Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡn
Trang 1NGUYỄN NHẬT KHANH
BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ
TƯƠNG ỨNG VỚI SỐ TIỀN PHẠT ĐỂ BÁN ĐẤU GIÁ
NHẰM BẢO ĐẢM THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 08 NĂM 2017
Trang 2BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ
TƯƠNG ỨNG VỚI SỐ TIỀN PHẠT ĐỂ BÁN ĐẤU GIÁ
NHẰM BẢO ĐẢM THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài: “Biện pháp kê biên
tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” là công trình nghiên cứu do chính
tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt Luận
văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể và chính xác Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Tác giả
Nguyễn Nhật Khanh
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Luật XLVPHC 2012
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5
7 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ TƯƠNG ỨNG VỚI SỐ TIỀN PHẠT ĐỂ BÁN ĐẤU GIÁ 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục đích của biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 6
1.1.1 Khái niệm “kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá” 6
1.1.2 Đặc điểm của biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 8
1.1.3 Mục đích áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 11
1.2 Quy định pháp luật về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 12
1.2.1 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 12
1.2.2 Đối tượng bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 14
1.2.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 15
1.2.4 Các loại tài sản bị kê biên 18
Trang 61.2.5 Những tài sản không được kê biên 20
1.2.6 Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 22
1.2.7 Thủ tục tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 27
1.2.8 Chi phí thực hiện biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 32
Kết luận chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ TƯƠNG ỨNG VỚI SỐ TIỀN PHẠT ĐỂ BÁN ĐẤU GIÁ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 35
2.1 Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về các nội dung cụ thể của biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá và giải pháp hoàn thiện 35
2.1.1 Về tên gọi biện pháp và điều kiện áp dụng 35
2.1.2 Về xác minh tài sản kê biên 38
2.1.3 Về các tài sản không được kê biên 40
2.1.4 Về biểu mẫu, nội dung của biên bản, quyết định kê biên tài sản 52
2.1.5 Về thẩm quyền kê biên tài sản do cấp trên thực hiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cấp dưới 55
2.1.6 Về xử lý đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan không thực hiện nghĩa vụ phối hợp trong việc thực hiện quyết định kê biên tài sản 56
2.1.7 Về thời hạn ban hành và thời hiệu thi hành quyết định kê biên tài sản 58
2.1.8 Về báo cáo công tác áp dụng biện pháp kê biên tài sản 62
2.2 Một số giải pháp chung góp phần hoàn thiện biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 65
2.2.1 Bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định trong các nghị định của Chính phủ về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá 65
Trang 72.2.2 Khắc phục tình trạng chủ thể vi phạm hành chính không có điều kiện thi hành quyết định xử phạt 71 2.2.3 Nâng cao năng lực áp dụng pháp luật cho các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản 73
Kết luận chương 2 76 Kết luận chung 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xử phạt vi phạm hành chính là giải pháp hàng đầu, trọng điểm hiện nay trong công tác đấu tranh, phòng chống vi phạm hành chính Nhằm đảm bảo thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Đây là những hoạt động tổ chức cụ thể, chủ yếu nhằm thi hành trên thực tế các hình thức trách nhiệm hành chính được áp dụng với cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, trong đó đáng lưu ý nhất là
biện pháp “kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá”
Nhằm chi tiết hóa Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Mặc dù các quy định về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá đã được quy định một cách khá đầy đủ nhưng trên thực tế,
số lượng quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị trì hoãn hoặc không thể thi hành còn rất nhiều Điều này xuất phát từ những bất cập trong các quy định pháp luật về các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói chung
và biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá nói riêng Do đó, việc nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá nhằm chỉ ra những bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện đối với biện pháp cưỡng chế này là việc làm hết sức cần thiết Chính vì lý do đó, tác giả
quyết định lựa chọn đề tài: “Biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” để làm luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy liên quan trực tiếp đến biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá đã có một số công trình nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, sách chuyên khảo Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành
chính năm 2012 tập 2 do PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp làm chủ biên, Nxb Đại học
Trang 9Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 Đây là công trình nghiên cứu, bình luận chuyên sâu các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong
đó có các quy định về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt
để bán đấu giá Tuy nhiên, nội dung của tác phẩm chỉ dừng lại ở góc độ bình luận các điều luật trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chứ chưa phân tích, đánh giá, bình luận một cách toàn diện các quy định về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá trong các Nghị định hướng dẫn cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế này Trên tinh thần tiếp thu các kết quả nghiên cứu trong tác phẩm này, tác giả sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng để phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết hơn các quy định của pháp luật có liên quan
về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
Thứ hai, bài viết “Bất cập trong các quy định pháp luật về tài sản không
được kê biên để bán đấu giá khi thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” của các tác giả Cao Vũ Minh - Nguyễn Nhật Khanh trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6 năm 2016 Đây là một bài viết mang tính chất “tiểu
nghiên cứu” liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài Tuy nhiên, bài viết chỉ mới
đi sâu phân tích bất cập trong các quy định pháp luật về các loại tài sản không được
kê biên để bán đấu giá chứ chưa đánh giá một cách toàn diện toàn bộ quá trình thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá Luận văn sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu trong bài viết này và tiếp tục phát triển, mở rộng để nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
Qua đó có thể thấy rằng, việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá nhằm bảo đảm thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính” còn ít được quan tâm nghiên cứu, vì đây là một đề tài
mang tính chuyên sâu Ở công trình này, tác giả sẽ phân tích, đánh giá một cách toàn diện các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá Đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như công tác thi hành pháp luật trên thực tế Do
đó, nội dung của đề tài đáp ứng được điều kiện về tính mới cũng như có khả năng ứng dụng cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài hướng đến mục đích hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện
Trang 10pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá để nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế này trong thực tế nhằm bảo đảm thi hành hiệu quả các quyết định xử phạt vi phạm hành chính
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Phân tích, làm rõ những vấn đề mang tính chất lý luận về biện pháp kê
biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
- Làm rõ những vấn đề pháp lý về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương
ứng với số tiền phạt để bán đấu giá, chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế này
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về biện pháp kê biên tài
sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong việc thực thi trên thực tế
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như công tác áp dụng pháp
luật trong thực tiễn về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt
để bán đấu giá
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật Việt Nam về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá, cụ thể là các vấn đề:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương
ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
- Thực trạng quy định cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp kê
biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá ở góc độ một biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính chứ không tập trung nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề định giá và bán đấu giá tài sản Do vậy, đề tài sẽ nghiên cứu các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 166/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2013 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Ngoài ra, tác giả còn dẫn chiếu đến các văn bản pháp luật khác để làm rõ các vấn đề pháp lý có liên quan đến biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá như Nghị định số
Trang 11127/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan (sửa đổi,
