Cho nên tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật lao động Việt Nam về người lao động nữ và thực trạng áp dụng tại doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” với hi vọng
Trang 1KHOA LUẬT DÂN SỰ
THÁI THỊ THANH THÚY
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NỮ
VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP.HCM, NĂM 2013
Trang 2KHOA LUẬT DÂN SỰ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NỮ
VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
SINH VIÊN THỰC HIỆN: THÁI THỊ THANH THÚY KHÓA: 34 MSSV: 0955020157
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS BÙI THỊ KIM NGÂN
TP.HCM, NĂM 2013
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
5 Bố cục của khóa luận
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NGUỜI LAO ĐỘNG NỮ
1.1 Tổng quan về người lao động nữ 4
1.1.1 Lao động nữ - Một trong những loại lao động đặc thù của nền kinh tế 4
1.1.1.1 Khái niệm lao động nữ 4
1.1.1.2 Đặc trưng lao động nữ 6
1.1.2 Một số vấn đề liên quan đến lao động nữ trên thế giới 8
1.1.2.1 Phong trào “Chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ” trên thế giới và sự nhìn lại ở Việt Nam 8
1.1.2.2 Các quy định của Tổ chức lao động thế giới (ILO) về lao động nữ 12
1.1.3 Một vài nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ 13
1.1.3.1 Cơ chế chính sách kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ 13
1.1.3.2 Nền kinh tế thị trường 14
1.1.3.3 Tâm lý xã hội và phong tục tập quán 15
1.1.3.4 Chính bản thân người lao động nữ 15
1.1.4 Vai trò của lao động nữ trong nền kinh tế thị trường 15
1.1.4.1 Trong một vài lĩnh vực tiêu biểu 15
1.1.4.2 Trong lĩnh vực lao động 16
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về lao động nữ 17
1.2.1 Sự cần thiết phải ban hành những quy định riêng đối với lao động nữ 17
1.2.2 Nội dung những quy định của pháp luật về lao động nữ 19
Trang 41.2.2.1 Những quy định chung về người lao động 19
1.2.2.2 Những quy định riêng đối với lao động nữ 20
1.2.2.3 Những quy định về các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1 Tổng quan về tình hình lao động và việc làm ở thành phố hiện nayError! Bookmark not defined 2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình lao động và việc làm của thành phố 28
2.1.1.1 Đặc điểm kinh tế của thành phố 28
2.1.1.2 Đặc điểm về xã hội của thành phố 31
2.1.2 Các vấn đề nổi bật về tình hình lao động và việc làm ở thành phố hiện nay 32
2.1.3 Thực trạng áp dụng pháp luật đối với lao động nữ tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố 37
2.1.3.1 Về tuyển dụng lao động 37
2.1.3.2 Về tiền lương và thu nhập 39
2.1.3.3 Về thời giờ làm việc - thời giờ nghỉ ngơi 42
2.1.3.4 Về an toàn lao động - vệ sinh lao động 43
2.1.3.5 Về bảo hiểm xã hội 46
2.1.3.6 Về vấn đề ký kết và thực hiện hợp đồng lao động 49
2.2 Nguyên nhân của những tồn tại trong vấn đề thực hiện pháp luật về lao động nữ 51
2.2.1 Những nguyên nhân từ các quy định của pháp luật về lao động nữ 52
2.2.2 Những nguyên nhân xuất phát từ hai bên tham gia quan hệ lao động là người lao động và người sử dụng lao động 52
2.2.3 Một số nguyên nhân khác 54
2.3 Một số hướng nhằm góp phần hoàn thiện và đảm bảo thực hiện pháp luật về người lao động nữ 55
Trang 52.3.1 Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật 55 2.3.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện hiệu quả các quy định về lao động nữ 61
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo của lực lượng lao động xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người, điều này ở người phụ nữ Việt Nam càng được thể hiện đậm nét hơn qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Đảng và Bác Hồ phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến và
“Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới đất nước, đây không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ
nữ Việt Nam, cho đến tận ngày nay họ vẫn luôn giữ vững những phẩm giá cao quý ấy Người phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội Cùng với nam giới, phụ nữ đóng vai trò hết sức to lớn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, phụ nữ đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Hiện nay trong các doanh nghiệp ở nước ta, tầm quan trọng của nữ lao động là rất lớn, nhất là những ngành đòi hỏi sự khéo léo và linh hoạt trong lao động Thực tế ngày càng chứng minh, phụ nữ có nhiều khả năng thành đạt khi họ biết và được phát huy nguồn sức mạnh vốn có của mình Không có nhiều thuận lợi giống như nam giới, họ vừa phải tham gia vào lực lượng lao động xã hội để tạo ra của cải, đồng thời còn phải thực hiện thiên chức làm mẹ - vốn dĩ không hề đơn giản đối với lực lựợng được xem là “yếu thế” như họ Người phụ nữ của thời hiện đại càng không thể tách rời với gia đình và xã hội, bởi chính tại hai môi trường này họ mới có thể thực hiện được những chức năng của mình Điều cần làm là: làm sao để tạo ra được những điều kiện thuận lợi nhất cho phụ nữ phát huy và nâng cao hơn nữa khả năng ấy trước những đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế hội nhập quốc tế? Chính vì nhận thấy tầm quan trọng
đó mà Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt, thông qua những chính sách hết sức cụ thể để tạo điều kiện giúp phụ nữ hoàn thành tốt cả hai sứ mệnh cao cả Không thể phủ nhận được những bước tiến của Việt Nam trong việc thực hiện quyền bình đẳng giới, thời gian qua nhiều chương trình thúc đẩy tiến bộ của phụ nữ, mô hình phòng chống bạo lực, vận động chính sách về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ
Trang 7nữ của Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận Về mặt luật pháp là thế, nhưng vấn
đề thực hiện các quy định ấy ở các doanh nghiệp vẫn còn những bất cập khiến cho lao động nữ phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi, mà đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh - nơi tập trung đông đảo lực lượng lao động, nên tìm hiểu thực trạng ở đây sẽ phản ánh rõ nét thực trạng chung của cả nước Trước sức ép về việc làm, nên dù có những khó khăn thì người lao động nữ cũng đành chấp nhận, chính vì vậy nên họ cần lắm sự quan tâm
và nâng đỡ của toàn xã hội Vấn đề này không phải đến bây giờ mới bàn luận, đã có rất nhiều cuộc hội thảo diễn ra nhằm tìm kiếm những cách thức, những phương pháp để bảo vệ lao động nữ, dành những quyền lợi chính đáng cho họ nhưng cũng gặp không ít khó khăn trong khâu thực hiện, cho đến ngày nay vẫn còn đó những vướng mắt, những
bất cập Cho nên tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật lao động Việt Nam về người
lao động nữ và thực trạng áp dụng tại doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” với hi vọng đóng góp một phần công sức cùng với những người quan
tâm và toàn xã hội để sớm tìm ra giải pháp giúp lao động nữ hoàn thành vai trò to lớn của mình trong quan hệ lao động
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nhóm lao động nữ nói chung
và đi sâu vào đối tượng là lao động nữ tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ xoay quanh vào trọng tâm là các quy định riêng dành cho lao động nữ, cùng với việc thực hiện các quy định ấy ở các doanh nghiệp đóng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm làm sáng tỏ vấn đề Các phương pháp chủ yếu được sử dụng là: phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích dữ liệu và báo cáo kết quả thông qua dữ liệu đã thu thập được
Trang 84 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật lao động Việt Nam về lao động nữ tại các doanh nghiệp, để tìm ra những bất cập của luật lao động từ đó đánh giá và đưa ra phương hướng nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành Để có cái nhìn toàn diện, ta cần phải nghiên cứu vấn đề đi từ lý luận sâu xa đến thực tiễn áp dụng thì mới hi vọng giải quyết triệt để vấn đề
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát về người lao động nữ
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật đối với lao động nữ tại các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và hướng hoàn thiện
Đề tài “Pháp luật lao động Việt nam về người lao động nữ - Thực trạng áp dụng
tại doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” là một đề tài rộng lớn
đồng thời cũng khá phức tạp nên đòi hỏi khả năng am hiểu và một kiến thức sâu rộng mới có thể đáp ứng được yêu cầu của vấn đề đặt ra Với trình độ vẫn còn những hạn chế nhất định, mặc dù đã rất cố gắng tìm tòi học hỏi nhưng khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất hoan nghênh và mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của tất cả quý thầy cô và bạn đọc có quan tâm, để đề tài ngày càng hoàn thiện nhằm bắt kịp với sự thay đổi không ngừng của xã hội
