1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo công ước viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

59 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 10 của cuốn sách viết bởi tác giả Peter Huber đã cung cấp những phân tích sâu sắc về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng qua các khía cạnh: vi phạm hợp đồng, bảo hộ pháp luật quốc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

LÊ THỊ THANH

CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

QUỐC TẾ

SINH VIÊN THỰC HIỆN: LÊ THỊ THANH Khóa: 38 MSSV: 1353801011214 GVHD: NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

LỜI TRI ÂN

Khóa luận là công trình nghiên cứu khoa học không chỉ thể hiện những kiến thức tích lũy được mà còn là thành quả cho thấy kỹ năng tìm kiếm, nghiên cứu, phân tích và trình bày vấn đề cần có của một cử nhân tương lai nói chung và là các

kỹ năng thiết yếu quyết định “thành bại” của cử nhân luật trong tương lai nói riêng

Để thực hiện công trình nghiên cứu đó, sự nỗ lực cố gắng của tác giả là điều kiện cần nhưng không đủ để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Quá trình biến khóa luận trở thành sản phẩm hoàn thiện như hôm nay là kết quả của sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tập thể, cá nhân đến tác giả

Lời tri ân đầu tiên, tác giả xin phép dành cho cô Nguyễn Thị Thanh Huyền, thạc sỹ, giảng viên trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh đồng thời là giáo viên hướng dẫn đã tận tình chỉ dạy, giúp đỡ và đưa ra những lời khuyên quý báu để tác giả từng bước hoàn thiện khóa luận

Tác giả cũng chân thành cảm ơn thầy Phạm Trí Hùng và cô Nguyễn Thị Lan Hương với những bài giảng thú vị về thương mại hàng hóa dịch vụ và thương mại quốc tế đã truyền cảm hứng cho tác giả tìm hiểu về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) và tạo động lực cho tác giả hoàn thành nghiên cứu như ngày hôm nay

Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tập thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã cho tác giả môi trường học tập, rèn luyện chất lượng, hiệu quả để “rèn đức, luyện tài” và là bệ phóng cho sự phát triển của tác giả trong tương lai

Cuối cùng, xin được gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè – những người luôn sát cánh bên cạnh tác giả, luôn quan tâm và tạo động lực cho tác giả trong mọi hoàn cảnh

Dù đã cố gắng nhưng khóa luận không tránh khỏi một số thiếu sót về nội dung và hình thức, tác giả mong nhận được những góp ý và nhận xét từ quý thầy cô

và những người có chuyên môn và quan tâm đến đề tài này để bổ sung và hoàn thiện

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sỹ, Giảng viên Nguyễn Thị Thanh Huyền, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 7 năm 2017

Tác giả

Lê Thị Thanh

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: ÁP DỤNG CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 6

1.1 Điều kiện chung cho việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 6

1.1.1 Vi phạm của một bên 7

1.1.2 Thông báo của bên bị vi phạm cho bên vi phạm 9

1.1.2.1 Nội dung của thông báo 10

1.1.2.2 Thời hạn đưa ra thông báo 12

1.1.2.3 Hình thức thông báo 13

1.1.3 Các trường hợp không áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 14

1.1.3.1 Trường hợp bất khả kháng 14

1.1.3.2 Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (hardship) 15

1.1.3.3 Sơ suất của bên có quyền 16

1.1.4 Bị từ chối áp dụng theo Điều 28 17

1.1.5 Áp dụng các chế tài không thích hợp với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 17

1.1.5.1 Các chế tài không áp dụng đồng thời với buộc thực hiện đúng hợp đồng 18

1.1.5.2 Các chế tài có thể áp dụng đồng thời với buộc thực hiện đúng hợp đồng 19

1.2 Một số vấn đề liên quan đến biến thể của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 19

1.2.1 Giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 20

1.2.2 Nghĩa vụ bảo quản và giữ hàng hóa đã giao của bên mua cho yêu cầu thay thế hàng hóa 22

1.2.3 Vi phạm cơ bản là điều kiện cho yêu cầu giao hàng hóa thay thế 23

1.3 Các quy định liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 24

1.3.1 Gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ (Nachfrist) 24

1.3.2 Quyền tự khắc phục vi phạm của bên bán 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 28

2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng từ góc độ cân bằng quyền và lợi ích của các bên 28

Trang 7

2.1.1 Tính hợp lý, thiện chí và hợp tác 28

2.1.2 Lợi ích của các bên trong trường hợp hướng đến việc thực hiện hợp đồng 31

2.2 Một số vấn đề pháp lý đặt ra trong việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 34

2.2.1 Sự cân nhắc chi phí và tính hợp lý 34

2.2.2 Mức độ phổ biến của việc áp dụng trên thực tế 37

2.3 Vai trò của buộc thực hiện đúng hợp đồng trong hài hòa hóa pháp luật 40 2.3.1 Vai trò dung hòa các hệ thống pháp luật thông qua thỏa hiệp và nhượng bộ 40

2.3.2 Sự hài hòa hóa các hệ thống pháp luật 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45

KẾT LUẬN CHUNG 46

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế phát triển chung của toàn thế giới, giao thương hàng hóa quốc tế ngày càng phát triển Pháp luật điều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực này vì thế cũng được hoàn thiện theo thời gian Một trong những văn bản quốc tế có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến giao thương toàn cầu là Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tên tiếng Anh là the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (hay còn gọi tắt là Công ước CISG), được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) Được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 4 năm 1980 tại Hội nghị của UNCITRAL với sự có mặt của đại diện 60 quốc gia và 8

tổ chức quốc tế, Công ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1988 Mục đích của Công ước là nhằm hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế1 Tính đến 30 tháng 5 năm 2016, CISG là sự cam kết của 85 thành viên trên toàn thế giới2 Không những được lựa chọn là luật điều chỉnh và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, CISG còn được lựa chọn là nguồn luật áp dụng trong nhiều thỏa thuận quốc tế giữa các thương nhân đến từ các quốc gia không là thành viên trên toàn thế giới CISG với những quy định pháp luật mềm dẻo và linh hoạt, dung hòa được mâu thuẫn trong thói quen áp dụng pháp luật của các quốc gia, đang ngày càng trở thành nguồn luật có tầm ảnh hưởng hàng đầu trong thương mại quốc tế Ngày 18/12/2015, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017 Trước khi trở thành thành viên của Công ước, pháp luật Việt Nam với nhiều đặc điểm của hệ thống pháp luật Dân luật đã có nhiều điểm tương đồng với quy định của CISG chẳng hạn quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Thực tế, trong quá trình hợp tác hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều thương nhân Việt Nam đã lưu ý tham chiếu và thỏa thuận CISG

là nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp

Buộc thực hiện đúng hợp đồng (specific performance) là một chế tài nổi bật trong hệ thống chế tài của CISG quy định tại Điều 46 và 62, tương ứng lần lượt cho quyền của bên mua và bên bán Khi một bên trong hợp đồng có hành vi vi phạm, bên còn lại có quyền buộc bên này thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết Chế tài này dựa trên nền tảng là nguyên tắc thiện chí Sự hợp tác giữa hai thương nhân nói chung và hai thương nhân đến từ hai quốc gia khác nhau nói riêng là quá trình tạo dựng lòng tin từ những sự xa lạ Sự thiện chí và khoan dung, hỗ trợ lẫn nhau là những gì cần được cân nhắc hàng đầu khi xảy ra bất kỳ sự cố trong quá trình thực hiện hợp đồng như vi phạm nghĩa vụ của một bên Từ đó, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cho thấy sự phù hợp với xu thế thúc đẩy mối quan hệ thương mại

“trên cơ sở hợp tác cùng có lợi” của thương mại quốc tế

Note by the Secretariat (2016), Introduction to the Digest of Case Law on the United Nations Convention on

2

Note by the Secretariat (2016), Introduction to the Digest of Case Law on the United Nations Convention on

http://www.uncitral.org/pdf/english/clout/CISG_Digest_2016.pdf, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 9

Việc chuẩn bị kiến thức nhất định về điều kiện áp dụng chế tài, các quy định liên quan cũng như sự đánh giá để quyết định có nên áp dụng nó vào một vụ việc cụ thể nào đó hay không là yếu tố quyết định để vận dụng thành công chế tài này vào các vụ việc cụ thể Tuy nhiên, cũng giống như nhiều quy định pháp luật khác, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong CISG có nhiều quy định mang tính linh hoạt, việc vận dụng chế tài này trong thực tiễn xét xử cũng có nhiều vấn đề đáng lưu tâm Do đó, tìm hiểu thực tế chế tài này đã được áp dụng như thế nào trong các

vụ việc đã được xét xử của các cơ quan tài phán là vấn đề quan trọng Tác giả lựa chọn đề tài này vì nhu cầu cấp thiết tìm hiểu thông tin liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn vào hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trải qua một thời gian dài soạn thảo và từ khi Công ước Viên chính thức có hiệu lực (1988) đến nay, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài, sách báo, tạp chí trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế có thể kể đến luận văn thạc sỹ:

Đặng Hoa Trang (2015), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công

ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: luận văn

đã làm rõ những vấn đề lý luận chung về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam và công ước Viên 1980 đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của pháp luật thương mại Việt Nam dưới góc độ giải thích và áp dụng pháp luật

Về sách chuyên khảo, có thể kể đến sách chuyên khảo của các tác giả:

Peter Huber và Alastair Mullis (2007), The CISG – a new textbook for students

and practioners, Sellier European publisher: Cuốn sách phân tích chi tiết các quy

định tương ứng theo cấu trúc của CISG đồng thời tổng hợp, phân tích ý kiến, quan điểm của nhiều học giả về các vấn đề liên quan từ đó rút ra quan điểm của tác giả về từng vấn đề Các tác giả đã giải thích cách mà CISG được vận dụng trên thực tế, lưu

