1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông

44 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách Nhiệm Liên Đới Bồi Thường Thiệt Hại Trong Tai Nạn Giao Thông
Tác giả Trương Ngọc Liêu
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 613,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những khái niệm đã nêu có thể hiểu một cách khái quát “trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông là một loại trách nhiệm dân sự, phát sinh giữa các chủ thể kh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG NGỌC LIÊU

ĐỀ TÀI:

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG

LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

3.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

4 Các phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 4

5.1 Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài 4

5.2 Giá trị ứng dụng của đề tài 4

6 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp 4

NỘI DUNG 6

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Đặc điểm 9

1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông 10

1.2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông do hành vi trái pháp luật của con người gây ra 10

1.2.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 15

1.3 Các trường hợp liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông 18

Trang 3

1.3.1 Trường hợp có sự liên đới thỏa thuận trách nhiệm liên đới bồi

thường thiệt hại trong tai nạn giao thông 18 1.3.2 Trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu cũng có lỗi để

phương tiện giao thông hoặc nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật 20

CHƯƠNG 2 24 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG

2.1 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông 24 2.2 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông 39 KẾT LUẬN 41

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Như chúng ta đã biết tai nạn giao thông ngày nay xảy ra phổ biến và dẫn đến những mất mát đau thương to lớn không những cho chính bản thân người bị tai nạn và còn cho cả người thân của họ “Theo báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, năm 2012, tình hình trật tự an toàn giao thông bước đầu được thiết lập lại, ùn tắc giao thông, giảm đạt 3 tiêu chí số vụ, số người chết, bị thương, vượt chỉ tiêu giảm tai nạn giao thông Cụ thể, cả nước xảy ra 36.376 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9.838 người, bị thương 38.060 người So với cùng

kỳ năm 2011, giảm 7.446 vụ (16,99%), giảm 1.614 người chết (14,09%), giảm 9.529 người bị thương (20,02%) Có 40 tỉnh, thành phố giảm trên 10% số người chết và tai nạn giao thông; 10 tỉnh, thành phố có số người chết vì tai nạn giao thông giảm từ 5-dưới 10%; có 11 tỉnh, thành phố có số người chết vì tai nạn giao thông giảm từ 1 đến dưới 5%” Mặc dù tình hình giao thông bước đầu được thiết lập lại tuy nhiên những con số thương vong nêu trên (9.838 người chết, 38.060 người bị thương) vẫn là những con số biết nói, thể hiện những tổn thất to lớn của cả toàn xã hội Tuy nhiên vấn đề giải quyết hậu quả của những

vụ tai nạn trên, đặc biệt là vấn đề trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại vẫn còn nhiều vướng mắc, nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời dường như không được đảm bảo Chính vì tính đặc thù của loại trách nhiệm này nên về mặt lý luận cần phải làm rõ một số vấn đề trọng tâm như cơ

sở, căn cứ nào để buộc các chủ thể phải có trách nhiệm liên đới thường thiệt hại, nội dung của trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại, từ đó làm cơ sở để giải quyết các vụ án trên thực tiễn Mặt khác, một số quy định của pháp luật về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông vẫn còn tồn tại những điểm bất cập, hạn chế Đồng thời thực tiễn xét xử vẫn còn có sự không thống nhất trong cách hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật trong việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại thuộc về ai? Như vậy có thể nói đây là vấn đề khá phức tạp cả góc độ lý luận lẫn thực tiễn, tuy nhiên việc nghiên cứu về vấn đề này trong thực tiễn còn hạn chế

Vì vậy qua quá trình nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả chọn

đề tài “Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông” làm khóa luận tốt nghiệp của mình Một mặt, nhằm củng cố những kiến thức đã tích lũy về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm liên đới bồi thường trong tai nạn giao thông nói riêng, mặt khác qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài cũng góp phần bổ sung những kiến thức mới Tổng kết lại thành quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kiến nghị với mong muốn góp một phần rất nhỏ nhằm phục vụ cho công tác xây dựng pháp luật và

Trang 5

nghiên cứu về vấn đề này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phần lớn các công trình nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung nghiên cứu vấn

đề trách nhiệm liên đới bồi thường ở góc độ chung nhất, chẳng hạn như Luận án

Tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Kim Anh về “Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam” hay ở các công trình nghiên

cứu khác, các tác giả cũng chỉ nghiên cứu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

ở cấp độ khái quát nhất như bài viết của tác giả Phùng Trung Tập “Yếu tố lỗi trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” đăng trên Tạp chí luật

học số 5/1997 hoặc trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong những trường

hợp cụ thể như bài viết của tác giả Nguyễn Minh Tuấn: “Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra”; các bài viết đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn

nguy hiểm cao độ gây ra nói chung, chẳng hạn như bài viết của tác giả Mai Bộ

“Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 2/2003, bài viết của tác giả Nguyễn Văn Dũng “Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” đăng trên Tạp

chí Tòa án nhân dân kỳ II tháng 9-2008 (số 18) hay bài viết của tác giả Nguyễn

Xuân Quang “Một số vấn đề pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số

03/2011 Mặc dù vậy, một số tác giả và nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông như luận án Tiến sỹ luật học

của tác giả Nguyễn Thanh Hồng về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

vụ tai nạn giao thông” hay các bài viết của tác giả Đỗ Văn Đại về vấn đề này trong cuốn sách chuyên khảo “Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam-Bản

