Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng cũng cho thấy quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa đồng bộ, chưa cụ thể, chưa rõ ràng và chưa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH TRÚC
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH TRÚC
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự & Tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Bá Ngừng
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, không sao chép từ bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được thống kê, tổng hợp và phân tích từ kết quả khảo sát thực tiễn xét xử và quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt của Tòa án nhân dân
Tác giả
Nguyễn Thanh Trúc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.3 Đối tượng nghiên cứu 4
3.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 4
6 Cơ cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 6
1.1 Quyết định hình phạt- một hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án 6
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của quyết định hình phạt 6
1.1.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt 11
1.1.3 Căn cứ quyết định hình phạt- yếu tố chi phối khi quyết định hình phạt 20
1.2 Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt- những giai đoạn phạm tội chưa hoàn thành được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam 28
1.2.1 Giai đoạn chuẩn bị phạm tội 30
1.2.2 Giai đoạn phạm tội chưa đạt 31
1.2.3 Phạm vi trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt 40
1.3 Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt- một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt 41
1.3.1 Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt thời kỳ trước khi có Bộ luật hình sự hiện hành 41
1.3.2 Qui định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt 44
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ
PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 54 2.1 Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm
tội và phạm tội chưa đạt 54
2.1.1 Tình hình xét xử người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội
và phạm tội chưa đạt 54
2.1.2 Nhận xét thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt 63
2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt 76
2.2.1 Nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện
nay 76
2.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt 78
KẾT LUẬN 96
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyết định hình phạt là một trong những hoạt động quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự Quyết định hình phạt phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt chính trị, xã hội và pháp luật Vừa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung cho toàn
xã hội; vừa đảm bảo giáo dục, cải tạo riêng đối với người phạm tội
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, bên cạnh các quy định chung về quyết định hình phạt, Tòa án còn phải tuân thủ những quy định đặc thù áp dụng trong một số trường hợp phạm tội và đối với một số đối tượng nhất định
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là một trong những trường hợp đặc thù của quyết định hình phạt nói trên Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, ngoài việc phải tuân thủ những quy định chung về quyết định hình phạt, Tòa án còn phải dựa vào quy định riêng áp dụng cho trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
Việc pháp luật có quy định riêng về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt xuất phát từ những đặc điểm riêng của giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt Một mặt, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước mặc dù là chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt cũng phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chịu hình phạt Mặt khác, thể hiện tính nhân đạo, công bằng của Nhà nước trong xử lý tội phạm là người phạm tội ở giai đoạn khác nhau thì hình phạt áp dụng phải khác nhau, tương ứng với giai đoạn phạm tội đó
Thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua cho thấy quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đã phát huy tác dụng, đạt được hiệu quả, mục đích của hình phạt, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của Bộ luật hình sự Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng cũng cho thấy quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa đồng bộ, chưa cụ thể, chưa rõ ràng và chưa đặt trong mối quan hệ với các quy định khác của Bộ luật hình sự; công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức nên còn có những nhận thức không thống nhất
Trang 7Những hạn chế trên sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng vào thực tiễn, dễ dẫn đến quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; không đảm bảo chính xác, công bằng và có nguy cơ làm cho hiệu quả, mục đích của hình phạt không đạt được
Về mặt lý luận, mặc dù là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự, nhưng hiện nay vẫn còn ít và thiếu những công trình chuyên khảo, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
Trước tình hình đó, thiết nghĩ việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt để tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự là cần thiết, không những có ý nghĩa quan trọng về mặt
lý luận, mà còn có ý nghĩa cả về thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Tất cả những điều trên là lý do để tác giả chọn vấn đề “Quyết định hình
phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là một trong những quy định quan trọng của Bộ luật hình sự nên đã có những nhà khoa học, người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu ở những phạm vi, khía cạnh, mức độ khác nhau
Đã có những bài viết liên quan đến đề tài này đăng trên các tạp chí chuyên
ngành luật Điển hình một số bài viết như: “Quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt” của Dương Tuyết Miên (Tạp chí Luật học,
số 04 năm 2001); “Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên ở giai đoạn
chuẩn bị phạm tội” của Đinh Xuân Hiền (Tạp chí Kiểm sát, số 07 năm 2001); “Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt” của Lê
Thị Sơn (Tạp chí Luật học, số 04 năm 2002); “Về nguyên tắc quyết định hình phạt
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt” của Nguyễn Minh Hải
(Tạp chí Tòa án nhân dân, số 16 năm 2009); “Quyết định hình phạt trong trường hợp
người chưa thành niên chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt” của Nguyễn Khắc
Quang (Tạp chí Kiểm sát, số Tân Xuân năm 2012)
Trang 8Nội dung của các bài viết trên chủ yếu chỉ dừng lại ở việc nêu lên một hoặc một số khía cạnh cụ thể về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội
và phạm tội chưa đạt mà chưa nghiên cứu vấn đề một cách tổng thể, có hệ thống
Với cấp độ đề tài luận văn Thạc sỹ và luận án Tiến sĩ, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Có một số công trình nghiên cứu như:
“Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam”- Luận văn thạc sỹ Luật học của Trần Văn Sơn (1996); “Quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc biệt và
thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh”- Luận văn thạc sỹ Luật học của Lê
Duy Ninh (2000); “Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam”- Luận án tiến
sĩ Luật học của Dương Tuyết Miên (2003); “Quyết định hình phạt trong những
trường hợp đặc biệt”- Luận văn thạc sỹ Luật học của Hoàng Chí Kiên (2004)
Các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố trên, mặc dù có đề cập đến quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nhưng chỉ được nghiên cứu cùng với các trường hợp quyết định hình phạt khác mà chưa có
sự đầu tư nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt Điều này cho thấy, đây là luận văn thạc
sỹ luật học đầu tiên trong khoa học luật hình sự nghiên cứu một cách tương đối có
hệ thống, chuyên sâu vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam cả về phương diện lý luận, quy
định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận, quy định của pháp luật và những thiếu sót, bất cập trong thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lý luận, pháp luật thực định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam
- Đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, từ đó phân tích những thiếu sót, bất cập trong nhận thức và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
Trang 9- Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, sẽ đề xuất một số giải pháp
cụ thể để nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam
3.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung, luận văn nghiên cứu quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt dưới góc độ của luật hình sự
- Phạm vi địa bàn khảo sát, chủ yếu tiến hành khảo sát, thu thập số liệu thực
tế tại 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
- Phạm vi về thời gian, số liệu thu thập sử dụng trong đề tài giới hạn trong
02 năm (năm 2010 và năm 2011) để đảm bảo mang tính thời sự và tính thực tiễn cho kết quả nghiên cứu của luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước về hình sự, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: thống kê, tổng hợp, phân tích,
so sánh để nghiên cứu đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
- Về mặt lý luận:
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đề cập riêng đến việc phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản của quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam
- Về mặt thực tiễn:
Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn nội dung quyết định hình phạt đối với người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, mục đích của hình phạt
- Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy cũng như đối với cán
bộ làm công tác áp dụng pháp luật hình sự
Trang 106 Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, phần nội dung được xây dựng thành 02 chương
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
Chương 2 Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2012
Tác giả