ý đến các vấn đề phát sinh liên quan Phần 10 của cuốn sách (viết bởi tác giả Peter Huber) đã cung cấp những phân tích sâu sắc về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng qua các khía cạnh: vi phạm hợp đồng, bảo hộ pháp luật quốc gia Điều 28, miễn trừ, các yêu cầu chung và yêu cầu thay thế, sửa chữa hàng hóa không phù hợp,

vi phạm cơ bản, nghĩa vụ chứng minh Các nghiên cứu, phân tích được đặt trong tương quan các quy định khác (cũng được trình bày cụ thể trong cuốn sách) để mang lại kiến thức nền tảng cơ bản chính xác nhất

United Nations Commission on International Trade Law3 (2016), Digest of

Case Law on the United Nations Convention on Contracts for the International Sale

of Goods, United Nation publisher: cuốn sách là sản phẩm nghiên cứu, tổng hợp của

nhiều học giả, chuyên gia về CISG và thư ký Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế - tập hợp thông tin và bình luận của người biên soạn về các vụ

3

Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế, viết tắt: UNCITRAL

Trang 10

việc đã được các cơ quan tài phán giải quyết áp dụng tương ứng theo cấu trúc các điều của CISG Các vụ án được cung cấp để minh họa chi tiết cho từng yếu tố, quy định của mỗi điều luật Cuốn sách mang lại cái nhìn rõ nét cụ thể đến từng tình tiết

về cách mà CISG được áp dụng trên thực tế

Chengwei Liu & Marie Stefanini Newman (2007), Remedies in International

Sales: Perspectives from CISG, UNIDROIT Principles & PECL, Juris Net

publisher: cuốn sách nghiên cứu về các chế tài áp dụng cho việc không thực hiện hợp đồng trong mua bán hàng hóa quốc tế, cụ thể trong các văn bản CISG, Bộ quy tắc Unidroit và PECL4 Cuốn sách phân tích cụ thể về từng chế tài, nghiên cứu so sánh điều kiện, cách thức áp dụng chúng trong ba công ước quốc tế có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với hoạt động thương mại quốc tế: CISG, Unidroit và PECL Chương III về buộc thực hiện đúng hợp đồng (specific performance, tác giả Chengwei Liu) đã phân tích, đối chiếu các quy định chi tiết về chế tài này trong ba công ước trên, đồng thời đưa ra nhận xét đánh giá về sự hợp lý, hạn chế trong quy định của mỗi công ước

Một số bài viết trong các tạp chí chuyên khảo liên quan đến việc phân tích, đánh giá chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng:

Theodore Eisenberg & Geoffrey P Miller (2013), "Damages versus Specific

Performance: Lessons from Commercial Contracts", New York University Law and

Economics Working Papers, vol 12 (334): Bài viết phân tích các hợp đồng trên

thực tế để rút ra kết luận về tương quan tỷ lệ áp dụng trên thực tế chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại, từ đó nhận xét, đánh giá và lý giải chúng Bài viết là nguồn tham khảo để đánh giá vai trò và một số vấn đề pháp lý liên quan của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong tương quan với các chế tài khác

Ulrich Magnus (2010), “The Vienna Sales Convention (CISG) between Civil

And Common Law - Best of All Worlds?”, Journey for Civil Law Students, vol 03

(67): Bài viết bàn về mục đích, tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của CISG trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện đại đồng thời đưa ra và phân tích nguồn gốc một số quy định trong CISG (trong đó có chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng) xuất phát

từ pháp luật quốc gia hay hệ thống pháp luật nào Bài viết cũng lý giải và có sự so sánh nhất định với các điều ước quốc tế khác như Unidroit, PECL Tác giả bài viết nhận định rằng dù không hoàn hảo nhưng CISG là luật mẫu khả thi tốt nhất trên thế giới ở thời điểm hiện tại5

Bradford Stone & Santiago Gonzcilez Luna M., “Aggrieved Buyer's Right to Performance or Money Damages under the CISG, U.C.C., and Mexican

Commercial Code”, Journal of Law and Commerce, vol 30 (23): Bài viết cho thấy

mối quan hệ giữa chế tài bồi thường thiệt hại và buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của CISG, U.C.C và bộ luật Thương mại Mexico, là cơ sở cho thấy tương quan và lý giải được nguyên nhân ưu thế, hạn chế khi so sánh hai chế tài này

Ulrich Magnus (2010), “The Vienna Sales Convention (CISG) between Civil And Common Law - Best of

All Worlds?”, Journey for Civil Law Students vol 03, tr.95

Trang 11

Ngoài ra, còn một số luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí trong và ngoài nước có liên quan đến các vấn đề cụ thể trong chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng như quy định chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong các văn bản pháp luật khác nhau Nhưng nhìn chung, các tài liệu nói trên chưa mang tính tổng hợp và riêng biệt về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo CISG, cũng như chưa có sự chọn lọc án

lệ để minh họa thực tiễn cụ thể cho sự đánh giá, lựa chọn và áp dụng chế tài này Vì vậy, tác giả cho rằng việc nghiên cứu chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo CISG một cách riêng biệt, đầy đủ, có sự liên hệ thực tế đồng thời đưa ra đánh giá khách quan về vai trò, ưu thế và khó khăn trong áp dụng chế tài này là cần thiết, mang lại ý nghĩa quan trọng cũng như có giá trị tham khảo trong thực tiễn

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong đề tài này được làm rõ qua sự phân tích, liên kết các quy định liên quan của CISG đồng thời có liên hệ thực tiễn

để minh họa cho mỗi quy định Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm cung cấp cho độc giả những kiến thức nền tảng về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, dựa vào những phân tích, đánh giá vai trò, ưu thế và một số vấn đề pháp lý trong việc áp dụng của chế tài này để có sự lựa chọn thích hợp cho việc xử lý vi phạm hoặc tự đưa ra chế tài tự mình thực hiện đúng hợp đồng khi có vi phạm để đạt được lợi ích kinh tế hợp pháp cao nhất Tác giả hi vọng đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho áp dụng thực tiễn cũng như các nghiên cứu sau này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Để làm rõ thông tin về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tác giả sẽ đi sâu vào phân tích các quy định liên quan trực tiếp đến chế tài và từ đó đưa ra những đánh giá về chế tài này

Cụ thể, đề tài “chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)” sẽ nghiên cứu các vấn đề sau:

- Áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, bao gồm: điều kiện áp dụng chế tài, các trường hợp miễn trừ áp dụng chế tài, các quy định liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong CISG như gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ hoặc tự khắc phục thiệt hại

- Vai trò hài hòa hóa pháp luật của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Một số ưu thế của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng so với các chế tài khác trong Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Một số vấn đề pháp lý trong việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng so với các chế tài khác trong Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Những nội dung này sẽ được tác giả nghiên cứu, phân tích chủ yếu và tập trung trong phạm vi các quy định của Công ước Viên Thói quen áp dụng pháp luật của hệ thống pháp luật thông luật và dân luật, Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa

Kỳ (UCC) cũng là nguồn luật để tác giả tham khảo, đối chiếu trong đánh giá chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo CISG

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng xuyên suốt đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, đối với các nội dung trong đề tài, tác giả sử dụng phối hợp và riêng lẻ các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích và bình luận: nhằm giải thích, làm rõ vấn đề Phương pháp phân tích được áp dụng chủ yếu cho chương 1 để làm sáng tỏ, dễ hiểu các quy định về việc áp dụng buộc thực hiện đúng hợp đồng Bên cạnh đó, phương pháp bình luận được áp dụng chủ yếu tại chương 2, song song với những vấn đề đã được phân tích ở chương 1 để rút ra được những đánh giá về vai trò, ưu thế và khó khăn của chế tài này

Phương pháp thống kê: được sử đụng để tìm hiểu về thực tiễn xét xử, các vụ

án liên quan đến mỗi yếu tố của việc áp dụng chế tài được phân tích Từ đó, phương pháp chọn lọc được vận dụng để xác định vụ việc nào mang tính liên quan, điển hình và gần với thời gian nghiên cứu nhất để tăng tính thuyết phục cho mỗi ví dụ minh họa thực tiễn đồng thời góp phần làm sáng tỏ vấn đề được phân tích

Phương pháp so sánh: được tác giả vận dụng trong lựa chọn bản án và xác định ưu thế, khó khăn trong tương quan giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

và chế tài khác trong Công ước Phương pháp so sánh đồng thời góp phần tìm ra sự thật khách quan, tính chính xác cho lý luận, thực tiễn và đánh giá chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Phương pháp quy nạp, tổng hợp: từ những phân tích, đánh giá chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, kết luận về việc áp dụng và đánh giá đó sẽ được rút ra Kết luận cuối mỗi chương và cuối đề tài sẽ được cung cấp qua phương pháp tổng hợp để có cái nhìn bao quát, rút gọn về đối tượng nghiên cứu của đề tài

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Đề tài được kết cấu với bố cục như sau:

Trang 13

CHƯƠNG 1

ÁP DỤNG CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG

Để áp dụng chính xác và có hiệu quả chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, hiểu biết về các điều kiện

áp dụng, các lưu ý cụ thể và các vấn đề liên quan là cực kỳ quan trọng Chương 1 vì thế sẽ cụ thể hóa việc áp dụng chế tài theo các nhóm: điều kiện chung, các điều kiện

cụ thể cho các biến thể của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các quy định

