Để giảm thiểu được gánh nặng thuế, gia tăng lợi nhuận kinh doanh mà vẫn đảm bảo được nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội, nhà quản trị doanh nghiệp cần phải đặ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN QUẢN TRỊ LUẬT
QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM THỊ MỸ HẠNH
KHÓA: 34 MSSV: 0955060032
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS PHAN THỊ THÀNH DƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 7 NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan Luận văn “Quản trị doanh nghiệp trong việc tuân thủ
nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp” là kết quả của quá trình nghiên cứu
nghiêm túc và nổ lực của chính bản thân tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Thị Thành Dương
Bài viết được xây dựng dựa trên sự tham khảo và phân tích các tài liệu chính thống phù hợp với các quy định của pháp luật cũng như quy định của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả luận văn
Phạm Thị Mỹ Hạnh
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Thuế Thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN
2 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số
14/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 được sửa
đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi bổ sung một số điều
của Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số
32/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013
Luật Thuế TNDN
2008
3 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng
11 năm 2006 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số
21/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012
Luật Quản lý thuế 2006
4 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12
năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp
Nghị định 218/2013/NĐ-CP
Trang 5MỤC LỤC Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP 5
1.1 Khái quát về quản trị doanh nghiệp trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp 5
1.1.2 Đặc điểm của Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp 6
1.1.3 Vai trò của quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp 9
1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp 9
1.1.3.2 Đối với nhà nước 11
1.1.3.3 Đối với xã hội 11
1.2 Nội dung quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp 12
1.2.1 Chủ thể tham gia quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp 12
1.2.2 Quản trị theo nội dung các quy định của pháp luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 15
1.2.2.1 Thu nhập tính thuế 15
1.2.2.2 Thuế suất 19
1.2.2.3 Các quy định về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp 20
1.2.3 Mục đích doanh nghiệp đạt được khi quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp 21
1.3 Các vấn đề ảnh hưởng đến quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp 22
1.3.1 Ảnh hưởng của môi trường vĩ mô 22
1.3.2 Các vấn đề rủi ro pháp lý 23
Trang 61.3.3 Các vấn đề về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp 25
* Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2 QUẢN TRỊ TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP 28
2.1 Quản trị các đại lượng biến đổi trong cấu thành thuế Thu nhập doanh nghiệp 28
2.1.1 Thu nhập tính thuế 28
2.1.1.1 Doanh thu 29
2.1.1.2 Chi phí 30
2.1.2 Thuế suất 38
2.2 Quản trị các khoản ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp 40
2.3 Quản trị theo không gian và thời gian 45
2.3.1 Quản trị theo không gian 45
2.3.2 Quản trị theo thời gian 49
2.3.2.1 Kỳ tính thuế 49
2.3.2.2 Chuyển lỗ 50
* Tiểu kết chương 2 52
KẾT LUẬN 53
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để một doanh nghiệp hoạt động tốt, ngoài những điều kiện cơ sở vật chất cần thiết, nguồn nhân lực chất lượng, các giải pháp quản trị và các chiến lược hiệu quả còn cần phải đảm bảo được sự an toàn trong hoạt động, đặc biệt là sự an toàn pháp
lý và khả năng thích ứng nhanh trước những thay đổi của môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp bên ngoài Vì thế, để đảm bảo cho quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp, đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp cần phải có sự quan tâm và đầu tư nhất định trong việc quản trị những thay đổi của môi trường khách quan bên ngoài cũng như quản trị việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đối với nhà nước, xã hội
Một trong những nghĩa vụ quan trọng của doanh nghiệp khi tham gia thị trường
là nghĩa vụ nộp thuế TNDN Nghĩa vụ này vừa là “chi phí” để doanh nghiệp được hưởng lợi từ các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như những chính sách khuyến khích phát triển kinh doanh, chính sách phúc lợi của nhà nước nhưng cũng vừa là gánh nặng tài chính đối với mỗi doanh nghiệp Để giảm thiểu được gánh nặng thuế, gia tăng lợi nhuận kinh doanh mà vẫn đảm bảo được nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội, nhà quản trị doanh nghiệp cần phải đặt ra các mục tiêu, kế hoạch quản trị việc tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN và tổ chức thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đó một cách hiệu quả, hợp pháp
Trong quá trình quản trị doanh nghiệp của mình, nhà quản trị đã hiểu và vận dụng các quy định của pháp luật thuế TNDN như thế nào? Có các giải pháp quản trị nào để nhà quản trị vừa có thể đảm bảo tốt nhất nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước vừa không vi phạm đạo đức kinh doanh nhưng vẫn có thể gia tăng tối
đa giá trị doanh nghiệp? Đó là những băn khoăn của tác giả khi tìm hiểu về mối liên kết và ảnh hưởng lẫn nhau giữa quản trị doanh nghiệp và pháp luật thuế TNDN trong quá trình học tập tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Và để đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi đó, tác giả chọn tìm hiểu và nghiên
cứu đề tài “Quản trị doanh nghiệp trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập
doanh nghiệp” với mong muốn tổng hợp được những kiến thức ban đầu về nội
dung quản trị này tại Việt Nam
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thực tiễn nghiên cứu hiện nay, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về sự phát triển của những quy định pháp luật về Thuế TNDN mà nhà nước đưa ra nhằm dung hòa tốt nhất giữa lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội trong việc đảm bảo khả năng nộp thuế TNDN của các doanh nghiệp Đồng thời cũng có nhiều đề tài chỉ ra những bất cập của các quy định pháp luật về Thuế TNDN khi áp dụng vào thực tiễn và đưa ra các giải pháp hoàn thiện như:
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Phan Thị Thành Dương nghiên cứu về
“Pháp luật thuế Thu nhập doanh nghiệp – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Lưu Thị Tuyết về “Pháp luật về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam”
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Tú Nguyệt nghiên cứu về
“Pháp luật về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp”
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Cao Văn Tỵ về “Pháp luật thuế Thu nhập doanh nghiệp trong hoạt động chuyển nhượng bất động sản”
Tuy nhiên, trong khả năng tìm kiếm của mình, tác giả vẫn chưa tìm được những công trình nghiên cứu về việc tiếp cận pháp luật Thuế dưới góc độ tuân thủ của doanh nghiệp, chủ thể trực tiếp áp dụng các quy định pháp luật vào thực tế kinh doanh của mình Đồng thời trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay cũng chỉ cung cấp những thông tin về việc nhà nước quản lý thuế tại các doanh nghiệp, chưa có một bài nghiên cứu chính thức nào đứng dưới góc độ doanh nghiệp để phân tích về quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế trong nội bộ doanh nghiệp
Trước tình hình nghiên cứu hiện tại và xét thấy sự cần thiết phải tìm hiểu những giải pháp quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN trong doanh nghiệp, tác giả chọn
nghiên cứu đề tài “Quản trị doanh nghiệp trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế
Thu nhập doanh nghiệp” với mong muốn tổng hợp được những kiến thức ban đầu
về nội dung quản trị tương đối mới này tại Việt Nam
Trang 93 Mục đích nghiên cứu
Tác giả đặt ra 03 mục đích chính khi thực hiện luận văn:
- Mục đích thứ nhất, nghiên cứu những quy định của pháp luật thuế TNDN hiện hành liên quan đến quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế tại doanh nghiệp
- Mục đích thứ hai, nghiên cứu các nội dung và cách thức quản trị doanh nghiệp
để tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN trên cơ sở đảm bảo thực hiện trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh, tuân thủ pháp luật và đảm bảo tốt nhất phần lợi nhuận kinh doanh hợp pháp thu được của doanh nghiệp