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt nên vẫn mang những đặc điểm chung của quyết định hình phạt Do vậy, khi nghiên cứu về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, theo chúng tôi cần gắn liền với việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt và
sơ lược về giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp chúng ta có sự nhận thức thống nhất về nội dung và ý nghĩa của
quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
1.1 Quyết định hình phạt- một hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án
1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của quyết định hình phạt
Trong khoa học Luật hình sự, áp dụng quy phạm pháp luật hình sự là một quá trình phức tạp, được tiến hành qua những giai đoạn nhất định, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: giải thích đạo luật hình sự; xác định hiệu lực của đạo luật hình sự; định tội danh; quyết định hình phạt; miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt… Áp dụng pháp luật hình sự là một trong những phương thức đưa quy phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống qua đó thực hiện nhiệm vụ của luật hình sự
Quyết định hình phạt là một trong những khâu của quá trình áp dụng pháp luật hình sự Sau khi định tội danh và nếu không có cơ sở để miễn trách nhiệm hình
sự hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội thì phải quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhằm trừng trị và giáo dục, cải tạo họ Hình phạt được xem như là hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu khi họ có hành vi vi phạm vào điều cấm của Bộ luật hình sự Vì vậy, quyết định hình phạt có liên quan rất chặt chẽ đến việc định tội- định tội danh đúng là cơ sở quan trọng, tạo tiền đề cho quyết định hình phạt đúng
Về khái niệm quyết định hình phạt, hiện nay ở Việt Nam chưa có văn bản pháp lý hình sự nào xác định khái niệm quyết định hình phạt Trong khoa học Luật hình sự, khái niệm quyết định hình phạt được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Trang 12- Theo nghĩa hẹp, quyết định hình phạt được hiểu là quyết định hình phạt chính và quyết định hình phạt bổ sung;
- Theo nghĩa rộng, quyết định hình phạt bao gồm quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung, quyết định biện pháp chấp hành hình phạt và quyết định các biện pháp tư pháp;
- Hiểu theo nghĩa rộng hơn, quyết định hình phạt là quyết định biện pháp xử
lý hình sự đối với người phạm tội Đây là hoạt động tiếp theo sau khi đã định tội, bao gồm việc quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và quyết định hình phạt theo các nghĩa trên
Như vậy, quyết định hình phạt dù hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng nhưng đều có điểm chung là bao gồm nội dung quyết định hình phạt chính và hình phạt bổ sung Việc hiểu theo nghĩa nào là tùy thuộc vào phạm vi nghiên cứu để có những lập luận phù hợp riêng Tuy nhiên, quan điểm được thừa nhận phổ biến hiện nay và cũng được ghi nhận trong các giáo trình dùng trong giảng dạy chuyên ngành luật thì khái niệm quyết định hình phạt có thể được hiểu “là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội”1
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, theo chúng tôi khái niệm quyết định hình phạt hiểu theo nghĩa trên là hợp lý nhất Từ đó, có thể rút ra những đặc điểm của hoạt động quyết định hình phạt như sau:
Đặc điểm thứ nhất, quyết định hình phạt là một hoạt động áp dụng pháp
luật hình sự của Tòa án, chỉ do Tòa án tiến hành
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) của nước
ta quy định Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định Tòa án xét xử những vụ án hình sự và Điều 26 Bộ luật hình sự quy định hình phạt do Tòa án quyết định
Ngoài quy định trên, Hiến pháp và pháp luật không còn quy định nào cho phép cơ quan nhà nước khác, ngoài cơ quan Tòa án, được quyền xét xử vụ án hình
sự và quyết định hình phạt đối với người phạm tội Như vậy, Hiến pháp và pháp luật đã khẳng định, Tòa án là cơ quan duy nhất được Nhà nước trao thẩm quyền áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Điều này xuất phát từ chính chức năng của
1 Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh (2009), Tập bài giảng Luật hình sự Việt Nam (phần chung),
tr.247
Trang 13Tòa án là “cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” - là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phán xét một hành vi có phải là tội phạm hay không
và áp dụng chế tài đối với hành vi phạm tội đó
Sau khi định tội danh, Tòa án căn cứ một cách toàn diện các tình tiết thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân người phạm tội… để quyết định áp dụng hình phạt và thể hiện quyết định đó dưới hình thức một bản án kết tội đối với người phạm tội
Đặc điểm thứ hai, quy định của Bộ luật hình sự là căn cứ duy nhất để Tòa
án quyết định hình phạt
Nếu như hoạt động định tội danh, ngoài việc căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự thì trong nhiều trường hợp, Tòa án còn căn cứ vào quy định của ngành luật khác như: luật dân sự, luật lao động, luật hôn nhân gia đình, luật giao thông đường bộ… Nhưng đối với việc quyết định hình phạt, thì Tòa án không được dựa vào quy định của các ngành luật khác mà chỉ căn cứ duy nhất vào Bộ luật hình sự
Đó là các quy định về nguyên tắc quyết định hình phạt, điều kiện và phạm vi áp dụng các loại hình phạt, quy tắc quyết định hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt, khung hình phạt cần áp dụng đối với tội phạm cụ thể
Việc chỉ căn cứ và tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt là một yêu cầu bắt buộc đối với Tòa án Điều này không những nhằm đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, mà còn tạo điều kiện cho Tòa án quyết định hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, đảm bảo hình phạt
đã tuyên đạt được mục đích của hình phạt
Đặc điểm thứ ba, nội dung của quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa
chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong giới hạn của loại hình phạt đã chọn để áp dụng đối với người phạm tội
Tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, các điều luật quy định về tội phạm thường quy định chế tài với nhiều loại hình phạt chính khác nhau và có thể có hình phạt bổ sung, mức giới hạn của từng loại hình phạt cũng được quy định cụ thể trong từng điều khoản của phần các tội phạm Do vậy, khi quyết định hình phạt, Tòa
án phải lựa chọn loại hình phạt chính, loại hình phạt bổ sung (nếu điều luật có quy định) và xác định mức hình phạt cụ thể trong giới hạn mà khung hình phạt quy định
để áp dụng đối với người phạm tội Trường hợp khung hình phạt chỉ quy định chế
Trang 14tài là một loại hình phạt cụ thể thì quyết định hình phạt chỉ là việc quyết định mức hình phạt trong giới hạn quy định của khung hình phạt đó
Tuy nhiên, trong hệ thống hình phạt của nước ta hiện nay, không phải loại hình phạt nào Tòa án cũng phải xác định mức hình phạt cụ thể Có một số loại hình phạt mà quyết định hình phạt thực chất chỉ là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt để
áp dụng đối với người phạm tội mà không có việc xác định mức hình phạt cụ thể
Đó là các hình phạt: cảnh cáo, trục xuất, tù chung thân, tử hình do các loại hình phạt này không có mức giới hạn thấp nhất và cao nhất
Như vậy, nội dung của quyết định hình phạt có thể là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể; cũng có thể là việc Tòa án xác định mức hình phạt cụ thể mà không cần phải lựa chọn loại hình phạt; cũng có thể là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể mà không cần phải xác định mức hình phạt Nội dung của quyết định hình phạt nêu trên bao gồm quyết định hình phạt chính và quyết định hình phạt bổ sung kèm theo hình phạt chính nhằm hổ trợ cho hình phạt chính (nếu điều luật có quy định)
Đặc điểm thứ tư, quyết định hình phạt chỉ được áp dụng đối với cá nhân
người có hành vi phạm tội
Hình phạt với ý nghĩa là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm thực hiện quan hệ pháp luật hình sự nảy sinh giữa người có hành vi phạm tội với Nhà nước Do đó, hình phạt chỉ có thể được áp dụng đối với chính người có hành vi phạm tội và bị kết án
Mặt khác, xuất phát từ mục đích của hình phạt là trừng trị và giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới nên hình phạt trước hết phải hướng đến trực tiếp người phạm tội Việc cải tạo, giáo dục người phạm tội chỉ thực sự có hiệu quả khi buộc người phạm tội phải gánh chịu một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, tương xứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện
Điều này là sự biểu hiện cụ thể của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân trong luật hình sự- tức người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm hình sự trong phạm vi hành vi
do chính họ thực hiện và không thể áp dụng hình phạt đối với người không thực hiện tội phạm
Từ đặc điểm trên, đòi hỏi Tòa án phải xác định đúng người phạm tội để quyết định áp dụng hình phạt nhằm đảm bảo quyền lợi pháp lý của công dân, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Trang 15Như vậy, quyết định hình phạt là một hoạt động thực tiễn của Tòa án, là một nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt
cụ thể trong phạm vi quy định của khung hình phạt để áp dụng đối với cá nhân người phạm tội
Quyết định hình phạt có vị trí, vai trò vô cùng to lớn, là một trong những bước cơ bản của quá trình áp dụng pháp luật Bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó, từ khởi tố, điều tra, truy tố, tranh tụng tại phiên toà, kể cả việc định tội danh, sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu Toà án không làm tốt việc quyết định hình phạt Chỉ trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt cho từng trường hợp phạm tội cụ thể thì Toà án mới có thể tuyên một hình phạt đúng đắn và có hiệu quả Với vị trí, vai trò như trên, quyết định hình phạt đúng có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện ở một số mặt sau:
- Quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả và đạt được mục đích hình phạt
Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt là trừng trị và giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa
họ phạm tội mới và phòng ngừa chung trong xã hội Một hình phạt công bằng, hợp
