1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân theo quy định tại luật dân sự 2005

149 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh do Khoa luật dân sự phối hợp cùng trung tâm Nhân quyền tổ chức vào tháng 12/2009… cùng với nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu pháp luật đi vào

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN

NHÂN QUYỀN

NĂM 2011

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO XÂM PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN THEO QUY ĐỊNH TẠI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN

NHÂN QUYỀN

NĂM 2011

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO XÂM PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN THEO QUY ĐỊNH TẠI

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

Chủ nhiệm đề tài ThS Chế Mỹ Phương Đài

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 11 - 2011

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

1 Chủ nhiệm đề tài

Chế Mỹ Phương Đài – Thạc sĩ luật học, Giảng viên chính - Khoa luật Dân

sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

2 Thư ký đề tài

Nguyễn Nhật Thanh – Giảng viên - Khoa luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

3 Các tác giả tham gia viết đề tài

Th.S-GVC Chế Mỹ Phương Đài – Giảng viên khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ths Nguyễn Trương Tín - Giảng viên khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

CN Nguyễn Thanh Thư - Giảng viên khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

CN Nguyễn Nhật Thanh - Giảng viên khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân 5

1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân 5

1.1.2 Đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân 10

1.2 Các quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của BLDS 2005 13

1.2.1 Nhóm các quyền nhân thân nhằm cá biệt hoá cá nhân 14

1.2.2 Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân 25

1.2.3 Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của cá nhân 30

1.2.4 Nhóm các quyền tự do của cá nhân trong lĩnh vực dân sự 33

1.2.5 Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình 36

1.3 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 42

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 42

1.3.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 45

1.4 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 50

1.4.1 Có thiệt hại xảy ra 50

1.4.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật 56

1.4.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại đã xảy ra 59

1.4.4 Người gây thiệt hại có lỗi 61

1.5 Xác định thiệt hại khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm 63

1.5.1 Xác định thiệt hại về vật chất khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm63 1.5.2 Xác định thiệt hại do tổn thất về tinh thần khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm 71

1.6 Hình thức bồi thường thiệt hại và phương thức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 75

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN 79 2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 79

2.1.1 Khoản tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe khi quyền nhân thân là quyền được bảo vệ về sức khỏe của cá nhân bị xâm phạm 792.1.2 Mức bồi thường tối đa để bù đắp tổn thất về tinh thần khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm 822.1.3 Căn cứ xác định mức độ tổn thất về tinh thần khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm 892.1.4 Mức bồi thường để bù đắp tổn thất về tinh thần khi nhiều cá nhân trong cùng một gia đình bị xâm phạm quyền nhân thân là quyền được bảo vệ về tính mạng 922.1.5 Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong mối quan hệ với sự tự do về báo chí 962.1.6 Cách thức xin lỗi, cải chính công khai khi cá nhân xâm phạm quyền nhân thân đối với cá nhân 1002.1.7 Chi phí tố tụng là thiệt hại được bồi thường khi cá nhân bị xâm phạm quyền nhân thân 106

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 108

2.2.1 Hướng dẫn cụ thể quy định bồi thường khoản tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe khi quyền nhân thân là quyền được bảo vệ về sức khỏe của cá nhân bị xâm phạm 1082.2.2 Sửa đổi, bổ sung pháp luật thực định theo hướng tăng mức bồi thường tối đa

để bù đắp tổn thất về tinh thần khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm 1102.2.3 Tổng kết thực tiễn xét xử để định hướng việc áp dụng thống nhất pháp luật

về căn cứ xác định mức độ tổn thất về tinh thần khi quyền nhân thân của cá nhân

bị xâm phạm 1132.2.4 Hướng dẫn cụ thể mức bồi thường tổn thất về tinh thần khi nhiều cá nhân trong cùng một gia đình bị xâm phạm quyền nhân thân là quyền được bảo vệ về tính mạng 1142.2.5 Sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí cho phù hợp với Bộ luật Dân sự để bảo vệ tốt hơn quyền nhân thân của cá nhân trong mối quan hệ với sự tự do về báo chí 1162.2.6 Hướng dẫn cụ thể cách thức xin lỗi, cải chính công khai khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm bởi cá nhân khác 117

Trang 7

2.2.7 Quy định chi phí tố tụng là thiệt hại được bồi thường khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm 1192.2.8 Sửa đổi, bổ sung thêm quy định của pháp luật về quyền nhân thân của cá nhân trong quan hệ dân sự nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng và thống nhất trong việc xác định các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân là hành vi trái pháp luật 125

KẾT LUẬN 131

Trang 8

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điều 50 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng

định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người về chính trị,

dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và Luật” Quyền nhân thân của cá nhân là quyền cơ bản của

cá nhân về mặt dân sự Tất cả các quyền dân sự của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ 1 Việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân không chỉ dừng lại ở việc pháp luật thừa nhận các quyền này bằng các quy định cụ thể mà còn thể hiện ở các cơ chế bảo đảm cho các quyền này được thực hiện trên thực tế và được bảo vệ khi bị xâm phạm Để đạt hiệu quả tốt nhất trong việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đòi hỏi phải thực hiện đồng thời nhiều giải pháp khác nhau trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật Bảo vệ hữu hiệu quyền nhân thân của cá nhân sẽ tạo tiền đề quan trọng cho cá nhân tham gia vào quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, cá nhân và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội

Thực tế cho thấy, các quy định pháp luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân hiện còn nhiều thiếu sót, bất cập, chưa phù hợp với đòi hỏi của cuộc sống Việc áp dụng pháp luật dân sự để bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân nói riêng còn nhiều vướng mắc, chưa thống nhất Điều đó

đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền con người nói chung và quyền nhân nhân của cá nhân nói riêng cần được đề cao và bảo vệ đúng mức Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân để

từ đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật là cần thiết

1

Khoản 1 Điều 9 BLDS 2005

Trang 9

2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nói đề tài về quyền con người nói chung và quyền nhân thân nói riêng là

đề tài đang được rất nhiều các học giả, các nhà nghiên cứu pháp luật quan tâm, nhất là nước ta đang trong quá trình chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp 1992 và BLDS 2005 Từ khi BLDS 1995 được ban hành, đã có rất nhiều những bài viết, hội thảo bàn về quyền con người được quy định trong hệ thống pháp luật nói chung và quyền nhân thân được quy định trong BLDS nói riêng Việc bảo vệ quyền con người được thực hiện bằng nhiều phương thức và biện pháp khác nhau, bởi nhiều ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật Việt Nam Pháp luật về quyền con người nói chung và quyền nhân thân của cá nhân trong lĩnh vực dân sự nói riêng đã được xây dựng, phát triển, bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện không ngừng Hiện đã có một số sách tham khảo, bài viết về quyền nhân thân nói chung, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân bằng pháp luật dân sự nói riêng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân Có thể kể đến

một số cuộc hội thảo có quy mô lớn như: Hội thảo “Quyền nhân thân và bảo vệ quyền

nhân thân bằng pháp luật dân sự” do nhà pháp luật Việt – Pháp tổ chức tại Hà Nội,

ngày 24, 25, 26/11/1997; Hội thảo khoa học quốc tế “Quyền con người: tiếp cận đa

ngành và liên ngành luật học” do Viện khoa học xã hội Việt Nam và Đại sứ quán Đan

Mạch tại Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 27, 28/3/2009; Kỷ yếu hội thảo khoa học

“Bảo đảm quyền con người trong pháp luật dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình của Việt Nam hiện nay” của trường Đại học luật Tp Hồ Chí Minh do Khoa luật dân sự

phối hợp cùng trung tâm Nhân quyền tổ chức vào tháng 12/2009… cùng với nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu pháp luật đi vào từng vấn đề cụ

thể được đăng trên các tạp chí pháp lý có uy tín như: bài viết “Những bất cập trong quy

định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm” của tác giả An Văn Khoái

được đăng trên Tạp chí TAND số 23 tháng 10/2010, bài viết “Vấn đề tổn thất tinh thần

theo Khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự” của Hoàng Kỳ đăng trên Tạp chí TAND số

18/2009…

Các công trình nói trên đã phần nào nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này Tuy nhiên, qua tìm hiểu, nhóm tác giả nhận thấy rằng còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu sâu, đánh giá một cách toàn diện, còn

Trang 10

3

nhiều ý tưởng có thể kiến nghị để hòan thiện quy định pháp luật… Vì vậy, việc nghiên

cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá

nhân theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005” là có ý nghĩa thực tiễn và cần thiết