bổ sung bởi Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016), Nghị định số 129/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/10/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Đồng thời, tác giả còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp cưỡng chế này
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trong luận văn
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: tác giả sử dụng các phương pháp sau:
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Thứ nhất, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp là hai phương
pháp chủ đạo, được sử dụng để phân tích các vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật liên quan đến biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; tổng hợp, phân tích các vấn đề pháp lý có liên quan từ thực tiễn
áp dụng pháp luật Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm tắt nội dung của mỗi chương và đưa ra kết luận chung cho toàn luận văn
Thứ hai, phương pháp so sánh: được sử dụng để đánh giá các quy định pháp
luật về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá qua các thời kỳ để thấy được sự thay đổi của pháp luật về biện pháp cưỡng chế này Bên cạnh đó, so sánh quy định của các văn bản pháp luật có liên quan cùng điều chỉnh về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá nhằm mục đích chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt cũng như lý giải cho những điểm tương đồng, khác biệt đó và đề xuất kiến nghị nhằm bảo đảm sự thống nhất trong các quy định pháp luật về biện pháp cưỡng chế này
Thứ ba, phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp các quy định pháp
luật có liên quan cũng như các số liệu, báo cáo, vụ việc từ thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá làm cơ sở
dữ liệu để phân tích, đánh giá một cách toàn diện các vấn đề pháp lý và thực tiễn về biện pháp cưỡng chế này trong luận văn
Thứ tư, phương pháp điều tra xã hội học: tác giả sử dụng phương pháp này
để khảo sát ý kiến của người dân về một số loại tài sản không được kê biên (như công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt thông thường, đồ dùng thờ cúng, …)
Trang 12Thứ năm, phương pháp phỏng vấn chuyên gia: được sử dụng để thu thập ý
kiến đánh giá của các chuyên gia, đặc biệt là các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để đánh giá công tác áp dụng pháp luật trong thực tiễn
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu có giá trị cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá Quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ phân tích và làm rõ trong đề tài những vấn đề pháp lý về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá Bên cạnh đó, tác giả sẽ chỉ ra những bất cập, nguyên nhân cũng như đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp cưỡng chế này Do đó, nội dung của đề tài còn là một cơ sở dữ liệu có giá trị tham khảo, góp phần phổ biến kiến thức pháp lý cho sinh viên, học viên, nhà nghiên cứu cũng như những người làm công tác thực tiễn khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này trong thực tế
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn được chia thành hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá và giải pháp hoàn thiện
Trang 132014 quy định “KBTS của người phải thi hành án, kể cả TS đang do người thứ ba giữ” là một biện pháp để cưỡng chế thi hành án Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại quy định “KBTS” là một
biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu TS hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại
Trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính (VPHC), KBTS được quy định là
một biện pháp cưỡng chế hành chính để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt
VPHC khi cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt Qua các thời kỳ, biện pháp cưỡng chế này đã được quy định với các tên gọi khác nhau Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về biện pháp cưỡng chế này là Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 (Pháp lệnh XPVPHC 1989) với tên gọi
“KBTS để bán đấu giá” tại Điều 32 Tiếp theo, Điều 55 Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 1995 (Pháp lệnh XLVPHC 1995) quy định biện pháp cưỡng chế
này với tên gọi “Kê biên phần TS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu
Trang 14giá”, sau đó Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (Pháp lệnh XLVPHC
2002) tại Điều 66 và Luật XLVPHC 2012 tại Điều 86 đã bỏ đi chữ “phần” và sửa
thành “KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG”
Mặc dù KBTS đã được các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực, trong đó
có lĩnh vực xử lý VPHC quy định khá rõ ràng, tuy nhiên tra cứu một cách kỹ lưỡng
thì không thấy có một quy định nào giải thích thuật ngữ “KBTS” là gì Thiếu sót này
đã gây ra nhiều khó khăn trong việc giải thích và vận dụng các quy định pháp luật trong thực tiễn
Ở góc độ ngôn ngữ, theo định nghĩa của Giáo sư Nguyễn Lân trong Từ điển
từ và ngữ Việt Nam thì “kê biên” (kê: tính toán, biên: chép theo thứ tự) là việc ghi
lại mọi thứ theo thứ tự1 Theo cách giải thích này, thuật ngữ kê biên chỉ mới được xem xét ở góc độ ghi ghép, kê khai TS một cách thông thường chứ chưa nêu ra được đặc trưng, bản chất của hoạt động kê biên dưới góc độ pháp lý
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học, “kê biên” là kê ra
danh mục TS có liên quan đến hành vi tội phạm để chờ xử lý theo pháp luật2 Từ
điển giải thích thuật ngữ Luật học của Đại học Luật Hà Nội thì giải thích “kê biên”
là việc ghi lại từng TS, cấm việc tẩu tán, phá hủy để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án3 Cách giải thích trong các thuật ngữ này bên cạnh thể hiện hình thức của việc kê biên đã đề cập đến tính chất pháp lý của hoạt động này Tuy nhiên, các thuật
ngữ này chỉ đề cập thuật ngữ “kê biên” dưới góc độ pháp luật hình sự mà chưa bao
quát được các lĩnh vực pháp luật khác như thi hành án dân sự, xử lý VPHC
Về mặt thuật ngữ, từ điển Tiếng việt phổ thông định nghĩa “TS” là của cải vật
chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu4 Theo Đại từ điển tiếng Việt, “TS”
là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng5
Theo giải thích của Từ điển bách khoa toàn thư, “KBTS” là một trong những
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với TS của người vi phạm pháp luật6 So với các giải thích nêu trên, cách giải thích này có tính bao quát nhất bởi không chỉ thể hiện về mặt hình thức mà còn thể hiện tính chất pháp lý cũng như sự bao quát các lĩnh vực pháp luật của hoạt động KBTS
Nam - Tập 2, Nxb Từ điển bách khoa, tr 467
Trang 15Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa KBTS như sau: “KBTS là hoạt động mang tính cưỡng chế của Nhà nước đối với TS của cá nhân, tổ chức thông qua việc các chủ thể có thẩm quyền liệt kê các TS của họ vào danh sách bị xử
lý theo quy định của pháp luật để hạn chế các quyền hạn về TS của họ nhằm buộc
họ thực hiện các nghĩa vụ pháp lý nhất định”
Trên cơ sở khái niệm này, có thể rút ra khái niệm KBTS có giá trị tương ứng
với số tiền phạt để BĐG như sau: “KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với TS của cá nhân, tổ chức VPHC không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thông qua việc các chủ thể
có thẩm quyền liệt kê các TS của họ có giá trị tương ứng với số tiền phạt vào danh sách TS bị BĐG để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt VPHC”
1.1.2 Đặc điểm của biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
Từ khái niệm về biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG ở nội dung 1.1.1, có thể đưa ra các đặc điểm của biện pháp cưỡng chế này như sau:
Thứ nhất, KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG là một biện pháp cưỡng chế hành chính
Cưỡng chế hành chính là tổng thể các biện pháp do luật hành chính quy định, được cơ quan, người được trao quyền (chủ yếu là cơ quan hành chính, người được trao quyền của cơ quan hành chính) áp dụng theo thủ tục hành chính, có nội dung hạn chế quyền tự do và quyền TS của cá nhân, tổ chức, buộc các chủ thể đó phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn hoặc xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội7
KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG là một trong những biện pháp cưỡng chế hành chính được quy định tại Điều 86 Luật XLVPHC 2012 Biện pháp này được các chủ thể có thẩm quyền áp dụng để cưỡng chế đối với TS của cá nhân, tổ chức VPHC để buộc họ phải chấp hành quyết định xử phạt VPHC
Thứ hai, đối tượng bị kê biên là TS thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức VPHC
Các biện pháp cưỡng chế hành chính có nội dung hạn chế quyền tự do và
Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr 489
Trang 16quyền TS của cá nhân, tổ chức8 Là một trong các biện pháp cưỡng chế hành chính,
KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG là biện pháp cưỡng chế “đánh vào TS” của cá nhân, tổ chức VPHC Khi các chủ thể này không chấp hành một
cách nghiêm túc quyết định xử phạt VPHC mà cụ thể là hình thức xử phạt tiền, chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành KBTS của họ để BĐG, sau đó sử dụng số tiền từ việc BĐG để chấp hành quyết định xử phạt VPHC Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đối tượng bị kê biên phải là TS thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức VPHC chứ không thể KBTS của cá nhân, tổ chức khác để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC đối với cá nhân, tổ chức VPHC TS này có thể là TS riêng của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế hoặc là TS chung với cá nhân, tổ chức khác Về các loại TS bị kê biên sẽ được phân tích cụ thể ở nội dung 1.2 của luận văn
Thứ ba, TS bị kê biên phải có giá trị tương ứng với số tiền phạt khi BĐG
