Vì lý do đó, khi thực hiện đề tài này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về hoạt động giám sát của MTTQVN đối với chính quyền địa phương theo tinh thần của Hiến pháp 2013, Luật MTTQVN 2015
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** -
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
CHU THỤC OANH
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CƠ QUAN DÂN CỬ VÀ CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG
(Từ thực tiễn tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Hành chính – Nhà nước Niên khóa: 2012 – 2016
Người hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Thị Ngọc Mai Người thực hiện: Chu Thục Oanh
MSSV: 1253801011152 Lớp: CLC37D
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2016
Trang 2Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Ngọc Mai
Sinh viên Chu Thục Oanh đã hoàn thành khóa luận đúng theo quy định của Khoa Luật Hành chính và Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
1 Về nội dung
Đề tài sinh viên lựa chọn phù hợp với chuyên ngành Luật Hành chính và không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đó, có tính thời sự và giá trị thực tiễn đối với lĩnh vực nghiên cứu
Kết cấu khóa luận của sinh viên là hợp lý, đảm bảo giải quyết được những vấn đề nghiên cứu đặt ra Những kiến nghị của sinh viên trong khóa luận là thiết thực và có tính khả thi
2 Về tinh thần, thái độ làm việc
Sinh viên có thái độ làm việc tích cực, say mê nghiên cứu tìm hiểu các tài liệu, số liệu để phục vụ cho đề tài; biết cách xử lý các tài liệu một cách khéo léo
Sinh viên thực hiện đúng yêu cầu và tiến độ về viết khóa luận tốt nghiệp theo yêu cầu của Khoa và của giảng viên
Trang 3-*** -
Được sự phân công của nhà trường và sự đồng ý hướng dẫn của Giảng viên hướng
dẫn ThS Nguyễn Thị Ngọc Mai, em đã thực hiện đề tài: “Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương – Từ thực tiễn tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai”
Không có một sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ
dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp của người khác Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cử nhân này, trước hết, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy
cô Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn quý giá cho em trong suốt bốn năm học và rèn luyện tại trường Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Ngọc Mai – giảng viên khoa Luật Hành chính đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách tốt nhất, nhưng với những hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự thông cảm và những ý kiến đóng góp, phê bình của quý thầy cô để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn Đó là sẽ hành trang giúp em hoàn thiện kiến thức của mình sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MTTQVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Pháp lệnh dân chủ Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở số
34/2007/PL-UBTVQH
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng 8
7 Bố cục của đề tài 8
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CƠ QUAN DÂN CỬ VÀ CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG 9
1 Một số vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 9
1.1 Khái quát về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 9
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 9
1.1.2 Vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị 12
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 17
1.2 Những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng 18
1.2.1 Khái niệm giám sát và hoạt động giám sát 18
1.2.2 Phân biệt hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các hoạt động giám sát khác trong hệ thống chính trị 20
2 Những vấn đề pháp lý về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 22
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 23
2.2 Mục đích, nguyên tắc và tính chất của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 27
2.2.1 Mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 27
2.2.2 Nguyên tắc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 29
2.2.3 Tính chất giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 31
2.3 Nội dung, hình thức, phương pháp giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 33
2.3.1 Nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 33
Trang 6cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 39
2.4 Giá trị của kết quả giám sát 41
Kết luận Chương 1 44
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CƠ QUAN DÂN CỬ VÀ CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG (Từ thực tiễn tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) 45
1 Thực trạng hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành nhà nước ở địa phương 45
1.1 Giám sát trong công tác tham gia xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 46
1.1.1 Giám sát công tác bầu cử đại biểu HĐND 46
1.1.2 Giám sát thông qua việc tiếp xúc cử tri đại biểu HĐND 49
1.1.3 Giám sát cán bộ, công chức, cán bộ dân cử ở địa phương 53
1.2 Giám sát việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành chính sách pháp luật của chính quyền địa phương 57
1.2.1 Giám sát việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương 57
1.2.2 Giám sát việc tổ chức thi hành chính sách pháp luật của chính quyền địa phương 60
1.3 Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của UBND 68
1.4 Đánh giá chung về thực trạng hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 71
1.4.1 Những kết quả đã đạt được và nguyên nhân .71
1.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 72
2 Phương hướng hoàn thiện hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong giai đoạn hiện nay 77
2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 77
2.2 Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong giai đoạn hiện nay 78
2.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 78
2.2.2 Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp 80
2.2.3 Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát 82
Kết luận Chương 2 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Xuất phát từ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và tầm quan trọng trong hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử
và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Ba mươi năm đổi mới (1986 – 2016) là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là sự nghiệp cách mạng to
lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây là đánh giá tổng quát tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, cũng tại Đại hội này, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh”1 Đây chính là một trong những mục tiêu quan trọng
mà Đảng ta đề ra, để đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu ấy, không thể không kể đến vai trò và vị trí của MTTQVN
Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCS Việt Nam) sáng lập (ngày 18/11/1930), MTTQVN đã ra đời và phát huy vai trò to lớn của mình trong hoạt động chính trị Việt Nam Vai trò to lớn của MTTQVN đối với hoạt động của bộ máy chính trị không chỉ thể hiện ở việc đây là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; tham gia xây dựng Đảng, nhà nước; thực hiện dân chủ, phản biện xã hội mà vai trò ấy còn thể hiện ở một khía cạnh vừa là quyền, vừa là chức năng và
là nhiệm vụ của MTTQVN, đó là thực hiện hoạt động giám sát Chức năng giám sát của MTTQVN đối với các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện chính sách pháp luật mang tính chất toàn dân nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước khác đối với các chủ thể nói trên Trong đó, vai trò giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được xem là một trong những trọng tâm của công tác tham gia xây dựng chính quyền địa phương Thông qua hoạt động giám sát đối với chính quyền địa phương, MTTQVN sẽ phát hiện ra những sai phạm, khuyết điểm, đồng thời kiến nghị
xử lý, sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật để từ đó góp phần xây dựng đất nước và phát
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng trung ương Đảng, Hà
Nội, tr.63
Trang 8huy quyền làm chủ của nhân dân Thực tiễn đã cho thấy, hoạt động giám sát của MTTQVN đã đóng góp không ít vào mục tiêu phát triển đất nước ta thời gian qua, với tính hiệu quả của hoạt động giám sát, nhiều chủ trương, chính sách chưa phù hợp đã được điều chỉnh cho phù hợp, nhiều hạn chế, bất cập đã được sửa đổi và khắc phục kịp thời
1.2 Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm mục đích thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giám sát là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQVN và các tổ chức đoàn thể, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối và các quy
định pháp luật Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ X đã khẳng định: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN, các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc
tổ chức thực hiện đối với công tác cán bộ”2, đồng thời tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện
để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát
và phản biện xã hội”3 Quan điểm đề cao vai trò giám sát của MTTQVN một lần nữa lại
được nhắc đến trong Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII: “bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội”4
Trên tinh thần của các văn kiện này, hoạt động giám sát của MTTQVN được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước đặc biệt phải
kể đến Hiến pháp 2013, Luật MTTQVN 2015 Việc thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng và quy định pháp luật của Nhà nước nhằm xác định rõ vị trí, vai trò của MTTQVN trong hoạt động giám sát là nền tảng quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương và đội ngũ cán bộ, công chức, khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí qua đó từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân
1.3 Xuất phát từ những bất cập trong hoạt động động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay
Quy định của pháp luật và quan điểm của Đảng thời gian qua cho thấy được tầm quan trọng của MTTQVN nói chung và chức năng giám sát của MTTQVN nói riêng Tuy
Trang 9nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà hiện nay vai trò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của MTTQVN còn chưa đươc đề cao và khá mờ nhạt, đặc biệt, chức năng giám sát của MTTQVN chưa thực sự đem lại hiệu quả trong hoạt động của bộ máy chính quyền và nhà nước đúng như tầm quan trọng của nó Thực tiễn triển khai hoạt động giám sát trong nhiều năm qua cho thấy MTTQVN còn tỏ ra lúng túng về nội dung, phương pháp thực hiện dẫn đến hiệu quả còn hạn chế Trước hết, hoạt động giám sát này hiện chỉ mang tính hình thức, được quy định trong văn bản mà chưa có những hành động cụ thể cũng như cơ chế chặt chẽ, giám sát phần nhiều mới được thể hiện qua các phát hiện, nêu ý kiến rất nhẹ nhàng tại các kỳ họp, phiên họp của các cơ quan tổ chức thuộc đối tượng giám sát, chưa
