cho người mua bảo hiểm một loại hàng hóa, hàng hóa này tồn tại ở dạng vô hình, đó là dịch vụ bảo hiểm Theo kinh tế chính trị Mác – Lênin thì mọi loại hàng hóa luôn tồn tại 2 dạng giá trị, đó là giá trị sử dụng và giá trị Trong đó, giá trị sử dụng là công dụng thật sự của hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, còn giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa23 Tuy nhiên, giá trị mới chỉ là một trong những thành phần để tạo nên giá thành của hàng hóa Theo như khái niệm giá thành của hàng hóa gồm “toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong phân xưởng và bộ phận sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm hoàn thành hoặc các lao vụ, dịch vụ,…”24 vì vậy có thể thấy giá thành của hàng hóa còn bao gồm tất

cả chi phí để tạo ra nó Như đã trình bày, dịch vụ bảo hiểm cũng là một loại hàng hóa thể hiện ở việc nhận rủi ro được chuyển giao từ người mua bảo hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay cho người mua bảo hiểm

23

Nguyễn Văn Hảo – Nguyễn Đình Kháng – Lê Danh Tốn (2011), Giáo trình Kinh tế chính trị

Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 36 - 37

24

Đặng Thị Loan (2006), Giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp, Trường Đại học

Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr 72

Trang 27

gánh chịu những rủi ro này và sẽ sẵn sàng bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm Để thực hiện được việc này, doanh nghiệp bảo hiểm phải có một khả năng tài chính lớn mạnh do doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho một vài khách hàng mà rất nhiều khách hàng với giá trị đối tượng bảo hiểm vô cùng lớn Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm cũng chỉ là một tổ chức kinh doanh vì lợi nhuận, họ không thể dùng tiền của chính mình để gánh chịu tổn thất cho một người khác Vì vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm thường dựa vào khoản tiền đóng góp của người mua bảo hiểm, từ đó hình thành lên quỹ bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm

sẽ đại diện cho những người mua bảo hiểm để phân bổ, sử dụng nguồn quỹ này cho hợp lý, đó chính là tính cộng đồng, san sẻ, bản chất số đông của bảo hiểm.25

Nếu như quyền lợi của người được bảo hiểm là được chuyển giao rủi ro sang doanh nghiệp bảo hiểm và sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm là được thu phí bảo hiểm và hưởng một phần lợi nhuận từ khoản phí này Trong quan hệ dân sự, quyền của chủ thể này sẽ là nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại Do vậy, nghĩa vụ của người mua bảo hiểm chính là đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho mình Điều này hoàn toàn hợp lý trong khoa học pháp lý dân sự

Doanh nghiệp bảo hiểm thực chất cũng chỉ là một tổ chức kinh doanh vì lợi nhuận nên trong quá trình kinh doanh của nó phải sinh lợi, vậy nên khi mua bảo hiểm, người bảo hiểm cũng phải trả một khoản phí nhất định vừa để doanh nghiệp bảo hiểm duy trì và phát triển hoạt động của mình, vừa để doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho người mua bảo hiểm Do vậy, có thể thấy rằng phí bảo hiểm rất quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm và nó là nguồn tài chính giúp doanh nghiệp bảo hiểm duy trì hoạt động của mình trên thị trường

Liên quan đến chế định phí bảo hiểm không thể không đề cập đến chế định giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, đây là hai nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến phí bảo hiểm và giúp doanh nghiệp bảo hiểm quyết định mức thu phí bảo hiểm Giá

25

TS Nguyễn Thị Thủy (2007), Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và xác định thời điểm phát sinh

trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5(42), tr.28.