án và bình luận bản án” Nxb Chính trị Quốc gia

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu chỉ dừng lại ở bình diện chung nhất những vấn đề lý luận và thực tiễn, chưa có công trình nào thật sự nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống về vấn đề trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông Do đó, vấn đề “Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông” là một đề tài đang cần làm rõ về mặt lý luận và rất cấp bách về mặt thực tiễn

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông Từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các

Trang 6

quy định của pháp luật hiện hành nhằm tạo ra sự thống nhất của pháp luật, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xét xử

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông nói riêng; thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết vấn đề liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông

3.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề

về mặt lý luận, thực tiễn áp dụng trong tai nạn giao thông đường bộ, từ đó chỉ ra những thiếu sót, vướng mắc và kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật, tạo thuận lợi cho công tác giải quyết vấn

đề liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông đường bộ trong thực tiễn

Trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, diễn giải, phương pháp logic, phương pháp hệ thống hóa vấn đề Ở phần lý luận phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp dẫn chiếu, suy diễn logic, so sánh kết hợp với phương pháp phân tích để đưa một cái nhìn tổng quan về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông Ở phần thực tiễn xét xử tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp liệt kê kết hợp với phân tích để đi sâu vào các khía cạnh của pháp luật, những mặt được và những mặt còn hạn chế Đi sâu phân tích các bản án kết hợp so sánh, đối chiếu để có cái nhìn đa chiều về thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở làm rõ các đặc điểm, các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông, khóa luận sẽ làm rõ các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm liên đới bồi thường trong tai nạn giao thông, làm rõ những đặc điểm đặc thù của loại trách nhiệm này so với các loại trách nhiệm dân sự khác Đồng thời qua quá trình nhận thức về thực tiễn xét xử, khóa

Trang 7

luận cũng chỉ ra những mặt tích cực góp phần bảo vệ tốt lợi ích của người bị thiệt hại bên cạnh những vướng mắc còn tồn đọng

5.2 Giá trị ứng dụng của đề tài

Khóa luận cũng kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật hiện hành, góp phần hoàn thiện những quy định liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông nói riêng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung

6 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận gồm phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, trong đó phần nội dung khóa luận được kết cấu gồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông Trong chương này tác giả trình bày những nội dung sau:

Một là, khái niệm, đặc điểm và điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông, trong phần điều kiện phát sinh tác giả trình bày hai trường hợp: trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông do hành vi trái pháp luật của con người gây ra và điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Hai là, các trường hợp liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông bao gồm: Trường hợp có sự thỏa thuận trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông và trường hợp chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng có lỗi để phương tiện giao thông hoặc nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật

Chương 2: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông

Trang 8

NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI DO TAI NẠN GIAO THÔNG

1.1.1 Khái niệm

Thời phong kiến đã tồn tại các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng nhìn chung không có sự tách bạch giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồi thường được xem là vấn đề thuộc trật tự công cộng, “chẳng hạn Điều 553 Bộ luật Hồng Đức: Người vô cớ mà phóng ngựa chạy trong phố phường, đường ngõ trong kinh thành hay là trong đám đông người …làm bị thương hay làm chết các súc vật, thì phải đền số tiền theo sự mất giá (ví dụ như con vật đáng 10 phần, nay làm chết giá chỉ còn 2 phần, thì phải đền giá 8 phần; làm bị thương mất giá một phần thì phải đền giá một phần)”1 Tuy nhiên đến khi thông tư 173/UBTP được ban hành thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới được khẳng định là trách nhiệm dân sự, theo hướng dẫn của thông tư thì “giải quyết việc bồi thường mức thiệt hại ngoài hợp đồng

là áp dụng một biện pháp thuộc về chế độ trách nhiệm dân sự ”

Trong giai đoạn hiện nay, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xem là một chế định quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, điều này được ghi nhận trong Hiến Pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người

bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”2 Là đạo luật gốc những nguyên tắc mang tính chất nền tảng về vấn đề bồi thường của Hiến pháp được cụ thể hóa bằng các quy định của pháp luật mà đầu tiên phải kể đến là Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật không chỉ ghi nhận quyền được bồi thường

Trang 9

thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà còn quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường, cũng như phương thức bồi thường và cách thức xác định thiệt hại… Thay thế Bộ luật Dân sự 1995 là Bộ luật Dân sự 2005 (sau đây viết tắt là BLDS 2005) đã kế thừa những quy định của Bộ luật Dân sự 1995 đồng thời có những sửa đổi, bổ sung phù hợp với sự chuyển biến của các quan

hệ xã hội Ngoài ra quy định về trách nhiệm bồi thường còn được quy định trong các văn bản luật chuyên ngành như: Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước, Bộ luật lao động…và hàng loạt các văn bản dưới luật khác

Dù là chế định có lịch sử phát triển từ rất sớm nhưng cho đến nay, chưa

có một định nghĩa pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo từ điển Tiếng Việt3, trách nhiệm nghĩa là “phụ trách, gánh vác công việc và nhận mọi hậu quả của công việc ấy” như vậy giữa nghĩa vụ và trách nhiệm có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên chúng khác nhau ở một điểm quan trọng là yếu tố “hậu quả” Nghĩa vụ là cái có trước và trách nhiệm là cái phát sinh sau khi nghĩa vụ

bị vi phạm Trong trách nhiệm pháp lý hậu quả này sẽ là “hậu quả bất lợi” áp dụng đối với những người phải chịu trách nhiệm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc cũng có thể do thực hiện hành vi trái pháp luật và hành vi này không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng Như vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (được quy định tại Chương 21 Bộ luật Dân sự) và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Hai hình thức trách nhiệm dân sự này có những điểm chung của một loại trách nhiệm dân sự nói riêng và trách nhiệm pháp lý nói chung ở hậu quả pháp lý bất lợi mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể vi phạm và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhưng giữa chúng cũng có những điểm khác biệt Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là một phần của chế định hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phát sinh giữa các chủ thể mà giữa những chủ thể này đã tồn tại quan hệ hợp đồng và thiệt hại xảy

ra là do hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng Đây là trách nhiệm bồi thường do các chủ thể thỏa thuận với nhau và điều này được thể hiện trong quan hệ hợp đồng giữa các bên Như vậy điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là giữa các bên phải tồn tại quan hệ hợp đồng và thiệt hại xảy ra là do việc vi phạm nghĩa vụ trong chính hợp đồng