có những phương thức giám sát đúng nghĩa Bên cạnh đó, hoạt động giám sát của MTTQVN vẫn chưa được quan tâm và chấp hành đúng mức của các chủ thể khác, điều này xuất phát từ cơ chế cũng như mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan là chưa hoàn thiện Ngoài ra, vai trò giám sát thiếu tính độc lập, chưa cụ thể Công tác giám sát việc cải cách hành chính, chống tham nhũng, chống tiêu cực xuống cấp do lối sống của một bộ phận cán bộ, Đảng viên còn hạn chế, công tác cán bộ Mặt trận còn yếu, vấn đề kinh phí hoạt động, hoạt động giám sát chưa thường xuyên, liên tục Bản thân MTTQVN cũng còn nhiều thiếu sót (như: nhận thức về giám sát chưa đầy đủ và sâu sắc, xem nhẹ quyền giám sát của mình, hoạt động giám sát chỉ gói gọn trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBMTTQVN) chưa tổng hợp sức mạnh của các tổ chức thành viên tham gia, còn né tránh, ngại va chạm với các cơ quan nhà nước…) cũng là lý do quan trọng góp phần dẫn đến tính không hiệu quả trong hoạt động giám sát của MTTQVN Nhìn chung hoạt động giám sát của MTTQVN còn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc cần được nghiên cứu và đưa
ra những hướng đề xuất hoàn thiện để trong tương lai, với sự giám sát của mình, MTTQVN sẽ hoàn thành tốt hơn vai trò và nhiệm vụ
Thời gian qua, hoạt động giám sát của MTTQVN đối với chính quyền địa phương tuy đã được đẩy mạnh nhưng vẫn không thoát ra khỏi những bất cập chung của MTTQVN nói trên Nhiều nội dung quan trọng trong nhiệm vụ giám sát của MTTQVN chưa quy định cụ thể như việc phối hợp tham gia các đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, nhiều lĩnh vực nhân dân có ý kiến nhưng chưa có cơ chế cụ thể để giám sát như giám sát các chương trình do Nhà nước đầu tư trực tiếp, thu chi các loại quỹ, khoản đóng góp… Mặt khác, trong các văn bản còn thiếu những quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phát hiện, trả lời kiến nghị của MTTQVN và trách nhiệm trong việc đáp ứng các điều kiện cần thiết cho hoạt động giám sát của MTTQVN Do đó, chất lượng giám sát của MTTQVN còn rất thấp, chưa đáp ứng được
sự mong đợi của nhân dân
Trang 10Chính vì lý do trên, tác giả chọn chủ đề: Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (từ thực tiễn tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử
nhân luật niên khóa 2012 – 2016
2.Tình hình nghiên cứu
2.1 Các sách chuyên khảo; luận án, luận văn, khóa luận
Hoạt động giám sát của MTTQVN đã trở nên khá quen thuộc với giới học giả pháp
lý cũng như giới hoạt động chính trị Những nghiên cứu sớm nhất về hoạt động giám sát
là các tham luận tại Hội thảo về giám sát của MTTQVN từ năm 1997 Từ sau năm 2000,
số lượng các đề tài nghiên cứu về hoạt động này ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên sâu về hoạt động giám sát của MTTQVN, đặc biệt là giám sát cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Tiêu biểu trong các công trình nghiên cứu về giám sát của MTTQVN phải kể đến:
luận án tiến sĩ Chính trị học: “Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN hiện nay” của tác giả Nguyễn Thọ Ánh, luận án này nghiên cứu chức năng
giám sát của MTTQVN dưới hình thức là một loại quyền lực xã hội tồn tại trong mối quan hệ thống nhất với quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước, luận án đã nêu lên được những vấn đề lý luận cơ bản của giám sát và phản biện xã hội, đưa ra nội dung và mục đích giám sát, trong đó, tác giả đã khẳng định giám sát là một yêu cầu tất yếu của việc kiểm soát quyền lực của nhân dân tuy nhiên luận án vẫn chưa đề cập đầy đủ các hoạt động giám sát quan trọng của MTTQVN mà chỉ tập trung đưa ra những ưu và hạn chế trong một số hoạt động giám sát cụ thể, do đó, cần nghiên cứu hoạt động giám sát của MTTQVN ở phạm vi rộng hơn theo Hiến pháp 2013 và Luật MTTQVN 2015 Đề tài
nghiên cứu khoa học KX.10-07 (2006): “Xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị” do GS.TS Đào Trí Úc làm chủ nhiệm, đề tài này đã làm rõ
vấn đề lý luận về quan điểm của Đảng trong việc phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước
pháp quyền và nhu cầu về sự kiểm tra, giám sát của nhân dân Sách chuyên khảo “Vai trò của MTTQVN đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay” của
tác giả Nguyễn Thị Hiền Oanh là cuốn sách tập trung về vấn đề đảm bảo dân chủ, chỉ đề cập đến giám sát như một khía cạnh nhỏ, chưa nghiên cứu sâu vào hoạt đông giám sát của
MTTQVN Sách chuyên khảo của tác giả Đào Trí Úc: “Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước”, thông qua cuốn sách này tác giả đã cho
thấy cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước
Trang 11thông qua hai hình thức: một là, thông qua các tổ chức đại diện như Quốc hội, HĐND, MTTQVN, các đoàn thể…; hai là, trực tiếp giám sát và trên thực tế, quyền dân chủ, quyền giám sát của nhân dân hiện nay nhiều khi còn mang tính hình thức, do đó, kết quả không đạt được như mong muốn, vì vậy, cuốn sách này cũng chưa có những nghiên cứu sâu vào hoat động giám sát của MTTQVN mà chỉ nhìn nhận hoạt động này một cách khái quát chung chung
Bên cạnh đó, còn một số luận văn thạc sĩ, khóa luận cử nhân khác về hoạt động
giám sát của MTTQVN như: khóa luận cử nhân “MTTQVN với việc kiểm tra giám sát các
cơ quan nhà nước” của tác giả Lương Văn Hùng, khóa luận này đã nghiên cứu sơ lược về
MTTQVN, hoạt động giám sát của MTTQVN với cơ quan nhà nước Tuy nhiên, công trình này chưa đi vào nghiên cứu kĩ vấn đề lý luận hoạt động giám sát Bên cạnh đó, khóa luận này được thực hiện vào năm 2001 khi còn Luật MTTQVN 1999 và Hiến pháp 1992,
do đó, so với tình hình hiện nay, khi hoạt động giám sát đã được quy định lại trong Luật MTTQVN 2015 và Hiến pháp 2013 thì công trình này chưa được cập nhật những điểm
mới cũng như không phù hợp với tình hình của đất nước hiện tại Luận văn “Phản biện xã hội của MTTQVN” của tác giả Nguyễn Thị Hải Vân, luận văn “Vai trò của MTTQVN trong việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” của tác giả Đào Anh Tuấn Các công
trình này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và phân tích một số khía cạnh của vấn đề mà không đi vào nghiên cứu một cách tổng thể Nhìn chung, hoạt động giám sát của MTTQVN ở hai luận văn này chỉ được nghiên cứu khái quát và song song với hoạt động phản biện xã hội của MTTQVN
Nhìn chung, các nghiên cứu về giám sát của MTTQVN là nghiên cứu chung hoặc nghiên cứu ở khía cạnh này hay khía cạnh khác chứ không đi sâu vào nghiên cứu hoạt động giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
2.2 Các bài viết, tạp chí
Hoạt động giám sát của MTTQVN cũng được đề cập đến ở nhiều bài viết, tạp chí
khác như: “Vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền” Đoàn Minh Huấn – Phó giám đốc Học viện chính trị (Tạp chí tổ chức nhà nước 5/2010), “Để phát huy vai trò giám sát và phản biện của MTTQVN” (Phạm Ngọc Quang, Báo Đại đoàn kết 06/5/2011), “Phát huy dân chủ, tăng cường giám sát và phản biện xã hội để xây dựng sự đồng thuận và đại đoàn kết dân tộc” (Lê Thi, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam 2010), “Vai trò giám sát của mặt trận đối với UBND quận, huyện, phường sẽ
ra sao khi không còn HĐND” (Bùi Xuân Đức, Tạp chí Mặt trận số 63), “Nhân dân giám sát quyền lực Nhà nước” (Nguyễn Thị Lan, Tạp chí Mặt trận số 110), “Chức năng giám
Trang 12sát của MTTQVN với hoạt động của cơ quan lập pháp” (Nguyễn Văn Thanh, Tạp chí Mặt trận số 102), “Nhìn lại 10 năm hoạt động giám sát của MTTQVN” (Đỗ Duy Thường, Tạp chí Mặt trân số 69), “Giám sát xã hội – một phương thức góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta” (Hồ Tấn Sáng, Tạp chí Tổ chức Nhà nước tháng 4/2014), “Quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 2013”
(Hoàng Minh Hội, tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 4/2014)… và nhiều bài viết trên các tạp chí, báo khác Tuy nhiên, hoạt động giám sát của MTTQVN ở các báo và tạp chí này chỉ nghiên cứu vấn đề ở dưới góc độ một bài viết mà chưa đi vào những mặt lý luận và thực tiễn hoạt động giám sát thuộc chức năng, nhiệm vụ của MTTQVN
Năm 2014 là năm đầu tiên Mặt trận triển khai chức năng giám sát xã hội theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Quyết định 217 của Bộ Chính trị ngày 12/12/2013 về việc ban hành quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị xã hội Đây cũng là năm làm rõ cơ chế giám sát của Mặt trận là giám sát của nhân dân, căn
cứ vào nguyện vọng của nhân dân, phối hợp cùng với chính quyền để giám sát Chính vì vậy, hoạt động giám sát của MTTQVN theo nội dung và nguyên tắc mới của Hiến pháp
2013 được đưa vào các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý là không nhiều Nhìn chung, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về chức năng giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Vì lý
do đó, khi thực hiện đề tài này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về hoạt động giám sát của MTTQVN đối với chính quyền địa phương theo tinh thần của Hiến pháp 2013, Luật MTTQVN 2015, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; khai thác các vấn đề thực tiễn đang đặt ra cũng như đưa ra những đề xuất mang tính chất hoàn thiện cơ chế, để từ đó khắc phục những thiếu sót về hoạt động giám sát của MTTQVN, đặc biệt là giám sát cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương mà những nghiên cứu trước đây còn thiếu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ vị trí, vai trò của MTTQVN trong hệ thống chính trị;
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn về hoạt động giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
- Từ đó đề tài đưa ra được những nhu cầu đổi mới, những kiến nghị hoàn thiện cơ chế, quy định của pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (gắn với thực tiễn tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai)
Trang 13Để đạt được những mục đích đó, cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về MTTQVN;
- Phân tích những quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động giám sát cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương của MTTQVN;
- Nghiên cứu thực tiễn hoạt động giám sát cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương của MTTQVN tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai; đưa ra được những
ưu điểm và hạn chế, từ đó có được những kiến nghị hoàn thiện
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Những vấn đề lý luận và pháp lý đối với hoạt động giám sát của MTTQVN đối với
cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
- Thực tiễn đặt ra cho hoạt động giám sát cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương của MTTQVN tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai Những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, những vấn đề cần giải quyết, hướng khắc phục
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước (lấy thực tiễn tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai)
Hiện nay, có nhiều văn bản pháp luật mới ra đời thay thế cho các văn bản pháp luật
cũ hơn đã hết hiệu lực, trong đó Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 (có hiệu lực ngày 1/1/2016) và Luật tổ chức chính quyền địa phương là hai văn bản hết sức quan trọng của
