1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự việt nam

78 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, quyền thừa kế được hiểu là một chế định của pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy định pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá

Trang 1

NGUYỄN THỊ MINH THƠM

MSSV: 0955020010

THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Chuyên ngành Luật Dân sự

GVHD: Th.S HOÀNG THẾ CƯỜNG KHOA: LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 –LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THẾ VỊ 5

1.1 Lý luận chung về thừa kế 5

1.1.1 Khái niệm thừa kế 5

1.1.2 Thừa kế theo hàng thừa kế và mối quan hệ giữa thừa kế theo hàng thừa kế với thừa kế thế vị 8

1.2 Lý luận chung về thừa kế thế vị 13

1.2.1 Thừa kế thế vị theo quy định pháp luật Việt Nam 13

1.2.2 Thừa kế thế vị theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới 31

CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ 39

2.1 Thực trạng khi áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế thế vị 39

2.1.1 Trường hợp thừa kế thế vị thông thường 39

2.1.2 Trường hợp thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi 48

2.1.3 Trường hợp thừa kế thế vị giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế 53

2.1.4 Trường hợp thừa kế thế vị khi người được thế vị bị tước quyền thừa kế 57

2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng áp dụng quy định pháp luật về thừa kế thế vị 63

2.3 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về thừa kế thế vị 65

2.3.1 Trường hợp thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi 66

2.3.2 Trường hợp thừa kế thế vị giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế 67

2.3.3 Trường hợp thừa kế thế vị khi người được thế vị bị tước quyền thừa kế 68

KẾT LUẬN 70

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Nguyên tắc chung đối với chế định thừa kế là “Người thừa kế là cá nhân phải là

người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở

quyền hưởng di sản chỉ phát sinh khi và chỉ khi người được thừa kế còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc; sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế - đối với người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế (sau đây gọi chung là người còn sống) Nguyên tắc này càng được thể hiện cụ thể khi pháp luật quy định tại Điều 641 BLDS 2005 về

“Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm” Theo đó, những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời

điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm thì họ không được thừa kế di sản của nhau

Di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng Pháp luật đã loại trừ việc thừa kế tài sản của người chết này với người chết khác, khi họ có quyền thừa kế lẫn nhau Vì vậy, việc hưởng quyền thừa kế di sản chỉ đặt ra với những cá nhân còn sống

Pháp luật quy định nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế là hoàn toàn hợp lý Bởi tài sản thừa kế chỉ thực sự có giá trị khi là

một khối “tài sản sống” 2, nghĩa là được những người thừa kế sử dụng, duy trì và phát triển trên thực tế Việc chuyển dịch tài sản từ người chết này sang người chết khác là không có ý nghĩa Tuy nhiên, nguyên tắc này có một ngoại lệ, đó là trường hợp thừa kế thế vị quy định tại Điều 677 BLDS Theo đó, mặc dù người được hưởng di sản thừa kế

đã chết trước hoặc cùng thời điểm mở thừa kế nhưng chủ thể vẫn được phân chia di

sản thừa kế Tất nhiên, không phải bản thân họ - người đã chết trực tiếp được hưởng

Phần di sản mà đáng lẽ họ “…được hưởng, nếu còn sống”3 sẽ được dịch chuyển cho

1 Điều 635 BLDS 2005

2 Thuật ngữ của tác giả

3 Điều 677 BLDS 2005

Trang 5

người khác, những người có mối quan hệ thân thiết nhất với họ Theo quy định của pháp luật là con và cháu của người được hưởng di sản

BLDS 2005 thừa nhận hai hình thức của thừa kế là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc Nhưng có thể thấy, hình thức thừa kế chủ yếu hiện nay là hình thức thừa kế theo pháp luật Điều này thể hiện đặc biệt rõ ở vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa, khi các quy tắc xử sự vẫn mang nặng tính phong tục và tập quán Chính vì vậy, vai trò của các quy định phân chia di sản theo pháp luật nói chung và thừa kế thế

vị nói riêng, càng có ý nghĩa lớn khi có tranh chấp xảy ra Việc chia di sản theo pháp luật sẽ trở nên dễ dàng hơn khi xác định được chính xác diện và hàng thừa kế Mặc dù, thừa kế thế vị không phải là hàng thừa kế nhưng có thể thấy thừa kế thế vị và hàng thừa kế có mối quan hệ mật thiết với nhau Hàng thừa kế là căn cứ để xác định đối tượng được hưởng thừa kế thế vị và qua đó sẽ góp phần vào việc làm giảm thiểu sai sót khi phân chia di sản, tránh tình trạng xác định không đúng hoặc xác định thiếu người được hưởng di sản Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ thừa kế

Thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 BLDS Nhìn chung, điều luật quy định rõ ràng và dễ hiểu Tuy nhiên cũng như các luật thành văn khác, quy định ban hành khi chưa có sự kiểm chứng từ thực tiễn nên dễ dẫn các vấn đề pháp lý phát sinh sau khi áp dụng Thừa kế thế vị cũng gặp vấn đề tương tự Mặc dù thừa kế thế vị đã được sửa đổi bổ sung qua các thời kì nhưng vẫn chưa giải quyết được các vấn đề thực

tiễn đặt ra như: “cháu nuôi” hoặc “chắt nuôi” có được hưởng thừa kế thế vị hay

không? Hoặc trong trường hợp người được thế vị rơi vào trường hợp không có quyền hưởng di sản thì vấn đề thế vị còn được đặt ra với con hoặc cháu họ không? Điều này gây khó khăn lúng túng cho thẩm phán khi giải quyết vụ việc Và hệ quả là cùng một

vụ việc, cùng chịu sự điều chỉnh của một điều luật mà các Tòa án khác nhau lại có cách giải quyết khác nhau; gây nên sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật Xuất

Trang 6

phát từ những lí do trên mà tác giả quyết định chọn đề tài “Thừa kế thế vị theo quy

định của pháp luật dân sự Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

Thừa kế theo pháp luật là một trong những chế định quan trọng, có ý nghĩa không chỉ về mặt lí luận mà còn về thực tiễn Chính vì vậy, đề tài này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo các nhà khoa học pháp lý Tuy nhiên đối với riêng vấn đề thừa kế thế vị thì hiện nay (theo sự hiểu biết của tác giả) có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu Trong số ít các tài liệu chuyên về thừa kế thế vị có thể kể đến

“Thừa kế thế vị” của tác giả Nguyễn Thị Như Hương, “Bàn thêm về thừa kế thế vị” tác

giả Chế Mỹ Phương Đài, “Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận án” tác giả Đỗ

Văn Đại… Tác giả nhận thấy, đa phần các nghiên cứu trên đều đã được thực hiện trước khi BLDS 2005 ra đời, cũng như một số luật liên quan: Luật hôn nhân và gia đình năm

2000, Luật nuôi con nuôi 2010… chưa có hiệu lực pháp lý Vì vậy, chắc chắn rằng từ thời điểm các tác giả nghiên cứu đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiều thay đổi cả về lí

luận và thực tiễn Với khóa luận “Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự

Việt Nam”, tác giả xin khẳng định sẽ đưa ra các quan điểm mới nhất, phù hợp với tư

duy luật pháp trong giai đoạn hiện tại Quy định về thừa kế vị khi nghiên cứu sẽ được đặt trong mối tương quan với các quy định về thừa kế theo pháp luật nói chung, cùng các quy định pháp luật hiện hành khác có liên quan Qua đó, tác giả đánh giá sự tương thích giữa lí luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện tại, để có thể đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thừa kế thế vị Hi vọng rằng trong tương lai, khóa luận sẽ góp một phần nhỏ vào việc đẩy nhanh tiến trình áp dụng thống nhất pháp luật, đặc biệt

là trong các vụ việc có liên quan đến vấn đề thừa kế thế vị

Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam gồm tổng thể các quy phạm pháp luật về thừa kế thế vị qua các thời kỳ lịch sử như Pháp lệnh thừa kế

1990, BLDS 1995 và BLDS 2005 Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu quy định về thừa kế thế vị trong BLDS 2005 Bởi mục đích

mà khóa luận hướng tới là đề ra được những giải pháp phù hợp, góp phần hoàn thiện

Trang 7

pháp luật trong giai đoạn hiện tại Do đó chỉ khi nghiên cứu chế định thừa kế thế vị trong BLDS 2005 – bộ luật đang còn hiệu lực thi hành, tác giả mới có thể đạt được mục tiêu nghiên cứu Tuy nhiên, do pháp luật có tính kế thừa nên việc nghiên cứu chế định thừa kế thế vị trong BLDS 2005 tất yếu phải đặt trong mối tương quan với quy định pháp luật của nước ta trong các giai đoạn trước, cũng như pháp luật thế giới

Đặt việc nghiên cứu chế định thừa kế theo pháp luật nói chung, thừa kế thế vị nói riêng trong bối cảnh mở cửa, hội nhập thì việc nghiên cứu nhất thiết phải dựa trên

cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đặc biệt là quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật trong giai đoạn hiện tại Khóa luận

sử dụng chủ yếu phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu để khóa luận được hoàn thiện, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp…

Ngoài phẩn mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; khóa luận gồm hai nội dung chính sau:

Chương I: Lý luận chung về thừa kế và thừa kế thế vị

Chương II: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp

luật về thừa kế thế vị

Trang 8

CHƯƠNG 1 –LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THẾ VỊ 1.1 Lý luận chung về thừa kế

1.1.1 Khái niệm thừa kế

Lao động tạo ra mọi của cải trong xã hội Muốn thúc đẩy cá nhân hăng say lao động, phát huy đến mức cao nhất khả năng sáng tạo thì điều kiện cần thiết là xã hội phải bảo hộ những của cải do họ tạo lập được Sự bảo hộ của cải, tài sản của cá nhân không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo cho họ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài khi

họ còn sống Bởi con người tồn tại trên đời, tất yếu sẽ chết đi theo quy luật tự nhiên Lúc này, vấn đề quan trọng đặt ra là tài sản do họ vất vả, cố gắng tạo lập trong suốt cuộc đời sẽ được định đoạt như thế nào? Chính vì vậy, tài sản của cá nhân còn được tiếp tục bảo hộ ngay cả khi họ chết đi

Nhu cầu chuyển dịch tài sản từ thế hệ này sang thế hệ khác là một quy luật tất yếu khách quan tồn tại gắn liền với lịch sử loài người; tồn tại trong mọi xã hội, kể cả khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời Quá trình dịch chuyển tài sản giữa các thế hệ sẽ khiến tài sản được tiếp tục được duy trì, phát triển bởi những người còn sống Nghĩa là, tài sản được tiếp tục chiếm hữu, sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng Điều này sẽ tạo động lực to lớn thúc đẩy xã hội phát triển