đáng lưu ý về gia hạn thực hiện nghĩa vụ, tự khắc phục vi phạm

1.1 Điều kiện chung cho việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

CISG nổi tiếng với số lượng lớn các thành viên đến từ nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Các quy định của CISG đã được áp dụng phổ biến ngay cả giữa các thương nhân đến từ các quốc gia không là thành viên Công ước Viên, thể hiện bởi lượng án lệ đồ sộ6

áp dụng Công ước này Khi một bên vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng, có nhiều chế tài mà bên còn lại có thể lựa chọn áp dụng để bù đắp tổn thất của mình Bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng, tìm một đối tác khác, tính toán thiệt hại để yêu cầu bồi thường, cũng có thể yêu cầu giảm giá hay lãi chậm trả Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, bồi thường thiệt hại, hủy bỏ hợp đồng hay các chế tài khác không thể bù đắp hết những tổn thất gây ra cho bên có quyền cũng như không thể đáp ứng những mong muốn ban đầu mà họ mong đợi từ việc giao kết Buộc thực hiện đúng hợp đồng trong CISG cho thấy ưu thế trong nhiều trường hợp

mà bên có quyền muốn duy trì mối quan hệ hợp đồng và quyền mà bên này đáng được hưởng không thể thay thế bởi bất cứ biện pháp khắc phục hay chế tài nào khác

CISG không quy định theo cách liệt kê danh sách các chế tài được phép áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như không quy định tập trung các điều kiện áp dụng, các ràng buộc của mỗi chế tài, mà thay vào đó CISG được cấu trúc với các điều luật nằm khá rời rạc nhưng lại liên kết chặt chẽ với nhau Điều 46(1) và Điều 62 cho phép lần lượt bên mua và bên bán yêu cầu bên kia thực hiện đúng các nghĩa vụ tương ứng như đã cam kết trong hợp đồng Ngoài quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng nói chung, bên mua trong các trường hợp cụ thể, còn có thể yêu cầu sửa chữa hàng hóa khiếm khuyết hoặc yêu cầu giao hàng thay thế nếu vi phạm của bên bán cấu thành vi phạm cơ bản Việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ràng buộc các điều kiện nhất định như được trình bày dưới đây, bao gồm:

- Chứng minh tồn tại vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và tính hợp lý của yêu cầu;

- Thông báo cho bên kia theo đúng quy định tại Điều 39;

- Nghĩa vụ không được miễn trừ do bất khả kháng (Điều 79) hoặc do hoàn cảnh thay đổi cơ bản (hard ship);

- Bên có quyền không áp dụng các chế tài mâu thuẫn;

6

Tính đến tháng 12 năm 2016, có hơn 4500 vụ việc liên quan đến CISG đã được giải quyết, xem: Digest of Case Law on the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, http://www.uncitral.org/pdf/english/clout/CISG_Digest_2016.pdf, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 14

- Không bị từ chối áp dụng theo Điều 28;

- Thời hạn bổ sung hợp lý cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm;

- Nghĩa vụ hạn chế tổn thất theo Điều 77; và

- Vi phạm cơ bản trong trường hợp cụ thể theo Điều 25 và Điều 46(2)

1.1.1 Vi phạm của một bên

Trong quan hệ hợp đồng, vi phạm của một bên là điều kiện quan trọng và cơ bản nhất, là cơ sở cho bên bị vi phạm quyết định loại chế tài cần phải thực hiện Để yêu cầu bên vi phạm thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, trước hết bên bán hoặc bên mua phải chứng minh được bên kia có một nghĩa vụ cần phải thực hiện theo cam kết trong hợp đồng và bên đó đã vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ này

Tiền thân của CISG - Công ước về luật hợp đồng mua bán quốc tế thống nhất (“ULIS”) quy định điều kiện khá chặt chẽ cho quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên mua Theo Điều 25 ULIS, bên mua nếu có thể mua hàng hóa thay thế trong khả năng hợp lý và phù hợp với tập quán thì không có quyền buộc bên bán thực hiện đúng hợp đồng7 Tuy nhiên, đến khi CISG chính thức ra đời, Công ước đã không còn giới hạn quyền này chỉ dành cho bên mua hay quy định áp đặt điều kiện thực hiện như trước đó nữa Vi phạm hợp đồng của một bên, bất kể bên bán hay bên mua, là điều kiện để bên còn lại thực thi quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng

CISG không đưa ra định nghĩa thế nào là vi phạm hợp đồng Tuy vậy, tiếp cận

từ các điều luật quy định về các chế tài: buộc thực hiện đúng hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, bồi thường thiệt hại thì vi phạm hợp đồng được hiểu bao gồm tất cả các hành

vi không tuân thủ cam kết hợp đồng mà không phân biệt đó là nghĩa vụ chính hay phụ, kể cả những trường hợp được miễn trách nhiệm Tìm hiểu về các dạng vi phạm hợp đồng là tiền đề cho việc tìm hiểu điều kiện và cơ chế áp dụng của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong CISG

Theo CISG, hợp đồng mua bán hàng hóa quy định cho bên mua nghĩa vụ thanh toán tiền và nhận hàng8, còn bên bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ và chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua9 Bất kỳ hành vi nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trên, chẳng hạn bên mua không thanh toán tiền, thanh toán chậm, thanh toán thiếu, không nhận hàng hoặc bên bán không giao hàng, giao hàng trễ, giao hàng thiếu, giao hàng không phù hợp (tương tự trong trường hợp giao chứng từ và việc chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua) là vi phạm hợp đồng Trên cơ sở các vi phạm đó, Điều 46 và Điều 62 CISG cho phép bên còn lại buộc bên kia thực hiện đúng hợp đồng

Như vậy, vi phạm hợp đồng với tính chất là cơ sở để yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng, có thể được chia làm 4 nhóm chính:

7

UNCITRAL (1977), "Report of the Committee of the Whole I Relating to the draft Convention on the

International Sale of Goods", UNCITRAL Yearbook, VIII, tr 42

Trang 15

(1) Không thực hiện nghĩa vụ;

(2) Chậm thực hiện nghĩa vụ;

(3) Thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ; và

(4) Thực hiện nghĩa vụ không phù hợp

Việc không thực hiện nghĩa vụ (1) trong hợp đồng biểu hiện qua thực tế là các trường hợp bên bán không giao hàng, không giao chứng từ, không chuyển giao quyền sở hữu cho bên mua Về phía bên mua, đó là việc không thanh toán hoặc không nhận hàng Trong vụ án “đồng hồ đeo tay”, hợp đồng của các bên được ký vào ngày 30 tháng 3 năm 1994 (Bên mua 1) và ngày 15 tháng 5 năm 1994 (Bên mua 2) về phân phối độc quyền đồng hồ đeo tay (hàng hóa hợp đồng nói trên) trên toàn Mexico Nhưng cho đến tháng 12 năm 2000, bên mua vẫn chưa thực hiện thanh toán cho bên bán Bên bán sau đó đã viện dẫn Điều 62 và Điều 78 yêu cầu bên mua thực hiện đúng hợp đồng là thanh toán cho bên bán đồng thời yêu cầu lãi chậm trả10

Khác với các vi phạm khác cùng nhóm, đối với vi phạm không nhận hàng của bên mua, bên bán thường không buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng như cơ quan tài phán hiếm khi đưa ra phán quyết buộc bên mua nhận hàng Chế tài được áp dụng thường là hủy bỏ hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại Thực tế, bên bán đã không lựa chọn chế tài buộc bên mua nhận hàng hóa là “ô tô” khi bên mua thông báo rằng bên này không thể nhận hàng vì sự dao động cực đoan của tỉ giá hối đoái Thay vào

đó, bên bán yêu cầu thanh toán tiền bảo lãnh và bồi thường thiệt hại, mặc dù cuối cùng, phán quyết của Tòa là không chấp nhận yêu cầu của bên bán11

Vụ án “áo khoác Lambskin” là minh chứng cho việc Tòa án đã không đưa ra phán quyết buộc bên mua nhận hàng khi bên mua từ chối nhận hàng hóa không phù hợp và đưa ra thông báo cho bên bán không đúng thời điểm12

Nhóm thứ (2) - chậm thực hiện nghĩa vụ - điển hình bởi các vi phạm của bên bán như chậm giao hàng, chậm giao chứng từ, chậm chuyển giao quyền sở hữu Còn với bên mua, các vi phạm cụ thể sẽ là chậm thanh toán tiền hay chậm thực hiện nghĩa vụ nhận hàng Thông thường, bằng thiện chí của các bên, bên bị vi phạm sẽ gia hạn thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ cho bên kia13 Tuy nhiên, với việc mất đi các lợi ích trong kinh doanh và thiệt hại trong nhiều trường hợp, bên vi phạm sẽ áp dụng các chế tài khác cùng với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Nhóm thứ (3) - thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ - có thể được nhận diện qua các trường hợp: giao thiếu hàng (chẳng hạn số lượng là 100 cái nhưng chỉ giao 80 cái trong thời gian đã thỏa thuận), giao thiếu chứng từ liên quan hay chuyển giao quyền sở hữu không đầy đủ (ví dụ, bán 100 cái xe ô tô nhưng chỉ chuyển giao quyền sở hữu cho 80 cái) hoặc nghĩa vụ nhận hàng, thanh toán không đầy đủ của bên mua

Trang 16

Đối với nhóm vi phạm hợp đồng số (4), thực hiện nghĩa vụ không phù hợp, thường liên quan đến nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng của bên bán, sẽ được phân tích rõ hơn ở phần dưới đây