đề tài này Tuy nhiên tại hai văn bản mới này những quy định về hoạt động giám sát của MTTQVN ngoài việc được quy định chi tiết hơn thì nhìn chung không có gì khác so với các văn bản trước đây, do đó, trong đề tài này, ở phần lý luận và cơ sở pháp lý (Chương 1), tác giả chủ yếu sử dụng Luật MTTQVN số 75/2015/QH13, Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 và các văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn hiệu lực khác Đồng thời có đưa ra những quy định của Luật MTTQVN 1999 để bài viết được chi tiết hơn Bên cạnh đó, vì lý do thời điểm có hiệu lực của Luật MTTQVN 2015 và Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài này là quá ngắn,
vì vậy, ở phần thực trạng (Chương 2) tác giả sử dụng những số liệu trong từng thời kỳ tương ứng với văn bản luật có hiệu lực tại thời điểm đó
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, những quan điểm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, những đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Trang 14Nhà nước làm trọng tâm trong bài nghiên cứu của mình Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như so sánh, phân tích, diễn giải, quy nạp…để làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Ý nghĩa khoa học: Là đề tài nghiên cứu về hoạt động giám sát của MTTQVN đối với cơ
quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, đưa ra những vấn đề lý luận
và cung cấp cách nhìn có hệ thống hơn về pháp luật có liên quan
Giá trị ứng dụng: Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn là cơ sở
khoa học cho việc đổi mới nhận thức, quan điểm về vai trò giám sát của MTTQVN đối với HĐND và UBND các cấp Đề tài giúp đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện hơn hoạt động giám sát của MTTQVN nói chung và giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân
cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng Đề tài có thể dùng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu có liên quan sau này
7 Bố cục của đề tài: Đề tài bao gồm phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và nội
dung được thể hiện ở hai chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận – pháp lý về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Chương 2 Thực trạng và phương hướng hoàn thiện hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam đối với các cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Từ thực tiễn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai)
Trang 15CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CƠ QUAN DÂN CỬ VÀ CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG
1 Một số vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1.1 Khái quát về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Cách đây 86 năm, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã diễn ra rầm rộ, được đánh giá
là đỉnh cao của phong trào cách mạng trong những năm 1930–1931, ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCS Đông Dương) ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam Mặt trận này ra đời với mục đích nhằm đoàn kết các đảng phái, giai cấp, nhân sĩ trí thức Việt Nam và nòng cốt là liên minh công – nông dưới sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh chống đế quốc, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh Sự
ra đời của Hội phản đế đồng minh đã đánh dấu những bước đi đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của MTTQVN ngày nay Tuy nhiên, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã
bị chính quyền thực dân đàn áp khốc liệt và nhanh chóng tan rã Các tổ chức của ĐCS bị truy lùng và khủng bố, hoạt động Hội phản đế đồng minh cũng vì thế mà bị tê liệt
Khi phong trào Mặt trận bình dân Pháp giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Pháp, chính quyền Pháp tại Việt Nam đã thi hành chính sách đối ngoại hòa bình và cởi
mở hơn Vào tháng 3/1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của ĐCS Đông Dương đã thông qua nghị quyết về công tác Phản đế liên minh, quyết định thành lập và thông qua điều lệ của tổ chức nhằm tập hợp tất cả các lực lượng phản đế toàn Đông Dương Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương ĐCS Đông Dương họp tại Thượng Hải (11/1936), Đảng ta chủ trương tạm thời chưa đối đầu với Pháp và quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương nhằm tập hợp rộng rãi các giai tầng, đảng phái, đoàn thể chính trị, tôn giáo khác nhau để đấu tranh đòi những quyền dân chủ tối thiểu nhất, tháng 3/1938 đổi tên thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông dương, gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương Với mục tiêu nhằm chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi tự
do, cơm áo và hoà bình, Mặt trận đã phát động được phong trào quần chúng rầm rộ, rộng rãi trong nhiều tầng lớp nhân dân Vào lúc này, sau khi chính phủ Mặt trận bình dân Pháp sụp đổ, chính quyền thực dân siết chặt hoạt động của các phong trào dân chủ Tuy nhiên,
dù rút vào bí mật, ĐCS Đông Dương vẫn tiếp tục chỉ đạo các hoạt động công khai và bán công khai của Mặt trận, dần đưa từ hình thức phong trào, đi vào tính chất của một tổ chức
Trang 16Tháng 9/1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Tại Đông Dương, chính quyền thực dân ban bố tình trạng thời chiến, đàn áp thẳng tay Mặt trận Dân chủ Đông Dương Tháng 11/1939, ĐCS Đông Dương chuyển hướng chỉ đạo, xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương là giải phóng dân tộc, chuyển các hoạt động của Mặt trận Dân chủ thành hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, phát triển dưới hình thức bí mật và công khai
Năm 1940, quân Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng và làm tay sai cho Nhật Nhận rõ sự chuyển biến của tình thế cách mạng trong giai đoạn này, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị Trung ương ĐCS Đông Dương lần thứ 8 (ngày 10 - 19/5/1941) xác định cách mạng Việt Nam lúc này là Cách mạng dân tộc giải phóng đồng thời, Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp Nhật với tên gọi Việt Nam Độc lập
đồng minh gọi tắt là Việt Minh được ra đời ngày 19/5/1941 Chủ trương của Mặt trận bấy
giờ là nhằm tranh thủ sự ủng hộ của lực lượng đồng minh, đồng thời tập hợp lực lượng, chờ thời cơ đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân Mặt trận Việt Minh đã thu hút
được mọi giới đồng bào yêu nước đưa tới “cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật” của toàn dân
ta trong những năm 1941–1945
Lực lượng Việt Minh phát triển nhanh chóng, trở thành lực lượng chính trị quan trọng tại Việt Nam khi Thế chiến kết thúc và quân Nhật đầu hàng Đồng Minh Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã diễn ra và thắng lợi trên cả nước Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp và phát huy mạnh mẽ sức mạnh dân tộc của Việt Nam trên cơ sở độc lập, tự do và chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được tập hợp trong Mặt trận Việt Minh Kết quả của cuộc tổng khởi nghĩa ấy, là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh dấu một bước mới trong lịch sử công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân
Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng non trẻ, thù trong, giặc ngoài, Đảng ta thấy cần phải có những hình thức và biện pháp mới để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh để giữ vững chính quyền Tháng 5/1946, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam gọi tắt là Hội Liên Việt được thành lập đã thu hút được thêm nhiều tầng lớp nhân dân Đến tháng 3/1951, Đảng Lao động Việt Nam ra công khai, tổ chức đại hội thống nhất Việt minh – Liên Việt lấy tên là Mặt trận Liên Việt (ngày 3/3/1951) Mặt trận Liên Việt đã góp phần tích cực trong việc đưa đất nước ta thoát khỏi thế “ngàn cân treo sợi tóc” giai đoạn 1945 – 1946, góp phần động viên công sức của toàn quân, toàn dân lập nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam
Trang 17Năm 1955, Đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam, hất thực dân Pháp và phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ Từ đây, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền khác nhau với hai thể chế chính trị khác nhau Thời kỳ này, cách mạng Việt Nam tồn tại hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở miền Bắc và thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, đi đến thống nhất đất nước Tại miền Bắc, Đảng Lao động Việt Nam quyết định chủ trương thành lập MTTQVN (gồm Đảng Lao động, Đảng
Dân chủ, Đảng Xã hội, ) (ngày 10/9/1955) với mục đích "đoàn kết mọi lực lượng dân tộc
và dân chủ, đấu tranh đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh", thay thế Mặt trận Liên Việt,
tham gia cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đánh dấu bước phát triển vô cùng quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của MTTQVN Trong lúc đó, tại miền Nam, cùng với cao trào Đồng khởi của đồng bào miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (20/12/1960) nhằm đoàn kết toàn dân đánh bại đế quốc Mỹ và đánh đổ nguỵ quyền tay sai, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc
Trong cao trào tiến công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân (1968), Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam ra đời (20/4/1968) MTTQVN, Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam đã luôn luôn hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau tạo nên một sức mạnh không gì lay chuyển nổi của khối đại đoàn kết dân tộc và đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân đến thắng lợi hoàn toàn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà Sau khi thống nhất nước nhà, sự toàn vẹn của một quốc gia đòi hỏi hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, ngày 31/1/1977, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất quyết định thống nhất ba
tổ chức: MTTQVN, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, lấy tên là MTTQVN, thông qua chương trình hoạt động và Điều lệ mới nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân để cùng nhau phấn đấu xây dựng Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và tích cực góp phần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới
Từ những năm 1930 cho đến nay, không có thời kỳ nào vắng bóng tổ chức Mặt trận Với những thắng lợi đã được giành trong hơn 80 năm qua, có thể thấy, trong lịch sử tồn tại của mình, hoạt động Mặt trận luôn gắn liền với Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận đã thực sự là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị, vai trò ấy của Mặt trận được thể hiện qua các thời kì từ chiến tranh đến hòa bình của dân tộc và được ghi nhận trong rất nhiều văn bản pháp lý quan trọng của quốc gia Mặc dù trải qua nhiều thời
kì hoạt động khác nhau với những tên gọi không giống nhau, MTTQVN vẫn không ngừng
Trang 18phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, góp phần quan trọng trong thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến tới thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh, góp phần thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”5
1.1.2 Vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị
Qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau của đất nước, sự tồn tại của MTTQVN
đã chứng minh đây là bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống chính trị quốc gia và
