Chủ thể chịu trách nhiệm và những trường hợp không phải BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD .... Các bài nghiên cứu gắn với thực tiễn áp dụng n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGHÀNH LUẬT DÂN SỰ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNG HÓA KHÔNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GÂY THIỆT HẠI CHO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
HỆ CHÍNH QUY KHÓA 34 (KHÓA HỌC 2009 - 2013)
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNG HÓA KHÔNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GÂY THIỆT HẠI CHO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả, có sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Các nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đó Tất cả những thông tin được sử dụng không phải là ý kiến của tác giả đều được trích dẫn nguồn cụ thể trong phần danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đính kèm
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TP Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 7 năm 2013
Tác giả
Trần Thị Thu
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVQLNTD Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
BLDS Bộ luật Dân sự 2005
BTTH Bồi thường thiệt hại
Luật CLSPHH Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
Hội BVNTD Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
NTD Người tiêu dùng
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNG HÓA KHÔNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GÂY THIỆT HẠI CHO NTD 7
1.1 Khái niệm chung 7
1.1.1 Khái niệm NTD 7
1.1.2 Khái niệm chất lượng hàng hóa và hàng hóa không đảm bảo chất lượng 10
1.1.3 Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD 13
1.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD 17
1.2.1 Có thiệt hại xảy ra trên thực tế 18
1.2.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật 20
1.2.3 Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật 20
1.2.4 Lỗi 21
1.3 Chủ thể chịu trách nhiệm và những trường hợp không phải BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD 24
1.3.1 Chủ thể chịu trách nhiệm BTTH 24
1.3.2 Những trường hợp không phải BTTH 25
1.4 Nguyên tắc BTTH 27
1.5 Các phương thức áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD 28
1.5.1 Thương lượng 29
1.5.2 Hòa giải 29
1.5.3 Trọng tài 30
1.5.4 Tòa án 31
1.6 Ý nghĩa của việc quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD 32
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNG HÓA KHÔNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GÂY THIỆT HẠI CHO NTD, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 35
2.1 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD 35
Trang 62.1.1 Tình hình chung về khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện của NTD 35
2.1.2 Thực trạng về BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD 37
2.2 Nguyên nhân của thực tiễn áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lƣợng gây thiệt hại cho NTD 44
2.2.1 Khó khăn trong việc chứng minh các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường 44
2.2.2 Xác định chủ thể bồi thường và chủ thể được bồi thường 48
2.2.3 Không đảm bảo tính công khai trong xử lý hành vi vi phạm 49
2.2.4 Thương lượng không mang lại hiệu quả 50
2.2.5 Quy định thời hiệu khởi kiện chưa phù hợp 51
2.2.6 Hoạt động của tổ chức bảo vệ NTD chưa mang lại hiệu quả 52
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do vi phạm chất lƣợng hàng hóa gây thiệt hại cho NTD 53
2.3.1 Quy định cụ thể về khái niệm NTD 54
2.3.2 Quy định về yếu tố lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng 55
2.3.3 Mở rộng phạm vi bồi thường cho chủ thể là người thứ ba chịu thiệt hại 57
2.3.4 Đưa ra căn cứ để xác định những thiệt hại lâu dài 57
2.3.5 Mở rộng các tổ chức giám định 58
2.3.6 Công khai trong hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm 58
2.3.7 Quy định cụ thể về cơ chế, cách thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng 59
2.3.8 Mở rộng thời hiệu khởi kiện 59
2.3.9 Nâng cao vai trò của tổ chức BVQLNTD 61
2.3.10 Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật 63
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của tài
“NTD Việt Nam đang phải sống trong một môi trường không an toàn, quyền
và lợi ích hợp pháp bị vi phạm nghiêm trọng”1 Trong đó, vi phạm về chất lượng hàng hóa là một vấn đề nhức nhối đang được toàn xã hội quan tâm Gần đây, những
vụ vi phạm như: thịt sử dụng chất tạo nạc, sữa bột pha nước được ghi thành sữa tươi, nước tương chứa chất 3 – MCPD vượt quá hàm lượng cho phép có khả năng gây ung thư, mỹ phẩm độc hại, xăng pha Aceton, mũ bảo hiểm kém chất lượng…
đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi NTD và gây ra những hậu quả nặng nề
Vi phạm về chất lượng hàng hóa diễn ra ở nhiều mặt hàng khác nhau, những hàng
hóa có nhu cầu càng cao thì sự vi phạm càng diễn ra phổ biến
Trong thời kì hội nhập và phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật đã có những bước tiến đáng kể, cùng với đó là sự phát triển về thị hiếu và nhu cầu của NTD Hàng hóa ngày càng đa dạng, hiện đại nhưng cũng phức tạp hơn Nếu chỉ với kinh nghiệm, không có sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật thì NTD khó có thể đánh giá đúng giá trị, chất lượng, xuất xứ của hàng hóa Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO (Word Trade Organization) thì sức ép cạnh tranh ngày càng diễn ra khắc nghiệt hơn Cạnh tranh và lợi nhuận là mong muốn của tất cả những nhà sản xuất, kinh doanh Một số doanh nghiệp đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của NTD, cố tình vi phạm chất lượng hàng hóa để tận thu lợi nhuận
Tính chất của các tranh chấp giữa NTD với thương nhân khác với các tranh chấp dân sự thông thường ở chỗ giữa họ có một sự mất cân bằng khá lớn NTD bao giờ cũng yếu thế hơn so với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh Sự yếu thế này
“xuất phát từ tình trạng bất cân xứng về thông tin, hiểu biết, trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng, khả năng chịu rủi ro và sự am tường pháp luật cũng như tiềm lực tài chính”2 Điều đó đòi hỏi phải có một cơ chế riêng
để bảo vệ, tránh hiện tượng các nhà sản xuất, kinh doanh lợi dụng ưu thế của mình
để chèn ép và gây thiệt hại cho NTD Luật BVQLNTD 2010 ra đời, “mang trong
mình rất nhiều quy định đặc biệt và ngoại lệ so với Luật Dân sự truyền thống”3
Một trong những điểm “đặc biệt và ngoại lệ” nói trên là những quy định liên quan
đến trách nhiệm ngoài hợp đồng khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt
Trang 8hại cho NTD Đây là sự can thiệp của nhà nước nhằm “bổ sung những biện pháp
bảo vệ cần thiết (bên cạnh những biện pháp được Luật Dân sự quy định) khắc phục những thiệt thòi mà NTD phải gánh chịu”4
BTTH ngoài hợp đồng khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD là một chế định quan trọng Nó không những có vai trò trong việc bù đắp những tổn thất mà NTD phải gánh chịu mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm của các chủ thể sản xuất, kinh doanh, có tác dụng hạn chế sự vi phạm xảy ra Luật CLSPHH và Luật BVQLNTD đã có những quy định cụ thể về vấn đề này Đặc biệt,