lý là điều kiện cần thiết để người phạm tội chấp nhận hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với họ Chính việc làm cho người bị kết án thấy được những hành vi sai trái của mình để thừa nhận sự phán xét của Tòa án sẽ giúp cho người bị kết án tiếp nhận sự cải tạo, giáo dục của Nhà nước, an tâm học tập, lao động để trở thành một người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và sớm trở về hòa nhập với cuộc sống cộng đồng Một hình phạt đủ nghiêm khắc và công bằng đối với người phạm tội còn
có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội, nhất là những người
có ý thức pháp luật không rõ ràng, dễ bị tác động của các yếu tố bên ngoài xã hội
Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi
nó có thể làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và tạo tâm lý xem thường pháp luật của chính người bị kết án và việc phòng ngừa tội phạm trong xã hội sẽ kém hiệu quả Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến những phản ứng tiêu cực, thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật - đây chính là những rào cản đối với hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, làm cho mục đích của hình phạt không đạt được nên hiệu quả của hình phạt không cao
Trang 16- Quyết định hình phạt đúng góp phần củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, duy trì trật tự xã hội, kỷ cương pháp luật
Để quyết định một hình phạt áp dụng cho người phạm tội được thỏa đáng, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đòi hỏi Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt Mặt khác, hình phạt đã tuyên thỏa đáng sẽ làm cho người bị kết án nhận thấy được hành vi sai trái của mình để tự giác học tập nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, không tiếp tục phạm tội mới; đồng thời hình phạt thỏa đáng cũng sẽ tác động đến tâm lý của các thành viên trong xã hội, có tác dụng giáo dục, răn đe người khác ý thức tuân thủ pháp luật mà không thực hiện tội phạm hoặc từ bỏ ý định phạm tội Chính việc tuân thủ pháp luật của Tòa án khi quyết định hình phạt cũng như từ phía người bị kết án và những người khác sẽ góp phần củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa và duy trì trật tự xã hội, làm cho hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được nâng cao
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt nên cũng mang nội dung, đặc điểm, vị trí, vai trò và ý nghĩa của quyết định hình phạt như đã trình bày trên Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Quyết định một hình phạt đúng đắn, công bằng đối với người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt không chỉ là cơ sở đảm bảo đạt được hiệu quả, mục đích của hình phạt, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn là sự thể hiện tính nhân đạo, công bằng xã hội trong chính sách hình sự của Nhà nước ta, góp phần quan trọng vào hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay
2 Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, Tp.Hồ Chí Minh,
tr.630
Trang 17Trong luật hình sự Việt Nam, các nguyên tắc quyết định hình phạt không được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự nhưng nó được thể hiện thông qua nội dung của các điều luật (như Điều 2, Điều 3, Điều 45, Điều 46, Điều 47, Điều 48…
Bộ luật hình sự) cũng như các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự Việc tuân thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt của Tòa án là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo cho việc quyết định hình phạt được đúng pháp luật, công bằng và hợp lý-
là điều kiện đầu tiên để đạt được mục đích của hình phạt
Về các nguyên tắc quyết định hình phạt cụ thể, trong khoa học luật hình sự hiện nay cũng còn quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng, nguyên tắc quyết định hình phạt bao gồm nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, ngoài các nguyên tắc trên, nguyên tắc quyết định hình phạt còn có nguyên tắc công bằng
Chúng tôi cho rằng, để xác định các nguyên tắc quyết định hình phạt, cần phải dựa vào những tiêu chí nhất định để tránh tình trạng đưa ra thiếu hoặc thừa các nguyên tắc quyết định hình phạt Những tiêu chí đó là: tư tưởng chỉ đạo đó phải được thể hiện trong luật hình sự, nhất là các quy định về quyết định hình phạt; tư tưởng chỉ đạo đó phải trực tiếp định hướng cho hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án và tư tưởng chỉ đạo đó phải phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của xã hội
Trên cơ sở những tiêu chí đã xác định, theo chúng tôi, hoạt động quyết định hình phạt của Tòa phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc sau: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng
* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tắc Hiến định, bao trùm nhất Đây là nguyên tắc pháp lý cơ bản, chung nhất cho mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức và công dân Điều 12 Hiến pháp 1992 (đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Nói đến pháp chế tức là
nói đến sự tôn trọng và sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác từ phía cơ quan Nhà nước, tổ chức và mỗi công dân
Trong lĩnh vực hình sự, tư tưởng của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa thể hiện khi quyết định hình phạt Tòa án phải tuân thủ đầy đủ và chính xác các quy định của luật hình sự khi xác định loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với
Trang 18người bị kết tội Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng vì chỉ khi tuân thủ triệt
để nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa thì mới đảm bảo tuân thủ được các nguyên tắc khác của quyết định hình phạt
Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ
luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Điều này cũng có nghĩa
là cơ sở của việc áp dụng hình phạt là việc thực hiện tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự Vì vậy, để quyết định hình phạt đúng đắn, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải xác định chính xác hành vi phạm tội đã thực hiện
vi phạm vào điều khoản cụ thể nào ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, phải xác định chính xác tội phạm thực hiện thuộc giai đoạn phạm tội nào
Nội dung của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở việc
“…hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” (Điều
26 Bộ luật hình sự) Hình phạt chỉ được quy định duy nhất trong Bộ luật hình sự Quy định về tội phạm của Việt Nam chỉ được ghi nhận duy nhất trong Bộ luật hình
sự nên hình phạt cũng chỉ được quy định trong Bộ luật hình sự và chỉ có hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự mới có thể áp dụng đối với người phạm tội
Hình phạt được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự, tại Chương
V, về khái niệm hình phạt, hệ thống hình phạt, đặc điểm từng loại hình phạt cũng như việc quyết định hình phạt… Đồng thời, trong mỗi điều khoản quy định ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự đều có quy định chế tài với nhiều loại hình phạt khác nhau áp dụng cho mỗi tội phạm Do vậy, theo yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, khi lựa chọn hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội đòi hỏi Tòa án phải lựa chọn một trong số những hình phạt với mức hình phạt cụ thể trong phạm vi giới hạn khung hình phạt mà điều luật quy định, Tòa án không được quyền quyết định một loại hình phạt khác với mức hình phạt ngoài phạm vi giới hạn của khung hình phạt quy định cho tội phạm đó, trừ trường hợp khi người phạm tội thỏa mãn các điều kiện để được quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật (Điều 47 Bộ luật hình sự)
Và hình phạt phải do Tòa án quyết định Đây là thẩm quyền đặc biệt của Tòa án, chỉ duy nhất Tòa án mới có quyền quyết định hình phạt đối với người phạm tội mà không có bất kỳ cơ quan Nhà nước nào khác có được quyền này Điều này xuất phát từ chức năng của Tòa án là “cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 127 Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) -
Trang 19là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phán xét một hành vi có phải là tội phạm hay không và áp dụng chế tài đối với hành vi phạm tội đó
Một biểu hiện khác của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là việc quyết định hình phạt của Tòa án phải đảm bảo đạt được mục đích của hình phạt
Điều 27 Bộ luật hình sự quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị
người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Chỉ khi nhận thức và tuân thủ đầy đủ quy
định của Bộ luật hình sự về mục đích hình phạt thì Tòa án mới có thể quyết định hình phạt được chính xác
Nội dung của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở việc, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân thủ đầy đủ các quy định về căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45 Bộ luật hình sự) Đây là những cơ sở pháp lý để Tòa án dựa vào đó quyết định hình phạt cho người phạm tội được chính xác, hợp lý, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội
Đối với quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, ngoài những biểu hiện trên, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Tòa án còn phải căn cứ vào quy định mang tính đặc thù áp dụng riêng cho trường hợp này, đó là Điều 52 Bộ luật hình sự quy định về căn cứ quyết định hình phạt, giới hạn hình phạt giảm nhẹ áp dụng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt Việc tuân thủ quy định trên từ phía Tòa án là sự tôn trọng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, là một đảm bảo cho Tòa án quyết định một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt làm cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt, nâng cao hiệu quả hình phạt
* Nguyên tắc nhân đạo
Ở nước ta, tư tưởng nhân đạo luôn thể hiện rõ nét trong các đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Nhân đạo, đó là thể hiện của sự yêu thương, quý trọng và bảo vệ con người
Trong luật hình sự, tư tưởng nhân đạo không chỉ được thể hiện là một nguyên tắc chung của luật hình sự mà còn được thể hiện là một nguyên tắc của quyết định hình phạt Đây là một trong những vũ khí đấu tranh phòng chống tội