vị trí, vai trò ấy là do lịch sử, do nhân dân ta thừa nhận Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”6 Xuất phát từ bản chất đó của nhà nước ta, quyền lực nhân dân trong chế độ XHCN được thực hiện thông qua hệ thống chính trị Do đó với tư cách là một công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ đặc biệt của nhân dân, MTTQVN có một vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là hệ thống các tổ chức
do liên minh công nông và đội ngũ tri thức lập ra để thực hiện sự thống trị của mình Theo Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/8/1999 thì hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, MTTQVN và các tổ chức chính trị – xã hội7 Điều lệ MTTQVN khóa
VIII tiếp tục thừa nhận: “MTTQVN là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên”8 Như vậy, tồn tại bên cạnh ĐCS Việt Nam đóng vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là lực lượng lãnh đạo của cả hệ thống chính trị9 và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là trung tâm, trụ cột trong hệ thống chính trị10, MTTQVN tồn tại như một bộ phận không thể thiếu, MTTQVN cùng các thành viên của mình đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là nền tảng và là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước
5
Lời nói đầu Điều lệ MTTQVN khóa VIII
6 Mục I.2 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (được bổ sung, phát triển năm 2011)
7 Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/8/1999 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
8
Lời nói đầu Điều lệ MTTQVN khóa VIII
9 Điều 4 Hiến pháp 2013
10 Điều 2 Hiến pháp 2013
Trang 19Về vai trò của MTTQVN, Điều 9 Hiến pháp 2013 đã thừa nhận: “MTTQVN là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị –
xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài MTTQVN là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 11 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định:
“… MTTQVN, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo bảo vệ lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân”12 MTTQVN đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, qua đó, góp một phần không nhỏ vào quá trình xây dựng một nhà nước pháp quyền và dân chủ ở Việt Nam, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ vững chắc độc lập của Tổ quốc, đưa đất nước hội nhập với tiến trình phát triển của thế giới Ngoài
ra, vị trí và và vai trò của MTTQVN còn được khẳng định lại tại Điều 1 Luật MTTQVN
2015, Điều lệ MTTQVN khóa VIII
Mối quan hệ giữa MTTQVN với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị
Như đã đề cập ở trên, MTTQVN với vị trí là một trong những bộ phận cấu thành nên hệ thống chính trị, tồn tại bên cạnh ĐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam, do đó, khi
đề cập đến vị trí của MTTQVN cần xem xét trong mối tương quan với những cấu thành khác của hệ thống chính trị
- Mối quan hệ giữa ĐCS Việt Nam và MTTQVN:
Lịch sử Việt Nam đã thừa nhận: từ khi có Đảng là có MTTQVN, cách đây gần 86 năm, ngày 18/11/1930 ngay khi ĐCS Việt Nam vừa được thành lập, Ban Thường vụ
Trung ương Đảng đã thông qua một văn kiện quan trọng Đó là bản "Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh”- hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt
Nam Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, các hình thức tổ chức Mặt
11 Điều 9 Hiến pháp 2013
12 Mục IV.3 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì qá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Trang 20trận đã lần lượt ra đời, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng13 Có thể nói, mối quan hệ giữa Đảng và MTTQVN là mối quan hệ đặc biệt được thể hiện ở hai phương diện: chính trị và tổ chức
Điều 4 Hiến pháp 2013 khẳng định: “ĐCS Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”14 Như vậy, về phương diện chính trị, Đảng đóng vai trò lãnh đạo các thành viên khác của hệ thống chính trị và của cả dân tộc, trong đó có MTTQVN Đảng thực hiện vai trò của lãnh đạo của mình thông qua đường lối và chính sách, liên hệ mật thiết với nhân dân15, thông qua đường lối, chính sách đó, MTTQVN phát huy vai trò của mình trong công tác kêu gọi, tập hợp nhân dân thành khối đại đoàn kết, trở thành nguồn sức mạnh, động lực và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong mối quan hệ về mặt chính trị giữa Đảng và MTTQVN, Đảng đóng vai trò lãnh đạo và MTTQVN giữ nhiệm vụ thực hiện Với tư cách là người lãnh đạo Mặt trận, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn xã hội thực hiện tốt chính sách và công tác Mặt trận mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, tạo điều kiện để Mặt trận thực hiện tốt chức năng của mình Đảng chăm lo bồi dưỡng cán bộ và giới thiệu những Đảng viên có phẩm chất, được tín nhiệm, có năng lực làm công tác Mặt trận, để Mặt trận chọn cử theo đúng Điều lệ Đảng lãnh đạo sự phối hợp và thống nhất hành động giữa Mặt trận với chính quyền Đồng thời, Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể16
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận là vấn đề có tính nguyên tắc, đảm bảo cho Mặt trận không ngừng được củng cố và mở rộng MTTQVN có trách nhiệm tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, bởi mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước là yếu tố cực kỳ quan trọng bảo đảm sự vững mạnh của chế độ Ngược lại, đối với những chủ trương, chính sách lớn, có ý nghĩa trọng đại về quốc kế dân sinh, Đảng cần lấy ý kiến phản biện của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội trước khi quyết định
Về mặt tổ chức, tại Điều 4 Luật MTTQVN 2015 đã quy định: “ĐCS Việt Nam vừa
là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo MTTQVN” Là thành viên, Đảng tham gia Mặt trận
bình đẳng và có nghĩa vụ như mọi thành viên khác, gương mẫu thực hiện Điều lệ và chương trình hành động của MTTQVN Cấp ủy Đảng phải giáo dục Đảng viên gương
13 Mối quan hệ keo sơn giữa Đảng với Mặt trận, Mặt trận với Đảng, giua-dang-voi-mat-tran-mat-tran-voi-dang/c/15912429.epi (truy cập ngày 23/5/2016)
http://www.baomoi.com/moi-quan-he-keo-son-14
Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp 2013
15 Mục X Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
16 Mục IV Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Trang 21mẫu thực hiện chương trình hành động chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuận
và tích cực tham gia công tác MTTQVN tại khu dân cư Đảng có trách nhiệm thực hiện những quyền hạn và nghĩa vụ của mình như một thành viên tổ chức của Mặt trận17, Đảng
có trách nhiệm phải trình bày với Mặt trận những chủ trương, chính sách của Đảng, cùng bàn bạc, hiệp thương dân chủ, làm công tác tuyên truyền, vận động Đảng viên và nhân dân nói chung thực hiện Hiến pháp, pháp luật, thực hiện và thông báo kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động với Mặt trận; giáo dục cán bộ, Đảng viên nhận thức rõ tầm quan trọng của đường lối đại đoàn kết, chính sách và công tác Mặt trận trong từng giai đoạn cách mạng, tiếp thu ý kiến nhận xét, phê bình của nhân dân và tích
cực sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm của mình, “phải tỏ ra là bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và trung thực nhất”18
- Mối quan hệ giữa MTTQVN với Nhà nước:
Luật MTTQVN 2015 đã quy định: “Quan hệ giữa MTTQVN với Nhà nước là quan
hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và quy chế phối hợp công tác do UBMTTQVN và cơ quan nhà nước ở từng cấp ban hành” 19 Trên tinh thần ấy của Luật MTTQVN, Điều lệ MTTQVN khóa VIII20 và Nghị định số 50/2001/NĐ-CP21 cũng tiếp tục khẳng định mối quan hệ hợp tác, bình đẳng
và cùng nhau thực hiện nhiệm vụ chung của MTTQVN và chính quyền Trong mối quan
hệ này, hai bên phối hợp, tạo điều kiện để mỗi bên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Với tư cách là cơ quan quản lý và điều hành, Nhà nước tiến hành quản lý xã hội thông qua việc ban hành chính sách và pháp luật, người trực tiếp thực hiện những chính sách pháp luật đó chính là nhân dân, do đó, Nhà nước cần tôn trọng và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân trong việc tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Tổ quốc Thông qua MTTQVN, nhân dân được tham gia đóng góp ý kiến đối với đường lối, quan điểm của Đảng, các văn bản pháp luật, các chính sách và giải pháp phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước22 Mặt trận góp một phần không nhỏ vào công tác tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước như: bầu ra đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, tham gia xây dựng pháp luật, vận động nhân dân thực hiện quy ước, quy chế trên địa bàn,
http://www.baomoi.com/moi-quan-he-keo-son-19 Khoản 1 Điều 7 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
20 Điều 29 Điều lệ MTTQVN khóa VIII
21
Điều 2 Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật MTTQVN số 50/2001/NĐ-CP ngày 16/8/2001
22 Nguyễn Trọng Thóc (2005), Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr.167
Trang 22tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn, tham nhũng,… đặc biệt là việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước từ đó, góp phần tăng cường, phát triển tổ chức
và hoạt động của Nhà nước, bởi Nhà nước mạnh, Đảng mạnh thì Mặt trận mới mạnh!23
Trên tinh thần của Luật MTTQVN, nghị định hướng dẫn và Điều lệ MTTQVN khóa VIII, nhiều quy chế phối hợp công tác giữa MTTQVN và cơ quan nhà nước các cấp
đã được ban hành nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai bên24 Năm 2008, Chính phủ
và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBTWMTTQVN) đã ban hành nghị quyết liên tịch số 19/2008/NQLT/CP-UBTWMTTQVN về việc ban hành quy chế phối hợp công tác của Chính phủ và UBTWMTTQVN, đây được xem là một trong những quy chế phối hợp công tác quan trọng nhất để tăng cường sự hợp tác và phối hợp ở cấp trung ương, bên cạnh đó, mỗi địa phương đều ban hành các quy chế phối hợp công tác giữa Mặt trận và các cơ quan nhà nước cùng cấp, điển hình là các quy chế phối hợp giữa MTTQVN với UBND và HĐND các cấp
- Mối quan hệ giữa MTTQVN các cấp, giữa MTTQVN và các tổ chức thành viên: MTTQVN được tổ chức ở trung ương và ở các đơn vị hành chính25
Quan hệ giữa MTTQVN các cấp là mối quan hệ hướng dẫn, kiểm tra hoạt động, trong đó Ban Thường trực (BTT) cấp trên có nhiệm vụ và quyền hạn hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của BTT UBMTTQVN cấp dưới trực tiếp26 Bên cạnh đó, BTT MTTQVN cấp trung ương và cấp tỉnh, cấp huyện còn có quyền xem xét công nhận việc cử, bổ sung hoặc thay thế chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực UBMTTQVN cấp dưới trực tiếp UBMTTQVN cấp dưới thực hiện những chủ trương, chương trình hành động, thực hiện chế độ báo cáo, kiến nghị các vấn đề có liên quan về mặt tổ chức và hoạt động của mình lên UBMTTQVN cấp trên UBMTTQVN các cấp trao đổi kinh nghiệm, phối hợp và giúp
đỡ nhau trong hoạt động của mình
Luật MTTQVN 2015 quy định: “Tổ chức và hoạt động của MTTQVN được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên” 27 Dựa trên nguyên tắc tổ chức và hoạt động của MTTQVN, Khoản