sự ra đời của Luật BVQLNTD với những quy định tiến bộ như: quy định trách nhiệm BTTH khi hàng hóa có khuyết tật không phụ thuộc vào yếu tố lỗi; quy định
về chuyển nghĩa vụ chứng minh lỗi từ NTD sang cho chủ thể sản xuất, kinh doanh; quy định về việc miễn tiền tạm ứng án phí cho NTD khi họ khởi kiện… đã tạo nhiều thuận lợi cho NTD trong quá trình bảo vệ quyền lợi cho mình Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định đó trên thực tế gặp nhiều khó khăn và không mang lại hiệu quả như mong đợi Sự thiếu thống nhất, cụ thể và không khả thi trong một số các quy định pháp luật cộng với sự thiếu hiểu biết của NTD là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng này
Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD” làm đề tài nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình Với mong muốn
nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn để làm rõ những điểm chưa hợp
lý, chưa khả thi trong pháp luật, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả BVQLNTD thông qua chế định này
2 Tình hình nghiên cứu
BVQLNTD là đề tài được nhiều người nghiên cứu và khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về pháp luật BVQLNTD, trong đó
cũng có đề cập đến trách nhiệm BTTH như đề tài “Pháp luật về BVQLNTD – Thực
trạng và một số kiến nghị hoàn thiện” của Dương Thúy Diễm (2009), đề tài “Pháp luật về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD” của Đặng Diệu Phương
(2006) Bên cạnh đó, có những đề tài nghiên cứu ở phạm vi hẹp hơn, chỉ tập trung vào trách nhiệm BTTH như luận văn của Lê Thị Chiêu Oanh (2008) với đề tài
“BTTH do vi phạm quyền lợi NTD” hay đề tài “BTTH do vi phạm quyền lợi NTD – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Đặng Thị Thu Trang (2007), đề tài “Trách nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi của NTD” của Vũ Thị Ngọc Nhung (2006) Tuy
nhiên, trách nhiệm bồi thường trong các luận văn này xuất phát từ việc vi phạm
4
Lê Hồng Hạnh & Trần Thị Quang Hồng (2010), “Luật Bảo vệ người tiêu dùng có nên quy định tổ chức là
người tiêu dùng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (20), tr 25
Trang 9nhiều nghĩa vụ khác nhau, phát sinh cả trong hợp đồng và ngoài hợp đồng Các luận văn trên đây được thực hiện khi Luật BVQLNTD chưa có hiệu lực
Kể từ khi Luật BVQLNTD có hiệu lực thì vấn đề BVQLNTD chưa được khai thác nhiều Cụ thể có một số luận văn như: luận văn Thạc sĩ Luật học của Phạm Thị
Thanh Nhàn (2010) với đề tài “Pháp luật về hợp đồng theo mẫu và vấn đề
BVQLNTD”, khóa luận tốt nghiệp của Hà Thị Trà Ly (2011) với đề tài “BVQLNTD dưới góc độ luật cạnh tranh, thực trạng và giải pháp” Như vậy, vấn đề trách
nhiệm dân sự, cụ thể là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu
Trong hệ thống các bài nghiên cứu khoa học, bình luận trên tạp chí có một số bài viết nhưng chỉ phân tích các điều luật riêng lẻ, không mang tính chuyên đề Đa
số các bài viết này được thực hiện khi Luật BVQLNTD chưa có hiệu lực Một số bài được nghiên cứu dựa trên các quy định trong dự thảo Luật BVQLNTD Khi Luật này có hiệu lực thì cũng có những bài viết khác nhau nhưng chỉ phân tích trên phương diện lý luận, xem xét tính khả thi và hợp lý của một số quy định Các bài nghiên cứu gắn với thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật bảo vệ NTD nói chung và thực hiện trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cho NTD khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng nói riêng thì chưa thấy có tác giả nào nghiên cứu
Từ thực tiễn nghiên cứu trên, tác giả mong muốn có thể sử dụng những kiến thức và vốn hiểu biết mà mình đã tích lũy được nghiên cứu một cách tập trung và khái quát những vấn đề căn bản của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD Những phân tích gắn với thực tiễn áp dụng sẽ phản ánh những thiếu sót và những điểm chưa hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành Từ đó có thể đưa ra những định hướng hoàn thiện để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến “trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD” Cụ thể
là tìm hiểu về khái niệm, căn cứ phát sinh, chủ thể có nghĩa vụ bồi thường, những trường hợp không phải bồi thường, nguyên tắc bồi thường và các phương thức yêu cầu BTTH Sau đó, đề tài sẽ làm rõ về thực trạng áp dụng những quy định pháp luật nói trên Từ đó, phân tích nguyên nhân để chỉ ra những điểm chưa hợp lý, chưa khả thi trong các quy định pháp luật, và đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện
4 Phạm vi nghiên cứu
Trách nhiệm khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD
bao gồm nhiều trách nhiệm khác nhau, có thể “xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính,
Trang 10hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”5 Tuy nhiên, luận văn chỉ đề cập đến một trong những loại trách nhiệm nói trên, đó là trách nhiệm BTTH Luận văn cũng không bao quát toàn
bộ trách nhiệm này mà chỉ nghiên cứu ở khía cạnh BTTH ngoài hợp đồng Cụ thể, tác giả sẽ tìm hiểu những quy định có liên quan được quy định chủ yếu trong hệ thống pháp luật dân sự, pháp luật về chất lượng hàng hóa và pháp luật về BVQLNTD Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được đặt ra đối với cả hàng hóa và dịch vụ nhưng đề tài chỉ đề cập đến trách nhiệm đối với hàng hóa
Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ khi Luật BVQLNTD có hiệu lực cho đến nay, giới hạn ở hoạt động tiêu dùng trong nước nên trách nhiệm BTTH cũng chỉ đặt ra trong phạm vi này Theo Luật hiện hành thì trong trường hợp trên,
chủ thể có nghĩa vụ bồi thường là “người sản xuất, người nhập khẩu”6, “bên thứ ba
trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa cho NTD”7 Tuy nhiên, trách nhiệm của người thứ ba sẽ được giải quyết thông qua quan hệ với người sản xuất nên trong đề tài tác giả sẽ không phân tích Quan hệ trách nhiệm BTTH mà tác giả hướng đến chủ yếu tập trung vào quan hệ giữa nhà sản xuất, nhà nhập khẩu với NTD Những bất cập liên quan tới chế định này tồn tại trong nhiều quy định khác nhau Tuy nhiên, tác giả chỉ chọn những bất cập mà tác giả cho là tiêu biểu để phân tích làm
rõ Việc nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở khía cạnh pháp lý, những vấn đề xuất phát
từ kinh tế, xã hội hay những khía cạnh khác có liên quan tới đề tài không nằm trong phạm vi nghiên cứu
5 Mục tiêu của đề tài
Với “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất
lượng gây thiệt hại cho NTD” thì mục tiêu đặt ra cụ thể như sau:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa
không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD” Để thực hiện mục tiêu này thì
phải làm rõ các khái niệm cấu thành của nó, đó chính là tìm hiểu về khái niệm NTD, về chất lượng hàng hóa và hàng hóa không đảm bảo chất lượng
Thứ hai, phân tích, làm rõ các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường Vấn
đề này được giải quyết thông qua việc phân tích các quy định trong BLDS, Luật CLSPHH, Luật BVQLNTD Qua quá trình phân tích, chỉ ra những điểm chưa hợp
lý, chưa khả thi của các quy định pháp luật liên quan tới chế định này
Thứ ba, phản ánh thực trạng áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do chất lượng hàng hóa không đảm bảo gây thiệt hại cho NTD Phân tích thực trạng để
5 Điều 66 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
6
