1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền con người trong pháp luật dân sự, lao động, hôn nhân gia đình của việt nam hiện na

157 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo đảm quyền con người trong pháp luật dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình của Việt Nam hiện nay
Tác giả Trần Thị Rồi, Lê Minh Hùng, Nguyễn Thị Hoài Phương, Nguyễn Thanh Thư, Lê Thị Mận, Trần Thị Hương, Đinh Thị Chiến, Đỗ Hải Hà, Đoàn Công Yên, Lê Vĩnh Châu
Người hướng dẫn Phó Trưởng Khoa Khoa Học Cơ Bản, Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Luật TP.HCM
Chuyên ngành Luật
Thể loại Kỷ yếu hội thảo khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và phát triển quyền con người từ sau đất nước độc lập đến nay là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản chất ưu việt, tiến bộ của chế độ XHCN với t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

KHOA LUẬT DÂN SỰ TRUNG TÂM NHÂN QUYỀN

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC

“BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG

PHÁP LUẬT DÂN SỰ, LAO ĐỘNG,

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY”

CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA KHOA LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH 12 - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt

Nam về quyền con người

TS Trần Thị Rồi

Trang

1

2 Quyền con người trong lĩnh vực dân sự và việc bảo vệ quyền con

người trong lĩnh vực dân sự bằng các biện pháp dân sự

ThS Lê Minh Hùng 11

3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự của Nhà nước Việt Nam

– Nhìn từ góc độ bảo đảm quyền con người

TS Nguyễn Thị Hoài Phương 44

4 Một số vấn đề về quyền được chết

Nguyễn Thanh Thư 59

5 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân, gia

8 Pháp luật chống phân biệt đối xử về giới tại nơi làm việc ở Việt

Nam và Australia – Nghiên cứu so sánh

ThS Đỗ Hải Hà 116

9 Bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật theo pháp luật Việt

Nam

Đoàn Công Yên 134

10 Nữ quyền trong gia đình: Từ Bộ Luật Hồng Đức đến Pháp luật

hiện đại

Th.sỹ Lê Vĩnh Châu 145

Trang 3

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

TS Trần Thị Rồi* Trong quá trình phát triển của nhân loại, quyền con người là vấn đề có tính

lịch sử và đặc biệt được quan tâm trong các cuộc cách mạng

Sự ra đời chính thức của khái niệm quyền con người gắn liền với các cuộc

cách mạng dân chủ tư sản lật đổ chế độ phong kiến vào những thế kỷ XVII,

XVIII Ở Anh, sau khi Cách mạng tư sản thành công, quyền con người gồm các

quyền cơ bản là quyền được sống, quyền được tự do, được mưu cầu hạnh phúc,

quyền được xét xử, được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật được ghi nhận

trong Luật về các quyền (1689) Ở Mỹ, các quyền đó được nêu trong Tuyên

ngôn độc lập (1776) và Hiến pháp Ở Pháp, các quyền con người được thể hiện

trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1789)

Ở Việt Nam, một số người dân đã biết đến khái niệm quyền con người qua

sách báo từ bên ngoài đưa vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Chủ tịch Hồ Chí

Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là người Việt

Nam đầu tiên đã nghiên cứu và có hệ thống quan điểm toàn diện về quyền con

người

1- Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Xét ở góc độ lịch sử, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền

con người hình thành từ những năm đầu thế kỷ XX, khi Việt Nam bị thực dân

Pháp xâm lược và thống trị Sau khi thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm

lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta, hệ thống chính quyền của người Pháp

được thành lập Bên cạnh đó, hệ thống chính quyền phong kiến vẫn được duy

trì Thực dân Pháp và phong kiến tay sai cấu kết với nhau để áp bức, bóc lột, đàn

*

Phó Trưởng Khoa Khoa học cơ bản, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

áp nhân dân Cuộc sống người dân Việt Nam vô cùng cơ cực, bị đối xử bất công Trong hệ thống pháp luật thời Pháp thuộc không có Hiến pháp Quyền con người vi phạm nghiêm trọng, không được bảo đảm thực hiện

Để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, giải phóng dân tộc, giải phóng con người Việt Nam, vào năm 1911, Hồ Chí Minh đã ra nước ngoài nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thế giới, lựa chọn con đường cách mạng

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Người đã đến những nước tư bản phát triển hàng đầu thế giới như Anh, Pháp, Mỹ và cũng đặt chân đến một số quốc gia ở châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh…để nghiên cứu, khảo sát, tìm hiểu về tình hình dân chủ, nhân quyền Người đã nghiên cứu Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp Người tiếp thu và đánh giá cao lý luận về quyền con người của Cách mạng Pháp, Cách mạng Mỹ Nhưng khi so sánh giữa lý luận với với thực tế, Người thấy sau khi cách mạng tư bản thành công, ngay tại các quốc gia tư bản, các quyền con người cũng không được thực hiện một cách đầy đủ Riêng đối với hệ thống thuộc địa, các quyền con người bị chà đạp thô bạo

Để đấu tranh cho quyền con người ở Việt Nam, trong quá trình hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài đăng trên các tờ báo như “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Đời sống công nhân”, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tố cáo, lên án những hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền con người của chủ nghĩa thực dân đế quốc đối với nhân dân các nước thuộc địa Trong bài “Công lý”, Người viết “Ở Đông Dương có hai thứ công lý Một thứ dành cho người Pháp, một thứ dành cho người bản xứ Người Pháp thì được xử như ở Pháp Người An Nam thì không có hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam Thường người ta xử án và tuyên án theo giấy

tờ, vắng mặt người bị cáo” “Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam với người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ăn cướp hay giết người”… “Pháp luật Công lý với người bản xứ ư? Chỉ có ba toong, súng lục,

Trang 5

súng trường”.1

Chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta bị

vi phạm mọi quyền làm người một cách độc ác đến thế Trong “ Nước An Nam dưới con mắt người Pháp”, Người tố cáo “mượn cớ đi trấn áp, nên quân lính

“được thể” tha hồ cướp phá, giết chóc,…không một viên chỉ huy nào mà miệng không chửi rủa, không cầm dùi cui…”2

Vào năm 1919, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, với tên là Nguyễn Ái Quốc, Người đã gửi bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" đến Hội nghị nguyên thủ các nước đế quốc thắng trận họp tại Véc-xây (Pháp) Bản Yêu sách đề nghị thực hiện các vấn đề cơ bản về nhân quyền cho con người Việt Nam trong khuôn khổ chế độ thuộc địa nhưng bị các nước đế quốc từ chối Sau

sự kiện này, Người rút ra kết luận: những lời hứa hẹn về tự do, bình đẳng, bác ái

và nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc bị áp bức chỉ là lừa bịp Muốn có độc lập dân tộc, tự do các dân tộc thuộc địa phải tự mình đứng lên đấu tranh "đem sức ta mà giải phóng cho ta" lật đổ chế độ thực dân, phong kiến Sau khi lựa chọn con đường cách mạng vô sản, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, Người đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức, lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945

Cách mạng Tháng Tám thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Tuyên ngôn độc lập và đọc tại Quảng trường vào ngày 2-9-1945 Trong Bản Tuyên ngôn độc lập, lần đầu tiên các quyền cơ bản của con người Việt Nam được ghi nhận, được công khai tuyên bố trước quốc dân và thế giới Mở đầu Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập năm 1976 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong

Trang 6

những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc”3

và Tuyên ngôn dân quyền và Nhân quyền của nước Pháp “ Người ta sinh

ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; phải luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi”4 Từ đó, Hồ Chí Minh nâng lên thành quyền của các dân tộc "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập”5 Dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới cũng có quyền được sống, quyền sung sướng và quyền tự do

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nghiên cứu và đánh giá cao thành tựu quyền con người của Cách mạng tư sản Mỹ và Cách mạng tư sản Pháp và viện dẫn những “lời bất hủ” “là chân lý, lẽ phải” trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp để mở đầu Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam Tuy nhiên, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 là hoàn toàn mới về nhân quyền Theo Hồ Chí Minh, quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền tự quyết của mỗi dân tộc Hai quyền này thống nhất, có quan hệ chặt chẽ và làm tiền đề cho nhau Khi đất nước mất độc lập, dân tộc phải chịu cảnh nô lệ, mọi quyền lực nằm trong tay quân xâm lược và tay sai thì quyền sống của con người cũng bị đe dọa chứ nói gì đến quyền bình đẳng, tự do, dân chủ Vì vậy, quyền độc lập, tự do, quyền tự quyết của dân tộc là tiền đề quan trọng để bảo đảm thực hiện quyền cho cá nhân