Trong xã hội hiện tại, khi quyền tư hữu của cá nhân ngày càng được đề cao thì

sự bảo hộ của nhà nước về sở hữu và thừa kế được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ vững mạnh của một quốc gia Bởi một nhà nước muốn tồn tại và phát triển thì không thể không dung hòa lợi ích giữa cá nhân và lợi ích của cộng đồng, hạn chế đến mức thấp nhất mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Để hiểu và nhận thức đầy đủ về chế định thừa kế, trước hết cần phải tìm hiểu khái niệm về thừa kế Theo Bình luận khoa học BLDS năm 2001 của Bộ tư pháp thì từ

“thừa” và từ “kế” đều có nghĩa là sự nối tiếp, kế tục, tiếp theo Còn theo từ điển giải

thích thuật ngữ luật học thì “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho

những người còn sống Thừa kế luôn gắn liền với chủ sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết

Trang 9

định thừa kế và thừa kế là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ thừa kế” 4 Như vậy, thừa kế được hiểu là việc truyền lại di sản từ đời này sang đời khác, khi cá nhân – chủ sở hữu của tài sản chết đi

Nhu cầu nối tiếp, kế tục của cá nhân không chỉ là nhu cầu về mặt vật chất, mà còn là nhu cầu kể cả về mặt tinh thần như sự trọng thị, uy tín… Tuy nhiên, khi so sánh

sự kế thừa giữa tinh thần và vật chất thì có thể thấy, sự kế thừa về vật chất quan trọng

và phức tạp hơn rất nhiều so với kế thừa về tinh thần Bởi theo quan điểm triết học thì vật chất quyết định ý thức, do đó pháp luật về thừa kế chỉ thừa nhận trong luật định sự

kế thừa về mặt vật chất Tuy nhiên, không phải bất cứ vật chất nào tồn tại trong thế giới khách quan cũng là đối tượng thừa kế Theo Điều 163 BLDS 2005 thì chỉ tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản mới được xem là di sản để lại thừa kế theo pháp luật Mặc dù, việc người thừa kế được thừa hưởng các lợi ích khác gắn liền với nhân thân người chết như uy tín, sự trọng thị, danh tiếng,… không được pháp luật thừa nhận Nhưng trong thực tế, việc kế thừa những lợi ích này lại được xã hội thừa nhận tự nhiên như một sự tất yếu Và đôi khi trong một số trường hợp có thể khẳng định, những lợi ích này còn mang lại giá trị lớn hơn gấp nhiều lần so với tài sản hữu hình

Nếu thừa kế tồn tại khách quan, ra đời ngay từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật thì quyền thừa kế lại chỉ có thể phát sinh khi nhà nước và pháp luật ra đời Chế định quyền thừa kế chính là việc nhà nước dùng công cụ pháp luật bảo hộ cho quyền sở hữu của cá nhân thông qua thừa kế Do vậy, quyền thừa

kế được hiểu là một chế định của pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy định pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người sống theo ý chí của người

để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật Quyền thừa kế của cá nhân được BLDS

4

Trường ĐH Luật Hà Nôi (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, tr.123

Trang 10

2005 quy định tại Điều 631 như sau “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài

sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Như vậy, người để lại di sản có thể duy trì quyền sở

hữu tư nhân của mình bằng cách lập di chúc thể hiện ý chí cá nhân, định đoạt tài sản sau khi chết Hoặc trong trường hợp không có di chúc, quyền sở hữu của người chết vẫn được bảo hộ một cách hợp lý thông qua hình thức thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật là hai hình thức thừa kế được pháp luật thừa nhận và bảo vệ khi quy định rõ ràng, lần lượt tại chương XXIII và chương XXIV của BLDS 2005 Về cơ bản thì thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật khác nhau ở những điểm như ý chí của người để lại di sản, đối tượng được hưởng thừa kế, căn cứ và cách thức phân chia di sản thừa kế… Theo đó, nếu chia di sản theo di chúc thì người được hưởng di sản thừa kế trong trường hợp này có thể là bất cứ ai, bất cứ người nào, thuộc hoặc không thuộc với các cá nhân được quy định trong hàng thừa kế Tuy nhiên, trong một vài trường hợp ngoại lệ, cần thiết để đảm bảo

vệ quyền lợi chính đáng của các đối tượng như: cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động5

thì pháp luật cũng sẽ can thiệp

Thừa kế theo pháp luật căn cứ vào điều kiện và trình tự phân chia theo pháp luật Việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật được phân định dựa trên nhiều yếu tố khác nhau và được thay đổi tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội

Ví dụ như việc xác định những đối tượng nào được hưởng thừa kế Mặc dù pháp luật

có quy định cụ thể nhưng không phải bao giờ cũng xác định được một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác Chủ thể thuộc diện thừa kế được xác định phụ thuộc vào mối quan hệ gần gũi với người để lại di sản Theo đó, căn cứ vào mức độ gần gũi mà những người thừa kế được sắp xếp lần lượt vào ba hàng thừa kế Căn cứ làm phát sinh

5 Điều 669 BLDS 2005

Trang 11

quan hệ thừa kế theo pháp luật chỉ dựa trên ba mối quan hệ cơ bản được pháp luật thừa nhận là quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng

1.1.2 Thừa kế theo hàng thừa kế và mối quan hệ giữa thừa kế theo hàng thừa kế với thừa kế thế vị

1.1.2.1 Thừa kế theo hàng thừa kế

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế và diện thừa kế Diện thừa

kế là phạm vi những người có quyền được hưởng di sản theo quy định của pháp luật được xác định dựa trên quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa những người thừa kế với người để lại di sản thừa kế Và căn cứ vào mối quan hệ gần gũi, thân thích với người để lại di sản thừa kế, pháp luật quy định những người trong diện thừa kế thành các hàng thừa kế Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của đề

tài “Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” tác giả chỉ tập trung

nghiên cứu thừa kế theo pháp luật dưới góc độ là thừa kế theo hàng thừa kế Theo đó, thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định6

Các Thông tư số 1742, Thông tư 594 và Thông tư 81 ra đời trước khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 ban hành đều chỉ quy định hàng thừa kế gồm hai hàng Do sự hạn chế đó mà một vài cá nhân có quan hệ gần gũi về mặt huyết thống với người để lại di sản không được xếp vào hàng thừa kế như: cụ nội, cụ ngoại, chú, bác, cô, dì,… Cùng với quá trình xây dựng và phát triển thì đến nay, pháp luật về thừa kế đã có nhiều sửa đổi đáng chú ý, đặc biệt là việc quy định hàng thừa kế gồm ba hàng thay vì hai hàng như trước đây Theo khoản 1, Điều 676 BLDS 2005 thì pháp luật đã quy định hàng thừa kế gồm ba hàng thừa kế như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con

đẻ, con nuôi của người chết

6Trường ĐH Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân, tr.340

Trang 12

Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

Việc quy định ba hàng thừa kế như trên, so với pháp luật dân sự trước đây thì BLDS 2005 đã liệt kê thêm một số cá nhân có mối quan hệ gần gũi với người để lại di sản về trực hệ và bàng hệ đã góp phần làm cho pháp luật thừa kế phù hợp hơn so với thực tiễn đời sống xã hội Đồng thời, quy định trên càng góp phần củng cố quyền sở hữu và quyền thừa kế của công dân, một trong những quyền quan trọng được Hiến pháp 1992 thừa nhận7

Với việc mở rộng chủ thể được quyền hưởng di sản thì sẽ hạn chế đến mức thấp nhất trường hợp tài sản của người chết bị xung công, thuộc sự quản

lý cùa Nhà nước thay vì thuộc về người có quan hệ gần gũi với người để lại di sản

Khi một người còn sống, mối quan hệ giữa họ với những người khác trong xã hội là rất đa dạng và phong phú Đó có thể là mối quan hệ xã giao hoặc thân tình như bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm… Khi người để lại di sản chết mà không để lại di chúc thì yêu cầu cần thiết được đặt ra là phải giới hạn được phạm vi những người có quan hệ thân thích với người chết Pháp luật cần phải có sự chắt lọc, giới hạn một số quan hệ thật sự gần gũi và thân thích nhằm tránh việc chia di sản trở nên manh mún, nhỏ lẻ đến mức thực tế không mang lại lợi ích gì cho người được hưởng di sản Xuất phát từ lí do

đó mà pháp luật chỉ dựa trên ba mối quan hệ đó là quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng giữa người để lại di sản và người thừa kế để phân chia hàng thừa kế

7 Điều 58 Hiến pháp 1992

Trang 13

Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận “Thừa kế thế vị theo quy định của

pháp luật dân sự hiện hành”, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ huyết thống và

quan hệ nuôi dưỡng Bởi đây là những quan hệ gắn bó mật thiết với chế định thừa kế thế vị Theo điểm C.3, Phần 1 Nghị quyết 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23-12-2000 của

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" thì: “Giữa những người cùng dòng máu về trực

hệ là giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại Giữa những người

có họ trong phạm vi ba đời là giữa những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba” Như vậy, có thể

hiểu quan hệ huyết thống gồm quan hệ huyết thống trực hệ và quan hệ huyết thống bàng hệ Trong đó, quan hệ huyết thống trực hệ là quan hệ huyết thống được xác định theo chiều dọc Ví dụ: quan hệ giữa các cụ, ông bà, cha mẹ và các cháu là quan hệ huyết thống trực hệ Còn quan hệ huyết thống bàng hệ là quan hệ huyết thống theo chiều ngang, là việc các thành viên khác trong gia đình có cùng chung một “gốc” sinh

ra như: anh, chị, em cùng cha mẹ sinh ra hoặc cô, dì, chú, bác được cùng ông bà sinh ra… Đây được xem như cơ sở nền tảng để xác định hàng thừa thừa kế theo pháp luật từ xưa đến nay và không biến động nhiều qua các thời kì pháp luật

Ngoài quan hệ huyết thống, thừa kế theo hàng thừa kế còn phát sinh trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng Quan hệ nuôi dưỡng được hiểu là quan hệ được xác lập trên cơ sở nuôi dưỡng được pháp luật thừa nhận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi Đồng thời, quan

hệ nuôi dưỡng còn phát sinh giữa cha kế, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng nếu giữa họ có quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc nhau như cha con, mẹ con8

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa thừa kế theo hàng thừa kế và thừa kế thế vị

Quan hệ thừa kế theo hàng và quan hệ thừa kế thế vị đều chỉ phát sinh trong trường hợp không có di chúc, hoặc di chúc không phát sinh hiệu lực theo điều kiện luật