Khoản 1 Điều 61 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
7 Khoản 1 Điều 13 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Trang 11rút ra những nguyên nhân xuất phát từ các quy định pháp luật dẫn đến thực trạng nói trên
Cuối cùng, đưa ra giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật Những kiến nghị này phải xuất phát từ thực tiễn và nguyên nhân đã phân tích trước đó Những giải pháp kiến nghị phải cụ thể và khả thi để có thể góp phần nghiên cứu nhằm hoàn thiện những bất cập và thiếu sót trong hệ thống pháp luật hiện hành
6 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những vấn đề nói trên, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp phân tích, giải thích: là phương pháp được sử dụng nhiều nhất và
có vai trò rất quan trọng trong việc làm rõ các quy định của pháp luật để giúp đưa đến những hiểu biết khái quát về các quy định BVQLNTD liên quan đến chế định BTTH ngoài hợp đồng
Phương pháp logich pháp lý: được thể hiện ở những lập luận, suy luận, sự liên kết từ các quy định pháp luật để thấy được sự mâu thuẫn, không thống nhất và không rõ nghĩa của các quy định đó
Phương pháp đánh giá: Từ nội dung của những quy định đã được phân tích, tác giả đã đưa ra một số đánh giá ở các khía cạnh khác nhau như: tính hợp lý, tính khả thi và hiệu quả khi áp dụng trên thực tế
Phương pháp so sánh: là phương pháp được tác giả sử dụng để làm rõ điểm tiến bộ của Luật BVQLNTD khi được so sánh với các quy định điều chỉnh về cùng vấn đề đó trong Pháp lệnh BVQLNTD Mặt khác, phương pháp này cũng hỗ trợ tác giả trong việc so sánh Luật Việt Nam với pháp luật một số nước
Phương pháp liệt kê: là phương pháp được sử dụng để tái hiện thực trạng về chất lượng hàng hóa, những ảnh hưởng và thiệt hại của nó; liệt kê các văn bản có liên quan để tiện theo dõi về vấn đề được đưa ra
Phương pháp tổng hợp: Sau khi phân tích và đánh giá, tác giả luôn đưa ra những kết luận về những nội dung mà mình đã phân tích để tránh sự dàn trải và nêu
rõ trọng tâm mà mình muốn thể hiện Những kết luận này là kết quả của quá trình tổng hợp những đặc điểm và nội dung của các vấn đề đã phân tích trước đó
7 Kết cấu của đề tài
Khóa luận được chia thành 2 chương:
Chương 1: Khái quát về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD
Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu khái quát về NTD và chất lượng hàng hóa Cụ thể, tác giả sẽ phân tích các khái niệm về NTD, về chất lượng hàng hóa và
Trang 12hàng hóa không đảm bảo chất lượng Sau đó, tác giả sẽ làm rõ những vấn đề cơ bản
về cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường, chủ thể có nghĩa vụ bồi thường, những trường hợp không phải bồi thường và nguyên tắc BTTH Những phương thức để NTD có thể áp dụng trách nhiệm BTTH cũng được tác giả phân tích nhằm làm rõ trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD
Chương 2: Thực trạng về BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD, nguyên nhân và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trong chương này, tác giả sẽ phản ánh thực tiễn áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do vi phạm chất lượng hàng hóa gây thiệt hại cho NTD thông qua việc phân tích các khiếu kiện và hoạt động giải quyết khiếu kiện về yêu cầu BTTH liên quan đến chế định trên Tác giả sẽ phân tích những nguyên nhân pháp lý dẫn đến tình trạng đó và đưa ra các giải pháp kiến nghị để hoàn thiện những quy định pháp luật đã được đề cập
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG DO
HÀNG HÓA KHÔNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
GÂY THIỆT HẠI CHO NTD
1.1 Khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm NTD
Ở các nước khác nhau thì khái niệm NTD cũng được quy định khác nhau Pháp luật Hoa kỳ bao gồm hệ thống pháp luật của liên bang và các tiểu bang Trong
hệ thống pháp luật này tuy không có một đạo luật chung thống nhất để BVQLNTD
nhưng khái niệm NTD được hiểu chung “là cá nhân tham gia giao dịch với mục
đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình”8
Trong buổi Hội thảo tổ chức tại Nhà Pháp luật Việt – Pháp vào ngày 20 và ngày 21/4/2010 để bình luận và góp ý cho Dự thảo Luật BVQLNTD tại Việt Nam, các chuyên gia pháp luật của Pháp cho biết khái niệm NTD trong pháp luật Pháp
“là các cá nhân nhưng không bao gồm các cá nhân khi thực hiện hành vi mua sắm hàng hóa, dịch vụ để phục vụ hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động có tính nghề nghiệp cho mình”9
Trong pháp luật Trung Quốc không có quy định cụ thể về khái niệm NTD
Tuy nhiên, trong Luật này có quy định: “Trường hợp NTD vì nhu cầu tiêu dùng
sinh hoạt, mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ
sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này Trong trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định pháp luật khác có liên quan”10 Thông qua quy định này chúng ta nhận thấy NTD trong pháp luật Trung Quốc được hiểu là
cá nhân mua và sử dụng hàng hóa nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt
Như vậy, pháp luật của các nước có quy định không giống nhau về khái niệm NTD nhưng đặc điểm chung của các hệ thống pháp luật này thì đều xem NTD là cá nhân sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân chứ không phải vì mục đích kinh doanh, kiếm lời
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về NTD Theo nghĩa hẹp, NTD là các
cá nhân, hộ gia đình, tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của mình Hiểu theo nghĩa rộng, NTD bao gồm cả người mua
8
Michael L Rustad, Everyday Law for Consumers (Paradigm Publishers, 2007) at 2
9 Nhà pháp luật Việt – Pháp, Kỷ yếu Hội thảo Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội:
20&21/4/2010, tr 6
10
Điều 2 Pháp luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về bảo vệ các quyền và lợi ích của người tiêu dùng
1994
Trang 14hàng hoá, sử dụng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và người mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ để phục vụ cho mục đích tái sản xuất kinh doanh.11
Trong Luật BVQLNTD có quy định: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”12 Theo khái niệm này thì để trở thành NTD phải thỏa mãn hai điều kiện Điều kiện thứ nhất, NTD phải là người mua, sử dụng hàng hóa Điều kiện thứ hai, điều kiện phân định ranh giới giữa NTD và người mua đó là điều kiện về mục đích sử dụng Người mua hàng hóa, dịch vụ nhưng phải nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức mới được xem là NTD
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “tiêu dùng là dùng của cải, vật chất để phục
vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất”13 Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt ở đây có nghĩa là NTD mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu của cá nhân mình, gia đình mình Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt không phải là phục vụ cho việc bán lại, hoạt động sản xuất, kinh doanh khác hoặc các hoạt động nghề nghiệp Việc mua các sản phẩm phục vụ tiêu dùng nhằm bán lại (ví dụ: mua bánh mì từ nhà sản xuất về để bán lẻ) hoặc chế biến thành sản phẩm khác để bán (ví dụ: mua bánh mì từ nhà sản xuất, thêm các gia vị, thức ăn khác tạo thành món ăn mới rồi đem bán) không được coi là hàng tiêu dùng và chủ thể thực hiện chúng không phải là NTD.14