Để hạn chế tình trạng các chủ thể có thẩm quyền kê biên một cách tùy tiện các TS của chủ thể vi phạm gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp đối với
TS của họ, Nghị định số 166/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2013 quy định về các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC (Nghị định số 166/2013/NĐ-CP) quy định các chủ thể có thẩm quyền cưỡng chế chỉ được KBTS của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế tương ứng với số tiền đã ghi trong quyết định xử phạt9 Đây là quy định hợp lý thể hiện sự tương xứng giữa tính chất của biện pháp cưỡng chế với nghĩa vụ mà chủ thể vi phạm phải thực hiện bởi lẽ mục đích của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là để bảo đảm quyết định xử phạt VPHC được thi hành chứ không phải gây ra các thiệt hại cho cá nhân, tổ chức VPHC Tuy nhiên, việc xác định TS nào có giá trị tương ứng với số tiền phạt là điều không hề đơn giản, thậm chí gây ra không ít khó khăn cho quá trình tổ chức áp dụng biện pháp cưỡng chế này, những bất cập về nội dung này sẽ được tác giả phân tích cụ thể trong nội dung của Chương 2
Thứ tư, KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG là một hoạt động
áp dụng pháp luật được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền
KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG là một hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, khi áp dụng các biện pháp này, chủ thể có thẩm quyền nhân danh quyền lực của Nhà nước để ban hành các quyết định đơn phương buộc chủ thể
vi phạm phải chấp hành Với bản chất là hoạt động thực thi quyền lực của Nhà nước
Trang 17nên việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này phải do các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện Theo đó, thẩm quyền áp dụng biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG được quy định tại Điều 87 Luật XLVPHC
2012 Khoản 2 Điều 87 cũng quy định rõ người có thẩm quyền cưỡng chế KBTS có thể giao quyền cho cấp phó nhưng việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác
Thứ năm, biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG được áp dụng để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt VPHC
Quyết định xử phạt VPHC được thi hành một cách bình thường khi các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật XLVPHC 2012 và các quy định của pháp luật có liên quan Thực tiễn từ trước tới nay cho thấy, nhiều trường hợp quyết định xử phạt của người có thẩm quyền xử phạt VPHC đã có hiệu lực pháp luật nhưng không được thi hành hoặc nếu có được thi hành thì việc thi hành đó cũng không triệt để, thậm chí để bảo đảm cho việc thi hành quyết định xử phạt, nhiều trường hợp đã bị hoặc phải tạm giữ tang vật, phương tiện có giá trị tương đối lớn nhưng cá nhân, tổ chức bị xử phạt có địa chỉ rõ ràng được cơ quan có thẩm quyền thông báo nhiều lần đề nghị thi hành quyết định
xử phạt song họ cũng không thi hành quyết định xử phạt Tình hình đó dẫn đến làm giảm hiệu quả, hiệu lực của việc xử phạt VPHC của Nhà nước, tạo tâm lý coi thường pháp luật10 Do đó, biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG được áp dụng như là một giải pháp để đảm bảo thi hành một cách hiệu quả các quyết định xử phạt VPHC trên thực tế
Thứ sáu, biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG được
áp dụng theo thủ tục hành chính
Biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG được áp dụng theo thủ tục hành chính bởi các lý do sau: (i) các quy định về biện pháp biện pháp KBTS được quy định một cách rõ ràng, chặt chẽ trong các quy phạm pháp luật hành chính như Luật XLVPHC 2012, Nghị định hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC; (ii) chủ thể áp dụng nhân danh quyền lực nhà nước để thực
pháp luật, số 7 (184), tr 11
Trang 18hiện chức năng chấp hành - điều hành nhà nước, đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước diễn ra hiệu quả Đây là đặc điểm rất quan trọng để phân biệt biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG với các biện pháp được áp dụng theo các thủ tục pháp lý khác như thủ tục tố tụng, thủ tục trọng tài…
1.1.3 Mục đích áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với
số tiền phạt để bán đấu giá
Xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về xử phạt VPHC11 Để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt VPHC trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt VPHC của chủ thể có thẩm quyền, khoản 2 Điều 86 Luật XLVPHC 2012 quy định các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt VPHC bao gồm:
- Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;
- KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG;
- Thu tiền, TS khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi
vi phạm cố tình tẩu tán TS;
- Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả
Với tư cách là một biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC, việc áp dụng biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG có những mục đích quan trọng như sau:
Một là, áp dụng biện pháp KBTS đảm bảo cho các quyết định xử phạt VPHC
được thi hành một cách hiệu quả trên thực tế, hạn chế tình trạng thất thu ngân sách nhà nước Trong số các khoản thu ngân sách nhà nước hàng năm thì khoản thu từ
xử phạt VPHC chiếm một phần không nhỏ12 Theo Báo cáo số 172/BC-BTP ngày 11/7/2016 của Bộ Tư pháp về công tác thi hành pháp luật về xử lý VPHC 06 tháng đầu năm 2016, tổng số tiền thu được từ xử phạt VPHC nộp vào ngân sách nhà nước
là 2.773.161.221.342 đồng Tổng số tiền thu được từ bán, thanh lý tang vật, phương tiện bị tịch thu là 170.146.433.685 đồng Do đó, áp dụng biện pháp KBTS để bảo
một số điều của Luật Ngân sách nhà nước quy định: “Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật” cũng là một khoản thu ngân sách nhà nước
Trang 19đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC là cơ sở để duy trì nguồn thu ngân sách nhà nước
Hai là, áp dụng biện pháp KBTS để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
VPHC là biểu hiện sự thượng tôn của pháp luật, đặc biệt trong quá trình Nhà nước
ta đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Khi quyết định xử phạt VPHC được thi hành trong thực tiễn sẽ đảm bảo công bằng trong việc áp dụng các chế tài hành chính, đồng thời ngăn ngừa mọi cá nhân, tổ chức có những hành vi vi phạm tiếp theo Việc bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC cũng là phương tiện đảm bảo cho việc thực hiện quyền lực nhà nước, hướng đến bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Ba là, áp dụng biện pháp KBTS để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
VPHC là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong việc thực hiện thẩm quyền do pháp luật quy định, góp phần tăng cường ý thức tuân thủ pháp luật của người dân
1.2 Quy định pháp luật về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
1.2.1 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
Biện pháp với tên “KBTS để BĐG” được áp dụng để cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt VPHC lần đầu tiên được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh XPVPHC 1989 Tuy nhiên, Pháp lệnh này lại không quy định cụ thể đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS mà chỉ quy định một cách chung chung về các đối tượng bị áp dụng tất cả biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC
là cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC mà không tự nguyện thi hành quyết định xử phạt trong thời hạn được quy định13 Mặc dù khoản 3 Điều 32 Pháp lệnh này quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính do Hội đồng bộ trưởng quy định nhưng qua tra cứu tác giả nhận thấy không có bất cứ quy định nào do Hội đồng bộ trưởng ban hành để hướng dẫn cụ thể đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS cũng như thủ tục áp dụng biện pháp này
Ngày 06/7/1995, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh XLVPHC thay thế cho Pháp lệnh XPVPHC 1989 Pháp lệnh XLVPHC 1995 tiếp tục ghi nhận
Trang 20biện pháp với tên “Kê biên phần TS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG”
để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC tại điểm b khoản 1 Điều 55 Thế nhưng, tương tự như Pháp lệnh XPVPHC 1989, Pháp lệnh XLVPHC 1995 cũng không quy định cụ thể đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS mà chỉ quy định chung chung cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC mà không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế14 Khoản 5 Điều 55 Pháp lệnh này cũng trao cho Chính phủ quyền quy định chi tiết thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhưng vấn đề này đã không được Chính phủ giải quyết trong giai đoạn này
Pháp lệnh XLVPHC 2002 ra đời thay thế cho Pháp lệnh XLVPHC 1995 tiếp
tục ghi nhận biện pháp “KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG” nhằm
đảm bảo thi hành quyết định xử phạt VPHC tại điểm b khoản 1 Điều 66 Tuy nhiên,
sự khác biệt của giai đoạn này so với trước đây là bên cạnh quy định chung về đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như các Pháp lệnh trước đây, Chính phủ
đã thực hiện quyền chi tiết hóa các quy định của Pháp lệnh bằng việc ban hành Nghị định số 37/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/3/2005 quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC (Nghị định số 37/2005/NĐ-CP) Bên cạnh các quy định chung, Nghị định số 37/2005/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG tại mục C Chương 2 từ Điều 19 đến Điều 29 Đây là những quy định rất cần thiết để tạo điều kiện cho việc tổ chức áp dụng biện pháp cưỡng chế này trong thực tế