Trang 28

trị bảo hiểm theo như BLHH định nghĩa là giá trị thực tế của đối tượng bảo hiểm26 Vậy giá trị bảo hiểm chính là đặc trưng về phương diện lợi ích kinh tế của đối tượng bảo hiểm Ý nghĩa của hoạt động xác định giá trị bảo hiểm rất quan trọng đối với việc xây dựng mức phí bảo hiểm cho phù hợp với từng trường hợp, vì vậy công việc đầu tiên mà doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khi ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng hóa đó chính là xác định chính xác giá trị bảo hiểm Nếu doanh nghiệp bảo hiểm không xác định đúng giá trị bảo hiểm của hàng hóa sẽ gây ra khó khăn trong việc tính phí bảo hiểm, đánh giá mức độ tổn thất và xác định số tiền để bồi thường cho người được bảo hiểm cũng sẽ gặp những trở ngại rất lớn.Thông thường, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ dựa vào lời khai của người mua bảo hiểm và hóa đơn gốc của hàng hóa Tuy nhiên, hoạt động xác định giá trị bảo hiểm này trong thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng và chính xác bởi trong một số trường hợp như hàng hóa đặc biệt không thể xác định giá trị một cách chính xác thì buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải tự xác định giá trị bảo hiểm và thỏa thuận với người mua bảo hiểm để đi đến một giá trị bảo hiểm thống nhất Theo quy định của BLHH về cách xác định giá trị bảo hiểm27, ngoài trừ lời khai của người mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể xác định giá trị bảo hiểm bằng cách dựa vào giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn bán hàng hoặc giá hàng thực tế tại nơi bốc hàng nếu không có hóa đơn cộng với chi phí vận chuyển, phí bảo hiểm và cả tiền lãi ước tính Quy định này cũng phù hợp với pháp luật bảo hiểm của các nước trên thế giới28

Tuy nhiên, so sánh với MIA 1906, giá trị bảo hiểm xác định theo pháp luật Việt Nam còn cộng gộp cả tiền lãi ước tính Điều này hoàn toàn hợp lý bởi như đã phân tích ở quyền lợi bảo hiểm, tiền lãi ước tính cũng là một phần cấu thành giá trị của đối tượng bảo hiểm.Việc pháp luật quy định cho phép người mua bảo hiểm tính cả phần lãi ước tính vào giá trị bảo hiểm giúp bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của người được bảo hiểm đó là được khôi phục những quyền lợi kinh doanh bị thiệt hại của người được bảo hiểm

Trang 29

Ngoài giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm cũng là một nhân tố không kém phần quan trọng trong việc định mức phí bảo hiểm.Theo khoản 1 Điều 233 BLHH,

số tiền bảo hiểm là số tiền trong tổng giá trị của đối tượng bảo hiểm mà người mua bảo hiểm kê khai để doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành bảo hiểm Việc pháp luật quy định khái niệm số tiền bảo hiểm nhằm góp phần tôn trọng sự tự nguyện, tự do về mặt ý chí của các bên trong quan hệ bảo hiểm Người mua bảo hiểm hoàn toàn có thể lựa chọn hoặc chỉ tham gia bảo hiểm một phần giá trị của lô hàng hoặc tham gia bảo hiểm toàn bộ lô hàng Cũng theo Điều 233 thì người mua bảo hiểm chỉ được phép khai báo số tiền bảo hiểm với mức tối đa bằng giá trị bảo hiểm của hàng hóa, nếu khai báo lớn hơn mức này thì phần chênh lệch đó sẽ không được công nhận Như vậy, trong đa số trường hợp nếu số tiền bảo hiểm cao hơn giá trị bảo hiểm thì mức bồi thường tối đa cho người được bảo hiểm cũng chỉ dừng lại ở giá trị bảo hiểm của hàng hóa Việc pháp luật quy định như trên nhằm đảm bảo cho hoạt động bảo hiểm diễn ra đúng với mục đích của nó là khôi phục lại tình trạng kinh tế ban đầu của người được bảo hiểm Chỉ một số trường hợp đặc biệt như ngoài việc hàng hóa bị tổn thất toàn bộ, người được bảo hiểm còn phải trả cho chi phí cứu hộ, chi phí đóng góp tổn thất chung,… thì số tiền bồi thường lúc này sẽ lớn hơn giá trị bảo

hiểm của hàng hóa do cộng gộp cả những khoản chi phí trên

Tóm lại, giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm là hai yếu tố mang tính chất quyết định đến phí bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ dựa vào hai yếu tố này cùng một số yếu tố khác như tình trạng của phương tiện vận chuyển, mức độ rủi ro đối với loại hàng, thời gian vận chuyển,… để đưa ra mức phí phù hợp với từng chuyến hàng