8

Trường ĐH Luật Tp.HCM Khoa Luật dân sự, Tập bài giảng tài sản và thừa kế, tr.330

Trang 14

định Bởi đối với hình thức thừa kế theo di chúc thì nội dung di chúc đã thể hiện rõ ràng ý chí của người để lại di sản thừa kế Người để lại di sản thừa kế đã định đoạt tài sản sẽ chuyển dịch cho từng cá nhân cụ thể Trong trường hợp, người thừa kế còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì họ sẽ được nhận phần di sản thừa kế theo nội dung di chúc Như vậy, vấn đề thừa kế thế vị hay thừa kế theo hàng sẽ không được đặt ra

Về bản chất, quan hệ thừa kế thế vị và quan hệ thừa kế theo hàng là hai quan hệ pháp luật thừa kế khác nhau Thừa kế thế vị ra đời với mục đích chủ yếu là bảo vệ quyền lợi của con, cháu người thừa kế trong trường hợp người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm mở thừa kế Còn thừa kế theo hàng (bậc) là hình thức thừa kế dựa trên cơ sở quan hệ bậc trên, bậc dưới đối với người thừa kế trong quan hệ huyết thống được thế chân người ở bậc trước đã chết hoặc người ở bậc trước đó không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản9 Tức là người thừa kế ở hàng trên sẽ loại trừ thừa kế ở hàng dưới Người thừa kế hàng dưới chỉ được thừa kế nếu rơi vào ba trường hợp sau: hàng trên đã chết hết hoặc không có ai ở hàng trên có quyền hưởng thừa kế hoặc tất cả người thừa kế ở hàng trên đã từ chối quyền hưởng thừa kế

Thừa kế thế vị đã loại bỏ trường hợp người thế vị được quyền hưởng thừa kế khi người được thế vị không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản Theo

đó, chỉ khi người được thế vị chết thì quyền thừa kế thế vị của người thế vị mới phát sinh Và phạm vi chủ thể được hưởng quyền thừa kế thế vị cũng bị bó hẹp hơn rất nhiều so với thừa kế theo hàng Thừa kế thế vị chỉ xoay quanh con và cháu của người thừa kế Trong khi đó, chủ thể thừa kế theo hàng được mở rộng ra không chỉ trong phạm vi trực hệ mà còn bàng hệ đối với người để lại di sản

Thừa kế theo hàng thừa kế phát sinh dựa trên ba mối quan hệ: quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng Trong khi đó, cơ sở xác định thừa kế thế vị chỉ dựa trên hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi

9Phùng Trung Tập (2004), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Nxb Tư pháp,

tr.205

Trang 15

dưỡng Theo đó, vợ hoặc chồng không thuộc trường hợp được hưởng thừa kế thế vị, khi vợ hoặc chồng chết trước thời điểm mở thừa kế Có thể thấy, thừa kế thế vị quan tâm và đề cao mối quan hệ huyết thống, đặc biệt là huyết thống trực hệ Còn thừa kế theo hàng thì có sự bình đẳng tương đối giữa ba mối quan hệ trên

Tuy thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng thừa kế có sự khác biệt nhưng giữa hai chế định này lại có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời Hàng thừa kế, mà cụ thể

là hàng thừa kế thứ nhất, chính là căn cứ quan trọng để xác định chủ thể nào được hưởng thừa kế thế vị Khi một người qua đời không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ là những người

được ưu tiên hưởng di sản thừa kế của người chết Chỉ khi “con của người để lại di sản

chết” – tức những người thừa kế hàng thứ nhất, chết trước hoặc chết cùng thời điểm

với người để lại di sản thì vấn đề thừa kế thế vị mới được đặt ra Như vậy, sự kiện

“chết” của những người thừa kế ở hàng thứ nhất là căn cứ pháp lý để phát sinh thừa kế

thế vị

Mối quan hệ giữa thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng thừa kế còn thể hiện ở việc xác định cá nhân hưởng thừa kế thế vị Điều 677 BLDS 2005 quy định về cá nhân

hưởng thừa kế thế vị là “cháu được hưởng” và “chắt được hưởng”, như vậy cháu và

chắt ở đây xác định như thế nào? Trong khi cháu và chắt của người để lại di sản thừa

kế gồm cả cháu hoặc chắt có quan hệ huyết thống trực hệ và quan hệ huyết thống bàng

hệ Nghĩa là cháu hoặc chắt này không chỉ do con ruột và cháu ruột sinh ra, mà còn có thể do cháu bàng hệ sinh ra Chính vì vậy, để xác định cá nhân được hưởng thừa kế thế

vị cần thiết phải xét đến hàng thừa kế của người để lại di sản Theo đó, chỉ con hoặc cháu của người thừa kế thứ nhất của người để di sản, chết trước hoặc cùng thời điểm

mở thừa kế thì mới là người được xét hưởng thừa kế thế vị Do mối quan hệ trên mà hệ quả tất yếu kéo theo là nếu xác định sai người thừa kế thứ nhất thì chắc chắn việc xác định người thừa kế thế vị cũng sai Vì vậy, thừa kế thế vị gắn bó mật thiết với hàng thừa kế thứ nhất Và điều này đóng vai trò hết sức quan trọng khi, một mặt đảm bảo sự

Trang 16

chính xác trong quá trình phân chia di sản thừa kế của cơ quan có thẩm quyền, một mặt đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế

Tóm lại, thừa kế theo hàng thừa kế và thừa kế thế vị là hai dạng thừa kế theo pháp luật và chúng không đồng nhất với nhau Tuy nhiên, thừa kế theo hàng thừa kế và thừa kế thế vị lại có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời Thừa kế theo hàng thừa

kế là vừa là cơ sở làm phát sinh thừa kế thế vị, vừa là cơ sở xác định cá nhân được hưởng thừa kế thế vị, đồng thời cũng là căn cứ quan trọng để phân chia di sản của những người thừa kế thế vị

1.2 Lý luận chung về thừa kế thế vị

1.2.1 Thừa kế thế vị theo quy định pháp luật Việt Nam

1.2.1.1 Khái niệm thừa kế thế vị

Pháp luật hiện hành bảo đảm quyền thừa kế của cá nhân “hưởng di sản theo di

chúc hoặc theo pháp luật” 10 Vậy cá nhân hưởng quyền thừa kế nhân danh ai? Tất

nhiên, trong các trường hợp thông thường cá nhân nhân danh chính bản thân mình để hưởng di sản thừa kế Bởi quyền thừa kế là quyền gắn liền với nhân thân và không thể chuyển giao được cho bất kì cá nhân nào khác, kể cả thừa kế theo hình thức thừa kế theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc Người thừa kế muốn nhận được di sản bắt buộc phải tuân thủ điều kiện luật định như phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hay sinh ra và còn sống nhưng đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế11 Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt cá nhân có thể nhân danh người khác – người đã chết, với tư cách đại diện thay thế người đó nhận di sản Trường hợp đó là trường hợp thừa kế thế vị

Thừa kế thế vị là gì? Rõ ràng, đây không phải là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện, mới được thừa nhận trên thế giới và cả ở Việt Nam Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, thừa kế thế vị có thể được các nhà làm luật gọi với các tên gọi khác nhau

10 Điều 631 BLDS 2005

11 Điều 635 BLDS 2005

Trang 17

như: sự đại hưởng, sự đại diện… Nhưng nội hàm của các thuật ngữ không có sự khác biệt, khi về bản chất đều chỉ sự thay thế của người thế vị đối với người được thế vị để nhận di sản thừa kế Nghĩa là chế định đều nhằm bảo vệ quyền lợi của những người gần gũi nhất với người thừa kế, trong trường hợp người thừa kế chết trước thời điểm

mở thừa kế

BLDS 2005 đã quy định về thừa kế thế vị tại Điều 677 như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống” Có

thể thấy, điều luật chỉ xác định được các vấn đề về các trường hợp thừa kế thế vị và đối tượng được hưởng thừa kế thế vị Theo đó, thừa kế thế vị được đặt ra trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản

hoặc; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản Và

đối tượng được hưởng thừa kế thế vị cũng được quy định rất rõ bao gồm cháu hoặc chắt của người để lại di sản thừa kế Tuy nhiên, cũng giống như các điều luật quy định

về thừa kế thế vị trước khi BLDS 2005 ra đời, định nghĩa về thừa kế thế vị vẫn chưa được xác định rõ trong luật

Theo nghĩa Hán – Việt thì từ “thế” có nghĩa là “thay vào”; từ “vị” có nghĩa là

“ngôi thứ”, “ngôi vị”, “vị trí” Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của

Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1999 có định nghĩa “Thừa kế thế vị là thừa

kế bằng việc thay thế vị trí để hưởng thừa kế” Ngoài ra, các nhà khoa học pháp lý

cũng đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về thừa kế thế vị Ví dụ như TS Phùng Trung Tập đã định nghĩa thừa kế thế vị là việc cháu hoặc chắt thế chân người cha hoặc người mẹ hoặc ông nội hoặc bà nội, ngoại đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với ông, bà hoặc các cụ để hưởng di sản của người là ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại chết sau hoặc chết cùng vào một thời điểm với cha hoặc mẹ hoặc ông, bà

Trang 18

nội, ngoại của cháu12 Hay như trong cuốn Luật thừa kế Việt Nam – bản án và bình

luận án, PGS – TS Đỗ Văn Đại cũng đã định nghĩa thừa kế thế vị là trường hợp con

cháu của người thừa kế thế vào vị trí của người thừa kế để hưởng di sản do người quá

cố để lại13

Như vậy, từ quá trình nghiên cứu có thể rút ra kết luận, thừa kế thế vị là việc

cháu hoặc chắt của người để lại di sản thay thế vào vị trí của người thừa kế để hưởng thừa kế, khi người thừa kế của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm

mở thừa kế

1.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển thừa kế thế vị

Pháp luật khi ra đời, muốn được áp dụng trên thực tế thì đòi hỏi pháp luật phải được xây dựng trên nền tảng kinh tế, xã hội… phù hợp Chính vì vậy mà tùy từng giai đoạn lịch sử, pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng sẽ được nhà làm luật xây dựng khác nhau, đáp ứng được yêu cầu trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định Nghiên cứu pháp luật qua các thời kì lịch sử sẽ giúp quá trình đánh giá pháp luật toàn diện và chính xác hơn

Pháp luật thừa kế thế vị thời phong kiến

Pháp luật phong kiến hàng ngàn năm lịch sử đã ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn hóa của dân tộc Nhiều quy định pháp luật đã trở thành chuẩn mực đạo đức chung được cả xã hội tự nguyện tuân theo như quan điểm về chữ hiếu, về nếp sống vợ chồng… Riêng chế định thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng, phạm vi ảnh hưởng không chỉ giới hạn trong thời đại phong kiến mà nó được ban hành Chế định thừa kế thế vị còn để lại những ảnh hưởng về sau khi xâm nhập vào phong tục tập quán của nhân dân, là nguồn luật dẫn chiếu giải quyết các vụ việc vào giai đoạn Pháp thuộc