Một vấn đề cần lưu ý liên quan đến việc bên bán giao thiếu chứng từ hoặc giao chứng từ14 không phù hợp Điều 30 CISG cho thấy ngoài nghĩa vụ giao hàng, bên bán còn có nghĩa vụ giao chứng từ Vậy thì, nếu bên bán vi phạm một trong các nhóm vi phạm vừa nêu thì sao? Bên mua có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa hay thay thế các chứng từ này hay không? Theo tác giả, bên mua không thể viện dẫn quy định tại Điều 46 (2) và 46 (3) để yêu cầu bên bán thay thế hay sửa chữa chứng

từ không phù hợp, đơn giản vì các quy định này chỉ áp dụng cho đối tượng là hàng hóa Theo quan điểm của tác giả, bên mua trong trường hợp này không mất đi quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng mà vẫn có thể viện dẫn Điều 46 (1) - áp dụng cho các trường hợp chung để yêu cầu bên bán thực hiện đúng hợp đồng

Lưu ý rằng hợp đồng được xem xét trong trường hợp này phải thuộc phạm vi

áp dụng của CISG và các bên không thỏa thuận từ chối áp dụng CISG hoặc quy định vào hợp đồng loại trừ việc áp dụng một số điều khoản tương ứng liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong CISG

1.1.2 Thông báo của bên bị vi phạm cho bên vi phạm

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nếu có vi phạm xảy ra, việc khắc phục phải được xem xét trong hoàn cảnh cụ thể, có tính đến các yếu tố liên quan như khoảng cách địa lý, tính thuận tiện, hợp lý và thiện chí giữa các bên nhằm quyết định biện pháp khắc phục, đặc biệt là buộc thực hiện đúng hợp đồng Thông báo của bên có quyền cho bên vi phạm là một trong những điều kiện cơ bản để áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng Nếu bên bị vi phạm phát hiện ra việc vi phạm hợp đồng nhưng lại không thông tin cho bên kia thì bên vi phạm khó lòng biết và thực hiện yêu cầu buộc thực hiện của bên đó Đồng thời, thông báo được đưa ra vào thời điểm nào, trong thời hạn bao lâu, nội dung và hình thức như thế nào cần được cân nhắc qua các yếu tố được đề cập trong những hoàn cảnh cụ thể

Vấn đề đặt ra là liệu bên có quyền yêu cầu buộc thực hiện có thể không đưa ra thông báo cho bên kia được hay không Câu trả lời là không, bởi lẽ việc “buộc thực hiện” đã cho thấy sự bắt buộc đưa ra “yêu cầu” cho bên kia biết và thực hiện

Từ ngữ trong Điều 46 (1) và Điều 62 không nhắc đến nghĩa vụ thông báo Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, chế tài này không thể được áp dụng nếu bên bị vi phạm không được thông báo về vi phạm của mình cũng như yêu cầu của bên kia để thực hiện đúng nghĩa vụ Điều 46 (2), Điều 46 (3) quy định nghĩa vụ thông báo hợp

lệ của bên mua đối với bên vi phạm khi hàng hóa được bên bán giao cho bên mua không phù hợp với hợp đồng khi đưa ra yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng Điều 39 CISG cho thấy bên mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng nếu bên mua không thông báo cho bên bán Trường hợp ngoại lệ duy nhất cho trường hợp bên mua gửi thông báo cho bên bán yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng không đáp ứng các điều kiện tương ứng (được trình bày dưới đây) nhưng bên bán không có quyền viện dẫn quy định về thông báo này để từ chối

14

Theo Điều 34 CISG: chứng từ được nhắc đến trong đề tài hiểu chung là chứng từ liên quan đến hàng hóa

Trang 17

yêu cầu là khi sự không phù hợp của hàng hóa liên quan đến các yếu tố mà bên bán

đã biết hoặc không thể không biết và họ đã không thông báo cho bên mua15

Thực tế cho thấy Tòa án đã từng bác bỏ lập luận của bên mua về việc bên bán giao hàng không phù hợp và chấp nhận yêu cầu thanh toán của bên bán vì thông báo

mà bên mua đưa ra không đáp ứng điều kiện về thời gian như quy định tại Điều 39 Trong vụ việc “dưa hấu”, Tòa án đã xác định rằng bên mua không có căn cứ để khẳng định rằng bên bán biết hoặc phải biết về khiếm khuyết của hàng hóa để loại

bỏ quyền viện dẫn Điều 39 của bên bán, đồng thời cũng không có lý do hợp lý khác

để giải thích cho việc không đưa ra thông báo hợp lý Cùng với những căn cứ khác, Tòa đã chấp nhận yêu cầu thanh toán theo Điều 62 của bên bán và bác bỏ việc dựa vào sự thiếu sót hàng hóa của bên mua16

1.1.2.1 Nội dung của thông báo

Công ước Viên không quy định minh thị những nội dung nào cần được đề cập trong thông báo Điều 39 chỉ ngụ ý rằng, nội dung của thông báo phải bao gồm “tin tức về sự không phù hợp” Nên hiểu “tin tức về sự không phù hợp” này bao gồm cái

gì, nhiều quan điểm đã được đặt ra trong nghiên cứu

Trong vụ án “chăn Acrylic”, Tòa án đã xác định rằng thông báo của bên mua cho bên bán không đủ chi tiết để từ chối yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên mua Bên mua đã thông báo về 5 cuộn chăn bị thiếu nhưng lại không đề cập đến nội dung muốn bên bán khắc phục như thế nào theo Điều 3917 Như vậy, yêu cầu cụ thể của bên bán khắc phục hàng hóa khiếm khuyết như thế nào được xem là một trong những nội dung quan trọng của thông báo

Nêu ra tính chất hay chính là việc mô tả hàng hóa khiếm khuyết như thế nào cũng được xem là một trong những nội dung quyết định tính hợp lệ của thông báo Theo Tòa án, bên mua đã thất bại trong việc thông báo cho bên bán khi thông báo không có nội dung mô tả đầy đủ tính chất của sự không phù hợp Tòa án không tìm thấy bức thư mà bên mua gửi cho bên bán mang nội dung là sự khiếu nại về điều kiện thực tế của hàng hóa, nhưng chúng được hiểu là lời nhắc nhở cài đặt thiết bị Dựa vào Điều 8(2) CISG để diễn giải hành vi của bên mua, lời nhắc nhở đó được xem là thông báo cho bên bán Tuy nhiên, thông báo này lại không chứa đựng bất

cứ sự mô tả hàng hóa không phù hợp nào Thông báo của bên mua trong trường hợp này được xem là không đáp ứng điều kiện về mặt nội dung, do đó, hạn chế quyền của bên mua buộc bên bán thực hiện đúng hợp đồng18

Một vài trường hợp khác, Tòa án còn buộc bên mua không những mô tả tính chất của sự không phù hợp mà còn phải xác định chính xác hoặc chính xác đến mức

15

Điều 40 CISG: “Bên bán không có quyền viện dẫn các quy định của các điều 38 và 39 nếu như sự không phù hợp của hàng hóa liên quan đến các yếu tố mà bên bán đã biết hoặc không thể không biết và họ đã không thông báo cho bên mua”

Trang 18

cao nhất có thể (tùy theo đánh giá tình huống) bản chất của khiếm khuyết đó19 Thực tiễn cho thấy, nội dung thông báo còn phải chỉ ra được không chỉ là bản chất

mà còn các yếu tố khác của sự không phù hợp đi kèm kết quả kiểm tra của bên mua

về hàng hóa Nội dung thông báo cũng nên chi tiết ở mức độ đủ để bên bán có thể hiểu được yêu cầu của bên mua đối với việc thực hiện các bước tiếp theo cho thích hợp (ví dụ: tiến hành kiểm tra hàng hóa, bảo vệ bằng chứng cần thiết cho nguy cơ tranh chấp, lên kế hoạch giao hàng thay thế hoặc phương án khắc phục khác…) Có thể nói, nội dung thông báo nên là “một bức tranh hoàn thiện về việc khiếu nại” của bên mua, cái mà bên này muốn truyền tải cho bên bán Thông báo phản hồi cho việc giao hàng không đầy đủ có thể bao gồm cả chất lượng không phù hợp hoặc hàng hóa được giao thuộc trường hợp “aliud20

”21

Tựu chung lại là những điều kiện cơ bản của hàng hóa như: số lượng, phẩm chất và những gì mô tả trong hợp đồng như quy định tại Điều 35 sẽ là cơ sở cho việc xác định nội dung thông báo cần có cho yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng Không những thế, thông báo còn phải chỉ rõ hàng hóa đó là gì Trong một phán quyết của Tòa án, do máy móc nông nghiệp bị khiếm khuyết mà bên mua yêu cầu sửa chữa chỉ là một loại trong số nhiều loại mua từ bên bán, yêu cầu chi tiết về

số sê-ri hoặc ngày giao hàng đã được xem là nội dung của thông báo Bởi vì, xem xét từ tính hợp lý, bên bán bắt buộc phải tìm kiếm tài liệu cho hàng hóa đó để đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của bên mua

Ngoài ra, mỗi khiếm khuyết hay sự không phù hợp phải được mô tả riêng lẻ với các khiếm khuyết khác, trường hợp giao thiếu hàng thì phải xác định chính xác

số lượng bị giao thiếu22

Mặc dù một số lượng lớn án lệ được viện dẫn cho các lập luận về nội dung thông báo trên đây, quan điểm của tác giả là không nên quá đặt nặng về vấn đề nội dung thông báo Hiểu rằng nội dung thông báo của một bên là cơ sở thuận lợi để bên kia thực hiện đúng hợp đồng, khắc phục những vi phạm mà họ đã phạm phải Tuy nhiên, vào thời đại công nghệ số như hiện nay, việc liên lạc giữa các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa trở nên cực kỳ đơn giản chỉ với sự hỗ trợ của thiết bị điện tử có kết nối in-tơ- net Nếu không rõ về nội dung, bên bán có thể liên lạc lại với bên mua Một số phán quyết liên quan của Tòa án đã không ủng hộ việc đòi hỏi điều kiện chặt chẽ quá mức như đã phân tích ở trên Điều kiện về nội dung của thông báo đưa ra trong quá trình buộc thực hiện đúng hợp đồng nên được tính toán với các yếu tố khách quan lẫn chủ quan, mối quan hệ giao thương, văn hóa và thói quen thương mại giữa các bên23