Vào giai đoạn cuối cùng của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, sau khi Nhật đảo chính Pháp đêm ngày 9-3-1945, Pháp mất quyền cai trị, Việt Nam nằm dưới ách thống trị của phát xít Nhật Khi Chiến tranh kết thúc, có 2 phương án lịch sử để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn:

Trang 7

Một là, chờ quân Đồng Minh đến giải giáp quân Nhật, giúp dân tộc thoát

khỏi ách thống trị của phát xít Nhật và chịu sự tác động của phe Đồng Minh

Hai là, chớp thời cơ, tự mình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc,

lật đổ ách thống trị của phát-xít Nhật và phong kiến tay sai, giành lại độc lập tự

do, không để cho bất cứ một thế lực nào kịp can thiệp vào công việc của quốc gia, kể cả lực lượng Đồng minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn con đường thứ hai Với sự lựa chọn này, các nước Đồng Minh và cả cộng đồng quốc tế phải công nhận một sự thật là dân tộc Việt Nam đã tự đấu tranh giành độc lập, các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được tôn trọng Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh nêu rõ: "Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” Người khẳng định mạnh mẽ: “ Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.6

Trên phương diện lịch sử tư tưởng nhân loại, bản Tuyên ngôn độc lập năm

1945 của Việt Nam đã kế thừa, tiếp thu và phát triển lên một tầm cao mới tư tưởng nhân quyền của thế giới, đặc biệt là tư tưởng nhân quyền của cách mạng

tư sản Mỹ và cách mạng dân chủ tư sản Pháp Đồng thời, còn thể hiện sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là tư tưởng của Lênin về quyền tự quyết dân tộc

Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc, xét về mặt pháp lý và đạo lý, là quyền

tự nhiên của các dân tộc mà cộng đồng quốc tế phải thừa nhận Tuy nhiên, trong thực tế, không một đế quốc nào lại tự nguyện trao lại độc lập cho các dân tộc thuộc địa Muốn có độc lập thật sự, các dân tộc bị áp bức phải đứng lên giành

6

Hồ Chí Minh toàn tập- tập 4 (1945-1946)- NXB Chính trị quốc gia, HN- 1995.Trang 4

Trang 8

lấy quyền đó bằng con đường đấu tranh cách mạng và phải chấp nhận hy sinh để bảo vệ độc lập dân tộc Tương tự như vậy, quyền con người là quyền tự nhiên,

xã hội phải thừa nhận ngay khi con người được sinh ra Nhưng muốn được đảm bảo các quyền con người và được tự do thật sự thì phải đấu tranh, trước hết là đấu tranh giành lấy những điều kiện cơ bản bảo đảm cho các quyền đó Đối với các dân tộc bị áp bức, điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền con người là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Nói cách khác, quyền con người không thể tách rời với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

Sau khi đất nước độc lập, theo Người, độc lập dân tộc phải đi đôi với tự do, hạnh phúc cho nhân dân Muốn vậy, phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, để

"trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc" Người nói:

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tộc bực, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn

áo mặc, ai cũng được học hành”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy các quyền con người phải được bảo vệ và phải được ghi nhận bằng Hiến pháp, pháp luật Chỉ sau một ngày khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngay hôm sau (ngày 3 tháng 9 năm 1945) trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là tiến hành tổng tuyển cử, xây dựng Hiến pháp Theo sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 6-1-1946, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đã được tiến hành trên phạm vi cả nước Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, toàn thể công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ đều được thực hiện quyền bỏ phiếu để bầu đại biểu vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất

Đến tháng 11-1946, Quốc hội đã thảo luận và thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hiến pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ

Trang 9

Chí Minh là Trưởng ban soạn thảo đã ghi nhận: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1) “ Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ngoài nước…”(Điều 10)

Về quyền của phụ nữ, trẻ em, người già cả, tàn tật được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng Điều 9- Hiến pháp 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Điều 14 nêu rõ: “Những công dân già

cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì được giúp đỡ Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng”

Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, ngay sau khi giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương thi hành chính sách nhân quyền đối với người nước ngoài, khoan dung đối với tù binh, những người lầm đường lạc lối Trong năm 1946, trong bối cảnh thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta, trước khi Bản tuyên ngôn về nhân quyền (1948) của Liên hiệp quốc ra đời, trong Quốc lệnh do Chủ tịch Chính phủ Việt Nam ký, tại Điều 7 ghi rõ “Vô

cơ sát hại kiều dân ngoại quốc sẽ bị xử tử”7 Đây chính là tiền đề cho những quy định về quyền dân sự của người nước ngoài trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951), Người khẳng định: “Tính mệnh và tài sản của kiều dân nước ngoài tuân theo pháp luật Việt Nam, phải được bảo hộ”

Như vậy, là ngay cả trong điều kiện chiến tranh, quyền dân sự của ngoại kiều vẫn được ghi nhận Tư duy pháp lý về quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện sự kế thừa truyền thống khoan dung nhân đạo cao cả của

7

Hồ Chí Minh toàn tập- Tập 4 (1945-1946) NXB Chính trị quốc gia, HN- 1995.Trang 164

Trang 10

dân tộc trong việc xử lý đối với người nước ngoài Quan điểm này cũng hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế về quyền con người

Sau khi đất nước độc lập cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, những quan điểm về nhân quyền của Người tiếp tục được phát triển, hoàn thiện Những tư tưởng đó không chỉ thể hiện qua Tuyên ngôn độc lập, trong 2 bản Hiến pháp do Người trực tiếp chỉ đạo soạn thảo là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, được cụ thể hoá qua hệ thống pháp luật về dân sự, hình sự, lao động…mà còn được triển khai thực hiện ở thực tiễn trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng

2- Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Tư tưởng nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất phong phú và sâu sắc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự kế thừa truyền thống nhân ái

và dân chủ của dân tộc ta, tiếp thu những giá trị tiến bộ về quyền con người của các nước phương Đông và các nước phương Tây Đặc biệt, là sự vận dụng và phát triển một cách có sáng tạo tư tưởng của Các Mác, Ph Ănghen và V.I Lênin Nhìn chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

- Quyền con người là thành quả sự phát triển liên tục của lịch sử Các dân tộc có thể kế thừa, chia sẻ những giá trị nhân quyền của nhau

- Quyền và phẩm giá của cá nhân con người gắn liền với quyền và phẩm giá của dân tộc

- Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước là tiền đề, là điều kiện tiên quyết của quyền cá nhân

- Quyền con người là lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là bản chất của Nhà nước ta và của xã hội xã hội chủ nghĩa Không có chế độ xã hội nào có

Trang 11

nhiều khả năng, điều kiện bảo đảm quyền con người bằng xã hội xã hội chủ nghĩa

- Xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là nhân tố cơ bản bảo đảm các quyền con người;

- Trách nhiệm bảo đảm quyền con người không chỉ là của Nhà nước mà còn của tất cả các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị;

- Bảo vệ độc lập dân tộc và quyền con người của dân tộc ta, đồng thời phải tôn trọng độc lập, chủ quyền và quyền con người của các dân tộc khác

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là kết tinh những tư tưởng tiến

bộ nhất của các dân tộc trên thế giới, là nền tảng cho việc hoạch định chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam

3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người

Trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, từ khi ra đời cho đến nay, trong các văn kiện của Đảng luôn khẳng định 2 nhiệm vụ đấu tranh độc lập dân tộc và quyền dân chủ của nhân dân

là hai nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam

Ngay từ năm 1930, Chính cương vắn tắt- Sách lược vắn tắt – Cương lĩnh đầu tiên của Đảng nêu rõ những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam

là “đánh đổ chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” “ Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền.v.v.”