Trang 20phạm có hiệu quả vì làm cho người phạm tội thấy được sự tin tưởng của Nhà nước vào khả năng cải tạo giáo dục của họ, từ đó họ sẽ quyết tâm học tập, cải tạo để trở thành người lương thiện, hòa nhập với cộng đồng
Nói đến nhân đạo trong quyết định hình phạt là nói đến nhân đạo đối với người phạm tội mà thực chất là nói đến sự khoan hồng của luật hình sự đối với người phạm tội có biểu hiện chủ yếu là giảm bớt hình phạt đối với họ Việc giảm bớt hình phạt đối với người phạm tội là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho họ nhanh chóng cải tạo để trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và ngăn ngừa họ phạm tội mới Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, nhân đạo không phải là sự ban phát, không phải là việc giảm bớt hình phạt đối với người phạm tội không có giới hạn, bởi dù muốn hay không, ngoài yêu cầu nhân đạo, luật hình sự còn có các yêu cầu khác mà trước hết là công lý, công bằng xã hội
Với ý nghĩa đó, nội dung của nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt thể hiện trước hết ở việc hình phạt do Tòa án áp dụng phải đạt được mục đích của hình phạt Tức là phải có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích chung (của xã hội và Nhà nước) với lợi ích của người phạm tội Nếu quá nghiêng về mục đích trừng trị (lợi ích chung) thì sẽ làm cho người phạm tội cảm thấy họ bị xử lý quá nghiêm khắc, không công bằng Từ đó, họ có thái độ bất mãn, không chịu lao động, học tập
để trở thành người có ích cho xã hội Và như vậy, mục đích giáo dục, cải tạo cũng không đạt được Tuy nhiên, nếu quá đề cao mục đích giáo dục, cải tạo mà tuyên một hình phạt quá nhẹ đối với người phạm tội thì dễ dẫn đến thái độ coi thường công lý, coi thường pháp luật, làm phá vỡ trật tự, kỷ cương của pháp luật Vì vậy, yêu cầu của nguyên tắc nhân đạo là chúng ta không nên đề quá cao lợi ích của Nhà nước, của xã hội mà xem nhẹ lợi ích của người phạm tội hoặc ngược lại
Hình phạt bao giờ cũng áp dụng đối với một con người phạm tội cụ thể với những đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, xã hội, khả năng nhận thức pháp luật khác nhau Vì vậy, theo yêu cầu của nguyên tắc nhân đạo, hình phạt áp dụng phải tương xứng với đặc điểm nhân thân, tâm sinh lý của từng cá nhân người phạm tội Việc đánh giá đúng đặc điểm nhân thân, tâm sinh lý người phạm tội là một công việc rất quan trọng của Tòa án vì nó không chỉ giúp đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn thể hiện khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội Chính vì vậy, các đặc điểm thuộc về nhân thân, đặc điểm tâm sinh lý người phạm tội- nhất là các đặc điểm tốt, có lợi phải được Tòa án xem xét, đánh giá để giảm nhẹ một phần hình phạt cho người phạm tội như: phạm
Trang 21tội lần đầu; là người có nhiều thành tích xuất sắc trong học tập, lao động, chiến đấu; người già; khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội do kiện hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra…
Đối với quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, nguyên tắc nhân đạo thể hiện qua quy định về căn cứ quyết định hình phạt
và giới hạn mức hình phạt (Điều 52 Bộ luật hình sự) Khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, nguyên tắc nhân đạo yêu cầu ngoài việc tuân thủ các quy định chung, Tòa án phải dựa vào các căn cứ quyết định hình phạt mang tính đặc trưng như mức độ thực hiện ý định phạm tội, nguyên nhân khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng cũng như mức giới hạn giảm nhẹ hình phạt áp dụng riêng cho trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt Người chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt mặc dù phải chịu hình phạt trong cùng một điều khoản của tội phạm cụ thể như tội phạm hoàn thành nhưng không cùng phạm vi khung chế tài Trong những điều kiện giống nhau thì hình phạt áp dụng đối với người thực hiện tội phạm chưa hoàn thành phải thấp hơn so với tội phạm hoàn thành nhằm tạo điều kiện cho họ có cơ hội hoàn lương, trở về hòa nhập với cộng đồng- đó là bản chất nhân đạo của Nhà nước ta
* Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt là hình phạt áp dụng đối với người phạm tội phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được thể hiện trong từng trường hợp phạm tội cụ thể và mỗi cá nhân người phạm tội
Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt thể hiện trong nhiều điều luật của Bộ luật hình sự liên quan đến quyết định hình phạt nhưng thể hiện rõ nét nhất ở quy định về căn cứ quyết định hình phạt Điều 45
Bộ luật hình sự quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định
của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”
Bộ luật hình sự quy định nhiều tội phạm khác nhau và mỗi tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện, chính xác, khách quan các tình tiết của vụ án để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
Trang 22tội Quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại càng quan trọng thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội càng lớn nên hình phạt phải nghiêm khắc hơn; trong vụ án có đồng phạm thì người tổ chức, người thực hành phải bị xử lý nghiêm khắc hơn những người đồng phạm khác; người có hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm hoàn thành do vậy hình phạt cũng phải thấp hơn tội phạm hoàn thành Việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn có thể dựa vào thủ đoạn phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội, mức độ lỗi, động cơ, mục đích phạm tội…
Để đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, Tòa án còn phải cân nhắc các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội như trình độ học vấn, khả năng nhận thức, hoàn cảnh sống… “Việc làm sáng tỏ và cân nhắc các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội giúp ta hiểu được quá khứ, hiện tại và khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội, xác định được các nguyên nhân điều kiện của việc thực hiện tội phạm, xác định được mức độ lỗi của bị cáo Tất cả những tình tiết
đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc cá thể hóa hình phạt”3
Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt còn thể hiện ở chổ khi quyết định hình phạt Tòa án phải cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự có trong vụ án Các tình tiết này được quy định tại Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, từ đó làm cơ sở cho Tòa án quyết định hình phạt được đúng đắn
Đối với quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, ngoài việc căn cứ vào các quy định chung, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt còn yêu cầu Tòa án phải cân nhắc đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt mang tính đặc thù của giai đoạn phạm tội này gồm các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng (khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự)
Như vậy, chỉ khi đánh giá một cách toàn diện, chính xác, khách quan các tình tiết của vụ án như giai đoạn thực hiện tội phạm, đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thì Tòa án mới có
3 Võ Khánh Vinh (1990), “Nguyên tắc cá thể hóa việc quyết định hình phạt”, Tòa án nhân dân, (08),
tr.14
Trang 23thể quyết định một hình phạt chính xác, khách quan đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt Chính điều này đã lý giải tại sao các chế tài quy định ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự đa phần là chế tài lựa chọn Sự đa dạng về loại hình phạt với khung hình phạt rộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án tùy từng trường hợp cụ thể để lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
* Nguyên tắc công bằng
Trong bất kỳ xã hội nào, để duy trì và phát triển người ta đều phải quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội, tức là phải đảm bảo cho con người có quyền bình đẳng trước xã hội, trước Nhà nước và pháp luật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Mỗi cá nhân đòi hỏi được đối xử ngang nhau trong cùng một điều kiện
Trong quyết định hình phạt, nguyên tắc công bằng ở một mức độ nhất định
đã thể hiện trong ba nguyên tắc trên nhưng cũng có tính độc lập tương đối Việc thừa nhận nguyên tắc công bằng là một nguyên tắc độc lập nhằm nhấn mạnh vai trò quan trọng của nguyên tắc này trong quyết định hình phạt
Nội dung của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt được hiểu là hình phạt áp dụng cho người phạm tội phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, không phân biệt giới tính, dân tộc, địa vị kinh tế, thành phần xuất thân… Vì Điều 3 Bộ luật hình sự đã quy định:
“…Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội…”
Công bằng không chỉ đặt ra đối với cá nhân người có hành vi phạm tội mà còn đặt trong sự so sánh với những tội phạm khác và với những người phạm tội khác Trên thực tế, hoạt động phạm tội diễn ra rất đa dạng, mỗi trường hợp phạm tội
và mỗi người phạm tội có một đặc điểm riêng Chính vì vậy, nguyên tắc công bằng yêu cầu không thể có mức xử lý ngang nhau đối với các trường hợp phạm tội cụ thể khác nhau
Để đảm bảo sự công bằng, Bộ luật hình sự có nhiều quy định mà Tòa án phải tuân thủ khi quyết định hình phạt như quy định về mục đích hình phạt (Điều 27), hệ thống hình phạt (Điều 28), nội dung và điều kiện áp dụng hình phạt (từ Điều
29 đến Điều 40), căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45), quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt, quy định nhiều khung hình phạt khác nhau với nhiều loại chế tài trong một điều luật (phần các tội phạm)…
Trang 24Nguyên tắc công bằng đòi hỏi việc áp dụng hình phạt phải phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể và đối với từng người phạm tội Phải xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả mà tội phạm đã gây ra hoặc đe dọa gây ra, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, xem xét nhân thân, hoàn cảnh … của người phạm tội nhằm đạt được sự phân hóa trách nhiệm hình sự ở mức tối đa
Việc đánh giá các tình tiết của vụ án phải đặt trong một thể thống nhất, biện chứng mới đảm bảo được tính công bằng Không thể có việc đánh giá khác nhau đối với những vụ phạm tội có tình tiết tương đương nhau; không thể đề cao tình tiết này