ở miền Nam khi pháp luật không quy định về thừa kế

12Phùng Trung Tập (2008), Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, tr.107

13Đỗ Văn Đại (2013), Luật thừa kế Việt Nam – bản án và bình luận án, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tr.308

Trang 19

Do tình hình lịch sử đặc thù mà hầu như những bộ luật thời phong kiến của nước ta đều không còn lưu truyền được đến ngày nay Từ những tư liệu lịch sử ít ỏi còn sót lại, có thể nhận thấy hai bộ luật nổi bật, tiêu biểu cho giai đoạn phong kiến từ thế

kỷ XV là Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) Tuy cả hai bộ luật đều không quy định thừa kế làm chương riêng nhưng các vấn đề cơ bản về di sản, hương hỏa, người quản lý di sản, người thừa kế vẫn được quy định khá rõ ràng

Trong Bộ luật Hồng Đức, vấn đề thừa kế được quy định từ Điều 374 đến Điều

400 Theo pháp luật thời Lê, khi bố mẹ chết con cái được hưởng thừa kế toàn bộ tài sản

và được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất Quyền thừa kế tuyệt đối này được pháp luật

bảo vệ Điều 377 Quốc triều hình luật có quy định “Khi chồng chết, con còn nhỏ, mẹ đi

cải giá mà lại đem bán điền sản của con thì bị xử phạt 50 roi, trả lại tiền cho người mua, trả ruộng cho con…” và Điều 379 cũng nghiêm cấm người trưởng họ không

được bán tài sản của con cháu nếu cha mẹ, ông bà họ đều bị chết Như vậy, những người quản lý tài sản thuộc quyền thừa kế của con khi con còn nhỏ không được tự ý giao dịch tài sản, họ chỉ đóng vai trò là người quản lý giúp và phải giao lại cho con cái của người để lại di sản khi chúng trưởng thành

Theo Quốc triều hình luật, hàng thừa kế thứ nhất được xác định gồm tất cả các con: con gái cũng như con trai, con vợ lẽ cũng như con vợ cả, con nuôi cũng như con

đẻ đều có quyền thừa kế Đây là sự tiến bộ, đặc sắc của pháp luật thời Lê khi thừa nhận

sự bình đẳng giữa các con trong gia đình Tuy nhiên, do hạn chế về mặt lịch sử mà mức

độ và phần hưởng của các con có thể khác nhau: các con trai (và nhất là con trai trưởng), con vợ cả và con đẻ thường được nhiều di sản thừa kế hơn (Điều 380, 388 Quốc triều hình luật)

Bộ luật Hồng Đức không đề cập đến vấn đề thừa kế thế vị Tuy nhiên , có thể thấy mầm mống của chế định thừa kế thế vị đã bắt đầu xuất hiện, thông qua việc quy định về việc phân chia ruộng đất để làm ruộng hương hỏa (thờ cúng cha mẹ, tổ tiên)

Trang 20

Theo đó, phần ruộng này về nguyên tắc sẽ giao cho con trai trưởng Tuy nhiên, nếu con trai trưởng chết thì sẽ giao cho cháu trai trưởng (cháu đích tôn) Như vậy, có thể nhận thấy việc phân chia di sản này đã ít nhiều mang bản chất của thừa kế thế vị Nghĩa là, việc thừa kế ruộng đất hương hỏa của cháu đích tôn chỉ có thể được đặt ra khi cha cháu chết trước ông bà, là người để lại di sản Nếu cha cháu con sống vào thời điểm mở thừa

kế thì mặc nhiên, cháu cũng sẽ mất đi quyền thừa kế tài sản là ruộng hương hỏa của ông bà

Mặc dù giai đoạn này quy định về thừa kế thế vị chưa được nhà làm luật quy định trong luật, tuy nhiên gián tiếp thông qua các quy định khác, các quy định có mối quan hệ mật thiết với chế định thừa kế thế vị như quyền thừa kế của con gái và quyền thừa kế của con nuôi, có thể nhận thấy tinh thần của pháp luật về vấn đề thừa kế của các cá nhân này Đây là cơ sở xây dựng pháp luật cho các giai đoạn sau, khi chế định thừa kế thế vị ra đời, được thừa nhận rõ ràng trong luật

Như đã trình bày, điểm tiến bộ của pháp luật thời Lê là sự bình đẳng về quyền thừa kế giữa các con trai và con gái Như vậy, vượt qua rào cản phong kiến về tư tưởng

“trọng nam khinh nữ” pháp luật đã bảo vệ quyền thừa kế của những người gái, những

người có quan hệ huyết thống gần gũi với người để lại di sản Đây là cơ sở để giai đoạn sau, khi thừa kế thế vị được thừa nhận thì cháu ngoại hoặc chắt ngoại cũng được xét thừa kế thế vị khi mẹ cháu chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông bà ngoại

Về vấn đề thừa kế của con nuôi: trong giai đoạn này, pháp luật đã quy định rất

rõ ràng về quyền thừa kế của con nuôi với gia đình cha mẹ nuôi và gia đình cha mẹ đẻ

Theo đó, Điều 380 Quốc triều hình luật quy định “Con nuôi nào có văn tự là con nuôi

và ghi trong giấy rằng sau sẽ chia điền sản cho, khi cha mẹ nuôi chết không có chúc thư, điền sản chia cho con đẻ và con nuôi Nếu người trưởng họ chia không đúng phép thì phạt 50 roi, biếm 1 tư Nếu trong giấy của con nuôi không ghi là sẽ chia điền sản

Trang 21

thì không dùng luật này”14 Nghĩa là, nếu trong văn tự nhận con nuôi cha mẹ nuôi không ghi nhận cho con nuôi quyền thừa kế kế di sản thì con nuôi đương nhiên không

có quyền thừa kế với cha mẹ nuôi và gia đình cha mẹ nuôi

Trong trường hợp con nuôi không được ghi nhận quyền thừa kế trong văn tự nhận con nuôi thì khi cha mẹ chết, con nuôi chỉ có thể được xác định là người thừa tự của cha mẹ nuôi Ngay cả khi cha mẹ nuôi không có con ruột thì con nuôi cũng không được nhận di sản mà chỉ được phép quản lý di sản Con nuôi chỉ có nghĩa vụ quản lý di sản của cha mẹ nuôi để lấy hoa lợi, lợi tức phục vụ cho việc thờ cúng cha mẹ nuôi Khi con nuôi chết đi, phần di sản này sẽ được giao cho người kế tự khác tiếp tục quản lý Như vậy, con nuôi trong quan hệ về thừa kế với cha mẹ nuôi, cũng như người thân của cha mẹ nuôi có vai trò hết sức mờ nhạt và không được xem trọng Bởi thế có thể hiểu, nếu giai đoạn này chế định thừa kế thế vị được đặt ra thì con nuôi hay cháu nuôi cũng không được thừa hưởng thừa kế thế vị

Trường hợp con nuôi được ghi nhận quyền thừa kế của cha mẹ nuôi trong văn tự nhận nuôi con nuôi thì việc phân chia di sản cho con nuôi được tiến hành như sau

“…điền sản chia làm ba phần, con đẻ hai phần, con nuôi một phần; nếu không có con

đẻ mà con nuôi cùng ở với cha mẹ từ thủa bé thì được cả, nếu không ở từ bé thì con

không có chúc thư thì di sản của cha mẹ nuôi chia làm ba phần, con đẻ được hưởng hai phần và con nuôi được hưởng một phần Trong trường hợp, cha mẹ nuôi không có con

đẻ mà con nuôi ở với cha mẹ nuôi từ bé thì con nuôi được hưởng toàn bộ di sản của cha mẹ nuôi để lại Tuy nhiên, nếu con nuôi không ở với cha mẹ nuôi từ bé thì con nuôi chỉ được hưởng hai phần và còn một phần dành cho người thừa tự

Ngoài ra, pháp luật còn quy định về quyền thừa kế giữa con nuôi và gia đình cha

mẹ đẻ Điều 381 Quốc triều hình luật quy định “Những người đã làm con nuôi người

14 Quốc triều hình luật (2003), Nxb Tp.HCM

15 Điều 380, Quốc triều hình luật (2003), Nxb Tp.HCM, tr.49

Trang 22

khác họ rồi mà lại về tranh điền sản của người tuyệt tự 16 trong họ thì được chia bằng một phần hai phần của người thừa tự Trái luật thì xử phạt 80 trượng Nếu không được

thiện chính thư pháp luật cũng quy định: “Người đã làm con nuôi người khác và đã

hưởng thừa kế của cha mẹ nuôi thì chỉ được hưởng một nửa số tài sản mà cha mẹ đẻ

để lại” Như vậy, có thể hiểu trong mọi trường hợp, quan hệ thừa kế giữa người con đã

cho đi làm con nuôi và gia đình cha mẹ đẻ không chấm dứt hoàn toàn Ngay cả khi người con đã cho đi làm con nuôi sinh sống với gia đình cha mẹ nuôi từ nhỏ và được hưởng trọn vẹn di sản thừa kế của cha mẹ nuôi thì người con đó vẫn được hưởng một

nửa số tài sản do cha mẹ đẻ để lại Tư tưởng “một giọt màu đào hơn ao nước lã”, đề

cao quan hệ huyết thống trong chế định thừa kế là nguyên nhân chính dẫn đến hệ quả, pháp luật không thừa nhận sự chấm dứt giữa người con đã cho đi làm con nuôi và cha

mẹ đẻ, dù chỉ là về mặt pháp lý

So với pháp luật thời Lê, pháp luật thời Nguyễn có rất ít quy định về vấn đề thừa kế Quy định về thừa kế chỉ được quy định trong một vài điều khoản tại Quyển 6 – Hộ luật của Bộ luật Gia Long Tuy vậy, điểm đáng chú ý là trong các quy định về thừa kế, chế định thừa kế thế vị đã được pháp luật đề cập đến Mặc dù các quy định về thừa kế thế vị vẫn còn khá đơn giản, không dự liệu được tất cả các trường hợp của thừa

kế thế vị nhưng về cơ bản, một số nguyên tắc của chế định đã được đặt ra và còn duy trì đến ngày nay Trong trường hợp cha mẹ không để lại di chúc thì tài sản được chia đều cho các con trai, không phân biệt con do thê hay thiếp sinh ra Nếu người con nào

đã chết thì con của người đó sẽ được thay thế vào vị trí của cha mẹ để nhận tài sản của ông bà Như vậy, có thể thấy ngay từ trong giai đoạn này, pháp luật đã xác định thừa kế thế vị chỉ được đặt ra đối với thừa kế theo pháp luật và với trường hợp luật định là người được thế vị chết trước người để lại thừa kế Đối với trường hợp người được thế