Bên cạnh việc xây dựng, phát triển lý luận để đấu tranh cho quyền con người, sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quá trình xây dựng, củng cố nhà nước pháp quyền; hoàn thiện hệ thống pháp luật; thực thi các biện pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tạo điều kiện cho mọi người dân có cuộc sống ngày càng đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần; được thụ hưởng các quyền công dân

Trang 12

Trong các quyền của con người Việt Nam, quyền chính trị được đặt lên hàng đầu, các quyền dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội luôn được chú trọng thông qua việc đề ra và triển khai hàng loạt chính sách tích cực và hiệu quả ở các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá Những thành tựu trong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo thời kỳ đổi mới của Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là minh chứng cho sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến các quyền cơ bản của con người Những kết quả của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và phát triển quyền con người từ sau đất nước độc lập đến nay là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản chất

ưu việt, tiến bộ của chế độ XHCN với truyền thống nhân đạo, nhân văn của dân tộc Việt Nam; giữa đường lối, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi con người là trung tâm trong sự phát triển đất nước với việc thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực và nghĩa vụ được quy định trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia

Hiện nay, do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển… nên cách tiếp cận về quyền con người của mỗi quốc gia có thể khác nhau Trong thời kỳ hội nhập, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc tế trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau vì mục tiêu bảo vệ

và phát triển quyền con người

Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã công khai thừa nhận những hạn chế, khó khăn, bất cập trong thực hiện quyền con người ở Việt Nam Đồng thời, Đảng khẳng định sẽ khắc phục những hạn chế, bất cập với tư duy đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, coi con người là động lực quan trọng nhất trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện mục tiêu, lý tưởng xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Trang 13

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ

VÀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ

mỗi thời kỳ Bởi thế, có học giả đã nhận xét: “mỗi bước tiến của nhân loại đều

gắn liền với quá trình giải phóng con người nói chung Đó là thành quả của của các cuộc cách mạng xã hội, phản ánh quá trình nhân loại đấu tranh tự giải phóng mình”.1

Về phương diện lập pháp, vấn đề quyền con người luôn được các nhà làm luật chú trọng Tùy theo bản chất của mỗi xã hội mà mức độ quan tâm tới quyền con người có khác nhau, với những bình diện khác nhau, dành cho một nhóm người hoặc toàn thể công chúng trong xã hội

Ở nước ta hiện nay, vấn đề quyền con người và các quyền công dân trong một xã hội dân sự được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xem đó là cốt lõi của quá trình lập pháp Bởi suy cho cùng, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng của mọi công dân trong xã hội cũng chính là bảo vệ chính

sự tồn tại của chế độ xã hội đó Trong mọi qui định của luật pháp, mọi đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, con người luôn được đặt vào

“vị trí trung tâm”, được coi là mục tiêu và động lực của chính sự phát triển.2

Trang 14

vệ quyền con người chính là tiền đề quan trọng trong việc bảo vệ sự tồn vong và hưng phế của mọi triều đại và mọi chế độ xã hội Đất nước ta được giải phóng

và khẳng định chủ quyền, dân tộc ta được độc lập, nhân dân được bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền dân sự là thành quả vĩ đại nhất mà các cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta đã mang lại Bởi vậy, quyền con người, quyền công dân, quyền dân sự của cá nhân cần được ghi nhận, như

đã từng được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và các đạo luật quan trọng khác của nhà nước ta, và cũng được phản ánh sâu sắc trong lịch sử lập hiến của đất nước

Ở Việt Nam, quyền con người được bảo hộ bằng Hiến pháp và bằng cả hệ thống pháp luật Mỗi ngành luật khác nhau đều qui định và bảo hộ quyền con người phù hợp với phạm vi, đối tượng điều chỉnh của từng ngành luật đó Về phương diện dân sự, quyền con người được cụ thể hóa thành các quyền dân sự

cụ thể trong các nhóm quyền như quyền kinh tế, quyền về tinh thần, quyền tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự Có thể thấy các quyền này đều đã được nhà nước ta qui định tương đối đầy đủ, cụ thể và toàn diện trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, mà đặc biệt là Bộ luật Dân sự 2005 Tuy vậy, vấn đề nhận thức về quyền con người trong xã hội ta hiện nay là chưa tương xứng với tính chất đặc biệt của loại quyền quan trọng bậc nhất này, cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền này chưa được quan tâm đúng mức Thực tiễn cũng cho thấy, ở đâu đó, vào một vài thời điểm nào đó, vấn đề quyền dân sự của con người vẫn chưa được bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả và triệt để

Bài viết sau đây bàn về vấn đề quyền con người trong lĩnh vực dân sự, thể hiện qua các quyền dân sự cụ thể của chủ thể, phương thức bảo vệ các quyền dân sự bằng các biện pháp dân sự, nêu lên một số điểm bất cập của pháp luật và định hướng hoàn thiện

Trang 15

2 QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ (HAY CÒN GỌI LÀ QUYỀN DÂN SỰ)

2.1 Quyền con người

Quyền con người là một giá trị vĩ đại của nhân loại được nhiều nhà tư tưởng của mọi thời đại quan tâm Theo các học giả, vấn đề quyền con người được các nhà tư tưởng quan niệm theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng có thể diễn đạt tựu trung bởi hai quan niệm.3

Quan niệm thứ nhất mà đại diện là Spinôđa (1682 – 1677), Locke (1632 – 1704), Kant (1724 – 1804) cho rằng, quyền con người là đặc quyền tự nhiên, bao gồm các quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền được tự do và quyền có tài sản Đặc quyền này do có pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định.4 Quan niệm thứ hai cho rằng, quyền con người cũng như con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội.5Theo đó, quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời là một khái niệm

có tính lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung những nội dung mới qua các thời đại khác nhau Aristốt khẳng định con người, với tính cách là “động vật chính trị”, luôn cần đến xã hội để tồn tại và phát triển C Mác xuất phát từ quan niệm con người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật – xã hội”, là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội” Theo C Mac, “con người - xã hội” là sự “tổng hòa những quan hệ xã hội”.6

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam, từ các bậc tiền nhân cho đến cách nhà cách mạng đương đại đều rất quan tâm đến vấn đề “con người”, với ý nghĩa đây là “trung tâm” của việc lập quốc và kiến thiết quốc gia Sinh thời, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn luôn đề cao tư tưởng: “Dân vi

Trang 16

bản”.7 Trong những giai đoạn thịnh trị, các triều đại phong kiến khác cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi tư tưởng này Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã từng

viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, và ông cũng từng có câu nói bất hủ: Nhà

nước như là thuyền, dân như nước Nâng thuyền cũng là nước, làm lật thuyền cũng là nước Thế mới biết sức dân mạnh như sức nước Ngày nay, tư tưởng ấy

đã được Bác Hồ nâng lên thành hệ tư tưởng của thời đại ta Bác Hồ đã từng nói

rằng: “Dân là bức tường thành xung quanh Tổ quốc Có dân là có tất cả” Tư

tưởng ấy thể hiện tập trung nhất, sinh động nhất trong Tuyên ngôn độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Bác đã đọc vào ngày 02 tháng 9 năm

1946 tại Ba Đình lịch sử:

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự

do

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm

1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được

Trả lời câu hỏi vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu Bản Tuyên ngôn Độc lập của mình bằng hai câu trích dẫn trên, nhà sử học Dương Trung Quốc

viết:“Câu trả lời cho thấy Hồ Chí Minh luôn đặt sự nghiệp cách mạng của dân

7

Có thể hiểu là “Dân là gốc” Đây được xem là quan điểm cơ bản của Khổng Tử về vấn đề

“Trị quốc” và “Nhân sinh” Tư tưởng của Khổng Tử đã được Mạnh Tử phát triển thêm một

bước trong câu “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” – Dân thì quí, xã tắc là thứ yếu, còn

nhà vua cũng là bậc thường mà thôi

Trang 17

tộc Việt Nam gắn liền với thời đại Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại, mà cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và cách mạng tư sản Pháp 1789 là những cái mốc lớn của lịch sử loài người Đó là nền tảng để

vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam khẳng định rằng, chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào mùa thu năm 1945 là bước tiếp, đồng thời cũng

là một cái cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người, vì đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc nhỏ yếu thoát khỏi ách của chủ nghĩa thực dân cũ và mới”.8

Dưới góc độ pháp lý, vấn đề quyền con người đã được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 của Liên hiệp quốc Các nội dung quyền con người

trong Tuyên ngôn 1948 đã được cụ thể hóa bằng hai công ước quốc tế là Công

ước về các quyền dân sự và chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa (Thông qua vào 16/12/1966 và có hiệu lực vào ngày 23/3/1976) Nội

dung hai Công ước này ghi nhận và cụ thể hóa quyền con người, tích cực bảo vệ quyền con người, trở thành chuẩn mực chung của các quốc gia trong việc định chế về quyền con người trong pháp luật của mỗi quốc gia