- Mục đích thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu hai nội dung trên, tìm ra các nguyên tắc và giải pháp quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Để làm cơ sở thực hiện luận văn, tác giả chọn nghiên cứu các đối tượng sau:
- Các quy định hiện hành của pháp luật thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng tại Việt Nam
- Các quan điểm về việc thực hiện quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN của các nhà phân tích, các học giả nước ngoài thông qua các tài liệu, các bài nghiên cứu tìm được
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được tác giả thực hiện trong phạm vi các quy định của pháp luật Thuế TNDN Việt Nam hiện hành và trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, giáo trình, sách báo trong nước và một số bài viết, bài phân tích từ các chuyên gia nước ngoài Các nội dung được triển khai với mục đích áp dụng vào quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN của các doanh nghiệp tại Việt Nam
Trong phạm vi thực hiện đề tài, tác giả chỉ giới hạn đưa ra các giải pháp quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN nhằm tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Các giải pháp giảm thiểu số thuế TNDN phải nộp bằng các hành vi trốn thuế, gian lận thuế vi phạm pháp luật sẽ không được đề cập trong phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 105 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích và tổng hợp các kiến thức quản trị kinh doanh và các quy định của pháp luật thuế TNDN tại Việt Nam để đưa ra những luận cứ, luận điểm xuyên suốt quá trình thực hiện luận văn
- Phương pháp kế thừa: tiếp thu có chọn lọc những kiến thức mang tính lý luận
và các số liệu từ các công trình nghiên cứu thực tiễn của các học giả, các nhà phân tích, các tác giả trước đây để làm căn cứ chứng minh cho các lập luận đưa ra trong luận văn
- Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp diễn giải và so sánh để làm rõ các quan điểm và luận cứ đưa ra trong suốt quá trình triển khai luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Luận văn chỉ ra được sự quan trọng, ý nghĩa cũng như những lý do, những lợi ích mà doanh nghiệp và xã hội đạt được khi doanh nghiệp quan tâm đến quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN Trên cơ sở đó, góp phần thay đổi nhận thức của doanh nghiệp về việc quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế: quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN không chỉ là một hoạt động đem lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản trị doanh nghiệp trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN
và phục vụ quá trình học tập, nghiên cứu của sinh viên các chuyên ngành Quản trị kinh doanh và Luật
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 02 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Thực hiện quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ THU NHẬP
đa giá trị doanh nghiệp1 Nhà kinh doanh cho rằng, lợi ích trong ngắn hạn và giá trị doanh nghiệp trong dài hạn chỉ có thể đạt được khi tất cả các chi phí, bao gồm cả chi phí thuế, được kiểm soát Những nhà quản trị dày dạn kinh nghiệm không bao giờ cho rằng thuế là một khoản chi phí cố định và không thể tránh được2 Vì thế, thuế là một trong những yếu tố cần được quản trị trong doanh nghiệp, quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là một trong những vấn đề quản trị được các nhà quản trị quan tâm
Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường3 Khoa học quản trị hiện nay chia quản trị thành các chuyên ngành tương đối độc lập với nhau như: Quản trị Marketing, Quản trị Sản xuất, Quản trị Công nghệ, Quản trị Chất lượng, Quản trị Nhân sự, Quản trị rủi ro, Quản trị Tài chính,… Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là một nội dung thuộc chuyên ngành Quản trị Tài chính doanh nghiệp
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN theo đó, có thể định nghĩa là sự tác động của các chủ thể quản trị lên quá trình tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN bằng các kế hoạch quản trị thuế nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu tài chính trong các giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp với mục đích cuối cùng là giảm chi phí thuế để gia tăng tối đa giá trị doanh nghiệp
1 Sự gia tăng giá trị doanh nghiệp ở hiện tại được thể hiện qua chỉ số Hiện giá thuần (NPV - Net Present Value) của từng dự án, từng giao dịch của doanh nghiệp Hiện giá thuần của một dự án hoặc một giao dịch là tổng giá trị của dòng tiền trong tương lai được quy về giá trị hiện tại trừ đi vốn và khoản chi phí dự kiến ban đầu của dự án hoặc giao dịch
2 Sally M.Jones – Shelley C.Rhoades Catanach (2011), Principles of taxation for business and investment
planning, McGraw-Hill Irwin, pg.xxii
3 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), Giáo trình Quản trị học, NXB Tài chính, Hà Nội, tr.12
Trang 121.1.2 Đặc điểm của Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN vừa mang những đặc điểm chung của quản trị vừa có những đặc thù riêng của để phân biệt với các nội dung quản trị khác Một số đặc điểm tiêu biểu của nội dung quản trị này bao gồm:
- Chủ thể trực tiếp quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN trong doanh nghiệp là chủ thể trong chính doanh nghiệp đó
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế là việc doanh nghiệp muốn quản trị tuân thủ nghĩa vụ của mình đối với nhà nước nên chủ thể quản trị nghĩa vụ này không phải là bất kỳ một cơ quan nhà nước, một tổ chức, cá nhân nào bên ngoài mà do chính các
cá nhân trong doanh nghiệp đảm nhiệm Tùy vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp mà chủ thể này có thể là giám đốc Tài chính hoặc một chuyên viên thậm chí
có thể là công việc của nhân viên Kế toán, Các cấp lãnh đạo, điều hành trong doanh nghiệp cũng tham gia vào quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế thông qua các mục tiêu, định hướng chỉ đạo, điều hành chung
- Đối tượng quản trị trong quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là khoản thuế
mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước để thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật
Từ những quy định của pháp luật đến quá trình tuân thủ trên thực tế vào từng hoạt động của doanh nghiệp là cả một quá trình Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN tập trung vào các vấn đề tuân thủ nghĩa vụ thuế ở góc độ đảm bảo an toàn pháp lý và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp hướng đến đối tượng là số tiền thuế
mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước trong mỗi kỳ tính thuế
- Mục đích của quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là đảm bảo thực hiện
hiệu quả nhất nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước
Một trong những lý do con người cần phải có hoạt động quản trị là do sự khan hiếm của các nguồn lực trong xã hội4 Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN không ngoài lý do đó, cũng nhằm mục đích đảm bảo sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực tài chính hiện có của doanh nghiệp Bởi chi phí của thuế đối với người đóng thuế nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng, ngoài bản thân khoản thuế phải nộp còn
có các chi phí khác phát sinh từ sự thiết kế các chính sách thuế như những tổn thất
4 N.Gregory Mankiw (2003), Nguyên lý Kinh tế học (tập 1), NXB Thống kê, Hà Nội, tr.15
Trang 13tải trọng5 phát sinh từ việc thuế làm biến dạng các quyết định của mọi người hay những gánh nặng hành chính mà người đóng thuế phải chịu khi họ tuân thủ luật thuế6
- Giai đoạn lập kế hoạch được coi là quan trọng nhất trong quản trị tuân thủ
nghĩa vụ thuế TNDN
Một quá trình quản trị thường bao gồm 04 giai đoạn: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra7 Mỗi giai đoạn đều đóng một vai trò quan trọng riêng trong quản trị một tổ chức Tuy nhiên trong mỗi nội dung quản trị, một hoặc một vài giai đoạn sẽ được nhà quản trị tập trung quan tâm nhiều hơn bởi sự ảnh hưởng của chúng đến tiến trình và kết quả quản trị Trong quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN, theo tác giả, giai đoạn được đánh giá là quan trọng nhất là giai đoạn đầu tiên: lập kế hoạch
Kế hoạch quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN thường được xây dựng trong một kỳ tính thuế trên cơ sở các quy định của pháp luật liên quan đến từng nội dung quản trị của nghĩa vụ thuế như thời điểm chuyển giao hàng hóa, dịch vụ và ghi nhận doanh thu; thời điểm chuyển rủi ro, chuyển lỗ; thủ tục cần tuân thủ để được hưởng các mức ưu đãi thuế suất khi đủ điều kiện,… Đây là điểm khác biệt của một kế hoạch quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN so với một kế hoạch của những chuyên ngành quản trị khác: xây dựng trên nền tảng tuân thủ các nội dung của các quy định pháp luật Thuế TNDN
- Quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN có sự trao đổi thông tin
nhiều chiều trong nội bộ doanh nghiệp và với môi trường bên ngoài
Trong nội bộ doanh nghiệp, quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN đòi hỏi phải có sự hợp tác, trao đổi thông tin từ rất nhiều các phòng ban, các đơn vị chức năng trong doanh nghiệp như Phòng Kinh doanh, Phòng Kế toán, Phòng Tài chính, Phòng Pháp chế, …
5 Trong kinh tế vi mô, tổn thất tải trọng được định nghĩa là độ giảm của tổng thặng dư xã hội, bao gồm thặng
dư nhà sản xuất, thặng dư người tiêu dùng và thặng dư chính phủ, gây ra do việc đánh thuế Tổn thất tải trọng của một khoản thuế là phần chênh lệch giữa mức giảm lợi ích của người đóng thuế và số tiền mà chính phủ huy động được Tổn thất tải trọng là tình trạng phi hiệu quả mà thuế tạo ra khi người dân phân bổ nguồn lực theo các kích thích phát sinh từ thuế, chứ không phải theo chi phí và lợi ích thật sự của hàng hóa và dịch vụ
mà họ mua hoặc bán (Tham khảo tại: N.Gregory Mankiw (2003), Nguyên lý Kinh tế học (tập 1), NXB
Thống kê, Hà Nội, tr.273
6
N.Gregory Mankiw (2003), Nguyên lý Kinh tế học (tập 1), NXB Thống kê, Hà Nội, tr.273
7 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), Giáo trình Quản trị học, NXB Tài chính, Hà Nội, tr.14
Trang 14Trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các tác nhân và môi trường bên ngoài, doanh nghiệp phải không ngừng cập nhật những quy định pháp luật, những quy trình chính sách, những quan điểm kinh tế, chính trị mới; không ngừng thông tin qua lại với các đối tác, khách hàng nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất trong quá trình quản trị
- Nội dung quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN thường xuyên thay đổi nhằm
đảm bảo thích nghi với những thay đổi trong chính sách kinh tế, pháp luật của nhà nước
Quản trị luôn luôn là một tiến trình năng động vì phải không ngừng thích nghi
và đổi mới trước những thay đổi của môi trường8
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN có thể được xem là một tiến trình năng động và “nhạy cảm” nhất bởi phải thường xuyên thay đổi theo sự đổi mới của các quy định pháp luật Pháp luật Thuế nói chung và pháp luật Thuế TNDN nói riêng là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra các giải pháp quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN Pháp luật về Thuế TNDN Việt Nam từ khi hình thành vào năm 1951 đến nay đã qua 03 giai đoạn đổi mới với 04 lần sửa đổi Luật Thuế TNDN để phù hợp hơn với tình hình biến động của thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế 9 Khi cơ sở nền tảng thay đổi, bắt buộc các nội dung quản trị phải thay đổi theo
Sự thay đổi các mức thuế suất, các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế, các thủ tục kê khai, quyết toán thuế,… qua các lần thay đổi, bổ sung Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành đã dẫn đến những thay đổi trong các kế hoạch quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải xây dựng lại các kế hoạch lao động, xây dựng lại các kế hoạch kinh doanh tại các vùng miền, thay đổi các giao dịch, các thỏa thuận kinh doanh,… để phù hợp với bản chất luôn luôn biến đổi của đối tượng quản trị là nghĩa vụ thuế
- Giải pháp quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế không đúng đắn có thể gây nên những hậu quả pháp lý cho doanh nghiệp
Khác với những chuyên ngành quản trị khác, nếu quản trị không thành công chỉ
có thể dẫn tới hậu quả doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ hoặc giảm hiệu quả hoạt động, nhân viên bỏ việc, … Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN nếu không được thực hiện một cách nghiêm túc và đúng đắn, có thể dẫn đến hậu quả pháp lý, phát
Trang 15sinh các trách nhiệm của doanh nghiệp như trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, thậm chí có thể phát sinh trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân trong doanh nghiệp nếu có các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng về nghĩa vụ thuế Chẳng những thế, khi liên quan đến các nghĩa vụ pháp lý về thuế, uy tín của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh và khách hàng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường rất có thể bị thị trường tẩy chay do bị đánh giá là trốn thuế, vi phạm đạo đức kinh doanh Hậu quả này là kết quả của việc doanh nghiệp phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình Đây là hậu quả rất khó
đo lường và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh tồn và phát triển của doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN không chỉ đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả quản trị doanh nghiệp mà còn có tác động tích cực đến quá trình quản lý thuế tại các doanh nghiệp của nhà nước và góp phần đảm bảo an sinh xã hội, cụ thể:
1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp
- Tiết kiệm được chi phí thuế, tăng lợi nhuận và nguồn vốn tái đầu tư
Khi thực hiện quản trị tốt khoản thuế TNDN phải nộp cho nhà nước, doanh nghiệp tiết kiệm được một phần chi phí hoạt động của mình, lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp nhiều hơn, phần lợi nhuận được doanh nghiệp trích lại để thực hiện tái đầu tư có thể tăng lên Chẳng hạn doanh nghiệp A có chính sách tài chính là mỗi năm đều trích 10% phần lợi nhuận sau thuế để tiến hành tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh Năm 2010, với phần lợi nhuận là 10 tỷ đồng, phần vốn giữ lại để thực hiện tái đầu tư của doanh nghiệp là 1 tỷ; Năm 2011, nhờ có kế hoạch quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế tốt, doanh nghiệp giảm được một phần chi phí đáng kể và phần lợi nhuận còn lại trong năm này là 12 tỷ đồng, phần vốn tái đầu tư vì thế cũng tăng lên là 1,2 tỷ đồng Như vậy, nhờ có chính sách quản trị thuế tốt, doanh nghiệp
A đã có thêm 0,2 tỷ đồng trong tổng phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư của mình Hơn nữa, như đã trình bày ở trên, chi phí liên quan đến thuế của doanh nghiệp ngoài bản thân số tiền thuế phải nộp còn có các chi phí khác liên quan đến việc tuân thủ nghĩa vụ thuế Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản chi phí không cần thiết, phần lợi nhuận sau thuế
Trang 16và nguồn vốn tái đầu tư của doanh nghiệp cũng được bồi đắp thêm nhờ vào phần chi phí tiết kiệm này
- Doanh nghiệp thích ứng nhanh hơn trước những thay đổi của môi trường vĩ
mô và tránh được các rủi ro pháp lý
Quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN đòi hỏi nhà quản trị phải không ngừng cập nhật và phân tích những quy định của pháp luật cũng như những quan điểm chính trị, luật pháp trong từng giai đoạn, thời kỳ Vì thế khi có một chính sách mới ban hành, khả năng thích ứng của doanh nghiệp sẽ tăng do đã có sự chuẩn bị trước Doanh nghiệp tránh được sự bị động trước những thay đổi của môi trường bên ngoài và vẫn đảm bảo được tiến trình sản xuất kinh doanh của mình
Hơn nữa, qua quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN, nhờ những kế hoạch thuế đúng đắn và kịp thời, doanh nghiệp có thể tránh được những rủi ro pháp
lý khách quan từ môi trường bên ngoài và chủ quan từ bản thân doanh nghiệp Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế tốt, doanh nghiệp sẽ xây dựng được một lịch sử hoạt động tốt, một trong những cơ sở để được hưởng các chính sách ưu đãi thuế từ nhà nước10
- Nâng cao được hình ảnh và độ tin cậy của doanh nghiệp đối với các nhà đầu
tư, các đối tác và khách hàng
Câu chuyện các công ty, các tập đoàn lớn như Coca Cola, Pepsi Co, Adidas và một số doanh nghiệp FDI tại Việt Nam rơi vào nghi án trốn thuế gây xôn xao dư luận trong thời gian qua đã ảnh hưởng không ít đến hình ảnh của các doanh nghiệp này đối với các nhà đầu tư, các đối tác, đặc biệt là các khách hàng của họ có lẽ không còn là câu chuyện mới11 Các vấn đề pháp lý và công luận tiêu cực có những tác động rất xấu đến sự thành công của bất cứ công ty nào Vì thế, nếu doanh nghiệp nhận thức được vai trò quan trọng của việc tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN và có kế hoạch quản trị tuân thủ nghĩa vụ này tốt, doanh nghiệp không chỉ xây dựng được lòng tin nơi các đối tác, khách hàng của mình mà còn thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn, khi họ tin tưởng giao vốn của mình cho doanh nghiệp
10 Điểm a, khoản 1, điều 7 Nghị định 83/2013/NĐ-CP: “Người nộp thuế đáp ứng các tiêu chí sau đây được áp dụng các biện pháp ưu tiên trong thủ tục quản lý thuế: Không bị các cơ quan thuế, hải quan xử lý về hành vi gian lận, trốn thuế, buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong thời gian 2 năm liên tục trở
về trước, kể từ ngày Tổng cục Hải quan nhận được văn bản của người nộp thuế đề nghị được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên”