1 Điều 9 Luật MTTQVN, Điều 2 Điều lệ MTTQVN khóa VIII có quy định về quyền và trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong mối quan hệ với MTTQVN Các tổ chức thành viên có quyền thảo luận, chất vấn, đánh giá, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của
23
Lương Văn Hùng (2001), MTTQVN với việc kiểm tra, giám sát các cơ quan nhà nước qua thực tiễn tại TP HCM,
Khóa luận cử nhân Luật học, ĐH Luật TP.HCM, tr.20
24 Thực hiện theo Điều 3 Nghị đinh quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật MTTQVN số 50/2001/NĐ-CP ngày 16/8/2001
25
Điều 6 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
26 Điều 20, 25, 26, 28 Điều lệ MTTQVN khóa VIII
27 Khoản 2 Điều 4 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015; Điều 5 Điều lệ MTTQVN khóa VIII
Trang 23UBMTTQVN cùng cấp; đề nghị UBMTTQVN cùng cấp chủ trì hiệp thương giữa các thành viên; giới thiệu người để hiệp thương cử vào UBMTTQVN cùng cấp; đề nghị được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; tham gia và được cung cấp các thông tin về hội nghị và hoạt động của UBMTTQVN cùng cấp Đồng thời, các thành viên này cũng có nghĩa vụ thực hiện, vận động thành viên, hội viên của mình thực hiện Điều lệ, chương trình hành động của MTTQVN, các quy chế phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên trong UBMTTQVN cùng cấp, các chương trình phối hợp giữa MTTQVN, các
tổ chức thành viên và cơ quan nhà nước có liên quan, thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết dân tộc; tập hợp ý kiến của các thành viên, hội viên, nhân dân và kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động gửi UBMTTQVN cùng cấp; đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ các cá nhân khác trong xã hội; thực hiện các nhiệm vụ của MTTQVN28 Riêng đối với các tổ chức khác không phải là thành viên của MTTQVN (tổ chức kinh tế,
tổ chức sự nghiệp), quan hệ giữa MTTQVN và các tổ chức này là quan hệ tự nguyện; thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc29
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hiến pháp 2013 và Luật MTTQVN 2015 đã quy định: “MTTQVN là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại của nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”30 Đây chính là chức năng và cũng là nhiệm vụ của MTTQVN được luật định, chức năng và nhiệm vụ này do tính chất của một tổ chức liên minh chính trị và vai trò chính trị xã hội của Mặt trận quy định Bên cạnh đó, tại Điều 3 Luật MTTQVN 2015 đã quy định chi tiết hơn về quyền và trách nhiệm cũng là những nhiệm vụ cơ bản của Mặt trận:
- Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội;
- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
- Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân;
- Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước;
- Thực hiện giám sát và phản biện xã hội;
28 Điều 2 Điều lệ MTTQVN khóa VIII; mục II.2 Thông tri số 17/TT-MTTW-BTT hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ MTTQVN
29 Khoản 2 Điều 9 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
30 Điều 9 Hiến pháp 2013, Điều 1 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
Trang 24- Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước;
- Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân
Trong những quyền và nhiệm vụ kể trên, Hiến pháp 2013 và Luật MTTQVN 2015
đã tăng cường cho Mặt trận những nhiệm vụ mới, quan trọng, trong đó, giám xã hội có thể được xem là chức năng, nhiệm vụ hết sức cấp thiết và tương đối nhạy cảm
Từ nhiệm vụ chung của MTTQVN nêu trên, UBMTTQVN từng cấp căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và tình hình cụ thể của mỗi địa phương
để đề ra nhiệm vụ cụ thể cho Mặt trận cấp mình trong mỗi kỳ Đại hội hay chương trình phối hợp thống nhất hành động từng năm một cách phù hợp và có tính khả thi Ngoài ra, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của MTTQVN, các thành viên MTTQVN do Điều lệ MTTQVN khóa VIII quy định chi tiết
1.2 Những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng
1.2.1 Khái niệm giám sát và hoạt động giám sát
Để có những nhận thức lý luận về hoạt động giám sát của MTTQVN, trước hết cần tìm hiểu “giám sát” là gì và như thế nào là “hoạt động giám sát của MTTQVN”
Theo từ điển tiếng Việt, “giám sát” là một động từ chỉ “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc chỉ sự “theo dõi và kiểm tra có thực hiện đúng những điều đã quy định không”31 Từ điển tiếng Việt phổ thông cũng một lần nữa khẳng định lại định nghĩa này của thuật ngữ “giám sát”32 Từ điển Luật học cho rằng
“giám sát được hiểu là sự theo dõi, quan sát hoạt động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh”33 Xét về mặt ngôn từ, “giám sát” là một từ Hán Việt, theo từ điển Hán Việt, chủ biên Đào Duy Anh định nghĩa: “giám sát” là
“xem xét” và “đàn hạch”34
, Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “giám sát” là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm đảm bảo pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó35
31 Từ điển tiếng Việt (2006), NXB Đà Nẵng, Thành phố Đà Nẵng, tr.389
32 Từ điển tiếng Việt phố thông (2002), NXB TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr.345
33
Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.174
34 Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, NXB KHXH, Hà Nội, tr.323-324
35 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.112
Trang 25Khi tìm hiểu về thuật ngữ “giám sát”, có rất nhiều tài liệu, bài viết, nhiều tác phẩm của các tác giả, các nhà nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau, do đó, khái niệm
“giám sát” được đưa ra ở những góc độ khác nhau Có quan điểm định nghĩa một cách
khái quát như sau: “Giám sát là sự quan sát, theo dõi hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát tuân thủ nghiêm pháp luật, thực hiện đúng chủ trương, kế hoạch nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định”36 hoặc “Giám sát là quá trình theo dõi, giám sát, phân tích, nhận định về hành vi của đối tượng bị giám sát xem có vi phạm những chuẩn mực của chủ thể quyền lực hay không để có những tác động điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng các yêu cầu mà chủ thể quyền lực đặt ra”37
, quan điểm này đã đưa ra được khái niệm giám sát một cách khái quát và tương đối hoàn chỉnh trên cơ sở những khái niệm giám sát được ghi nhận tại các từ điển cũng như các nguồn tài liệu khác Như vậy, giám sát là nói tới hoạt động theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế – xã hội, trong việc thực thi Hiến pháp, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị – xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu; đồng thời đề xuất xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái
Có một điều cần lưu ý, giám sát của MTTQVN có một đặc điểm rất đặc biệt, không phải là giám sát ở phạm vi hẹp mà là “giám sát xã hội – sự giám sát của xã hội” Nguyên nhân là bởi MTTQVN là nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, giám sát của MTTQVN không mang tính quyền lực – là giám sát mang tính nhân dân Cho đến nay, chưa có một khái niệm “giám sát xã hội” được đưa ra hoàn chỉnh trong pháp luật mà chỉ có khái niệm “giám sát”, do đó, khái niệm “giám sát xã hội” được xây dựng dựa trên khái niệm “giám sát” “Giám sát xã hội” là hình thức giúp những người cầm quyền nhận biết được mức độ đón nhận quyết định chính trị của xã hội, phát hiện được độ “vênh” của những quyết định chính trị với nhu cầu của thực tiễn, kể cả những biểu hiện lệch lạc, điều
đó có ý nghĩa đảm bảo cho quyết định chính trị đúng đắn được thực thi có hiệu quả, quyết định chính trị còn khiếm khuyết được phát hiện và bổ khuyết38
Trong bộ máy nhà nước ta, Hiến pháp và pháp luật đã trao chức năng giám sát cho nhiều cơ quan khác nhau như: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ
36 Hoàn thiện chế định giám sát của nhân dân – Một vấn đề cần quan tâm đặc biệt khi sửa đổi Hiến pháp,
http://mattran.org.vn/Home/TapChi/so%2098/khmt.htm#3 (truy cập ngày 15/6/2016)
37 Nguyễn Thọ Ánh (2010), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN hiện nay, NXB Chính
trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, tr.7
38 Đoàn Minh Huấn (2010), Vai trò của giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền,
Tạp chí Tổ chức nhà nước số 5/2010, tr.34
Trang 26hoạt động của bộ máy nhà nước39, HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của chính quyền địa phương trên địa bàn40 Tuy nhiên, trong một thời gian dài, thuật ngữ giám sát không được pháp luật giải thích một cách chính thức Luật Giám sát của Quốc hội
2003 đã lần đầu tiên giải thích giám sát là gì trên cơ sở một quy định mang tính pháp lý Khi Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị – xã hội ra đời, thuật ngữ “giám sát” của MTTQVN được giải thích đầy đủ và đưa vào văn
bản: “Giám sát là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, Đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”41
Tuy nhiên, Luật MTTQVN 2015 mặc dù liên quan đến hoạt động giám sát
có riêng một chương nhưng lại không có điều khoản nào giải thích “giám sát” của MTTQVN
Từ những khái niệm về “giám sát”, giám sát xã hội”, quy định tại Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quy định về giám sát của MTTQVN tại Luật MTTQVN42, có thể đưa ra khái niệm “hoạt động giám sát của MTTQVN” một cách khái quát như sau:
Hoạt động giám sát của MTTQVN là hoạt động mang tính xã hội, giám sát mang tính nhân dân thông qua việc theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị của UBMTTQVN các cấp hoặc các tổ chức thành viên của MTTQVN đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các quyền, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá nhân, tổ chức có hành vi sai trái
1.2.2 Phân biệt hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các hoạt động giám sát khác trong hệ thống chính trị
Giám sát là một hoạt động mang tính pháp lý thể hiện quyền và trách nhiệm của chủ thể và đối tượng bị giám sát Hiện nay, trong hệ thống chính trị của nước ta có hai loại giám sát: giám sát mang tính quyền lực – giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước, Đảng và giám sát xã hội – giám sát của nhân dân Như vậy, tương ứng với hai loại giám sát trên là hai chủ thể giám sát khác nhau: Đảng, cơ quan quyền lực nhà nước và các chủ
Trang 27thể xã hội (ngoài Nhà nước): các Đảng chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, báo chí, công dân43, trong đó có giám sát của MTTQVN
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã đưa ra nhiệm vụ: “Kết hợp giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân”44
ĐCS Việt Nam mặc dù là một thành viên của MTTQVN, tuy nhiên Đảng không được xem là chủ thể giám sát xã hội vì Đảng cầm quyền là chủ thể xây dựng nên cơ cấu tổ chức bộ máy và trực tiếp lãnh đạo Nhà nước Với hoạt động giám sát của mình, Đảng ngăn ngừa và hạn chế các Đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng (Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng) nhằm mục đích duy trì và bảo vệ quyền lực nhà nước của mình, duy trì và bảo vệ vị trí cầm quyền Nhà nước là do Đảng lập ra và trực tiếp lãnh đạo, vì vậy, không thể xem ĐCS Việt Nam là chủ thể đứng ngoài Nhà nước Chính lý do đó, giám sát của Đảng được xem là giám sát mang tính quyền lực Đảng cũng như Nhà nước là chủ thể của giám sát xã hội nhưng hoạt động giám sát của Đảng không được coi là giám sát xã hội45