Trong lịch sử lập pháp hiện đại của nhà nước ta, vấn đề quyền con người được pháp luật đề cập gián tiếp bằng việc công nhận các quyền cụ thể của con người Nhưng khái niệm “quyền con người” được ghi nhận chính thức lần đầu

tiên trong Hiến pháp 1992: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các

quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”.9

Trang 18

So với các Hiến pháp năm 1959 và 1980, Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện một bước phát triển mới trong việc pháp điển hóa các quyền con người, với việc khẳng định khái niệm và sự tôn trọng các quyền con người (Điều 50) cũng như

bổ sung một loạt các quyền và tự do mới trên tất cả các lĩnh vực

Xét trên lĩnh vực dân sự, chính trị, trong Hiến pháp 1992, có 5 quyền quan trọng được ban hành mới hoặc bổ sung thêm, bao gồm: quyền sở hữu tài sản (bao gồm cả tư liệu sản xuất); quyền tự do kinh doanh; quyền ra nước ngoài và

từ nước ngoài về nước theo luật định; quyền được thông tin theo luật định; quyền bình đẳng của các tôn giáo; quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 còn đề cập đến việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và mở rộng việc bảo vệ, giúp đỡ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương Cùng với khái niệm quyền con người, các khái niệm có liên quan khác như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em…10 cũng được chính thức đề cập trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước

Nói tới “quyền” được hiểu theo góc độ pháp lý, “đó có thể được hiểu là

điều mà pháp luật công nhận cho người có quyền được hưởng, được làm, được đòi hỏi”.11

Con người với tính cách là một sinh vật - tự nhiên –xã hội, có những yêu cầu, đòi hỏi về điều kiện sinh tồn và được tự do, được bảo đảm tôn trọng danh dự, nhân phẩm, sự sống của mình Quyền của con người là những quyền hành xử của con người để mang đến những bảo đảm thật sự cho các giá trị đó Qua các qui định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, có thể hiểu quyền con người là các quyền lực của cá nhân con người được thừa nhận và được bảo đảm bởi các thiết chế xã hội và luật pháp để con người đó được sinh

Trang 19

ra, được sống, được tự do hành xử, lựa chọn và thụ hưởng các lợi ích chính đáng nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, được mưu cầu hạnh phúc, và thậm chí là được chết trong sự toàn vẹn, tự do và danh dự

Theo GS.TS Trần Ngọc Đường, trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay, quyền con người có một số thuộc tính cơ bản sau đây: (i) quyền con người là những giá trị gắn với mỗi con người vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội Nó vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, công đồng; (ii) là những giá trị đã được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt các yếu tố xã hội; (iii) quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá trị nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể, với chế độ chính trị, pháp luật cụ thể Thông qua pháp luật, các quyền con người từ trạng thái tự nhiên trở thành những quyền pháp lý được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện.12

2.2 Quyền con người trong lĩnh vực dân sự

Khoa học pháp lý chia quyền con người thành các nhóm quyền: quyền tự

do dân chủ về chính trị (tham gia quản lý nhà nước và xã hội, bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng, quyền tự do ngôn luận, báo chí, biểu tình…), các quyền trong lĩnh vực dân sự (quyền dân sự, quyền tự do cá nhân: bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, tự do đi lại, bất khả xâm phạm về chỗ ở…), các quyền kinh tế - xã hội (tự do kinh doanh, được học tập, được phát minh sáng tạo, quyền tự do lao động )

Quyền con người trong lĩnh vực dân sự (quyền dân sự) được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác của nhà nước Trong

đó, Bộ luật Dân sự 2005 là nguồn cơ bản và chủ yếu của pháp luật về quyền dân

sự của con người:

12

Trần Ngọc Đường, Sđd, tr 20-21

Trang 20

Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)

Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.13

Theo qui định của Hiến pháp 1992, Điều 15 Bộ luật Dân sự 200514

và các văn bản pháp luật liên quan, quyền dân sự của cá nhân con người được thể hiện

ở các nội dung sau đây:

2.2.1 Các quyền nhân thân hay tinh thần

Theo Hiến pháp 1992, các quyền tinh thần cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.15 Trên cơ sở Hiến pháp, đặt cơ sở pháp lý chung cho các quyền nhân thân, Bộ luật Dân sự 2005 (sau đây được viết tắt là BLDS 2005)

qui định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự

gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”16, và được cụ thể hóa thành các nhóm quyền sau:

Trang 21

2.2.1.1 Nhóm quyền liên quan tới nguồn gốc cá nhân: Quyền của cá nhân đối

với họ, tên (Điều 26 BLDS 2005); Quyền thay đổi họ, tên (Điều 27 BLDS 2005); Quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS 2005); Quyền được khai sinh (Điều 29 BLDS 2005); Quyền được khai tử (Điều 30 BLDS 2005); Quyền đối với quốc tịch (Điều 45 BLDS 2005);

2.2.1.2 Nhóm quyền liên quan tới thân trạng của cá nhân: Quyền của cá nhân

đối với hình ảnh (Điều 31 BLDS 2005); Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (Điều 32 BLDS 2005); Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33 BLDS 2005); Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34 BLDS 2005); Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35 BLDS 2005); Quyền xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS 2005); Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37 BLDS 2005); Quyền bí mật đời tư (Điều 38 BLDS 2005);

2.2.1.3 Nhóm quyền liên quan tới quan hệ hôn nhân và gia đình: Quyền kết hôn

(Điều 39 BLDS 2005); Quyền bình đẳng của vợ chồng (Điều 40 BLDS 2005); Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 41 BLDS 2005); Quyền ly hôn (Điều 42 BLDS 2005); Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con (Điều 43 BLDS 2005); Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44 BLDS 2005);

2.2.1.4 Nhóm quyền tự do dân sự, tự do lao động và sáng tạo: Quyền bất khả

xâm phạm về chỗ ở (Điều 46 BLDS 2005); Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47 BLDS 2005); Quyền tự do đi lại, tự do cư trú (Điều 48 BLDS 2005); Quyền lao động (Điều 49 BLDS 2005); Quyền tự do kinh doanh (Điều 50 BLDS 2005); quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 51 BLDS 2005);

Trên đây là những quyền nhân thân của cá nhân, là căn cứ pháp lý quan trọng để mọi cá nhân có khả năng thực hiện những xử sự nhằm thỏa mãn các lợi ích nhân thân chính đáng của mình Trên cơ sở các quyền này có thể đảm bảo cho mỗi cá nhân phát huy tối đa mọi năng lực của mình trong phạm vi và khả

Trang 22

năng có thể, chủ động và tự mình đảm bảo thực hiện các nhu cầu cơ bản về quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc, và thụ hưởng các lợi ích nhân thân khác

2.2.2 Các quyền kinh tế và tài sản

Trên cơ sở qui định của Hiến pháp 1992:

Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất -

kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới

Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật

Nhà nước thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.17

Điều 58 Hiến pháp 1992 cũng qui định: “Công dân có quyền sở hữu về thu

nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn

và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18

17

Điều 16 Hiến pháp 1992, được sửa đổi bởi khoản 7 Điều 1 Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa 10

Trang 23

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”

Trong BLDS 2005, quyền kinh tế của cá nhân được pháp luật bảo vệ ở các khía cạnh các quyền cụ thể như quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.18

2.2.2.1 Quyền sở hữu tài sản của tư nhân – cá nhân

Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của cá nhân đối với các loại tài sản, vốn, tư liệu sản xuất mà họ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt.19Đây là quan niệm sở hữu manh tính chất định hướng về mục đích sử dụng quyền

sở hữu đối với các đối tượng của quyền sở hữu, không phân biệt môi trường thực hiện quyền sở hữu.20

Các quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản bao gồm chủ yếu là các quyền sở hữu tư nhân được qui định tại các Điều 211 – Điều 213 BLDS 2005 và các qui định liên quan khác Theo qui định này, mọi cá nhân đều được pháp luật thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản, lợi ích vật chất, các khoản thu nhập hợp pháp của mình Nội dung quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản Đối tượng của quyền sở hữu tư nhân là mọi tài sản không hạn chế về số lượng và giá trị, trừ những tài sản mà pháp luật qui định không thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức (đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên thiên nhiên… và các loại vũ khí, quân trang quân dụng, khí tài quốc phòng, an ninh…).21 Quyền sở hữu của tư nhân có thể bị hạn chế trong những trường hợp do pháp luật qui định.22 Quyền sở hữu

Nguyễn Như Phát, Quyền sở hữu của cá nhân - Cội nguồn của tự do kinh doanh trong kinh

tế thị trường – Trích “Quyền con người - Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội” –

Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, H 2009, tr 86

21

Các Điều 212 và Điều 200 BLDS 2005

22

Điều 199 BLDS 2005

Trang 24

của cá nhân đối với tài sản được xác lập và chấm dứt dựa trên căn cứ do pháp luật qui định.23

2.2.2.2 Quyền thừa kế của cá nhân

Quyền thừa kế của cá nhân đối di sản là một cách thức để duy trì và củng

cố quyền sở hữu tư nhân Quyền thừa kế là quyền của cá nhân được để lại di sản của mình sau khi chết theo di chúc hoặc theo pháp luật, quyền được hưởng di sản thừa kế của người khác để lại, quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ trước người thứ ba