Trang 19

Như vậy, thông báo mà bên bị vi phạm đưa ra cho bên vi phạm yêu cầu bên này thực hiện đúng hợp đồng nên mang nội dung bày tỏ yêu cầu, mô tả về vi phạm

mà bên vi phạm đã phạm phải và nêu các thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến hàng hóa mang vi phạm cần khắc phục Yêu cầu về nội dung thông báo - cơ sở cho việc từ chối yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên bị vi phạm - nên được cân nhắc theo nhiều yếu tố như đã đề cập, trên cơ sở thiện chí và hợp lý cho cả hai bên

1.1.2.2 Thời hạn đưa ra thông báo

Thời hạn đưa ra thông báo có ý nghĩa quan trọng đối với hai bên, thể hiện nguyên tắc trung thực thiện chí, nhằm duy trì mối quan hệ giữa các bên CISG không giới hạn thời hạn này trong bao lâu ngoài tính “hợp lý” cho thời hạn quy định tại Điều 39 (1) và thời hạn tối đa 2 năm trong mọi trường hợp theo Điều 39 (2) Thời hạn tốt nhất để xác định thông báo hợp lý là 9 ngày sau khi giao (hàng hóa bền

và không mang tính mùa vụ), 14 ngày cho việc kiểm tra và thông báo, từ 2 tuần cho đến 1 tháng sau khi giao, 1 tháng sau khi giao và 6 tuần sau khi giao… đã từng được đề xuất24

nhưng không thời hạn cụ thể nào được chấp nhận

Dựa trên thực tiễn các án lệ đã được giải quyết cho các tranh chấp về vấn đề đưa ra thông báo buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng như tham khảo quan điểm của nhiều luật gia, nhà nghiên cứu về CISG, tác giả cho rằng để xác định thời hạn thông báo nên dựa vào các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, tính “hợp lý” của thời hạn thông báo

Tính hợp lý của thời hạn thông báo chính là thước đo cho việc tính toán thời hạn này Dựa vào hoàn cảnh của vi phạm trong từng vụ việc, tính hợp lý này cũng được xác định theo nhiều góc độ Sự cân bằng về lợi ích kinh tế, tính chất của hàng hóa, số lượng hàng hóa cần kiểm tra, khả năng thực hiện nghĩa vụ của các bên được cân nhắc để đánh giá tính hợp lý

Tòa án đã cho rằng việc bên mua không đưa ra thông báo trong một thời gian hợp lý là không đáng kể vì người này giải thích được lý do không đưa ra thông báo trên cơ sở cân nhắc lợi ích kinh tế của các bên Yêu cầu giảm giá của bên mua trong trường hợp này đã được chấp nhận25

Tuy nhiên, xét từ yếu tố lợi ích kinh tế, việc buộc thực hiện đúng hợp đồng đã không cho thấy ưu thế của mình

Thực tiễn cũng cho thấy rằng tính chất của hàng hóa, cụ thể là hàng hóa có dễ

hư hỏng hay không, có yêu cầu sự phức tạp trong kiểm tra hay không… là yếu tố quan trọng trong đánh giá thời hạn đưa ra thông báo Tòa án trong vụ án giao “dưa hấu” đã đề cập ở trên cho rằng thời hạn là ngay lập tức hay vài ngày sau đó (do tính chất hàng hóa “dưa hấu” là dễ hư hỏng)26 Do đó, việc bên mua thông báo cho bên bán vào ngày làm việc kế tiếp mặc dù đã sau 3 ngày trên thực tế (thứ 6 đến thứ 2) được xem là hợp lý Trong một vụ án khác (vụ án áo khoác Lamskin đã dẫn) minh chứng cho yếu tố đơn giản hay phức tạp trong kiểm tra và đánh giá hàng hóa khiếm

24

UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 39 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-39.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 20

khuyết, Tòa án nêu quan điểm rằng thời gian 02 tuần cho thông báo là khá “hào phóng” Áo khoác là đối tượng dễ kiểm tra cũng như bên mua hoàn toàn có khả năng kiểm tra nhanh chóng qua một vài mẫu áo khoác để xác định vi phạm Tòa cũng chỉ ra rằng khoảng thời gian mà CISG quy định nhằm mục đích cho bên mua

cơ hội thông báo cho bên bán về bất kì khiếm khuyết nào trước khi mang nó đi bán lại, đồng thời, không có lý do gì để mở rộng khoảng thời gian cho việc kiểm tra hàng hóa và thông báo này (Điều 38 và Điều 39(1) CISG)27

Ngoài ra, khả năng thực hiện nghĩa vụ của các bên, tức là thời gian cho quá trình đánh giá việc bên vi phạm có thể thực hiện yêu cầu của bên bị vi phạm hay không (quy mô, tiềm lực, khả năng của bên bán tiếp tục thực hiện hợp đồng, thay thế hay sửa chữa hàng hóa; tiềm lực kinh tế của bên mua cho việc thanh toán đúng hạn, lãi chậm trả, nghĩa vụ nhận hàng…) cũng góp phần vào việc xác định tính hợp

lý của thời hạn thông báo

Thứ hai, thời điểm bắt đầu đưa ra thông báo

Thời điểm bắt đầu đưa ra thông báo buộc thực hiện được thống nhất ngay khi phát hiện có hành vi vi phạm hợp đồng hoặc buộc phải phát hiện ra vi phạm đó (tương ứng nghĩa vụ của bên bán và bên mua tại Điều 30 và Điều 53) Tòa án trong

vụ án “dưa hấu” đã xác định rằng, thời điểm bắt đầu nghĩa vụ thông báo là khi bên mua kiểm tra hàng hóa (ngay sau khi nhận hàng) và phát hiện khiếm khuyết Kiểm tra hay buộc phải phát hiện được xem xét là nghĩa vụ Thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ này cũng phải “hợp lý” theo như phân tích trong phần thời hạn hợp lý ở trên, nghĩa là căn cứ vào hoàn cảnh Do đó, tính chất, số lượng hàng hóa, kiến thức kiểm tra cần có của bên mua cũng như mức độ đơn giản, phức tạp để đánh giá hàng hóa khiếm khuyết, có vi phạm hợp đồng xuất hiện là các yếu tố để cơ quan tài phán quyết định thời điểm bắt đầu đưa ra thông báo buộc thực hiện đúng hợp đồng

Trong một vụ việc, Toà án đã bác bỏ yêu cầu bồi thường của bên mua và cho rằng đối với hàng hóa là “tấm phim bảo vệ bề mặt” thì thời hạn kiểm tra hợp lý là 3 hoặc 4 ngày (Điều 38 (1) CISG), mức độ kiểm tra phụ thuộc vào loại hàng hoá, bao

bì và khả năng thử nghiệm Thử nghiệm cho thấy khi bên mua đã kiểm tra trong vòng 3 hoặc 4 ngày sau khi giao hàng, khiếm khuyết sẽ được phát hiện trong vòng 7 ngày Với hàng hoá thuộc loại bền như trên (phân biệt với hàng hóa mùa vụ, dễ hư hỏng), cần thông báo cho bên bán trong vòng 8 ngày sau khi sự không phù hợp phải được phát hiện Do đó, thông báo trên được đưa ra sau khi đã hết thời hạn hợp lý Hơn nữa, bên mua không giải thích được lý do không thông báo để áp dụng điều 44 CISG28 Án lệ khác cho thấy thời gian hợp lý bắt đầu tính từ thời điểm bên mua phát hiện ra sự không phù hợp của hàng hóa Tòa án đã xác định thời hạn kiểm tra hợp lý để khẳng định thời điểm bên mua biết hoặc phải biết về sự không phù hợp

đó, đồng thời lập luận của Tòa cũng là một minh chứng cho việc dựa vào tính chất hàng hóa, bao bì, khả năng thử nghiệm, kiểm tra phát hiện vi phạm để quyết định xem thời hạn thông báo có hợp lý hay không

Trang 21

Điều 39 không quy định một hình thức thông báo cụ thể bắt buộc Thực tế cho thấy, các bên có thể thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng Trong một vụ việc, bên bán (Italia) đã dựa vào điều khoản hợp đồng quy định các trao đổi qua lại của các bên phải bằng văn bản để cho rằng bên mua (Mỹ) đã đưa ra thông báo không đúng

về hình thức Lập luận này đã được Tòa án chấp nhận29

Án lệ giải quyết tranh chấp của các bên chấp nhận nhiều hình thức thông báo nếu các bên không có thỏa thuận khác: có thể bằng lời nói (trực tiếp hoặc qua điện thoại); bằng văn bản (thư tay, fax, email…) hoặc có thể bằng cử chỉ Cũng trong vụ

án “dưa hấu”, việc bên mua trao đổi qua điện thoại với nhân viên của bên bán về khiếm khuyết của hàng hóa và dự định chế tài áp dụng được xem là hình thức thông báo hợp lệ

1.1.3 Các trường hợp không áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Một bên không thể buộc bên kia thực hiện đúng hợp đồng nếu căn cứ vào CISG, nghĩa vụ này có đầy đủ các điều kiện để được miễn trừ Các nghĩa vụ có thể được miễn trừ, tức là bên vi phạm sẽ không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào do hành vi vi phạm nghĩa vụ trong các trường hợp: bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi

cơ bản (hardship) hoặc sơ suất của bên bị vi phạm, bị tòa án từ chối áp dụng vì thỏa mãn điều kiện tại Điều 28