mà xem nhẹ tình tiết kia và cũng không thể bỏ sót bất cứ tình tiết nào trong vụ án có
ý nghĩa đến quyết định hình phạt Chỉ có như vậy thì việc quyết định hình phạt mới thỏa đáng, công bằng và mục đích của hình phạt mới đạt được
Đối với quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự là sự thể hiện rõ nét nhất của nguyên tắc công bằng Người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt tuy phải chịu hình phạt về cùng một điều khoản của tội phạm cụ thể như tội phạm hoàn thành nhưng đã có sự cân nhắc các tình tiết mang tính đặc thù như tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; mức độ thực hiện
ý định phạm tội… Và giới hạn hình phạt áp dụng đối với người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng thấp hơn so với tội phạm hoàn thành (trong điều kiện có các tình tiết khác tương đương), đặc biệt là các hình phạt nghiêm khắc nhất như hình phạt tù chung thân, tử hình không áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội và chỉ có thể áp dụng cho người phạm tội chưa đạt trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
Tóm lại, các nguyên tắc quyết định hình phạt là các nguyên tắc đặc thù, định hướng cho hoạt động của Tòa án trong việc quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nói riêng nhằm đảm bảo hình phạt áp dụng đối với người phạm tội được đúng đắn, hợp
lý, qua đó đạt được mục đích của hình phạt Nội dung của các nguyên tắc quyết định hình phạt vừa mang tính độc lập tương đối, vừa có mối liên hệ chặt chẽ, đan xen với nhau Cùng với các nguyên tắc của luật hình sự, các nguyên tắc quyết định hình phạt có ý nghĩa lớn trong việc quyết định hình phạt Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn và tuân thủ đầy đủ nội dung các nguyên tắc quyết định hình phạt là yêu cầu bắt buộc đối với Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt, góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trang 251.1.3 Căn cứ quyết định hình phạt- yếu tố chi phối khi quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình xét xử
vụ án hình sự của Tòa án Đây là một hoạt động thực tiễn của Tòa án nên chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội; yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong từng giai đoạn phát triển của đất nước… Xuất phát từ thực tiễn trên và để đảm bảo cho Tòa án quyết định một hình phạt cu thể được chính xác, công bằng và hợp lý, Bộ luật hình sự đã quy định căn cứ quyết định hình phạt và bắt buộc Tòa án phải tuân theo Khi quyết định hình phạt, nếu không tuân thủ các căn cứ quyết định hình phạt thì không những vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn làm cho hình phạt đã tuyên có khả năng không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc cải tạo giáo dục khó đạt được và như vậy, sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm Chính việc tuân thủ chặt chẽ quy định về căn cứ quyết định hình phạt sẽ tạo khả năng cho Tòa án quyết định hình phạt được chính xác, hợp lý, công bằng, là cơ sở đầu tiên đảm bảo cho việc đạt được mục đích của hình phạt
Điều 45 Bộ luật hình sự quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải
căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”
Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ quyết định hình phạt bao gồm: các quy định của Bộ luật hình sự; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo chúng tôi, căn cứ “các quy định của Bộ luật hình sự” thực chất là căn cứ mang tính hình thức, việc căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự nhằm tránh sự tùy tiện sự của Tòa án trong việc quyết định hình phạt Và suy cho cùng thì việc vận dụng căn cứ “các quy định của Bộ luật hình sự” chính là việc vận dụng các căn cứ quyết định hình phạt còn lại Bởi lẽ, dù có cố gắng vận dụng các căn cứ quyết định hình phạt còn lại đến mức độ nào, nhưng nếu không vận dụng căn cứ “các quy định của Bộ luật hình sự” thì hình phạt đã tuyên khó có thể đạt được mục đích của hình phạt Chỉ trên cơ sở vận dụng đúng căn cứ
“các quy định của Bộ luật hình sự” thì Tòa án mới có khả năng vận dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt còn lại Do vậy, chúng tôi không đi sâu phân tích căn
Trang 26cứ “các quy định của Bộ luật hình sự” mà chỉ phân tích các căn cứ mang tính nội dung, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quyết định hình phạt gồm tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Tính nguy hiểm cho xã hội là một thuộc tính của tội phạm thể hiện ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra nguy cơ gây thiệt cho các quan hệ xã hội là đối tượng bảo
vệ của luật hình sự Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được đánh giá trên hai khía cạnh là “tính chất” và “mức độ” nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Tính chất nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về chất của tội phạm, là dấu hiệu đặc trưng của tất cả các tội phạm, có ý nghĩa cho phép phân biệt các tội phạm thuộc nhóm tội khác nhau được quy định trong Bộ luật hình sự Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu thuộc yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có ý nghĩa quan trọng nhất thuộc về tính chất, ý nghĩa, tầm quan trọng và giá trị của những quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại (dấu hiệu thuộc yếu tố khách thể của tội phạm)
Những tội phạm giống nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội nhưng có thể khác nhau về mức độ nguy hiểm cho xã hội Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là đặc tính về lượng của từng tội phạm cụ thể, có ý nghĩa cho phép phân biệt mức độ nguy hiểm cho xã hội giữa các tội phạm trong cùng một nhóm tội hoặc đối với các trường hợp phạm tội khác nhau trong cùng một tội phạm cụ thể
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là hai mặt thống nhất của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, chúng tồn tại không tách rời nhau và bổ sung cho nhau Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội với tư cách là thước đo của trách nhiệm hình sự nên được nhà làm luật cân nhắc và thể hiện khi quy định tội phạm, quy định chế tài và khung chế tài đối với tội phạm cụ thể Do vậy, để áp dụng loại và mức hình phạt tương xứng với hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, tất yếu Tòa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội “Hình phạt được tuyên phải là kết quả của việc cân nhắc cả tính chất nguy hiểm cho xã hội và cả mức độ nguy hiểm cho xã hội”4
4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr.74
Trang 27Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do nhiều tình tiết quyết định, trong đó có các tình tiết thuộc về cấu thành tội phạm, các tình tiết thuộc về đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Để đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Tòa án không thể dựa vào ý chí chủ quan mà phải xuất phát từ tổng thể các tình tiết khách quan mà tội phạm cụ thể đã thực hiện như: tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại; mức độ thiệt hại về vật chất, tinh thần; yếu tố lỗi; phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm; động cơ, mục đích thực hiện tội phạm Nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy được quy định là một căn cứ quyết định hình phạt độc lập nhưng vẫn có ảnh hưởng ở mức độ nhất định khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tội phạm
Chỉ khi đảm bảo sự cân nhắc tổng thể các tình tiết trên (cùng với việc dựa vào các căn cứ quyết định hình phạt khác) thì Tòa án mới có đầy đủ căn cứ để quyết định một loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội được đúng pháp luật, công bằng và hợp lý
- Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc nhân thân người phạm tội Dưới gốc độ luật hình sự, nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng thể những đặc điểm riêng biệt nói lên tính cách của một con người và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Việc làm sáng tỏ các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội không chỉ giúp Tòa án hiểu được hoàn cảnh quá khứ, hiện tại của người phạm tội, đánh giá được mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà còn biết được khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta thời gian qua, các đặc điểm nhân thân của người phạm tội có thể chia thành ba nhóm:
+ Nhóm những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như phạm tội lần đầu, phạm tội do trình độ lạc hậu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp…
+ Nhóm những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội như có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, tự thú, đầu thú, lập công chuộc tội, quan hệ với gia đình, với cộng đồng…
Trang 28+ Nhóm những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ như người phạm tội là người già, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ; người phạm tội thuộc dân tộc ít người hay thuộc gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng; người phạm tội là thương binh … Việc cân nhắc các tình tiết này khi quyết định hình phạt nhằm đảm bảo cho hình phạt đã tuyên có tính thực tế cũng như phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong xử lý tội phạm
Những đặc điểm thuộc về nhân thân của người phạm tội vốn không phải là một yếu tố của cấu thành tội phạm (trừ một số trường hợp Bộ luật hình sự có quy định) Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đòi hỏi Tòa án phải hiểu rõ tính chất của người phạm tội và phải đánh giá tường tận khả năng cải tạo, giáo dục họ, trên cơ sở
đó đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội Việc xem xét nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt không phải là xem xét nhân thân nói chung nhưng cũng không phải
là xem xét tất cả các đặc điểm thuộc về nhân thân mà chỉ xem xét những đặc điểm
có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội cũng như liên quan đến việc đạt được mục đích của hình phạt Chính điều này đã đặt ra yêu cầu là Tòa án cần phải cân nhắc những đặc điểm nhân thân có tính pháp lý phản ánh được mức độ nguy hiểm khác nhau của tội phạm và của người thực hiện tội phạm cũng như phản ánh được khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội Đồng thời cũng phải cân nhắc toàn diện các đặc điểm nhân thân không mang tính chất pháp lý nhằm phục vụ các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước như chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo… thông qua đó đạt được mục đích của hình phạt, làm cho người phạm tội thấy được
sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước và sự tin tưởng của Nhà nước vào khả năng cải tạo, giáo dục của họ
- Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
Theo các cách hiểu phổ biến hiện nay, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết có ý nghĩa làm giảm hoặc tăng trách nhiệm hình sự trong phạm vi của một khung hình phạt cụ thể
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46 và Điều 48 Bộ luật hình sự Xét trong mối quan hệ tổng thể với căn cứ quyết định hình phạt thì các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đều thuộc về căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và
Trang 29nhân thân người phạm tội Tuy nhiên, luật hình sự Việt Nam vẫn quy định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là một căn cứ độc lập nhằm buộc Tòa
án phải xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như cân nhắc các đặc điểm nhân thân của người phạm tội để tránh sự tùy tiện và thiếu thống nhất khi vận dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự vào việc xét xử các vụ án cụ thể
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được ghi nhận chính thức trong Bộ luật hình sự dưới dạng liệt kê- tức nêu cụ thể các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để Tòa án lựa chọn vận dụng khi quyết định hình phạt Đây là những tình tiết đã được tổng kết từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta
Tuy nhiên, đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ngoài các
tình tiết đã được liệt kê ở khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, luật còn cho phép “khi
quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong bản án” (khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự) Quy định này
là hợp lý và phù hợp với thực tiễn bởi vì trong thực tế những tình tiết giảm nhẹ rất
đa dạng, phong phú nên luật hình sự không thể dự liệu hết được, đồng thời quy định này thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta
Đối với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chỉ những tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự mới được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Tòa án không được quyền tự xác định các tình tiết khác là tình tiết tăng nặng Quy định này được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nhằm tránh việc lạm dụng để làm xấu đi tình trạng pháp lý của người phạm tội khi không có căn cứ xác đáng
Nghiên cứu các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định trong Bộ luật hình sự, theo chúng tôi có thể chia thành ba nhóm:
+ Nhóm 1: Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự có ảnh hưởng đáng kể đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như: phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu
và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội do lạc hậu; phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; phạm tội có tính chất côn đồ…
+ Nhóm 2: Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội như: người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt
Trang 30tác hại của tội phạm; người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm…
+ Nhóm 3: Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội như: người phạm tội là phụ nữ có thai, người phạm tội là người già…
Việc Bộ luật hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ quyết định hình phạt có ý nghĩa rất lớn về phương diện xã hội và pháp lý Nó là một đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng trong luật hình sự, là phương tiện phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt và là một trong những điều kiện cần thiết để đạt được mục đích của hình phạt Đồng thời, làm cho công dân thấy rõ chính sách hình sự của Nhà nước ta
là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng để từ đó tích cực tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Để việc vận dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được đúng đắn, thống nhất, góp phần hạn chế sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật, theo chúng tôi, Tòa án cần phải quán triệt các điểm sau:
+ Việc cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự phải được tiến hành sau khi đã định tội danh và định khung hình phạt;
+ Một tình tiết đã được sử dụng làm dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được vận dụng làm tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự;
+ Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cụ thể không có ý nghĩa như nhau đối với mọi tội phạm và đối với mọi trường hợp phạm tội;
+ Việc đánh giá các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự phải đặt trong mối quan hệ thống nhất của toàn bộ vụ án;
+ Đối với những vụ án vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì những tình tiết này không những cần được đánh giá riêng lẻ
mà còn cần được đánh giá một cách toàn diện trong mối quan hệ biện chứng và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Tóm lại, việc quy định các căn cứ quyết định hình phạt trong Bộ luật hình
sự có ý nghĩa quan trọng Nó là cơ sở pháp lý để Tòa án dựa vào đó tuyên một hình phạt tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, khắc phục tình trạng tùy tiện, thiếu thống nhất khi quyết định hình phạt Việc tuân thủ đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt sẽ đảm bảo cho bản án của Tòa án có tính hợp pháp, có căn cứ pháp lý và tạo khả năng đạt được mục đích của hình phạt
Trang 31Để có thể vận dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt, đòi hỏi Tòa án phải nhận thức đúng, đầy đủ nội dung, ý nghĩa pháp lý của từng căn cứ quyết định hình phạt Chỉ trên cơ sở nhận thức đúng những vấn đề đó thì mới có thể quyết định hình phạt được đúng trên thực tế
* Ngoài những yếu tố chi phối đã được cụ thể hóa thành căn cứ quyết định hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, theo chúng tôi còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt được chính xác, công bằng và hợp lý như: mức độ hoàn thiện của pháp luật hình sự; năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp của chủ thể quyết định hình phạt; chất lượng của các hoạt động tố tụng trước khi quyết định hình phạt
Như đã trình bày, quyết định hình phạt là một hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án thông qua đại diện là Hội đồng xét xử gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Đây chính là hoạt động tư duy của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nhằm xác định các tình tiết khách quan của tội phạm diễn ra trong thực tế để lựa chọn quy phạm pháp luật hình sự phù hợp áp dụng cho tội phạm đó Trong các tiền
đề đảm bảo cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân lựa chọn đúng quy phạm pháp luật áp dụng cho tội phạm cụ thể thì lẽ tất nhiên phải có tiền đề về pháp luật Các quy định của luật hình sự liên quan đến quyết định hình phạt càng cụ thể, rõ ràng, càng phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước thì càng thuận lợi cho quá trình vận dụng vào thực tiễn và hình phạt đã tuyên có nhiều khả năng đảm bảo được sự công bằng, hợp lý, phù hợp với tội phạm, khi đó mục đích của hình phạt cũng dễ dàng đạt được
Tuy nhiên, quy định của pháp luật hình sự, trong đó có quy định về căn cứ quyết định hình phạt chỉ mang tính khái quát phản ánh những nét đặc trưng cơ bản của thực tế muôn hình, muôn vẻ có thể áp dụng đối với tất cả các trường hợp phạm tội cụ thể, pháp luật hình sự không thể phản ánh hết được các mặt của tội phạm rất
đa dạng Do vậy, đòi hỏi Thẩm phán và Hội thẩm nhân phải có được trình độ chuyên môn nghiệp vụ - tức là phải am hiểu sâu sắc, hiểu đúng và đủ về nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật hình sự để vận dụng khi quyết định hình phạt
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không chỉ có chuyên môn vững vàng mà còn phải là người có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp - họ phải luôn gương mẫu, tuyệt đối tuân thủ pháp luật Chính việc tuân thủ pháp luật giúp cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân áp dụng chính xác các quy định của Bộ luật hình sự khi đánh giá
Trang 32tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
Ngoài trình độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, chúng tôi cho rằng bản lĩnh của người Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cũng có tác động đến hoạt động quyết định hình phạt Bởi lẽ, chính bản lĩnh nghề nghiệp sẽ làm cho người Thẩn phán và Hội thẩm nhân dân tin tưởng, khẳng định vào chính quyết định của mình, tin rằng phán xét của mình là hoàn toàn theo lương tâm, đạo đức nghề nghiệp, là đúng pháp luật
Trong điều kiện ngày nay, hoạt động xét xử vụ án hình sự nói chung và quyết định hình phạt nói riêng ít nhiều bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài như: sức
ép của các thế lực nhà nước, của dư luận xã hội, của các đảng phái, tôn giáo, sự căng thẳng, hung hãn của người phạm tội, áp lực từ những người có “quyền lực”… thậm chí là sự cám dỗ về vật chất Do vậy, để bảo vệ công lý, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải vượt lên trên tất cả các sức ép từ bên ngoài, giữ mình tránh khỏi những cám dỗ để có thể đưa ra những quyết định khách quan, đúng pháp luật Khi
đó, chính sự vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp là một trong những đảm bảo để loại trừ sự cưỡng chế, áp đặt, mọi sự tác động từ bên ngoài Nó đảm bảo cho sự tự do, độc lập, tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong việc đánh giá các tình tiết của vụ án và việc lựa chọn loại và mức hình phạt cần tuyên