Như đã phân tích về phí bảo hiểm, do vai trò quan trọng của phí bảo hiểm trong hoạt động KDBH của doanh nghiệp bảo hiểm nên chỉ khi người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm thì trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm mới phát sinh Trách nhiệm bảo hiểm chính là nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.Vì vậy, nếu người được bảo hiểm muốn được hưởng quyền lợi này thì buộc phải đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm.Sở dĩ có quy định này bởi nếu không có phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm trước nhất sẽ không thể hình thành nên quỹ bảo hiểm

Trang 30

để phục vụ cho việc bồi thường các thành viên tham gia quỹ.Việc người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm có thể so sánh với việc người mua bảo hiểm tự nguyện tham gia vào quỹ bảo hiểm, từ đó mới có cơ sở để được bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.Ngoài ra, trong một quan hệ dân sự thông thường, việc trả một khoản tiền cho người bán hàng thể hiện cho ý chí đồng ý tham gia vào quan hệ dân

sự đó

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng một trong những ý nghĩa quan trọng của phí bảo hiểm đó là căn cứ để xác định trách nhiệm bảo hiểm Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ giữa thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm và thời điểm giao kết hợp đồng Thời điểm giao kết hợp đồng theo Điều 404 BLDS năm 2005 được xác định gồm có 4 trường hợp29, trong đó đều thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng dân sự của các bên trong quan hệ dân sự Nhưng việc doanh nghiệp bảo hiểm đồng ý tham gia vào quan hệ bảo hiểm sẽ không làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm nếu như người mua bảo hiểm chưa hoàn thành nghĩa vụ của mình, đó là đóng phí bảo hiểm30.Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, vì vậy hợp đồng thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng Có thể hiểu rằng doanh nghiệp bảo hiểm với vai trò là người bán dịch vụ sẽ chỉ cung cấp dịch vụ của mình cho người mua dịch vụ khi họ thu đủ phí cần thiết Sẽ vô lý khi người mua bảo hiểm mặc dù chưa đóng phí bảo hiểm hoặc đóng chưa đủ vẫn đòi doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho toàn bộ tổn thất của hàng hóa.Vì vậy, có thể xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm chính là lúc người mua bảo hiểm đóng đủ phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm31

29 Điều 404 BLDS năm 2005 quy định về thời điểm giao kết hợp đồng dân sự, đó là:

1 Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết

2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết

3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng

4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản

“Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi có một trong những trường hợp sau đây:

1 Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm;

Trang 31

Điều 52 MIA năm 1906 cũng quy định tương tự về nghĩa vụ trả phí bảo hiểm.Theo đó, trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ phát sinh khi người được bảo hiểm hoặc đại lý của họ trả phí bảo hiểm cho người bảo hiểm.Người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bảo hiểm nếu như khoản phí này chưa được trả bởi người được bảo hiểm

Tóm lại, phí bảo hiểm là một nhân tố quyết định đến doanh nghiệp bảo hiểm Phí bảo hiểm là nguồn thu chính của doanh nghiệp bảo hiểm, dựa vào phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm mới có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm và mở rộng thị trường của mình Cũng dựa vào việc người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phát sinh và doanh nghiệp bảo hiểm

sẽ phải bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

1.2.3 Thời hạn bảo hiểm

Thời hạn là khoảng thời gian quy định để làm xong hoặc chấm dứt việc nào

đó32

.Theo từ điển Luật học, thời hạn là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác, bao gồm thời điểm bắt đầu thời hạn và thời điểm kết thúc thời hạn33.Có thể thấy rằng thời hạn vừa mang tính khách quan của thời gian, vừa mang tính chủ quan bởi ý chí của con người.Cụ thể, bản chất của thời hạn giống như thời gian, tức là nó kéo dài vô hạn và luôn trôi dần đều Tuy nhiên, thời hạn lại

là một thành phần của hợp đồng, sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ dân sự, nên nó không còn kéo dài vô tận như bản chất của thời gian, mà sẽ bị giới hạn bởi ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự Theo khoản 1 Điều 149 BLDS năm 2005 thì khái niệm của thời hạn là “Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác” Vậy có thể kết luận, thời hạn là một khoảng thời gian trôi qua hoặc là một thời điểm mà khi nó kết thúc hoặc xuất hiện thì làm phát sinh hậu quả pháp lý34

Bộ Tư pháp và Viện Khoa học pháp lý (1999), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp phối hợp với

NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 718.