đó Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh do có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến các lợi ích được pháp luật bảo vệ gây thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm luật định, tức không phải là trách nhiệm mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng Vì thế cho dù các bên có tồn tại một quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp luật và hành vi này không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trong

3

Viện ngôn ngữ Khoa học Xã hội Nhân văn, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.1068

Trang 10

hợp đồng thì các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

sẽ được áp dụng Ví dụ: A bán cho B một ngôi nhà và B có nghĩa vụ giao tiền đầy đủ cho A khi A làm xong thủ tục chuyển nhượng Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì một hôm A và B xảy ra mâu thuẩn và B đã đánh A gây thương tích Hành vi đánh A gây thương tích này làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của B, nhưng đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

mà không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng cho dù giữa

A và B có tồn tại quan hệ hợp đồng mua bán nhà Do vậy có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự thuộc về chủ thể có hành vi gây thiệt hại về vật chất, thể chất, tinh thần, có trách nhiệm bồi thường toàn bộ hoặc bù đắp một phần những tổn thất đã gây ra cho chủ thể

bị thiệt hại

Trong từ điển Tiếng Việt4 “liên đới” là: “Dính chùm với nhau, cùng chịu, chung nhau gánh chịu” như vậy liên đới nhấn mạnh yếu tố ràng buộc lẫn nhau, cùng chung chịu trách nhiệm mà không có sự phân biệt giữa các chủ thể, tuy nhiên trong lĩnh vực pháp luật chưa có một định nghĩa pháp lý về trách nhiệm liên đới mặc dù thuật ngữ liên đới được sử dụng khá phổ biến Từ khái niệm liên đới trong Từ điển Tiếng Việt kết hợp với nội dung về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại được quy định trong pháp luật chúng ta có thể xây dựng

khái niệm pháp lý về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại như sau: Trách nhiệm liên đới bồi thường là một loại trách nhiệm dân sự, cho phép bên có quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những người có trách nhiệm bồi thường thực hiện một phần hay toàn bộ trách nhiệm và những người này có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó

Theo Từ điển Tiếng Việt5 thì “tai nạn” là: “Sự rủi ro có hại”, trong lĩnh vực pháp luật chưa có một định nghĩa về tai nạn nói chung, tuy nhiên trong một

số quy phạm pháp luật của một số ngành luật một số khái niệm về tai nạn trong từng lĩnh vực cụ thể, như khái niệm tai nạn lao động6 trong Bộ luật Lao động Trong nghiên cứu khoa học thì khái niệm “tai nạn giao thông” cũng đã được một số tác giả đề cập đến chẳng hạn theo tác giả Nguyễn Thanh Hồng thì: “Tai nạn giao thông đường bộ là một sự kiện do hành vi của con người vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ do sự cố đột xuất hoặc do các sự kiện bất khả kháng trong quá trình tham gia giao thông của con người gây thiệt hại

về tính mạng, về sức khỏe, về tinh thần của con người hoặc thiệt hại về tài

4

Viện ngôn ngữ Khoa học Xã hội Nhân văn, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.540

5 Viện ngôn ngữ Khoa học Xã hội Nhân văn, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.875

6 Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Lao động 2012

Trang 11

sản”7, như vậy tựu chung lại thì tai nạn giao thông là tai nạn xảy ra trong quá trình tham gia giao thông và gây ra các thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng

Từ những khái niệm đã nêu có thể hiểu một cách khái quát “trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông là một loại trách nhiệm dân sự, phát sinh giữa các chủ thể khi có thiệt hại xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, xuất phát từ những vi phạm quy định về an toàn giao thông và người chịu trách nhiệm bồi thường là một tập hợp gồm nhiều chủ thể, giữa họ

có sự ràng buộc trách nhiệm với nhau đối với thiệt hại đã xảy ra, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bất kỳ ai trong số họ thực hiện một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm và người được yêu cầu không được từ chối thực hiện”

1.1.2 Đặc điểm

Liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông là một trường hợp

cụ thể của trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại nói chung (trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại quy định tại chương 21 BLDS 2005 bao gồm các trường hợp: Một là trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh do nhiều người cùng gây thiệt hại8, hai là trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh do pháp luật quy định9) do vậy bên cạnh những đặc điểm chung của trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại nói chung như có nhiều chủ thể cùng chịu trách nhiệm bồi thường, chủ thể có quyền có thể yêu cầu bất kỳ chủ thể nào thực hiện một phần hoặc toàn bộ thiệt hại…, trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông cũng có đặc điểm riêng về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, cụ thể: Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông là trường hợp trách nhiệm liên đới phát sinh do pháp luật quy định (Điều 623 BLDS 2005) Tại Điều 623 BLDS 2005 quy định các trường hợp làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại đó là trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái phép thì phải liên đới bồi thường thiệt hại (khoản 4) và “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” (khoản 2), thỏa thuận khác mà BLDS 2005 quy định được hướng dẫn chi tiết tại điểm b, mục 2, phần III NQ 03/2006 cụ thể bao gồm các thỏa thuận sau: Thoả thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại; Thoả thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước, sau đó người được giao chiếm hữu,

sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã bồi thường; Ai có điều kiện

về kinh tế hơn thì người đó thực hiện việc bồi thường thiệt hại trước Như vậy

có thể nhận thấy có hai căn cứ làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường

7 Nguyễn Thanh Hồng, Luận án tiến sỹ luật học: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao

thông”, tr.16

8

Điều 616 Bộ luật Dân sự 2005

9 Điều 623, Điều 625 Bộ luật Dân sự 2005

Trang 12

thiệt hại trong tai nạn giao thông, một là các bên có sự thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm, hai là trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại Ví dụ: A là chủ sở hữu xe mô tô, A cho B mượn và trong quá trình sử dụng B gây tai nạn, trong trường hợp này A hoàn toàn không có sự tham gia gây ra thiệt hại mà thiệt hại chỉ do một mình B gây ra, nhưng nếu A và

B có thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì thỏa thuận này làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của A Như vậy, căn cứ làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông được quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 623 BLDS 2005

và được hướng dẫn chi tiết tại điểm b, mục 2, phần III NQ 03/2006, khi các chủ thể rơi vào các trường hợp được quy định này thì trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh

1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông

1.2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông do hành vi trái pháp luật của con người gây ra

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tập hợp những căn cứ cho phép chúng ta xác định có hay không có trách nhiệm bồi thường Thực ra BLDS 2005 không nêu rõ các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà có thể nhận ra các điều kiện này

từ quy định tại khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi

vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”, như vậy

có thể thấy, để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì chủ thể gây thiệt hại phải có lỗi (cố ý hoặc vô ý) Bộ luật cũng không nêu rõ “yếu tố trái pháp” luật mà chỉ liệt kê một số hành vi như: xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân Từ danh sách những hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tòa án tối cao đã khái quát hóa các hành vi này là để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì phải có “hành vi trái pháp luật” Một điều kiện nữa để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phải có “thiệt hại” và cuối cùng là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại đã xảy ra Cụ thể các điều kiện này được quy định chi tiết tại mục 1 phần I NQ 03/2006 gồm: “Phải có thiệt hại xảy ra; phải có hành vi trái pháp luật; phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại”

Trang 13

Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông là một loại trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, do vậy trách nhiệm này chỉ phát sinh khi có đủ bốn điều kiện nêu trên Tuy nhiên dù là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng loại trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông có những yếu tố đặc thù nên điều kiện phát sinh cũng có những điểm đặc trưng

1.2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra

Phải có thiệt hại xảy ra là điều kiện tiên quyết để xác định có phát sinh trách nhiệm bồi thường hay không “nếu không có thiệt hại thì cho dù có hành vi

vi phạm cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường mặc dù có thể phát sinh các trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính…”10

rõ ràng là như vậy, không có thiệt hại thì không thể có việc bồi thường thiệt hại và đương nhiên cũng không làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại BLDS 2005 không nêu ra định nghĩa về thiệt hại mà chỉ liệt kê những loại thiệt hại, cụ thể bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Cụ thể theo NQ 03/2006 thì thiệt hại bao gồm: “Thiệt hại về vật chất (thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS 2005; thiệt hại

do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS 2005…) và thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân (thiệt hại khi sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh

do bị hiểu nhầm ), của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (khi danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm)”

Thiệt hại trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông cũng là thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng thiệt hại trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông có những đặc trưng riêng nhất định

Thứ nhất, thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật của nhiều người, không nhất thiết các hành vi đó phải đồng thời thực hiện Ví dụ: A đang lưu thông đúng quy định thì B điều khiển xe mô tô do vượt quá tốc độ tông vào A làm A ngã xuống đường, lúc này C cũng đang điều khiển xe quá tốc độ cho phép và đã tông vào A, hậu quả làm A bị thương nặng Trong trường hợp này thiệt hại đã xảy ra đối với A là hậu quả của hành vi trái pháp luật của B và C

13 Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005, Nxb Chính trị quốc gia,2009 tập II,

tr.702

Trang 14

(điều khiển xe quá tốc độ cho phép) do vậy thiệt hại đã xảy ra, cả B và C phải liên đới bồi thường thiệt hại

Thứ hai, thiệt hại là một thể thống nhất không thể phân chia Trong ví dụ vừa nêu trên thiệt hại đã xảy ra với A là thiệt hại chung của hành vi trái pháp luật của A và B, hay nói cách khác hành vi trái pháp luật của A và B đã gây ra một thiệt hại chung và thiệt hại này không thể phân chia thành các phần khác nhau mà phải buộc cả A và B cùng nhau chịu trách nhiệm liên đới bồi thường đối với toàn bộ thiệt hại Tuy nhiên trong các trường hợp cụ thể Tòa sẽ xác định mức bồi thường dựa trên mức độ gây ra thiệt hại cũng như mức độ lỗi của từng chủ thể, nếu không xác định được thì các chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo những phần bằng nhau