11 Doanh nghiệp FDI trốn thuế: Người tiêu dùng hãy lên tiếng!
(Tham khảo tại: hay-len-tieng.html )
Trang 17http://www.saigonnews.vn/kinh-doanh/72634-doanh-nghiep-fdi-tron-thue-nguoi-tieu-dung-1.1.3.2 Đối với nhà nước
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN giúp những quy định của nhà nước được thực thi tốt hơn trong thực tế nhờ vào việc tìm hiểu và cập nhật các quy định pháp luật của doanh nghiệp Quá trình tương tác qua lại của doanh nghiệp với cơ quan thuế thông qua các công văn hoặc các câu hỏi thực tế doanh nghiệp gởi xin ý kiến hướng dẫn của các cơ quan nhà nước liên quan như Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế các tỉnh, … là cơ hội để nhà nước thể hiện rõ hơn ý chí của mình khi điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế
Và khi một doanh nghiệp quan tâm đến quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế, doanh nghiệp đã ý thức rất rõ hậu quả mà một trách nhiệm pháp lý về thuế được đặt ra ảnh hưởng nghiêm trọng như thế nào đến hình ảnh và kết quả kinh doanh của mình Doanh nghiệp phần lớn sẽ cân nhắc giữa uy tín và sự an toàn của mình với những khoản lợi ích về thuế có thể không chắc chắn trong tương lai Ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp sẽ cao hơn Nhờ đó, hoạt động quản lý thuế của nhà nước trở nên hiệu quả Nhà nước có thể thể tiết kiệm được một phần chi phí tổ chức quản lý, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế để tập trung vào các hoạt động hỗ trợ lại doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ của mình
1.1.3.3 Đối với xã hội
Nguồn thu ngân sách là cơ sở để nhà nước thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng và các chính sách an sinh, xã hội Nguồn thu này phần lớn là từ số tiền thuế của các doanh nghiệp và cá nhân trong xã hội Khi doanh nghiệp ý thức được nghĩa vụ của mình
và không còn gánh nặng tâm lý về thuế, một phần nguồn thu ngân sách nhà nước được ổn định hơn, các chính sách đầu tư lại xã hội của nhà nước cũng có thể được thực hiện hiệu quả hơn nhờ vào sự ổn định đó
Hơn nữa, việc mỗi doanh nghiệp thực hiện quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế tốt, trật tự kinh tế, trật tự xã hội sẽ được đảm bảo Hiện tượng trốn thuế; mua bán hóa đơn; làm giả giấy tờ, sổ sách kế toán;… sẽ giảm đi, hoạt động của mỗi doanh nghiệp trở nên minh bạch hơn Đây là một trong những điều kiện để môi trường kinh doanh được lành mạnh, cơ sở cho sự cạnh tranh công bằng và bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong tiến trình đầu tư sản xuất, kinh doanh
Từ những phân tích trên, có thể rút ra kết luận rằng quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là một hoạt động cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản trị hoạt động của doanh nghiệp Việc doanh nghiệp ý thức được nghĩa vụ của
Trang 18mình đối với nhà nước, xã hội và có những giải pháp quản trị thuế tốt vừa góp phần làm cho hoạt động của doanh nghiệp được an toàn, ổn định, phát triển hơn vừa góp phần tạo nên sự lành mạnh hoạt động kinh doanh trong nước, tăng hiệu quả quản lý thuế của nhà nước, giúp ổn định ngân sách nhà nước và đảm bảo an sinh, công bằng
- Cấp quản lý hoặc người giữ vai trò quản lý cao nhất 12 của doanh nghiệp đặt
ra các mục tiêu phải đạt được khi thực hiện quản trị
Thuế chỉ là một trong những vấn đề nhà quản trị cần cân nhắc khi đưa ra các quyết định đầu tư, kinh doanh Quyết định quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế không thể được đưa ra một cách độc lập mà phải phụ thuộc vào kế hoạch hoạt động chung của doanh nghiệp Kế hoạch quản trị thuế phải hài hòa với các kế hoạch quản trị khác, đặc biệt là các kế hoạch tài chính, kế hoạch đầu tư Cấp quản lý hoặc người quản lý cao nhất trong doanh nghiệp được coi là đầu tàu của doanh nghiệp là những người
có tầm nhìn xa rộng và có các mục tiêu quản trị cụ thể cho doanh nghiệp, họ là những người đủ khả năng, tư cách và có quyền hạn, trách nhiệm đưa ra định hướng cho hoạt động doanh nghiệp, trong đó có định hướng về việc quản trị tuân thủ nghĩa
vụ thuế TNDN
Định hướng mục tiêu quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế sẽ được các nhà quản lý linh hoạt đưa ra trong từng giai đoạn, phù hợp với các quy định của pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước Tuy nhiên, các mục tiêu cụ thể vẫn luôn hướng về việc thực hiện mục tiêu cơ bản của quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước trong lĩnh vực thuế
12 Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, tùy theo loại hình doanh nghiệp, cấp quản lý cao nhất có thể
là Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị; Người giữ vai trò quản lý cao nhất có thể là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp
Trang 19- Cấp điều hành hoặc người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp 13
đưa ra kế hoạch, lãnh đạo thực hiện và giám sát kết quả thực hiện các mục tiêu đã được đặt ra
Trên cơ sở mục tiêu của cấp lãnh đạo hoặc người giữ vai trò lãnh đạo cao nhất đặt ra, cấp điều hành hoặc người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp phải tiến hành cụ thể hóa và đưa mục tiêu đó vào thực hiện bằng các kế hoạch điều hành chung Đây là những chủ thể, trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình,
có khả năng ảnh hưởng độc lập đến hoạt động của doanh nghiệp nên họ chính là những người trực tiếp quyết định các kế hoạch quản trị trên cơ sở các ý kiến tham vấn của các chuyên gia (nếu có) và cấp dưới chuyên môn, trong đó có kế hoạch quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế
Các kế hoạch quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN được thể hiện trong từng quyết định đầu tư, từng hợp đồng, thương vụ mà nhà quản trị ở cấp điều hành dự kiến thực hiện trong mỗi năm tài chính Ở mỗi quyết định đầu tư, mỗi hợp đồng, thương vụ doanh nghiệp sẽ phát sinh nghĩa vụ thuế như thế nào, quá trình quản lý tuân thủ nghĩa vụ đó ra sao để đạt được kết quả như định hướng của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ tận dụng các ưu đãi của nhà nước như thế nào, thỏa thuận với các đối tác làm ăn ra sao để quá trình tuân thủ nghĩa vụ thuế được đầy đủ và có lợi nhất,… đó là những vấn đề sẽ được cụ thể hóa trong mỗi kế hoạch quản trị về thuế của nhà quản trị ở cấp điều hành doanh nghiệp Nhà quản trị cấp điều hành sẽ lãnh đạo thực hiện, kiểm soát và chịu trách nhiệm trước cấp trên về kết quả thực hiện mục tiêu quản trị nghĩa vụ thuế đặt ra
- Các bộ phận, cá nhân trực tiếp thực hiện các kế hoạch quản trị thuế
Tùy điều kiện và quy mô của mỗi doanh nghiệp, các bộ phận và cá nhân được phân công thực hiện tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN sẽ khác nhau, chẳng hạn như doanh nghiệp có bộ phận Tài chính thì có thể giao công việc này cho bộ phận Tài chính, doanh nghiệp không có bộ phận Tài chính thì chuyên viên Tài chính – Kế toán có thể được giao thực hiện, công việc này trở thành một trong những công việc chính trong mô tả công việc của nhân viên này hay doanh nghiệp có thể giao cho một nhân viên hoặc một nhóm nhân viên chuyên phụ trách việc quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN Trên cơ sở những kế hoạch được cụ thể ở cấp điều hành,
13 Theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành, cấp điều hành trong doanh nghiệp là Ban Tổng giám đốc hoặc Ban giám đốc; Người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp là Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc Đối với các doanh nghiệp không có Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị, cấp điều hành cũng đồng thời là cấp lãnh đạo của doanh nghiệp, người trực tiếp điều hành cũng đồng thời là người lãnh đạo của doanh nghiệp
Trang 20người trực tiếp quản trị sẽ chi tiết hóa quá trình thực hiện thành các giai đoạn, các công việc phải thực hiện cụ thể, chẳng hạn như thực hiện ghi sổ và quản lý sổ sách
ra sao; ghi nhận chi phí và doanh thu như thế nào, tại thời điểm nào; quản lý hóa đơn chứng từ hợp lệ ra sao; làm gì để thỏa mãn các điều kiện hưởng ưu đãi thuế, … Người trực tiếp quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế sẽ chịu trách nhiệm về kết quả quản trị với cấp quản lý, điều hành
Theo một nghiên cứu được trình bày tại bài viết “The Incentives for Tax Planning” được đăng trên tạp chí thuế National Tax Journal, một trong những tạp chí chuyên đề về Thuế của National Tax Association, 65% người quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế (Tax director) là Giám đốc Tài chính Vai trò của người quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế không chỉ gói gọn trong việc tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả quản trị thuế mà còn đóng vai trò như một chuyên gia nghiên cứu
về việc áp dụng các quy định của pháp luật thuế và là người tìm kiếm, phát hiện các