Quyền thừa kế của cá nhân được qui định từ các Điều 631 – Điều 687 BLDS 2005 Theo đó, nhà làm luật xác định rõ khái niệm di sản, người thừa kế

và điều kiện để được hưởng thừa kế, thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế, thời hiệu khởi kiện thừa kế, việc lập di chúc để định đoạt di sản theo ý chí cá nhân, việc để lại di sản theo pháp luật, việc thanh toán nợ từ di sản, việc phân chia và hạn chế phân chia di sản

Ngoài ra, luật còn bảo vệ những người yếu thế trong gia đình, dựa trên

nguyên tắc “củng cố tình thương yêu đoàn kết trong gia đình” để qui định cho

một số người thừa kế trong các trường hợp đặc biệt như: cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động

đẻ nuôi sống mình và không được người chết dành phần di sản thỏa đáng, thì vẫn có thể nhận di sản thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc (Điều 669 BLDS 2005); hoặc ủng hộ quá trình duy trì quyền tư hữu thông qua các qui định

về hàng thừa kế (Điều 676), thừa kế thế vị (Điều 677), thừa kế chuyển tiếp, cũng như cho phép tòa án „tước quyền thừa kế‟ của những người bất xứng (Điều 643 BLDS 2005)…

23

Điều 170 và Điều 171 BLDS 2005

Trang 25

2.2.2.3 Quyền của cá nhân được tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, được hưởng quyền, gánh gác nghĩa vụ và chịu trách nhiệm phát sinh từ các quan hệ đó

BLDS 2005 là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng chủ yếu để các cá nhân thực hiện các quyền tự do sản xuất kinh doanh, quyền lao động tạo ra của cải vật chất cho bản thân, gia đình, và xã hội, thông qua việc thừa nhận cá nhân

có quyền tham gia vào các giao dịch dân sự, các hợp đồng dân sự để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình

BLDS 2005 đặt nền tảng pháp lý cho cá nhân xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, bằng cách qui định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 122 – Điều 138) và qui định về quá trình xác lập, thực hiện các nghĩa vụ dân sự và hợp đồng, pháp luật cho phép cá nhân có thể tự mình tham gia vào các quan hệ pháp luật hoặc có thể tham gia thông qua người đại diện hợp pháp, như người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp khác24

Ví dụ: đại diện theo pháp luật (như cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên, người giám hộ đại diện cho người được giám hộ, người được tòa án chỉ định đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự…), hoặc diện theo ủy quyền (dựa trên hợp đồng ủy quyền hợp pháp)

Cá nhân có thể giao kết, thực hiện, sửa đổi, bổ sung các hợp đồng do các bên tự nguyện tham gia, dựa trên các điều kiện do pháp luật qui định, như các hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng ủy quyền… (từ các Điều 388 – 593 BLDS 2005)

Trang 26

2.2.3 Quyền nhân thân có yếu tố tài sản

Đó là các quyền nhân thân và quyền tài sản trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ Đây là loại quyền “lưỡng tính” - vừa bao gồm các quyền có tính chất tinh thần, vừa bao gồm các quyền có tính chất kinh tế Đặc điểm cơ bản của loại quyền này là có đối tượng là tài sản vô hình, và mang tính lãnh thổ cao

Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới chia các loại quyền này thành hai loại: quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp

Quyền tác giả được thừa nhận đối với các đối tượng như đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Ngoài ra, pháp luật cũng bảo hộ các quyền liên quan của cá nhân người biểu diễn, quyền của các tổ chức ghi âm, ghi hình,

tổ chức phát thanh, truyền hình…

Quyền sở hữu công nghiệp được thừa nhận đối với các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế, bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh…

Các loại quyền này được ghi nhận trong BLDS 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ

2005, cũng như Luật Khoa học và công nghệ 2000, Luật Chuyển giao công nghệ

2006 Thông qua các qui định này, nhà làm luật đã tạo ra cơ sở pháp lý ghi nhận

và bảo vệ quyền tự do sáng tạo và những lợi ích chính đáng của các văn nghệ sỹ, các nhà khoa học, các nhà phát minh sáng chế an tâm làm việc, sáng tạo ra nhiều tài sản tinh thần góp phần to lớn vào quá trình cải tạo xã hội, phát triển tri thức

và làm giàu cho gia đình, xã hội và cho cả nhân loại

3 BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ CỦA CON NGƯỜI BẰNG CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ

Quyền con người nói chung được nhà nước ta ghi nhận và có cơ chế bảo đảm thực hiện bằng Hiến pháp, các thiết chế quyền lực nhà nước như thông qua

hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước (nhân dân tham gia vào hoạt động lập

Trang 27

hiến, lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề cơ bản quan trọng của đất nước

và dân tộc…); quyền con người cũng được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống cơ quan hành pháp, cũng như bởi các cơ quan tư pháp

Ở góc độ pháp luật dân sự, quyền con người trong lĩnh vực dân sự được ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp dân sự Tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Theo

Tùy theo loại quyền dân sự bị xâm phạm là loại quyền gì mà có các biện pháp bảo vệ thích hợp Thường có hai cách thức bảo vệ khác nhau cho hai trường hợp là các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm và các biện pháp kiện bảo vệ quyền sở hữu tài sản bị xâm phạm

3.1 Bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm

Khi quyền nhân thân bị xâm phạm, pháp luật dân sự cho phép các bên có quyền lợi ích bị xâm phạm được áp dụng các phương thức kiện dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo BLDS 2005, có thể bảo vệ quyền

nhân thân bị xâm phạm qua các biện pháp sau đây: (1) Tự mình cải chính; (2)

Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; (3) Yêu

25

Điều 9 BLDS 2005

Trang 28

cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.26

Kiện đòi bồi thường thiệt hại thường được khi các quyền nhân thân bị xâm phạm: khi sức khỏe bị xâm phạm (Điều 609 BLDS 2005), tính mạng bị xâm phạm (Điều 610 BLDS 2005), danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều

611 BLDS 2005), các quyền và lợi ích chính đáng bị xâm phạm (Điều 604 BLDS 2005)

Kiện đòi bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có các điều kiện: có thiệt hại xảy ra trên thực tế, hành vi xâm phạm các quyền đó là trái pháp luật (không thuộc các trường hợp được pháp luật cho phép: phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết…), có quan hệ nhân - quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại thực

tế, và có lỗi của bên gây thiệt hại (trừ trường hợp pháp luật qui định việc bồi thường thiệt hại không cần dựa trên yếu tố lỗi)

Việc bồi thường được thực hiện dựa trên nguyên tắc công bằng, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời…

Ngoài ra, có thể buộc bên vi phạm phải cải chính công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức việc xin lỗi công khai đối với người bị thiệt hại, theo yêu cầu và thủ tục do pháp luật qui định

Riêng đối với các trường hợp thiệt hại bị gây ra bởi cán bộ, công chức, viên chức đang thi hành công vụ, hoặc do oan, sai trong tiến hành tố tụng hình sự và các hình thức tố tụng khác, thì việc bồi thường theo qui định riêng bởi Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước 2009

Nhìn chung, việc bảo vệ quyền nhân thân bằng các biện pháp dân sự nhằm bảo đảm sự thuận lợi, dễ dàng cho người bị thiệt hại trong việc đòi lại công bằng

và khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm một cách triệt để

26

Điều 25 BLDS 2005

Trang 29

Đây là biện pháp pháp lý dựa trên quyền tự định đoạt cá nhân, là loại trách nhiệm pháp lý giữa cá nhân bên gây thiệt hại với bên bị thiệt hại, mang tính chất tài sản, có thể giải quyết bằng con đường thương lượng, hòa giải

3.2 Bảo vệ quyền sở hữu bị xâm phạm

Khi quyền quyền sở hữu, quyền thừa kế, hoặc quyền sản khác bị xâm phạm, cá nhân có thể khởi kiện dân sự yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết dựa trên các căn cứ pháp lý và các cơ sở, điều kiện do

pháp luật qui định Theo BLDS 2005, “Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn

cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật”.27

Về phương diện lý luận, khi quyền sở hữu tài sản bị xâm phạm, các bên liên quan thường sử dụng các biện pháp và phương thức kiện, như: kiện vật quyền (kiện đòi lại vật), kiện trái quyền (kiện đòi nợ hoặc đòi bồi thường thiệt hại) và kiện yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật cản trở chủ sở hữu thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của mình.28