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Từ tính cấp thiết của đề tài cũng như tình hình nghiên cứu chung, trong phạm vi nghiên cứu hạn hẹp của đề tài, nhóm tác giả đã đặt ra những mục tiêu cụ thể cho đề tài,

cụ thể như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền nhân thân và

bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng nhằm xác

định những thành công và hạn chế của pháp luật dân sự hiện hành về quyền nhân thân

và bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân

Thứ ba, trên cơ sở những kiến thức lý luận và thực trạng pháp luật hiện hành

nhóm nghiên cứu sẽ đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, đồng thời tăng cường các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thông qua biện pháp bồi thường thiệt hại

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Vấn đề về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân có nội hàm rất rộng, vì vậy trong phạm vi đề tài nhóm tác giả xác định giới hạn nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, chỉ đề cập đến quyền nhân thân của cá nhân vì theo pháp luật dân sự

chủ thể là tổ chức cũng có một số quyền nhân thân

Thứ hai, chỉ đề cập đến những quyền nhân thân của cá nhân được quy định tại

BLDS 2005 vì ngoài các quy định tại BLDS 2005, quyền nhân thân của cá nhân còn được quy định ở một số ngành luật khác

Thứ ba, không nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm các

quyền nhân thân trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ vì đây là vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau

Trang 11

4

Thứ tư, không đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền

nhân thân của cá nhân theo Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Bên cạnh phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác - Lênin, đề tài này còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh luật học, thống kê xã hội học, khảo sát thực tiễn… để làm sáng tỏ các vấn đề và các luận điểm cụ thể về quyền nhân thân và bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân

6 Ý nghĩa của đề tài và khả năng ứng dụng

Đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá

nhân theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005” nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân có một ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng Dự kiến khi hoàn thành, công trình nghiên cứu này sẽ mang ý nghĩa là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân theo pháp luật Việt Nam Từ đó, công trình có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, pháp luật, những nhà nghiên cứu và sinh viên khi muốn đi sâu tìm hiểu đề tài quyền con người trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt phục vụ cho công việc chuẩn bị sửa đổi, bổ sung BLDS

2005

7 Cơ cấu của đề tài

Đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của

cá nhân theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005” được chia làm 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân

Chương 2: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân.

Trang 12

5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO XÂM PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân

1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân

Quyền nhân thân là một trong những nội dung của quyền dân sự và quyền dân sự

là nội hàm thuộc khái niệm quyền con người

Quyền con người là một giá trị vĩ đại của nhân loại được nhiều nhà tư tưởng của mọi thời đại quan tâm Theo các học giả, vấn đề quyền con người được các nhà tư tưởng quan niệm theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng có thể diễn đạt tựu trung bởi hai quan niệm 2 Quan niệm thứ nhất cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên, các quyền này không bị phá hủy, không bị tước bỏ khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ những quyền này, bao gồm các quyền cơ bản của con người như quyền được sống, quyền được tự do và quyền có tài sản Quan niệm thứ hai cho rằng quyền con người cũng như con người – là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, theo đó, quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời cũng là một khái niệm có tính lịch sử, hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung những nội dung mới qua các thời đại khác nhau

Mặc dù có sự khác biệt nhau về khái niệm quyền con người của những nhà tư tưởng thuộc các trường phái khác nhau nhưng họ đều thống nhất rằng: quyền con người trước hết là quyền tự nhiên do tạo hóa ban cho Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới trong Lời Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 đã nói:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự

do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

2

Đào Trí Úc, Hành trình của quyền con người, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2009, tr 8 – 10

Trang 13

6

Lời bất hủ ấy trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng

ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự

do và bình đẳng về quyền lợi Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”

Vấn đề quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 (UDHR) của Liên Hiệp Quốc và sau đó các nội dung về quyền con người trong Tuyên ngôn 1948 được cụ thể hóa bằng hai Công ước quốc tế là “Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” (ICCPR) và “Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa” (ICCSCR), được thông qua ngày 16/12/1966 Nội dung hai Công ước này

đã ghi nhận và cụ thể hóa quyền con người, tích cực bảo vệ quyền con người, trở thành chuẩn mực chung của các quốc gia trong việc định chế về quyền con người trong pháp luật của mỗi quốc gia

Khái niệm “quyền” được hiểu theo góc độ pháp lý, “đó có thể được hiểu là điều

mà pháp luật công nhận cho người có quyền được hưởng, được làm, được đòi hỏi” 3 Con người với tích cách là một sinh vật – tự nhiên – xã hội, có những yêu cầu, đòi hỏi

về điều kiện sống, được tự do, được hạnh phúc, được bảo đảm tôn trọng danh dự, nhân phẩm… Quyền của con người là những quyền hành xử của con người để mang đến cho mình những giá trị của cuộc sống

Căn cứ vào nội dung, tính chất đối tượng của quyền con người, khoa học pháp lý chia quyền con người thành các nhóm quyền: nhóm các quyền về tự do, dân chủ của con người; nhóm các quyền chính trị; nhóm các quyền trong lĩnh vực kinh tế; nhóm các quyền trong quan hệ xã hội; nhóm các quyền dân sự…

Quyền dân sự là nhóm các quyền của con người trong lĩnh vực dân sự Quyền của con người trong lĩnh vực dân sự rất đa dạng và tập trung thành hai nhóm: nhóm các quyền tài sản (quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế tài sản, quyền tham gia vào quan hệ hợp đồng có đối tượng là tài sản hoặc quyền về tài sản) và nhóm các quyền về nhân

3

Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học BLDS 2005, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2008, tr

56

Trang 14

7

thân Quyền nhân thân bao gồm các quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không có yếu tố tài sản

Quyền nhân thân gắn với tài sản là các quyền nhân thân mà từ đó làm phát sinh

các quyền về tài sản, ví dụ quyền được hưởng nhuận bút của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hoặc các quyền tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp…

Quyền nhân thân không có yếu tố tài sản là các quyền được tạo nên bởi các

quyền tuyệt đối của cá nhân, gắn liền với mỗi cá nhân, không được chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, và đặc biệt là không thể xác định giá trị bằng tiền hoặc bằng các giá trị vật chất Đó là các quyền của cá nhân đối với

họ tên, hình ảnh; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền đối với bí mật đời tư; quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết; quyền xác định lại giới tính…

Như vậy, các quyền nhân thân của cá nhân là một trong các thành phần để cấu thành nội dung quyền dân sự Nếu dùng mô hình toán học để diễn tả khái niệm và mối quan hệ giữa quyền con người, quyền dân sự, và quyền nhân thân thì chúng ta có thể vẽ các quyền này dưới dạng ba vòng tròn đồng tâm, mà vòng tròn có bán kính lớn nhất là vòng tròn về quyền con người, tiếp theo là vòng tròn quyền dân sự, và trong cùng là vòng tròn biểu thị cho quyền nhân thân

Từ nội dung phân tích trên, có thể nêu khái niệm về quyền nhân thân như sau:

“Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự, không thể tính ra được bằng tiền hoặc các giá trị vật chất, không tách rời cá nhân và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Trong quan hệ dân sự, cùng với quan hệ tài sản thì quan hệ nhân thân là một trong hai đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật dân sự và là một loại quan hệ mang tính xã hội sâu sắc, rộng lớn, phản ánh sự phát triển của xã hội, thể hiện thái độ của Nhà nước đối với công dân Thông qua các quy định của Nhà nước về quyền nhân thân cũng như phương thức để bảo vệ nó sẽ thể hiện mức độ dân chủ trong xã hội cũng như mức độ đề cao quyền công dân, quyền con người trong xã hội Các quyền nhân thân của mỗi cá nhân được pháp luật dân sự quy định có ý nghĩa rất quan trọng, vì đó là

cơ sở pháp lý để bảo vệ cho cá nhân tồn tại với tư cách là một chủ thể độc lập trong

Trang 15

Điều 50 Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: “Ở nước CHXHCN Việt Nam các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và Luật” Việc cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp thành các quyền cụ thể trên các lĩnh vực là nhiệm vụ của nhiều ngành luật khác nhau Mỗi ngành luật xuất phát từ tính đặc trưng của đối tượng và phương pháp điều chỉnh để quy định Vì vậy, vấn đề đặt ra và được thảo luận nhiều trong suốt quá trình xây dựng BLDS là từ quy định của Hiến pháp, phải biết lọc ra những quyền nhân thân nào là quyền dân sự để ghi nhận và cụ thể hóa trong BLDS