Luật XLVPHC 2012 là đạo luật đầu tiên về xử lý VPHC thay thế cho các Pháp lệnh trước đây Trên tinh thần tiếp thu, Luật tiếp tục ghi nhận biện pháp cưỡng chế KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG tại điểm b khoản 2 Điều 86 Nhằm cụ thể hóa quy định về biện pháp KBTS, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 166/2013/NĐ-CP Trên tinh thần tiếp thu và kế thừa các quy định của Nghị định
số 37/2005/NĐ-CP, Nghị định số 166/2013/NĐ-CP tiếp tục quy định một cách khá chi tiết các quy định hướng dẫn thủ tục áp dụng biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG tại Mục 3 Chương 2 từ Điều 18 đến Điều 27
Như vậy, có thể thấy rằng, biện pháp cưỡng chế KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG đã được pháp luật quy định khá rõ ràng và ngày càng hoàn
Trang 21thiện qua các thời kỳ, biện pháp cưỡng chế này cùng với các biện pháp cưỡng chế khác được quy định để bảo đảm sự thượng tôn của pháp luật qua việc bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC
1.2.2 Đối tượng bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
Nhìn chung các Pháp lệnh về xử lý VPHC trước đây và cả Luật XLVPHC
2012 hiện hành cũng không quy định rõ các đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG mà chỉ quy định đối tượng
bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt nói chung là các cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt Do
đó, để xác định được các đối tượng cụ thể bị áp dụng biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG cần phải dẫn chiếu đến các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC
Nghị định số 37/2005/NĐ-CP đã quy định cụ thể các đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS như sau15:
(i) Cá nhân là lao động tự do không có cơ quan, tổ chức quản lý lương, quản
lý thu nhập cố định
(ii) Cá nhân, tổ chức không có tài khoản hoặc số tiền gửi từ tài khoản tại ngân hàng không đủ để áp dụng biện pháp khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng
(iii) Cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện để áp dụng biện pháp khấu trừ hoặc
cố tình không thực hiện quyết định cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ, không thanh toán chi phí cưỡng chế
Trong khi đó, Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định các đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS bao gồm16:
(i) Cá nhân không được hưởng tiền lương, thu nhập hoặc bảo hiểm xã hội tại một cơ quan, đơn vị, tổ chức và không có tài khoản hoặc số tiền gửi từ tài khoản tại
tổ chức tín dụng không đủ để áp dụng biện pháp khấu trừ tiền từ tài khoản
(ii) Tổ chức không có tài khoản hoặc số tiền gửi từ tài khoản tại tổ chức tín dụng không đủ để áp dụng biện pháp khấu trừ tiền từ tài khoản
Như vậy, so với Nghị định số 37/2005/NĐ-CP thì Nghị định số
Trang 22166/2013/NĐ-CP cũng quy định tương tự các đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS; tuy nhiên, về mặt kỹ thuật thì Nghị định số 37/2005/NĐ-CP quy định theo hoàn cảnh còn Nghị định số 166/2013/NĐ-CP lại quy định theo hướng phân chia thành hai nhóm chủ thể là cá nhân và tổ chức, kèm theo các điều kiện cụ thể
Sự thay đổi cách quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS có thể được
lý giải như sau: khoản 3 Điều 3 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP có quy định người
có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo thứ tự quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật XLVPHC 2012 Chỉ áp dụng các biện pháp tiếp theo khi không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó hoặc đã áp dụng nhưng chưa thu đủ số tiền bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế Đây là một trong các nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế lần đầu tiên được quy định trong Nghị định số 166/2013/NĐ-CP Do đó, việc Nghị định số 166/2013/NĐ-
CP quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp KBTS thành 2 nhóm chủ thể là cá nhân
và tổ chức kèm theo các điều kiện để được áp dụng biện pháp cưỡng chế này theo từng đối tượng là hoàn toàn phù hợp với nội dung của nguyên tắc nói trên và mang tính bao quát hơn so với cách quy định của Nghị định số 37/2005/NĐ-CP
1.2.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học, “nguyên tắc”
được hiểu là những điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt các việc làm17 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS là những quan điểm pháp lý có tính chỉ đạo, làm nền tảng cho việc áp dụng biện pháp KBTS Nghiên cứu Luật XLVPHC 2012 và Nghị định số 166/2013/NĐ-CP có thể thấy việc áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, việc cưỡng chế KBTS chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng
chế KBTS bằng văn bản của người có thẩm quyền18
Như đã trình bày ở nội dung 1.1.2, KBTS có đặc điểm là một hoạt động cưỡng chế hành chính đối với TS của cá nhân, tổ chức VPHC để buộc họ phải chấp hành quyết định xử phạt VPHC Đây là hoạt động thực thi quyền lực của Nhà nước, chỉ được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Với đặc thù là biện pháp pháp lý bất lợi mang tính áp đặt, việc áp dụng biện pháp KBTS
Trang 23có khả năng gây ra thiệt hại nhất định cho các đối tượng bị áp dụng Vì lẽ đó, việc
áp dụng biện pháp cưỡng chế này cần phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về mặt nội dung cũng như thủ tục theo quy định của pháp luật Do đó, để hạn chế những sai sót trong quá trình áp dụng, bảo đảm tính hợp pháp của việc cưỡng chế, pháp luật quy định biện pháp KBTS chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế KBTS bằng văn bản của người có thẩm quyền
Thứ hai, việc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS phải căn cứ
vào nội dung, tính chất, mức độ, điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế và tình hình thực tế ở địa phương19
Mục đích chính của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS là bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC trên thực tế Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này, chủ thể có thẩm quyền phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế và tình hình thực tế ở địa phương nơi xảy
ra việc cưỡng chế để đảm bảo việc cưỡng chế được thực hiện một cách khách quan, hợp pháp, hợp lý và đạt được mục đích là bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC
Dựa trên việc đánh giá một cách toàn diện nội dung, tính chất, mức độ, điều kiện thi hành cưỡng chế KBTS và tình hình thực tế ở địa phương sẽ giúp chủ thể có thẩm quyền nhận định được một cách đa chiều về vụ việc bị cưỡng chế để có thể áp dụng biện pháp KBTS một cách phù hợp,
Thứ ba, biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG chỉ
được áp dụng khi không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế này nhưng chưa thu đủ số tiền bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế
Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo thứ tự quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật XLVPHC 2012, chỉ áp dụng các biện pháp tiếp theo khi không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó hoặc đã áp dụng nhưng chưa thu đủ số tiền bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế
Dựa vào quy định này có thể thấy cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC không
tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo
Trang 24thứ tự: 1 Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập; 2 Khấu trừ tiền từ tài khoản; 3 KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG; 4 Thu tiền, TS khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán TS; 5 Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả
Như vậy, có thể thấy rằng, biện pháp cưỡng chế KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG chỉ được áp dụng sau khi chủ thể có thẩm quyền không thể
áp dụng các biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế này nhưng chưa thu đủ số tiền bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế
Thứ tư, chỉ được KBTS của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế tương ứng với số
tiền đã ghi trong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡng chế20
KBTS là một biện pháp cưỡng chế hành chính đánh vào TS của cá nhân, tổ chức VPHC để buộc họ phải chấp hành quyết định xử phạt VPHC Do vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này có khả năng gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu TS của các chủ thể này Do đó, để thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS, đồng thời hạn chế tình trạng chủ thể có thẩm quyền lạm dụng quyền hạn tiến hành KBTS một cách tràn lan, tùy tiện gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế, pháp luật quy định khi tiến hành KBTS chỉ cho phép KBTS của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế tương ứng với số tiền đã ghi trong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và chi phí cho việc tổ chức thi hành cưỡng chế Tuy nhiên, như đã nói ở phần đặc điểm thứ ba của biện pháp KBTS trong mục 1.1.2, việc xác định TS nào
có giá trị tương ứng với số tiền phạt để kê biên BĐG là điều không hề đơn giản, tác
giả sẽ trình bày cụ thể trong nội dung của mục 2.1
Thứ năm, chỉ kê biên những TS thuộc sở hữu chung của cá nhân bị cưỡng
chế với người khác nếu cá nhân bị cưỡng chế không có TS riêng hoặc TS riêng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế
Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC nói chung và biện pháp KBTS nói riêng được áp dụng để đánh vào các quyền lợi của cá nhân, tổ
Trang 25chức VPHC để buộc họ phải chấp hành một cách nghiêm túc quyết định xử phạt VPHC Chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi trong trường hợp này chính là các cá nhân, tổ chức VPHC nhưng không tự nguyện chấp hành quyết định
xử phạt VPHC của chủ thể có thẩm quyền