1.1.3.1 Trường hợp bất khả kháng

Mặc dù còn nhiều tranh cãi30, sự miễn trừ do trường hợp bất khả kháng đã được áp dụng để từ chối nhiều yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng trên thực tế Căn cứ để áp dụng trường hợp bất khả kháng quy định tại Điều 79 (1) CISG, miễn trừ nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng chính là trở ngại khách quan Trở ngại đó

phải đáp ứng các điều kiện: Thứ nhất, trở ngại vượt quá tầm kiểm soát của bên vi phạm; Thứ hai, bên vi phạm không bắt buộc phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng; Thứ ba, bên vi phạm không thể tránh được trở ngại hay khắc phục được

các hậu quả của nó Trong một vụ việc, bên mua đã không gửi tiền vào tài khoản tại ngân hàng Nga Tuy nhiên, bên mua đã cung cấp được bằng chứng cho thấy trở ngại vượt quá tầm kiểm soát và bên mua không thể tính toán đến trở ngại này, đồng thời không thể tránh hay khắc phục được trở ngại đó để biện minh cho vi phạm hợp đồng của mình Tòa án đã chấp nhận miễn trừ nghĩa vụ thực hiện cho bên mua31

Người thứ ba thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của bên vi phạm nếu trong một trường hợp bất khả kháng đáp ứng các điều kiện như trên thì người này cùng với bên vi phạm cũng sẽ được miễn trách theo Điều 79 (2)

cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng một cách trực tiếp Xem: Peter Huber (2007), The CISG – a new textbook

for students and practioners, Sellier European Publisher, tr 192-193

31

Quyết định của Tòa phúc thẩm khu vực Moscow (Nga) ngày 04 tháng 02 năm 2002, số KG-A40/308-02, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/020204r1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 22

Cũng cần chú ý đến nghĩa vụ thông báo trong một thời hạn hợp lý về việc gặp trường hợp trở ngại và ảnh hưởng của nó đến khả năng thực hiện nghĩa vụ, cân nhắc rằng bên vi phạm – bên gặp phải trường hợp bất khả kháng này đã biết hoặc đáng lẽ phải biết về trở ngại đó Nếu không thông báo trong thời gian hợp lý, bên vi phạm

sẽ không được miễn trừ đồng thời phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do bên kia không nhận được thông báo

Miễn trừ chỉ được áp dụng trong thời kì tồn tại trở ngại nêu trên Sau khi trở ngại biến mất, bên vi phạm sẽ không được miễn trừ việc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng Trong vụ án “sợi Acrylic”, do chiến tranh bùng nổ nên bên bán sau khi giao hàng đợt 1 không thể hoàn tất thủ tục để việc giao hàng các đợt tiếp theo đúng thời hạn Tuy nhiên, sau khi trở ngại kết thúc, Tòa án chỉ ra rằng bên bán vẫn không cho thấy một dự định giao hàng theo Điều 46 Như vậy, sau khi trở ngại không còn, quyền miễn trừ theo đó cũng không còn phù hợp

1.1.3.2 Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (hardship)

Hardship (change of circumstance), trong bối cảnh hợp đồng tạm dịch là thay đổi hoàn cảnh hợp đồng, hay đã được các nhà làm luật Việt Nam nội luật hóa thành quy định về “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”32

với nội hàm tương tự Đây được hiểu là quy định cho phép một bên trong hợp đồng có quyền yêu cầu bên còn lại đàm phán lại để điều chỉnh hợp đồng khi có những thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh doanh tới mức gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến quyền lợi của một bên, làm mất sự cân bằng kinh tế của hợp đồng, làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên cực kỳ khó khăn và tốn kém33

Tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về vấn đề hoàn cảnh thay đổi cơ bản có phải là một trường hợp bất khả kháng hay không Hoàn cảnh thay đổi cơ bản mang đặc điểm là một trở ngại khách quan và các bên không lường trước được tại thời điểm giao kết hợp đồng Tuy nhiên, đặc điểm không thể khắc phục thì không hẳn Theo tác giả, đối với trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, chẳng hạn giá cả biến động đột ngột, bên vi phạm vẫn có thể khắc phục được trở ngại Chỉ là bên vi phạm

sẽ gặp bất lợi đáng kể, cũng như thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế Do thiếu đặc điểm

“không thể khắc phục”, hoàn cảnh thay đổi cơ bản và bất khả kháng là hai trường hợp độc lập, không đồng nhất

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng hình thành trên nền tảng nguyên tắc thiện chí34, việc thực hiện và buộc thực hiện khiến cho một bên thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế sẽ làm mất đi tính “hợp lý” và “thiện chí” của yêu cầu Vì vậy, hoàn cảnh thay đổi cơ bản dù độc lập với trường hợp bất khả kháng và hầu như không được ghi nhận trong cơ sở pháp lý theo CISG thì vẫn nên được xem là một trong những trường hợp được miễn trừ

32

Điều 418 Bộ luật dân sự 2015

33

Nguyễn Chí Thắng (2017), “Phân tích sự thay đổi hoàn cảnh hợp đồng (hardship) theo quy định của

CISG”, Tài liệu Hội thảo Nghiên cứu Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – Trách

nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, do Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tổ chức, tháng 05/2017, tr 177

34

John O.Honnold (1999), Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention,

3rd ed, Kluwer Law International Publisher, tr.304-312

Trang 23

Ở một mức độ nào đó, vấn đề trên đã được giải quyết Ý kiến số 7 của Hội

đồng tư vấn CISG năm 2007 đã đưa ra nhận định sau: Một sự thay đổi hoàn cảnh

mà các bên không lường trước được xảy ra khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn hơn (hardship), có thể được xem là một “trở ngại” tại điều 79(1) CISG Ngôn ngữ của điều 79(1) không thể hiện rõ rằng “sự trở ngại” tức là những

sự kiện làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên không thể Chính vì thế, nếu một bên rơi vào hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể được miễn trách nhiệm35

Mặc dù ý kiến của Hội đồng tư vấn CISG không mang tính bắt buộc áp dụng đối với các thẩm phán, nhưng kể từ khi có sự xuất hiện của nhận định trên, các thẩm phán cũng đã mạnh dạn trong việc đưa ra phán quyết xem hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một trường hợp được miễn trách nhiệm36 Trong một vụ án liên quan đến hợp đồng mua bán thép giữa các bên, việc giá cả leo thang khiến bên bán gặp nhiều khó khăn trong việc giao hàng nếu không điều chỉnh giá (hợp đồng các bên không quy định) Tòa đã áp dụng Điều 79 (1) CISG để miễn trách cho bên bán nhưng không đồng nhất trường hợp này với trường hợp bất khả kháng37

1.1.3.3 Sơ suất của bên có quyền

Mặc dù các vi phạm nêu trên của một bên, bên bị vi phạm có thể không có quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng nếu bên vi phạm viện dẫn Điều 80 để

từ chối yêu cầu này Cụ thể, theo Điều 80 CISG bên mua không thể yêu cầu bên bán thực hiện đúng các nghĩa vụ nếu sự không thực hiện đúng đó là kết quả từ hành vi hay sơ suất của bên mua và ngược lại Điều 80 thường được sử dụng như một công

cụ phân loại quyền khi mà các bên đều thất bại trong thực hiện nghĩa vụ Có thể coi đây là một trường hợp miễn trừ nghĩa vụ của bên vi phạm khi bị buộc thực hiện đúng hợp đồng nếu bên này chứng minh được sơ suất hay lỗi của bên có quyền tác động lớn đến mức bên này không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ

Các quyết định áp dụng điều 80 để xác định bên nào bị coi là vi phạm hợp đồng có thể có những sự kiện bất thường hoặc phức tạp Xem xét trường hợp bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa là máy móc cho bên mua, bên mua có nghĩa vụ thanh toán trước Trước khi máy được giao, nhà sản xuất mà bên bán ký hợp đồng phân phối đã chấm dứt thỏa thuận phân phối với bên bán và từ chối bán hàng cho bên bán Thay vào đó, nhà sản xuất đã vận chuyển hàng hoá trực tiếp đến bên mua Bên mua cũng không thanh toán cho bên bán mà dựa vào Điều 80 với lý do bên bán không đáp ứng nghĩa vụ ghi nhãn hàng hóa lên máy để được miễn trừ thanh toán Tòa án đã bác bỏ yêu cầu dựa trên điều 80 của bên mua và quyết định rằng hành động chấp nhận hàng hoá của bên mua trong khi vẫn bị ràng buộc với hợp đồng với bên bán khiến bên bán tin rằng họ đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Do đó, tòa

án cho rằng, bất kỳ việc không thực hiện sau đó của bên bán là do hành động của bên mua gây ra Bên bán mới là bên được miễn trừ trên cơ sở Điều 80

Như vậy, hiểu rằng hành vi sơ suất của bên có quyền ở đây phải là hành vi, sơ suất có tác động đến nghĩa vụ trong hợp đồng của bên vi phạm và khiến bên này

35

Trích dẫn 1, CISG Advisory Council Opinion No 7, Exemption of Liability for Damages under Article 79

of the CISG, http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/CISG-AC-op7.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 24

không thực hiện nghĩa vụ Tác động đó được xem xét đối với cả nghĩa vụ ban đầu quy định trong hợp đồng lẫn các nghĩa vụ về sau như: nghĩa vụ sửa chữa hoặc thay thế hàng hóa không phù hợp của bên bán, nghĩa vụ thanh toán đúng và đủ, nghĩa vụ nhận hàng của bên mua khi có yêu cầu từ bên bị vi phạm