Trong khái niệm NTD nêu trên có hai vấn đề cần làm rõ Thứ nhất, NTD bao gồm cả cá nhân và tổ chức hay chỉ bao gồm cá nhân Có quan điểm cho rằng chỉ nên hiểu NTD là cá nhân Vì trong quan hệ mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ của tổ chức với nhà cung cấp thì vị thế và điều kiện của tổ chức tốt hơn nhiều so với
cá nhân Vì vậy, luật không cần can thiệp vào quan hệ đó Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng nên mở rộng cách hiểu bao gồm cả tổ chức Vì không phải lúc nào tổ chức cũng có đủ năng lực để chống lại những vi phạm từ phía nhà sản xuất.15
NTD được hưởng một sự ưu tiên hơn so với những chủ thể Luật Dân sự khác trong các giao dịch cũng như trong giải quyết tranh chấp NTD không được đào tạo những kiến thức về hàng hóa mà họ sử dụng, trong khi những chủ thể sản xuất, kinh doanh lại rất thành thạo bởi họ chính là chủ thể đã làm ra một phần hoặc toàn bộ hàng hóa đó Mặt khác, NTD là những cá nhân đơn lẻ còn chủ thể tạo ra hàng hóa
11 Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của Chính Phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số
6/2011 chủ đề “pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
12 Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
13 Trung tâm Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội, tr.1640
14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nxb Công an
nhân dân
15
Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của Chính Phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số
6/2011 chủ đề “pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, tr.3
Trang 15lại là những tổ chức có kinh nghiệm và có tiềm lực kinh tế rất mạnh Luật BVQLNTD ra đời nhằm hỗ trợ, khắc phục những hạn chế xuất phát từ sự bất cân xứng này, bảo vệ những cá nhân yếu thế trong các giao dịch Vì vậy, sẽ hợp lý hơn nếu chúng ta hiểu NTD chỉ bao gồm cá nhân Nếu tổ chức cũng được xem là NTD, trong khi đối tượng này có tiềm lực và điều kiện kinh tế thuận lợi hơn rất nhiều so với các cá nhân nhỏ lẻ thì sự thừa nhận nói trên sẽ tạo nên sự bất hợp lý
Vấn đề thứ hai là mục đích tiêu dùng, sinh hoạt là mục đích gì và dựa trên căn
cứ nào để xác định Với cá nhân thì có thể đó là việc mua hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu về ăn, ở, mặc, đi lại, giải trí… Nhưng nếu là tổ chức thì mục đích này được xác định như thế nào?
Ví dụ như, trong trường hợp một công ty mua một chiếc tivi để cho nhân viên xem nhằm mục đích giải trí sau giờ làm việc thì được xem là mục đích thương mại hay mục đích tiêu dùng Hoạt động kinh doanh thương mại là những hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại và các hoạt động khác nhằm thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thương mại Như vậy, hành vi mua tivi nói trên là hành vi nhằm thúc đẩy nâng cao hoạt động kinh doanh thương mại nên không được tính là vì mục đích tiêu dùng.16
Như ví dụ trên thì khó có thể coi mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của tổ chức là không vì hoạt động chức năng hoặc nghề nghiệp của tổ chức đó Với cách quy định NTD là người mua hàng hóa cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của gia đình, tổ chức thì nên hiểu người trực tiếp sử dụng hàng hóa là NTD chứ không nên hiểu
người mua là NTD Chẳng hạn, “một doanh nghiệp mua một bình nước không phải
để cho cơ quan uống mà để cho nhân viên trong công ty uống Như vậy, nhân viên
là NTD chứ không nên xem tổ chức mua bình nước đó là NTD”17
Việc quy định NTD bao gồm cả tổ chức thì sẽ làm giảm bớt ý nghĩa cũng như lãng phí chính nguồn lực cho chính sách BVQLNTD của nhà nước Đồng thời, nó cũng có thể bị lạm dụng bởi chính các doanh nghiệp cũng là những tổ chức đặc thù
Họ có thể giành lợi thế bất chính với phía bên kia bằng cách khởi kiện thông qua các quyền của NTD Như vậy, xét về nhiều khía cạnh thì chúng ta nên hiểu NTD trong Luật BVQLNTD chỉ là cá nhân, không bao gồm tổ chức và đó là NTD cuối cùng Đây cũng chính là cách hiểu xuyên suốt trong luận văn này
Trang 161.1.2 Khái niệm chất lượng hàng hóa và hàng hóa không đảm bảo chất lượng 1.1.2.1 Khái niệm chất lượng hàng hóa
Theo Luật CLSPHH thì “hàng hoá là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu
dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị”18
Trong khái niệm này “sản phẩm” được hiểu “là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích
kinh doanh hoặc tiêu dùng”19 Như vậy, giữa sản phẩm và hàng hóa có một sự phân định ranh giới Một sản phẩm chỉ được xem là hàng hóa khi nó được đưa vào thị
trường Việc phân biệt hàng hóa và sản phẩm là cần thiết vì “tính chất và biện pháp
quản lý đối với lĩnh vực sản xuất, nhập khẩu, lĩnh vực thị trường đối với sản phẩm
và hàng hóa là khác nhau”20
“Hàng hóa lưu thông trên thị trường bao gồm: hàng
hóa trong quá trình vận chuyển, trưng bày, khuyến mại và lưu giữ trong quá trình mua bán hàng hóa, trừ trường hợp vận chuyển hàng hóa của tổ chức cá nhân nhập khẩu hàng hóa từ cửa khẩu về kho lưu giữ”21
Chất lượng hàng hóa là một thuộc tính gắn liền với hàng hóa Dưới mỗi cách tiếp cận, mỗi cách nhìn nhận riêng biệt thì chất lượng hàng hóa được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo quan điểm của triết học, “chất” và “lượng” là hai phương diện khác
nhau của cùng một sự vật, hiện tượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã
hội hay tư duy Trong đó “chất” là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan
vốn có của sự vật, hiện tượng Đó là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành
nó, phân biệt nó với cái khác “Lượng” dùng để chỉ tính khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng, các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật.22
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, “chất lượng là tổng thể những tính chất,
những thuộc tính cơ bản của sự vật… làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác”
Từ điển Kinh tế thị trường cũng định nghĩa: “chất lượng sản phẩm chỉ công
dụng của sản phẩm, nghĩa là thích hợp với ý định sử dụng nhất định, làm thỏa mãn đặc tính chất lượng mà nhu cầu xã hội cần có bao gồm các đặc tính của các tính
18 Khoản 2 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
19 Khoản 1 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
20 Phần IV Tờ trình về dự án Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa do Bộ Khoa học và công nghệ gửi cho Chính Phủ ngày 14 tháng 6 năm 2006
21 Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 26/2012/TT – BKHCN quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường
22
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị
quốc gia, tr 95
Trang 17năng cơ học, vật lý, hóa học, kể cả đặc tính hình thù bề ngoài, xúc giác, màu sắc,…
và độ bền theo thời gian của các đặc tính đó”23
Những cách định nghĩa trên đây mang tính trừu tượng, không đưa ra tiêu chí
cụ thể để xác định chất lượng Nó mang tính định tính và chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu lý luận Vì vậy, khái niệm này không thể áp dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như trong hoạt động quản lý của Nhà nước
Theo tiêu chuẩn 8402 – 86 (Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO) và tiêu chuẩn số
TCVN 5814 – 94 (Tiêu chuẩn Việt Nam) thì “chất lượng là tập hợp các đặc tính