Áp dụng quy phạm pháp luật hình sự là một quá trình phức tạp, đỏi hỏi phải tiến hành một cách tuần tự từ cái chung đến cái riêng Để có thể quyết định hình phạt áp dụng đối với người phạm tội, chúng ta phải tiến hành một loạt các hoạt động tố tụng như: thu thập, xác minh các tài liệu, chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội; những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; việc bảo vệ cáo trạng, tranh luận, buộc tội; những phản biện về cả về vấn đề buộc tội, gỡ tội và các tình tiết liên quan khác; đến việc cân nhắc đưa ra kết luận về tội danh, xác định khung hình phạt… tất cả những hoạt động trên đều có ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến việc đưa ra loại và mức hình phạt của Tòa án Những vấn đề trên, nếu được thực hiện một cách khách quan, chặt chẽ, đầy đủ sẽ tạo nhiều thuận lợi cho Tòa án quyết định hình phạt được công bằng, hợp lý Ngược lại, những chứng cứ, tình tiết của vụ án nếu thu thập không chặt chẽ, không đầy đủ; có nhiều chứng cứ, tình tiết mâu thuẫn nhau mà không được làm rõ; các quan điểm tranh luận trái ngược nhau, khi đó đòi hỏi Tòa án phải hết sức thận
Trang 33trọng cân nhắc, đánh giá ý nghĩa của từng tình tiết riêng lẻ và dưới dạng tổng thể để đưa ra kết luận về bản chất của sự việc - việc đánh giá tình tiết vụ án chắc chắn sẽ khó khăn hơn
Do đó, các hoạt động tố tụng tiến hành trước khi quyết định hình phạt có chất lượng càng cao thì Tòa án sẽ càng thuận lợi, dễ dàng quyết định loại và mức hình phạt công bằng, hợp lý; hình phạt có nhiều khả năng đạt được mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội cũng như phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung
Các yếu tố trên, tuy không được Bộ luật hình sự cụ thể hóa thành căn cứ quyết định hình phạt nhưng theo chúng tôi, nó có ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án Để việc cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được khách quan, chính xác thì đòi hỏi pháp luật hình sự phải cụ thể, rõ ràng, chủ thể quyết định phạt phải có được sự nhận thức đúng đắn các quy định của Bộ luật hình sự, có bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp và các hoạt động tố tụng thu thập chứng cứ phải được tiến hành một cách khách quan, chặt chẽ, đầy đủ Chỉ có như vậy thì hình phạt do Tòa án tuyên mới đảm bảo chính xác, công bằng và hợp lý - đó là một trong những cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt
1.2 Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt- những giai đoạn phạm tội chưa hoàn thành được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam
Theo luật hình sự Việt Nam, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức
độ thực hiện tội phạm cố ý bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Đây là ba giai đoạn phạm tội thể hiện mức độ thực hiện tội phạm khác nhau
- Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết để việc thực hiện tội phạm được thuận lợi Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm cố ý
- Phạm tội chưa đạt là giai đoạn thứ hai của quá trình thực hiện tội phạm cố
ý Người phạm tội chưa đạt đã bắt đầu thực hiện tội phạm nhưng hành vi của họ chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm định thực hiện do nguyên nhân ngoài ý muốn
- Tội phạm hoàn thành Đây là giai đoạn sau cùng của quá trình thực hiện tội phạm cố ý Một tội phạm được coi là hoàn thành khi hành vi thực hiện đã chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể quy định trong Bộ luật hình sự
Trang 34Mỗi tội phạm, tùy thuộc vào tính chất của hành vi phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm mà quy định thời điểm tội phạm hoàn thành khác nhau Có những tội phạm, chỉ cần thực hiện hành vi thì đã hoàn thành, có tội phạm chỉ hoàn thành khi hậu quả của tội phạm xảy ra
Ngoài ba giai đoạn phạm tội trên, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, đối với tội phạm do cố ý, trước khi thực hiện các hành vi chuẩn bị phạm tội còn có thể có các bước hình thành ý định phạm tội và biểu lộ ý định phạm tội Tuy nhiên, hình thành ý định phạm tội và biểu lộ ý định phạm tội không phải là giai đoạn thực hiện tội phạm, chỉ là đối tượng nghiên cứu của khoa học luật hình sự, chứ không phải là đối tượng của trách nhiệm hình sự (trừ một số ít trường hợp biểu lộ ý định phạm tội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm như tội đe dọa giết người)
Việc phân chia các giai đoạn thực hiện tội phạm, quan điểm phổ biến hiện nay đều thừa nhận các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra đối với các tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý thì không thể có giai đoạn phạm tội
Đối với trường hợp thực hiện tội phạm do lỗi vô ý thì việc không thừa nhận các giai đoạn thực hiện tội phạm là hoàn toàn chính xác Bởi khi thực hiện hành vi, người phạm tội chẳng những không mong muốn, thậm chí không biết rằng tội phạm xảy ra, việc tội phạm xảy ra là ngoài ý thức của họ Người thực hiện tội phạm với lỗi vô ý đã lựa chọn và thực hiện hành vi vì không thấy trước hoặc thấy trước nhưng tin rằng thiệt hại không thể xảy ra Vì vậy, không thể đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với điều mà về chủ quan họ không mong muốn nó xảy ra và về khách quan nó chưa xảy ra
Đối với trường hợp thực hiện tội phạm do lỗi cố ý gián tiếp cũng có quan điểm thừa nhận có thể có các giai đoạn thực hiện tội phạm5 Theo chúng tôi, quan điểm trên là không phù hợp với lý luận về lỗi Theo lý luận về lỗi cố ý gián tiếp,
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội “nhận thức rõ hành vi của mình là
nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra” (khoản 2 Điều 9 Bộ
luật hình sự) Người thực hiện tội phạm do lỗi cố ý gián tiếp tuy thấy trước hậu quả
có thể xảy ra nhưng đó chỉ là sự thấy trước khả năng hậu quả có thể xảy ra chứ không phải là thấy trước sự tất yếu, sự không thể tránh khỏi xảy ra như lỗi cố ý trực
5 Nguyễn Ngọc Hòa (1991), Tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr.128
Trang 35tiếp Mặc dù người phạm tội biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng họ có thái độ bàng quang đối với hậu quả đó Và do đó, không thể coi một người có hành vi phạm tội khi mà về khách quan hậu quả đó không thể xảy ra và về chủ quan họ không nhận thức rõ thiệt hại của hành vi đó
Như vậy, theo chúng tôi, các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra đối với tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Việc xác định ý thức chủ quan ban đầu của người phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng và đôi lúc có tính chất quyết định đối với việc định tội danh được chính xác
1.2.1 Giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm cố
ý được giới hạn giữa ý định phạm tội với giai đoạn phạm tội chưa đạt Điều 17 Bộ
luật hình sự đã khái quát giai đoạn chuẩn bị phạm tội là “tìm kiếm, sửa soạn công
cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm”
Về mặt khách quan, hành vi chuẩn bị phạm tội được thể hiện ở việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để việc thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng
- Công cụ thực hiện tội phạm là bất kỳ những đồ vật gì được người phạm tội sử dụng để thực hiện những hành vi khách quan của tội phạm Ví dụ: Súng để giết người, cướp tài sản…
- Phương tiện thực hiện tội phạm là những đồ vật được sử dụng nhằm giúp cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi Tùy theo từng trường hợp phạm tội cụ thể mà có các phương tiện khác nhau Đó có thể là xe máy để đi cướp giật, thang trèo tường để vào nhà trộm cắp tài sản…
Việc tìm kiếm những công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm có nghĩa
là dùng bất kỳ biện pháp nào để có được công cụ, phương tiện đó (như thuê, mượn…) Còn sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội được hiểu là chế tạo những công cụ, phương tiện hoàn toàn mới hoặc sửa chữa, thay đổi kích thước, hình dáng, tính năng của những công cụ, phương tiện sẳn có; sắp đặt, dự kiến những thứ cần thiết nào sẽ dùng vào việc gì trong quá trình thực hiện tội phạm
Ngoài hai dạng hành vi thường gặp, hành vi chuẩn bị phạm tội còn được thể hiện ở việc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm Đó có thể là những hành vi tạo ra các điều kiện vật chất khách quan khác để thực hiện tội phạm như cải trang, nghiên cứu địa hình…
Trang 36Những hành vi chuẩn bị phạm tội rất đa dạng và phong phú, tùy theo tính chất của từng tội phạm cụ thể mà hành vi chuẩn bị mang nhiều hình thức rất khác nhau Song tính chất của tất cả những hành vi này là tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi Khi tiến hành các công việc chuẩn bị, người phạm tội
đã có ý thức pháp luật rõ rệt, sự chuẩn bị của họ thể hiện ý định đó Vì vậy, chuẩn bị phạm tội hợp thành một thể thống nhất với những hành vi tiếp theo của người phạm tội nằm trong khuôn khổ những hành vi thực hiện tội phạm
Tuy nhiên, cần khẳng định trên thực tế hành vi chuẩn bị phạm tội chưa phải
là hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể, chưa thỏa mãn các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm Bản thân hành vi chuẩn
bị phạm tội chưa trực tiếp xâm hại đến khách thể mà luật hình sự bảo vệ và chỉ riêng hành vi chuẩn bị phạm tội chưa thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nhưng chính hành vi chuẩn bị đã chứa đựng khả năng gây một thiệt hại lớn cho xã hội và vì vậy trong một số trường hợp hành vi chuẩn bị phạm tội thể hiện tính nguy hiểm đáng kể, cần xem là tội phạm và quy định trong Bộ luật hình sự
Về chủ quan, hành vi chuẩn bị phạm tội luôn là hành vi cố ý trực tiếp Người phạm tội luôn nhận thức được những hành vi mà họ đang tiến hành là nhằm tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho việc thực hiện tội phạm sau đó Người phạm tội luôn mong muốn thực hiện những hành vi này và mong muốn hậu quả xảy ra Tuy nhiên, trên thực tế người phạm tội không thực hiện được hành vi khách quan, hậu quả của tội phạm không xảy ra là do nguyên nhân ngoài ý muốn của họ
1.2.2 Giai đoạn phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là giai đoạn tiếp theo sau khi người phạm tội hoàn tất mọi công việc chuẩn bị, được giới hạn bởi giai đoạn chuẩn bị phạm tội và tội phạm
hoàn thành Theo Điều 18 Bộ luật hình sự, “phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội
phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”
Trên cơ sở phân tích quy định của Bộ luật hình sự, có thể nhận thấy dấu
hiệu đầu tiên của phạm tội chưa đạt là người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội
phạm- tức là người phạm tội đã thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan
của cấu thành tội phạm của loại tội định thực hiện, hành vi này đã trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động nhằm gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm định thực hiện
Trang 37Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt với chuẩn bị phạm tội Việc
xác định đúng thời điểm “bắt đầu thực hiện tội phạm” có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc đánh giá đúng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và trong một
số trường hợp còn có ý nghĩa trong việc xác định tội phạm
Trong khoa học hiện nay, việc xác định thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm có nhiều ý kiến khác nhau:
- Có ý kiến cho rằng, thời điểm được xem là bắt đầu thực hiện tội phạm khi người phạm tội đã thực hiện hành vi bất kỳ mà theo ý tưởng của họ là để thực hiện tội phạm
- Ý kiến khác cho rằng, thời điểm được xem là bắt đầu thực hiện tội phạm khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan của cấu thành tội phạm- đó là hành vi được dự liệu trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm
- Ý kiến thứ ba là ý kiến dung hòa giữa hai ý kiến trên- tức việc xác định thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm không chỉ dựa vào yếu tố chủ quan (ý tưởng của người phạm tội) hay yếu tố khách quan quy định trong cấu thành tội phạm mà phải kết hợp cả hai yếu tố này Theo đó, nên xem thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm là thời điểm mà người phạm tội thực hiện hành vi khách quan quy định trong cấu thành tội phạm của loại tội định thực hiện hoặc thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan đó
Theo chúng tôi, ý kiến thứ ba hợp lý nhất Bởi lẽ, nếu chỉ dựa vào ý tưởng của người phạm tội mà xem là thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm thì chúng ta quá mở rộng phạm vi giai đoạn phạm tội chưa đạt, thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm rất sớm và có thể bao hàm cả hành vi chuẩn bị phạm tội; còn nếu dựa vào thực tế người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội định thực hiện thì thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm rất muộn, không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta
là “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời” để hạn chế được những
thiệt hại xảy ra cho xã hội lẽ ra không đáng có do tội phạm gây ra
Tuy nhiên, cần phân biệt hành vi đi liền trước hành vi khách quan với các hành vi chuẩn bị phạm tội nhằm tránh nhầm lẫn khi xác định các hành vi này trong quá trình giải quyết vụ án Cũng giống như các hành vi chuẩn bị phạm tội, hành vi
đi liền trước hành vi khách quan chưa phải là hành vi khách quan mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng nó là một bộ phận hợp thành của hành vi khách quan, về chủ quan lẫn khách quan nó là sự bắt đầu của hành vi khách quan và ngay sau nó hành
Trang 38vi khách quan tất yếu sẽ xảy ra Còn đối với hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ mang tính chất tạo ra những thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm, hành vi khách quan mô
tả trong cấu thành tội phạm không nhất thiết phải xảy ra ngay sau đó
Thông thường, một hành vi được xem là hành vi đi liền trước hành vi khách quan của tội phạm khi trong một hoàn cảnh cụ thể, hành vi đó là điều kiện duy nhất làm phát sinh hành vi khách quan, hành vi đó nếu không bị ngăn chặn kịp thời thì lập tức hành vi khách quan sẽ xảy ra và hành vi đó phải thể hiện rõ ý định phạm tội
Như vậy, để xác định thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm của giai đoạn phạm tội chưa đạt, cần phải dựa vào từng trường hợp phạm tội cụ thể Theo chúng tôi, có thể xem là bắt đầu thực hiện tội phạm khi người phạm tội có các hành vi sau:
- Khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi đi liền trước hành vi mô
tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm Một hành vi xem là hành vi đi liền trước hành vi khách quan phải là hành vi có sự liên hệ gắn bó với hành vi khách quan, nhằm thực hiện hành vi khách quan Mối liên hệ này cần được xác định rõ khi xem xét một hành vi đã thực hiện có phải là hành vi đi liền trước hành vi khách quan hay không và từ đó mới có thể xác định người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm hay chưa để xác định người đó có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định phạm ở giai đoạn chưa đạt hay không
- Khi người phạm tội đã thực hiện hành vi mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể nhưng chưa thực hiện hết các hành vi đó Đây là các trường hợp phạm tội chưa đạt trong đó dấu hiệu hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm bao gồm nhiều thao tác cụ thể của hành vi hợp lại Người phạm tội chỉ mới thực hiện được một hoặc một số thao tác của hành vi đó, chưa kịp thực hiện các thao tác còn lại thì tội phạm đã bị ngưng do nguyên nhân khách quan
- Khi người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa gây hậu quả; hoặc hậu quả xảy ra nhưng mức độ thiệt hại chưa đủ theo quy định; hoặc hậu quả xảy ra không có mối quan hệ nhân quả với hành vi khách quan Đây là những trường hợp phạm tội chưa đạt chỉ xảy ra ở những tội phạm có cấu thành vật chất và
là điểm cơ bản để phân biệt phạm tội chưa đạt với tội phạm hoàn thành Nếu có hậu quả xảy ra đủ mức độ thiệt hại theo quy định và có mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi và hậu quả thì xác định là tội phạm hoàn thành; ngược lại, nếu không có hậu quả, hậu quả xảy ra nhưng mức độ thiệt hại chưa đủ theo quy định hoặc hậu quả xảy ra không phải do chính hành vi thực hiện trước đó thì xác định là phạm tội chưa đạt
Trang 39Dấu hiệu thứ hai của phạm tội chưa đạt là người phạm tội không thực hiện
tội phạm được đến cùng Ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, tuy người phạm tội đã bắt
đầu thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan hoặc bắt đầu thực hiện hành
vi khách quan nhưng đã không thực hiện cho đến khi dấu hiệu cuối cùng trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm được thỏa mãn mặc dù người phạm tội luôn mong muốn tiếp tục thực hiện hành vi của mình
Việc mô tả dấu hiệu người phạm tội không thực hiện tội phạm được đến
cùng chưa phản ánh rõ các dấu hiệu pháp lý của giai đoạn phạm tội chưa đạt, có thể
gây nên nhiều cách hiểu khác nhau:
- Nghĩa thứ nhất, tội phạm không thực hiện được đến cùng là so với ý muốn chủ quan của người phạm tội- tức người phạm tội không đạt được mục đích đề ra
- Nghĩa thứ hai, tội phạm không thực hiện đến cùng là so với thời điểm tội phạm hoàn thành về mặt pháp lý- tức hành vi của người phạm tội chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm
Luật hình sự nước ta từ trước đến nay vẫn hiểu quy định này theo nghĩa thứ hai Chúng tôi cho rằng nhận thức như vậy là hợp lý, bỡi lẽ, nếu hiểu theo nghĩa so với ý muốn chủ quan của người phạm tội thì thời điểm tội phạm hoàn thành rất muộn, tạo nguy cơ gây thiệt hại lớn cho xã hội Mặt khác, xuất phát từ tầm quan trọng của một số quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (như các tội phạm có mục đích lật đổ chính quyền…) nên cần thiết phải qui định thời điểm tội phạm hoàn thành sớm hơn, không thể đợi đến khi thực tế người phạm tội đạt được mục đích đề
ra mới xem là tội phạm hoàn thành
Như vậy, người phạm tội không thực hiện tội phạm được đến cùng phải
được hiểu là hành vi của họ đã không thỏa mãn tất cả các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm do luật hình sự quy định trong phần các tội phạm chứ không phải thỏa mãn mục đích của người phạm tội
Dấu hiệu thứ ba: Người phạm tội chưa đạt không thực hiện tội phạm được
đến cùng là do nguyên nhân ngoài ý muốn
Cũng giống như chuẩn bị phạm tội, đây là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của giai đoạn phạm tội chưa đạt Việc người phạm tội chưa đạt không thực hiện tội phạm được đến cùng không phải do ý muốn chủ quan của họ Trong ý thức của người phạm tội, họ vẫn mong muốn tiếp tục thực hiện tội phạm nhưng do hoàn cảnh khách quan (như do người bị hại chống trả, do bị người khác
Trang 40ngăn cản…) nên họ không thể tiếp tục thực hiện tội phạm được Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Tóm lại, chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là những giai đoạn phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam, giữa chúng tuy có những đặc điểm pháp lý riêng thể hiện mức độ thực hiện tội phạm khác nhau nhưng đều là tội phạm không có đầy đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm
mà trong khoa học luật hình sự gọi là tội phạm chưa hoàn thành Việc tội phạm không thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm
là do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn, bản thân người phạm tội luôn mong muốn thực hiện tội phạm được đến cùng
Do chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều là tội phạm không có đầy
đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể nên để có cơ
sở pháp lý truy cứu trách nhiệm hình sự đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa cấu thành tội phạm của tội phạm cụ thể với quy định chung về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Tức cấu thành tội phạm của chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là dấu hiệu tổng hợp của cấu thành tội phạm quy định ở phần các tội phạm với những dấu hiệu của chế định chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt- đây chính là cơ sở pháp lý
để truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
* Phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với ý định phạm tội
cơ bản nhất để phân biệt các giai đoạn thực hiện tội phạm là các dấu hiệu được mô
tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể Riêng việc phân biệt chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cần dựa vào ý thức chủ quan của người phạm tội- tức phải xác định đúng nguyên nhân làm cho tội phạm dừng lại
- Phân biệt ý định phạm tội với chuẩn bị phạm tội
Để phân biệt ý định phạm tội với chuẩn bị phạm tội cần phải xác định được tính chất, tác dụng của hành vi đã thực hiện trong thực tế