1.2.1.2 Phải có hành vi trái pháp luật

Theo quy định tại tiểu mục 1.2, mục 1, phần I NQ 03/2006 thì căn cứ có hành vi trái pháp luật là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu không có hành vi trái pháp luật thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được đặt ra Từ quy định này chúng ta có thể thấy “hành vi gây thiệt hại được xác định là hành vi trái pháp luật thì người có hành vi đó phải bồi thường, nhưng hành vi gây thiệt hại được xác định là hành vi không trái pháp luật thì người có hành vi đó không phải bồi thường”.11 Ngoài những quy định chung khi xác định trách nhiệm dân sự, việc xác định hành vi trái pháp luật trong việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông có những điểm đặc thù Cụ thể, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại trong tai nạn giao thông là các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về an toàn giao thông bao gồm: Các hành vi liên quan đến việc điều khiển phương tiện giao thông (đi quá tốc độ; tránh, vượt trái phép; không đi đúng tuyến đường, phần đường ); các hành vi cản trở giao thông (đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông; lấn chiếm, chiếm dụng, lòng đường, vỉa hè…); các hành

vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông không đảm bảo an toàn; các hành vi tổ chức đua xe, đua xe trái phép…

Trong trách nhiệm dân sự thông thường, hành vi trái pháp luật có thể được thực hiện bởi một cá nhân hay một tổ chức thì trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông hành vi trái pháp luật có thể được thực hiện bởi nhiều người, ví dụ: A lấn chiếm lòng đường phơi nông sản, B điều khiển xe chạy quá tốc độ cho phép, do không làm chủ được tốc độ cùng với việc xe chạy trên đoạn đường phơi nông sản trơn trượt, B mất tay lái và đâm vào C đang lưu thông cùng chiều làm xe của C bị hỏng Trong trường hợp này thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật của cả A (lấn chiếm lòng đường)

11

Phùng Trung Tập, Bồi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng, Nxb Hà Nội 2009, tr.57.

Trang 15

và B (điều khiển xe quá tốc độ cho quy định) chứ không phải của riêng B, do vậy A và B phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại đã xảy ra Như vậy chúng ta thấy trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể do nhiều chủ thể thực hiện

1.2.1.3 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.3, mục 1, phần I NQ 03/2006 thì mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại đã xảy ra là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông nói riêng Mối quan hệ nhân quả giữ một vai trò đặc biệt quan trọng để xác định có việc liên đới chịu trách nhiệm bồi thường hay không và phạm vi chủ thể có trách nhiệm liên đới bồi thường Trong thực tế có tồn tại hành vi trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra, tuy nhiên không có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại đã xảy ra và hành vi trái pháp luật thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ví dụ:

A là người điều khiển xe mô tô trên đường nhưng không có giấy phép lái xe, trong quá trình tham gia lưu thông trên đường, khi A dừng tại ngã tư khi có đèn

đỏ thì B điều khiển xe vượt đèn đỏ và tông vào A, hậu quả B bị gãy chân Trong trường hợp này rõ ràng A là người có hành vi trái pháp luật khi điều khiển xe mô tô mà không có giấy phép lái xe Tuy nhiên thiệt hại xảy ra là do chính B đã vượt đèn đỏ và tông vào A, giữa thiệt hại đã xảy ra (B bị gãy chân)

và hành vi trái pháp luật của A (không có giấy phép lái xe) không hề có mối quan hệ nhân quả, hành vi trái pháp luật của A không có mối quan hệ nội tại, tất yếu đối với thiệt hại gãy chân của B do đó B phải tự chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do mình đã tự gây ra Trong tai nạn giao thông việc xác định đúng mối quan hệ nhân quả sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định phạm vi chủ thể phải

có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại Ví dụ, A tổ chức đua xe trái phép,

B là một trong những người tham gia cuộc đua, trong quá trình B đang điều khiển xe trên đường đua B bị mất tay lái và tông vào người đi đường gây thiệt hại về tính mạng Trong trường hợp này nếu xác định hành vi tổ chức đua xe trái phép của A không có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại đã xảy ra thì chỉ có

B là người phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, nhưng nếu xác định hành vi của A

có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại đã xảy ra thì cả A và B phải liên đới bồi thường thiệt hại

1.2.1.4 Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại

Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 “Người nào do lỗi cố ý, vô ý (…) mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” do vậy lỗi là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường, điều kiện này được quy định cụ thể tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần I NQ 03/2006 Mặc dù lỗi được sử dụng làm căn cứ để phát sinh trách

Trang 16

nhiệm bồi thường và định nghĩa lỗi cố ý, lỗi vô ý (tại NQ 03/2006) nhưng khái niệm lỗi là gì trong lĩnh vực Luật dân sự chưa có

Trong một số giáo trình luật dân sự cũng như trong một số ấn phẩm pháp

lý khác, các tác giả định nghĩa lỗi như là căn cứ để xác định trách nhiệm dân sự dựa trên trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của một người đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Tuy nhiên cũng có một số tác giả cho rằng khái niệm lỗi trong luật dân sự “…không thể xây dựng định nghĩa lỗi trong trách nhiệm dân sự dựa trên định nghĩa lỗi trong trách nhiệm hình sự (…) phải xây dựng khái niệm lỗi dựa trên sự quan tâm, chu đáo của chủ thể đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình Một cá nhân hay pháp nhân được coi là không có lỗi nếu khi áp dụng tất cả mọi biện pháp để thực hiện đúng nghĩa vụ