của một thực thể, đối tượng; tạo cho chúng khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” Trong khái niệm này, chất lượng được xác định thông qua
khả năng thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu bao gồm những nhu cầu đã được nêu ra và những nhu cầu tiềm ẩn được phát hiện trong quá trình sử dụng Như vậy, cách hiểu này cũng chỉ mang tính tương đối Bởi lẽ, nhu cầu của mỗi cá nhân là khác nhau và không có thước đo cụ thể để có thể xác định một cách chính xác Nhu cầu của người
có thu nhập cao sẽ khác so với người có thu nhập trung bình và người có thu nhập thấp Với mỗi chủ thể khi lựa chọn hàng hóa nhằm mục đích sử dụng khác nhau sẽ
có những yêu cầu khác nhau và việc đáp ứng những yêu cầu đó cũng đặt ra những tiêu chí đánh giá không giống nhau
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong pháp luật Việt Nam được hiểu là: “mức
độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng”24 Như vậy, chất lượng hàng hóa được xác định dựa vào mức độ các đặc tính kỹ thuật của hàng hóa đáp ứng yêu cầu
về tiêu chuẩn kỹ thuật đã công bố áp dụng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Đó là các quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật mà hàng hoá phải tuân theo để đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người
1.1.2.2 Hàng hóa không đảm bảo chất lượng
Luật CLSPHH đã cụ thể khái niệm chất lượng hàng hóa là “mức độ của các
đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng”25 Như vậy, hàng hóa không đảm bảo chất lượng chính là những hàng hóa không đảm bảo mức độ các đặc tính đáp ứng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
Mức độ an toàn của hàng hóa là một thuộc tính gắn liền với hàng hóa Dựa vào mức độ an toàn thì hàng hóa được chia làm hai loại, bao gồm: hàng hóa không
có khả năng gây mất an toàn (hàng hóa nhóm 1) là “hàng hóa trong điều kiện vận
23 Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức Bách Khoa (1998), Đại từ điển Kinh tế thị trường, Hà Nội
24
Khoản 5 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
25 Khoản 5 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
Trang 18chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, không gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường”26 Hàng hóa có khả năng gây mất an
toàn (hàng hóa nhóm 2) là “hàng hóa trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo
quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường”27 Đối với hàng hóa nhóm 1 việc quản lý chất lượng dựa trên cơ sở tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng Tiêu chuẩn này là sự cam kết của các chủ thể sản xuất, kinh doanh đối với NTD và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về chất lượng hàng hóa Những tiêu chuẩn trên đây
không được trái với các quy chuẩn do cơ quan nhà nước đã ban hành “Hàng hóa
nhóm 2 được quản lý chất lượng trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng”28
Luật CLSPHH cũng đưa ra khái niệm “hàng hóa có khuyết tật” Cụ thể, tại
Khoản 7 Điều 10 Luật này có nhắc tới trách nhiệm trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật Nhưng ngay dưới khoản này, các nhà làm luật lại đặt ra trách nhiệm khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng Theo quy định tại Điều 62 Luật CLSPHH, quy định các trường hợp không phải BTTH về chất lượng hàng hóa thì có cả những trường hợp hàng hóa có khuyết tật Thêm vào đó, Luật BVQLNTD quy định nghĩa
vụ quan trọng của tổ chức, cá nhân kinh doanh, đó là “trách nhiệm thu hồi hàng
hóa có khuyết tật”29 và “trách nhiệm BTTH đối với hàng hóa có khuyết tật”30
Luật BVQLNTD có định nghĩa: “Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không
đảm bảo an toàn cho NTD, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho NTD, bao gồm:
Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật;
Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ;
Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho NTD”31
Khoản 4 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
28 Khoản 1 Điều 5 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
29 Điều 22 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
30
Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
31 Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Trang 19không đảm bảo an toàn Như vậy, hàng hóa có khuyết tật và hàng hóa không đảm bảo chất lượng là hai khái niệm khác nhau Theo như khái niệm chất lượng hàng hóa đã phân tích trên đây thì một hàng hóa không đảm bảo chất lượng là hàng hóa không đảm bảo mức độ các đặc tính đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật công bố áp dụng
và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Việc không đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật không đồng nghĩa với việc hàng hóa đó không đảm bảo an toàn Tùy vào từng trường hợp mà tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật không chỉ đáp ứng yêu cầu an toàn
mà nó còn đáp ứng những cam kết tự nguyện khác của chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa Vì vậy, sẽ có những trường hợp hàng hóa không đảm bảo chất lượng (không đáp ứng các đặc tính kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn) nhưng vẫn đảm bảo an toàn
Hàng hóa có khuyết tật không chỉ là những hàng hóa không đảm bảo an toàn,
có khả năng gây thiệt hại do các chủ thể sản xuất, kinh doanh không đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật (hàng hóa không đảm bảo chất lượng) mà còn bao gồm
cả những hàng hóa đáp ứng các điều kiện trên nhưng do những nguyên nhân khác
từ quá trình vận chuyển, lưu giữ hay sự không đầy đủ trong hướng dẫn, cảnh báo…
mà dẫn đến không đảm bảo an toàn
1.1.3 Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD
1.1.3.1 Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Theo cách hiểu thông thường trong Từ điển Tiếng Việt, “trách nhiệm là phần
việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”32
Dưới góc độ pháp lý thì trách nhiệm pháp lý cũng có nhiều quan điểm khác
nhau Có quan điểm cho rằng “trách nhiệm pháp lý bao gồm hai loại là trách nhiệm
pháp lý theo nghĩa tích cực và trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực”33 Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng trách nhiệm pháp lý chủ yếu được hiểu theo nghĩa
tiêu cực, theo đó: “trách nhiệm pháp lý là sự bắt buộc phải gánh chịu hậu quả pháp
lý bất lợi do có hành vi vi phạm pháp luật”34 Trách nhiệm Dân sự là một loại trách
nhiệm pháp lý, “là biện pháp chế tài do vi phạm pháp luật, nó gây cho những người
32 Hoàng Phê – chủ biên (1996), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng & Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà
Nẵng, tr 985
33 Lê Vương Long – chủ biên (2008), Trách nhiệm pháp lý – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta
hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 9
34
Nguyễn Thị Hồi (2010), Những nội dung căn bản của môn học lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Tư
pháp, Hà nội, tr 455
Trang 20vi phạm những hậu quả tiêu cực dưới hình thức bị tước đoạt quyền dân sự hoặc là
bổ sung hay đưa ra nghĩa vụ dân sự mới”35
“BTTH là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại”36 Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết cũng cho rằng trách