Với tinh thần đó, để hạn chế việc cưỡng chế gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác, Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định khi KBTS thì cho phép cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có quyền đề nghị KBTS nào trước, người được giao chủ trì kê biên phải chấp nhận nếu xét thấy đề nghị đó không ảnh hưởng đến việc cưỡng chế Nếu cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không đề nghị cụ thể việc KBTS nào trước thì TS thuộc sở hữu riêng được kê biên trước Chỉ
kê biên những TS thuộc sở hữu chung của cá nhân bị cưỡng chế với người khác nếu
cá nhân bị cưỡng chế không có TS riêng hoặc TS riêng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế Trường hợp TS có tranh chấp thì vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho những người cùng sở hữu TS kê biên về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự21
Nguyên tắc này vừa mang tính nhân văn vừa thể hiện sự thượng tôn pháp luật trong điều kiện nước ta đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
Sự nhân văn thể hiện ở chỗ việc cưỡng chế KBTS phải hạn chế tới mức tối đa việc gây ra thiệt hại cho chính cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế và các cá nhân, tổ chức khác Trong khi đó, sự thượng tôn pháp luật thể hiện ở chỗ trong trường hợp việc cưỡng chế có khả năng gây thiệt hại tới quyền và lợi ích của các chủ thể thì phải ưu tiên thi hành quyết định cưỡng chế KBTS bằng việc kê biên cả TS chung của người
bị cưỡng chế với người khác Nếu có tranh chấp thì vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho những người cùng sở hữu TS kê biên về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự để bảo đảm quyền lợi cho họ
1.2.4 Các loại tài sản bị kê biên
Nghiên cứu các quy định của Luật XLVPHC 2012 cũng như Nghị định số 166/2013/NĐ-CP thì không có quy định rõ ràng về nội hàm của các loại TS bị kê biên Do đó, để xác định rõ TS nào của cá nhân, tổ chức VPHC bị kê biên chúng ta phải dẫn chiếu tới các quy định của Bộ luật Dân sự để làm rõ nội hàm của thuật ngữ
TS
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005), TS bao gồm vật,
Trang 26tiền, giấy tờ có giá và các quyền TS22
Trong đó, vật là một bộ phận của thế giới vật chất được giới hạn trong không
gian và có khả năng đáp ứng được những nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của con người và con người ta có khả năng chiếm hữu được.23
Theo kinh tế chính trị học, tiền là vật ngang giá chung được sử dụng làm
thước đo giá trị của các loại TS khác Tiền có chức năng thanh toán, quy đổi, dự trữ
và ổn định thị trường Tiền được coi là TS bởi nó được dùng làm phương tiện thanh toán và tiền chỉ có thể là TS khi nó đang có giá trị lưu hành
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao
được trong giao lưu dân sự Loại TS này tồn tại dưới nhiều dạng như: cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu
Quyền TS là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao
dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ24
Kế thừa các quy định của BLDS 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) cũng định nghĩa TS là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền TS Tuy nhiên, BLDS
2015 làm rõ hơn nội hàm của thuật ngữ TS theo đó TS bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là TS hiện có và TS hình thành trong tương lai25 BLDS 2015 cũng giải thích rõ ràng TS hiện có là TS đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với TS trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch TS hình thành trong tương lai bao gồm: (i) TS chưa hình thành hoặc (ii) TS đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu TS sau thời điểm xác lập giao dịch26
Như vậy, dựa vào quy định của BLDS, có thể kết luận TS bị kê biên để BĐG khi cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC của cá nhân, tổ chức VPHC là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền TS thuộc sở hữu của họ
Mặc dù không đưa ra quy định các loại TS bị kê biên nhưng Nghị định số 166/2013/NĐ-CP có sự xác định đối với TS bị kê biên trong trường hợp tổ chức bị
áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS như sau27:
Đối với tổ chức là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ
Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.12
Trang 27chức chính trị - xã hội bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền, KBTS và trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế thì thực hiện khấu trừ từ nguồn kinh phí của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó Có thể thấy đây là các tổ chức được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước, do vậy khi các tổ chức này không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế khấu trừ nguồn kinh phí được cấp từ tài khoản của tổ chức, đối với các tổ chức không đủ điều kiện áp dụng biện pháp khấu trừ tiền từ tài khoản thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp KBTS đối với nguồn kinh phí của tổ chức đó
Đối với đơn vị sự nghiệp nhà nước có thu, đơn vị vũ trang được tổ chức các hoạt động có thu theo quy định của pháp luật, khi bị khấu trừ, KBTS và trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế thì lấy từ nguồn thu và TS do các hoạt động này mang lại Như vậy đối với các tổ chức này, khi bị áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS, các chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành kê biên các khoản thu không phải là tiền gửi tại các tổ chức tín dụng và các TS mà các tổ chức này có được từ các hoạt động có thu mang lại
Đối với tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện thì khấu trừ tiền, KBTS, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, TS của tổ chức, quỹ đó Đối với các tổ chức này, khi bị áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS, các chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành kê biên các khoản tiền mà tổ chức không gửi tại các tổ chức tín dụng và các TS khác của tổ chức, quỹ đó
Đối với doanh nghiệp và hợp tác xã thì khấu trừ tiền, KBTS, trả chi phí cho hoạt động cưỡng chế từ tiền, TS hoặc thu nhập bằng tiền, TS của doanh nghiệp, hợp tác xã đó Đối với các tổ chức này thì TS bị kê biên rất rõ ràng, trong trường hợp không áp dụng được biện pháp khấu trừ tiền từ tài khoản, chủ thể có thẩm quyền có thể kê biên tiền, TS hoặc thu nhập bằng tiền, TS của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC
1.2.5 Những tài sản không được kê biên
Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xử phạt VPHC, pháp luật quy định khi thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC bằng biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG, cơ quan có thẩm quyền không được kê biên một số loại TS
Nghị định số 37/2005/NĐ-CP là văn bản đầu tiên do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử
Trang 28phạt VPHC Theo Điều 21 Nghị định này, các loại TS sau đây sẽ không bị kê biên
để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt:
(i) Thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu cho
cá nhân bị cưỡng chế và gia đình họ sử dụng
(ii) Công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt thông thường cần thiết cho cá nhân
bị cưỡng chế và gia đình họ sử dụng
(iii) Đồ dùng thờ cúng thông thường; di vật, huân chương, huy chương, bằng khen
(iv) TS phục vụ quốc phòng và an ninh
Việc quy định các loại TS không được kê biên nói trên là hợp lý bởi các loại
TS này được sử dụng để phục vụ cho những nhu cầu không thể thiếu của cá nhân, gia đình người bị cưỡng chế nhằm đảm bảo sức khỏe, đời sống vật chất và nhu cầu tín ngưỡng của họ Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo và tôn trọng các giá trị văn hóa tốt đẹp của pháp luật khi áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS để thi hành quyết định xử phạt VPHC Đối với các TS phục vụ cho quốc phòng và an ninh cũng không được kê biên bởi các loại TS này được sử dụng để bảo vệ độc lập, chủ quyền,
an ninh trật tự của quốc gia
Điều 19 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP cũng tiếp tục kế thừa các quy định
về các loại TS không được kê biên trong Nghị định số 37/2005/NĐ-CP và bổ sung thêm một số loại TS khác là: (i) Nhà ở duy nhất của cá nhân và gia đình người bị cưỡng chế có diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về cư trú và (ii) TS đang được cầm cố, thế chấp hợp pháp Sự bổ sung các loại TS không được kê biên nêu trên là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu về nhà ở cũng như quyền có nơi cư trú của cá nhân, gia đình người bị cưỡng chế Đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích của bên thứ ba ngay tình trong trường hợp nhận cầm cố, thế chấp hợp pháp các TS của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế
Như đã phân tích, mục đích pháp luật quy định các loại TS không được kê biên nói trên là vừa thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, vừa đảm bảo những quyền lợi tối thiểu của cá nhân, gia đình người bị cưỡng chế cũng như an ninh, quốc phòng của đất nước Tuy nhiên, các quy định pháp luật về các loại TS không được kê biên còn thiếu rõ ràng và tồn tại nhiều bất cập Vấn đề này sẽ được tác giả phân tích một cách kỹ lưỡng trong nội dung của chương 2 các bất cập của pháp luật về biện pháp cưỡng chế KBTS
Trang 291.2.6 Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
KBTS là một hoạt động áp dụng pháp luật cụ thể, vì vậy việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này phải được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Theo đó, khoản 1 Điều 87 Luật XLVPHC 2012 quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG thuộc thẩm quyền của các chủ thể sau đây:
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp;