đã biểu hiện sự quan tâm chu đáo mà tính chất của nghĩa vụ và điều kiện lưu thông dân sự yêu cầu đối với họ”.12 Trở lại việc yếu tố lỗi là căn cứ bắt buộc để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông nói riêng, theo quy định tại Điều 604 BLDS 2005 và hướng dẫn của NQ03/2006 thì lỗi là căn cứ bắt buộc phải có để yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ một số trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại khi không có lỗi, tiêu biểu như các trường hợp được quy định tại Điều 623 BLDS 2005 bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; Điều 624 BLDS 2005 bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường Ngoài những trường hợp ngoại lệ thì về nguyên tắc người gây thiệt hại không có lỗi thì không có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đó

Điều này cũng có tác giả không đồng tình vì cho rằng: “Trong chính văn bản cũng có quy định buộc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (người không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình) phải bồi thường khi gây thiệt hại Trong thực tiễn xét xử, những người có hành vi gây thiệt hại, nhưng khi gây thiệt hại không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình do bị tâm thần, bị động kinh vẫn có trách nhiệm bồi thường (cho dù chưa bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự) Những người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần, bị điên gây thiệt hại trong tình trạng không nhận thức được hành vi của mình, thì những người bình thường không có lý do gì để được miễn trong trường hợp tương tự…Điều này cho thấy sự vô lý của pháp luật hiện hành khi quy định lỗi (nhận thức của chủ thể) là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường…” và “phải chăng chúng ta nên bỏ yếu tố “lỗi” ra khỏi danh sách những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

12 Phạm Kim Anh, Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự, Tạp chí Khoa học pháp lý số 03/2003, tr.32

Trang 17

Liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông cũng là một loại trách nhiệm dân sự, vì vậy lỗi cũng được coi là một trong các căn cứ để xác định trách nhiệm liên đới Nhưng so với lỗi là căn cứ xác định trách nhiệm dân

sự nói chung thì lỗi là căn cứ xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông có đặc điểm riêng, lỗi có thể là lỗi của người không trực tiếp thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người khác nhưng hành vi có lỗi của họ là nguyên nhân dẫn đến hành vi trái pháp luật của người trực tiếp gây thiệt hại Ví dụ: A xuống xe mô tô nhưng không tắt máy và B không có giấy phép lái xe mô tô đã điều khiển chiếc xe trên tham gia giao thông gây tai nạn làm phát sinh thiệt hại Trong trường hợp này A cũng có lỗi mặc dù A không phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại nhưng hành vi xuống xe không tắt máy

đã tạo điều kiện thuận lợi cho B điều khiển gây tai nạn Do đó cả A và B phải cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra

1.2.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Trong nhiều trường hợp, thiệt hại do tài sản gây ra, do vậy những quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không thể được áp dụng vì thiếu điều kiện “hành vi trái pháp luật” vì hành vi trái pháp luật là cách xử sự của con người trái với các quy định của pháp luật Do đó quy định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ ra đời để bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại

Thiệt hại xảy ra ở đây là do hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây

ra mà không do lỗi của ai, chẳng hạn tai nạn xảy ra khi ô tô đang lưu thông thì

bị nổ lốp Vấn đề bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ đã được BLDS 2005 quy định, trước đó trong Bộ luật Dân sự 1995 cũng đã có quy định và trước đó nữa chế định bồi thường này cũng đã tồn tại, chẳng hạn năm 1983 theo Tòa án tối cao14: “Hoạt động của ô tô là một nguồn nguy hiểm cao độ cho nên phía ô tô

Trang 18

có trách nhiệm bồi thường cho người thiệt hại, kể cả trường hợp tai nạn xảy ra

vì tai nạn xảy ra vì cấu tạo của máy móc, vật liệu (tai nạn rủi ro)”

Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không hoàn toàn giống với điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại nói riêng Điều đặc biệt ở đây là không cần đến hai điều kiện: “hành vi trái pháp luật” và “lỗi”

1.2.2.1 Có thiệt hại xảy ra

Trong một vụ tai nạn giao thông do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, thiệt hại có thể bao gồm thiệt hại của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ; thiệt hại cho người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ; thiệt hại cho người được người không phải là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao

độ giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại của những chủ thể khác ngoài những chủ thể đã nêu (sau đây gọi chung là những người xung quanh) Như đã đề cập chủ thể bị thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có nhiều, tuy nhiên không phải thiệt hại nào cũng được bồi thường theo quy định

về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định tại Điều 623 BLDS 2005 và hướng dẫn tại NQ 03/2006, mà chỉ là thiệt hại xảy ra cho những người xung quanh Thiệt hại xảy ra có thể là thiệt về tài sản, sức khỏe, tính mạng

1.2.2.2 Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS 2005 thì phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ (nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất cháy chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định) và theo quy định tại khoản 18 Điều 3 Luật giao thông năm 2008 thì phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi

rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh;

xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự Trong các vụ tai nạn giao thông, thiệt hại xảy ra có thể do hành vi trái pháp luật của con người và cũng có thể do bản thân phương tiện giao thông giao thông cơ giới gây ra như vậy vấn đề quan trọng là chúng ta phải xác định khi nào thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp luật của con người, khi nào là thiệt hại xảy ra do phương tiện giao thông cơ giới, bởi lẽ để áp dụng Điều 623 BLDS 2005 làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông của các chủ thể thì thiệt hại phải do chính phương tiện giao thông cơ giới gây ra Thiệt hại do bản

Trang 19

thân phương tiện giao thông cơ giới gây ra phải là thiệt hại mà trong quá trình

sử dụng, tự thân nó gây thiệt hại mà chủ thể chiếm hữu, sử dụng nó không có lỗi, ví dụ thiệt hại xảy ra trong quá trình sử dụng do ô tô bị nổ lốp, mất phanh (mất thắng) và các trục trặc kỹ thuật khác mà gây tai nạn