nhiệm BTTH là một dạng trách nhiệm pháp lý tiêu cực, theo đó: “trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng là quy định của Luật Dân sự nhằm buộc người có hành vi xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra”37
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
là một một dạng trách nhiệm pháp lý, cụ thể là trách nhiệm dân sự Trách nhiệm này đặt ra cho những chủ thể có hành vi xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại phải bồi thường cho những thiệt hại mà họ đã gây ra
1.1.3.2 Trách nhiệm khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng
Khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì phát sinh nhiều loại trách nhiệm khác nhau Để nâng cao trách nhiệm của các chủ thể sản xuất kinh doanh, luật quy định trách nhiệm mà các chủ thể phải gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ về đảm bảo chất lượng hàng hóa Theo Điều 66 Luật CLSPHH thì tùy theo chủ thể vi phạm là
cá nhân hay tổ chức và mức độ vi phạm mà có các trách nhiệm khác nhau, có thể bị
xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và BTTH nếu có thiệt hại xảy ra
Trong phần Chương II Luật CLSPHH quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa Trong đó, trách nhiệm của người sản xuất bao gồm: kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan
và có biện pháp khắc phục hậu quả; trách nhiệm thu hồi hàng hóa không đảm bảo chất lượng; trách nhiệm tiêu hủy nếu thuộc trường hợp bắt buộc tiêu hủy; trách nhiệm BTTH Đối với người nhập khẩu thì trách nhiệm đó bao gồm: kịp thời ngừng nhập khẩu, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả; tái xuất hàng hóa nhập khẩu; tiêu hủy hàng hóa nhập khẩu; thu hồi, xử lý hàng hóa; BTTH Người xuất khẩu cũng phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu hủy hàng hóa theo quy định của pháp luật Đối
35 Phạm Kim Anh (2009), “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ
luật Dân sự 2005, thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (06), tr 4
36
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, Nxb Bách khoa & Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 84
37 Phan Hữu Thư & Lê Thu Hà (2007), Giáo trình Luật Dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.466
Trang 21với người bán hàng thì phải kịp thời ngừng bán, thông tin cho người sản xuất, người nhập khẩu và người mua; hợp tác với người sản xuất, người nhập khẩu thu hồi, xử
lý hàng hóa, BTTH Luật BVQLNTD cũng quy định về trách nhiệm khi hàng hóa
có khuyết tật trong đó có nghĩa vụ “thu hồi hàng hóa có khuyết tật”38 và nghĩa vụ
“BTTH do hàng hóa có khuyết tật”39
Như vậy, trách nhiệm BTTH là một trong số những trách nhiệm đặt ra khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng Là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh có hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD mà cụ thể
Ví dụ như: chị A mua một suất gà đông lạnh ở siêu thị B về để chế biến thức
ăn Khi mang gà về nhà, chị phát hiện con gà này đã hết hạn sử dụng và có những dấu hiệu bị hư hỏng Giả sử sau đó chị mang con gà đến siêu thị khiếu nại thì khi đó trách nhiệm giữa chị và siêu thị B là trách nhiệm phát sinh trong hợp đồng Đó là nghĩa vụ thay thế, đổi hàng hóa khác đảm bảo chất lượng Tuy nhiên, nếu trong trường hợp chị A không biết và đã chế biến con gà này cho gia đình ăn Sau khi ăn thì chị và những người trong gia đình bị ngộ độc và phải nhập viện để điều trị Những thiệt hại mà chị và gia đình chị phải gánh chịu đã làm phát sinh trách nhiệm BTTH của siêu thị B Đây là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Những thành viên khác trong gia đình chị A cũng là người chịu thiệt hại Các chủ thể này không trực tiếp giao dịch với siêu thị B, giữa họ và siêu thị không hề tồn tại bất kì một hợp đồng mua bán nào nhưng họ chính là NTD bị thiệt hại xuất phát từ việc sử dụng
38
Điều 22 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
39 Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Trang 22hàng hóa không đảm bảo chất lượng Vì vậy, trách nhiệm của siêu thị với những người này là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Chúng ta thấy rằng, khi gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không thì thực tiễn xét xử đều áp dụng trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng Bởi lẽ, “Sự an toàn về thân thể xét theo bản chất của nó không thể
là đối tượng của hợp đồng Người ta không thể ký kết với nhau về sự an toàn thân thể vì chẳng ai bảo đảm được điều đó”40 Như vậy, dù cho có tồn tại hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra liên quan tới tính mạng, sức khỏe thì đó là thiệt hại phát sinh
ngoài hợp đồng “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát
sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết”41
Để bảo vệ NTD, BLDS đã ghi nhận trách nhiệm trong trường hợp thiệt hại
phát sinh ngoài hợp đồng Theo đó, “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất,
kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho NTD thì phải bồi thường”42 Luật CLSPHH cũng quy định về trách nhiệm BTTH liên quan đến
chất lượng hàng hóa Cụ thể: “người sản xuất, người nhập khẩu phải BTTH cho
người bán hàng hoặc NTD khi hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của người sản xuất, người nhập khẩu không bảo đảm chất lượng hàng hóa”43 “Người bán hàng phải
BTTTH cho người mua, NTD trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng không bảo đảm chất lượng hàng hóa”44
Như vậy, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng theo pháp luật Dân sự và pháp luật về Chất lượng hàng hóa là trách nhiệm
của “người sản xuất, người nhập khẩu”45, “người bán hàng”46 phải BTTH cho NTD khi các chủ thể này có lỗi gây ra thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD xuất phát từ hàng hóa không đảm bảo chất lượng do những chủ thể trên cung cấp
Luật BVQLNTD ra đời với việc quy định về trách nhiệm BTTH khi hàng hóa
có khuyết tật Cụ thể, “tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm BTTH
40 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Tập bài giảng pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, Tài liệu lưu hành nội bộ, tr 332
41
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Tập bài giảng về hợp đồng và bồi thường thiệt hại người
hợp đồng, tài liệu lưu hành nội bộ, tr.333
42 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2005
43 Khoản 1 Điều 61 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
44 Khoản 2 Điều 61 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
45
Chủ thể không trực tiếp giao dịch với người tiêu dùng nhưng tạo nên sự xuất hiện của hàng hóa trên thị trường, giữa hai chủ thể này với người tiêu dùng không hề tồn tại hợp đồng, trách nhiệm phát sinh trên cơ sở các quy định của pháp luật
46
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người bán hàng phát sinh khi thiệt hại phát sinh không nằm trong thỏa thuận của hợp đồng
Trang 23trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật”47 Như vậy, theo Luật này thì lỗi không phải là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH Cụ thể là, chủ thể kinh doanh vẫn phải bồi thường ngay cả trường hợp không có lỗi
Tóm lại, NTD là khái niệm dùng để chỉ cá nhân mua, sử dụng hàng hóa không