BLDS 1995 ra đời đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong hệ thống pháp luật dân

sự Việt Nam Lần đầu tiên các quy định về quyền nhân thân và quan hệ nhân thân được pháp luật quy định trong một văn bản pháp luật chuyên ngành BLDS 1995 đã dành hẳn một chương (Chương II) để quy định về cá nhân và dành hẳn một mục (Mục 2) bao gồm 27 điều luật (từ Điều 26 đến Điều 47) để quy định về quyền nhân thân của cá nhân Ngoài ra, các quyền nhân thân còn được quy định ở một số phần khác trong nội dung BLDS như quyền nhân thân của tác giả trong quyền sở hữu công nghiệp (Phần thứ năm của BLDS)… Tuy nhiên để cho ra đời được BLDS 1995 các nhà lập pháp đã phải trải qua một thời gian nghiên cứu rất dài với nhiều dự thảo và vấn đề về quyền nhân thân cũng được các nhà lập pháp rất chú trọng Tại Dự thảo lần thứ XII BLDS 1995 được công bố để nhân dân đóng góp ý kiến, vấn đề quyền nhân thân được quy định tại Phần thứ nhất, Chương II, Mục 3 với tiêu đề “Họ tên và hình ảnh” gồm 3 điều: quyền của cá nhân đối với họ tên của mình; quyền thay đổi họ tên; quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình (Điều 25, 26, 27 Dự thảo XII); và một số quyền nhân thân khác như quyền của cá nhân được bảo vệ tính mạng, sức khỏe (Điều 534, 535); bảo vệ danh dự, nhân phẩm (Điều 536); quyền nhân thân của tác giả trong quyền sở hữu công nghiệp

Trang 16

9

(Phần thứ năm) Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo XII còn mang nặng về điều chỉnh quan hệ tài sản, xem nhẹ quan hệ nhân thân, đặc biệt Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều đề xuất, nhiều kiến nghị quý báu về quan hệ nhân thân và quyền nhân thân trong nội dung BLDS Cho đến Dự thảo XIII trình Quốc hội xem xét, thông qua thì quy định về quyền nhân thân được xây dựng thành một mục riêng gồm 19 điều (tăng 16 điều so với Dự thảo XII) bao gồm: quyền đối với họ tên; quyền thay đổi họ tên; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền được đảm bảo an toàn về thân thể; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền được đảm bảo đối với bí mật đời tư; quyền kết hôn; quyền bình đẳng của vợ chồng; quyền xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc; quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình; quyền ly hôn; quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch; quyền được đảm bảo an toàn về chỗ ở; quyền tự do đi lại,

cư trú; quyền tự do kinh doanh; quyền tự do sáng tạo Tại kỳ họp Quốc hội, các Đại biểu Quốc hội bổ sung ba điều Đó là quyền được xác định dân tộc; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; và quyền lao động 4

Theo đánh giá của Giáo sư Ravanas (trường Đại học Aix – Marseille) thì quy định về quyền nhân thân trong BLDS 1995 có thể coi là mẫu mực trên thế giới, bởi vì thực tế rất ít BLDS nào dành hẳn một mục để quy định một cách đầy đủ và cụ thể về quyền nhân thân như BLDS 1995 của Việt Nam 5

Với sự phát triển, thay đổi của xã hội cùng với yêu cầu của sự thay đổi trong chính sách pháp luật, BLDS 1995 qua quá trình áp dụng trong cuộc sống cũng cần được chỉnh sửa, bổ sung Trong quá trình sửa đổi, vấn đề về quyền nhân thân cũng là một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội tranh luận nhiều nhất, ví dụ tranh luận xung quanh vấn đề thừa nhận quyền hiến bộ phận cơ thể và hiến xác sau khi chết; quyền xác định lại giới tính; quyền khai sinh; quyền khai tử; quyền được chết; quyền mang thai hộ… Ngày 14/6/2005, BLDS được sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội thông qua Một trong nhiều điểm mới của BLDS 2005 là sự xuất hiện lần đầu tiên của một số quyền nhân thân, đó là: quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); quyền hiến xác, bộ phận

Trang 17

vì dân” 6

1.1.2 Đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân

Quyền nhân thân của cá nhân có những đặc điểm sau đây: 7

Thứ nhất, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với cá nhân, không thể tách rời

cá nhân

Một trong những đặc điểm cơ bản của các quyền nhân thân là gắn liền với cá nhân có quyền đó Nếu tách rời khỏi cá nhân có quyền thì quyền nhân thân đó không còn tồn tại nữa Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi cá nhân không còn tồn tại nữa thì quyền nhân thân của họ đương nhiên biến mất Có những quyền nhân thân sẽ không còn tồn tại nữa khi chủ thể có quyền chết như: quyền kết hôn (Điều 39), quyền ly hôn (Điều 42), quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44)… nhưng cũng có những quyền nhân thân vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chủ thể có quyền chết, ví dụ các quyền của cá nhân đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín

Một điểm cần lưu ý là Điều 24 BLDS 2005 quy định rằng quyền nhân thân là

quyền “gắn liền với mỗi cá nhân”, vậy thì các chủ thể khác (như pháp nhân, hộ gia

đình, tổ hợp tác) có các quyền nhân thân của mình không? Điều 604 BLDS 2005 quy định “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,

nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh

dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi

thường” Hay tại Khoản 1 Điều 611 BLDS 2005 có quy định: “Thiệt hại do danh dự,

nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp

nhân, chủ thể khác bị xâm phạm…” Điều 1 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày

6

Điều 2 Hiến pháp 1992

7

Các đặc điểm của quyền nhân thân của cá nhân được xác định dựa trên quy định tại Điều 24 BLDS 2005 Điều

24 BLDS 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Trang 18

11

28/04/2004, cũng như Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của

HĐTP Toà án nhân dân tối cao, đều quy định giống nhau rằng: “Thiệt hại do tổn thất về

tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi

sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu” Danh dự, uy tín của cơ quan, tổ chức không chỉ thể

hiện trong luật dân sự mà các luật liên quan cũng có các quy định bảo vệ danh dự, uy tín của các cơ quan, tổ chức Ví dụ: Khoản 1 Điều 9 Luật báo chí 1989 (được sửa đổi,

bổ sung năm 1999) quy định: “Báo chí khi thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống,

xúc phạm uy tín của tổ chức…” Các quy định đó đều hướng tới sự thừa nhận các quyền

nhân thân đối với pháp nhân và các chủ thể khác 8

Thứ hai, quyền nhân thân là quyền không thể chuyển giao cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Xuất phát từ việc quyền nhân thân phải luôn gắn liền với chủ thể có quyền, khi tách rời khỏi chủ thể thì quyền đó sẽ không thể tự tồn tại được Yếu tố không thể chuyển giao được thể hiện rất rõ trong các quy định về quyền nhân thân Ví dụ: Theo giấy khai sinh thì Nguyễn Văn A là Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B là Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn A không thể là Nguyễn Văn B – họ và tên phải được bảo vệ khi gắn với một cá nhân cụ thể và không thể chuyển giao cho bất cứ ai được, vì nếu tách rời khỏi chủ thể thì tên Nguyễn Văn A cũng chỉ là một “hàng chữ” chứ không có giá trị gì về mặt pháp lý Vì thế, quyền nhân thân không thể là đối tượng để trao đổi, mua bán, tặng cho… Tuy nhiên, nếu pháp luật có quy định khác thì quyền nhân thân này vẫn có thể chuyển giao được Ví dụ: quyền “công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 738 BLDS 2005 là quyền nhân thân của tác giả, tuy nhiên quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác theo quy định tại Khoản 1 Điều

742 BLDS 2005

Một quyền nhân thân không thể bị định đoạt, có nghĩa là quyền nhân thân không thể là đối tượng của giao dịch dân sự, tuy nhiên, trên thực tế lại có rất nhiều hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân Ví dụ: trong lĩnh vực liên quan đến hình ảnh,

8

Xem: TS Bùi Đăng Hiếu, Khái niệm và phân loại quyền nhân thân, Tạp chí Luật học số tháng 7/2009

Trang 19

12

nhiều người được công chúng biết đến như những “ngôi sao” của công nghệ giải trí, những minh tinh màn bạc đã ký hợp đồng với các công ty quảng cáo, thông tin, xuất bản để sử dụng hình ảnh của mình với giá trị rất lớn Để phân biệt đặc điểm không thể định đoạt của quyền nhân thân với tình trạng giao dịch các hợp đồng về hình ảnh thì tại

“Hội thảo quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân bằng pháp luật dân sự” 9 ông Jacques Ravanas có đưa ra cơ sở để phân biệt quyền nhân thân cơ bản với quyền nhân thân phái sinh Theo đó, quyền nhân thân cơ bản tức là quyền nhân thân theo đúng bản chất của nó là không thể chuyển nhượng, giao dịch; còn quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của một cá nhân với mục đích thương mại 10 Theo chúng tôi thì sự phân biệt này cũng đã một phần dung hòa đặc điểm không thể định đoạt của quyền nhân thân với tình trạng giao dịch các hợp đồng về lợi ích của quyền nhân thân

Thứ ba, quyền nhân thân không thể tính ra giá trị bằng tiền

Dựa vào căn cứ phát sinh mà các quyền nhân thân có thể phân thành nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài sản và nhóm các quyền nhân thân gắn với tài sản Sự phân loại này được thể hiện tại Khoản 1 Điều 15 BLDS 2005

Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được quy định chủ yếu tại Mục 2 Chương III BLDS 2005 Các quyền nhân thân không gắn với tài sản này được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó Các quyền nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác Đặc điểm của các quyền nhân thân không gắn liền với tài sản là nó không có nội dung về kinh tế, không gắn liền với quyền lợi tài sản của chủ thể

Ngược lại, các quyền nhân thân gắn với tài sản chỉ được xác lập cùng với sự hình thành của một tài sản vô hình (như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí, mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng…) được quy định tại Phần thứ sáu về Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ Đây là quyền nhân thân của chủ thể đối với tài sản vô hình mà người đó sáng tạo ra Các quyền nhân

Kỷ yếu “Hội thảo Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân bằng pháp luật dân sự” do nhà Pháp luật Việt –

Pháp tổ chức tại Hà Nội, ngày 24, 25, 26/11/1997, tr 10

Trang 20

1.2 Các quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của BLDS 2005

Các quyền nhân thân là các quyền dân sự của cá nhân được quy định cụ thể trong pháp luật dân sự và chủ yếu là BLDS Việc Nhà nước quy định các quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS khẳng định sự quan tâm của Nhà nước đối với các lợi ích

và giá trị nhân thân của cá nhân

Những quy định về quyền nhân thân trong BLDS 2005 có một số sửa đổi, bổ sung so với quy định trong BLDS 1995 để đáp ứng được yêu cầu mà xã hội đặt ra Quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong BLDS 2005 đã tăng lên về số lượng

so với BLDS 1995, bao gồm 26 quyền được quy định ở mọi mặt của đời sống xã hội (từ Điều 26 đến Điều 51) Đó là các quyền: quyền đối với họ tên; quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền đối với hình ảnh; quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến bộ phận

cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể người; quyền xác định lại giới tính; quyền được bảo

vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền bí mật đời tư; quyền kết hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng; quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền lao động; quyền tự do kinh doanh; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo

Khi nghiên cứu các quyền nhân thân cụ thể của cá nhân, chúng tôi dựa trên đối tượng cụ thể của các quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong BLDS 2005 Nếu căn cứ vào đối tượng của các quyền nhân thân của cá nhân thì quyền nhân thân của

cá nhân được chia thành năm nhóm

Trang 21

14

1.2.1 Nhóm các quyền nhân thân nhằm cá biệt hoá cá nhân

Nhóm các quyền nhân thân nhằm cá biệt hóa cá nhân bao gồm: quyền đối với

họ tên; quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền đối với hình ảnh; quyền xác định lại giới tính; quyền đối với quốc tịch Dựa trên các quyền nhân thân trong nhóm này mà một cá nhân bất kỳ có thể phân biệt với một cá nhân khác, để xác định cá nhân đó là một chủ thể của quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng

1.2.1.1 Quyền đối với họ, tên (Điều 26 BLDS)

Đây là một quyền cơ bản của cá nhân, có ý nghĩa để cá biệt hóa cá nhân này với

cá nhân khác trong xã hội “Họ” là một phần trong tên gọi đầy đủ của một người để chỉ

ra rằng người đó thuộc về dòng họ nào; “tên” được coi là yếu tố phụ trợ của họ Họ, tên

là hai yếu tố để có thể thể hiện một cá nhân cụ thể Khi một cá nhân được sinh ra, dựa trên cơ sở đăng ký hộ tịch cá nhân đó sẽ có họ tên của mình Trên cơ sở họ tên của mình hoặc họ tên đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự và tự chịu trách nhiệm dân sự phát sinh Quyền đối với họ tên là một quyền nhân thân đương nhiên của bất kỳ một cá nhân nào kể từ khi họ mới sinh ra Tuy nhiên trong một số trường hợp pháp luật có quy định chặt chẽ, chẳng hạn việc một cá nhân sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Vì trong những trường hợp đó họ tên, bí danh, bút danh của một số cá nhân nổi tiếng không chỉ xét theo nghĩa đơn thuần là để phân biệt mà còn mang lại cho họ những lợi ích vật chất và danh tiếng

1.2.1.2 Quyền thay đổi họ tên (Điều 27 BLDS)

Cá nhân có quyền đối với họ tên, họ tên của cá nhân gắn liền với mỗi người và

là cơ sở để cá nhân đó nhân danh chính mình khi tham gia vào các quan hệ xã hội Tuy nhiên trong những trường hợp cụ thể cá nhân có thể thay đổi họ tên Đây là một quyền nhân thân được pháp luật ghi nhận, trên cơ sở tôn trọng sự tự do ý chí của chính cá nhân đó hoặc vì những lý do riêng tư, tế nhị Cụ thể:

- Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó

Trang 22

15

- Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt

- Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con

- Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại

- Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình

- Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính Đây là một trường hợp

mà cá nhân có quyền thay đổi họ tên đã được bổ sung vào quyền thay đổi họ tên Sự bổ sung này phù hợp với quy định mới về quyền xác định lại giới tính Điều này có nghĩa

là khi một người thuộc trường hợp được xác định lại giới tính thì họ được thay đổi họ tên cho phù hợp với giới tính họ đã xác định lại Để được thay đổi họ tên trong trường hợp này cá nhân cần phải xuất trình những bằng chứng chứng minh việc xác định lại giới tính và cơ quan hộ tịch không được lấy lý do tên đó được sử dụng cho cả nam và

nữ để từ chối việc thay đổi họ tên

- Các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định

Còn trường hợp việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có

sự đồng ý của người đó Vì bản thân người đó đến độ tuổi này đã có thể có nhận thức được giá trị nhân thân của bản thân

Ngoài ra, pháp luật còn có những quy định mang tính dự liệu để tránh những trường hợp có những cá nhân thay đổi họ, tên để nhằm tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của bản thân Do vậy, pháp luật quy định việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ

1.2.1.3 Quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS)

Dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử, nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một vùng lãnh thổ và có chung một nền văn hóa Do vậy, đối với một dân tộc trong đời sống sinh hoạt văn hóa sẽ có những nét đặc thù so với cộng đồng người khác Việc xác định dân tộc giúp cá nhân xác định rõ nguồn gốc, giống nòi, tổ

Trang 23

Trong một số trường hợp cũng giống như đối với họ tên, khi một cá nhân muốn xác định lại dân tộc thì chính bản thân người đó nếu đây là người đã thành niên, hoặc cha đẻ và mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp:

- Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ, nếu cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;

- Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ trong trường hợp làm con nuôi của người thuộc dân tộc khác mà được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi do không biết cha đẻ, mẹ đẻ là ai

Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên yêu cầu xác định lại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở lên thì phải được sự đồng ý của người chưa thành niên đó

Như vậy, quyền xác định dân tộc được thực hiện thông qua hành vi của chính bản thân người muốn xác định dân tộc nếu đây là người đã thành niên Trường hợp nếu đây là người chưa thành niên thì quyền xác định dân tộc lại dựa trên việc yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người giám hộ Như vậy, trong trường hợp nếu đây là những người chưa thành niên mà không còn ai thân thích, không có người giám hộ thì quyền này được thực hiện như thế nào Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, trong trường hợp khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi thì phần thông tin về cha, mẹ, dân tộc được bỏ trống Quy định này tạo thuận lợi cho việc đăng ký khai sinh cho trẻ được dễ dàng cũng như tạo được sự chính xác khi xác định dân tộc cho trẻ Tuy nhiên, quy định này lại có điểm hạn chế trong trường hợp sau đó không thể xác định được cha, mẹ đẻ của trẻ cũng như trẻ không được nhận làm con nuôi Như vậy, trẻ sẽ lớn lên và sẽ mãi mãi không có dân tộc và quyền nhân thân của cá nhân cũng không thể thực hiện được

Trang 24

17

1.2.1.4 Quyền được khai sinh (Điều 29 BLDS)

Có thể nói, quyền được khai sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một cá nhân riêng biệt, một chủ thể độc lập, một công dân bình đẳng với mọi công dân khác Chính vì vậy, Điều 7 Công Ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 (CRC) đã khẳng định rằng: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và

có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc” Trong BLDS 2005 tại Điều 29 đã quy định cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh Tiếp theo sau, tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch có quy định: “Việc đăng ký khai sinh của trẻ em được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi

cư trú của người mẹ; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó”

Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định tên khai sinh của một người cũng có những khó khăn, phức tạp, đặc biệt là trong trường hợp người đó không được đăng ký khai sinh Trên thực tế đã có những trường hợp do điều kiện hoàn cảnh mà rất nhiều em

bé không được khai sinh Ví dụ như báo Pháp Luật Tp HCM ngày 18/1/2008 có bài

“Một phường có hơn 400 trẻ vô danh” phản ánh phường Bình Hưng Hòa A (quận Bình

Tân, Tp HCM) có hơn 400 trẻ em chưa có giấy khai sinh Hầu hết cha mẹ của các em

là công nhân, người lao động có hộ khẩu ở tỉnh, không có tiền về quê làm thủ tục khai sinh cho con…, có em sắp thi đại học vẫn chưa có giấy khai sinh, vì vậy nhiều em không được nhận vào học tại các trường công mà phải học ở các lớp học tình thương