16 Người tuyệt tự là người không có con nối dõi

17 Quốc triều hình luật (2003), Nxb Tp.HCM,tr.49

Trang 23

vị chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì pháp luật giai đoạn này không quy định

Ngoài ra, đặc trưng pháp luật của giai đoạn này là chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo, của pháp luật triều nhà Thanh (Trung Quốc) Chính vì vậy nên tư tưởng phân biệt nam nữ thể hiện rõ qua quy định của pháp luật Theo đó, tài sản thừa kế chỉ dành cho các con trai Con gái không được hưởng thừa kế theo pháp luật khi cha mẹ không để lại di chúc Việc người con gái không đươc hưởng thừa kế đã dẫn đến hệ quả

là, quyền thừa kế thế vị trong giai đoạn này chỉ được đặt ra với các cháu dòng nội mà không được đặt ra với các cháu dòng ngoại

Tuy dòng cháu ngoại không được hưởng thừa kế thế vị nhưng điều này không ảnh hưởng đến số lượng cá nhân được xét hưởng thừa kế thế vị Có thể nói trong giai đoạn này, phạm vi cá nhân được xét hưởng thừa kế thế vị là rộng nhất so với các giai đoạn khác trong lịch sử Nếu pháp luật hiện tại chỉ giới hạn người thừa kế thế vị là cháu hoặc chắt, những người những người thuộc mối quan hệ thứ hai hoặc thứ ba trong hàng thừa kế thứ nhất, có quan hệ trực hệ với người để lại di sản thì trong giai đoạn này, pháp luật quy định ở phạm vi rộng hơn Theo đó, thừa kế thế vị không chỉ được đặt ra với con đẻ mà còn được đặt ra với cả các cháu trai thúc bá, cháu gọi người chết

là bác hoặc chú ruột

Khi người để lại thừa kế không có con hoặc chỉ có con gái mà không có con trai thì người được thừa kế sẽ là các cháu trai thúc bá Nếu các cháu trai thúc bá chết trước thời điểm mở thừa kế thì các con của cháu sẽ được thừa kế phần mà cháu được hưởng nếu còn sống Như vậy, giữa người thừa kế thế vị và người để lại di sản không có mối quan hệ trực hệ với nhau mà chỉ có mối quan hệ bàng hệ Vì các cháu trai thúc bá không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản, nên người thừa kế thế vị trong trường hợp này thuộc mối quan hệ thứ hai hoặc thứ ba trong hàng thừa kế thứ hai của người thừa kế, mà không phải là hàng thừa kế thứ nhất như pháp luật hiện hành

Trang 24

Quan điểm lập pháp này cũng đã được pháp luật ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ kế thừa và phát huy trong giai đoạn sau, giai đoạn pháp luật thời kì Pháp thuộc

Pháp luật thừa kế thế vị thời Pháp thuộc

Trong thời kỳ Pháp thuộc, ở nước ta tồn tại ba bộ luật gồm: Bộ luật Nam Kỳ giản yếu (năm 1883), Dân luật Bắc Kỳ (năm 1931) và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật (năm 1936) Hai bộ luật Dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật được xây dựng dựa trên cơ sở của bộ luật dân sự Pháp năm 1804 Tuy nhiên, đây không phải là

sự học tập một cách rập khuôn, máy móc Bên cạnh việc tiếp thu điểm tiến bộ của pháp luật Pháp, nhà làm luật đã kế thừa các quan điểm pháp luật đặc sắc trong cổ luật, trong

đó có các quy định về thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng Trong khi đó, bộ luật giản yếu Nam Kỳ lại không đề cập đến vấn đề di sản Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án Nam Kỳ đã phải viện dẫn đến luật Hồng Đức và luật Gia Long Chính vì vậy,

án lệ đã sớm xuất hiện và chiếm một vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp

về thừa kế

Trong hai bộ luật Bắc Trung, thừa kế thế vị còn gọi là sự đại hưởng Trong giai đoạn này, pháp luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã quy định khá đầy đủ về chế định thừa kế thế vị Qua các quy định tại các điều từ Điều 337 đến Điều 343 Dân luật Bắc Kỳ và từ Điều 332 đến Điều 338 Dân luật Trung Kỳ, chế định thừa kế thế vị được thể hiện như sau18:

Thứ nhất, các con của người để lại di sản, con trai và con gái được chia đều nhau Nếu có người nào chết thì con cháu của người ấy thế vị

Thứ hai, nếu không có con cháu, cha mẹ hoặc người tôn thuộc thì di sản được chia cho anh em, chị em ruột của người để lại di sản Nếu có người nào chết thì con cháu của họ được thế vị

18

Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ tư pháp) (1998), Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV

đến thời Pháp thuộc, Nxb chính trị quốc gia, tr.138

Trang 25

Cũng giống như cổ luật đã trình bày ở trên, phạm vi và đối tượng được hưởng thừa kế thế vị được pháp luật dự liệu mở rộng hơn rất nhiều so với pháp luật hiện hành Điều 337 Dân luật Bắc và Điều 332 Dân luật Trung quy định khi di sản được truyền cho trực hệ ty thuộc – huyết thống trực hệ, thì con cháu thay cho cha hay mẹ chết trước

để chia nhau phần mà cha mẹ được hưởng nếu còn sống Quy định này về cơ bản cũng giống với quy định của pháp luật hiện hành Tuy nhiên, Điều 340 Dân luật Bắc, Điều

335 Dân luật Trung còn quy định: khi di sản do anh chị em ruột để lại, con cháu của anh chị em có quyền hưởng thay cho cha mẹ đã chết trước Án lệ tại miền Nam cũng công nhận quyền đại hưởng cho con cháu do anh chị em ruột sinh ra19 Và tại Điều 341 Dân luật Bắc, Điều 336 Dân luật Trung còn quy định rằng đối với di sản do bàng hệ bên nội để lại con cháu bàng hệ cũng có quyền hưởng thay cho cha mẹ Có thể thấy, pháp luật giai đoạn này đã có sự mở rộng rất lớn về phạm vi và đối tượng được thừa kế thế vị Theo đó, không chỉ áp dụng thừa kế thế vị căn cứ vào người được thế vị ở hàng thừa kế thứ nhất và mối quan hệ trực hệ mà còn mở rộng đến các hàng thừa kế khác

Ngoài ra, hai bộ luật ở Bắc và Trung Kỳ cũng đề cập đến vấn đề thừa kế thế vị khi một người thừa kế bị tuyên cáo bất xứng, hay còn gọi là người không có quyền hưởng di sản Theo đó pháp luật phản ánh sự tiến bộ khi quy định tại Điều 315 Dân luật Bắc và Điều 307 Dân luật Trung về hướng giải quyết như sau: khi cha mẹ còn sống nhưng vì bất xứng và bị gạt ra ngoài vòng thừa kế, con cháu vẫn được quyền hưởng di sản theo sự đại hưởng – thế vị Đây rõ ràng là một quy định tiến bộ, bởi pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định về vấn đề này, gây nhiều khó khăn khi giải quyết vụ việc

Pháp luật thừa kế thế vị từ năm 1945 đến nay

Sau cách mạng tháng tám mà cụ thể là từ năm 1945 đến năm 1959, do hoàn cảnh lịch sử chưa cho phép mà Nhà nước không thể xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội Hệ thống pháp luật nói chung và hệ

19

Nguyễn Mạnh Bách (1992), Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam, Nxb Tp.HCM, tr 172

Trang 26

thống pháp luật dân sự, thừa kế nói riêng trong giai đoạn này được áp dụng theo các bộ luật dân sự Bắc kỳ, Nam kỳ và Trung kỳ giản yếu thời kì trước Sắc lệnh ngày 10/10/1945 được ban hành là cơ sở cho phép áp dụng các luật lệ của chế độ cũ, trong

đó có những quy định về quyền thừa kế thế vị Tuy nhiên, không phải tất cả các quy định đều được áp dụng, những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bị loại bỏ

Như vậy, pháp luật thừa kế thế vị trong giai đoạn này sẽ tương tự như pháp luật thừa kế thế vị thời Pháp thuộc Hàng thừa kế thứ nhất được xác định là các con và di sản được chia đều theo đầu người Nếu trong hàng có các con chết trước cha mẹ thì phần hưởng của người con quá cố này sẽ do cháu, tức ty thuộc của người con ấy Người thừa kế thế vị sẽ được nhận phần di sản tương đương với phần mà cha mẹ cháu được hưởng, nếu còn sống

Từ năm 1959 đến năm trước năm 1990 - khi Pháp lệnh thừa kế ra đời, về cơ bản

do chính sách xóa bỏ tư hữu, đề cao công hữu mà pháp luật về thừa kế - một trong những chế định gắn bó mật thiết với quyền sở hữu tư nhân, không được chú trọng xây dựng Ngoài Điều 27 Hiến pháp 1980 quy định “Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” thì trên thực tế chỉ có một số thông tư của Bộ tư pháp, của TANDTC hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về thừa kế như Thông tư số 1742, Thông tư số

594 và Thông tư số 02 hướng dẫn về việc xác định người có quyền hưởng di sản của liệt sỹ Điều đó cho thấy rằng trong giai đoạn này, nước ta không có một văn bản pháp luật nào quy định một cách toàn diện và khái quát về thừa kế

Trong giai đoạn này, khi quy định về thừa kế thế vị, đáng chú ý là Thông tư 81 Trên cơ sở Hiến pháp 1980 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, TANDTC đã ban

hành Thông tư 81 ngày 24/7/1981 Thông tư 81 đã quy định “Người con nào (kể cả

con nuôi) chết trước người để thừa kế, thì các con của người đó (tức là các cháu của

Trang 27

người để thừa kế) sẽ hưởng phần thừa kế của bố hoặc mẹ mình (thừa kế thế vị)” 20 Từ quy định của pháp luật có thể nhận thấy pháp luật thừa kế thế vị giai đoạn này có một

số điểm đáng chú ý sau: thứ nhất, thừa kế thế vị chỉ dành cho cháu mà không có chắt Thứ hai, vấn đề thừa kế thế vị của con nuôi hợp pháp đã được pháp luật thừa nhận Thứ

ba, vấn đề thừa kế thế vị của con riêng chưa được đề cập đến Mặc dù thông tư cho phép con riêng được nhận thừa kế của cha dượng và mẹ ghẻ, nếu có bằng chứng xác định họ thương yêu, nuôi nấng, chăm sóc như con đẻ Thứ tư, thừa kế thế vị chỉ đặt ra trong trường hợp người thừa kế chết trước người để lại di sản