Ngoài giám sát của các cơ quan Đảng, giám sát của Quốc hội cũng là giám sát mang tính quyền lực Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa giám sát của Quốc hội với giám sát của MTTQVN và các tổ chức thành viên Giám sát của Quốc hội được coi là yếu tố cấu thành quyền lực Nhà nước và gắn chặt với quyền lực Nhà nước Ở nước ta, tất
cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân46, nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Chính vì vậy, Quốc hội thực hiện quyền giám sát là Quốc hội thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước do chính nhân dân trao cho Bên cạnh đó, bắt nguồn từ vị trí pháp lý của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, điều này dẫn đến quyền giám sát của Quốc hội không chỉ là giám sát mang tính quyền lực Nhà nước mà còn là giám sát tối cao47 Còn đối với HĐND, giám sát chính là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND, đây cũng là giám sát mang tính quyền lực nhà nước HĐND là cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước thực hiện chức năng giám sát việc thi hành hiến pháp và pháp luật ở địa phương, giám sát các
43
Nguyễn Thọ Ánh (2010), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN hiện nay, NXB Chính
trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.21
44 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia,Hà Nội, tr.663
45 Nguyễn Thọ Ánh (2010), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN hiện nay, NXB Chính
trị quốc gia - Sự Thật, tr.21-22
46 Điều 2 Hiến pháp 2013
47 Điều 6 Luật tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 ngày 20/11/2014
Trang 28cơ quan Nhà nước ở địa phương48
Khác với giám sát của MTTQVN, Quốc hội và HĐND trong quá trình giám sát có quyền đình chỉ, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước nếu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của HĐND cấp trên, thậm chí có quyền giải tán HĐND cấp dưới nếu làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân49
Trong khi đó, giám sát của MTTQVN là hình thức giám sát không mang tính quyền lực Nhà nước, là giám sát xã hội, giám sát mang tính nhân dân, không thông qua cơ quan quyền lực Nhà nước nhưng lại có thể gây áp lực xã hội lên các chủ thể quyền lực để kịp thời điều chỉnh các quyết định, chính sách50 Về bản chất, giám sát xã hội là giám sát
có sự tham gia đông đảo của toàn xã hội mà nòng cốt là một số tổ chức của nhân dân, do nhân dân lập ra và ủy nhiệm Thông qua các tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của nhân dân (MTTQVN, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp…), nhân dân có thể thực hiện quyền giám sát của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Mục đích của giám sát xã hội nói chung và của MTTQVN nói riêng là một sự bổ sung khách quan cho
sự giám sát của các cơ quan quyền lực Nhà nước và của hệ thống chính trị, từ đó, không chỉ hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước mà toàn xã hội có được sự đối trọng và cân bằng cần thiết để tổ chức và hoạt động hiệu quả hơn Bên cạnh đó, không giống như giám sát
xã hội của các tổ chức chính trị – xã hội khác, báo chí và công dân, giám sát của MTTQVN mặc dù cũng mang tính chất xã hội nhưng lại được thực hiện bởi chủ thể đứng trong hệ thống chính trị và được pháp luật trao cho những cơ chế giám sát rõ ràng hơn
Đối với hoạt động giám sát cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, sự giám sát của MTTQVN cũng hoàn toàn khác biệt với giám sát của HĐND các cấp ở địa phương Bởi giám sát của MTTQVN có chủ thể, nội dung, tính chất, mục đích, nguyên tắc và hình thức khác biệt với giám sát của HĐND51
2 Những vấn đề pháp lý về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của chính quyền địa phương nói riêng có một vấn đề rất lớn được đặt ra là bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với MTTQVN và các tổ chức chính trị – xã hội, không thể
có một bộ máy chính quyền thể hiện và thực hiện quyền lực nhân dân có hiệu lực và hiệu
48 Khoản 4 Điều 17 Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015
49 Điều 15 Luật tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 ngày 20/11/2014; Khoản 1 Điều 19, Khoản 1 Điều 26 Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015
Trang 29quả mà không có sự phối hợp chặt chẽ với MTTQVN và các đoàn thể nhân dân52 Trong
sự phối hợp đó, không thể không kể đến việc MTTQVN thực hiện vai trò giám sát của mình đối với HĐND và UBND các cấp ở địa phương
Trước hết cần xác định “cơ quan dân cử” và “cơ quan hành chính” là những cơ quan nào Theo pháp luật hiện hành, cơ quan dân cử ở nước ta là cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương bao gồm các đại biểu do các cử tri bầu ra theo cách thức mà pháp luật quy định, bao gồm Quốc hội (ở trung ương) và HĐND các cấp (ở địa phương) Cơ quan hành chính ở Việt Nam bao gồm: cơ quan hành chính nhà nước ở cấp trung ương là Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ; cơ quan hành chính ở địa phương là UBND các cấp Như vậy, cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là HĐND và UBND các cấp
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Xuất phát từ bản chất của nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân, vì dân, Hiến pháp Việt Nam 2013 đã khẳng định nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước: quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp, kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp53 Từ nguyên tắc này, chế định kiểm soát quyền lực Nhà nước được đưa ra như một công cụ nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao Kiểm soát quyền lực có thể thực hiện bằng cơ chế kiểm soát bên trong nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước theo luật định và thông qua cơ chế bên ngoài nhà nước, đó là sự kiểm soát của các tổ chức Đảng, MTTQVN và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội và cá nhân, công dân Trong đó, giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN là yêu cầu khách quan, mang tính phổ biến trong việc tổ chức và vận hành hệ thống chính trị, nhằm khắc phục xu hướng lạm quyền, tha hóa quyền lực, là một phần tất yếu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và thực thi dân chủ Trong bối cảnh cần kiểm soát Nhà nước và phát huy dân chủ, giám sát của MTTQVN đối với các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan dân cử,
cơ quan hành chính nhà nước nói riêng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng, mang tính cấp thiết, thu hút được nhiều sự quan tâm và hết sức nhấn mạnh trong các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Trong đó, các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính là tiền đề cần thiết để MTTQVN thực hiện hiệu quả hoạt động giám sát
52
Bùi Xuân Đức (2014), Bảo đảm sự tham gia của MTTQVN và các tổ chức chính trị xã hội với chính quyền địa
phương trong Luật tổ chức chính quyền địa phương, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19, tr.28
53 Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013
Trang 30góp phần đưa các cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước lại gần dân hơn, phát huy tốt những chức năng nhiệm vụ của mình, tránh những sai phạm không cần thiết
Như đã đề cập ở trên, ở nước ta hiện nay có hai loại giám sát: giám sát mang tính quyền lực và giám sát xã hội Hiến pháp Việt Nam qua các thời kì đã đề cập đến chức năng giám sát của Quốc hội, HĐND các cấp và các cơ quan Nhà nước khác, tuy nhiên, mặc dù vai trò giám sát của MTTQVN và các tổ chức chính trị xã hội là rất lớn thì lại chưa được đề cập đến nhiều cũng như chưa được nhìn nhận đầy đủ và toàn diện Hiến
pháp 1980 ghi nhận MTTQVN là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước và “Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc”54 mà không có một điều khoản nào đề cập đến chức năng giám sát của MTTQVN đối với cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nói riêng Trên tinh thần kế thừa Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 ra đời trong bối cảnh đổi mới đất nước, hoạt động của các cơ quan nhà nước trong đó có cơ quan dân cử và cơ quan hành chính ở địa phương được chú trọng hơn, nhằm tăng cường hoạt động của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước, nhu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước được đề cao, vai trò giám sát của các cơ quan nói chung và của MTTQVN nói riêng cũng vì thế mà
được coi trọng Điều 9 Hiến pháp 1992 khẳng định MTTQVN có quyền tham gia “giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước”55 Lần đầu tiên, hoạt động giám sát của MTTQVN được ghi nhận như một quyền hiến định,
là cơ sở quan trọng để MTTQVN thực hiện tích cực và hiệu quả hơn hoạt động giám sát, góp phần tham gia vào quá trình xây dựng và củng cố năng lực quản lý nhà nước Ra đời trên cơ sở Cương lĩnh đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của ĐCS Việt Nam và kết quả tổng kết thực tiễn qua 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Hiến pháp 2013 thể chế hóa đầy đủ, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về đề cao và phát huy dân chủ XHCN, đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Trên cơ sở ấy, vai trò giám sát của MTTQVN tiếp tục được thừa nhận bên cạnh việc bổ sung thêm những chức năng khác cũng như những quy định về vị trí, vai trò, các
tổ chức thành viên và nguyên tắc hoạt động của MTTQVN56 Việc tiếp tục thừa nhận vai trò giám sát các cơ quan nhà nước của MTTQVN tại văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp 2013 đã một lần nữa khẳng định tính quan trọng và sự cần thiết của giám sát này
Trang 31trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và hoạt động của cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước nói riêng
Bên cạnh sự phát triển của Hiến pháp Việt Nam qua các thời kì, Luật MTTQVN cũng là một văn bản pháp lý hết sức quan trọng ghi nhận những quyền và nghĩa vụ của MTTQVN, trong đó có hoạt động giám sát Điều 2 Luật MTTQVN 1999 quy định một
trong những nhiệm vụ của MTTQVN là “giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước”57 Trên cơ sở quy định chung về nhiệm vụ của MTTQVN tại Điều 2, Điều 12 tiếp tục khẳng định rõ hơn về hoạt động giám sát của
MTTQVN là “giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân” và “MTTQVN giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật”58 Trên tinh thần thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, nhất là trong các văn kiện của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về vai trò, trách nhiệm của MTTQVN, cụ thể hóa những quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQVN và kế thừa những quy định
đã thực hiện ổn định, phù hợp; sửa đổi những quy định còn hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Luật MTTQVN 1999, ngày 09/6/2015 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật MTTQVN 2015, đây là văn bản pháp