Kiện vật quyền thường chỉ được áp dụng cho các trường hợp tài sản bị

chiếm đoạt (chiếm hữu không có căn cứ pháp luật) là những hiện vật, tài sản đó phải hiện còn tồn tại trong sự chiếm hữu, quản lý của người bị kiện, và đó phải

là vật đặc định Thường việc xem xét nhằm buộc bên đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật được dựa trên các dấu hiệu: xem đó là trường hợp chiếm hữu ngay tình hay không ngay tình, tài sản bị chiếm hữu là bất động sản, động sản có đăng ký, hay động sản thông thường, vật rời khỏi chủ sở hữu ngoài ý chí hay

Trang 30

trong ý chí của bên đi kiện, người chiếm hữu thực tế thông qua giao dịch có đền

bù hay không đền bù Về nguyên tắc, các trường hợp một người đang thực tế chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tài sản của người khác, khi bị kiện trong hầu hết các trường hợp là phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu, hoặc người chiếm hữu hợp pháp, chỉ trừ một số trường hợp ngoại lệ: chiếm hữu động sản không đăng ký quyền sở hữu một cách ngay tình, thông qua giao dịch không có đền bù, hoặc nếu có đền bù thì vật phải rời khỏi chủ sở hữu trong ý chí (Điều

267 BLDS 2005), hoặc nếu là bất động sản, động sản có đăng ký thì việc chiếm hữu đó phải là ngay tình, trong các trường hợp dựa trên bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà sau đó bản án đó bị hủy, bị sửa theo thủ tục luật định (Điều 268 BLDS 2005), hoặc tài sản đó đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình (Điều 138 BLDS 2005)

Kiện trái quyền (kiện đòi bồi thường thiệt hại) áp dụng cho các trường hợp

xâm phạm tới tài sản mà tài sản đó không còn, hoặc gây ra các thiệt hại khác cho tài sản, làm cho nó bị mất, bị hư hỏng, giảm sút giá trị, tốn chi phí để hạn chế, khắc phục thiệt hại, mất thu nhập từ tài sản… Theo đó, bên bị thiệt hại sẽ kiện đòi bên có hành vi trái pháp luật, xâm phạm tới tài sản hoặc quyền sở hữu tài sản của mình mà gây ra thiệt hại thực tế thì phải bồi thường thiệt hại thực tế đó dựa trên cơ sở lỗi của họ

Kiện đòi chấm dứt hành vi trái pháp luật cản trở việc thực hiện bình

thường quyền sở hữu hoặc các quyền năng dân sự khác đối với tài sản, nhằm buộc người có hành vi trái pháp luật phải chấm dứt ngay hành vi trái pháp luật

đó để bảo đảm cho quyền sở hữu, quyền khai thác, sử dụng, định đoạt tài sản được thực hiện bình thường, đúng bản chất và nội dung của nó do pháp luật qui định

Ngoài ra, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng qui định về các trường hợp đặc biệt để buộc các chủ thể phải hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp

Trang 31

pháp về các khoản lợi phát sinh do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

4 MỘT SỐ ĐIỂM BẤT CẬP TRONG CÁC QUI ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG LUẬT DÂN SỰ VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN BƯỚC ĐẦU

4.1 Trong lĩnh vực bảo hộ quyền nhân thân

Các quyền nhân thân trong lĩnh vực dân sự đã được pháp luật của nhà nước

ta qui định khá đầy đủ, với nhiều nội dung rất tiến bộ, phù hợp với yêu cầu của

sự phát triển một xã hội văn minh và hiện đại Đây là những căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng nhằm ghi nhận đầy đủ các quyền con người trong lĩnh vực dân

sự, bảo đảm cho cá nhân có cơ sở pháp lý vững chắc trong việc thực hiện và bảo

vệ các quyền nhân thân chính đáng của mình Qua đó, góp phần ổn định trật tự

xã hội, đưa đất nước ta ngày càng phát triển, tiến bộ Những thành tựu đó đã được khẳng định và không có gì phải bàn cãi Tuy vậy, trong một chừng mực nhất định, ở một vài nơi, trong một số trường hợp nhất định, vấn đề bảo hộ quyền nhân thân của con người chưa được bảo đảm thực hiện đầy đủ, đúng mức

mẹ và trẻ em…

Trang 32

Mặc dù vậy, cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền này đôi khi đi vào trạng thái “lực bất tòng tâm” Có thể kể đến các trường hợp quyền nhân của người dân bị vi phạm nghiêm trọng nhưng việc bảo vệ chưa được thực hiện tốt

- Chẳng hạn, theo qui định của Hiến pháp và BLDS 2005, nhà nước Việt Nam thừa nhận các quyền được chữa bệnh, quyền được học hành và được chăm sóc y tế, quyền được bảo đảm sức khỏe tính mạng, đặc biệt là trong trường hợp người bệnh bị ốm đau, tai nạn bất ngờ cần được cấp cứu Quyền được chữa bệnh

và quyền được học hành hiện có tình trạng thực hiện khá giống nhau, đó là tình trạng quá tải ở các trường học và bệnh viện công, các bệnh viện và trường học được đánh giá là chuẩn, có chất lượng tốt Trên thế giới, ít có nơi nào mà một lớp học nhà trẻ hay phổ thông lên đến 45 – 50 cháu Lớp đông dẫn đến chất lượng đào tạo không đảm bảo, việc quản lý trường lớp và quản lý, theo dõi sát từng học sinh vì thế cũng gặp rất nhiều khó khăn, dẫn đến quá tải về nhân lực và

cơ sở hạ tầng Ngành y tế còn thiếu và yếu, ở nhiều tỉnh (như tỉnh Hậu Giang,

Cà Mau, An Giang và nhiều tỉnh miền Tây Nam bộ khác), hầu hết tuyến bệnh viện cấp xã chưa có bác sỹ, hoặc chưa có các trang thiết bị, kỹ thuật y tế cơ bản

để đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho người dân

- Vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề thực phẩm kém chất lượng và sử dụng các chất độc hại để chế biến, bảo quản, gây ra sự ảnh hưởng và xâm phạm nghiêm trọng tới quyền được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe của người dân Đây cũng là vấn đề nhức nhối và gây bức xúc đặc biệt trong dư luận hiện nay Ở đâu đó, người ta còn thấy nổi lên các hiện tượng Vedan xả nước thải nhiều năm

mà không bị phát hiện, gây ô nhiễm nặng sông Thị Vải, thậm chí sau khi bị phát hiện đơn vị này vẫn còn được cơ quan, tổ chức tôn vinh và cấp bằng về chất lượng sản phẩm (!); Nhà máy đóng tàu Vinashin Đà Nẵng xả chất thải dioxit cacbon từ công đoạn làm sạch bề mặt tàu gây ô nhiễm nặng; Nhà máy hóa chất Super Phốt - phát Lâm Thao gây ô nhiễm và là nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư của hàng trăm người dân đang sống tại Làng Thạch Sơn (mà báo chí gọi đây

Trang 33

là làng Ung thư); Nhà máy Bột mì Ninh Thuận xả chất thải ngâm bột mì sống, gây ô nhiễm nặng nguồn nước và không khí dẫn đến bệnh viêm mũi, họng, viêm phế quản hàng loạt và gây ra các bệnh mãn tính cho rất nhiều người dân trong vùng…

- Các hiện tượng tương tự như vụ nước tương nhiễm chất 3 MCPD gây ung thư, sữa nhiễm chất melamine… gây thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn là câu chuyện phổ biến, diễn ra hàng ngày, hàng giờ gây bức xúc trong dư luận, nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết có hiệu quả và triệt để

Để giải quyết tốt các vấn đề này, chúng ta cần sớm hoàn thiện pháp luật và thể chế trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trước mắt, khẩn trương hoàn thiện Dự luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, qui định các nguyên tắc

ưu tiên bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước các hợp đồng thiếu công bằng và các hành vi sản xuất hàng hóa kém chất lượng, hoặc những hành vi khác xâm phạm tới quyền lợi người tiêu dùng, qui định một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với sản phẩm hàng hóa, qui định các cơ chế thuận lợi cho người tiêu dùng thực hiện các quyền của mình, như qui định về thiết chế tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cải cách các qui định liên quan tới thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm cho người tiêu được khiếu nại và tham tố tụng được thuận lợi, dễ dàng

- Vấn đề đào đường, kẹt xe, ùn tắt giao thông gây cản trở quyền tự do đi lại, hàng ngày hàng giờ xâm phạm tới sức khỏe của người dân, cũng như gây khó khăn, thiệt hại cho hoạt động kinh doanh, và đời sống của cư dân ven đường vẫn còn tiếp diễn phổ biến và chưa có hồi kết