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỜI LAO ĐỘNG NỮ
1.1 Tổng quan về người lao động nữ
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình, là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ lại con người Lao động từ mục đích ban đầu là đáp ứng nhu cầu kiếm ăn, đã chuyển sang đáp ứng mọi nhu cầu của con người Nhu cầu của con người không đơn giản chỉ là đủ ăn khi đói, đủ uống khi khát, đủ ấm khi rét mà đã phát triển đến mức cần được ăn ngon mặc đẹp, được vui chơi, được hiểu biết và sự phát triển nhu cầu thúc đẩy lao động phát triển, không chỉ có lao động sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng mà còn có lao động nâng cao nhận thức của con người về tự nhiên, về xã hội, về bản thân con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội, bởi vì bất kỳ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừng lao động Như vậy động lực của quá trình kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người và đây cũng chính là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên mà trước hết là giải phóng người lao động thì vấn đề phát triển kinh tế và sự nghiệp tiến bộ xã hội cũng theo đó mà được nâng lên
1.1.1 Lao động nữ - Một trong những loại lao động đặc thù của nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm lao động nữ
Từ khi xã hội hình thành và phát triển đến nay, con người không lúc nào ngừng lao động bởi đây là hoạt động quan trọng nhất, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội, lao động có năng suất có chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố thúc đẩy một xã hội phát triển Con người cùng với quá trình sáng tạo lao động của mình đã mang lại cho xã hội những ý nghĩa to lớn, có giá trị về cả mặt vật chất và tinh thần, từ hoạt động săn bắt hái lượm thô sơ cho đến khi con người biết chế tạo ra công cụ lao động Từ khi có công cụ lao động, đã thay đôi bàn tay của con người tác động vào vật chất và đối
Trang 10tượng lao động để làm ra sản phẩm Từ đó hoạt động lao động của con người tiến lên một bước quan trọng, bỏ xa hoạt động kiếm ăn của loài vật vốn dĩ rất bản năng và đơn giản
“Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, hoạt động sáng tạo của con người, nó khác với hoạt động bản năng của động vật”.1
Quan hệ lao động là hoạt động tập thể sản sinh ra mối quan hệ lao động xã hội giữa người với người Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thì sức lao động được chính thức thừa nhận là hàng hóa và được mang ra trao đổi mua bán Người sử dụng lao động hướng tới mục đích là mua được sức lao động với giá rẻ nhất đồng thời cũng phải tạo ra lợi nhuận cao nhất, còn người lao động là nhằm để bán được sức lao động của mình với giá mong muốn nhất nhưng cũng phải đảm bảo được sức lao động bị mất đi ở mức chấp nhận được nhất Chính vì lợi ích hai bên hướng đến là trái ngược nhau nên buộc các bên phải luôn thống nhất trong thương lượng để giữ gìn quan hệ lao động ổn định Thế nhưng, quả thật rất khó để đi đến sự cân bằng lợi ích khi mà nguyên nhân sâu
xa của chúng vốn dĩ đã mâu thuẫn, vì thế mối quan hệ này luôn cần pháp luật dung hòa, nhằm bảo vệ quan hệ lao động phát triển và trật tự lao động ổn định Quan hệ lao động được pháp luật rất chú trọng và đặc biệt quan tâm Đầu tiên, vấn đề này được chính thức ghi nhận trong đạo luật gốc tại Điều 55 Hiến pháp năm 1992 đã quy định “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động” Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Tiếp theo đó, được cụ thể hóa trong Bộ luật Lao động (BLLĐ), tại Khoản 6 Điều 3 BLLĐ 2012 quy định “Quan hệ lao động là quan
hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động” Nếu quan hệ lao động nào thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định thì quan hệ ấy được pháp luật điều chỉnh đồng thời bảo vệ Bất cứ ai muốn tham gia vào quan hệ lao động cũng phải đảm bảo thỏa hai điều kiện: điều kiện cần
và điều kiện đủ Hiến pháp quy định “ Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân”, nhưng không phải bất cứ công dân nào cũng có thể tham gia vào quan hệ lao động, khi
1 Giáo trình Kinh tế chính trị Mac – Lênin, Nhà xụất bản Chính trị Quốc gia, tr.9
Trang 11muốn trở thành người lao động thì còn phải đảm bảo thêm điều kiện thứ hai đó chính là cần phải có năng lực hành vi lao động Vấn đề này được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2012 “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người
sử dụng lao động” Đây là những điều kiện trực tiếp giúp người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động được hưởng các quyền lợi, đồng thời gánh vác những nghĩa vụ trong quá trình lao động Từ đó, chúng ta có thể hiểu về lao động nữ được pháp luật quy định như sau:
Thứ nhất, lao động nữ là người lao động được quy định trong pháp luật lao động
tại Khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2012 Phải là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động Ngoài ra, pháp luật cũng dành những quy định cho người lao động dưới 15 tuổi được tham gia lao động trong một số ngành nghề được quy định trong Thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội (Bộ LĐTBXH) như: Múa, hát, xiếc, sân khấu (kịch, tuồng, chèo, cải lương, múa rối v.v), điện ảnh Khi có năng lực hành vi lao động đầy đủ nhưng lại rơi vào các trường hợp pháp luật cấm thì cũng không thể tham gia vào quan hệ lao động được, tức là không thỏa mãn điều kiện về năng lực pháp luật lao động
Thứ hai, lao động nữ là người lao động có giới tính là nữ Đây là đặc điểm mang
tính tự nhiên, không thể thay đổi được Chỉ có người phụ nữ mới có thể mang thai, sinh con, cho con bú…cho nên họ mang thiên chức làm mẹ bên cạnh chức năng lao động
Tóm lại, khi một người đảm bảo hai điều kiện trên thì trở thành lao động nữ được pháp luật lao động điều chỉnh và bảo vệ Đặc biệt, ngoài những quy định chung thì họ còn được điều chỉnh bởi các quy định đặc thù dành cho nhóm lao động này ở Chương X BLLĐ 2012
1.1.1.2 Đặc trưng lao động nữ
Trong thời kỳ kinh tế bao cấp, quan hệ lao động còn non yếu chưa phát triển nên lúc này vai trò của người lao động chưa được chú trọng Khi bước sang nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động phát triển một bước vượt bậc, nhân tố con người được nhìn nhận một cách đúng đắn và được đề cao, điều này giúp cho người lao động nữ có cơ hội hưởng nhiều quyền lợi hơn Tuy nhiên, đây là một loại lao động đặc thù nên cần phải
Trang 12hiểu rõ thì mới có thể phát huy tối đa những tiềm lực của lao động nữ Lao động đặc thù
là các đối tượng lao động đặc biệt được quy định những chế độ lao động riêng Việc quy định chế độ lao động áp dụng cho các đối tượng này không phải là đặc quyền đặc lợi mà xuất phát từ hoàn cảnh thực tế, pháp luật cần phải bảo vệ những nhóm người đó
Các đặc điểm có tính tự nhiên
Các đặc điểm có tính tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến lao động nữ khi họ tham gia vào các quan hệ lao động Lao động nữ có thời kỳ kinh nguyệt, khi đến thời kỳ này họ bị mất rất nhiều năng lượng và sức đề kháng, họ cũng không thể đảm nhận các công việc nặng nhọc cho nên cần phải được vệ sinh và nghỉ ngơi hợp lý Lao động nữ mang đặc điểm tự nhiên nên mang thêm thiên chức cao cả là làm mẹ bao gồm: mang thai, sinh con, cho con bú và cả góp phần hình thành nhân cách cho đứa trẻ Trong khoảng thời gian này, người phụ nữ có sự biến đổi lớn về tâm sinh lý và sức khỏe Cho nên đòi hỏi phải có những điều kiện tốt nhất về chế độ dinh dưỡng, chăm sóc y tế, nghỉ ngơi giải trí hợp lý nhằm đảm bảo sức khỏe cho bản thân người lao động nữ và đặc biệt là đứa trẻ Song song
đó, người phụ nữ còn phải nuôi con và chăm sóc con khi đau ốm, rõ ràng vai trò của người mẹ là rất to lớn đặc biệt là trong giai đoạn con còn nhỏ Điều này cũng được pháp luật hôn nhân và gia đình ghi nhận tại Khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân Gia đình “Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác” Nuôi con nhỏ là vấn đề không hề đơn giản, đặc biệt là khi đứa trẻ ốm đau bênh tật, người mẹ phải được ở bên cạnh để chăm sóc về mặt thể chất và còn cả động viên về mặt tinh thần, bàn tay của người mẹ là liều thuốc hữu hiệu cho đứa trẻ thơ Chính
vì lẽ đó mà pháp luật cần nắm rõ đặc điểm tâm lý này để tạo điều kiện tối ưu cho người
mẹ
Những đặc điểm của tính xã hội
Ngoài các đặc điểm trên thì người phụ nữ còn mang những đặc điểm của tính xã hội cũng chi phối rất nhiều đến quá trình tham gia lao động của họ Những đặc điểm này phụ thuộc vào mỗi xã hội khác nhau và thay đổi theo từng thời kỳ, vì mang nhiều đặc điểm như vậy nên làm cho lao động nữ trở thành nhóm lao động đặc thù - nhóm lao động