cơ hội quản trị thuế, làm cơ sở tư vấn cho cấp điều hành quyết định các kế hoạch đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp Vai trò của người quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế được thể hiện qua ít nhất qua 03 hoạt động chính sau đây14:
+ Thực hiện các quy định về thuế trong doanh nghiệp Đây là vai trò cơ bản nhất của người quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế, bởi để quản trị thuế hiệu quả, trước tiên phải quản trị tốt việc thực hiện đúng các quy trình, yêu cầu của nhà nước về thuế tại doanh nghiệp Người quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế đã dành 33% thời gian
để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thuế, quản trị thuế (trong đó, 9% thời gian nghiên cứu về các quy định của pháp luật thuế, 8% nghiên cứu về kiểm toán thuế)
và 28% thời gian để tổ chức thực hiện tuân thủ các quy định về thuế tại doanh nghiệp
+ Làm cố vấn cho lãnh đạo cấp cao bằng cách đưa ra các giải pháp giảm chi phí thuế trong hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư Người quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế không phải là người trực tiếp lựa chọn hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, nên chỉ đóng vai trò là nhà tư vấn thuế cho các lãnh đạo cấp cao đưa ra các quyết định đầu tư
+ Có nhiệm vụ phát hiện và theo đuổi các cơ hội của kế hoạch thuế để tìm ra các cơ hội đầu tư mà giá trị của các dự án đầu tư có được từ các cơ hội đó nhận
14
Christoper S Armstrong – Jennifer L Blouin – David F Larcker (2011), “The Incentives for Tax
Planning”, National Tax Journal, pg 4-7
Trang 21được các lợi ích thuế Đây là vai trò bổ sung cho vai trò cố vấn cho lãnh đạo cấp cao của người quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế
Ngoài ra, quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN còn có sự kết hợp chặt chẽ với các bộ phận chuyên môn khác như bộ phận Kế toán, bộ phận Đầu tư,
bộ phận Pháp chế,… Bộ phận Kế toán tham gia quản trị thực hiện nghĩa vụ Thuế thông qua nhiệm vụ quản lý các số sách, giấy tờ của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ thuế Bộ phận Đầu tư tìm kiếm những dự án đầu tư sinh lời mà khi đầu tư vào đó, doanh nghiệp có thể được hưởng ưu đãi thuế và qua các kiến nghị lên cấp trên về các kế hoạch đầu tư Bộ phận Pháp chế tham vấn về những quy định mới của pháp luật Thuế và các thức giải thích, vận dụng vào thực tế doanh nghiệp;…
Hình: Mối quan hệ giữa các cấp quản trị trong quản trị tuân thủ
1.2.2.1 Thu nhập tính thuế
Thu nhập tính thuế là đại lượng sau cùng quyết định kết quả số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước Các nội dung quản trị các đại lượng liên quan
Cấp Điều hành Cấp Quản lý
Bộ phận/Người quản trị trực tiếp
Các bộ phận khác
Trang 22đến việc xác định nghĩa vụ thuế TNDN đều hướng đến mục đích quản trị thu nhập tính thuế
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - (Thu nhập được miễn thuế + Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định)
Thu nhập chịu thuế = (Doanh thu - Chi phí được trừ) + Các khoản thu nhập khác
Như vậy, công thức tính thu nhập tính thuế có thể được triển khai cụ thể như sau:
Thu nhập tính thuế = [(Doanh thu – Chi phí được trừ + Các khoản thu nhập khác) – (Thu nhập được miễn thuế + Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định)]
a Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là đại lượng đóng vai trò quyết định đến kết quả của khoản thu nhập tính thuế Bởi khi doanh nghiệp phát sinh thu nhập chịu thuế thì mới phát sinh thu nhập tính thuế Hai đại lượng còn lại là thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển là 02 đại lượng có thể có hoặc không xuất hiện trong kỳ tính thuế của doanh nghiệp
- Doanh thu
Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng Doanh thu là đại lượng quan trọng nhất ảnh hưởng đến thu nhập chịu thuế Không phát sinh doanh thu, doanh nghiệp có thể không có thu nhập chịu thuế Tổng doanh thu phát sinh trong mỗi kỳ tính thuế khác nhau ảnh hưởng đến kết quả xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế đó Cùng một khoản doanh thu nhưng được ghi nhận trong các kỳ doanh thu khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi của thu nhập chịu thuế trong mỗi kỳ doanh thu Vì tính chất của quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là quá trình quản trị thường xuyên thay đổi theo các quy định của pháp luật nên cùng một khoản doanh thu nhưng phát sinh trong các kỳ tính thuế khác nhau, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp có thể sẽ khác nhau Vì vậy, ghi nhận và quản lý kỳ doanh thu trở thành nội dung quan trọng trong quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN
Trang 23- Chi phí được trừ
Trái với doanh thu, chi phí được trừ là đại lượng làm giảm tổng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Việc quản trị các khoản chi phí được trừ là một trong những nội dung quan trọng nhất trong quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN, bởi thực tế doanh nghiệp đã phát sinh các chi phí hợp pháp nhưng có được ghi nhận đúng quy định của pháp luật để được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế hay không là một vấn đề khác Doanh nghiệp đã bỏ chi phí để làm phát sinh doanh thu, làm gia tăng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước thì việc quản trị để tất cả các khoản chi phí này được trừ khi kê khai, quyết toán thuế là điều đương nhiên Vì vậy, đại lượng chi phí được trừ là đại lượng ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN
- Các khoản thu nhập khác
Các khoản thu nhập khác là các khoản phát sinh ngoài doanh thu, làm phát sinh nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp Các khoản thu nhập này còn bao gồm một
số khoản thu nhập được miễn thuế Những khoản thu nhập khác một phần phát sinh
từ ý chí của doanh nghiệp, một phần phát sinh nằm ngoài ý chí và sự quyết định của doanh nghiệp Những khoản thu nhập này càng cao thì kết quả kinh doanh của doanh nghiệp càng được nâng cao nên theo nguyên tắc thông thường, không có bất
cứ doanh nghiệp nào muốn các khoản thu nhập này giảm để giảm nghĩa vụ thuế TNDN Nhiệm vụ quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN khi quản lý đại lượng này
là xác định đúng trong những khoản thu nhập phát sinh đó, khoản thu nhập nào đủ điều kiện được miễn thuế TNDN và khoản thu nhập nào phải nộp thuế Tỷ trọng các khoản thu nhập được miễn thuế trên tổng thu nhập khác càng cao thì nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp càng giảm
b Thu nhập được miễn thuế
Thu nhập được miễn thuế là khoản thu nhập làm phát sinh nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp nhưng không làm gia tăng số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp Tức là khi phát sinh thu nhập được miễn thuế, doanh nghiệp có nghĩa vụ kê khai để
cơ quan nhà nước nắm bắt, kiểm soát và số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp đối với những khoản thu nhập này là 0 đồng Như vậy, theo thủ tục kê khai thuế và nộp thuế, thu nhập miễn thuế làm gia tăng tổng thu nhập của doanh nghiệp nhưng không làm gia tăng thu nhập tính thuế của doanh nghiệp Vì thế, khoản thu nhập này không ảnh hưởng nhiều đến quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên vấn đề quản trị vẫn phải đặt ra đối với đại lượng này bởi nếu có
Trang 24thu nhập miễn thuế phát sinh nhưng doanh nghiệp không đảm bảo được các điều kiện về trình tự, thủ tục trong quá trình xác định, kê khai với cơ quan thuế thì khoản thu nhập này sẽ làm phát sinh thêm chi phí thuế TNDN cho doanh nghiệp
c Các khoản lỗ được kết chuyển
Đại lượng các khoản lỗ được kết chuyển chỉ ảnh hưởng đến kết quả thu nhập tính thuế của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế hiện tại nếu doanh nghiệp có phát sinh lỗ trong các kỳ tính thuế trước và vẫn còn trong phạm vi thời hạn được chuyển
lỗ theo quy định của pháp luật Như vậy, đại lượng này không phải là vấn đề quản trị đương nhiên phát sinh trong tất cả các kỳ tính thuế của doanh nghiệp Nếu trong
kỳ tính thuế, đại lượng các khoản lỗ được kết chuyển lớn hơn 0 thì đại lượng này trở thành một trong những yếu tố làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp Số
lỗ được kết chuyển sẽ phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tức là phụ thuộc vào kết quả thu nhập tính thuế sau khi đem tổng thu nhập chịu thuế trừ đi tổng các khoản thu nhập được miễn thuế
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN đối với các khoản lỗ được kết chuyển được thực hiện qua quá trình xác định lỗ và chuyển lỗ theo các kế hoạch tuân thủ đúng các nguyên tắc và trình tự, thủ tục được pháp luật quy định Kế hoạch chuyển
lỗ được thiết lập dựa trên cơ sở kế hoạch kinh doanh và kế hoạch Tài chính trong năm tài chính của doanh nghiệp Kế hoạch chuyển lỗ được thiết lập nhằm đảm bảo tất cả các khoản lỗ phát sinh của doanh nghiệp đều có thể được chuyển vào các kỳ tính thuế sau trong thời hạn được pháp luật cho phép chuyển lỗ Hiệu quả của việc thực hiện các kế hoạch chuyển lỗ một phần phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế có số lỗ cần chuyển, một phần phụ thuộc vào cách thức nhà quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tế chuyển lỗ của doanh nghiệp