34

Trường Đại học Luật TP.HCM (2012), Giáo trình Những quy định chung về luật Dân sự, NXB

Hồng Đức, Tp HCM, tr 323

Trang 32

Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian nhằm xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm và thời điểm chấm dứt trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm35.Tuy nhiên, do đặc điểm và tính chất của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa khác nhau nên cách xác định thời hạn bảo hiểm trong từng loại hợp đồng bảo hiểm cũng sẽ khác nhau.Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển gồm hai loại hợp đồng chính đó là hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao Đối với hợp đồng bảo hiểm chuyến, thời hạn bảo hiểm khá giống với những loại hợp đồng bảo hiểm thông thường khác, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi một chuyến hàng nhất định Để hợp đồng bảo hiểm phát sinh hiệu lực, người mua bảo hiểm phải thực hiện các thủ tục ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng hóa với doanh nghiệp bảo hiểm và phải đóng đủ phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm.Thời hạn của hợp đồng bảo hiểm đối với loại hợp đồng này chỉ giới hạn trong một chuyến hàng cụ thể nhất định Loại hợp đồng này đã bộc

lộ nhiều nhược điểm như chỉ áp dụng cho một chuyến hàng duy nhất, thủ tục ký kết rườm rà mất thời gian, có thể chủ hàng quên mua bảo hiểm cho chuyến hàng vì một

số lý do khách quan Trong tình hình giao thương quốc tế phát triển mạnh mẽ hiện nay, mối quan hệ buôn bán thông thương giữa các quốc gia thường tồn tại tương đối lâu dài và ổn định.Đối với nhiều quốc gia và các khối liên minh, sự ra đời của các hiệp định thương mại đã góp phần thúc đẩy và củng cố sự ổn định của việc xuất nhập khẩu hàng hóa.Vì vậy, vấn đề vận chuyển hàng hóa không chỉ là một chuyến

mà rất nhiều chuyến trong một thời gian tương đối dài.Việc mua bảo hiểm cho từng chuyến hàng sẽ làm mất nhiều thời gian, tiền bạc của các bên trong quan hệ giao thương.Vì vậy, để khắc phục các nhược điểm này, hợp đồng bảo hiểm bao ra đời.Với mục đích là khỏa lấp những yếu điểm của hợp đồng bảo hiểm chuyến, hợp đồng bảo hiểm bao bảo hiểm cho nhiều chuyến hàng trong một khoảng thời gian nhất định.Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cam kết bảo hiểm cho tất cả các chuyến hàng xuất nhập khẩu của người mua bảo hiểm trong một khoảng thời gian xác định Người mua bảo hiểm muốn bảo hiểm một chuyến hàng trong khoảng thời gian này chỉ cần khai báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết

về hàng hóa xuất nhập khẩu và yêu cầu cấp đơn bảo hiểm Tuy nhiên, vì lý do

35Nguyễn Thị Thủy (2012), Pháp luật Bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, NXB Thanh Niên, Tp.HCM,

tr 87

Trang 33

khách quan nào đó mà người mua bảo hiểm chưa kịp thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về một lô hàng mà sự kiện được bảo hiểm đã xảy ra gây thiệt hại cho lô hàng đó thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải bồi thường cho người được bảo hiểm

Thời hạn của hợp đồng bảo hiểm bao vừa có điểm tương đồng với thời hạn của hợp đồng bảo hiểm chuyến, vừa mang đặc trưng của loại hợp đồng bảo hiểm này.Theo đó, đối với mỗi chuyến hàng trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm bao, thời điểm phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm vẫn được xác định tương tự như hợp đồng bảo hiểm chuyến Nhưng khi chuyến hàng kết thúc, hợp đồng bảo hiểm bao vẫn tiếp tục phát sinh hiệu lực nếu có một chuyến hàng tiếp theo diễn ra trong thời hạn bảo hiểm được quy định tại hợp đồng bảo hiểm bao Có thể thấy rằng sự chấm dứt hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm chỉ diễn ra tạm thời.Chỉ khi hết thời hạn bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm bao, hợp đồng bảo hiểm này mới thực sự chấm dứt hiệu lực đối với các bên trong quan hệ bảo hiểm