“yếu thế”, sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội là một sự khích lệ rất lớn lao cho họ Thế nhưng, không phải ai cũng hiểu vấn đề này, hoặc là dẫu có nhận thức rõ ràng như vậy nhưng vì những lý do khác nhau mà cố tình phớt lờ đi, khiến cho lao động nữ là người
Trang 13cuối cùng gánh chịu tất cả thiệt thòi Ở hầu hết xã hội, họ phải cam chịu đứng ở một vị trí thấp kém hơn nam giới, và chắc chắn người phụ nữ Việt Nam cũng không có đủ may mắn để được là một ngoại lệ Ở đất nước bị chế độ phong kiến cai trị hàng ngàn năm, đã
để lại một hậu quả vô cùng nặng nề, ăn sâu vào tiềm thức của xã hội, đó chính là tư tưởng
“trọng nam khinh nữ”, mà dù cho đã có rất nhiều cuộc cải cách, rất nhiều chính sách tiến
bộ nhưng tư tưởng ấy vẫn còn đang ngấm ngầm đâu đó Cuộc sống hiện đại ngày nay mặc dù đã có những thay đổi lớn, những sự bức phá giải phóng phụ nữ, nhưng tất cả mọi
sự nỗ lực đó vẫn chưa đủ mang lại một vị thế bình đẳng như nam giới cho nguời phụ nữ - một vị thế mà đáng lẽ ra phải tồn tại trong xã hội từ rất lâu Dường như ai cũng rất quen thuộc và cảm thấy là tất nhiên khi nói về chức năng của mỗi giới Người nam xông pha ra trận còn phụ nữ lo việc hậu phương, các cụ các ông bàn chuyện triều chính còn các bà các chị vun vén ở gia đình, người chồng quan trọng sự nghiệp còn người vợ khi may mắn
có được chút cơ hội thăng tiến thì lại buộc phải lựa chọn giữa gia đình và công việc, mà thực tiễn thì ít có ai đủ dũng cảm để từ bỏ mái ấm gia đình Chính vì hiểu được những thiệt thòi mà người phụ nữ đang phải gánh chịu nên Nhà nước rất quan tâm chăm lo cho phụ nữ bằng nhiều hình thức khác nhau
1.1.2 Một số vấn đề liên quan đến lao động nữ trên thế giới
1.1.2.1 Phong trào “Chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ” trên thế giới
và sự nhìn lại ở Việt Nam
Tình hình thế giới
“Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong Bản Tuyên ngôn này mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến và các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, giống nòi hay các tình trạng khác…” 2 Nhìn chung phân biệt đối xử là bất kỳ sự khác biệt, sự loại trừ, hạn chế hoặc thiên vị nào nhằm phủ nhận các quyền bình đẳng và hạ thấp nhân phẩm con người Nhưng không phải mọi sự phân biệt đều đương nhiên bị coi
là phân biệt đối xử theo nghĩa là một lạm dụng về quyền con người, khi sự phân biệt được dựa trên những tiêu chí hợp lý và khách quan thì điều đó là đúng đắn Từ rất lâu,
2 Điều 2 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948
Trang 14phụ nữ đã phải đấu tranh để được thừa nhận là con người thực sự và được đảm bảo các quyền cơ bản của con người, tiếc rằng kết quả đạt được vẫn chưa thật sự giống như những gì mà đáng lý ra họ vốn dĩ được hưởng Mặc dù, vị thế của họ trên toàn cầu đã được cải thiện theo nhiều cách, nhưng vẫn còn những trở ngại làm cho các quyền của phụ
nữ chưa được thực hiện đầy đủ và đúng lúc Chỉ đến những năm 1970, sự bất bình đẳng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, sự nghèo nàn và phân biệt đối xử đối với bé gái bùng
nổ thì mới khiến Liên hiệp quốc không thể chần chừ thêm được nữa, tổ chức này đã mạnh dạn phát động thập kỷ vì phụ nữ của Liên hiệp quốc: Bình đẳng, phát triển và hoà bình từ năm 1976 đến 1985 Năm 1979, cực điểm của vấn đề này là khi Công ước về xoá
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) được thông qua Công ước này
là văn kiện về quyền con người quan trọng nhất liên quan đến việc bảo vệ và xúc tiến thực hiện các quyền của phụ nữ Lần đầu tiên, phụ nữ được CEDAW công nhận là con người đầy đủ, gồm các quyền dân sự và chính trị, cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Tiếp đó thì Hội phụ nữ quốc tế cũng được thành lập đầu năm 1888, hội đồng đã tham gia tích cực vào quá trình đảm bảo các quyền của phụ nữ thông qua các cuộc họp quốc tế
Khi bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ mang lại nhiều tiến bộ cho người phụ nữ nhưng cũng chưa thật sự đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của họ Điều này được phản ánh trong nhiều văn bản, mà phụ nữ chỉ xuất hiện trong một đoạn hoặc một chương cùng với những nhóm dễ bị tổn thương khác như: người cao tuổi, những người có khả năng khác biệt và trẻ em Mặc dù những kết quả nhận được chưa thật sự trọn vẹn nhưng đó là tất cả sự đấu tranh không mệt mỏi của rất nhiều cá nhân, tổ chức yêu chuộng bình đẳng giới, là một lời kêu gọi toàn thế giới có cái nhìn công bằng và thật sự vì phụ nữ Các phong trào đấu tranh tiêu biểu về vấn đề “Chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ” đủ vang dội để buộc thế giới phải thay đổi, có thể kể đến như:
Phong trào ở nước Anh: Nói về phong trào tiến bộ này ta không thể không nhắc
đến Anh quốc, đất nước nổi tiếng thế giới với truyền thống đấu tranh mạnh mẽ và lâu dài
để giành các quyền bình đẳng cho phụ nữ Nước Anh còn được xem là “quê hương của phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ” Ngay từ đầu những năm 1830, phụ nữ Anh đã bắt đầu đòi quyền bầu cử Sau hơn 70 năm với những phương pháp đấu tranh luôn đổi
Trang 15mới và cuối cùng giành thắng lợi vào năm 1918, khi họ được quyền bầu cử vào năm họ
30 tuổi
Nam Phi và Ma-Rốc: Nam Phi và Ma-rốc là một trong những nước có địa vị xã
hội và pháp lý của phụ nữ được cải thiện đáng kể trong những năm qua Nam Phi đã giới thiệu những cải cách mang tính bước ngoặt của pháp luật thừa kế Ở Ma-rốc, người ta cải cách luật gia đình mang lại cho phụ nữ quyền bình đẳng trong hôn nhân và đất nước cũng
đã đưa ra hạn ngạch để thúc đẩy đại diện chính trị của phụ nữ
Mặc dù có những kết quả tích cực, nhưng việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới vẫn còn là một thách thức ở châu Mỹ Latinh và một số nước ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Trung Quốc, sự thiên vị cho trẻ em nam là điều hiển nhiên Vào tháng 10 năm
2011, theo một nguồn tin tổng hợp về nạn phân biệt đối xử với phụ nữ xảy ra gay gắt nhất
ở một số nước trên thế giới, đã làm dư luận phải thật sự ngỡ ngàng và thật khó có thể chấp nhận được một thực trạng như thế lại tồn tại một cách hiển nhiên ở thế kỷ XXI Đầu tiên, phải lên án đất nước hồi giáo Afghanistan Theo điều tra của tổ chức ThompsonReuters, phụ nữ ở Afghanistan bị đối xử tồi tệ nhất trên thế giới Tại đây, phụ nữ phải sống trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, không có quyền được học hành và bảo hiểm y tế, cho dù là người giám hộ hay xã hội cũng không cho họ có được những quyền lợi cơ bản nhất Luật pháp ở Afghanistan cũng không quy định hiếp dâm hay bạo lực gia đình là phạm pháp Trung bình cứ nửa giờ đồng hồ lại có một người phụ nữ chết sau khi sinh và đưa Afghanistan trở thành đất nước có tỷ lệ tử vong cao nhất thế giới Theo báo cáo Phát triển Con người cho thấy Sierra Leone (Tây Phi) nạn cưỡng hiếp, bạo lực và sinh nở là ba nguyên nhân chính khiến tuổi thọ của phụ nữ ở đây không vượt quá
43 Phụ nữ tại PapuaNew Guinea thì không được tới trường hay độc lập về kinh tế và phải kết hôn khi tới tuổi, tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ cũng cao hơn nam giới 4 lần Haiti là thiên đường của nhiều khách du lịch nhưng lại có mấy ai biết rằng nơi đây cũng chính là địa ngục của phụ nữ Những người phụ nữ ở đây phải sinh con tại nhà và không được hỗ trợ y tế.3
Quả thật thân phận của người phụ nữ trên thế giới vẫn còn rất nhiều nghịch lý đáng buồn, dù họ có may mắn được thừa nhận quyền lợi thì cũng khó có khả năng được trọn vẹn như nam giới Mới đây nhất là vụ hiếp dâm tập thể trên xe buýt kinh hoàng xảy
3 http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/43164/10-quoc-gia-phu-nu-bi-doi-xu-toi-te-nhat.html
Trang 16ra ở Ấn Độ, đã làm dấy lên làn sóng vô cùng phẫn nộ trên toàn thế giới Mổi năm ở đất nước này có khoảng 25.000 đến 100.000 phụ nữ bị giết chỉ vì mâu thuẫn quanh chuyện của hồi môn Vấn nạn này đã tồn tại lâu đến nỗi, nó dường như được xem là một chuyện hiển nhiên, dù cho các nhà chức trách có vào cuộc, thế giới có lên án mạnh mẽ thì cũng
hó thay đổi được Đã đến lúc cần phải có sự chung tay góp sức của toàn thế giới thì mới
hi vọng mang lại một màu xanh, một xã hội văn minh thật sự cho toàn nhân loại, chứ không phải là “một nửa” nhân loại
Hưởng ứng phong trào “Chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ” ở Việt Nam
Nhận xét chung: Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