1.1.4 Bị từ chối áp dụng theo Điều 28

Điều 28 CISG quy định rằng ngoại trừ trường hợp đưa ra phán quyết buộc thực hiện trên cơ sở luật nước mình đối với các hợp đồng mua bán tương tự mà Công ước không điều chỉnh, tòa án không bị bắt buộc đưa ra phán quyết buộc thực hiện đúng hợp đồng Nghĩa là, nếu một bên muốn không muốn bị buộc thực hiện đúng hợp đồng dù bên bị vi phạm đáp ứng đầy đủ các điều kiện cho yêu cầu này, họ

có thể trông chờ vào sự miễn trừ tại Điều 28 Tòa án có thể từ chối yêu cầu của bên

có quyền nếu pháp luật quốc gia của bên viện dẫn Điều 28 này không bắt buộc phải

áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp tương tự Còn ngược lại, nếu pháp luật quốc gia quy định về buộc thực hiện đúng hợp đồng như trong Công ước, quy định này sẽ không được áp dụng

Chúng ta biết rằng, CISG là sự cam kết của nhiều quốc gia từ nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, điển hình nhất là hệ thống thông luật (Common Law) và dân luật (Civil Law) Trong hệ thống dân luật, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là

hệ quả tự nhiên và trước hết của nghĩa vụ hợp đồng, nói cách khác khi có vi phạm hợp đồng người ta thường ưu tiên chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thay vì các chế tài khác Ngược lại, trong hệ thống thông luật, khi có vi phạm hợp đồng người

ta thường hướng đến chế tài bồi thường thiệt hại thay vì buộc thực hiện nghĩa vụ Một vụ việc hiếm hoi mà Tòa đã từ chối đưa ra phán quyết buộc thực hiện đúng hợp đồng là trường hợp mua bán “Nhôm” giữa bên mua (Argentina và Hungary) và bên bán (Nga) Trọng tài thấy rằng pháp luật Nga (luật bên bán) và pháp luật Thụy Sỹ (luật tố tụng xác định theo quy tắc Công ước) đều không quy định áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp này Ngoài ra trọng tài không thấy rằng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài thích hợp cho vụ việc Do đó, Trọng tài đã cho phép áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại như một hình thức thay thế38

Thêm nữa, số lượng vụ án liên quan cũng cho thấy sự hạn chế chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại Điều 28 này không được áp dụng phổ biến trên thực tế

Vụ án bên mua Đức ký hợp đồng mua bán “thanh thép” với nhà phân phối Mỹ từ nhà sản xuất Ukraina cho thấy: vì luật nội địa không hạn chế buộc thực hiện đúng hợp đồng nên bên bán không thể hi vọng viện dẫn quy định này để ngăn cản yêu cầu buộc thực hiện từ bên mua Cụ thể, theo Điều 2-716 (1) UCC, buộc thực hiện đúng hợp đồng vẫn sẽ được áp dụng nếu bên mua chứng minh được hàng hóa trong hợp đồng khó có thể được tìm thấy tương tự trên thị trường39

1.1.5 Áp dụng các chế tài không thích hợp với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Quyết định của Tòa án bang Illinois (Mỹ), ngày 07 tháng 12 năm 1999, số 99 C 5153,

http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=423&step=FullText, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 25

Việc áp dụng đồng thời các chế tài mâu thuẫn sẽ gây ra tình trạng áp đặt nghĩa

vụ nặng nề bất hợp lý lên bên vi phạm40 Nếu bên bị vi phạm sử dụng một biện pháp bảo hộ không thích hợp với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của họ sẽ không được chấp nhận Các biện pháp bảo hộ được xem là không thích hợp với yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng: hủy bỏ hợp đồng theo Điều 49 hoặc Điều 64; bất kỳ biện pháp nào khác trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ cho bên kia (trừ chế tài bồi thường thiệt hại) theo Điều 47 hoặc Điều 63; bên bán bán lại hàng hóa mà bên này cầm giữ cùng với việc buộc bên mua thực hiện nghĩa vụ nhận hàng theo Điều 8841, hoặc bên mua giảm giá theo Điều 50 Ngoài các biện pháp bảo hộ không thích hợp trên, bên bị vi phạm có thể kết hợp chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với các biện pháp khác như yêu cầu bồi thường thiệt hại; yêu cầu thanh toán lãi chậm trả và tạm ngừng thực hiện hợp đồng

1.1.5.1 Các chế tài không áp dụng đồng thời với buộc thực hiện đúng hợp đồng

Được quy định tại Điều 49 và Điều 64 CISG, hủy bỏ hợp đồng là một biện pháp không được áp dụng đồng thời với buộc thực hiện đúng hợp đồng Một khi hợp đồng bị hủy bỏ, tính từ thời điểm đó, các bên không còn bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ trong hợp đồng Do đó, việc buộc thực hiện đúng hợp đồng sau khi hủy bỏ là bất khả thi Không những thế, trong khi buộc thực hiện đúng hợp đồng được xem là chế tài “thiện chí” được ưu tiên hàng đầu khi có vi phạm thì hủy bỏ hợp đồng lại là biện pháp sau cùng, khi mà hợp đồng không thể cứu vãn (ultima ratio)

Tương tự đối với giảm giá, một khi lựa chọn phương án này bên mua đã không còn lựa chọn buộc thực hiện đúng hợp đồng Thay vào đó, bên bán đã phải chấp nhận bù đắp bằng tiền cho phần khiếm khuyết của hàng hóa Do vậy không hợp lý nếu như sau đó bên bán vẫn bị buộc thực hiện đúng hợp đồng, sửa chữa hoặc thay thế hàng hóa khiếm khuyết

Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng sẽ không được áp dụng nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ nhận hàng và bên bán lựa chọn bán lại hàng hóa đó hoặc ngược lại bên mua không thể trả lại hàng hóa để yêu cầu nghĩa vụ sửa chữa hoặc thay thế trừ trường hợp quy định tại Điều 82 (2) (a) (b)42 Trong trường hợp này, đối tượng để buộc bên kia thực hiện nghĩa của mình không còn nữa Trong một vụ việc, sau khi thông báo về việc “quần Jean” được bên bán giao không đáp ứng số lượng, chất lượng như đã thỏa thuận (nhãn hàng và kích cỡ không chính xác) nhưng không nhận được hồi đáp, bên mua đã bán lại hàng hóa với giá thấp hơn Ngay sau đó, bên mua không còn quyền yêu cầu buộc bên bán giao hàng Sau đó, bên bán yêu cầu thanh toán Tuy nhiên, theo Tòa án, mặc dù theo Điều 88 (3) bên bán có quyền hưởng số tiền bán lại sau khi trừ đi chi phí hợp lý trong việc bán lại hàng hóa nhưng

40

Đặng Hoa Trang (2017), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 54

41

UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 62 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-62.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

42

Xem mục 1.2.2 Nghĩa vụ bảo quản và giữ hàng hóa đã giao của bên mua cho yêu cầu thay thế hàng hóa của đề tài này, tr 22-23 dưới đây

Trang 26

bên mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại từ những vi phạm của bên bán với tổng số tiền còn cao hơn Tòa quyết định rằng bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng

và yêu cầu bồi thường thiệt hại43

Theo Điều 47 và Điều 63 CISG, trong thời gian gia hạn cho việc thực hiện nghĩa vụ, bất kì chế tài nào trừ yêu cầu bồi thường thiệt hại đều được xem là không thích hợp với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, kể cả các yêu cầu sửa chữa, thay thế hàng hóa Trong thời gian được gia hạn này, bên vi phạm tự mình khắc phục vi phạm bằng cách thức thuận tiện và hợp lý nhất cho hai bên Bên bị vi phạm

đã đồng ý gia hạn thêm thời hạn này thì không còn có quyền lựa chọn yêu cầu nào khác Ngoại trừ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên vi phạm thực hiện nghĩa

74 CISG những thiệt hại mà bên vi phạm gây ra cho mình Tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo Điều 71 không giống như hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng là làm mất đi hiệu lực hợp đồng và giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ của họ Chế tài này cho phép bên có quyền được tạm ngừng thực hiện hợp đồng hơn là tiếp tục thực hiện và tự đưa mình vào tình thế không nhận được những gì kỳ vọng từ hợp đồng được giao kết Do đó, một bên khi sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng vẫn có thể tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình trong khi yêu cầu và chờ đợi bên kia tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng mà mình trông đợi44 Đối với yêu cầu thanh toán lãi chậm trả theo Điều 78 CISG, đây là chế tài không những không mâu thuẫn với chế tài buộc thực hiện mà còn hỗ trợ hiệu quả cho yêu cầu thanh toán của bên bán đối với bên mua khi người này không thanh toán hoặc thanh toán tiền hàng chậm trễ

1.2 Một số vấn đề liên quan đến biến thể của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Yêu cầu giao hàng hóa thay thế và sửa chữa hàng hóa khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được xem là hai biến thể từ yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng của bên mua đối với bên bán Gọi là “biến thể” bởi vì bên mua chỉ được quyền yêu cầu sửa chữa hoặc thay thế khi hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng đồng thời đi kèm thêm một số điều kiện khác ngoài các điều kiện áp dụng khi yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng trong các trường hợp chung quy định tại Điều 46 (1) Hai trường hợp này được quy định riêng tại hai khoản tại Điều 46 (1),

Nguyễn Thị Lan Hương & Ngô Nguyễn Thảo Vy (2017), “Xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ kiểm tra

và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa theo CISG”, Tài liệu Hội thảo Nghiên cứu Công ước Viên

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, do Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tổ chức, tháng 05/2017, tr80-81

Trang 27

Điều 46 (2) đi kèm các quy định liên quan tại Điều 35, Điều 39, Điều 50, Điều 51 CISG