Quyền được di chuyển, đi lại của người già yếu, người khuyết tật vẫn chưa được bảo đảm Tuy pháp luật đều có qui định riêng về việc này, nhưng việc thi hành trên thực tế gần như là con số không Ví dụ: có bao nhiêu tòa nhà được xây dựng ở Việt Nam có lối đi dành riêng cho người khuyết tật, có bao nhiêu con

Trang 34

đường có lối riêng cho người khuyết tật qua đường hoặc đi dọc theo đường đi chung, các phương tiện giao thông có chú ý tới sự di chuyển dành cho người khuyết tật? Câu trả lời có thể là có rất ít hoặc không có Mới đây, báo chí đã đưa tin về trường hợp một hãng hàng không từ chối vận chuyển hai khách hàng

bị khiếm thính, vì sợ không nghe rõ những yêu cầu hoặc hướng dẫn trên máy bay, sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý tình huống nguy hiểm Tương tự, một hãng hàng không lớn khác đã từ chối cung cấp dịch vụ cho người bị khuyết tật trong việc lên xuống máy bay bằng xe lăn, làm cho hành khách không thể lên máy bay được và hành khách này đã khởi kiện ra tòa để nhờ sự che chở của pháp luật Sự việc đó không chỉ nói lên tình trạng kém văn minh trong hoạt động công cộng dành cho người khuyết tật, và cũng nói lên sự thiếu quan tâm đúng mức của xã hội đối với các quyền lợi chính đáng của người khuyết tật

- Vấn đề khai sinh và việc xác định nơi cư trú của cá nhân ở một số nơi vẫn chưa được đảm bảo, thực hiện không nhất quán và thủ tục khó khăn Cùng một loại việc, nhưng có nơi cho nhập hộ khẩu, nhưng có nhiều nơi không cho; cùng một loại việc khai sinh, nhưng có nơi thì cấp giấy khai sinh quá dễ dãi, có nơi gây khó khăn, thậm chí không chịu làm thủ tục cấp giấy khai sinh, dẫn đến việc người dân không được hưởng thụ những quyền, lợi ích chính đáng của mình Nguyên nhân cơ bản của các hiện tượng trên là do điều kiện về cơ sở vật chất, bộ máy, con người, cơ chế chính sách cụ thể trong quản lý điều hành còn thiếu và yếu, ý thức tự bảo vệ của mỗi người dân chưa cao, việc tuyên truyền vận động thực hiện còn bỏ ngỏ Trong nhiều trường hợp, sự khó khăn trở ngại trong việc thực hiện các quyền này là do thủ tục quá rờm ra hoặc nhiêu khê

Từ nhận thức đó, cần rà soát lại các nguyên nhân cụ thể, để xác định xem đâu là nguyên nhân khách quan, đâu là nguyên nhân chủ quan, đâu là do thủ tục,

cơ chế để từ đó xác định chủ thể, phương pháp, chiến lực cải cách thích hợp Ví dụ: do việc bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ công chúng trong vùng bị ô nhiễm chưa tốt có thể là do cơ chế quản lý và trách nhiệm quản lý chưa rõ ràng thì cần

Trang 35

xác định rõ xem cơ quan, cá nhân nào có trách nhiệm quản lý điều phối việc này? Hoặc trong các thủ tục khởi kiện nhiều người đòi bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng hoặc do gây ô nhiễm môi trường, nếu thủ tục yêu cầu bồi thường có khó khăn, do án phí quá cao, không có cơ chế khởi kiện tập thể, việc chứng minh là phức tạp thì cần phải sửa lại thủ tục thuận lợi cho người có thể dễ dàng khiếu nại hoặc khởi kiện, sửa qui định về cách tính án phí, sửa qui định về nghĩa vụ chứng minh lỗi và quan hệ nhân quả trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại…

4.1.2 Chưa xác định các nguyên tắc, cơ chế lựa chọn ưu tiên trong việc giải quyết sự xung đột giữa các quyền nhân thân

Pháp luật Việt Nam qui định nhiều quyền nhân cho cá nhân và bảo vệ các quyền nhân thân khá tốt, nhưng lại chưa qui định cụ thể về nguyên tắc, cơ chế giải quyết xung đột giữa các quyền nhân thân Chẳng hạn, sự xung đột giữa quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể với quyền được nhận hoặc không nhận cha, mẹ cho con trong trường hợp một người “con rơi” muốn yêu cầu lấy mẫu AND của một người được nghi vấn là “cha đẻ” của mình, nhưng nếu người bị yêu cầu cho lấy mẫu AND lại sử dụng quyền bất khả xâm phạm về thân thể để từ chối, thì việc sẽ bảo vệ ai sẽ dựa trân cơ sở pháp lý xem quyền nào ưu tiên hơn Xung đột này hiện chưa có giải pháp khắc phục và chưa có nguyên tắc giải quyết cụ thể

Hoặc trường hợp có sự xung đột giữa quyền được bảo đảm bí mật đời tư hay quyền đối với hình ảnh của cá nhân, với quyền được thông tin của công chúng, báo chí, thì cũng không có nguyên tắc để xác định thứ tự ưu tiên bảo vệ Nên nếu thực tế có sự mâu thuẫn giữa các quyền này, thì cơ chế xác định trách nhiệm vẫn chưa rõ ràng, cụ thể Theo đó, câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm (nhà báo, tòa soạn hay cơ quan cho đăng tin, ảnh của người bị nghi là phạm tội) trong khi kết quả điều tra, phán xử cuối cùng cho thấy người đó không phạm tội, dẫn

Trang 36

đến việc đưa tin ban đầu đã xâm phạm quyền nhân thân của đương sự, vẫn là câu hỏi còn nhiều bỏ ngỏ

Từ đó, cần ra soát lại các trường hợp khi các quyền nhân thân bị xung đột thì cơ chế bảo vệ sẽ ưu tiên dành cho quyền nào nhiều hơn, đồng thời qui định

cụ thể thủ tục và hậu quả pháp lý trong việc giải quyết các vấn đề này

4.1.3 Xác định mức bồi thường thiệt hại về tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị vi phạm là chưa đáng kể và chưa tương xứng với yêu cầu của thực tế

Quyền được bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhâm phẩm, uy tín cũng được đặt ra trên phương diện trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng Theo đó, bên nào xâm phạm tới các lợi ích nêu trên mà gây ra thiệt hại cho nạn nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo qui định của pháp luật Trong đó có khoản bồi thường thiệt hại về tinh thần, như trường hợp bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có người thân chết, hoặc người bị xâm phạm sức khỏe, hoặc

bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 609 –Điều 611 BLDS 2005) Vấn đề đặt ra là, trong hầu hết các trường hợp nói trên, mức bồi thường thiệt hại về tinh thần là không đáng kể Chẳng hạn, mức bù đắp về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm (ví dụ bị mù mắt, bị cụt tay chân, bị tàn phế, bị hủy hoại nhan sắc…) thì được bồi thường tối đa là 30 tháng lương tối thiểu.29 Hoặc để bù đắp cho những mặc cảm, sự đau đớn về thân xác, cảm giác, sự mất mát hụt hẫng

về tinh thần trong khi bị tàn phế, với mức bồi thường khoảng 15 – 20 triệu đồng Hoặc trường hợp bị xâm phạm tới nhân phẩm, danh dự có thể được bồi thường tối đa là 10 tháng lương tối thiểu, tức khoảng hơn 6 triệu đồng

Mức bồi thường như các trường hợp trên là con số quá khiêm tốn, nếu không nói là quá “rẻ” và không đáng kể Tất nhiên, giá trị tinh thần, như tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín là vô giá, không thể tính được

29

Khoản 2 Điều 609 BLDS 2005

Trang 37

thành tiền, nhưng bồi thường với mức trên thì quả là quá ít và không thỏa đáng, không đủ để thực hiện các hoạt động nhằm giúp đương sự cải thiện được tình trạng tổn thất tinh thần của mình Bởi vậy, có thể nghiên cứu để đưa ra mức bồi thường thích hợp và thỏa đáng hơn

4.2 Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu, quyền thừa kế, quyền tham gia vào các giao dịch dân sự của cá nhân