Theo quy định tại khoản 4 Điều 623 BLDS 2005: “Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”, như vậy một điều kiện bắt buộc để các chủ thể phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao phải có “lỗi” bên cạnh các điều kiện đã nêu là có thiệt hại xảy ra và thiệt hại do bản thân nguồn nguy hiểm cao độ gây

ra Yếu tố “lỗi” trong trường hợp này không phải là lỗi với tư cách là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung mà

“lỗi” ở đây là “lỗi” liên quan đến việc quản lý, bảo quản, trông nom nguồn nguy hiểm cao độ…và yếu tố “lỗi” này giữ vai trò là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của các chủ thể theo quy định tại khoản 4 Điều 623 BLDS 2005 Tóm lại, từ những phân tích trên cho chúng ta thấy, hành

vi trái pháp luật và lỗi không có ý nghĩa trong việc làm căn cứ phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà thay vào đó chúng ta cần phải xác định có thiệt hại xảy

ra, và thiệt hại này do chính nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cùng với việc xác định chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có “lỗi” trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu,

sử dụng trái pháp luật thì đủ căn cứ để buộc các chủ thể phải liên đới bồi thường thiệt hại

1.3 Các trường hợp liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông

1.3.1 Trường hợp có sự thỏa thuận trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông

Theo quy định tại khoản 2 Điều 623 BLDS 2005 thì “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy, về nguyên tắc khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường, nếu nguồn nguy hiểm cao độ đã được giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người đó phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên, nếu các bên có sự thỏa thuận thì thỏa thuận này có giá trị ưu tiên áp dụng Tuy nhiên không phải cứ các bên có sự thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì thỏa thuận đó đương nhiên có giá trị pháp lý, mà thỏa thuận đó phải đáp

Trang 20

ứng được các điều kiện mà pháp luật quy định thì khi đó thỏa thuận này mới có giá trị pháp lý được ưu tiên áp dụng BLDS 2005 chỉ nêu “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” mà không nêu rõ các “thỏa thuận khác” phải đáp ứng những điều kiện nào để thỏa thuận có giá trị pháp lý, tuy nhiên điều kiện này đã

đề cập đến tại điểm b, mục 2, phần III NQ 03/2006, cụ thể NQ 03/2006 quy định “Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thoả thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường” Từ quy định này chúng ta nhận thấy rằng không phải cứ các bên có sự thỏa thuận thì thỏa thuận đương nhiên có giá trị pháp lý mà thỏa thuận đó phải đáp ứng các điều kiện: không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường Hướng dẫn này là rất hợp lý, một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các bên

có thể thỏa thuận với nhau giải quyết việc bồi thường nhằm tạo thuận lợi khắc phục những thiệt hại đối với người bị thiệt hại một cách nhanh chóng, mặt khác hướng dẫn cũng đưa ra các điều kiện, giới hạn việc thỏa thuận của các bên trong trường hợp các bên có sự thỏa thuận vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, trốn tránh việc bồi thường Tại hướng dẫn trên, để tạo thuận lợi cho việc áp dụng, NQ 03/2006 cũng đưa ra một số thỏa thuận để hướng dẫn cho quy định

“trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” tại Điều 623 BLDS 2005, cụ thể theo hướng dẫn của NQ 03/2006 thì những thỏa thuận sau được xem là những thỏa thuận không trái với pháp luật, không trái với đạo đức xã hội hoặc nhằm trốn tránh việc bồi thường: i) Thoả thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại; ii) Thoả thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước, sau

đó người được giao chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền

đã bồi thường; iii) Ai có điều kiện về kinh tế hơn thì người đó thực hiện việc bồi thường thiệt hại trước Đây là những thỏa thuận cần được khuyến khích, ví dụ: A cho B mượn xe ô tô theo đúng quy định của pháp luật để sử dụng vào mục đích của B (tức quyền chiếm hữu, sử dụng đã được chuyển giao hợp pháp), trong quá trình lưu thông chiếc xe ô tô bị hỏng phanh và đã gây ra tai nạn cho

C Trong trường hợp này thì về nguyên tắc B là người phải bồi thường thiệt hại

đã xảy ra nếu như các bên không có sự thỏa thuận khác (vì quyền chiếm hữu, sử dụng đã chuyển giao hợp pháp), nhưng giả sử trong trường hợp này B là người không có khả năng bồi thường thiệt hại ngay và A là người có đủ khả năng để bồi thường thiệt hại và các bên có thỏa thuận là A sẽ bồi thường toàn bộ thiệt hại và B sẽ hoàn lại số tiền đó cho A sau, thì thỏa thuận này sẽ có giá trị áp dụng Những thỏa thuận như vậy mang lại nhiều lợi ích cho người bị thiệt hại vì thiệt hại được bồi thường kịp thời, hơn nữa do các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau nên việc thực hiện cũng gặp nhiều thuận lợi hay nói cách khác là thỏa thuận như vậy sẽ đảm bảo được tính khả thi trong việc bồi thường thiệt hại đã

Trang 21

xảy ra Thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng là thỏa thuận được NQ 03/2006 nêu ra hướng dẫn cho “trường hợp các bên có thỏa thuận khác” quy định tại khoản 2 Điều 623 BLDS 2005, ví dụ: A thuê xe ô tô của B để đi du lịch, hợp đồng thuê xe có hiệu lực pháp luật, trong quá trình sử dụng chiếc xe ô tô bị nổ lốp và gây thiệt hại cho người đi đường Trong trường hợp này nếu các bên không có thỏa thuận gì khác thì B là người phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xảy ra Nhưng việc chỉ có một mình