Từ năm 1990 đến nay, khi quy định về thừa kế thế vị có ba văn bản pháp luật sau: Pháp lệnh thừa kế 1990, BLDS 1995 và BLDS đang có hiệu lực thi hành là BLDS

2005 Tại Điều 26 Pháp lệnh thừa kế đã quy định “Trong trường hợp con của người để

lại di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc

mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống” và cũng tại Điều 27, Điều 28 Pháp lệnh thừa kế thế vị cũng thừa nhận quyền

thừa kế thế vị của con nuôi, con riêng Quy định về thừa kế thế vị của Pháp lệnh thừa

kế 1990 cơ bản giống pháp luật về thừa kế thế vị quy định tại BLDS 1995, và chỉ có một điểm khác biệt so với BLDS 2005 BLDS 2005 đã quy định thêm một trường hợp được hưởng thừa kế thế vị, đó là trường hợp người thừa kế chết cùng thời điểm với người để lại di sản

1.2.1.3 Đặc điểm và điều kiện hưởng thừa kế thế vị

Đặc điểm thừa kế thế vị

Thứ nhất, thừa kế thế vị chỉ được áp dụng đối với phần di sản được chia theo

quy định của pháp luật mà không áp dụng đối với phần di sản được định đoạt theo di chúc Bởi đối với hình thức thừa kế theo di chúc thì nội dung di chúc đã thể hiện rõ ý

20 Điều 1, Mục A, Chương III Thông tư 81 ngày 24/7/1981

Trang 28

chí của người để lại di sản thừa kế Người để lại di sản thừa kế đã định đoạt tài sản sẽ chuyển dịch cho từng cá nhân cụ thể Nếu người thừa kế còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì tất nhiên họ sẽ đã nhận được phần di sản thừa kế theo sự định đoạt của người để lại di sản Việc xác định người thừa thừa kế thế vị trong trường hợp này là không có căn cứ và đi ngược với ý chí của người để lại di sản

Thứ hai, thừa kế thế vị chỉ được đặt ra khi người thừa kế ở hàng thứ nhất là con

của người để lại di sản chết Theo Điều 676 BLDS 2005 thì pháp luật quy định có ba hàng thừa kế Tuy nhiên, đối với hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba thì khi người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, vấn đề thừa

kế thế vị không được đặt ra Bởi Điều 677 đã giới hạn hàng thừa kế làm phát sinh thừa

kế thế vị như sau “con của người để lại di sản chết” Như vậy, chỉ con người để lại di

sản - tức người thừa kế ở hàng thứ nhất chết, mới phát sinh thừa kế thế vị Đối với các

cá nhân ở hàng thừa kế thứ hai và thứ ba thì pháp luật hiện hành không có quy định về thừa kế thế vị Sở dĩ, thừa kế thế vị chỉ giới hạn trong hàng thừa kế thứ nhất vì xuất phát từ nguyên tắc ưu tiên bảo vệ quyền lợi của những người gần gũi nhất với người để lại di sản, nên pháp luật chỉ xác định người thế vị lần lượt là cháu hoặc chắt của người

để lại di sản

Thứ ba, trong mối liên hệ giữa những người để lại di sản với người được thừa kế

thế vị thì người để lại di sản phải là trực hệ bề trên, người được thế vị trực hệ bề dưới Đặc điểm này cũng được xem là điểm khác biệt giữa thừa kế thế vị và thừa kế theo hàng Bởi đối với thừa kế theo hàng thừa kế thì ông bà được xếp vào hàng thứ hai và các cụ được xếp vào hàng thứa kế thứ ba của cháu Tuy nhiên, đối với thừa kế thế vị thì chỉ cháu hoặc chắt của người để lại di sản mới là người thừa kế thế vị Chủ thể là cha

mẹ hoặc ông bà của người để lại di sản không thể là người thừa kế thế vị

Thứ tư, người thừa kế thế vị chỉ hưởng phần mà người được thế vị được hưởng

nếu còn sống Trong trường hợp người thừa kế thế vị được xác định là chỉ gồm một người, thì đương nhiên người này sẽ được hưởng trọn một suất thừa kế Mặc dù trên

Trang 29

thực tế, một suất thừa kế của người này có giá trị tương đương với một suất thừa kế của những người thừa kế khác, nhưng về bản chất người thừa kế thế vị không có địa vị ngang bằng với các đồng thừa kế Điều này được thể hiện thông qua trường hợp người thừa kế đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm mở thừa kế - người được thế vị, có hai hoặc nhiều hơn số người thừa kế thế vị Lúc này, rõ ràng rằng suất thừa kế của những người thừa kế thế vị sẽ không còn ngang bằng với các đồng thừa kế khác Tất cả những người thừa kế thế vị chỉ được chia đều trong cùng một suất thừa kế của người được thế

vị, phần mà họ sẽ được hưởng trên thực tế nếu còn sống Như vậy, việc phân chia di sản trong trường hợp có nhiều người thừa kế thế vị, sẽ được thực hiện theo chi chứ không phải theo đầu người

Điều kiện hưởng thừa kế thế vị

Thứ nhất, người được thế vị phải chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người

để lại di sản thừa kế Trường hợp chết sau thì không xét thừa kế thế vị BLDS năm

1995 khi quy định về thừa kế thế vị, pháp luật đã chỉ xét trường hợp được hưởng thừa

kế thế vị khi người thừa kế chết trước người để lại di sản thừa kế21, mà không xét đến trường hợp chết cùng thời điểm Quy định này trong một thời gian dài đã gây nên sự tranh cãi giữa các nhà khoa học pháp lý và tạo nên phân biệt bất hợp lý trong việc xác định thừa kế thế vị giữa các cháu khi áp dụng trên thực tiễn Khi BLDS 2005 ra đời, các nhà làm luật đã bổ sung thêm trường hợp chết cùng thời điểm, bên cạnh trường hợp chết trước thời điểm người để lại di sản chết

Sự bổ sung của BLDS 2005 được đánh giá là hết sức hợp lý và có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền thừa kế thế vị của cháu và chắt Bởi xét cho cùng thì

việc chết trước hay chết cùng thời điểm với người để lại di sản là “hoàn toàn giống

không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Và như vậy thì về nguyên tắc, dù người

21 Điều 680 BLDS 1995

22Lê Minh Hùng, Những điểm mới trong các quy định về thừa kế trong BLDS 2005, Tạp chí KHPL số 6/2005,

tr.20

Trang 30

thừa kế có chết trước hay chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì họ cũng không

có quyền hưởng thừa kế Mặt khác, rõ ràng đối tượng hưởng thừa kế thế vị trong cả hai trường hợp đều là cháu hoặc chắt người để lại di sản Với mục đích của chế định thừa

kế thế vị là bảo vệ quyền lợi của cháu và chắt thì sẽ là hợp lý khi pháp luật mở rộng các trường hợp luật định

Tuy nhiên, giữa hai trường hợp này trên thực tế vẫn còn điểm khác nhau23 Cụ thể là việc xác định giữa người để lại di sản và người thừa kế, trong quan hệ thừa kế thế vị, có thể phát sinh quyền thừa kế lẫn nhau được hay không? Nếu người con hoặc người cháu mà chết trước người để lại di sản thì giữa họ sẽ phát sinh quyền thừa kế Vì người thừa kế là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, nên nếu con hoặc cháu chết trước và không để lại di chúc thì theo pháp luật người để lại di sản sẽ là người thừa kế

ở hàng thứ nhất (VD: con chết, bố mẹ được thừa kế) hoặc người thừa kế hàng thứ hai (VD: cháu chết, ông bà thừa kế) Còn trong trường hợp người để lại di sản và người

thừa kế chết cùng thời điểm thì “họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của

tắc chung về thừa kế và là quy định hết sức hợp lý, giúp việc phân chia di sản trở nên

dễ dàng hơn

Thừa kế thế vị không đặt ra trong trường hợp người thừa kế chết sau thời điểm

mở thừa kế Bởi rõ ràng, việc người thừa kế còn sống khi người để lại di sản chết đã khiến họ có đủ điều kiện hưởng thừa kế Do đó, việc thừa kế thế vị sẽ không được đặt

ra Trường hợp sau thời điểm mở thừa kế mà người thừa kế chết thì tài sản của họ sẽ được chia theo di chúc hoặc chia theo pháp luật Con hoặc cháu của người thừa kế lúc này sẽ nhận di sản thừa kế với tư cách là người thừa kế hàng thứ nhất hoặc người thừa

kế hàng thứa hai, chứ không phải là người thừa kế thế vị

23Lê Minh Hùng, Những điểm mới trong các quy định về thừa kế trong BLDS 2005, Tạp chí KHPL số 6/2005,

tr.20

24 Điều 641 BLDS 2005

Trang 31

Ngoài ra, với việc quy định thừa kế thế vị đặt ra trong hai trường hợp là người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì có thể thấy,

pháp chỉ căn cứ vào sự kiện pháp lý “chết” để xác định thế vị Nghĩa là đối với trường

hợp người thừa kế từ bỏ quyền thừa kế hoặc bị tước quyền thừa kế thì pháp luật về thừa kế thế vị không được đặt ra

Thứ hai, cháu hoặc chắt phải còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết

hoặc thành thai trước thời điểm người để lại di sản thừa kế chết nhưng sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế Đây là nguyên tắc bắt buộc được đặt ra với người thừa

kế nói chung và người thừa kế thế vị nói riêng Bởi như đã trình bày, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản từ người chết sang người sống, là sự nối tiếp về sở hữu nhằm duy trì và phát triển khối tài sản Tài sản sẽ không còn ý nghĩa nếu thực tế chúng thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu đã chết Việc người đã chết vẫn còn sở hữu tài sản đồng nghĩa với việc các quyền cơ bản của chủ sở hữu như: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt; sẽ không được thực hiện trên thực tế Và như vậy, giá trị của tài sản sẽ hoàn toàn bị mất đi Chính vì vậy, việc dịch chuyển tài sản từ người chết này sang người chết khác là vô nghĩa Do đó, điều kiện tiên quyết để người thừa kế thế vị nhận được di sản là họ phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế

Thứ ba, giữa người được thế vị và người thế vị phải có quan hệ huyết thống

hoặc quan hệ nuôi dưỡng Quan hệ thừa kế thế vị khác hoàn toàn khác so với quan hệ thừa kế theo di chúc Chủ thể được thừa kế theo di chúc có thể là bất cứ ai, bất cứ người nào mà không cần phải xét theo mối quan hệ gần gũi với người để lại di sản Việc xác định chủ thể thừa kế theo di chúc tuân theo sự định đoạt, ý chí chủ quan của người để lại di sản Trong khi đó, thừa kế thế vị là một dạng thừa đặc biệt của hình thức thừa kế theo pháp luật, với đặc trưng là người thế vị “thế” vào vị trí của người được thế vị để hưởng thừa kế Do vậy, điều kiện quan trọng để xác định chủ thể hưởng thừa kế là phải căn cứ vào quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, với người được