Mỗi đại lượng hình thành nên thu nhập tính thuế đều đóng một vai trò quan trọng khác nhau trong nội dung quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN và cần có cách quản trị riêng để đạt được mục tiêu quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Trong số đó, đại lượng doanh thu và chi phí được trừ là 02 đại lượng luôn tồn tại và ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả chi phí thuế TNDN của doanh nghiệp trong mỗi kỳ tính thuế
Trang 251.2.2.2 Thuế suất
Thuế suất là mức thuế phải thu thể hiện mức độ điều tiết của nhà nước mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước theo một mức nhất định Thuế suất áp dụng để tính thuế TNDN là thuế suất tương đối cố định được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (%) dựa vào cơ sở tính thuế Thuế suất là đại lượng cố định chỉ có thể thay đổi khi pháp luật quy định Bản thân doanh nghiệp không thể quản trị để tạo nên sự thay đổi đối với mức thuế suất, có chăng chỉ là thay đổi bản chất các khoản thu nhập để hưởng các mức thuế suất khác nhau Như vậy, quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN không đặt ra nhiệm vụ thay đổi mức thuế suất áp dụng đối với một khoản thu nhập đã phát sinh để được hưởng lợi về thuế
Mức thuế suất áp dụng, bên cạnh tổng thu nhập tính thuế là đại lượng quyết định trực tiếp đến số tiền thuế TNDN doanh nghiệp nộp vào ngân sách nhà nước
Số tiền thuế phải nộp tỉ lệ thuận với mức thuế suất nên khi thu nhập được áp dụng mức thuế suất càng thấp thì số tiền thuế của doanh nghiệp càng nhỏ Vì vậy những
kế hoạch thuế liên quan đến mức thuế suất thường hướng đến mục tiêu áp dụng mức thuế suất thấp hơn để hưởng lợi từ thuế nhiều hơn Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN đối với đại lượng thuế suất là quản trị các điều kiện áp dụng các mức thuế suất phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp
Bên cạnh mức thuế suất thuế TNDN phổ thông, pháp luật thường quy định các mức thuế suất ưu đãi và các mức thuế suất áp dụng đối với các khoản thu nhập đặc thù Mức thuế suất phù hợp với doanh nghiệp được xác định dựa vào các dấu hiệu nhận biết của các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn như các dấu hiệu về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh; sản phẩm, dịch vụ kinh doanh; địa bàn hoạt động kinh doanh;…
Mức thuế suất thuế TNDN cũng có thể thay đổi khi mục đích điều tiết thuế TNDN của nhà nước thay đổi qua sự thay đổi các quy định của pháp luật thuế Trong thời gian “giao thoa” giữa các quy định pháp luật, việc xác định thời điểm chính xác áp dụng đối với mỗi mức thuế suất là vô cùng quan trọng Thời điểm này được xác định dựa vào hiệu lực của các văn bản pháp luật quy định về việc áp dụng các mức thuế suất đó Như vậy, bên cạnh việc xác định đúng các dấu hiệu để được hưởng các mức thuế suất, việc xác định thời gian áp dụng các mức thuế suất đó cũng quyết định đến mức độ chính xác và hiệu quả của quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN trên đại lượng thuế suất
Trang 261.2.2.3 Các quy định về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp
Ưu đãi thuế TNDN được thể hiện qua các chính sách miễn, giảm mức thuế suất của nhà nước trong một khoản thời gian nhất định hoặc trong suốt khoảng thời gian doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện hưởng ưu đãi Mức thuế suất áp dụng như phân tích ở trên là đại lượng ảnh hưởng trực tiếp đến số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp nên việc quản trị các vấn đề về ưu đãi thuế TNDN trong quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế cũng quan trọng như đối với nội dung quản trị mức thuế suất áp dụng vào doanh nghiệp Nhà quản trị luôn muốn hướng đến việc tận dụng các ưu đãi này
để giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp Tuy nhiên, để được hưởng những ưu đãi
từ nhà nước, doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện và phải cân nhắc đến rất nhiều lợi ích khác trước khi chọn đầu tư vào một dự án có ưu đãi thuế Những dự án được hưởng ưu đãi thuế thường là những dự án đòi hỏi phải có kỹ thuật hiện đại, nguồn vốn lớn hoặc là những dự án đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Doanh nghiệp phải đảm bảo được khả năng thu hồi vốn và thu được lợi nhuận khi quyết định chọn đầu tư vào những dự án được hưởng ưu đãi này Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN đối với các khoản ưu đãi thuế TNDN được đặt ra trước tiên để xác định các trường hợp doanh nghiệp được hưởng các khoản ưu đãi cũng như quy trình thủ tục để được hưởng ưu đãi khi doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện hưởng ưu đãi Việc xác định trường hợp ưu đãi hiện nay được nhà nước giao cho doanh nghiệp tự xác định, kê khai và quyết toán thuế Tuy những trường hợp được hưởng ưu đãi được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật nhưng khi áp dụng vào thực tế, việc xác định đúng trường hợp hưởng ưu đãi của doanh nghiệp không phải là điều dễ dàng Đặc biệt đối với những trường hợp doanh nghiệp được hưởng cùng lúc 02 hay nhiều mức ưu đãi Vì vậy, xác định đúng trường hợp hưởng ưu đãi để không bỏ sót quyền lợi của doanh nghiệp là nhiệm vụ đầu tiên của quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN khi quản trị các vấn đề ưu đãi Sau khi đã xác định đúng trường hợp doanh nghiệp được hưởng ưu đãi, vấn đề
về tuân thủ các thủ tục, giấy tờ để đảm bảo kê khai ưu đãi của doanh nghiệp khi quyết toán thuế cũng là một vấn đề quan trọng và phức tạp cần phải quản trị Chẳng hạn như thực hiện hoạch toán riêng, kê khai, thông báo, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, … Nếu thỏa mãn các dấu hiệu được hưởng ưu đãi thuế mà không tuân thủ đúng các trình tự thủ tục, doanh nghiệp chẳng những không được chấp nhận việc hưởng ưu đãi mà còn có thể bị cơ quan nhà nước truy thu thuế và xử phạt vi phạm
Trang 271.2.3 Mục đích doanh nghiệp đạt đƣợc khi quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp
Khi tham gia vào thành lập doanh nghiệp để sản xuất, kinh doanh, mục đích đầu tiên mà chủ doanh nghiệp hướng đến là lợi nhuận mà họ có thể thu được khi vận hành doanh nghiệp đó Mọi hoạt động quản trị doanh nghiệp dù được cụ thể hóa thành những mục đích khác nhau như thế nào đi nữa, bản chất cuối cùng vẫn hướng
về mục đích ban đầu: tối đa hóa khoản lợi nhuận có thể thu được, từ đó tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN cũng không nằm ngoài mục đích đó
Thuế TNDN được xem là một phần của miếng bánh lợi nhuận mà chủ doanh nghiệp phải chia sau những nổ lực kinh doanh để đạt được Bản chất của Thuế TNDN lại là thuế trực thu nên gánh nặng tâm lý về thuế đối với người nộp thuế là rất lớn15, người nộp thuế vì thế luôn mong muốn có thể giảm được số thuế mà mình phải nộp, tức là phải chia cho người khác phần bánh càng nhỏ càng tốt Tuy nhiên, doanh nghiệp là một tổ chức, pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp cũng như một thực thể sống, hình thành và phát triển tại một quốc gia phải tuân thủ những quy định của pháp luật quốc gia đó, nếu vi phạm sẽ bị
xử phạt nghiêm khắc Vì thế, doanh nghiệp chỉ có thể tối đa phần bánh mà mình được giữ lại bằng các hành vi hợp pháp Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN từ
đó được đặt ra với những mục đích cơ bản sau đây:
- Mục đích thứ nhất, đảm bảo quá trình tuân thủ đúng và đầy đủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động nhằm tránh được những rủi ro pháp lý mà doanh nghiệp gặp phải liên quan đến nghĩa vụ thuế
- Mục đích thứ hai, góp phần quản lý hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Từ cơ sở nghiên cứu những điều kiện áp dụng các quy định của pháp luật thuế TNDN, nhà quản trị có thể kịp thời có những điều chỉnh phù hợp hoạt động quản lý kinh doanh của doanh nghiệp để một mặt có thể được hưởng các khoản ưu đãi thuế, một mặt có thể đảm bảo tính pháp lý trong mỗi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Mục đích thứ ba, giảm gánh nặng thuế của doanh nghiệp một cách hợp pháp nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu gia tăng tối đa giá trị của doanh nghiệp
15
Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật thuế, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.38
Trang 28Như vậy, doanh nghiệp có thể quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế bằng bất cứ chiến lược, bất cứ cơ hội khả thi nào nhằm đạt được những mục đích trên để đảm bảo doanh nghiệp luôn hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và để nghĩa vụ thuế không còn là gánh nặng đối với doanh nghiệp
1.3 Các vấn đề ảnh hưởng đến quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế Thu nhập doanh nghiệp trong doanh nghiệp