với phụ nữ (CEDAW) được Việt Nam phê chuẩn từ năm 1981 CEDAW được xem như là một công cụ pháp lý tiến bộ nhằm giải quyết mọi hình thức vi phạm quyền con người đối với phụ nữ Đây là một bước ngoặt quan trọng giúp Việt Nam tiến gần với xu thế chung của thế giới - xu thế bình đẳng giới Ngay khi phê chuẩn CEDAW, Việt Nam đã nỗ lực không ngừng nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của công dân Kết quả đạt được, tỷ lệ nữ giới trong độ tuổi lao động có việc làm là 83%; 68,7% cán bộ công chức
và 30% chủ doanh nghiệp là nữ Tuy vậy, Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, tình trạng bạo lực gia đình, sự phân
biệt trên cơ sở giới tính vẫn tồn tại
Các quy định của pháp luật nhằm thực hiện Công ước CEDAW: Đầu tiên, phải
nhắc đến những quy định trong Hiến pháp 1992 Tại Ðiều 63 quy định “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội, chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ” Rõ ràng là Nhà nước ta rất quan tâm và tạo mọi điều kiện cho phụ nữ, có những biện
Trang 17pháp thiết thực để phụ nữ phát huy sức mạnh của mình nhằm hoàn thiện bản thân và góp phần phát triển đất nước Luật Bình đẳng giới có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007 đã tạo ra một căn cứ pháp lý quan trọng, đảm bảo cho quyền lợi của người phụ nữ được bình đẳng với nam giới Đáng chú ý là quy định tại Khoản 1 Điều 7 “Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển
và thụ hưởng thành quả của sự phát triển” Liên quan trực tiếp đến đề tài đang nghiên cứu, chúng ta không thể bỏ qua các quy định về vấn đề này trong BLLĐ 2012 vừa mới có hiệu lực thi hành vào tháng 5 năm 2013 Theo quy định tại Khoản 7 Điều 4 “Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động
nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên” Mặc
dù thế giới đã có nhiều tiến bộ sau những cuộc đấu tranh chống tình trạng phân biệt đối xử tại nơi làm việc, song tình trạng bất bình đẳng về giới trong thu nhập và những hình thức phân biệt đối xử khác vẫn gia tăng tại các cơ sở lao động và đang trở thành mối lo ngại lớn trong xã hội
1.1.2.2 Các quy định của Tổ chức lao động thế giới (ILO) về lao động nữ
Các quy định về chế độ thai sản
Thứ nhất, Công ước số 3 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm1919 về bảo
vệ thai sản tại Điều 3 quy định “Không được phép làm việc trong thời kỳ 6 tuần đầu sau khi sinh đẻ; Có quyền nghỉ việc nếu có giấy của y tế chứng nhận sẽ sinh đẻ trong thời hạn
6 tuần; Người phụ nữ tự cho con bú được phép nghỉ 2 lần trong thời giờ làm việc, mỗi lần nửa giờ để cho con bú…”
Thứ hai, Khuyến nghị số 191 (152) của ILO về bảo vệ thai sản có quy định
“Người phụ nữ có quyền trở lại cương vị hoặc vị trí cũ với mức thù lao tương đương mà người đó nhận được khi nghỉ thai sản; người phụ nữ trong thời gian mang thai hoặc chăm sóc trẻ sơ sinh không được làm ca đêm nếu trong chứng nhận y tế nêu rằng, công việc đó không phù hợp với việc mang thai hoặc thời gian chăm sóc trẻ sơ sinh; người phụ nữ cần được phép rời khỏi nơi làm việc, nếu cần thiết, sau khi thông báo với người sử dụng lao động để tiến hành khám thai…”
Trang 18Thứ ba, Công ước số 183 (2000) của ILO về bảo vệ bà mẹ, quy định “14 tuần
nghỉ thai sản, bao gồm 6 tuần nghỉ bắt buộc trước khi sinh; Trợ cấp tiền trong thời gian nghỉ thai sản ít nhất bằng 2/3 mức lương hoặc thu nhập được bảo hiểm…”
Thứ tư, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
(CEDAW) Điều 11 (2)(b) quy định “Các quốc gia cần có biện pháp thích hợp nhằm quy định chế độ nghỉ phép cho người mẹ trong thời kỳ thai sản được hưởng lương hoặc các trợ cấp xã hội tương đương mà không bị mất việc làm, vị trí trong công việc và các khoản trợ cấp xã hội”
Thứ năm, Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (ICESCR): quy định tại
Điều 10(2) “cần có sự bảo vệ đặc biệt đối với bà mẹ trong một khoảng thời gian thích hợp trước và sau sinh Trong suốt thời gian này, những bà mẹ đang làm việc được nghỉ vẫn được trả lương hoặc nhận khoản trợ cấp an sinh xã hội tương đương”
Thứ sáu, ra đời vào thập niên 50 của thế kỷ XX, Công ước 100 về trả công bình
đẳng giữa lao động nam và lao động nữ và Công ước 111 về chống phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp đã đặt những viên gạch đầu tiên cho chặng đường tìm lại
hỗ trợ cho quan hệ hai bên, có nhiệm vụ thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động, ngoài ra còn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động công đoàn phát triển mạnh mẽ Để
Trang 19chăm sóc tốt hơn cho người lao động thì công đoàn chính là cầu nối, tham mưu với các cấp ủy, Đảng để có những chính sách kịp thời hỗ trợ họ Tuy nhiên, trên thực tế những chính sách này đôi khi rất khó thực hiện vì những nguyên nhân khác nhau Công đoàn cơ
sở còn lúng túng trong nội dung và phương pháp hoạt động, chưa thực sự có những hoạt động thiết thực tham gia vào quá trình quản lý doanh nghiệp, phát huy sức sáng tạo và bảo vệ quyền lợi của người lao động
1.1.3.2 Nền kinh tế thị trường
Tác động của nền kinh tế thị trường mang lại cơ chế quan hệ lao động tự do thương lượng, bình đẳng hợp tác hướng đến lợi ích chung Tốc độ phát triển các loại hình doanh nghiệp, hình thức và tính chất sở hữu đa dạng đã tạo ra rất nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Năm 2012, trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế thì khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,42% Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4 năm 2013 tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài,
từ đầu năm đến ngày 20/4/2013 đạt 8219,1 triệu USD (tăng 17% so với cùng kỳ năm 2012) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện bốn tháng đầu năm 2013 ước tính đạt 3,8 tỷ USD (tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2012) Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính 88,78 triệu người Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 52,58 triệu người (tăng 2,3% so với năm 2011), trong đó lao động nam chiếm 51,3%; lao động nữ chiếm 48,7% Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,95 triệu người (tăng 0,87%) trong đó nam chiếm 53,3%; nữ chiếm 46,7%.4 Tuy nhiên cũng không phải là không có những thách thức, song song với những mặt tích cực do nền kinh tế thị trường mang lại là những trở ngại cho thị trường lao động Tính cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các doanh nghiệp và giữa những người lao động, dẫn đến tình trạng giải thể doanh nghiệp và nạn thất nghiệp cho lao động nước ta Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động năm 2012 là 1,99% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2012 là 2,8%
4 Báo cáo về tình hình kinh tế xã hội 4 tháng đầu năm 2013 của Tổng cục Thống kê
Trang 201.1.3.3 Tâm lý xã hội và phong tục tập quán
Những phong tục tập quán của xã hội cũng góp phần làm cho quan hệ lao động bị ảnh hưởng Tư tưởng cho rằng: phụ nữ không cần học nhiều, học cao đã gây cản trở đến việc thực thi chính sách đào tạo, học tập ngâng cao trình độ các mặt cho lao động nữ Quan niệm này không chỉ tồn tại ở các cơ quan tổ chức, các đơn vị sử dụng lao động mà còn ở ngay bản thân người phụ nữ Chính họ cũng thường mang tâm lý an phận, chỉ cần
có công việc ổn định, chuyện học tập nâng cao tay nghề hay xa hơn là chuyện thăng tiến thì đối với một bộ phận lao động nữ còn quá xa xôi Tâm lý ấy không thể ngày một mà có thể tác động thay đổi được, tuy nhiên ta vẫn phải có những hoạt động tuyên truyền giáo dục, những biện pháp đẩy mạnh luật Bình đẳng giới, nhằm ngày càng nâng cao hơn nữa
vị thế vai trò của người phụ nữ
1.1.3.4 Chính bản thân người lao động nữ
Hầu hết lao động nữ đang làm việc trong các khu công nghiệp - khu chế xuất có trình độ thấp về học vấn, về khả năng nhận thức và ứng xử với các vấn đề xã hội có liên quan, nếu biết mình bị xâm phạm quyền lợi từ người sử dụng lao động thì cũng không biết tự bảo vệ mình một cách hợp pháp Đặc điểm về sức khỏe cũng cản trở cơ hội làm việc của lao động nữ khi phải đối diện với áp lực cường độ công việc cao, về lâu dài gây nên những vấn đề về sức khỏe đôi khi rất nghiêm trọng
1.1.4 Vai trò của lao động nữ trong nền kinh tế thị trường
1.1.4.1 Trong một vài lĩnh vực tiêu biểu
Dân tộc Việt Nam trải qua những cuộc đấu tranh dai dẳng hàng ngàn năm giữ nước, bên cạnh đó là đời sống nghèo khổ cơ cực của buổi đầu xây dựng đất nước Từ thực tế khắc nghiệt đó, đã làm nên bản sắc riêng mà ít ai có được như người phụ nữ Việt Nam Khi đối đầu với giặc ngoại xâm thì họ là những chiến sĩ kiên cường dũng cảm khiến cho bao kẻ thù phải khiếp sợ, nhưng khi trở về ruộng vườn thì họ lại là những người lao động cần cù thông minh, còn ở bên cạnh gia đình ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những người mẹ dịu hiền đảm đang, đã sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc Quả thật với bất kỳ vai trò nào thì người phụ nữ cũng hoàn thành tốt đẹp cả Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công