Trang 32

thế vị Nếu không rơi vào hai quan hệ này thì đương nhiên chủ thể không được xét để hưởng thừa kế thế vị

1.2.1.4 Ý nghĩa của thừa kế thế vị

Thứ nhất, thừa kế thế vị nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người

thân thuộc nhất về trực hệ: cháu và chắt Trong ba mối quan hệ huyết thống, hôn nhân

và nuôi dưỡng thì quan hệ huyết thống là quan hệ lâu đời nhất, đóng vai trò quyết định đối với việc ra đời chế định thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng Trong mỗi giai đoạn khác nhau, tùy theo tư tưởng của giai cấp thống trị mà thừa kế theo pháp luật được xây dựng trên các mối quan hệ khác nhau Có giai đoạn hoàn toàn phủ nhận quyền thừa kế của vợ - trong mối quan hệ hôn nhân, có giai đoạn lại không thừa nhận quyền thừa kế của con nuôi Nhưng có thể thấy, đối với quan hệ huyết thống thì trong bất cứ giai đoạn nào cũng được nhà làm luật ưu tiên bảo vệ khi xây dựng chế định về thừa kế, đặc biệt là thừa kế theo pháp luật

Quan hệ huyết thống gồm quan hệ huyết thống trực hệ và quan hệ huyết thống bàng hệ, nhưng so sánh về mức độ thân thuộc và gần gũi thì quan hệ huyết thống trực

hệ thân thiết hơn quan hệ huyết thống bàng hệ Cháu và chắt được xét là những người

có huyết thống trực hệ với người để lại di sản Đó là quan hệ huyết thống từ cùng một

“gốc”25

, hình thành dựa trên sự kiện sinh đẻ giữa các cụ, ông bà, bố mẹ và các con Vì

vậy, thay vì cho các cá nhân khác trong các mối quan hệ huyết thống khác, như bàng

hệ hưởng di sản thừa kế thì sẽ hợp lý hơn nếu ưu tiên cho cháu hoặc chắt được hưởng

di sản thông qua thừa kế thế vị

Mặc dù, nếu xét theo hàng thừa kế theo pháp luật thì cháu và chắt cũng được xếp lần lượt vào các hàng thừa kế thứ hai và thứ ba Nhưng với nguyên tắc, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước26, thì khả năng cháu và chắt được hưởng thừa kế là rất thấp Bởi mỗi hàng thừa

25Trường Đại học Luật Tp.HCM, Tập bài giảng sở hữu và thừa kế, tr

26

Khoản 3, Điều 676 BLDS 2005

Trang 33

kế pháp luật đều liệt kê số cá nhận được hưởng thừa kế là rất nhiều Vì vậy, nếu chỉ dựa vào thừa kế theo hàng thừa kế thì khả năng cháu hoặc chắt được hưởng thừa kế là rất thấp, hoặc nếu có được hưởng thừa kế thì suất thừa kế của cháu hoặc chắt cũng rất

ít Điều này thể hiện qua ví dụ sau: A có hai người con B, C và một người em là D B

có con là B1, B1 có con là E B1chết trước B và chết cùng thời điểm với A, B cũng chết trước A Như vậy, nếu không có thừa kế thế vị thì đương nhiên lúc này, D là em của A sẽ được hưởng toàn bộ di sản của A Trong khi đó, chắt của A – người có quan

hệ trực hệ gần gũi nhất với A, là E lại không có quyền hưởng di sản Như vậy, chế định thừa kế thế vị ra đời có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của cháu và chắt, khi khả năng cháu và chắt có thể hưởng thừa kế là lớn hơn

Thứ hai, thừa kế thế vị còn đặc biệt có ý nghĩa đối với trường hợp, cháu và chắt

chưa thành niên hoặc không có khả năng lao động Thừa kế thế vị được đặt ra trong trường hợp người thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản Người thừa kế trong trường hợp này là ông bà hoặc bố mẹ, những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình27 Như vậy, khi bố mẹ hoặc ông bà chết đi thì đối với cháu chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động, cuộc sống của họ sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Sự mất mát không chỉ về tinh thần mà còn về vật chất Bởi cháu không có khả năng lao động để nuôi sống bản thân, phục vụ nhu cầu tối thiểu hàng ngày Do vậy, việc cho cháu chắt hưởng thừa

kế thế vị trong trường hợp này mang ý nghĩa nhân văn to lớn

Thứ ba, pháp luật không chỉ xác định con hoặc cháu trực hệ của người thừa kế

được thừa kế thế vị mà pháp luật còn cho phép con nuôi28, con riêng của vợ hoặc chồng29 cũng được thừa kế thế vị Con nuôi và con riêng của vợ hoặc chồng không có quan hệ huyết thống với người thừa kế Tuy nhiên, không thể phủ nhận giữa họ tồn tại mối quan hệ yêu thương, gắn bó như những người ruột thịt Việc pháp luật thừa nhận

27 Khoản 1, Điều 36 và khoản 1, Điều 47 Luật hôn nhân và gia đình

28 Điều 678 BLDS 2005

29 Điều 679 BLDS 2005

Trang 34

quyền thừa kế giữa họ với nhau và quyền thừa kế thế vị nói riêng, không chỉ mang giá trị nhân đạo sâu sắc mà còn mang ý nghĩa giáo dục tình thân ái giữa những thành viên trong gia đình, ngay cả khi giữa họ không có quan hệ huyết thống Với việc thừa nhận quyền thừa kế nói chung và quyền thừa kế thế vị nói riêng, một mặt pháp luật tạo nên

sự công bằng, yên ổn trong mỗi gia đình Một mặt, càng khuyến khích những chủ thể này yêu thương, đùm bọc lẫn nhau như những người ruột thịt

Thứ tư, thừa kế thế vị có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo

đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc Đạo đức xã hội và thuần phong mỹ tục là những giá trị văn hóa mang ý nghĩa tinh thần của cả cộng đồng Chúng được hình thành từ lâu đời và được kế thừa từ đời này sang đời khác Và không giống như các quy phạm pháp luật cần phải có biện pháp cưỡng chế, các quy tắc xã hội được mọi người tôn trọng và tự nguyện tuân theo Muốn pháp luật thừa kế mà cụ thể là pháp luật thừa kế thế vị, tồn tại bền vững thì pháp luật phải phù hợp với các quy tắc đạo đức, phong tục của xã hội Theo quan niệm truyền thống từ xưa đến nay thì gia đình là tổ

ấm gần gũi nhất với mỗi con người Trong đó, không chỉ có mối quan hệ giữa con cái –

bố mẹ mới gần gũi mà quan hệ giữa ông bà – các cháu hoặc xa hơn là các cụ - các cháu, cũng là quan hệ hết sức thân tình Vì vậy, việc pháp luật thừa nhận và bảo vệ mối quan hệ này thông qua chế định thừa kế thế vị mang ý nghĩa trong việc giữ gìn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc

1.2.2 Thừa kế thế vị theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới

Pháp luật nước ta là hệ thống pháp luật thành văn Vì vậy muốn pháp luật dự liệu, giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội nảy sinh thì trong quá trình xây dựng pháp luật tất yếu phải học hỏi pháp luật nước ngoài Việc học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật nước ngoài, nhất là những nước lớn có lịch sử lập pháp lâu đời, sẽ giảm thiểu được thời gian, tiền bạc… cho hoạt động xây dựng pháp luật Những ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật khi mang áp dụng trên thực tế tại nước sở tại sẽ là bài

học để nước ta, với nền lập pháp “sinh sau đẻ muộn” tiếp thu, học hỏi Như vậy, chắc

Trang 35

chắn số lượng những văn bản pháp luật chỉ có giá trị trên giấy sẽ giảm thiểu được đến mức thấp nhất

Mặt khác, có thể nhận thấy hiện nay quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh

mẽ ảnh hưởng đến các mối quan hệ pháp luật, trong đó có cả quan hệ pháp luật về thừa

kế Việc nắm bắt được các tư tưởng lập pháp tiến bộ, đang được đa số các nước thừa nhận và cụ thể hóa trong luật pháp quốc gia mang lại lợi ích vô cùng lớn Khi mối quan

hệ pháp luật có từ hai chủ thể trở lên với quốc tịch khác nhau, ví dụ giữa công dân Việt Nam và công dân quốc gia khác Nếu pháp luật nước ta có sự tương đồng với pháp luật nước bạn thì cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết vụ việc dễ dàng hơn, đồng thời quyền lợi của công dân nước ta sẽ được bảo vệ một cách tốt nhất Ngược lại, nếu quan điểm pháp luật của nước ta quá lạc hậu không có sự học hỏi pháp luật thế giới hoặc có học hỏi nhưng đã là quan điểm lỗi thời, thì tất yếu sự dẫn đến xung đột pháp luật Hệ quả là sẽ rất khó khăn khi giải quyết vụ việc và như vậy, quyền lợi của công dân Việt Nam sẽ khó được bảo đảm khi bản án có thể không được thi hành ở nước khác

Thừa kế thế vị là một chế định pháp luật không chỉ được quy định trong pháp luật Việt Nam mà còn được quy định ở nhiều nước trên thế giới Ngay từ thời pháp luật

La Mã, chế định này đã được ghi nhận và về sau được các nước tiếp thu và đưa vào pháp luật của quốc gia Pháp luật ở một số quốc gia tiêu biểu như Nhật Bản, Nga, Pháp… khi quy định về thừa kế cũng đề cập đến vấn đề thừa kế thế vị Từ những lợi ích về việc tiếp thu có chọn lọc pháp luật nước ngoài như đã trình bày, thiết nghĩ muốn hoàn thiện pháp luật thừa kế thế vị ở Việt Nam tất yếu phải học hỏi pháp luật ở các nước

Pháp luật thừa kế thế vị Pháp

Điều 751 Chương III BLDS Pháp 2001 đã quy định “Thừa kế thế vị là một giả định pháp luật theo đó những người thừa kế thế vị được hưởng các quyền của người được thế vị” Có thể thấy thừa kế thế vị theo quy định của BLDS Pháp không chỉ giới

Trang 36

hạn trong trường hợp người được thế vị chết trước hay chết cùng thời điểm với người