nhằm mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận Chất lượng hàng hóa là mức độ đặc tính của hàng hóa đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật công bố áp dụng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Một hàng hóa được xem là không đảm bảo chất lượng khi hàng hóa đó không đảm bảo mức độ các đặc tính đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn nói trên Khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng và gây thiệt hại cho NTD thì làm phát sinh các trách nhiệm Đây có thể là trách nhiệm trong hợp đồng và cũng có thể là trách nhiệm phát sinh ngoài hợp đồng Trong đó, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa với NTD Trách nhiệm này phát sinh khi có thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe của NTD do hàng hóa không đảm bảo chất lượng mà các chủ thể trên đã cung cấp gây ra
1.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lƣợng gây thiệt hại cho NTD
Như đã phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng trách nhiệm BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng được quy định trong nhiều văn bản khác nhau BLDS đã ghi nhận về trách nhiệm BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng tại Điều 630 buộc các chủ thể sản xuất, kinh doanh phải bồi thường cho NTD khi không đảm bảo chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại Luật CLSPHH với Điều 61
đã quy định về nghĩa vụ BTTH của người sản xuất, người nhập khẩu, người bán hàng khi những chủ thể này có lỗi làm cho hàng hóa không đảm bảo chất lượng Luật BVQLNTD với quy định tại Điều 23 quy định trách nhiệm BTTH khi hàng hóa có khuyết tật đã một lần nữa ghi nhận và bổ sung để hoàn thiện chế định này BLDS đã ghi nhận trường hợp BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Đây là trách nhiệm dân sự, vì vậy các căn cứ phát sinh trách nhiệm này cũng được BLDS ghi nhận Nó không được quy định trực tiếp nhưng được hiểu cụ thể thông qua quy định chung về cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Theo đó, “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì
47 Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Trang 24phải bồi thường”48 Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về BTTH ngoài hợp đồng thì trách nhiệm này chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau:
1.2.1 Có thiệt hại xảy ra trên thực tế
“Thiệt hại là sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã có hoặc sự mất mát lợi ích vật chất mà chắc chắn họ sẽ có, tức là lợi nhuận chắc chắn
sẽ thu được”49 “Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm BTTH bởi mục đích của
việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do
đó không có thiệt hại thì không đặt vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác”50 Theo hướng dẫn của Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP và quy định của Luật CLSPHH thì những thiệt hại được bồi thường bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần Cụ thể, những thiệt hại được bồi thường bao gồm:
“Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại”51
Đây là thiệt hại trực tiếp phát sinh từ việc mua và sử dụng hàng hóa không đảm bảo chất lượng NTD phải trả một giá trị vật chất nhất định để có được hàng hóa và họ mong đợi sẽ được thỏa mãn nhu cầu đặt ra Tuy nhiên, điều này không đạt được khi hàng hóa đã mua không đảm bảo chất lượng NTD phải bỏ ra một khoản chi phí để sửa chữa hay thậm chí là thay thế hàng hóa đó và đây chính là những thiệt hại thực tế và trước hết mà NTD được bồi thường
Không chỉ là thiệt hại từ chính hàng hóa đã mua mà kể cả những thiệt hại đối với tài sản khác bị hư hỏng, bị hủy hoại khi sử dụng hàng hóa không đảm bảo chất lượng cũng được bồi thường Ví dụ một chiếc đèn bàn không đảm bảo chất lượng bị bốc cháy khi đang sử dụng đã làm cho chiếc máy tính đặt kế bên bị hư hại Khi đó, thiệt hại được bồi thường không chỉ là giá trị chiếc đèn bàn mà bao gồm cả chiếc máy tính
“Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ con người”52
Khi sử dụng hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì không những nhu cầu không được đáp ứng mà nó còn mang lại những hệ quả không mong muốn Nó có thể tác động xấu tới sức khỏe và thậm chí là tính mạng của NTD Thiệt hại về sức khỏe bao gồm:
48 Khoản 1 Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005
49 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 tập II, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr.702
50 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 262
51
Khoản 1 Điều 60 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
52 Khoản 2 Điều 60 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
Trang 25“Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại”53
Khi bị tổn hại về sức khỏe thì NTD sẽ phải gánh chịu tổn thất về tinh thần phát sinh từ thiệt hại này Pháp luật quy định ngoài khoản tiền bồi thường nói trên, người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.54
“Trong trường hợp sử dụng hàng hóa mà tính mạng bị xâm phạm thì khoản thiệt hại được bồi thường không phải là số tiền bồi thường cho tính mạng của người
đã chết mà là khoản tiền do gia đình nạn nhân phải bỏ ra và số tiền mà những người được nạn nhân cấp dưỡng sẽ nhận được”55 Nó bao gồm: “Chi phí hợp lý
cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng; Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng”56 Cũng giống như trường hợp bị xâm phạm về sức khỏe, việc tính mạng bị xâm phạm cũng gây nên những tổn thất về tinh thần Cụ thể, nó tạo nên những mất mát, đau thương cho những người thân thích của người đã mất Mức bồi thường bù đắp về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa là không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định.57
“Thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản”58 NTD lựa chọn hàng hóa nhằm những mục đích sử dụng khác nhau và khi mục đích này không đạt được sẽ kéo theo những thiệt hại nhất định Phần lợi ích bị mất
đi, bị giảm sút khi sử dụng hàng hóa không đảm bảo chất lượng là thiệt hại thực tế
mà NTD phải gánh chịu Thiệt hại này tính toán được dựa trên sự so sánh với lợi ích
mà NTD đã nhận được khi sử dụng sản phẩm trước đó, hay cũng có thể so sánh với
53 Khoản 1 Điều 609 Bộ luật Dân sự 2005
54 Khoản 2 Điều 609 Bộ luật Dân sự 2005
Khoản 2 Điều 610 Bộ luật Dân sự 2005
58 Khoản 3 Điều 60 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
Trang 26giá trị có thể nhận được của một hàng hóa tương tự, cùng loại “Những lợi ích này
phải chắc chắn có, những lợi ích suy đoán sẽ không được tính để bồi thường Khi tính toán lợi ích này cũng phải trừ đi những chi phí cần thiết để có được lợi ích đó”59
Ví dụ, một người bán hàng mua một chiếc máy xay sinh tố nhằm mục đích xay nước để bán Tuy nhiên, do chất lượng máy không đảm bảo nên không thể xay được và người đó đã mất đi khoản thu nhập khi không thực hiện được công việc này Như vậy, đây chính là thiệt hại gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa bị mất đi và theo quy định của pháp luật nó là thiệt hại được bồi thường
“Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”60