Thực chất, bởi vì tính chất của quyền nhân thân này là chủ thể được hưởng quyền nhưng lại không phụ thuộc vào chính cá nhân đó mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác – những người có quyền và trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ Trong trường hợp trẻ em không được đăng ký khai sinh do lỗi của người có trách nhiệm thực hiện việc khai sinh thì rõ ràng quyền và lợi ích của trẻ em sẽ bị xâm phạm Vậy ai sẽ

Trang 25

hộ tịch và đăng ký hộ tịch chỉ quy định trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em trong

đó quy định rõ người đi đăng ký khai sinh phải là người khác và thủ tục đăng ký khai sinh phải cần những giấy tờ nhất định Như vậy, nếu pháp luật không có quy định và giải thích rõ ràng thì người không được khai sinh đó mãi vẫn là người không có họ, tên

và không được tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự cũng như các quan hệ pháp luật khác Và như vậy, quyền nhân thân của cá nhân sẽ chỉ là những quyền khách quan

do pháp luật quy định mà sẽ không thể trở thành những quyền năng chủ quan, cụ thể của cá nhân

1.2.1.5 Quyền được khai tử (Điều 30 BLDS)

Cá nhân có quyền được khai sinh Đây là một quyền cơ bản để pháp luật thừa nhận sự tồn tại của một cá nhân, thừa nhận những quan hệ xã hội mà họ tham gia vào Cũng không kém phần quan trọng với quyền được khai sinh, khi một cá nhân mất đi pháp luật cũng ghi nhận quyền được khai tử Việc đăng ký khai tử có ý nghĩa rất quan trọng và rất cần thiết không chỉ đối với người đã mất mà còn đối với những người thân thích của người chết Việc khai tử có vai trò trong việc xác định thời điểm mở thừa kế

để chia thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) đối với di sản của người chết để lại; xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế; xác định thời hạn từ chối hưởng di sản thừa kế… Nhiều trường hợp khác, việc khai tử còn có giá trị trong việc truy lĩnh hay hưởng các chế độ chính sách, thậm chí trong cả việc tái hôn nếu người vợ hoặc chồng không may mất sớm Chính vì vậy, pháp luật đã quy định:

“Khi có người chết thì người thân thích, chủ nhà hoặc cơ quan, tổ chức nơi có người chết phải khai tử cho người đó

Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai tử; nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử.”

Trang 26

19

Tuy nhiên, trên thực tế không phải người dân nào cũng biết được quyền này Theo một bài báo ở huyện Quốc Oai, Tp Hà Nội có tới hơn 4.000 người chưa khai tử trên tổng số 1,2 vạn người đã mất trong vòng 50 năm qua Thực tế, vụ việc chỉ được phát hiện ra trong đợt kiểm tra về đăng ký khai tử của Sở Tư pháp Hà Nội ở một số huyện ngoại thành 11 Ngoài huyện Quốc Oai hiện còn có rất nhiều huyện người dân không hiểu biết pháp luật nên họ không hề tiến hành đi khai tử cho người thân đã mất của họ

1.2.1.6 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31 BLDS)

Đây là một quyền quan trọng đặc biệt trong xã hội hiện đại Có quốc gia công nhận quyền của cá nhân đối với hình ảnh, có quốc gia thì không công nhận Nhìn chung, những quốc gia công nhận quyền về hình ảnh của cá nhân đều có quy định mang tính nguyên tắc như sau: trước khi công bố một bức ảnh trên phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, trang web, truyền hình…, người công bố phải xin phép người

có liên quan đến hình ảnh đó Nếu đối tượng trong ảnh chụp là một cá nhân, cho dù là một người không được ai biết đến, thì người này cũng có đủ mọi quyền để phản đối việc sử dụng hình ảnh của mình Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền xuất phát

từ khái niệm “đời tư” Trước khi có thể sử dụng hình ảnh liên quan phải đảm bảo rằng người được ghi hình không bị tổn hại đến đời sống cá nhân, hình tượng riêng và bản thân họ không phản đối việc sử dụng hình ảnh đó Vì vậy, với những hình ảnh vượt khỏi khuôn khổ đời tư, những người có hình ảnh được chụp khi họ tham gia các cuộc biểu tình công khai có quyền yêu cầu xử lý sao cho không thể nhận dạng ra mình

Ở Việt Nam, trên cơ sở quy định tại Điều 31 BLDS, pháp luật công nhận quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình Khái niệm hình ảnh của cá nhân được hiểu là bao gồm mọi hình thức nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người như ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh chép và suy rộng ra có thể bao gồm cả bức tượng của cá nhân đó hoặc cả hình ảnh có được do ghi hình (quay video) Đối với mỗi loại hình nghệ thuật cũng bao gồm nhiều loại khác nhau Ví dụ, ảnh chụp có thể bao gồm ảnh chân dung,

11

Xem: Hàng nghìn người chết không được khai tử, 85013/Hang_nghin_nguoi_chet_khong_duoc_khai_tu.dec (cập nhật ngày 10/12/2010)

Trang 27

Tuy nhiên, khi đề cập đến quyền hình ảnh của cá nhân còn rất nhiều vấn đề cần phải xem xét

Thứ nhất, BLDS 2005 có quy định khi sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được

người đó đồng ý Tuy nhiên, BLDS lại không quy định rõ như thế nào là đồng ý Đồng

ý ở đây được hiểu là có sự thoả thuận giữa người sử dụng hình ảnh của cá nhân với cá nhân có hình ảnh đó hay chỉ cần việc sử dụng hình ảnh không có sự phản đối của người

có hình ảnh thì được hiểu là người đó đương nhiên đồng ý Ngoài ra, sự đồng ý này là của tất cả các cá nhân có trong bức ảnh hay của một số người nào đó Chẳng hạn, một bức ảnh có ba người thì nếu muốn sử dụng bức ảnh đó phải xin phép cả ba người Một bức ảnh tập thể có cả mấy chục người thì cũng phải xin phép mấy chục người đó chăng Thiết nghĩ, pháp luật cần làm rõ hơn quy định này

Thứ hai, BLDS 2005 có quy định: trong một số trường hợp thì quyền đối với

hình ảnh của cá nhân sẽ là ngoại lệ, chẳng hạn vì lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác thì hình ảnh của cá nhân có thể được sử dụng mà không cần sự đồng ý của người đó Tuy nhiên, BLDS chỉ mới nêu chung như vậy mà chưa quy định rõ những trường hợp nào thì pháp luật cho phép sử dụng hình ảnh của cá nhân Điều này dẫn đến tâm lý e ngại của người sử dụng hình ảnh trong nhiều trường hợp cần thiết như ảnh chụp đưa tin, ảnh tư liệu, ảnh phóng sự… trong đó có hình ảnh của cá nhân Vấn đề này cần phải được quy định và giải thích cụ thể hơn trong các văn bản luật, dưới luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS

Trang 28

21

Thứ ba, quy định trong luật chuyên ngành còn mâu thuẫn so với quy định trong

BLDS Theo quy định của Luật báo chí và cụ thể là theo quy định tại Điều 5 của Nghị

định 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002: “không được đăng, phát ảnh của cá nhân mà

không có chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân đó (trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công khai của Tòa án, những người phạm tội trong các vụ trọng án đã bị tuyên án)” Như

vậy, báo chí có quyền đăng tất cả các hình ảnh của cá nhân miễn sao có chú thích rõ ràng hoặc không làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân có hình ảnh được đăng báo Với quy định như vậy đã đi ngược lại với quy định trong BLDS là phải dựa trên sự đồng ý của người có hình ảnh

Thứ tư, trong BLDS có quy định “nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh” Như vậy,

trong trường hợp nếu việc sử dụng hình ảnh của cá nhân mặc dù không xin phép cá nhân hoặc chưa xin phép kịp vào thời điểm sử dụng mà không xâm phạm đến các lợi ích về nhân thân, thậm chí mang lợi cho cá nhân có hình ảnh thì như thế nào? Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân không xin phép và làm ảnh hưởng đến cá nhân đó thì bị xem

là vi phạm quyền đối với hình ảnh Vậy, việc sử dụng hình ảnh không xin phép nhưng mang lợi cho cá nhân có hình ảnh có xem là vi phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân hay không? Nếu xem đây là hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh thì quy định như vậy là khá cứng nhắc, thiếu đi sự linh hoạt