4.2.1 Trong lĩnh vực quyền sở hữu

- Nhận thức và qui định về vấn đề chế độ sở hữu và hình thức sở hữu của Việt Nam hiện nay chưa rõ ràng Hiến pháp 1992 qui định về 3 chế độ sở hữu là

toàn dân, tập thể, tư nhân: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều

thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” 30

Trong khi đó, BLDS 2005 qui định có 6 hình thức sở hữu Vấn đề đặt ra, cả

về phương diện lý luận lẫn phương diện pháp lý, là chúng ta vẫn chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phạm trù „chế độ sở hữu‟ với khái niệm „hình thức sở hữu‟ Vậy hình thức sở hữu được phân định dựa trên những cơ sở khoa học nào,

có liên quan gì tới chế độ sở hữu, có gì khác biệt với chế độ sở hữu, sự phân định như vậy có khoa học và hợp lý chưa… là những nghi vấn khoa học cần phải được giải quyết

Mặt khác, hình thức sở hữu nhà nước (Điều 200 – Điều 207 BLDS 2005)

và các hình thức sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội (Điều 227 – Điều 229 BLDS 2005), hình thức sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Điều 230 – Điều 332 BLDS 2005) vẫn còn chưa được qui định thật rõ ràng, cụ thể

30

Điều 15 Hiến pháp 1992

Trang 38

Trong hình thức sở hữu nhà nước, chúng ta thấy có sự chưa thống nhất với chế độ sở hữu toàn dân trong Hiến pháp Vậy, chế độ sở hữu toàn dân có quan

hệ như thế nào tới quyền sở hữu nhà nước đối các tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng của quốc gia? Trong hình thức sở hữu nhà nước, thì chủ sở hữu là ai, nhân dân hay nhà nước, mối quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu (là nhà nước) với người chủ thật sự của tài sản quốc gia (là nhân dân như thế nào), nhân dân có quyền tới mức nào đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu toàn dân, cơ chế làm chủ của hình thức sở hữu nhà nước là như thế nào và đã rõ ràng hay chưa, là những câu hỏi rất lớn cần phải được nghiên cứu làm rõ

Việc qui định về quyền sử dụng đất của cá nhân người dân chưa đạt được mục mục đích mà nhà làm luật đặt ra ban đầu là nhằm để hạn chế việc “tích tụ đất”, “đầu cơ đất” và chưa bảo vệ tốt người sử dụng đất là nông dân, nhân dân lao động Mặc dù chúng ta nhất quán từ đầu đến cuối là đất đại thuộc sở hữu toàn dân, và người dân chỉ có thể được hưởng quyền sử dụng đất Mục đích cơ bản của qui định này là chống lại tình trạng đầu cơ đất, tích tụ đất, gây mất cân đối về quyền sở hữu đối với đất đai – tư liệu sản xuất quan trọng nhất cuả nền kinh tế quốc gia Từ đó, nhằm hướng đến sự kiểm soát thu nhập từ đất, chống lại tình trạng người bóc lột người, chống lại việc “phát canh thu tô”, chống lại hiện tượng lười lao động và tình trạng thu hưởng bất công của một số người giàu có, chuyên “ngồi nhà mát hưởng bát vàng”, so với những người dân trực tiếp lao động sản xuất

Tuy vậy, có thể khẳng định, mục đích đó thông qua thực tế là chưa làm được Vậy, việc không thừa nhận quyền sở hữu của tư nhân đối với đất đai vẫn chưa đạt được mục đích ban đầu của nó Trái lại, điều này còn mang đến thực tế

là, việc tích tụ đất và đầu cơ về đất có xu hướng ngày tăng, với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn Số lượng các công ty kinh doanh doanh bất động sản của tư nhân, nước ngoài, nhiều chủ trang trại, nhiều chủ đồn điền cao su chiếm hữu số đất lên đến vài trăm nghìn mét vuông, ngày càng tăng Nhiều chủ dự án

Trang 39

lấy đất của dân và đền bù rẻ mạt (22.000 đ/m2), rồi đầu tư cơ sở hạ tầng để bán lại với giá cao hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lần (25.000.000 đ/m2) để thu chênh lệch quá đáng, gây bất bình cho người liên quan và gây bức xúc trong dư luận Từ đó, đòi hỏi cần nghĩ đến cách thức khác để hạn chế những mặt tiêu cực của việc tích tụ, đầu cơ đất, thay vì chỉ qui định không thừa nhận tư hữu về đất đai Tôi cho rằng, có thể thừa nhận quyền tư hữu về đất đai, nhưng sẽ qui định hạn điền thật chặt chẽ và hạn chế một số quyền của chủ sở hữu tư nhân về đất đai Phần diện tích đất vượt quá hạn điền mà một tư nhân đang có cần phải được công nhận ở chế độ thuê đất, với những thủ tục xem xét cho thuê đất minh bạch, nhưng chặt chẽ nhằm hạn chế tiêu cực của cơ chế „xin – cho”

Về hình thức sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội, và hình thức sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức chính trị

xã hội - nghề nghiệp hiện vẫn chưa được qui định rõ ràng, cụ thể Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, loại hình sở hữu này rất mờ nhạt, chưa hiện rõ hình hài, chưa xác định rõ các yếu tố cấu thành của quan hệ sở hữu, như chủ thể của quyền sở hữu là ai, khách thể của quyền sở hữu này là gì, các nội dung của quyền sở hữu được thực hiện như thế nào, hiện vẫn còn là những vấn đề chưa được làm rõ Điều đó đòi hỏi cần phải nghiên cứu làm rõ về mặt lý luận, đối chiếu về mặt thực tiễn để xác định chính xác đây có phải là một hình thức sở hữu độc lập, có đặc thù riêng hay chỉ là một dạng sở hữu chung đặc biệt nào đó, hoặc sở hữu của pháp nhân, hoặc sở hữu của tập thể?

- Vấn đề cấp giấy chủ quyền nhà, đất hiện vẫn còn là vấn đề bất cập lớn nhất và hiện vẫn chưa giải quyết triệt để, khoa học

Thủ tục cấp giấy tờ chủ quyền nhà và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiêu khê, chưa đảm bảo tốt nhất quyền lợi của chủ nhà, chủ đất Hiện còn hàng chục vạn ngôi nhà, thửa đất hợp pháp của người dân vẫn chưa cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc chứng nhận quyền sử dụng đất, mặc dù thời hạn cuối cùng theo cam kết của Chính phủ trước nhân dân cả

Trang 40

nước đã qua đi từ nhiều năm nay Quan điểm của các cơ quan nhà nước có liên quan đến việc này có sự khác biệt đáng kể, làm cho chương trình cấp giấy chủ quyền nhà đất đại trà trong nhân dân bị “giẫm chân tại chỗ” trong nhiều năm qua Ý kiến còn bất đồng về việc cấp một giấy hay hai giấy cho ngôi nhà trên một thửa đất, hiện vẫn còn chưa thống nhất và đi đến quyết định cuối cùng Cách thức ghi tên chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng đất là một người đại diện cho cả hộ, cho vợ chồng hay phải ghi tất cả tên của những người này hiện vẫn còn có sự nhận thức khác nhau giữa các cơ quan và các địa phương khác nhau Dư luận đã từng đặt câu hỏi: tấm giấy chứng nhận quyết định cái nhà hay cái nhà quyết định tấm giấy đó,31 hiện vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng

4.2.3 Quyền tham gia vào các giao dịch dân sự của cá nhân vẫn còn nhiều bất cập chưa được giải quyết, gây khó khăn cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật

- Cơ chế bảo vệ kẻ kẻ yếu trong giao dịch dân sự vẫn chưa đầy đủ và chưa hiệu quả Trong các hợp đồng soạn sẵn và hợp đồng theo mẫu giữa các doanh

nghiệp bán hàng chuyên nghiệp, hoặc các doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực độc quyền với người dân vẫn còn nhiều bất cập, chứa đựng các điều khoản bất công, phân chia rủi ro và lợi ích không công bằng, dành cho doanh nghiệp hưởng lợi thái quá trong khi đẩy sự rủi ro và sự bất lợi về phía khách hàng, nhưng vẫn chưa có qui định và cơ chế nào có thể kiểm soát tốt được vấn

đề này Điều đó đòi hỏi cần sớm có cơ chế thích hợp nhằm kiểm soát tốt quá trình soạn thảo, sử dụng các điều khoản hợp đồng chung, các hợp đồng mẫu gây bất lợi cho người tiêu dùng, cũng như xây dựng các cơ chế nhằm hủy bỏ, hoặc cải sửa các điều khoản bất công đó, các chế tài thích hợp trong việc đưa ra các điều khoản hợp đồng bất công đối với người tiêu dùng Nội dung này tốt nhất là nên qui định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - một văn bản pháp

31 Phạm Duy Nghĩa, Sổ đỏ không đẻ ra cái nhà, Tuổi trẻ online,

http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc/view.aspx?news_id=214556

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w