lý quan trọng và mới nhất ghi nhận về MTTQVN Trong đó, lần đầu tiên chức năng giám sát của MTTQVN được quy định thành một chương riêng (Chương V luật MTTQVN 2013) Với việc được quy định tại Chương V Luật MTTQVN 2015, chức năng giám sát của MTTQVN càng được khẳng định tính chất quan trọng, thể hiện vai trò to lớn của MTTQVN
Ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị -
xã hội Trong đó đã nêu rõ về khái niệm “giám sát” là việc theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, Đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Bên cạnh đó, Quyết định số 218-QĐ/TW, ban hành Quy định về việc MTTQVN, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cũng ra đời Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị đã quy định cụ thể về khái niệm, mục đích,
57 Điều 2 Luật MTTQVN số 14/1999/QH10 ngày 12/6/1999
58 Điều 12 Luật MTTQVN số 14/1999/QH10 ngày 12/6/1999
Trang 32tính chất, nguyên tắc, đối tượng, nội dung, phạm vi, phương pháp, quyền và trách nhiệm của các bên có liên quan trong giám sát và phản biện xã hội Đây là cơ sở quan trọng để MTTQVN và các tổ chức chính trị – xã hội phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của mình trong thời gian tới Với Hiến pháp 2013, Luật MTTQVN 2015, các quyết định số 217-QĐ/TW và 218/QĐ-TW, trách nhiệm và quyền hạn của MTTQVN trong giám sát đã được pháp luật hóa ở mức cao nhất, cơ chế giám sát nhìn chung được cụ thể hóa, đòi hỏi đóng góp của MTTQVN phải cao hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới
Liên quan đến hoạt động giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, ngoài Hiến pháp 2013, Luật MTTQVN và hai
quyết định ở trên, Luật tổ chức Chính quyền địa phương đã ghi nhận: “Chính quyền địa
phương tạo điều kiện để UBMTTQVN và các tổ chức chính trị – xã hội động viên Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của chính quyền địa phương”59
Ngoài những văn bản được nói trên, trong nhiều văn bản pháp luật khác như: Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 (Điều 66), Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 (Điều 44), Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 (Chương VI), Luật bầu cử số 85/2015/QH13 (Khoản 5 Điều 4), Luật phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH 11 (Điều 8), Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 48/2005/QH11 (Khoản 4 Điều 8), Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phường thị trấn số 34/2007/PL-UBTVQH11… và nhiều đạo luật, pháp lệnh cũng như các văn bản hướng dẫn khác có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến tổ chức bộ máy nhà nước, đến quyền và trách nhiệm của MTTQVN đều dành riêng một chương hoặc một điều để quy định về chức năng giám sát của MTTQVN đối với các cơ quan nhà nước nói chung và đối với các cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước địa phương nói riêng Như vậy, có thể nói, thông qua việc thể chế hóa quyền giám sát của MTTQVN trên nhiều lĩnh vực, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đã thể hiện rõ việc đề cao vai trò của hoạt động giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, góp phần tăng cường hiệu quả tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung
59 Khoản 1 Điều 15 Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015
Trang 332.2 Mục đích, nguyên tắc và tính chất của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
2.2.1 Mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND, giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, ban của HĐND cấp mình, giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới cấp mình60 Như vậy, bản thân cơ quan dân cử
và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đã có một cơ chế giám sát thông qua việc HĐND tự giám sát việc thực hiện hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của mình và của các cơ quan nhà nước khác; giám sát các hoạt động khác của Thường trực HĐND, UBND, các Ban của HĐND và các văn bản quy phạm pháp luật của cả cơ quan dân cử lẫn cơ quan hành chính ở địa phương Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bản thân HĐND cũng như UBND các cấp địa phương không thể chủ động thực hiện những cải cách và đổi mới trong cách thức hoạt động, cơ cấu tổ chức nội bộ nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cường tính hiệu quả, minh bạch nếu thiếu đi sự giám sát từ phía xã hội và nhân dân Riêng sự giám sát của HĐND đối với HĐND và UBND các cấp ở địa phương là chưa đủ để xây dựng một cơ chế kiểm tra, giám sát giúp hoàn thiện hoạt động của các cơ quan này Vì lý do đó, sự xuất hiện hoạt động giám sát của MTTQVN là nhằm mục đích củng cố cho giám sát bên trong bộ máy nhà nước, xem xét việc làm của đối tượng bị giám sát có đúng với những điều quy định, những định hướng đã đặt ra hay không để từ đó có những biện pháp nhằm
khắc phục và xử lý những sai sót
Theo quy định của Luật MTTQVN 1999, hoạt động giám sát của MTTQVN được
thực hiện với mục đích “hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân”61 Hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có chức năng thanh tra, kiểm tra là hoạt động có tính thực quyền, cùng với thanh tra, kiểm tra, giám sát của MTTQVN hợp lại thành một cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương tương
Trang 34đối hiệu quả62
Với sự phối hợp của giám sát, công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện
dễ dàng và thuận lợi hơn
Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) đã đưa
ra mục đích của giám sát: “Giám sát nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh”63
Luật MTTQVN 2015 đã đưa ra những quy định mới về mục đích giám sát của
MTTQVN trong giai đoạn hiện nay như sau: “Giám sát của MTTQVN mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, kịp thời phát hiện
và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh”64 Với những mục đích này, hoạt động giám sát của MTTQVN góp phần tăng cường vai trò đại diện và thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương của HĐND các cấp cũng như vai trò quản lý tốt mọi mặt đời sống xã hội của UBND các cấp, thể hiện được quyền lực của nhân dân, thực hành dân chủ, năng động hóa, tăng cường chất lượng thể chế, nâng cao ý thức và năng lực làm chủ của người dân
Cần tránh khuynh hướng lệch lạc cho rằng mục đích giám sát của MTTQVN chỉ đi tìm những khuyết điểm, sai sót, những việc làm sai trái của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, đại biểu dân cử65
Riêng đối với giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là nhằm những mục đích sau:
- Giám sát bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào hoạt động của các cơ quan quyền lực và cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Giám sát của nhân dân hoặc thông qua các tổ chức đại diện là một kênh quan trọng để bảo đảm phát huy dân chủ, trí tuệ và trách
62
Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta
hiện nay, NXB Công an nhân dân, TP.HCM, tr.474
63 Khoản 1 Điều 2 Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị)
64
Khoản 2 Điều 25 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
65 Nguyễn Thị Kim Ngân, Vai trò giám sát của MTTQVN đối với bộ máy nhà nước, Luận văn thạc sĩ Luật học, ĐH
Quốc gia Hà Nội, tr.14
Trang 35nhiệm của nhân dân nhất là trong điều kiện để huy động nhân dân tham gia vào các vấn
đề của đất nước và địa phương là một vấn đề không hề dễ dàng;
- Giám sát của MTTQVN góp phần bảo đảm việc hoạt động của HĐND và UBND ở địa phương được thực hiện đúng luật, hiệu quả và thống nhất với trung ương; điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, chính sách, pháp luật, chương trình, quyết định của nhà nước và của cơ
quan địa phương phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân;
- Giám sát của MTTQVN với UBND và HĐND các cấp cùng với hệ thống chính trị
chống lại “quốc nạn” tham nhũng Đảng ta đã khẳng định: “coi trọng và nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử, của MTTQVN, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, phát hiện đấu tranh chống tham những, lãng phí”66;
- Giám sát của MTTQVN là một phương thức để các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội và người dân bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Giám sát của MTTQVN góp phần hỗ trợ cho giám sát Nhà nước đối với các cơ
quan nhà nước ở địa phương và đội ngũ cán bộ, công chức
Như vậy, đối với việc giám sát hoạt động của UBND và HĐND ở địa phương tồn tại giám sát của HĐND và giám sát của MTTQVN Trong đó, giám sát mang tính quyền lực Nhà nước (của HĐND) giữ vai trò chủ đạo Thực tế cho thấy, giám sát từ bên trong bộ máy nhà nước tuy có vai trò cốt yếu nhưng lại không có khả năng giám sát hết các vấn đề, lĩnh vực quan trọng mà xã hội quan tâm Trong những trường hợp như vậy, giám sát xã hội sẽ là một sự bổ sung hoàn thiện đối với giám sát có tính quyền lực Nhà nước để đảm
bảo cho việc kiểm soát quyền lực được khách quan, toàn diện và hiệu quả hơn
2.2.2 Nguyên tắc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Nguyên tắc là những điều cơ bản được đặt ra dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo67 Như vậy, nguyên tắc giám sát của MTTQVN đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước địa phương là những điều cơ bản được đặt ra trên cơ sở những quan điểm tư tưởng nhất định đòi hỏi MTTQVN phải tuân theo trong quá trình giám sát cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Theo Luật MTTQVN 2015 hoạt động giám sát được thực hiện theo những nguyên tắc sau68:
66 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.254
67 Nguyên tắc là gì, http://www.mangphapluat.com/nguyen-tac-la-gi.html (Truy cập ngày 2/6/2016)
68 Khoản 3 Điều 25 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
Trang 36Nguyên tắc đảm bảo phát huy dân chủ, sự tham gia của nhân dân, thành viên của MTTQVN: Xuất phát từ vị trí và vai trò của Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, nguyên tắc này đòi hỏi phải tạo điều kiện cho nhân dân, các thành viên của MTTQVN có thể tham gia một cách đông đủ, rộng rãi vào hoạt động giám sát, điều này vừa đảm bảo thể hiện được ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân mà còn thể hiện được bản chất xã hội của hoạt động giám sát Đây là một nguyên tắc quan trọng không chỉ trong công tác lập pháp các văn bản pháp luật khác mà còn tồn tại trong hoạt động giám sát của MTTQVN, đáp ứng đầy đủ nguyên tắc dân chủ là góp phần xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân và vì dân
Nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân: mục đích của hoạt
động giám sát của MTTQVN là bắt nguồn vì nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trên cở sở đó, hoạt động giám sát phải xuất phát từ sự mong muốn của nhân dân Ở địa phương, xuất phát từ những thắc mắc, những sai phạm của cán bộ hay hoạt động của HĐND và UBND các cấp mà nhân dân chủ động đề xuất mong muốn giám sát các cơ quan này thông qua
hoạt động giám sát của MTTQVN ở địa phương
Nguyên tắc thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo: bất kì một hoạt