1.3.1 Ảnh hưởng của môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là một trong những yếu tố tác động rất lớn đến kết quả thực hiện các kế hoạch thuế của doanh nghiệp Bởi các kế hoạch thuế này đều được xây dựng dựa trên cơ sở sự phân tích các số liệu kinh tế và chuyên ngành ở hiện tại, sự
tư vấn của các chuyên gia và dựa trên những kinh nghiệm thực tế của nhà quản trị qua các giao dịch đã thực hiện trong quá khứ Và một kế hoạch, dù có được xây dựng một cách cẩn thận nhất cũng khó có thể hoàn toàn chính xác bởi nó được hình thành dựa trên các phán đoán và giả định Việc các sự kiện không như mong đợi có thể xảy ra trong tương lai ảnh hưởng đến kết quả thực hiện kế hoạch là điều khó tránh khỏi Vì thế quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN thường luôn rất “nhạy cảm” trước sự chuyển biến của các yếu tố môi trường vĩ mô, đặc biệt là môi trường kinh tế, chính trị - luật pháp
Môi trường kinh tế chỉ bản chất, mức độ tăng trưởng và định hướng phát triển của nền kinh tế, trong đó doanh nghiệp hoạt động16 Môi trường kinh tế được thể hiện qua các số liệu kinh tế vĩ mô; các số liệu thống kê như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, mức thặng
dư hoặc thâm hụt ngân sách, mức thặng dư hoặc thâm hụt thương mại, …; cũng như các xu thế và thay đổi đang xảy ra tại các thời điểm khác nhau17 Môi trường chính trị bao gồm nhà nước, pháp luật và các hoạt động điều hành của nhà nước Cụ thể hơn, môi trường chính trị được thể hiện qua hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của Chính phủ; hệ thống luật pháp hiện hành; các xu hướng chính trị ngoại giao của Chính phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới18
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN được xây dựng trên cơ sở các chính sách kinh tế, pháp luật của nhà nước nên những diễn biến của tình hình kinh tế, chính trị
16 Chủ biên: GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân (2011), Quản trị chiến lược, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Trang 29sẽ dẫn đến những thay đổi trong chính sách pháp luật và từ đó ảnh hưởng đến tiến trình và cách thức tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Chẳng hạn như gần đây, tại Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ ngày 18/3/2014 về những nhiệm
vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã đặt ra nhiệm vụ của Việt Nam tới hết năm 2015 phải đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 Trong đó, có tiêu chí về quản lý thuế: “Cải cách quy trình, hồ sơ và thủ tục nộp thuế và rút ngắn thời gian các doanh nghiệp phải tiêu tốn để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 (mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 là 171 giờ/năm)” Trên thực tế, chính sách thuế Việt Nam đã có những thay đổi để hướng đến mục tiêu trên như: Giảm mức thuế suất thuế TNDN cơ bản từ 25% xuống 22% từ 01/01/2014; rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn hồ sơ khai thuế từ 5 ngày xuống 3 ngày, thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế rút ngắn đối với trường hợp kiểm tra trước, hoàn thuế sau từ 60 ngày xuống còn 40 ngày, đối với trường hợp hoàn thuế trước, kiểm tra sau từ 15 ngày xuống 6 ngày; khuyến khích doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế qua mạng; …19 Từ những thay đổi trong chính sách thuế, quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cũng phải linh hoạt thay đổi cho phù hợp Ví dụ như khi thủ tục kê khai thuế trở nên đơn giản và thời gian nộp thuế được rút ngắn hơn, doanh nghiệp có thể giảm thời gian cho việc kê khai, nộp thuế để tập trung vào tìm hiểu những quy định mới nhằm áp dụng hiệu quả hơn các chính sách thuế mới của nhà nước Hay khi nhà nước giảm mức thuế suất chung xuống còn 22%, doanh nghiệp có thể cân nhắc đến việc rút vốn từ các dự án đầu tư
ở nước ngoài về tập trung đầu tư tại nước nhà khi môi trường thuế tại Việt Nam trở nên thu hút hơn so với nước họ đang đầu tư
1.3.2 Các vấn đề rủi ro pháp lý
Rủi ro pháp lý là khả năng xảy ra sự sai lệch bất lợi so với dự tính, liên quan đến các quy định pháp luật Rủi ro pháp lý là những sự kiện khách quan, xảy ra bất ngờ, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, được tạo nên bởi yếu tố chủ quan của doanh nghiệp và yếu tố khách quan từ bên ngoài trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là quá trình quản trị được xây dựng trên cơ sở những quy định của pháp luật Thuế nói chung và pháp luật thuế TNDN nói riêng Những chính sách pháp luật phải thường xuyên thay đổi để đảm bảo phù hợp nhất với tính chất các quan hệ xã hội dân sự, kinh tế, thương mại,…trong từng thời kỳ nên hiệu quả quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN bị ảnh hưởng rất nhiều
19 Tham khảo tại: http://bizlive.vn/chinh-tri-xa-hoi/cai-cach-thue-toc-do-10-trong-1-226229.html
Trang 30vào sự thay đổi của môi trường pháp luật nơi doanh nghiệp hoạt động hoặc thực hiện các dự án đầu tư
Khi lựa chọn môi trường đầu tư, một trong những vấn đề doanh nghiệp quan tâm hàng đầu là sự ổn định trong chính sách pháp luật của quốc gia nơi họ đầu tư, trong đó có trình độ lập pháp và khả năng áp dụng pháp luật một cách thống nhất
Sự không ổn định của pháp luật gây nên rất nhiều khó khăn cho quản lý doanh nghiệp, trong đó có quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước nơi họ đầu tư, kinh doanh Chẳng hạn như khi có một chính sách thuế mới, doanh nghiệp ngoài việc quan tâm tìm hiểu để áp dụng đúng còn phải điều chỉnh các kế hoạch thuế của mình theo những quy định mới này Chưa kể đến việc một quy định của pháp luật trong thời gian này lại là ưu đãi nhưng trong thời gian sau lại trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp Điển hình trong giai đoạn gần đây là tình trạng các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa bị nhà nước truy thu thuế và xử phạt
vi phạm hành chính với lý do “nộp chậm và kê khai sai dẫn đến thiếu thuế”20
Đối với trường hợp các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa nêu trên, các doanh nghiệp đã rơi vào loại rủi ro pháp lý khách quan không thể lường trước được Khi nhà nước có chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa bằng các ưu đãi thuế, các doanh nghiệp này đã tuân thủ các hoạt động quản lý, kê khai để được hưởng ưu đãi khi cổ phần hóa Mọi sự tính toán trong các kế hoạch thuế của doanh nghiệp trong các kỳ tính thuế đều được xây dựng trên kết quả của sự ưu đãi Khi công văn của Tổng cục Thuế ban hành, kết quả thực hiện các kế hoạch thuế trong các kỳ tính thuế được hưởng ưu đãi bị đảo trộn, doanh nghiệp vừa phải tranh chấp với nhà nước về việc truy thu thuế vừa bị mất lòng tin với đối tác, khách hàng,… Những rủi ro này, khi tuân thủ thực hiện chính sách khuyến khích cổ phần
“Doanh nghiệp đang trong thời gian hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN theo quy định tại Luật Thuế TNDN, nhưng đến năm 2008 vẫn chưa kê khai hưởng ưu đãi giảm 50% số thuế TNDN phải nộp do có chứng khoán niêm yết lần đầu thì từ năm 2009, doanh nghiệp sẽ không được hưởng ưu đãi giảm 50% số thuế TNDN phải nộp” … Thực tế, các doanh nghiệp không được gộp chung cả hai chính sách ưu đãi thuế, mà phải hưởng ưu đãi cổ phần hoá xong mới được hưởng tiếp ưu đãi niêm yết Điều đó có nghĩa, nhiều doanh nghiệp “không kịp” hưởng ưu đãi niêm yết, bởi thời gian hưởng ưu đãi cổ phần hoá kéo dài 5 năm Doanh nghiệp nào “lỡ” hưởng ưu đãi thì nay phải trả lại Đối với nhiều doanh nghiệp, chính sách ưu đãi này tưởng là phúc, nay bỗng hoá thành nợ Không chỉ bị truy thu tiền thuế, một số DN còn bị phạt với lý do “nộp chậm và
kê khai sai dẫn đến thiếu thuế”, bị mang tiếng với cổ đông, khách hàng, đối tác ”
Trang 31hóa của nhà nước, doanh nghiệp khó có thể lường trước được trong các kế hoạch thuế của mình
1.3.3 Các vấn đề về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội là một trong những chủ đề đang được xã hội quan tâm, nghiên cứu phát triển Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế trong doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng rất lớn của vấn đề đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội bởi nếu không tuân thủ đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp dễ rơi vào nguy cơ gian lận, trốn thuế Hàng loạt các vụ kiện và các nghi án về doanh nghiệp trốn thuế vi phạm đạo đức kinh doanh gần đây, một phần cũng xuất phát từ nguyên nhân các doanh nghiệp chưa coi trọng vấn đề đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của mình21
Tránh thuế (tax avoidance) là biện pháp làm giảm số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp một cách hợp pháp Ngược lại, trốn thuế (tax evasion) là biện pháp làm giảm số thuế phải nộp một cách bất hợp pháp22 Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là giải pháp quản trị các biện pháp tránh thuế Mặc dù các biện pháp này là hợp pháp, liệu rằng có vi phạm đạo đức kinh doanh?