Trang 21nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Ngày 20/10 hàng năm được chọn là Ngày Phụ Nữ Việt Nam, đó là sự ghi nhận của đất nước với những con người vinh dự được Bác Hồ tặng 8 chữ vàng “Cần cù, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang” Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 12/7/1993
đã khẳng định "Giải phóng và phát triển toàn dịên phụ nữ là một trong những mục tiêu của Cách mạng Việt Nam có ảnh hưởng trực tiếp lâu dài đến sự phát triển của đất nước Bồi dưỡng lực lượng phụ nữ phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhịêm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng ta trong mọi thời kỳ cách mạng” Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, phụ nữ Việt Nam đã được tôi luyện, trưởng thành trong phong trào đấu tranh cách mạng Sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay không thể nào thiếu được vai trò của người phụ nữ Dù xã hội hiện đại có hỗ trợ rất nhiều cho người phụ nữ thực hiện vai trò của mình, nhưng phụ nữ vẫn là người chủ yếu làm công việc nhà, từ việc bếp núc tới việc dạy dỗ con cái, chăm lo đời sống cho các thành viên trong gia đình Để người phụ nữ đảm đương được vai trò của mình, đồng thời phát huy được hết khả năng bản thân để phát triển trong thời hiện đại, yếu tố tự thân của mỗi phụ nữ là rất quan trọng, bên cạnh
sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội
1.1.4.2 Trong lĩnh vực lao động
Có thể nói trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với xã hội Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn Khi sự phân công lao động cứng nhắc theo giới bị phá vỡ, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình Phần lớn lao động trưởng thành làm việc trên 50 giờ một tuần là phụ nữ Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động, phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước Hiện nay trong các doanh nghiệp ở
Trang 22nước ta, tầm quan trọng của các lao động nữ là rất lớn, nhất là trong những ngành đòi hỏi
sự khéo léo và linh hoạt trong lao động Nhóm các ngành nghề như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử thì gần như toàn bộ các lao động là nữ Bàn tay và khối óc của phụ nữ tham gia vào quan hệ lao động, nhằm chung tay góp sức ổn định xã hội và đẩy mạnh phát triển kinh tế Sự tiến bộ và đi lên của đất nước ngày hôm nay mang đậm dấu
ấn mạnh mẽ của hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, đó là một sự thật không ai có thể phũ nhận được, nhưng trong mọi lĩnh vực nói chung và lĩnh vực lao động nói riêng thì dường như họ chưa thật sự nhận được sự đối xử tương xứng so với những gì họ đã phải hi sinh, cũng vì bị ảnh hưởng bởi tâm lý cam chịu mà “tiếng nói” để dành lại công lý đôi khi còn rất nhỏ nhoi
Để thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu về bình đẳng giới và tăng cường nâng cao vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ chính trị (Khóa X) đòi hỏi cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực quan tâm chỉ đạo, cụ thể hóa các chủ trương, mục tiêu của công tác phụ nữ bằng những chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể, trong đó xác định việc tuyên truyền giữ vai trò chủ yếu
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về lao động nữ
1.2.1 Sự cần thiết phải ban hành những quy định riêng đối với lao động nữ
Các đặc điểm tự nhiên và các đặc điểm xã hội hoàn toàn khác xa với nam giới, đã làm cho lao động nữ trở thành nhóm lao động đặc thù trong xã hội, nên BLLĐ 2012 đã dành hẳn Chương X gồm 8 Điều (từ Điều 153 đến Điều 160) quy định riêng cho lao động
nữ, nhằm đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt với nam giới Phụ nữ thời hiện đại, cho dù có những điều kiện thuận lợi hơn so với trước, nhưng với vai trò của họ thì vẫn luôn nặng gánh việc xã hội, việc gia đình, cho dù họ vẫn lặng lẽ phấn đấu nhưng thật sự rất cần được tiếp sức
Họ không chỉ đơn thuần thực hiện những nghĩa vụ lao động như nam giới, mà họ còn phải đảm nhận thêm chức năng làm mẹ Họ có những đặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) mà những đặc điểm này chỉ phù hợp trong những điều kiện lao
Trang 23động nhất định Phụ nữ không thể tham gia trọn vẹn vào các quan hệ lao động, họ bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau
Không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của phụ nữ trong mọi thời đại, họ đảm nhận nhiều chức năng khác nhau để cùng với xã hội xây dựng và phát triển đất nước Nhưng để thực hiện được điều đó, họ cần nhận được sự hỗ trợ, sự quan tâm của xã hội vì
họ không thể đơn thuần thực hiện như nam giới - họ là nhóm lao động đặc thù
Xét về mặt kinh tế, việc quy định chế độ lao động với lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật, lao động là nữ, lao động là người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và các loại lao động khác là tạo điều kiện cho họ tham gia vào các quan hệ lao động, tận dụng mọi tiềm năng lao động của xã hội để sản xuất thêm của cải vật chất cho xã hội, góp phần giải phóng sức lao động Quan trọng hơn cả là góp phần tăng thu nhập cho bản thân người lao động và gia đình họ, trong điều kiện trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội ở Việt Nam còn hạn chế
Nền kinh tế thị trường mang lại nhiều tác động tích cực, giúp cho nước ta bắt kịp với xu hướng chung của thế giới và nâng kinh tế Việt Nam tiến lên một bước vượt trội Thế nhưng, ta cũng phải nhận lại những mặt trái đó là: tình trạng thất nghiệp, sự chênh lệch khoảng cách giàu nghèo, bệnh tật…mà hầu như phụ nữ lại là người gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất, cũng bởi vì vị trí “yếu thế” của mình Hơn ai hết, Nhà nước hiểu rõ điều này nhất, nên bắt buộc phải ban hành những chính sách mà chỉ có phụ nữ mới có, đây không phải là những đặc quyền đặc lợi mà là sự cần thiết chính đáng, có như vậy mới đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội
Việc ban hành chế độ lao động đối với các đối tượng kể trên, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, góp phần làm cho phụ nữ hòa mình vào cộng đồng, có cơ hội đem hết sức mình làm việc, cải thiện đời sống bản thân, gia đình và xây dựng đất nước Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải có cái nhìn toàn diện vấn đề này thì mới đảm bảo cho các quy định của pháp luật về lao động nữ mang tính khả thi cao Đó là, dù có thật sự là mang những đặc thù riêng, nhưng suy cho cùng thì lao động nữ cũng chỉ là một bên trong quan hệ lao động, mà bất kỳ quan hệ pháp luật nào thì cũng phải đảm bảo quyền và nghĩa
vụ của các bên phải cân bằng nhau, có như vậy thì mới mang lại lợi ích thật sự cho các bên Chúng ta không thể dành quá nhiều ưu đãi cho bất kỳ bên nào, điều đó làm cho tính công bằng của pháp luật không được tôn trọng Khi hai bên tham gia vào một quan hệ
Trang 24pháp luật nào đó, mà “xuất phát điểm” không cân bằng nhau thì Nhà nước chỉ có thể “bù đắp” sự thiếu hụt ấy bằng những chính sách cụ thể, ở một mức độ tương xứng và phù hợp mà thôi, và chính sách về lao động nữ là một ví dụ điển hình
1.2.2 Nội dung những quy định của pháp luật về lao động nữ
1.2.2.1 Những quy định chung về người lao động
lợi chính đáng của người phụ nữ được đảm bảo
Bộ luật Lao động 2012
BLLĐ 2012 đã dành hẳn một chương quy định riêng cho lao động nữ, sau đó được chi tiết hóa và bổ sung bằng các đạo luật chuyên sâu như: Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2006, Luật Bình đẳng giới 2006 Ngoài các quy định chung trong BLLĐ 2012 thì lao động nữ còn được sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật ở Chương X trong Bộ luật này Khi BLLĐ 1994 ra đời thì Chính phủ và Bộ LĐTBXH lần lượt ban hành Nghị định số 23/CP ngày 18/04/1996 và Thông tư số 03-BLĐTBXH ngày 13/01/1997 để hướng dẫn, mang lại những thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật trên thực tế Rồi đến khi có BLLĐ 2012 thì có các văn bản có liên quan đến vấn đề lao động nữ cũng được kịp