B có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đôi khi quyền lợi của người bị thiệt hại sẽ không được đảm bảo một cách tốt nhất, do vậy pháp luật cũng khuyến khích các chủ thể thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Khi các chủ thể có sự thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì quyền lợi của người bị thiệt hại sẽ càng được đảm bảo, bởi lẽ trong trách nhiệm liên đới người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bất kỳ chủ thể nào có trách nhiệm thực hiện toàn bộ trách nhiệm thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường là thỏa thuận mang lại nhiều sự thuận lợi trong việc khắc phục thiệt hại đã xảy ra đối với người bị thiệt hại, thỏa thuận này làm xuất hiện thêm chủ thể có trách nhiệm bồi thường, hơn nữa giữa các chủ thể này lại ràng buộc với nhau bởi trách nhiệm liên đới, do vậy khả năng thiệt hại đã xảy ra được bồi thường một cách kịp thời, nhanh chóng sẽ khả thi hơn rất nhiều đối với phương thức bồi thường thiệt hại riêng rẽ

Tóm lại, BLDS 2005 quy định “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” và được hướng dẫn cụ thể tại điểm b, mục 2, phần III NQ 03/2006 là quy định rất hợp lý Bởi lẽ việc pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng không nằm ngoài mục đích bù đắp, khắc phục những thiệt hại cho người

bị thiệt hại, việc bù đắp này sẽ trở nên có hiệu quả và khả thi hơn nếu các bên tự thỏa thuận được với nhau Vì suy cho cùng pháp luật chỉ là cái khung, quy định chung chung nên tùy từng trường hợp cụ thể mà các bên tự giải quyết được với nhau thì sẽ hợp lý hơn vì “việc dân sự cốt ở đôi bên” chẳng hạn như các chủ thể thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xảy ra, những thỏa thuận như vậy luôn được ưu tiên áp dụng nhằm sớm khắc phục thiệt hại và việc đảm bảo quyền lợi của người bị thiệt hại sẽ tốt hơn

1.3.2 Trường hợp chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng có lỗi để phương tiện giao thông hoặc nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật

Theo quy định tại khoản 4 Điều 623 BLDS 2005 thì: “Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng

có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”, ở đây tác giả tập trung làm rõ hai vấn

đề là: tính “trái pháp luật” và yếu tố “lỗi” trong quy định trên

Trang 22

Thứ nhất, tính “trái pháp luật”, có quan điểm cho rằng: “Chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật là trường hợp chiếm giữ và sử dụng khi không được sự đồng

ý của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không có mục đích chiếm đoạt”15

hay theo một tác giả khác thì: “Hành vi chiếm hữu trái pháp luật là việc chiếm hữu tài sản của người khác không được sự đồng ý của người chủ sở hữu cũng như không có căn cứ do pháp luật quy định, ví dụ: Hành vi trộm cắp, cướp, chiếm đoạt nguồn nguy hiểm cao

độ trái với ý chí của chủ sở hữu (…) ví dụ: Anh A trộm cắp xe ô tô của anh B trong quá trình tham gia giao thông xe bị mất phanh (thắng) đâm vào anh C gây thiệt hại cho C về tài sản và sức khỏe thì anh A phải bồi thường thiệt hại cho anh C vì anh A là người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật xe của anh B”16

Tác giả cũng đồng ý với quan điểm thứ hai, rằng không nên giới hạn chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật không bao hàm mục đích chiếm đoạt, bởi lẽ lý do xuất phát điểm của việc chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là nhằm mục đích chiếm đoạt Tuy nhiên trong quá trình chiếm đoạt, nguồn nguy hiểm cao độ gây

ra thiệt hại thì trong trường này trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải do người

có hành vi chiếm đoạt gánh vác, sẽ là không công bằng và hợp lý nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về người chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ

Thứ hai, yếu tố “lỗi”, đoạn 2 khoản 4 Điều 623 BLDS quy định: “Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”, như vậy yếu tố “có lỗi” sẽ quyết định rằng chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có phải liên đới bồi thường hay không? nếu không có lỗi thì họ không có trách nhiệm phải liên đới bồi thường thiệt hại Lỗi trong trường hợp này BLDS 2005 không định nghĩa nhưng NQ 03/2006 có nêu ra một số trường hợp được xem là cũng có lỗi như: “Không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật” Lỗi ở đây không phải là lỗi trong việc gây ra tai nạn mà lỗi thuộc về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ “Tùy theo mỗi loại nguồn nguy hiểm cao độ mà mức độ, phạm vi, biện pháp trông coi, quản lý,vận chuyển, sử dụng khác nhau

Do vậy để nhận biết thế nào là có lỗi (…) phải căn cứ vào các quy định liên quan đến việc trông coi, bảo quản, vận chuyển, sử dụng một đối tượng nguồn

15

Mai Bộ, Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Tạp chí Tòa án nhân dân số 2/2003, tr.12

16 Nguyễn Xuân Quang (2011), Một số vấn đề pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm

cao độ gây ra, Tạp chí khoa học pháp lý số 3/2011, tr.37

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 24/12/2001 Khác
2. Bộ luật Dân sự 1995 ngày 28/10/1995 3. Bộ luật Dân sự 2005 ngày 14/6/2005 Khác
4. Luật giao thông đường bộ ngày 13/11/2008 Khác
5. Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
6. Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối caoB. Danh mục các tài liệu tham khảo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w