- Trưởng đồn Công an; Trưởng Công an cấp huyện; Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy; Giám đốc Công an cấp tỉnh; Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ; Cục trưởng Cục An ninh kinh tế; Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng; Cục trưởng Cục An ninh thông tin; Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội; Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ; Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý; Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt; Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy; Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn; Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh; Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp; Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;
- Trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Cửa khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh; Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng; Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển; Cục trưởng Cục Cảnh sát biển;
- Chi cục trưởng Chi cục Hải quan; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan; Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan;
- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; Cục trưởng Cục Kiểm lâm;
- Chi cục trưởng Chi cục Thuế; Cục trưởng Cục Thuế; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế;
- Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường; Cục trưởng Cục Quản lý thị trường;
- Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước; người đứng đầu cơ quan đại
Trang 30diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài;
- Các chức danh quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 46 của Luật này;
- Giám đốc Cảng vụ hàng hải; Giám đốc Cảng vụ đường thuỷ nội địa; Giám đốc Cảng vụ hàng không;
- Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án Tòa án quân sự khu vực; Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Chánh toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao; Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự; Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự; Trưởng phòng Phòng Thi hành án cấp quân khu; Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự
Có thể thấy rằng, khoản 1 Điều 87 Luật XLVPHC 2012 đã sử dụng phương pháp liệt kê để xác định rõ những người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế KBTS để thi hành quyết định xử phạt VPHC So với Pháp lệnh XLVPHC 2002 và Nghị định số 37/2005/NĐ-CP28, Luật XLVPHC 2012 đã bổ sung thêm thẩm quyền
ra quyết định cưỡng chế KBTS cho các chủ thể sau đây: Trưởng đồn Công an; Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy; Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ; Cục trưởng Cục An ninh kinh tế; Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng; Cục trưởng Cục An ninh thông tin; Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp; Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Cửa khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng; Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Hải quan; Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế; Cục trưởng Cục Quản
lý lao động ngoài nước; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh
sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; một số chức danh quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 46 của Luật XLVPHC; Giám đốc Cảng vụ hàng hải; Giám đốc Cảng vụ đường thuỷ nội địa; Giám đốc Cảng vụ hàng không; Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án Tòa án quân sự khu vực; Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Chánh toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao; Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự; Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự;
Trang 31Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự Việc bổ sung thêm các chức danh có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế KBTS là cần thiết để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn quản lý Bên cạnh đó, Luật XLVPHC 2012 cũng bãi bỏ thẩm quyền ra quyết định KBTS của một số chức danh so với trước đây như: Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà; Trưởng phòng thi hành án dân sự cấp tỉnh; Chánh Thanh tra chuyên ngành cơ quan thuộc Chính phủ
Qua sự phân tích trên có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật về thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế KBTS như sau:
Thứ nhất, những chức danh có thẩm quyền KBTS bắt buộc phải là những
chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC Tuy nhiên, không phải mọi chức danh có thẩm quyền xử phạt đều có thẩm quyền KBTS để thi hành quyết định xử phạt Chẳng hạn các chiến sĩ công an đang thi hành nhiệm vụ, kiểm soát viên quản lý thị trường, công chức hải quan đang thi hành công vụ, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, đội trưởng, trạm trưởng… đều có quyền xử phạt mà không có quyền KBTS
Thứ hai, mỗi một cơ quan sẽ chỉ có vài chức danh quản lý có thẩm quyền
KBTS và không phụ thuộc vào chức danh đó là ở cấp bậc nào, ví dụ như: Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan; Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu; Đội trưởng Đội thủ tục Hải quan; Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển và Đội trưởng Đội kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền xử phạt tương đương Chi cục trưởng Chi cục hải quan nhưng lại không có quyền KBTS như Chi cục trưởng Chi cục Hải quan
Dựa vào các đặc điểm nêu trên có thể thấy rằng thẩm quyền cưỡng chế KBTS có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị cưỡng chế Do đó, đòi hỏi người ra quyết định phải có “tầm” và “danh phận” nhất định để bảo đảm mỗi quyết định cưỡng chế được ban hành có được tính hợp pháp, hợp lý cao, hạn chế khiếu nại, khởi kiện Một lý do khác mà các chức danh có thẩm quyền cưỡng chế KBTS là những chức danh được “chọn lọc” cao vì tính trách nhiệm của mỗi quyết định cưỡng chế buộc người có thẩm quyền cưỡng chế phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định, đặc biệt đó là những trường hợp ra quyết định cưỡng chế nhằm thi hành quyết định xử phạt của những chức danh khác chứ không phải để thi hành quyết định xử phạt của mình Đồng thời, trong quá trình áp dụng các biện
Trang 32pháp cưỡng chế, đặc biệt là biện pháp KBTS có giá trị tương ứng với số tiền phạt để BĐG thường cần đến sự hỗ trợ của lực lượng Cảnh sát nhân dân hoặc cá nhân, cơ quan, tổ khác khác, do vậy để có thể kêu gọi sự hỗ trợ của các chủ thể này đòi hỏi người có thẩm quyền cưỡng chế phải có những địa vị pháp lý nhất định
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Luật XLVPHC 2012, những người có thẩm quyền cưỡng chế KBTS nêu trên có thể giao quyền cho cấp phó Việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác
Vấn đề đặt ra đối với quy định trên là Luật XLVPHC 2012 quy định giao quyền bằng “văn bản” nhưng không đề cập đến hình thức văn bản giao quyền là gì? Đồng thời cũng không giải thích rõ sự “vắng mặt” của cấp trưởng được hiểu như thế nào?
Về hình thức của văn bản giao quyền: hiện nay, mẫu Văn bản giao quyền xử
lý vi phạm hành chính trong phụ lục một số biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính ban hành kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ không quy định rõ hình thức văn bản giao quyền Do đó, có nhiều quan điểm khác
nhau về hình thức của văn bản giao quyền Có một số ý kiến nổi bật như sau29:
Vì công văn dùng để thông tin trong hoạt động giao dịch, trao đổi công tác hàng ngày trong các cơ quan như giao dịch, nhắc nhở, trả lời, đề nghị, mời họp, hướng dẫn thực hiện văn bản cấp trên, xin ý kiến, thăm hỏi, cảm ơn, phúc đáp Tuy nhiên công văn chỉ ở mức độ nhẹ nhàng, không mang tính công quyền cao
Ý kiến thứ hai cho rằng: tên loại văn bản giao quyền trong Luật XLVPHC là
“thông báo”31 Vì thông báo nhằm mục đích thông tin về hoạt động, thông tin nhanh
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ người theo thủ tục hành chính và trách nhiệm pháp lý của người được giao quyền”, đăng trên trang thông tin điện tử Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên, tại địa chỉ:
http://sotuphap.hungyen.gov.vn/portal/Pages/2016-10/HC3ACnh20thE1BBA9c-ca0caa49ba71678c.aspx, truy cập ngày 27/5/2017
hành, xử lý công việc của UBND tỉnh
của Chủ tịch UBND huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định về giao quyền xử lý VPHC cho các Phó chủ tịch UBND huyện gồm Lương Ngọc Anh, Phạm Ngọc Trình, Nguyễn Huỳnh Huyện
Trang 33cho người quản lý của mình biết thi hành và những thông tin về những tin tức khác
mà người có liên quan cần biết Như vậy, thông báo chỉ để mọi người biết người giao quyền đã giao quyền cho người được giao quyền Thông báo cũng không mang tính pháp lý cao
Ý kiến thứ ba cho rằng: văn bản giao quyền là văn bản hành chính vì văn bản
hành chính mang thông tin quy phạm nhà nước và nó cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý Chính vì lẽ đó,
mà văn bản giao quyền phải là “quyết định”32 Vì nó thể hiện quyền lực nhà nước, đảm bảo cơ sở pháp lý để nhà nước giữ vững quyền lực của mình, truyền đạt ý chí của cơ quan nhà nước tới nhân dân và các chủ thể pháp luật khác
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba là nên quy định hình thức của văn
bản giao quyền là “quyết định” vì tính pháp lý của nó cao hơn các hình thức khác,
đồng thời thể hiện được sự cân nhắc kỹ lưỡng trong ý chí của chủ thể thực hiện giao quyền đối với cấp phó trong việc thực hiện quyền lực của Nhà nước qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC
Câu hỏi tiếp theo cần trả lời là “sự vắng mặt” của cấp trưởng trong trường hợp này cần được hiểu như thế nào”?