Trả lời cho câu hỏi này, năm 1947, một thẩm phán liên bang của Mỹ đã lý giải như sau: “Rất nhiều lần tòa án đã nói rằng không có tội ác nào nếu một người cố gắng giữ số thuế phải nộp lâu nhất trong thời gian có thể Tất cả mọi người đều làm vậy, dù là người giàu hay nghèo và tất cả đều đúng bởi không có bất kỳ ai có trách nhiệm cộng đồng là phải nộp nhiều thuế hơn pháp luật yêu cầu: thuế chính xác là một sự bắt buộc, không phải là khoản đóng góp tự nguyện Yêu cầu nhiều hơn dưới danh nghĩa đạo đức là điều không thể”23
Như vậy, mọi doanh nghiệp trong khả năng cho phép của mình có thể thực hiện các giải pháp quản trị thực hiện đúng và
đủ các quy định của pháp luật liên quan đến nghĩa vụ thuế của mình và có thể lựa chọn trong đó những cách thức tuân thủ có lợi nhất cho doanh nghiệp mình Điều
đó hoàn toàn hợp pháp và không thể bị xem là vi phạm đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh
21 Tham khảo tại: khong-lo-ngoai-lai-a75503.html và tại: http://dichvuthanhlapdoanhnghiep.vn/tin-tuc/len-tieng-doi-thuc-tinh- trach-nhiem-coca-cola/
http://m.nguoiduatin.vn/boc-me-nhung-chieu-tron-thue-vo-tien-khoang-hau-cua-cac-ga-22 Sally M.Jones – Shelley C.Rhoades Catanach (2011), Principles of taxation for business and investment
planning, McGraw-Hill Irwin, pg.70
23
Sally M.Jones – Shelley C.Rhoades Catanach (2011), Principles of taxation for business and investment
planning, McGraw-Hill Irwin, pg.70
Trang 32Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp được vận dụng vào trong
hoạt động kinh doanh Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh bao gồm: Tính trung thực; tôn trọng con người; gắn lợi ích doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội; bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt 24 Theo tác giả, đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp trong trường hợp này được thể hiện ở việc doanh nghiệp tiến hành kê khai và nộp đầy đủ số thuế TNDN phải nộp trong phạm vi quy định của pháp luật Tuân thủ đúng nghĩa vụ của mình với nhà nước, doanh nghiệp đã thực hiện tốt đạo đức kinh doanh của mình
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, theo chuyên gia của Ngân hàng Thế giới
được hiểu là “Cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền
vững thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới,
an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như
sự phát triển chung của xã hội” Trách nhiệm xã hội bao gồm 4 khía cạnh: kinh tế,
pháp lý, đạo đức và lòng bác ái (nhân văn)25
Có nhiều bằng chứng cho thấy trách nhiệm xã hội bao gồm đạo đức kinh doanh liên quan đến việc tăng lợi nhuận Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội ở một mức độ nào đó cũng góp phần điều chỉnh quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp Thuế như đã phân tích là một gánh nặng đối với mỗi doanh nghiệp nên theo tâm lý chung, doanh nghiệp nào cũng muốn tìm cách giảm gánh nặng đó cho doanh nghiệp mình Các giải pháp họ đưa ra bao gồm cả những giải pháp hợp pháp và không hợp pháp Nếu chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, doanh nghiệp sẽ lựa chọn cả những giải pháp không hợp pháp Nhưng khi doanh nghiệp xác định được ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội lên từng hành vi quản trị của mình, doanh nghiệp sẽ hướng đến vấn đề tuân thủ nghĩa
vụ thuế trong khuôn khổ sự cho phép của pháp luật Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội sẽ hướng doanh nghiệp đến việc loại bỏ những giải pháp phi pháp trong quá trình quản trị thuế của mình
24 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Chủ biên: PGS.TS Dương Thị Liễu (2013), Giáo trình Văn hóa kinh
doanh, NXB Đại học KInh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.106-107
25
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Chủ biên: PGS.TS Dương Thị Liễu (2013), Giáo trình Văn hóa kinh
doanh, NXB Đại học KInh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.108-109
Trang 33* Tiểu kết chương 1
Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là một tiến trình quản trị năng động và
có vai trò quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu với nhiều nguy cơ cạnh tranh từ các đối thủ trong và ngoài nước; với sự thay đổi liên tục của các chính sách kinh tế, chính trị, luật pháp để đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN tập trung vào vấn
đề tuân thủ các quy định của pháp luật về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trên cơ sở đảm bảo sự an toàn pháp lý trong hoạt động của doanh nghiệp và tìm kiếm các cơ hội tối ưu nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN, vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi doanh nghiệp
Quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN là một quá trình quản trị tương đối “nhạy cảm” và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp hoạt động chặt chẽ giữa các cấp quản lý, điều hành, các bộ phận, phòng ban và các cá nhân trong doanh nghiệp Kết quả quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi của các quan điểm, kinh tế của nhà nước và sự ổn định trong các chính sách kinh tế, pháp luật Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, bên cạnh
hệ thống pháp luật, cũng góp phần điều chỉnh quá trình tuân thủ nghĩa vụ thuế của mỗi doanh nghiệp
Vì vậy, để thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải có sự quan tâm và đầu tư đúng mức đến quá trình quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN trên cơ sở tuân thủ các quy định pháp luật, đảm bảo đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa các khoản lợi nhuận hợp pháp có thể thu được, làm cơ sở để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN QUẢN TRỊ TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP
2.1 Quản trị các đại lượng biến đổi trong cấu thành thuế Thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định tại Điều 6 Luật Thuế TNDN hiện hành, số thuế phải nộp được xác định theo công thức sau:
Số thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế × Thuế suất
Như vậy thu nhập tính thuế và thuế suất là 02 đại lượng trực tiếp quyết định số tiền thuế mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế Để tối ưu hóa số thuế phải nộp, doanh nghiệp phải tập trung vào việc quản trị 02 đại lượng này
2.1.1 Thu nhập tính thuế
Kết quả của khoản thu nhập tính thuế phụ thuộc vào 02 đại lượng chủ yếu là doanh thu và chi phí được trừ khi tính thuế TNDN Về nguyên tắc, doanh thu là đại lượng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên không có bất cứ doanh nghiệp nào muốn doanh thu của mình nhỏ hơn để nộp ít thuế hơn cho nhà nước Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế đối với đại lượng doanh thu được thể hiện qua việc điều chỉnh và ghi nhận doanh thu trong mỗi kỳ tính thuế sao cho phù hợp nhất với mục đích kinh doanh và đảm bảo lợi ích về thuế của doanh nghiệp
Đối với đại lượng Chi phí được trừ, như phân tích ở chương 1, Chi phí được trừ
và Thu nhập tính thuế là 02 đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau nên Thu nhập tính thuế càng thấp (dẫn đến chi phí thuế TNDN càng thấp) khi Chi phí được trừ càng cao Quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế TNDN đối với Chi phí được thực hiện bởi các cách thức ghi nhận chi phí sao cho tất cả các khoản chi phí phát sinh trong kỳ tính thuế được pháp luật cho phép trừ đều được đưa vào một cách đầy đủ nhằm hạn chế tối thiểu những khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập tính thuế
Kết quả quản trị Chi phí khi tính thuế được thể hiện ở tỷ trọng tổng chi phí được trừ khi tính thuế trên tổng chi phí của giao dịch hoặc dự án doanh nghiệp thực hiện Nếu tỷ trọng này càng cao và tỷ trọng tổng chi phí không được trừ khi tính thuế càng thấp thì hiệu quả quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế càng cao Với điều kiện không làm gia tăng tổng chi phí của dự án, giao dịch hoặc mức gia tăng tổng chi phí
đó nhỏ hơn khoản lợi ích thuế thu được từ các kế hoạch thuế trong quá trình thực hiện dự án, giao dịch đó
Trang 352.1.1.1 Doanh thu
Theo quy định của pháp luật hiện nay, thời điểm ghi nhận doanh thu được xác định dựa trên thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua đối với hàng hóa và thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ đối với dịch vụ Doanh thu được ghi nhận mà không phân biệt doanh nghiệp trên thực tế đã thu được tiền hay chưa Về nguyên tắc, cứ phát sinh doanh thu thì doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ thuế Nếu số lượng những khoản doanh thu phát sinh hợp pháp trên giấy tờ, sổ sách càng nhiều thì nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp càng cao trong khi bản thân doanh nghiệp trên thực tế chưa chắc đã thu được khoản tiền làm phát sinh nghĩa vụ đó Vấn đề này làm giảm hiệu quả của quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế trong doanh nghiệp
Để hạn chế những khoản thuế “oan” của doanh nghiệp, nhà quản trị Tài chính
và nhà quản trị Thuế phải thực hiện các giải pháp điều chỉnh kỳ doanh thu phù hợp nhất đối với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hạn chế tối
đa những khoản thu nhập không thực thu trên thực tế Một trong những giải pháp đó
là tìm cách đạt được sự thỏa thuận với các đối tác, khách hàng và sử dụng các cách thức chiết khấu thương mại để đảm bảo thời gian phát sinh doanh thu trên giấy tờ
và trên thực tế được thực hiện trong cùng một kỳ tính thuế
Tuy nhiên, đối với giải pháp sử dụng chiết khấu thương mại, khoản tiền chiết khấu này trong phương pháp kế toán được trừ trực tiếp vào chi phí hoạt động kinh doanh nhưng trong kê khai thuế, khoản tiền này không được giảm trừ mà được xếp vào khoản chi hỗ trợ chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh Khoản chi này nếu vượt quá 15% tổng chi được trừ thì được xếp vào khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập tính thuế26 Vì thế, khi sử dụng phương pháp này trong thỏa thuận doanh thu, nhà quản trị cần cân nhắc đến lợi ích cuối cùng mà doanh nghiệp có thể thu được sau khi trừ các chi phí liên quan đến giải pháp quản trị thuế này
Ngoài việc điều chỉnh kỳ doanh thu, cách thức ghi nhận và phân bổ doanh thu cũng ảnh hưởng đến kết quả quản trị tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Trên nguyên tắc giá trị tiền tệ giảm theo thời gian27, khi một khoản thuế được hoãn lại
26 Theo quy định tại Điểm e, Khoản 2, Điều 9, Nghị định 218/2013/NĐ-CP
27 Dưới góc độ tài chính, tiền tệ luôn thay đổi theo thời gian Với một giá trị tiền tệ nhất định ở thời điểm hiện tại, qua luân chuyển, giá trị tiền tệ vào thời điểm tương lai có khả năng thay đổi (tăng hoặc giảm) so với giá trị ban đầu, việc thay đổi có thể do tác động của các nhân tố như lãi đầu tư, lạm phát,…(Tham khảo tại: Tập thể tác giả: PGS.TS Phan Thị Cúc – TS Nguyễn Trung Trực – ThS Đoàn Văn Huy – ThS Đặng Thị