Ngoài ra việc xác định hành vi vi phạm (xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh) nhiều khi còn khá mơ hồ Việc lấy hình của một ca sĩ nổi tiếng làm minh họa cho bài báo viết về chuyện những ca sĩ chuyên đi hát nhép có phải là việc xâm phạm đến danh dự của họ hay không? Trong một số trường hợp, nhiều nghệ sĩ vì những lý do ác ý có thể dẫn đến bôi nhọ danh dự của người khác nhưng chỉ thông qua

một hình ảnh hết sức bình thường Ngày 19/2/2009 vừa qua, trên trang web của mình,

nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đã có bài viết phê phán việc tác nghiệp của một tờ báo Trong lời vào đề, Lê Thiếu Nhơn cho biết: Anh không hiểu tại sao một tờ báo (có trụ sở ở Hà Nội – NV), trong số ra ngày 13/2/2009, bên cạnh bài viết về Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh, đã cho in kèm một bức ảnh minh họa mà anh cho là “cực kỳ quái gở”

Trang 29

22

Đó là tấm ảnh nhà thơ Hữu Thỉnh đang “lấp ló sau cánh cửa một cách phản cảm” – trích từ bài viết của Lê Thiếu Nhơn Vì Lê Thiếu Nhơn chụp lại cả trang báo, nên bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy, ngoài bức ảnh “lấp ló” nhắc tới trên, còn có bức ảnh ghi lại cảnh vị Chủ tịch Hội Nhà văn đang cầm điện thoại trò chuyện vui vẻ với ai đó Rõ ràng, đây là một cách dùng ảnh không hề bình thường (nói như Lê Thiếu Nhơn là “ác ý”), bởi nó có thể tạo cho người đọc những suy diễn rất không hay Theo chủ nhân của trang web thì đây là một hành vi “bôi nhọ công dân” 12

Có thể nói, đứng về khía cạnh bản quyền thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng… đều là tác phẩm nghệ thuật và được bảo hộ quyền tác giả Người sử dụng tác phẩm phải xin phép chủ sở hữu tác phẩm hoặc người có quyền sử dụng tác phẩm đó Tuy nhiên, đứng về khía cạnh quyền nhân thân thì người sử dụng hình ảnh phải được sự đồng ý của người có hình ảnh đó hoặc đại diện của người đó trong trường hợp người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc chưa đủ mười lăm tuổi Pháp luật nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của cá nhân mà xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh Đây cũng là một vấn đề khó vì nó đan xen giữa quyền sở hữu trí tuệ và quyền nhân thân

Do vậy, mặc dù BLDS 2005 đã có những phần bổ sung, sửa đổi phần về quyền của cá nhân đối với hình ảnh cho hợp lý Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội, của khoa học kỹ thuật thì cần có những quy định mang tính chi tiết, cụ thể hơn mới đảm bảo bảo vệ được quyền đối với hình ảnh của cá nhân hợp lý và toàn vẹn

1.2.1.7 Quyền xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS)

Theo ước tính của Bộ Y Tế, cứ 2.000 trẻ sinh ra thì có một trẻ bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính Tại Bệnh viện Việt - Đức (Hà Nội), mỗi năm phải phẫu thuật khoảng

100 trường hợp dị tật bộ phận sinh dục, trong đó trên 20 trường hợp trước khi thực hiện phải xác định giới tính Ngoài ra, tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Nhi đồng 2 (Tp HCM) và một số cơ sở khám chữa bệnh lớn khác, nhiều bệnh nhân có rối loạn, bất thường về giới tính đã được điều trị Trường hợp chị Nguyễn Thị Vân Anh (Thuận Thành, Bắc Ninh) là một ví dụ Chị có bộ phận sinh dục bên ngoài như người nữ bình

12

Xem: Phạm Khải, Ảnh minh họa hay ảnh gây họa, VN/lyluan/2009/3/53571.cand (cập nhật ngày 6/3/2009)

Trang 30

http://vnca.cand.com.vn/vi-23

thường, được nuôi dạy như nữ, đến khi dậy thì, ngực phát triển nhưng không có kinh nguyệt Tuy nhiên khi được làm các xét nghiệm, bác sỹ đã kết luận chị có tinh hoàn nhưng ở trong bụng, không có tử cung và có bộ nhiễm sắc thể XY, là đàn ông nhưng cơ quan sinh dục ngoài không nhạy cảm với testosteron nên không biệt hóa thành dương vật 13

Xuất phát từ nhu cầu xã hội nên trong BLDS 2005 đã thừa nhận thêm quyền nhân thân khá mới đó là quyền xác định lại giới tính Luật đã dự liệu và cho phép cá nhân xác định lại giới tính trong trường hợp việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính Sau quy định của BLDS 2005, Chính Phủ có Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 5/8/2008 về xác định lại giới tính, những người gặp trục trặc về giới tính đã thực sự có quyền được sống với giới tính đích thực của mình

Có ba tiêu chuẩn y tế để xác định lại giới tính, gồm: nam lưỡng giới giả nữ, nữ lưỡng giới giả nam, lưỡng giới thật Trên cơ sở đề nghị của người đứng đơn, cơ sở y tế

sẽ lựa chọn giới tính để có phương pháp điều trị thích hợp Trường hợp đề nghị xác định lại giới tính cho người chưa đủ sáu tuổi thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải có đơn đề nghị Với những người từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi trong đơn đề nghị phải có chữ ký của cha mẹ hoặc người giám hộ

Các trường hợp đã xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện ở Việt Nam trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu muốn đăng ký lại hộ tịch thì phải có giấy xác nhận đã xác định lại giới tính của cơ sở khám, chữa bệnh trước đó và đến các

cơ sở khám, chữa bệnh để được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận y tế Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch, cải chính các giấy tờ pháp lý (khai sinh, chứng minh, hộ khẩu ) cho người đã được xác định lại giới tính

Quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với quyền con người và phù hợp với sự phát triển của xã hội

13

Xem: Minh Luật, Quyền được sống với giới tính của mình, báo An ninh thủ đô, ngày 24/8/2008

Trang 31

24

1.2.1.8 Quyền đối với quốc tịch (Điều 45 BLDS)

Cư dân sống trên lãnh thổ quốc gia là một yếu tố quan trọng góp phần cấu tạo nên quốc gia Mỗi quốc gia có những tập hợp dân cư khác nhau và có mối quan hệ cũng rất khác nhau với Nhà nước Mối quan hệ phức tạp này trong khoa học pháp lý gọi là

quốc tịch

Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, quốc tịch là một chế định pháp lý bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật được thiết lập giữa cá nhân với Nhà nước, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân Quốc tịch là căn cứ duy nhất xác định công dân của một Nhà nước Mỗi quốc gia có chế định pháp lý về vấn đề nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch của công dân phù hợp với đặc thù của nước đó

Pháp luật về quốc tịch của mỗi nước có những nội dung khác nhau trong đó có

sự thừa nhận sự bình đẳng của các cá nhân với nhau trong mọi lĩnh vực đời sống đảm bảo thực hiện nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật phù hợp với luật quốc tế Sự quy thuộc về mặt pháp lý trong vấn đề quốc tịch đồng nghĩa với việc một công dân nhận được các quyền lợi mà Nhà nước và pháp luật nước này đảm bảo cho họ được thụ hưởng, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước đó đối với việc bảo vệ quyền lợi cho cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng dân cư của quốc gia mà họ là công dân

Quốc tịch là trạng thái pháp lý thể hiện mối quan hệ giữa công dân một nước với quốc gia – Nhà nước nơi họ có quốc tịch, đây là quyền thành viên của một quốc gia hay một Nhà nước có chủ quyền Quốc tịch cho phép Nhà nước có quyền lực pháp lý với một cá nhân và cũng cho phép cá nhân quyền được bảo vệ bởi Nhà nước Điều 15 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ rõ: “Mọi người đều có quyền với một quốc tịch”

và “Không ai đáng bị tước quốc tịch một cách tùy tiện hay bị từ chối quyền đổi quốc tịch”

Quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 là

sự thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước CHXHCN Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước CHXHCN Việt Nam đối với công dân Việt Nam

Trang 32

25

Mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch và bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam Pháp luật Việt Nam khẳng định nguyên tắc một quốc tịch như hầu hết các quốc gia trên thế giới Nhưng cũng công nhận những trường hợp ngoại lệ vừa có quốc tịch Việt Nam, đồng thời có quốc tịch nước ngoài được quy định cụ thể trong các điều luật thể hiện sự mềm dẻo trong việc vận dụng nguyên tắc một quốc tịch, phù hợp với thực tế biến động dân cư và trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay Quy định này cũng phù hợp với thực tiễn giao lưu quốc tế, nhiều nước trước đây thực hiện chính sách một quốc tịch cứng, mới đây đã sửa đổi theo hướng mềm dẻo hơn là vừa khẳng định nguyên tắc một quốc tịch nhưng có mở rộng ngoại lệ hai quốc tịch (như Nga, Đức, Mê-hi-cô )