1.2.1 Giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng

Vấn đề đầu tiên cần xử lý trước khi xem xét yêu cầu sửa chữa hoặc thay thế hàng hóa đó là: Thế nào là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng? Điều 35 (1) quy định rằng hàng hóa phù hợp với hợp đồng theo các tiêu chí: số lượng, chất lượng, bao bì hay đóng gói và những mô tả trong hợp đồng Việc giao hàng hóa không đáp ứng các tiêu chí trên được xem là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Tuy nhiên nhìn từ thực tiễn, một số phán quyết của Tòa án cho thấy các tiêu chí trên chỉ được cân nhắc để xác định tính không phù hợp khi nó ở mức độ nghiêm trọng45 Điển hình như vụ án “áo khoác Lamskin” đã đề cập, bằng chứng cho thấy rằng thực tế có một vài áo khoác được xác nhận là khiếm khuyết chứ không phải là toàn bộ số lượng thỏa thuận ban đầu như cáo buộc của bên mua Số áo khoác khiếm khuyết này đã được sắp xếp bởi thỏa thuận bổ sung của các bên Do vậy, kể cả khi khiếm khuyết được tìm thấy và bên bán phải giao hàng thay thế cho phù hợp với hợp đồng thì sự không phù hợp đó vẫn có thể không cấu thành vi phạm hợp đồng nếu hàng hóa đã giao có giá trị ngang bằng và công dụng của nó không suy giảm so với hàng hóa đã thỏa thuận

Thứ nhất, về tiêu chí số lượng hàng hóa

Có nhiều quan điểm xoay quanh việc thực hiện không đầy đủ có là trường hợp thực hiện nghĩa vụ không phù hợp hay không Tuy nhiên, suy luận logic và tham chiếu các trường hợp thực tế thì thấy rằng việc giao thiếu hàng hóa về mặt số lượng không là cơ sở để yêu cầu giao hàng thay thế theo Điều 46 (2) hay yêu cầu sửa chữa hàng hóa khiếm khuyết theo Điều 46 (3) Giao thiếu hàng hóa sẽ được căn cứ theo Điều 46 (1) để buộc thực hiện đúng hợp đồng qua yêu cầu giao đầy đủ số lượng hàng hóa đã cam kết

Thứ hai, về tiêu chí chất lượng hàng hóa

Chất lượng hàng hóa được xem là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định tính phù hợp của hàng hóa Tham gia vào việc đánh giá chất lượng hàng hóa, hàm lượng một số chất trong hàng hóa theo quy định của hợp đồng là một yếu tố điển hình Hàng hóa là một chiếc ô tô cũ khoảng 2 năm, lâu hơn so với những gì đề cập trong chứng từ liên quan, cũng như toàn bộ đồng hồ đo trên ô tô đều không phù hợp như mô tả theo Điều 35 (1)46

hay như hàng hóa của một hợp đồng khác yêu cầu bầu đất phải chứa 40 kg đất sét trên mỗi mét vuông nhưng thực tế hàng hóa được giao không đáp ứng điều này47

nên đã được Tòa tuyên là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Trong một trường hợp khác nữa, Tòa kết luận không vi phạm theo Điều

35 (1) khi bên bán giao hàng hóa là con trai chứa tỷ lệ cao Cadmium (Cd – một chất

có độc) bởi vì các bên không chi tiết vào hợp đồng tỷ lệ tối đa chất này trong hàng

45

UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 28

(cũng chính vụ án này được xét xử năm 1994, Tòa phúc thẩm kết luận rằng tỷ

lệ Cadium cao không cấu thành sự không phù hợp theo Điều 35 (2) vì nó chưa vượt ngưỡng tối đa và vẫn ở mức an toàn về thực phẩm49) Như vậy, chất lượng hàng hóa

có thể được xác định theo tỷ lệ một chất nào đó trong hàng hóa và phải được các bên thỏa thuận trước trong hợp đồng Ngoài ra, hàng hóa đảm bảo chất lượng còn phải đúng loại đã giao trong hợp đồng, không bị hư hỏng và đảm bảo mục đích sử dụng

Thứ ba, bao bì hay đóng gói, các mô tả khác trong hợp đồng

Cách thức đóng gói hay hình thức bao bì có thể được các bên thỏa thuận trong hợp đồng Bên bán nếu giao hàng hóa không đảm bảo về bao bì, đóng gói có thể bị yêu cầu thay thế hoặc sửa chữa hàng hóa

Mô tả khác trong hợp đồng là một quy định mang tính tùy nghi và được quyết định tùy theo từng trường hợp Các mô tả mà các bên có thể thỏa thuận và được xem xét trên thực tế có thể kể đến: chứng từ đi kèm hàng hóa; địa điểm và thời gian nhận hàng…50 Việc giao chứng từ không phù hợp với nguồn gốc hàng hóa “đường tinh thể trắng” của bên bán đã bị Trọng tài quyết định là trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Điều 35 (1)51

Nếu các bên không thỏa thuận khác trong hợp đồng, theo Điều 35 (2) những diễn giải sau đây sẽ được áp dụng để xác định tính không phù hợp của hàng hóa:

Thứ nhất, hàng hóa không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng Chú ý rằng mục đích được xem xét ở đây dành

cho hành vi sử dụng và tương quan với hàng hóa cùng loại thông thường bao gồm chất lượng và mô tả khác trong hợp đồng52

Thứ hai, hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên bán đã trực tiếp hoặc gián tiếp biết được vào lúc ký hợp đồng, trừ trường hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng không dựa vào ý kiến hay sự phán đoán của bên bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp lý53

1995, số 7 HO 78/95, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/951012g1.html; Quyết định của Tòa án New York

http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=1137&step=FullText; truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

53

Quyết định của Tòa Phúc thẩm Helsinki (Phần Lan) ngày 30 tháng 6 năm 1998, số 19067, http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=491&step=FullText, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017 Quyết định của Tòa án Quận Coburg (Đức) ngày 12 tháng 12 năm 2006, số 22 O 38/06, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/061212g1.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017 và UNCITRAL Digest of

case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35

case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Trang 29

Thứ 3, hàng hóa không có các tính chất của hàng mẫu hoặc kiểu dáng mà bên bán đã cung cấp cho bên mua Cung cấp hàng mẫu hoặc kiểu dáng sản phẩm cho

bên mua mặc dù không được xem là thỏa thuận của các bên nhưng lại định hướng

kỳ vọng cho bên mua về việc hàng hóa hợp đồng sẽ giống như hàng mẫu hoặc kiểu dáng đã được cung cấp54 Tuy nhiên, hàng mẫu thường chỉ được xem xét để đối chiếu với hàng hóa hợp đồng khi các bên bày tỏ ý định rõ ràng trong hợp đồng rằng hàng mẫu được xem xét như tiêu chuẩn để sản xuất hàng thật, khi đó do đã có thỏa thuận hợp đồng, việc xem xét tính phù hợp sẽ áp dụng Điều 35 (1)

Thứ tư, hàng không được đóng gói theo cách thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó55

Có một trường hợp không đáp ứng các điều kiện về sự phù hợp của hàng hóa

kể cả khi các bên có thỏa thuận về các tiêu chí xác định tính phù hợp của hàng hóa hay không đó là “aliud” “Aliud” được hiểu là trường hợp bên bán giao hàng hóa hoàn toàn khác biệt so với hàng hóa hợp đồng, ví dụ: giao muối thay vì giao đường Như vậy, chắc chắn rằng hàng hóa được giao trong trường hợp này không phù hợp với hợp đồng Có thể xem xét dưới góc độ chất lượng, nhưng xem xét tổng thể để thấy rằng nó không phù hợp với bất kỳ mong muốn, kì vọng nào của bên mua ban đầu Pháp luật một số nước xem đây là trường hợp không giao hàng cũng như là một trường hợp cấu thành vi phạm cơ bản56

Theo Điều 35 (3) CISG, bên bán không chịu trách nhiệm về việc giao hàng không đúng hợp đồng như đã nêu trong các điểm từ a đến d của khoản trên nếu như bên mua đã biết hoặc không thể không biết về việc hàng không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng

1.2.2 Nghĩa vụ bảo quản và giữ hàng hóa đã giao của bên mua cho yêu cầu thay thế hàng hóa

Đối với yêu cầu thay thế hàng hóa, Ðiều 82 (1) CISG cho thấy rằng bên mua

có nghĩa vụ bảo quản và lưu giữ hàng hóa để có thể hoàn lại cho bên bán theo đúng tình trạng mà họ nhận Nếu không, yêu cầu thay thế hàng hóa không phù hợp của họ

sẽ bị từ chối Trong trường hợp này, chi phí cho việc bảo quản, lưu giữ và hoàn lại hàng hóa sẽ do bên bán chịu

Ở đây tồn tại hai nghĩa vụ song hành: nghĩa vụ trả lại hàng hóa (theo đúng tình trạng đã nhận) của bên mua và nghĩa vụ giao hàng thay thế của bên bán Câu hỏi đặt

ra là hai nghĩa vụ này có buộc phải thực hiện đồng thời không, cũng như thứ tự thực hiện nghĩa vụ nên như thế nào: bên mua hoàn lại hàng hóa xong, bên bán kiểm tra

và giao hàng thay thế cho bên mua hay là bên bán phải giao hàng thay thế, bên mua kiểm tra xong mới hoàn lại hàng hóa Phân tích từ ngữ chi thấy không bắt buộc về

56

Fritz Enderlein & Dietrich Maskow (1992), United Nations Convention on Contracts for the International

Sale of Goods Convention on the Limitation Period in the International Sale of Goods, Oceana Publisher,

https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein-art35.html, truy cập lần cuối ngày 14/7/2017

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w