Thời điểm phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm thường được xác định khi hàng hoá được bảo hiểm rời kho hoặc nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển36 Trước kia, khi bảo hiểm còn chưa phát triển mạnh, người ta chủ yếu chỉ bảo hiểm cho hàng hóa trong thời gian hành trình trên biển, còn trên quãng đường vận chuyển phụ và thời gian bốc và dỡ hàng sẽ không được tính vào thời hạn bảo hiểm Điều này vừa gây thiệt thòi, vừa gây phiền toái cho người mua bảo hiểm bởi hành trình của một chuyến hàng vận chuyển bằng đường biển thường không chỉ có hành trình trên biển được thực hiện bởi tàu hàng chuyên chở mà còn có sự tham gia của rất nhiều các loại hình vận tải như đường bộ, đường sông, đường sắt và thậm chí là đường hàng không Trong quãng đường vận chuyển phụ này, hàng hóa vẫn sẽ chịu rủi ro, vì vậy, người mua bảo hiểm muốn tránh được những rủi ro xảy ra trong khoảng thời gian này phải mua thêm một số bảo hiểm cho các quãng đường vận chuyển phụ

Để khắc phục nhược điểm này, các doanh nghiệp bảo hiểm đã thống nhất mở rộng thời hạn bảo hiểm bằng cách quy định thêm điều khoản bảo hiểm sà lan nhằm bảo hiểm cho hàng hóa vận chuyển bằng sà lan, thuyền bé từ bờ ra tàu và ngược lại

36 Xem thêm khoản 1 Điều 8 QTC 1990

Trang 34

Tuy nhiên, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm vẫn chỉ giới hạn trong thời gian hàng hóa được quá tải bằng đường thủy lên tàu vận chuyển mà không xét đến khoảng thời gian vận chuyển phụ từ kho đến bến cảng và từ bến cảng đến kho.Đến đầu thế kỷ XX, Hiệp hội bảo hiểm London đã cho ra đời điều khoản “từ kho đến kho” Đây là một sự tiến bộ vượt bậc bởi khi này, thời hạn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển không chỉ gói gọn trong quãng đường vận chuyển chính trên biển, mà còn bao gồm tất cả các quãng đường vận chuyển phụ (nếu có) và cả thời gian bốc hàng lên tàu và dỡ hàng khỏi tàu Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm chuyến ngoài điều kiện xác định từ khi hàng hóa rời kho được ghi tại hợp đồng bảo hiểm còn được xác định như sau “Khi đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm theo một đơn bảo hiểm chuyến “tại và từ”37

hoặc

“từ” một địa điểm cụ thể nào đó, không nhất thiết là tàu phải ở tại địa điểm đó khi

ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng có một điều kiện ngụ ý là hành trình phải bắt đầu trong một thời gian hợp lý và nếu hành trình không bắt đầu đúng như vậy thì người bảo hiểm có thể hủy hợp đồng”38 Do tính chất của hợp đồng bảo hiểm bao, việc vận chuyển có thể bắt đầu bất cứ lúc nào trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng bao Vì thời hạn bắt đầu phát sinh trách nhiệm của hợp đồng bảo hiểm thường được xác định từ khi hàng hóa bắt đầu rời kho bãi để vận chuyển nên khi bốc hàng lên phương tiện vận tải trong kho đi, vận chuyển tới nơi đóng gói hoặc từ nơi đóng gói hoặc bất cứ khoảng thời gian nào trước khi việc vận chuyển thực sự bắt đầu thì hàng hóa sẽ không được bảo hiểm trong giai đoạn này

Thông thường, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ kéo dài trong suốt quá trình vận chuyển “bình thường”39.Quá trình vận chuyển này trong thuật ngữ chuyên ngành hàng hải được gọi là hành trình hàng hải và nếu hàng hóa trong hành trình này được bảo hiểm thì sẽ được gọi là hành trình bảo hiểm.Hành trình bảo hiểm