Những trường hợp ngoại lệ nêu trên là những trường hợp đặc biệt, được Chủ tịch nước cho phép khi xin nhập quốc tịch Việt Nam (Khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch 2008), xin trở lại quốc tịch Việt Nam (Khoản 5 Điều 23) Người xin nhập quốc tịch Việt Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thuộc một trong những trường hợp như là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam, người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, có lợi cho Nhà nước CHXHCN Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, được trở lại quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài, trong trường hợp đặc biệt được Chủ tịch nước cho phép Ngoài ra, Luật còn quy định có những trường hợp có thể có hai quốc tịch, đó là trường hợp quốc tịch của trẻ em là con nuôi (Điều 37), trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng vẫn mong muốn giữ quốc tịch Việt Nam (Khoản 2 Điều 13)

1.2.2 Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân

Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân bao gồm: quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết; quyền nhận bộ phận cơ thể người

1.2.2.1 Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (Điều 32 BLDS)

Đây là một quyền nhân thân quan trọng của cá nhân, liên quan đến tính mạng, sức khỏe Trên cơ sở việc ghi nhận quyền này, khi những giá trị nhân thân này bị xâm

Trang 33

Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê,

mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải được sự đồng ý của người đó; nếu người

đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trong trường hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở y tế

Việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

- Có sự đồng ý của người quá cố trước khi người đó chết;

- Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ khi không có ý kiến của người quá cố trước khi người đó chết;

- Theo quyết định của tổ chức y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết

Quy định của BLDS 2005 đã bổ sung thêm các đối tượng đồng ý trong các trường hợp khác nhau liên quan đến quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (thực hiện phương pháp chữa bệnh mới, mổ tự thi) là ngoài cha, mẹ còn

có vợ, chồng, con đã thành niên

Trên thực tế, quyền nhân thân này của cá nhân bị vi phạm rất nhiều Có những

vụ việc với những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân rất nghiêm trọng không chỉ phải xử lý về dân sự mà còn phải xử lý về hình sự như vụ vợ chồng Chu Văn Đức, Trịnh Thị Hạnh Phương ở quận Thanh Xuân, Tp Hà Nội trong hơn 10 năm đã hành hạ cô gái Nguyễn Thị Bình để lại trên người tới 424 vết thương 14; vụ Đào Văn Tuyến ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang do đam mê cờ bạc thua cờ bạc về ngược

14

Xem: Trọng Hiếu, Lê Linh, Mười năm hành hạ một cô bé + gây ra 424 vết thương = 81 tháng tù + 50 triệu bồi thường, http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/10-nam-hanh-ha-mot-co-be-Gay-ra-424-vet-thuong-81-thang-tu-50- trieu-boi-thuong/65119075/218/ (cập nhật ngày 21/1/2008)

Trang 34

27

đãi vợ là chị Lý Thị Nghi với hành vi lột quần áo nhốt vào chuồng chó; vụ Phạm Thị Mai ở huyện Bình Chánh Tp HCM đánh chết con là cháu Phạm Huy Hoàng, 5 tuổi 15

1.2.2.2 Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33 BLDS)

Trong khuôn khổ pháp luật quốc tế khi đề cập đến quyền hiến bộ phận cơ thể, đầu tiên có thể kể đến Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR), được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 Việt Nam đã gia nhập hai Công ước này vào ngày 24/9/1982 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thông qua Nghị quyết về việc phát triển các hoạt động cấy ghép năm 2004, thậm chí tổ chức UNESCO đã thành lập một cơ quan trực tiếp liên quan đến lĩnh vực này là Ủy ban quốc tế về đạo đức y sinh Cơ quan này cũng đã công bố Tuyên bố toàn cầu về đạo đức sinh học và quyền con người Trong khuôn khổ Hội Đồng Châu Âu có Công ước về bảo vệ quyền con người và nhân phẩm con người trong việc ứng dụng các tiến bộ y học và sinh học ngày 4/4/1997 (còn gọi là Công ước OVIEDO) Công ước này

đã đưa ra nguyên tắc cơ bản như: bắt buộc phải có sự đồng ý của đương sự; quyền được thông tin đối với cả người hiến và người nhận Ngoài ra trong nguồn luật của Liên minh Châu Âu có thể chỉ ra Chỉ thị 2004/23 về thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn

áp dụng đối với các hoạt động hiến, lấy, kiểm soát, xử lý, bảo quản, lưu trữ phân phối

mô và tế bào người

Qua các Công ước quốc tế và khu vực có thể thấy hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể có vai trò đặc biệt quan trọng và được coi là quyền con người và để đảm bảo cho hoạt động này được diễn ra hiệu quả, quốc tế đã có những quy định mang tính nguyên tắc về vấn đề này làm tiêu chuẩn và là nguồn quan trọng cho các quốc gia trong quá trình nghiên cứu xây dựng pháp luật nước mình về hiến mô, bộ phận cơ thể người 16

Ở Việt Nam, việc lấy và ghép mô, bộ phận của cơ thể người đã được Luật Bảo

vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 và Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng năm 1991 đề cập đến Tuy nhiên, các quy định này chỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, chưa đầy đủ nên khó thực hiện trong thực tiễn Nguồn cung cấp các bộ

Xem: Bùi Đức Hiển, Pháp luật một số nước trên thế giới về hiến mô, bộ phận cơ thể và hiến xác của cá nhân,

Chuyên đề dành cho đề tài khoa học cấp trường của Đại học Luật Hà Nội năm 2011

Trang 35

28

phận cơ thể rất hạn chế trong khi nhu cầu ghép chữa bệnh, nghiên cứu khoa học lại rất lớn gây khó khăn cho sự phát triển của chuyên ngành giải phẫu bệnh, không đảm bảo yêu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân Do vậy, trong BLDS 2005 chúng ta

đã ghi nhận quyền này Sau đó chúng ta có Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 đã có những quy định mang tính cụ thể hóa hoạt động hiến bộ phận cơ thể

Trong BLDS tại Điều 33 có quy định: “Cá nhân có quyền được hiến bộ phận cơ thể của mình vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học Việc hiến và sử dụng bộ phận cơ thể được thực hiện theo quy định của pháp luật”

Như vậy, theo quy định tại Điều 33 BLDS chỉ cho phép cá nhân có quyền hiến

bộ phận cơ thể vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học Còn đối với những mục đích khác như hoạt động thương mại thì không được phép có quyền này Quy định này nhằm hạn chế tình trạng thương mại hóa hoạt động buôn bán bộ phận con người

Tuy nhiên, nếu trên thực tế xảy ra việc mua bán nhưng núp dưới danh nghĩa hiến tặng cho bộ phận cơ thể người thì cơ quan chức năng cũng không thể nào có cơ sở pháp lý để xử lý khi trong BLDS cũng như trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 không có chế tài áp dụng khi có hành vi vi phạm

Bộ luật Hình sự Việt Nam cũng chưa có sự thay đổi tương thích với sự ra đời của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác Vì vậy, thiết nghĩ để đảm bảo quyền hiến bộ phận cơ thể được thực hiện với mục đích nhân đạo cứu sống người cũng như vì hoạt động nghiên cứu khoa học, pháp luật cần quy định chế tài cụ thể đối với những người đưa quyền này vào hoạt động thương mại 17

1.2.2.3 Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34 BLDS)

Cũng giống như đối với quyền hiến bộ phận cơ thể, một người khi còn sống có quyền thể hiện ý nguyện hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết Đây là một quy định rất mới, quy định này cho phép một cá nhân trước khi chết có thể làm một điều gì có ích cho xã hội

17

Xem: Chế Mỹ Phương Đài, Quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết, Tọa đàm

Quyền con người trong pháp luật dân sự - Khoa luật Dân sự, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, ngày 6/10/2010

Trang 36

29

Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học mà tuyệt đối không được vì mục đích thương mại hoặc các mục đích khác trái pháp luật

Việc hiến và sử dụng xác, bộ phận cơ thể của người chết được thực hiện theo quy định của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006

Tuy nhiên trên thực tế khi thực hiện quyền này cũng còn vấp phải sự phản đối của người thân trong gia đình Xuất phát từ bản chất truyền thống của người Việt Nam

là muốn ông bà, cha mẹ, người thân khi chết phải được toàn vẹn để họ có thể thờ cúng, làm cho người chết được thanh thản nơi “chín suối” Nên nhiều khi trên thực tế, trước khi chết một người muốn đóng góp cho xã hội nên họ đã tự nguyện hiến xác, hiến bộ phận cơ thể nhưng sau khi người đó chết đi, những người thân của họ đã phản đối gay gắt ý nguyện của người hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết Trong trường hợp này người chết đã tự nguyện hiến xác nhưng người thân lại không đồng ý thực hiện, cơ quan y tế có quyền cưỡng chế giao xác hay kiện đến tòa án yêu cầu giao xác hay không? Đây là những câu hỏi mà chưa có câu trả lời theo quy định của pháp luật hiện hành