để lại thừa kế như pháp luật Việt Nam Theo đó, pháp luật Pháp quy định thừa kế thế vị trong các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, người được thế vị và người để lại di sản thừa kế chết

trước hoặc chết cùng thời điểm Tại Điều 725-1 BLDS Pháp quy định về trường hợp,

“Nếu hai người được thừa kề lẫn nhau cùng chết trong cùng biến cố… việc xác định người chết trước được thực hiện bằng mọi cách… không xác định được người chết trước thì những người này không được thừa kế lẫn nhau… Tuy nhiên, nếu những người này có con hoặc cháu thì những người con hoặc cháu này có thể được hưởng thừa kế thế vị…” Quy định này, giống với pháp luật Việt Nam khi tại Điều 641 pháp luật cũng

quy định về việc những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng thời điểm Theo đó, cũng như pháp luật Pháp, pháp luật Việt Nam cũng không cho họ thừa kế lẫn nhau trong trường hợp này và dành quyền thừa kế thế vị cho con hoặc cháu của họ

Trường hợp thứ hai, thừa kế thế vị đặt ra trong trường hợp bị truất quyền thừa

kế và bị tước quyền thừa kế, “có thể thừa kế thế vị người bị truất quyền hưởng di sản thừa kế”30 và “Con và cháu của người không xứng đáng hưởng thừa kế được thế vị

về trường hợp người thừa kế bị tước quyền thừa kế thì người thừa kế thế vị của họ sẽ được giải quyết quyền lợi như thế nào Tuy nhiên, hiện nay đa số quan điểm đồng tình

là khi một người bị tước quyền thừa kế thì con hoặc cháu của họ sẽ không được thế vị Cách hiểu này chỉ tương tự với quy định này BLDS Pháp năm 1804 khi quy định về thừa kế thế vị trong trường hợp người thừa kế không được quyền hưởng di sản như sau: phần của người không được hưởng di sản chuyển sang cho các đồng thừa kế32 Theo đó, người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần di sản mà người thừa kế đáng ra

Trang 37

được hưởng nếu còn sống Nếu người thừa kế không được hưởng di sản thừa kế thì đương nhiên, con cháu của người thừa kế cũng sẽ không được hưởng thừa kế thế vị

Tuy nhiên, từ năm 2001 khi quy định về thừa kế thế vị trong trường hợp người thừa kế không có quyền hưởng di sản, pháp luật đã có sự thay đổi so với pháp luật năm

1804 Tại khoản 1, Điều 729 BLDS Pháp, pháp luật đã thay đổi theo hướng: trong trường hợp một người thừa kế không không được hưởng di sản do có những hành vi nghiêm trọng đối với người để lại di sản thì con của người không được hưởng di sản sẽ thế vào vị trí người này33 Như vậy, phần di sản thừa kế của những người thừa kế không có quyền hưởng di sản sẽ không được chuyển cho những người đồng thừa kế khác; trừ trường hợp họ không có người thừa kế thế vị Con cháu của những người thừa kế này sẽ thay thế họ để thực hiện quyền

Tóm lại, về trường hợp phát sinh quan hệ thừa kế thế vị, có thể thấy pháp luật Pháp quy định rộng hơn pháp luật Việt Nam Theo đó pháp luật Pháp quy định ba trường hợp thừa kế thế vị sau: người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, người thừa kế bị truất hoặc tước quyền thừa kế Còn pháp luật Việt Nam chỉ quy định trường hợp phát sinh quyền thừa kế thế vị đó là trường hợp người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản34

Về điều kiện hưởng thừa kế thế vị: Pháp luật Pháp quy định “… được thừa kế thế vị của người này mặc dù người này con sống vào thời điểm mở thừa kế”35 Như vậy, ngay cả khi người thừa kế còn sống thì trong trường hợp luật định, quyền thừa kế thế vị của người thừa kế thế vị vẫn phát sinh Trong khi đó, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khi và chỉ khi người thừa kế chết thì mới xác định người thừa kế thế vị của họ Còn nếu người thừa kế vẫn còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì trong mọi trường hợp vấn đề thừa kế thế vị không được đặt ra

33Đỗ Văn Đại (2013), Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận án, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tr.323

34 Điều 677 BLDS 2005

35 Điều 755 BLDS 2005

Trang 38

Về phạm vi cá nhân được thừa kế thế vị, pháp luật Pháp quy định trong phạm vi tương đối rộng còn pháp luật Việt Nam chỉ quy định trong phạm vi hẹp Điều 752

BLDS Pháp quy định “Thừa kế thế vị áp dụng đối với tất cả các bậc của dòng trực hệ

bề dưới… ” và Điều 752-2 “Trong dòng bàng hệ, thừa kế thế vị được chấp nhận đối với các con hoặc các ti thuộc của anh, chị, em ruột của người chết… ” Như vậy, cá

nhân thừa kế thế vị không chỉ có quan hệ trực hệ với người để lại di sản thừa kế mà còn

có thể có quan hệ bàng hệ Đối với thừa kế thế vị trực hệ, phạm vi bậc để xét thừa kế thế vị pháp luật không giới hạn

Pháp luật Việt Nam quy định trong phạm vi hẹp hơn pháp luật Pháp, theo đó cá nhân được thừa kế thế vị chỉ có thể là con cháu trực hệ của người để lại di sản Đối với con cháu bàng hệ, dù là con cháu của anh chị em ruột thì vấn đề thừa kế thế vị cũng không được đặt ra Ngay cả các bậc trong trực hệ hưởng thừa kế thế vị thì pháp luật Việt Nam cũng giới hạn rất hẹp Bậc thừa kế thế vị của pháp luật Việt Nam như sau: các cụ - ông bà- bố mẹ - các cháu, như vậy thừa kế thế vị chỉ đặt ra trong phạm vi ba bậc Còn pháp luật Pháp thì mở rộng gồm tất cả các bậc của dòng trực hệ bề dưới

Về thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi, về vấn đề này pháp luật Pháp quy định rất

rõ ràng, cụ thể trong BLDS Theo đó, pháp luật dân sự Pháp quy định hệ quả pháp lý của thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng đối với các hình thức nuôi con nuôi: nuôi con nuôi đơn giản hoặc nuôi con nuôi đầy đủ Đối với việc nuôi con nuôi đầy đủ,

“Việc nhận nuôi con nuôi làm phát sinh quan hệ giữa cha mẹ và con mới thay thế quan

hệ giữa cha mẹ và con gốc đối với người được nhận làm con nuôi: người được nhận

đi làm con nuôi không có quyền thừa kế thế vị đối với gia đình cha mẹ đẻ

Đối với hình thức nuôi con nuôi đơn giản, “Con nuôi vẫn giữ quan hệ với gia

36 Điều 356 BLDS Pháp

37 Điều 364 BLDS Pháp

Trang 39

quan hệ với gia đình gốc, quan hệ thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng vẫn được duy trì

Về thừa kế giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế: trong Thiên I Quyền 3 BLDS Pháp khi quy định về thừa kế thế vị, pháp luật không đề cập đến vấn đề này Do vậy,

có thể hiểu con riêng không có quyền thừa kế thế vị đối với cha dượng, mẹ kế

Pháp luật thừa kế thế vị Liên bang Nga

Quy định về thừa kế trong pháp luật Nga có một số điểm tương đồng với pháp luật thừa kế Việt Nam, như: nguyên tắc những người thừa kế sau chỉ được hưởng thừa

kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước hưởng di sản thừa kế; hoặc những người thừa

kế cùng hàng thì được chia phần bằng nhau Tuy nhiên xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau; cũng như tư tưởng lập pháp khác nhau mà pháp luật thừa

kế Nga cũng có nhiều điểm khác biệt so với pháp luật Việt Nam Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, các vấn đề về thừa kế thế vị cùng các vấn đề liên quan mật thiết đến chế định như: con nuôi, con riêng… của pháp luật hai quốc gia sẽ được ưu tiên làm rõ

Thứ nhất, các trường hợp thừa kế thế vị: Cũng như pháp luật Pháp, không chỉ giới hạn trường hợp thừa kế thế vị khi người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, BLDS Nga còn quy định thừa kế thế vị trong các trường hợp sau: người thừa kế chết sau thời điểm mở thừa kế nhưng chết trước thời điểm chấp nhận thừa kế; hoặc khi người thừa kế từ chối quyền thừa kế; hoặc khi người thừa kế bị tước quyền thừa kế38 Nghĩa là pháp luật không yêu cầu người được thế vị bắt buộc phải chết vào thời điểm mở thừa kế thì quyền thừa kế thế vị mới được đặt ra Đây là điểm khác biệt so với pháp luật Việt Nam, khi pháp luật Việt Nam chỉ đặt ra việc thừa

kế thế vị khi người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản Còn khi người thừa kế vẫn còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì pháp luật không xét đến quyền thừa kế của những người thế vị

38 Điều 1121 BLDS Nga

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số qui định của Pháp lệnh thừa kế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn áp dụng một số qui định của Pháp lệnh thừa kế
17. Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận án, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận án
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
18. Nguyễn Mạnh Bách, Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam, Nxb Tp.HCM, Năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tp.HCM
19. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học về thừa kế, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học về thừa kế
20. Nguyễn Xuân Quang – Lê Nết – Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
21. Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thừa kế Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hà Nội
22. Phùng Trung Tập, Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Nxb Tư pháp, Năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Nhà XB: Nxb Tư pháp
23. Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 1)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
24. Trường ĐH Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
25. Trường ĐH Luật T.p HCM (2013), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế
Tác giả: Trường ĐH Luật T.p HCM
Nhà XB: Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2013
27. Tưởng Duy Lượng, Một số vấn đề trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về thừa, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về thừa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
28. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ tư pháp), Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, Nxb chính trị quốc gia, Năm 1998.III – Tạp chí pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
29. Chế Mỹ Phương Đài, Bàn thêm về thừa kế thế vị, Tạp chí khoa học pháp lí số 2/2000, tr. 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học pháp lí "số "2/2000
30. Lê Minh Hùng, Những điểm mới trong các quy định về thừa kế trong BLDS 2005, Tạp chí khoa học pháp lý số 6/2005, tr.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học pháp lý số 6/2005
31. Nguyễn Phương Lan, Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi Việt Nam, Tạp chí luật học số 10/2011, tr.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí luật học số 10/2011
32. Nguyễn Thị Như Hương, Thừa kế thế vị, Tạp chí toà án nhân dân số 1/2000, tr. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí toà án nhân dân "số "1/2000
33. Nguyễn Văn Mạnh, Hoàn thiện chế định thừa kế theo Luật dân sự Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 4/2002, tr.56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 4/2002
34. Võ Đức Tuấn, Điều 677 có áp dụng cho hàng thừa kế thứ hai, thứ ba hay không?, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II số 24/2012, tr.27.IV – Nguồn tham khảo khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ II số 24/2012
7. Pháp lệnh của hội đồng nhà nước số 44-LCT/HĐNN8 ngày 10/09/1990 về thừa kế Khác
13. Nghị quyết 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w