Trang 25thời ban hành để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra Có thể kể đến như Nghị định số 43/2013/NĐ-CP, Nghị định số 44/2013/NĐ-CP, Nghị định số 45/2013/NĐ-CP, Nghị định số 46/2013/NĐ-CP Song song đó, các chương trình quốc gia liên quan đến lao động nữ cũng đã được triển khai: Chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động đến năm 2010; Đề án về dạy nghề cho lao động đi làm việc ở nước ngoài đến năm 2015; Xây dựng Quỹ quốc gia về hỗ trợ và giải quyết việc làm Ngoài ra, còn rất nhiều chính sách, hoạt động khác về tuyên truyền phổ biến nhận thức về giới cũng được triển khai, thể hiện sự quyết liệt của Nhà nước ta nhằm đẩy mạnh và nâng cao vị thế vai trò của nữ giới Việt Nam cũng tích cực tham gia hầu hết các Điều ước Quốc tế về quyền con người như: Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị
1966 và một số công ước quan trọng của ILO, sau đó các văn bản này cũng được pháp luật Việt Nam nội lực hóa
1.2.2.2 Những quy định riêng đối với lao động nữ
Nói về lao động nữ thì phải đề cập đến các quy định riêng trong BLLĐ 2012 ở Chương X, bên cạnh Nghị định số 23/CP ngày 18/04/1996 và Thông tư số 03-LĐTBXH ngày 13/01/1997, đây là những quy định cụ thể và trực tiếp tác động mạnh mẽ đến lao động nữ Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính 88,78 triệu người Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 52,58 triệu người, tăng 2,3% so với năm 2011, trong
đó lao động nam chiếm 51,3%; lao động nữ chiếm 48,7% Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,95 triệu người, tăng 0,87%, trong đó nam chiếm 53,3%; nữ chiếm 46,7.5 Như vậy, lực lượng lao động nữ rất đông đảo cho nên Nhà nước phải tạo điều kiện
để họ có cơ hội phát triền như nam lao động
Các quy định về tuyển dụng lao động
Tuyển dụng là sự lựa chọn, sự xem xét của người sử dụng lao động nhằm tìm ra những người lao động mà mình ưng ý nhất để vào làm việc tại doanh nghiêp, mà theo quy định tại Điều 11 BLLĐ 2012 thì “Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động, có quyền tăng, giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh”, như vậy thì đây chính là quyền của người sử dụng lao động, nhưng quyền này chỉ được thực
5 Báo cáo về tình hình kinh tế xã hội năm 2012 của Tổng cục Thống kê
Trang 26hiện trong khuôn khổ của pháp luật, đó là phải phù hợp với các quy định khác mà cụ thể
là quy định tại Khoản 1 Điều 153 BLLĐ “Bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ” Đây là những quy định phù hợp, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến nhóm lao động vốn chịu nhiều thiệt thòi khi tham gia tuyển dụng, vì áp lực về việc làm quá lớn nên dù biết quyền lợi hợp pháp của mình bị bóp méo thì họ cũng đành chấp nhận Sự nắm bắt đúng đắn thực trạng trên, để rồi có những quy định cân bằng lại cho hợp lý từ phía Nhà nước là sự bù đắp rất chính đáng cho người nữ lao động
Quy định về thời giờ làm việc - thời giờ nghỉ ngơi
Làm việc phải đi đôi với nghỉ ngơi thì mới đảm bảo tái tạo sức lao động, cho nên việc đưa ra những quy định về các loại thời giờ này đòi hỏi sự cân nhắc tính toán hợp lý,
mà đối với phụ nữ thì yêu cầu này càng phải cao hơn, do họ chịu áp lực từ cả công việc
và gia đình Nếu không có những quy định hợp lý thì có thể dẫn đến nhiều hệ lụy về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, suy giảm sức khỏe kéo dài
Về thời giờ làm việc được quy định từ Điều 104 đến Điều 107 BLLĐ 2012 Theo
đó, thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần Khi người lao động phải làm những công việc rơi vào danh mục do Bộ LĐTBXH chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành, quy định về những ngành nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01ngày Riêng đối với nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương (Khoản 2 Điều 155 BLLĐ 2012) Một quy định mới nhất trong BLLĐ 2012 đã mang lại niềm vui cho người lao động là tăng thời gian nghỉ thai sản lên là 6 tháng bao gồm cả khoảng thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con (so với quy định trước đây là chỉ có 4 tháng) Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng, thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02
tháng Ngoài ra, pháp luật còn quy đinh về làm thêm giờ, tức là khoảng thời gian làm
việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động Làm thêm giờ (mà người lao động hay gọi là tăng ca) ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động cho nên pháp luật quy định khá
chặt chẽ vấn đề này theo hướng rất hạn chế Theo đó, người sử dụng lao động được sử
dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: được sự đồng ý
Trang 27của người lao động; đảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một
số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm; sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ
Thời giờ nghỉ ngơi được pháp luật ghi nhận từ Điều 108 đến Điều 116 BLLĐ
2012; bao gồm: nghỉ trong giờ làm việc, nghỉ chuyển ca, nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm,
nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương Ngoài ra, lao động nữ còn được hưởng các quy định tại Điều 155 BLLĐ, lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc
Quy định về tiền lương
Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận, tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc Quy định về tiền lương và thu nhập được ghi nhận trong nhiều văn bản Trước tiên, tại Điều 63 Hiến pháp 1992 “Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật” Thực hiện tinh thần của Hiến Pháp thì Điều 90 BLLĐ 2012 đã quy định “Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau” Một quy định mới trong bộ luật 2012 mà BLLĐ 1994 (đã sửa đổi bổ sung) không có là việc thành lập Hội đồng Tiền lương quốc gia, theo đó hội đồng này có chức năng tư vấn cho Chính phủ về vấn đề tiền lương Khi tham gia lao động thì vấn đề đầu tiên họ quan tâm hầu như là tiền lương, cho nên quy định như vậy nhằm giúp lao động nữ yên tâm làm việc
Quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động
Có được sức khỏe và sự an toàn thì mới đảm bảo được điều kiện tham gia vào quan hệ lao động, tránh được tai nạn lao động và những bệnh nghề nghiệp nguy hiểm, mà quan trọng hơn là sự ưu tiên dành cho tính mạng người lao động - đặc biệt là lao động nữ
Trang 28vốn hạn chế về sức khỏe Xuất phát từ những đặc thù của người phụ nữ về tâm sinh lý, chức năng sinh đẻ, nuôi dạy con cái…nên ngoài việc được điều chỉnh bằng các quy định chung cho người lao động từ Điều 133 đến Điều 146 BLLĐ 2012, lao động nữ còn được các quy định riêng trong Chương X điều chỉnh, cụ thể là Điều 154 và Điều 160 quy định: các công việc không được sử dụng lao động nữ, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Bộ LĐTBXH chủ trì phối hợp với Bộ Y tế
ban hành, công việc phải ngâm mình thường xuyên dưới nước, công việc làm thường
xuyên dưới hầm mỏ Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc Có như vậy thì những lợi ích chính đáng của phụ nữ mới được đảm bảo Trước sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải chạy theo lợi nhuận nhiều hơn là quan tâm đến chính sách dành cho lao động nữ, cho nên cũng có những doanh nghiệp thực hiện không tốt các quy định này
Quy định về chấm dứt hợp đồng lao động
Khi một hợp đồng lao động được thiết lập, dù là bất kỳ bên nào thì cũng không ai
hi vọng bị chấm dứt vì những lý do không mong muốn, cho nên Nhà nước đưa ra những quy định thật phù hợp để đảm bảo cho mối quan hệ này được ổn định và phát triển Ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các quy định chung về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như những lao động khác, thì lao động nữ còn được pháp luật quy định thêm trường hợp họ được sử dụng quyền này khi họ mang thai tại Điều 156 BLLĐ 2012 Khi mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động Tức là khi rơi vào trường hợp trên thì lao động nữ được lựa chọn giữa việc là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn hợp đồng, thay vì theo quy định trước đây (Điều 37 và Điều 112 BLLĐ 1994 sửa đổi bổ sung) thì họ chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Quy định tại Điều 156 BLLĐ 2012 đã mang lại quyền lựa chọn cho lao động nữ, bởi vì không phải
ai cũng muốn sử dụng quyền chấm dứt hợp đồng lao động - điều mà đồng thời làm cho
họ mất việc làm Có được quyền lựa chọn thì họ sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể của mình
để đưa ra những quyết định phù hợp nhất
Một quy định được BLLĐ 2012 vừa mới thêm vào so với quy định trước đây nhằm bảo vệ lao động nữ khi họ bị xâm phạm quyền lợi thì được sử dụng quyền đơn
Trang 29phương chấm dứt hợp đồng lao động, đó là nếu bị quấy rối tình dục người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (Điểm c Khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012) Hành vi này đã trở thành hiện tượng xã hội phổ biến mà đối tượng thường bị xâm phạm