Luật XLVPHC 2012 quy định 03 trường hợp cấp trưởng có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện một số thẩm quyền của mình đó là: giao quyền xử phạt33, giao quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt34 và giao quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính35 Tuy nhiên, về điều kiện giao quyền thì có sự khác nhau trong 03 trường hợp nêu trên Nếu việc giao quyền xử phạt có thể được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc thì việc giao quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và giao quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt
Vấn đề đặt ra là sự vắng mặt của cấp trưởng cần được hiểu như thế nào cho đúng với tinh thần của Luật XLVPHC 2012, đó là sự vắng mặt thường xuyên, lâu dài hay là sự vắng mặt tạm thời Chẳng hạn trường hợp cấp trưởng chuyển đi nhưng chưa có cấp trưởng mới thay thế thì có được xem là vắng mặt để giao quyền cho cấp phó hay không? Nếu so sánh điều kiện giao quyền cưỡng chế so với giao quyền
quyền xử phạt VPHC và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC
Trang 34xử phạt và xem xét quy định tại khoản 2 Điều 87 Luật XLVPHC 2012 có thể thấy
Luật quy định “cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của
mình trước cấp trưởng và trước pháp luật” Theo quy định này có thể thấy sự vắng
mặt của cấp trưởng trong quy định này chỉ là sự vắng mặt tạm thời vì những lý do nhất định như sức khỏe, yêu cầu công tác chứ không phải là sự vắng mặt thường xuyên bởi cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện thẩm quyền được giao
Việc quy định cấp trưởng chỉ được giao quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt khi cấp trưởng vắng mặt là quy định hợp lý vì tính chất nghiêm trọng của quyết định cưỡng chế so với quyết định xử phạt Một khi chủ thể có thẩm quyền cưỡng chế đã được “chọn lọc” thì việc giao quyền lại càng phải hạn chế Nói cách khác, chỉ nên đặt ra vấn đề giao quyền trong hoàn cảnh không thể không giao quyền mới bảo toàn được ý nghĩa của việc chỉ trao quyền cưỡng chế cho một số chức danh quan trọng Và do chỉ được giao quyền khi cấp trưởng vắng mặt nên đây
là giao quyền theo vụ việc chứ không phải giao quyền thường xuyên, lâu dài36
1.2.7 Thủ tục tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá
1.2.7.1 Gửi quyết định cưỡng chế kê biên tài sản
Theo Điều 5 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP, ngay sau khi ra quyết định cưỡng chế KBTS, người có thẩm quyền quyết định cưỡng chế phải tổ chức gửi quyết định cưỡng chế cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế, tổ chức, cá nhân có liên quan Quyết định cưỡng chế bằng biện pháp KBTS phải được gửi đến Chủ tịch UBND cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế trước khi thi hành để phối hợp thực hiện
Quyết định cưỡng chế KBTS được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết Đối với trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình không nhận thì người có thẩm quyền lập biên bản về việc không nhận quyết định có xác nhận của chính quyền địa phương và được coi là quyết định đã được giao Đối với trường hợp gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm, nếu sau thời hạn 10 ngày,
kể từ ngày quyết định cưỡng chế đã được gửi qua đường bưu điện đến lần thứ ba
mà bị trả lại do cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình không nhận; quyết định cưỡng chế đã được niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của tổ chức bị cưỡng chế
2), Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 505 - 507
Trang 35hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế trốn tránh không nhận quyết định cưỡng chế thì được coi là quyết định đã được giao
1.2.7.2 Tổ chức thi hành cưỡng chế kê biên tài sản
Theo khoản 2 Điều 88 Luật XLVPHC 2012, cá nhân, tổ chức nhận được quyết định cưỡng chế KBTS phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế Đồng thời, khoản 3 Điều 5 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định thời hạn thi hành quyết định cưỡng chế KBTS là 15 ngày, kể từ ngày nhận quyết định cưỡng chế; trường hợp quyết định cưỡng chế có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 15 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó
Để đảm bảo tính công khai, minh bạch khi tổ chức thực hiện KBTS, khoản 1
và khoản 2 Điều 22 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định việc KBTS phải thực hiện vào ban ngày, thời gian từ 08 giờ đến 17 giờ; người ra quyết định cưỡng chế hoặc người được phân công thực hiện quyết định cưỡng chế chủ trì thực hiện việc
kê biên Đồng thời, để đảm bảo tính chuyên môn hóa trong quản lý nhà nước, Điều
6 Nghị định này cũng nêu rõ đối với quyết định KBTS của Chủ tịch UBND các cấp thì Chủ tịch UBND ra quyết định cưỡng chế căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND để phân công cơ quan chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế Việc phân công cơ quan chủ trì phải trên nguyên tắc vụ việc thuộc lĩnh vực chuyên môn của cơ quan nào thì giao cơ quan đó chủ trì; trường hợp vụ việc liên quan đến nhiều cơ quan thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để quyết định giao cho một cơ quan chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế Các
tổ chức, cá nhân liên quan có nghĩa vụ phối hợp với người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế hoặc cơ quan được giao chủ trì tổ chức cưỡng chế triển khai các biện pháp nhằm thực hiện quyết định cưỡng chế
Bên cạnh đó, để đảm bảo trật tự và an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế KBTS, Điều 7 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn khi thi hành quyết định KBTS của Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc của các cơ quan nhà nước khác khi được yêu cầu Trường hợp có yêu cầu lực lượng Cảnh sát nhân dân tham gia bảo đảm trật
tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế thì cơ quan chủ trì thi hành quyết định cưỡng chế phải gửi văn bản yêu cầu đến cơ quan Công an cùng cấp
05 ngày làm việc trước khi thực hiện cưỡng chế để bố trí lực lượng Khi tham gia cưỡng chế, lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm ngăn chặn các hành vi gây
Trang 36rối, chống người thi hành công vụ, bảo đảm trật tự, an toàn
Khi tiến hành KBTS, khoản 3 Điều 22 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định phải có mặt cá nhân bị cưỡng chế hoặc người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự trong gia đình, đại diện tổ chức bị KBTS, đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến Nếu cá nhân phải thi hành quyết định cưỡng chế hoặc người thành niên trong gia đình cố tình vắng mặt, thì vẫn tiến hành KBTS nhưng phải có đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến Các quy định này nhằm đảm bảo tính khách quan trong quá trình KBTS, đồng thời bảo vệ các quyền
và lợi ích chính đáng của đối tượng bị cưỡng chế
Ngoài ra, như đã trình bày ở nội dung 1.1.2, một trong các đặc điểm của biện pháp KBTS đó là TS bị kê biên phải thuộc quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức
VPHC Do đó, khi KBTS, Điều 22 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định cá
nhân, tổ chức bị cưỡng chế có quyền đề nghị KBTS nào trước, người được giao chủ trì kê biên phải chấp nhận nếu xét thấy đề nghị đó không ảnh hưởng đến việc cưỡng chế Nếu cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không đề nghị cụ thể việc KBTS nào trước thì TS thuộc sở hữu riêng được kê biên trước Chỉ kê biên những TS thuộc sở hữu chung của cá nhân bị cưỡng chế với người khác nếu cá nhân bị cưỡng chế không có
TS riêng hoặc TS riêng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế Trường hợp TS
có tranh chấp thì vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho những người cùng sở hữu
TS kê biên về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự Cơ quan tiến hành kê biên có trách nhiệm thông báo công khai thời gian, địa điểm tiến hành kê biên để các đồng sở hữu biết Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện thì TS kê biên được đem BĐG theo quy định của pháp luật về BĐG TS
Để đảm bảo tính hợp pháp của việc KBTS, Điều 23 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP còn quy định việc KBTS phải được lập biên bản, trong biên bản phải ghi rõ: Thời gian, địa điểm tiến hành KBTS; họ tên, chức vụ người chủ trì thực hiện việc kê biên; người đại diện cho tổ chức bị KBTS, cá nhân có TS bị kê biên hoặc người đại diện hợp pháp cho họ; người chứng kiến; đại diện chính quyền địa phương (hoặc cơ quan của cá nhân bị cưỡng chế); mô tả tên gọi, tình trạng, đặc điểm từng TS bị kê biên Người chủ trì thực hiện việc kê biên, người đại diện cho tổ chức bị KBTS, cá nhân có TS bị kê biên hoặc người đại diện hợp pháp cho họ, người chứng kiến, đại diện chính quyền địa phương (hoặc cơ quan của cá nhân bị cưỡng chế) ký tên vào biên bản Biên bản KBTS có nhiều tờ thì phải ký vào từng tờ biên bản Trong trường hợp có người vắng mặt hoặc có mặt mà từ chối ký biên bản
Trang 37thì việc đó phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do Biên bản kê biên được lập thành
02 bản, cơ quan ra quyết định cưỡng chế giữ 01 bản, 01 bản giao cho cá nhân hoặc đại diện tổ chức bị kê biên ngay sau khi hoàn thành việc lập biên bản
1.2.7.3 Giao bảo quản tài sản kê biên
Điều 24 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định người chủ trì thực hiện kê biên lựa chọn một trong các hình thức sau đây để bảo quản TS kê biên:
- Giao cho người bị cưỡng chế, thân nhân của người bị cưỡng chế hoặc người đang quản lý, sử dụng TS đó bảo quản;