động nào của cơ quan nhà nước nói chung đều cần tuân thủ việc công khai và minh bạch, bởi mọi hoạt động của các chủ thể này đều xuất phát từ quyền và lợi ích của nhân dân, vì nhân dân, nhưng người thực hiện các hoạt động ấy cũng là con người, mà đã là con người thì ai cũng có những tham vọng, định hướng sai trái, do đó, cần đảm bảo việc thực hiện các hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và bộ máy nhà nước nói riêng, trong đó có hoạt động giám sát của MTTQVN một cách rõ ràng, minh bạch, công khai với công chúng để hạn chế thấp nhất những sai phạm, những khuyết điểm, những vấn đề không hợp lòng dân, từ đó góp phần đảm bảo nguyên tắc dân chủ Bên cạnh đó, hoạt động giám sát của MTTQVN cần được phân biệt rõ với hoạt động giám sát của Đảng, giám sát mang tính quyền lực nhà nước của Quốc hội và HĐND các cấp, hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tránh tình trạng chồng chéo về chức năng, về
phạm vi dẫn đến những khó khăn trong công tác giải quyết và xử lý
Nguyên tắc không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân được giám sát: Giám sát của MTTQVN là giám sát xã hội, là hoạt động giám sát bên ngoài nhà
nước với mục đích là phối hợp với kiểm tra, thanh tra và các hoạt động giám sát bên trong nhà nước để tạo thành một cơ chế kiểm soát quyền lực Với ý nghĩa đó, giám sát của MTTQVN là một thành phần của cơ chế giúp nhân dân thực hiện quyền dân chủ thông qua việc giám sát các cơ quan nhà nước, vì vậy hoạt động này phải đảm bảo không làm
Trang 37ảnh hưởng đến sự hoạt động bên trong bộ máy nhà nước, từ đó, MTTQVN chỉ có thể phát hiện ra những sai phạm và đề nghị xử lý chứ không có quyền quyết định những biện pháp
và hình thức xử lý
Ngoài ra, Điều 3 Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) còn quy định thêm về nguyên tắc giám sát của MTTQVN như sau:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ MTTQVN và Điều lệ các đoàn thể chính trị - xã hội;
- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội với các
cơ quan, tổ chức có liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát và phản biện xã hội;
- Bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, và mang tính xây dựng;
- Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, đoàn viên, hội viên, lợi ích quốc gia dân tộc
2.2.3 Tính chất giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Ở nước ta, việc phát huy vai trò của MTTQVN, các đoàn thể nhân dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là hết sức cần thiết và quan trọng Sở dĩ cần nhấn mạnh tới tầm quan trọng của giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN là vì những hoạt động này mang tính nhân dân và có tính xã hội rộng lớn, hoạt động giám sát và phản biện xã hội là một bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát quyền lực ở nước ta từ quá trình hình thành các chủ trương, chính sách, quyết sách (thực hiện phản biện) đến quá trình triển khai, tổ chức thực hiện (giám sát) Như đã được đề cập ở trên, bộ máy nhà nước ta hiện nay tồn tại hai loại giám sát: giám sát mang tính quyền lực
và giám sát xã hội Khác với giám sát của Đảng, Quốc hội, HĐND các cấp là giám sát mang tính quyền lực, giám sát của MTTQVN không mang tính quyền lực, là giám sát mang tính nhân dân Tính nhân dân trong hoạt động giám sát của Mặt trận xuất phát từ vị
trí của MTTQVN là “tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài” và là “cơ
sở chính trị của chính quyền nhân dân”69, MTTQVN là đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội, thông qua hoạt động giám sát, MTTQVN góp phần thực hiện tốt việc dân chủ hóa trong hoạt động của bộ máy nhà nước
69 Điều 9 Hiến pháp 2013 và Điều 1 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
Trang 38Trong quá trình đổi mới, Đảng ta rất coi trọng xây dựng chế độ dân chủ, đề cao vai trò của nhân dân trong việc giám sát quyền lực nhà nước, xuyên suốt và nhất quán trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị và các văn kiện của ĐCS Việt Nam cũng như
quy định trong tất cả các bản Hiến pháp qua các thời kỳ đều khẳng định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”, điều này có nghĩa là nguồn gốc mọi quyền lực nhà
nước đều từ nhân dân, nhân dân có trách nhiệm làm chủ và kiểm soát quyền lực nhà nước
về mọi phương diện Với việc đề cao dân chủ ở nước ta thể hiện qua nhiều văn kiện quan trọng của Đảng trong thời gian qua, tính nhân dân trong hoạt động giám sát của MTTQVN là hết sức cần thiết, không chỉ góp phần thể hiện vị trí, vai trò mà còn là cơ sở
để nhân dân nhận thức được cầu nối giữa nhân dân với MTTQVN và với các cấu thành khác trong bộ máy chính trị Tính nhân dân trong giám sát của MTTQVN được khẳng
định tại Khoản 1 Điều 12 Luật MTTQVN 1999: “Hoạt động giám sát của MTTQVN là giám sát mang tính nhân dân” Một lần nữa tính nhân dân được tiếp tục thừa nhận tại
Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội
(Ban hành kèm Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị): “Giám sát
và phản biện xã hội mang tính nhân dân, tính dân chủ XHCN, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn” 70 Như vậy, Quy chế này đã thừa nhận thêm tính dân chủ XHCN, bản
chất xây dựng cũng như khoa học và thực tiễn của hoạt động giám sát này
Cho đến năm 2015, khi Luật MTTQVN mới ra đời, tính chất giám sát mang tính nhân dân của Mặt trận đã được các nhà lập pháp thay thế bằng “tính xã hội”71 Việc thừa nhận tính xã hội thay cho tính nhân dân trong giám sát của MTTQVN là một bước tiến mới trong tư duy lập pháp, bởi ngay từ khi chức năng giám sát của Mặt trận ra đời, nó đã thể hiện tính xã hội rộng lớn của mình, không chỉ là đại diện cho nhân dân thực hiện việc giám sát mà còn đại diện cho toàn xã hội
Ngoài tính xã hội, Luật MTTQVN 2015 còn ghi nhận thêm một tính chất khác của hoạt động giám sát do MTTQVN thực hiện, đó là “tính đại diện” MTTQVN đại diện cho tiếng nói và sức mạnh của nhân dân, đại diện cho toàn xã hội phát huy dân chủ thông qua hoạt động giám sát cơ quan nhà nước
Hoạt động giám sát của MTTQVN đối với hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và đối với cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nói riêng không mang tính quyền lực nhà nước, do đó, không có quyền xử lý đối với các cơ quan hay các cá nhân phải chịu
Trang 39trách nhiệm72, MTTQVN không có quyền quyết định những biện pháp và hình thức xử lý
mà chỉ có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết
2.3 Nội dung, hình thức, phương pháp giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
2.3.1 Nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với cơ quan dân cử và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Nhìn chung các quy định của pháp luật về nội dung giám sát là rất rộng, bao trùm lên toàn bộ hoạt động của các đối tượng bị giám sát Theo Luật MTTQVN: nội dung giám sát của MTTQVN là việc thực hiện chính sách pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, quyền và trách nhiệm của MTTQVN73 Bên cạnh đó, Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) cũng quy định nội dung giám sát của MTTQVN là việc thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của
cơ quan, tổ chức, cá nhân74
Nhằm giải thích quy định này của Quy chế, tại mục I.2 Phần
B của Thông tri số 28/TTr-MTTW-BTT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị – xã hội đã nêu rõ nội dung giám sát của MTTQVN với từng đối tượng, trong đó, nội dung giám sát đối với
HĐND các cấp là “việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của HĐND, thường trực HĐND, các ban của HĐND các cấp” và nội dung giám sát đối với UBND các cấp là “việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp”75 Từ những quy định trên cho thấy, nội dung giám sát là rất rộng, tuy nhiên việc cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật để MTTQVN thực hiện quyền giám sát của mình đối với đối tượng này còn rất hạn
chế, nếu không nói là “đếm trên đầu ngón tay”76, do đó, MTTQVN chỉ tập trung giám sát một số lĩnh vực có những vấn đề mà người dân quan tâm và bức xúc
Thực tế cho thấy, hoạt động giám sát của MTTQVN được triển khai thực hiện ở tất
cả các cấp, các cơ quan nhà nước, trong đó, việc giám sát HĐND và UBND các cấp ở địa
72 Đặng Thị Kim Ngân (2010), Vai trò giám sát của MTTQVN đối với bộ máy nhà nước, Luận văn thạc sĩ Luật học,
ĐH Quốc gia Hà Nội, tr.14
73
Khoản 2 Điều 26 Luật MTTQVN số 75/2015/QH13 ngày 9/6/2015
74 Khoản 2 Điều 5 Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị)
75 Tiểu mục 2.2,2.3 mục I.2 Phần B Thông tri số 28/TTr-MTTW-BTT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội
76 Phạm Văn Hải (2009), Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giám sát, phản biện xã hội của MTTQVN TP
HCM, Tạp chí mặt trận số 72, tr.47
Trang 40phương là nơi thực hiện vai trò, chức năng giám sát của MTTQVN một cách rõ ràng và rộng rãi nhất vì đây chính là hai cơ quan ở gần dân, trực tiếp triển khai và thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, đây cũng là hai cơ quan có hoạt động cũng như đội ngũ cán bộ, công chức, đại biểu dân cử có tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyền và lợi ích của nhân dân Do đó, hiệu quả của công tác giám sát HĐND và UBND các cấp của MTTQVN có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân Chính vì vậy, hoạt động giám sát của MTTQVN cần tập trung vào những nội dung quan trọng trong hoạt động của hai loại cơ quan này Nhìn chung, MTTQVN giám sát HĐND và UBND các cấp ở địa phương những nội dung sau:
Thứ nhất, giám sát hoạt động chung của HĐND và UBND các cấp ở địa phương
Hoạt động giám sát của MTTQVN chủ yếu tập trung vào giám sát việc thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước, tập trung vào những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương cũng như liên quan đến các hoạt động của MTTQVN và các tổ chức thành viên Hoạt động của UBND và HĐND các cấp được quy định cụ thể tại Luật tổ chức chính quyền địa địa phương số 77/2015/QH13, trong đó, có rất nhiều hoạt động như: quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của HĐND hay xây dựng và phát triển các chương trình đề án liên quan đến kinh tế, xã hội ở địa phương của UBND… có ảnh hưởng rất lớn đến người dân địa phương, do đó, trong quá trình thực hiện những hoạt động này, đòi hỏi UBND và HĐND phải tuân thủ tuyệt đối các đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trên cơ sở đó, giám sát của MTTQVN là thiết chế giúp nhân dân kiểm soát hai cơ quan này thi hành pháp luật một cách đúng và đầy đủ trong quá trình hoạt động Tùy vào đặc điểm của từng địa phương và công tác Mặt trận hàng năm mà kế hoạch giám sát việc thực hiện pháp luật, pháp quy của chính quyền địa phương là không giống nhau, nhìn chung MTTQVN tiến hành giám sát thông qua một số việc sau:
- Thông qua báo cáo của HĐND, UBND tại các kỳ họp thường lệ của HĐND Khi
có vi phạm xảy ra và bị phát hiện, BTT UBMTTQVN kiến nghị các cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết, trả lời những kiến nghị và giám sát việc trả lời những kiến nghị đó;
- Giám sát thông qua việc cử đại diện của MTTQVN tham gia các Hội đồng hoặc Ban chỉ đạo ở địa phương, đây là hoạt động trực tiếp giám sát hoạt động của chính quyền địa phương trên một số công việc cụ thể và MTTQVN có cơ hội trực tiếp góp ý trong quá trình hoạt động của các Hội đồng hoặc Ban chỉ đạo này;
- Giám sát thông qua theo dõi, nhận xét hoạt động hàng năm của đại biểu dân cử;