là lao động nữ, cho nên nay đã được đưa thành quy định nghiêm cấm Trong quan hệ lao động còn có bên người sử dụng lao động, họ cũng được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và họ sử dụng quyền này khi có các căn cứ quy định tại các điều như Điều
38, Điều 125,…Ngoài ra, khi muốn thực hiện quyền này đối với lao động nữ thì chủ sử dụng lao động còn phải đáp ứng các điều kiện quy định ở Khoản 3 Điều 155 BLLĐ 2012
“Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Quy định này nhằm tạo điều kiện tốt nhất để lao động nữ có cơ hội thực hiện chức năng làm mẹ của mình
Quy định về kỷ luật lao động
Lao động nữ chịu sự điều chỉnh của cả quy định chung và quy định riêng, theo Điều 155 BLLĐ 2012 thì người sử dụng lao động không được áp dụng hình thức kỷ luật
là sa thải đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về BHXH, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động Mặc dù khi tham gia vào quan hệ lao động, khi đã chấp nhận ký hợp đồng lao động thì người lao động phải tuân theo các nghĩa vụ trong hợp đồng và cả bảng nội quy của doanh nghiệp đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng vì lao động nữ là nhóm lao động đặc thù nên pháp luật phải có những quy định đặc thù dành cho đối tượng này, pháp luật hạn chế một vài trường hợp mà người sử dụng lao động không được áp dụng những hình thức kỷ luật trong những khoảng thời gian nhất định, nếu không làm như vậy thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của lao động nữ trong khoảng thời gian họ sinh con, nuôi con nhỏ
Quy định về bảo hiểm xã hội
Vấn đề BHXH cho lao động nữ được sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau, để góp phần làm sáng tỏ vấn đề đang nghiên cứu thì đề tài chỉ tập trung vào những quy định đặc thù dành cho lao động nữ, mà 2 văn bản quan trọng nhất là BLLĐ
2012 và Luật BHXH 2006 Để được hưởng các quyền lợi này thì người lao động nữ phải
Trang 30tham gia bảo hiểm, cho nên để đảm bảo điều này thì Nhà nước quy định người sử dụng lao động phải mua bảo hiểm bắt buộc cho người lao động theo Điều 186 BLLĐ 2012 Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về BHXH và pháp luật về bảo hiểm y tế Mục đích của bảo hiểm là nhằm trợ giúp phần nào cho người lao động khi cần sự hỗ trợ, cho nên có được khoản thu nhập này là sự động viên rất lớn về mặt vật chất và cả mặt tinh thần cho người lao động khi rơi vào những trường hợp khó khăn trong cuộc sống Sâu xa hơn là vì mục đích đảm bảo vấn đề An sinh
xã hội của đất nước được phát triển bền vững và ổn định
Điều 159 BLLĐ 2012 quy định trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con ốm, khám thai,
thực hiện các biện pháp tránh thai Thời gian nghỉ việc khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút
thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai, chăm sóc con dưới
07 tuổi ốm đau, nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ được hưởng trợ cấp BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH Vấn đề này được cụ thể ở Điều 21 đến Điều 26 Luật BHXH 2006
BHXH trợ cấp cho lao động nữ về chế độ thai sản, Điều 157 BLLĐ 2012 quy định trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của
pháp luật về BHXH Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, nếu có nhu cầu
và có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động
nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng Trong trường hợp này, ngoài
tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp
tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH Vấn đề này được
quy định từ Điều 27 đến Điều 37 Luật BHXH 2006
Chế độ hưu trí với mục đích nhằm giúp người lao động có thêm một khoản thu nhập khi không còn tham gia lao động nữa vì những lý do khác nhau Trong chế độ này, luật bảo hiểm có sự phân biệt về độ tuổi nghỉ hưu: giữa nam và nữ, giữa các ngành nghề
mà lao động nữ tham gia, hiện nay vấn đề này cũng đang gây ra nhiều tranh luận Nữ giới nghỉ hưu sớm hơn nam giới 5 năm, tùy thuộc vào ngành nghề mà nữ giới tham gia thì độ tuổi về hưu cũng không giống nhau.Chế độ này được Luật BHXH quy định từ Điều 49 đến Điều 62, rất có thể sắp tới đây sẽ có sự điều chỉnh lại cho hợp lý
Trang 311.2.2.3 Những quy định về các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ
Như đã phân tích, việc sử dụng nhiều lao động nữ gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp về một số mặt, cho nên các doanh nghiệp thường rất e ngại khi phải tuyển dụng lao động nữ Nhà nước một mặt phải bảo vệ lao động nữ nhưng mặt khác cũng phải tính đến các lợi ích chính đáng của người sử dụng lao động, vì đó cũng là một bên trong quan hệ lao động, nếu không cân bằng quyền lợi hợp lý sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
Doanh nghiệp và đơn vị được xem là có sử dụng nhiều lao động nữ cần phải đảm bảo các điều kiện do pháp luật quy định Các điều kiện này được nêu tại Điều 5 Nghị định 23/1996/NĐ-CP, khi doanh nghiệp thỏa một trong hai điều kiện sau thì sẽ được hưởng các ưu đãi dành cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ Thứ nhất, doanh nghiệp sử dụng thường xuyên từ 5 đến 100 lao động nữ và có số lao động nữ từ 50% trở lên so với tổng số lao động có mặt thường xuyên của doanh nghiệp Thứ hai, doanh nghiêp sử dụng thường xuyên trên 100 lao động nữ và có số lao động nữ từ 30% trở lên
so với tổng số lao động có mặt thường xuyên của doanh nghiệp Khi thỏa một trong hai điều kiện này thì doanh nghiệp cần lập hồ sơ để gửi cho Sở LĐTBXH địa phương xác nhận để được hưởng những ưu đãi theo Thông tư 03/1997/TT-BLĐTBXH
Nội dung những ưu đãi cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ: Luật Thuế thu nhâp doanh nghiệp 2008, Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008, Thông tư
số 123/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định “Giảm thuế cho doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng nhiều lao động nữ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng
số chi thêm cho lao động nữ” Căn cứ theo quy định tại Điều 6, 7 Nghị định
23/1996/NĐ-CP và Thông tư 03/1997/TT-BLĐTBXH thì các ưu đãi dành cho những doanh nghiệp này gồm: được vay vốn với lãi suất thấp từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm; doanh nghiệp được xét hỗ trợ kinh phí một lần không hoàn lại từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm khi có đủ điều kiện; doanh nghiệp được ưu tiên sử dụng một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng năm của doanh nghiệp để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ; doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi xét giảm thuế lợi tức để chi thêm chế độ cho lao động nữ, nhưng mức giảm không thấp hơn chi phí thêm do sử dụng nhiều
Trang 32lao động nữ mà doanh nghiệp tính toán được Đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ nhưng sản xuất không có lãi thì các khoản chi phí tăng thêm do sử dụng nhiều lao động nữ được xem là một khoản chi hợp lệ Nếu do có những khoản chi thêm
mà doanh nghiệp bị thua lỗ thì khoản lỗ này sẽ được giảm trừ vào lợi tức trước thuế của năm sau Đảng và Nhà nước ta đang từng bước để tạo thêm nhiều cơ hội cho người sử dụng lao động nữ, nhằm khuyến khích họ tuyển dụng và tạo việc làm cho lao động nữ, mặc dù việc thực hiện các chính sách này vẫn còn những bất cập nhưng phần nào cho thấy được sự nỗ lực từ phía Nhà nước để mang lại lợi ích chính đáng cho doanh nghiệp hưởng ứng những chính sách của Nhà nước
Tóm lại, từ sự thừa nhận về vai trò của người phụ nữ nói chung trong xã hội, đã tạo nền tảng cho lao động nữ ngày càng khẳng định được vị thế của mình Những chính sách dành cho lao động nữ ở rất nhiều văn bản khác nhau, những cuộc vận động tuyên truyền nhằm nâng cao vị trí của nữ lao động, đã được thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn mang lại những kết quả thiết thực hơn Đây là nguồn khích lệ lớn lao cho lao động
nữ để họ tiếp tục lao động và cống hiến cho sự nghiệp đổi mới đất nước trên con đường hội nhập và phát triển
Trang 33CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ
HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 Tổng quan về tình hình lao động và việc làm ở thành phố hiện nay
2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình lao động và việc làm của thành phố
Vấn đề lao động và việc làm chịu tác động bởi nhiều yếu tố, điều này làm cho tình hình chung luôn có những biến đổi Trong đó, có thể nói yếu tố về kinh tế xã hội là có tác động mạnh mẽ nhất, cho nên để nắm bắt được vấn đề lao động và việc làm ở Thành phố
Hồ Chí Minh (Tp.HCM) hiện nay cần phải tìm hiểu sơ lược những đặc điểm về kinh tế -
xã hội của thành phố, từ đó mới có thể có cái nhìn đúng đắn và toàn diện
2.1.1.1 Đặc điểm kinh tế của thành phố