- Giao cho một trong những đồng sở hữu chung bảo quản nếu TS đó thuộc sở hữu chung;
- Giao cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản
Đối với TS là vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ thì tạm giao cho Kho bạc Nhà nước quản lý; đối với các TS như vật liệu nổ công nghiệp, công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản quý hiếm thì tạm giao cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành để quản lý
Khi giao bảo quản TS kê biên, người chủ trì thực hiện kê biên phải lập biên bản Trong biên bản ghi rõ: Thời gian bàn giao bảo quản; họ và tên người chủ trì thực hiện quyết định cưỡng chế, cá nhân, đại diện tổ chức bị cưỡng chế, người được giao bảo quản TS, người chứng kiến việc bàn giao; số lượng, tình trạng (chất lượng) TS; quyền và nghĩa vụ của người được giao bảo quản TS Người chủ trì thực hiện
kê biên, người được giao bảo quản TS, cá nhân, đại diện tổ chức bị cưỡng chế, người chứng kiến ký tên vào biên bản Biên bản có nhiều tờ thì phải ký vào từng tờ biên bản Trong trường hợp có người vắng mặt hoặc có mặt mà từ chối ký biên bản thì việc đó phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do Biên bản được giao cho người được giao bảo quản TS, cá nhân, đại diện tổ chức bị cưỡng chế, người chứng kiến
và người chủ trì thực hiện kê biên mỗi người giữ 01 bản
Người được giao bảo quản TS được thanh toán chi phí thực tế, hợp lý để bảo quản TS, trừ người bị cưỡng chế, thân nhân của người bị cưỡng chế hoặc người đang quản lý, sử dụng TS đó bảo quản Người được giao bảo quản TS gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất hoặc hủy hoại TS thì phải chịu trách nhiệm bồi thường và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
1.2.7.4 Định giá tài sản kê biên
Điều 25 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định việc định giá TS đã kê biên được tiến hành tại nhà của cá nhân hoặc trụ sở của tổ chức bị kê biên hoặc nơi lưu
Trang 38giữ TS bị kê biên, trừ trường hợp phải thành lập Hội đồng định giá TS
TS đã kê biên được định giá theo sự thỏa thuận giữa người chủ trì thực hiện quyết định cưỡng chế với đại diện tổ chức hoặc cá nhân bị cưỡng chế và chủ sở hữu chung trong trường hợp KBTS chung Thời hạn để các bên thỏa thuận về giá không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày TS bị kê biên Trường hợp các bên không thỏa thuận được về giá thì trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày TS bị
kê biên, người đã ra quyết định cưỡng chế ra quyết định thành lập Hội đồng định giá TS Hội đồng định giá TS gồm có người đã ra quyết định cưỡng chế là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày được thành lập, Hội đồng định giá TS phải tiến hành việc định giá Việc định giá TS dựa trên giá thị trường tại thời điểm định giá Đối với TS mà Nhà nước thống nhất quản lý giá thì việc định giá dựa trên cơ sở giá TS do Nhà nước quy định
Hội đồng định giá TS làm việc theo nguyên tắc tập thể Cuộc họp định giá
TS của Hội đồng do Chủ tịch Hội đồng triệu tập và phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên của Hội đồng tham dự Trong cuộc họp định giá, mỗi thành viên của Hội đồng định giá TS phát biểu ý kiến của mình về giá trị của TS Các quyết định về giá TS phải được quá nửa số thành viên Hội đồng tán thành Trường hợp biểu quyết ngang nhau thì quyết định theo bên có biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng hoặc người được
ủy quyền điều hành cuộc họp định giá TS Cá nhân bị kê biên hoặc đại diện tổ chức
có TS bị kê biên được tham gia ý kiến vào việc định giá, nhưng quyền quyết định giá thuộc Hội đồng định giá TS
Việc định giá TS phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ thời gian, địa điểm tiến hành định giá, thành phần những người tham gia định giá, tên và trị giá
TS đã được định giá, chữ ký của các thành viên tham gia định giá và của chủ TS
1.2.7.5 Chuyển giao tài sản đã kê biên để bán đấu giá
Chuyển giao TS đã kê biên để BĐG được quy định tại Điều 26 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP Theo đó, đối với TS bị kê biên để BĐG, giá khởi điểm được xác định là giá từ kết quả định giá TS kê biên Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày TS bị kê biên, người đã ra quyết định cưỡng chế ký hợp đồng BĐG với tổ chức BĐG chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có
TS bị kê biên để BĐG; trường hợp không ký được hợp đồng BĐG với tổ chức BĐG chuyên nghiệp thì thành lập Hội đồng BĐG TS Việc BĐG TS bị kê biên được thực
Trang 39hiện theo quy định của pháp luật về BĐG TS
Sau khi đã ký hợp đồng BĐG TS, người chủ trì thực hiện kê biên tiến hành chuyển giao TS đã kê biên để BĐG Việc chuyển giao phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ: Thời gian bàn giao; người bàn giao, người nhận; chữ ký của người giao, người nhận; số lượng, tình trạng TS Hồ sơ bàn giao TS kê biên cho cơ quan
có trách nhiệm BĐG bao gồm: Quyết định cưỡng chế kê biên; các giấy tờ, tài liệu
có liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp (nếu có); văn bản định giá
TS và biên bản bàn giao TS đó
Trong trường hợp TS kê biên là hàng hóa cồng kềnh hoặc có số lượng lớn
mà cơ quan có trách nhiệm BĐG không có nơi cất giữ TS thì sau khi thực hiện xong thủ tục chuyển giao có thể ký hợp đồng bảo quản TS với nơi đang giữ TS đó Chi phí cho việc thực hiện hợp đồng bảo quản được thanh toán từ số tiền BĐG TS thu được sau khi BĐG Đồng thời, để bảo vệ quyền lợi cho các đồng sở hữu, hạn chế việc KBTS ảnh hưởng đến quyền sở hữu TS của họ, Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định khi BĐG thì ưu tiên bán cho người đồng sở hữu trước, sau đó mới tiến hành bán cho cá nhân, tổ chức khác
Trường hợp số tiền BĐG TS nhiều hơn số tiền ghi trong quyết định xử phạt
và chi phí cho việc cưỡng chế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày BĐG,
cơ quan thi hành biện pháp cưỡng chế KBTS BĐG làm thủ tục trả lại phần chênh lệch cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế
1.2.7.6 Chuyển giao quyền sở hữu tài sản
Điều 27 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định người mua TS kê biên được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu đối với TS đó Cơ quan nhà nước
có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người mua theo quy định của pháp luật Hồ sơ chuyển quyền sở hữu gồm có: Bản sao quyết định cưỡng chế bằng biện pháp KBTS để BĐG; biên bản BĐG TS; các giấy
tờ khác liên quan đến TS (nếu có)
1.2.8 Chi phí thực hiện biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với
số tiền phạt để bán đấu giá
Theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP, cá nhân, tổ chức
bị áp dụng biện pháp cưỡng chế KBTS phải chịu mọi chi phí cho các hoạt động cưỡng chế Nếu cá nhân, tổ chức không tự nguyện hoàn trả hoặc hoàn trả chưa đủ chi phí cưỡng chế thì người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có thể ra quyết định cưỡng chế bằng các biện pháp quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 86
Trang 40Luật XLVPHC 2012 để thu hồi chí phí thực hiện cưỡng chế
Chi phí cưỡng chế được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế đã phát sinh trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế phù hợp với giá cả ở từng địa phương Chi phí cưỡng chế bao gồm: Chi phí huy động người thực hiện quyết định cưỡng chế; chi phí thù lao cho các chuyên gia định giá để tổ chức đấu giá, chi phí tổ chức BĐG TS; chi phí thuê phương tiện tháo dỡ, chuyên chở đồ vật, TS; chi phí thuê giữ hoặc bảo quản TS đã kê biên; chi phí thực tế khác (nếu có)37
Chi phí cưỡng chế được tạm ứng từ ngân sách nhà nước và được hoàn trả ngay sau khi thu được tiền của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn việc quản lý, cấp phát, tạm ứng và hoàn trả chi phí cưỡng chế theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước38
Mặc dù Nghị định số 166/2013/NĐ-CP đã trao cho Bộ Tài chính trách nhiệm hướng dẫn việc quản lý, cấp phát, tạm ứng và hoàn trả chi phí cưỡng chế nhưng Bộ Tài chính lại rất chậm chạp trong việc ban hành văn bản hướng dẫn vấn đề này Thực trạng này đã gây ra nhiều khó khăn cho các chủ thể có thẩm quyền khi thực hiện trên thực tế Đơn cử, trong Báo cáo số 245/BC-UBND ngày 09/10/2015 của UBND thành phố Biên Hòa báo cáo công tác thi hành pháp luật xử lý VPHC năm
2015 có đề cập việc thu tiền của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế trên thực tế hầu như không thực hiện được, chi phí cưỡng chế này do ngân sách nhà nước ứng ra để thực hiện và hiện nay Bộ Tài chính cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về việc quản lý, cấp phát, tạm ứng và hoàn trả chi phí cưỡng chế theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước39
Sau nhiều lần kiến nghị thì đến ngày 16/01/2017 Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư số 05/2017/TT-BTC hướng dẫn việc quản lý, tạm ứng và hoàn trả chi phí cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/03/2017) Thông tư này đã có những hướng dẫn khá chi tiết về đối tượng áp dụng (Điều 2), nguyên tắc quản lý chi phí cưỡng chế (Điều 3), các chi phí cưỡng chế và mức chi (Điều 4), tạm ứng chi phí cưỡng chế (Điều 5), hoàn trả tạm ứng chi phí cưỡng chế (Điều 6), lập dự toán, chấp hành và quyết toán chi phí cưỡng chế (Điều 8) Sự ra đời của Thông tư này sẽ góp phần khắc phục những bất cập đã nêu khi thi hành quy định của pháp luật liên quan đến chi phí cưỡng chế trong thực tế
cáo công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 2015