“là quãng đường vận chuyển từ kho của người bán đến kho của người nhận hàng

37

Định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm chuyến theo khoản 1 Điều 25 MIA năm 1906 “Trường hợp hợp đồng bảo hiểm bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm “tại và từ”, hoặc từ một địa điểm này đến một hoặc nhiều địa điểm khác, hợp đồng bảo hiểm sẽ được gọi là “hợp đồng bảo hiểm chuyến”, và trường hợp hợp đồng bảo hiểm bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm trong một khoảng thời gian nhất định thì hợp đồng bảo hiểm sẽ được gọi là “hợp đồng bảo hiểm thời hạn” Một hợp đồng bảo hiểm

có thể bao gồm cả chuyến và thời gian”

38 Khoản 1 Điều 42, MIA năm 1906

39 Xem thêm khoản 1 Điều 8 QTC 1990

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tƣ pháp và Viện Khoa học pháp lý (1999), Từ điển Luật học, NXB Tƣ pháp phối hợp với NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tƣ pháp và Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Tƣ pháp phối hợp với NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 1999
2. Đặng Thị Loan (2006), Giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp
Tác giả: Đặng Thị Loan
Năm: 2006
3. Đỗ Hữu Vinh (2009), Bảo hiểm và giám định hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, NXB Giao thông vận tải, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm và giám định hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Tác giả: Đỗ Hữu Vinh
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2009
4. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (2004), Giáo trình Đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ
Tác giả: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
5. Hồ Sĩ Gà (2000), Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo hiểm
Tác giả: Hồ Sĩ Gà
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2000
6. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam online, http://avi.org.vn/ “Tổng quan thị trường Bảo hiểm Việt Nam năm 2013” cập nhật ngày 25/05/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan thị trường Bảo hiểm Việt Nam năm 2013
7. Ngô Khắc Lễ (2010), Khi nào một tai nạn hàng hải đƣợc công nhận là tổn thất chung?,Tạp chí Hàng hải Việt Nam, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hàng hải Việt Nam
Tác giả: Ngô Khắc Lễ
Năm: 2010
8. Nguyễn Thị Thủy (2012), Pháp luật Bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, NXB Thanh Niên, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Bảo hiểm tài sản tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2012
9. Nguyễn Tiến Hùng (2011), Nguyên lý và thực hành bảo hiểm, NXB Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý và thực hành bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Tiến Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
10. Nguyễn Tiến, Lý thuyết cơ bản về bảo hiểm, tài liệu lưu hành nội bộ của Bảo Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết cơ bản về bảo hiểm
11. Nguyễn Văn Hảo – Nguyễn Đình Kháng – Lê Danh Tốn (2011), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo – Nguyễn Đình Kháng – Lê Danh Tốn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
12. Nguyễn Vũ Hoàng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển trong thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Vũ Hoàng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Phạm Thị Lan Anh (2007), Giáo trình Bảo hiểm trong ngoại thương, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm trong ngoại thương
Tác giả: Phạm Thị Lan Anh
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2007
14. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia – Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Anh – Việt, NXB Văn hóa Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Anh – Việt
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia – Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006
15. Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM (2004), Giáo trình Bảo hiểm hàng hải, tài liệu lưu hành nội bộ, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm hàng hải
Tác giả: Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM
Năm: 2004
16. Trường Đại học Luật TP.HCM (2012), Giáo trình Những quy định chung về luật Dân sự, NXB Hồng Đức, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những quy định chung về luật Dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật TP.HCM
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2012
17. Trường Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả: Trường Đại học Luật TP.HCM
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2013
18. Trường Đại học Tài chính Kế toán (1999), Giáo trình Bảo hiểm, NXB Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm
Tác giả: Trường Đại học Tài chính Kế toán
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 1999
19. Trương Mộc Lân – Đoàn Minh Phụng (2005), Giáo trình nghiệp vụ bảo hiểm, NXB Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ bảo hiểm
Tác giả: Trương Mộc Lân – Đoàn Minh Phụng
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2005
20. TS. Nguyễn Thị Thủy (2006), Các yếu tố chi phối quy định của pháp luật trong bảo hiểm tài sản, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4(35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Thủy
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w