Tp.HCM là nơi giao lưu kinh tế của nhiều vùng miền trong cả nước Thành phố nằm giữa vùng tài nguyên phong phú về nông sản và cây công nghiệp, rừng, khoáng sản, hải sản và dầu khí, cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển khá toàn diện, bên cạnh đó
là những con người năng động, giàu kinh nghiệm, có vốn tri thức Trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam - một mạng kinh tế năng động - thì Tp.HCM là trung tâm của vùng với các đầu mối giao thông quốc tế quan trọng: sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn, ga
Sài Gòn, nút giao thông đường bộ, đường thủy, đường không, tỏa đi khắp nơi Ngoài ra,
thành phố còn nằm ở vị trí địa lý là cửa ngõ quốc tế của khu vực Đông Nam Á, cùng với
hệ thống bến cảng dày đặc, nhà ga, sân bay quốc tế hiện đại…đã giúp thành phố thực sự trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính, dịch vụ, du lịch, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông với các địa phương trong nước cũng như ngoài nước Đây
là một trong những yếu tố cơ bản nhất để đưa thành phố trở thành trung tâm kinh tế hàng đầu của đất nước, dẫn dắt sự phát triển của cả vùng kinh tế phía Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố có ý nghĩa rất quan trọng đối với kinh tế của cả nước Tính riêng lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thành phố có mạng lưới thương mại cổ phần năng động hoạt động khắp nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với lãi suất
Trang 34thấp Đầu năm 2013 tính riêng trong lĩnh vực đầu tư, mặc dù số doanh nghiệp và dự án được cấp phép mới đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài không tăng so với cùng kỳ, thế nhưng tổng vốn đầu tư tăng và vốn điều chỉnh lại tăng cao hơn nhiều so cùng kỳ, cho thấy sự tăng trưởng trở lại của dòng vốn FDI, đồng thời thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư của thành phố Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ Tính chung, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng vốn trong quý 1-2013 đạt gần 500 triệu USD, trong đó thành phố đã cấp phép mới
65 dự án FDI, tổng vốn đăng ký 234,5 triệu USD, đồng thời có 4.823 doanh nghiệp trong nước được cấp phép mới với tổng vốn đăng ký hơn 17.000 tỷ đồng Chính những yếu tố thuận lợi này cùng với những chính sách ưu đãi của thành phố đã góp phần thu hút mạnh
mẽ các doanh nghiệp trong nước và đặc biệt là những doanh nghiệp nước ngoài vào đầu
tư tại thành phố
Tp.HCM vừa là trung tâm sản xuất, phân phối, vừa là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất trong vùng và cả nước Với vai trò đầu tàu, thành phố luôn có những biện pháp, những chiến lược nhằm phát huy những tiềm năng, thế mạnh của thành phố, để có những tác động tích cực đến những vùng kinh tế lân cận và của cả nước Theo Ủy ban nhân dân thành phố, thì mức tăng trưởng kinh tế bình quân trong 2 năm 2011-2012 của thành phố đạt 9,7%, kế hoạch năm 2013 thành phố đặt mục tiêu đạt 9,5% trở lên6 Đây là những kết quả mà thành phố phải nỗ lực rất lớn để đạt được, nhằm thu hút hơn nữa đầu tư để phát triển kinh tế xã hội, cùng với sự tăng trưởng này thì chuyển dịch cơ cấu của thành phố đang theo đúng hướng Quan trọng hơn nữa, mặc dù kinh tế tăng trưởng nhưng chỉ số CPI vẫn thực hiện được, kiềm chế được tỷ lệ làm phát Đây là những nỗ lực rất lớn từ Ủy ban nhân dân thành phố, nhằm duy trì ổn định tình hình phát triển kinh tế ngay cả khi có biến động xảy ra, đặc điểm nổi bật này của thành phố giúp các nhà đầu tư yên tâm hơn khi thực hiện các dự án đầu tư tại đây Với những kế hoạch đầu tư phát triển trong thời gian tới, hứa hẹn sẽ mang đến rất nhiều khởi sắc cho bức tranh kinh tế xã hội thành phố
Tình hình sản xuất ở một số ngành có tỷ trọng cao như sau:
o Bảng 1: Chỉ số phát triển công nghiệp trên địa bàn Tp.HCM tháng 5/2013 7
Trang 35Một số ngành chủ yếu
Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa
Trang 36phù hợp cho mình Kinh tế phát triển năng động làm tiền đề vững chắc để kéo hoạt động của các lĩnh vực khác đi lên Mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, các hoạt động chăm lo cho đời sống tinh thần từng bước được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người của thành phố đạt khoảng 3.600 đô la Mỹ Tuy vậy, vấn đề về chênh lệch khoảng cách giàu nghèo lại rất lớn, nên đời sống của đại bộ phận người dân lao động cũng còn đó những khó khăn Để xứng đáng là vai trò đầu tàu của nền kinh tế đất nước, thành phố luôn có những chính sách và biện pháp để nâng cao hơn nữa vị thế và phát huy tối đa tiềm lực của mình Đặc biệt, năm 2013 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2011-
2015, đòi hỏi thành phố phải có những nỗ lực đặc biệt, phát huy cao nhất truyền thống năng động sáng tạo của người dân thành phố Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị đã xác định thành phố là đầu tàu phát triển của cả nước, nơi tập trung thu hút các nguồn lực và có sức lan tỏa mạnh mẽ, điều này chứng tỏ niềm tin và sự kỳ vọng của Bộ Chính trị vào thành phố Để thực hiện trọng trách này, thành phố xác định xây dựng kinh tế vẫn là nhiệm vụ
ưu tiên hàng đầu
2.1.1.2 Đặc điểm về xã hội của thành phố
Các yếu tố về xã hội ảnh hưởng mạnh mẽ đến lực lượng lao động nữ tại thành phố Tp.HCM là nơi tập trung dân cư đông đúc lên đến 7.521.138 người năm 2011, với mật độ dân số cao gấp nhiều lần so với cả nước Năm 2011, mật độ dân số trung bình của cả nước là 265người/km2, trong đó thì của thành phố đã là 3590người/km2 Còn tốc độ gia tăng dân số thì lại diễn ra rất mạnh mẽ, đặc biệt là tỷ lệ gia tăng cơ họ lên đến 19,86 ‰
Đời sống đổi thay qua từng thời kỳ, những tiện ích của cuộc sống hiện đại văn minh mang lại là thế, nhưng thành phố vẫn chưa giải quyết tốt những mặt trái mà nền kinh tế thị trường tác động Kinh tế phát triển cũng kéo theo nhiều hệ lụy: dân số quá đông, mật độ dân số dày đặc, tốc độ gia tăng dân số lại nhanh Biến đổi xã hội dễ nhận thấy nhất ở thành phố này khi bước vào quá trình công nghiệp hóa đó là sự gia tăng dân
số cơ học với tốc độ ngày càng nhanh do quá trình di dân từ các vùng nông thôn đến thành phố, nhưng dường như trong suốt thời gian vừa qua thành phố đã chưa có những chuẩn bị cần thiết và đầy đủ để đón nhận sự di dân này, thế nên đã và đang tồn tại những lúng túng trong việc giải quyết những vấn đề gắn liền với sự gia tăng dân số Số lượng các khu công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp, khu dân cư mọc lên khắp nơi, sau
Trang 37đó là những hệ lụy về ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, các dịch bệnh truyền nhiễm
và hàng loạt các tệ nạn xã hội khác Tất cả những mặt trái này làm cho đời sống người dân còn nhiều thiệt thòi, mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ em - những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong cuộc sống
Để phát huy tối đa những mặt tích cực mà nền kinh tế thị trường mang lại, đồng thời hạn chế những mặt trái cũng do chính nền kinh tế này tác động, đòi hỏi các cấp lãnh đạo và người dân phải cùng chung tay xây dựng thành phố phát triển hơn nữa, để xứng đáng với sự kỳ vọng của đất nước
2.1.2 Các vấn đề nổi bật về tình hình lao động và việc làm ở thành phố hiện nay
Tp.HCM - một trung tâm kinh tế của cả nước, nơi tập trung đông đúc các loại hình doanh nghiệp và phát triển nhộn nhịp, thị trường lao động và việc làm ở đây vô cùng sôi nổi và luôn biến động Nhìn chung, tình hình lao động và việc làm ở đây có những chuyển biến tốt trong những năm qua, một phần là nhờ vào những chính sách hỗ trợ và
ưu đãi kịp thời từ thành phố
Chất lượng lao động ngày càng được nâng cao, số lao động thông qua đào tạo ngày được mở rộng Về công tác đào tạo nghề, đến cuối tháng 9 năm 2012 thì thành phố
đã có 420 cơ sở dạy nghề, trong đó có 11 trường cao đẳng nghề; 28 trường trung cấp nghề; 67 trung tâm dạy nghề; 18 trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và
270 doanh nghiệp, các tổ chức có tham gia đào tạo nghề Quy mô đào tạo mỗi năm đạt trên 330.000 học sinh, sinh viên Riêng 9 tháng năm 2012, thành phố đã tuyển sinh được 18.850 chỉ tiêu cao đẳng nghề (trong đó, 5.905 chỉ tiêu công lập); 12.810 chỉ tiêu trung cấp nghề (8.770 chỉ tiêu công lập); sơ cấp nghề, dạy nghề dưới 3 tháng là 299.622 chỉ tiêu, góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp năm 2012 của thành phố lên 64% Tuy nhiên, chính sách đào tạo nghề chưa thu hút người học nghề quan tâm và các
Cơ hội việc làm và kết quả giải quyết việc làm của thành phố trong thời gian qua có nhiều tín hiệu khả quan Khoảng
8
SINH-XA-HOI-CHAM-SOC-BAO-VE-TRE-EM/language/vi-VN/Default.aspx