Vì vậy, thiết nghĩ sự tôn vinh những người hiến bộ phận cơ thể, hiến xác sau khi chết là chưa đủ mà cần phải bổ sung thêm sự tôn vinh đối với thân nhân của họ cũng như những ưu tiên nhất định cho những người này trong việc khám chữa bệnh tại các cơ

sở y tế 18, có như vậy thì việc giao nhận xác, bộ phận cơ thể sau khi chết mới có thể phần nào đó được thuận lợi hơn

1.2.2.4 Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35 BLDS)

Quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền nhận bộ phận cơ thể người thực chất là hai mặt của một quan hệ Một bên là chủ thể hiến bộ phận cơ thể có quyền hiến bộ phận cơ thể, một bên là chủ thể nhận bộ phận cơ thể có quyền nhận bộ phận cơ thể Quyền hiến

bộ phận cơ thể là tiền đề cho quyền nhận bộ phận cơ thể Tuy nhiên, mặc dù hiến và nhận là hai mặt của một quá trình nhưng việc thực thi quyền nhận bộ phận cơ thể sẽ phức tạp, nhạy cảm hơn quyền hiến bộ phận cơ thể Nếu không thực hiện tốt quyền

18

Xem: Chế Mỹ Phương Đài, Quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết, Tọa đàm

Quyền con người trong pháp luật dân sự - Khoa luật Dân sự, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, ngày 6/10/2010

Trang 37

do về mặt tâm lý xã hội, mọi người đều muốn có một cơ thể toàn vẹn ngay cả khi đã chết và họ thường rất e ngại khi quyết định hiến bộ phận cơ thể cho người khác, trừ khi

đó là người thân thích, ruột thịt của mình Ngay cả khi bản thân người đó đồng ý hiến

bộ phận cơ thể thì những người thân trong gia đình cũng phản đối và tìm cách ngăn cản

Vì vậy, mục đích chủ yếu của pháp luật về hiến bộ phận cơ thể ở các quốc gia là thiết lập một cơ chế phân bổ một cách công bằng, bình đẳng nguồn “tài nguyên” chữa bệnh quý giá và khan hiếm này cho những bệnh nhân nguy kịch nhất, hiểm nghèo nhất

BLDS có quy định: “Cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình Nghiêm cấm việc nhận, sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại” Đây là trường hợp luật dự liệu tránh tình trạng buôn bán bộ phận cơ thể người dẫn đến nhiều hệ lụy khó lường cho bản thân người bán, người mua

và cho xã hội Nhưng như đã phân tích trong quyền hiến bộ phận cơ thể, trên thực tế những quyền nay lại bị đem vào hoạt động thương mại rất nhiều Do vậy, cần có chế tài thật nghiêm khắc và cụ thể đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động này

1.2.3 Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của cá nhân

Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể bao gồm: quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; và quyền bí mật đời tư

1.2.3.1 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37 BLDS)

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là giá trị nhân thân gắn liền với bản thân của cá nhân Những giá trị nhân thân này là sự đánh giá, nhìn nhận của xã hội đối bản thân của một cá nhân Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Trên thực tế vì những lý do, mục đích khác nhau mà những giá trị nhân thân này bị xâm phạm rất nhiều Trong các vụ việc này phải kể đến vụ ông Trần Thanh Minh (Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Phú Hải, thành phố Phan Thiết)

Trang 38

31

khởi kiện ông Đồng Văn Thanh (Bí thư Đảng ủy phường này) tới TAND thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận yêu cầu xin lỗi và bồi thường thiệt hại vì cho rằng tháng 4/2006 ông Thanh “dựng chuyện” cán bộ, nhân dân phường phản ánh về “mối quan hệ không lành mạnh” giữa ông và bà cựu phó chủ tịch Hội đồng nhân dân phường, cùng việc hai người hùn vốn kinh doanh Internet để chỉ đạo kiểm tra nhằm mục đích hạ uy tín, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và phá hoại hạnh phúc của gia đình ông 19 Hay vụ việc ca sĩ Phương Thanh khởi kiện bà Lê Nguyễn Hương Trà (chủ nhân của blog Cogaidolong) đến TAND quận Tân Bình, Tp HCM yêu cầu phải xin lỗi công khai vì cho rằng bà Lê Nguyễn Hương Trà đã có hai bài viết trên blog của mình về cô với nội dung sai sự thật, xúc phạm tới danh dự, hạ uy tín của cô 20…

Tuy nhiên, trên thực tế để có thể xác định được danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm đến đâu và xác định mức bồi thường là bao nhiêu thì không phải dễ

Có thể một hành vi nói xấu, chửi rủa người này trước mặt mọi người không làm cho người đó bị xấu hổ nhưng cũng hành vi đó đối với một người khác có thể làm cho họ cảm thấy xấu hổ, được cho là sỉ nhục, bôi nhọ danh dự của họ Mặt khác, đây là những giá trị nhân thân không định ra được đại lượng vật chất, không trị giá được thành tiền

Do vậy, khi xác định thiệt hại thực tế xảy ra, xác định giá trị nhân thân bị xâm phạm là bao nhiêu rất khó

1.2.3.2 Quyền bí mật đời tư (Điều 38 BLDS)

Quyền được bảo vệ đời tư (right to privacy) trước hết được đề cập trong Điều

12 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) Theo Điều này, không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy

Quy định trong Điều 12 UDHR sau đó được tái khẳng định trong Điều 17 Công ước các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), trong đó nêu rằng: “Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc

Trang 39

Ngoài ra thì thư tín, điện thoại, điện tín và nói chung là những phương tiện liên lạc, truyền tải qua mạng thông tin máy tính của cá nhân đều thuộc bí mật đời tư…

Trên thực tế quyền bí mật đời tư bị vi phạm rất nhiều Chẳng hạn, hiện tượng một số “trung tâm dữ liệu khách hàng” có trụ sở trong nước thu thập các thông tin, tài liệu chi tiết về các cá nhân cần biết trong xã hội để cung cấp, mua bán cho những người

có yêu cầu Các thông tin, tư liệu này đều liên quan đến yếu tố cá nhân mà cá nhân không muốn tiết lộ cho người khác biết, phần lớn thuộc phạm vi quyền nhân thân, bí mật đời tư của cá nhân 21 Hay việc nghe trộm điện thoại, điện tín, bóc trộm thư tín cũng

là hành vi xâm phạm bí mật đời tư

Tuy nhiên, khi đề cập đến quyền bí mật đời tư thì cũng còn vấn đề cần phải xem xét lại trong quy định của pháp luật Khi nào thì xem đây là bí mật đời tư cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi Đã có khá nhiều vụ kiện liên quan đến bí mật đời tư và gây ra nhiều tranh cãi khi xem xét thế nào là bí mật đời tư TAND Quận 3, Tp HCM cũng thụ lý vụ việc liên quan tới bí mật đời tư Một người đàn ông kiện một nhà xuất bản, yêu cầu cải chính, không tái bản và không lưu hành một tác phẩm vì đã xuyên tạc sự thật, xâm phạm đời tư của ông Theo người này, bài báo trong tác phẩm đã tường thuật lời khai của ông tại phiên xử ly hôn, có nhiều chi tiết liên quan đời sống riêng tư Nhà xuất bản

và tác giả đã “đem nỗi đau đời tư của người khác để kinh doanh”, làm ảnh hưởng lớn

21

Xem: Phan Đăng Thanh, Làm lộ bí mật đời tư có thể bị phạt tù, báo Pháp luật Tp HCM, ngày 17/8/2011

Trang 40

1.2.4 Nhóm các quyền tự do của cá nhân trong lĩnh vực dân sự

1.2.4.1 Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 46 BLDS)

Chỗ ở của một người là nơi mà người đó thường xuyên cư trú, thực hiện các hoạt động sinh hoạt cá nhân, cất giữ các tài sản cá nhân Chỗ ở có thể là nhà thuộc sở hữu cá nhân, nhà thuê, có thể ở riêng hoặc sống chung với người khác, với gia đình

Chỗ ở được coi là một khu vực riêng tư của một cá nhân, được Hiến pháp 1992 ghi nhận là một quyền cơ bản của con người tại Điều 73 Do vậy, trên cơ sở cụ thể hóa quy định của Hiến Pháp, BLDS đã có quy định quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở để đảm bảo sự riêng tư và sự tự do của cá nhân Không ai có quyền xâm phạm đến chỗ ở của cá nhân, trừ trường hợp được pháp luật quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét chỗ ở của một người; việc khám xét phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Quy định này đã tạo ra sự an toàn cũng như sự tôn trọng quyền tự do, riêng tư của cá nhân

1.2.4.2 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47 BLDS)

Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền định nghĩa tự do tín ngưỡng như sau: “Mỗi

người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm, và tín ngưỡng; quyền này bao gồm tự do

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w