“Đó là những chi phí phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục những thiệt hại xuất phát từ việc sử dụng những hàng hóa không đảm bảo chất lượng”61 Thiệt hại này có thể xảy ra cho chính người sử dụng hàng hóa nhưng cũng có thể xảy ra với những chủ thể chịu tác động gián tiếp Ví dụ như thiệt hại mà người giặt
ủi phải trả cho khách hàng của anh ta khi anh ta đã sử dụng bàn là không đảm bảo chất lượng dẫn đến làm hư hỏng quần áo của khách hàng Đây được tính là chi phí
để khắc phục hậu quả và được bồi thường
1.2.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
“Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật”62 Các quy định của pháp luật ở đây là những quy định về BVQLNTD, những quyền
cơ bản của NTD được pháp luật ghi nhận Cụ thể, đó chính là những hành vi vi phạm xuất phát từ hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa không đảm bảo chất lượng Nó được xác định cụ thể thông qua hệ thống các quy định pháp luật về chất lượng hàng hóa Các văn bản này quy định cụ thể những nghĩa vụ mà nhà sản xuất, kinh doanh phải thực hiện hoặc không được thực hiện nhưng các chủ thể nói trên đã
cố tình không tuân thủ
1.2.3 Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật
“Quan hệ nhân quả là mối quan hệ khách quan của bản thân các sự vật Quan
hệ nhân quả của bản thân sự vật tồn tại ngoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào việc con người có nhận thức được hay không”63 Đây là một trong những
59 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2009), Bình luận khoa họa Bộ luật Dân sự 2005 tập II, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr.713
60 Khoản 4 Điều 60 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
61 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2009), Bình luận khoa họa Bộ luật Dân sự 2005, tập II, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr.713
62 Khoản 1.2 Mục I.1 Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
63
Phùng Trung Tập (2009), Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, Nxb Hà
Nội, tr 71
Trang 27điều kiện bắt buộc, sự tồn tại của điều kiện này thể hiện tính hợp lý của việc xác định trách nhiệm bồi thường Hành vi gây thiệt hại là cái có trước, hậu quả là cái có
sau “Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược
lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại”64
Hành vi sản xuất, nhập khẩu hàng hóa không đảm bảo chất lượng, vi phạm quyền lợi NTD là nguyên nhân và thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe… của NTD là hệ quả của sự vi phạm đó Một nguyên nhân có thể tạo nên nhiều hệ quả khác nhau và ngược lại một hệ quả cũng có thể do nhiều nguyên nhân chi phối Vì vậy, việc xác định mối quan hệ này cần phải có những căn cứ đầy đủ và khách quan, phải đặt trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định để có thể đánh giá một cách chính xác
BLDS quy định: “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không
bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho NTD thì phải bồi thường”66
Với quy định trên thì trách nhiệm BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng
chỉ phát sinh trong trường hợp có lỗi Mặt khác, Luật này cũng quy định: “Trong
trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”67 Tuy nhiên, pháp luật Dân sự cũng không có quy định nào khác để loại trừ yếu tố lỗi trong trường hợp này
Theo Điều 61 Luật CLSPHH thì người sản xuất, người nhập khẩu, người bán hàng phải BTTH cho NTD khi họ có lỗi trong việc không đảm bảo chất lượng hàng hóa Như vậy, theo pháp luật Dân sự và pháp luật về Chất lượng hàng hóa thì lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng khi hàng hóa mà những chủ thể nói trên cung cấp không đảm bảo chất lượng
gây thiệt hại cho NTD “Một người bị coi là có lỗi khi người gây thiệt hại nhận
thức được hoặc không nhận thức được nhưng có đủ điều kiện thực tế để nhận thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện để điều khiển một hành
vi khác không gây thiệt hại”68
64 Khoản 1.3 Mục I.1 Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
65 Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân, tr 79
66 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2005
67
Khoản 2 Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005
68 Phạm Thế Dân (2001), “Một số vấn đề về lỗi trong Luật Dân sự”, Tạp chí Bảo hiểm, (04), tr.18
Trang 28Cũng quy định về vấn đề này, Luật BVQLNTD quy định chủ thể kinh doanh hàng hóa phải BTTH cho NTD ngay cả trong trường hợp không biết hoặc không có lỗi khi hàng hóa mà họ cung cấp có khuyết tật và gây thiệt hại Như vậy, với hàng hóa có khuyết tật thì lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH Đây là một quy định mới và tiến bộ giúp bảo vệ tối đa quyền lợi của NTD Quy định này đã nâng cao trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh đối với hàng hóa của mình Các chủ thể này phải tìm mọi cách để hạn chế tối đa khuyết tật mà hàng hóa
có thể có, đặc biệt là phải đáp ứng các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
Theo nguyên tắc bồi thường của pháp luật Dân sự thì nguyên đơn là chủ thể phải chứng minh lỗi Tuy nhiên, một trong những quy định mới của Luật BVQLNTD đó là miễn trách nhiệm chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh cho NTD Theo đó: “NTD có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng
minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa
vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại”69 Theo quy định này, NTD muốn yêu cầu BTTH thì chỉ phải chứng minh ba căn cứ Đó là có hành vi sử dụng hàng hóa, có thiệt hại, và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi sử dụng hàng hóa
và thiệt hại xảy ra Chủ thể sản xuất, kinh doanh phải chứng minh mình không có lỗi đối với thiệt hại đó Nếu không chứng minh được thì phải BTTH cho NTD Quy định này là cơ sở phát sinh quyền yêu cầu BTTH của NTD Đây là một quy định
tiến bộ “Xuất phát từ tình trạng bất cân xứng về thông tin, hiểu biết, trình độ khoa
học kỹ thuật, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng, khả năng chịu rủi ro và sự am tường về pháp luật cũng như tiềm lực tài chính nên NTD luôn ở vị thế yếu thế hơn
so với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa”70 “Nếu để người bị thiệt
hại cố gắng chứng minh lỗi của người gây ra thiệt hại để được bồi thường, họ phải tốn nhiều công sức, thời gian, tiền của”71 Vì vậy, quy định này đã hỗ trợ và tạo thuận lợi cho NTD khi muốn khởi kiện yêu cầu BTTH
Như vậy, lỗi là một căn cứ để phát sinh trách nhiệm BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng Tuy nhiên, NTD không phải chứng minh lỗi của chủ thể sản xuất, kinh doanh Yếu tố lỗi chỉ được loại trừ trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật
69
Khoản 1, 2 Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
70 Nguyễn Thi Thư (2011), “Về một số quyền của người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (11), tr 57
71
Phạm Thị Phương Anh (2010), “Trách nhiệm nghiêm ngặt và miễn, giảm trách nhiệm trong pháp luật và
trách nhiệm sản phẩm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (10), tr 27
Trang 291.2.4.2 Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp nhiều người cùng có lỗi
Trong Luật CLSPHH có quy định người thứ ba phải “chịu trách nhiệm liên
đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ”72
Tuy nhiên, Luật CLSPHH và Luật BVQLNTD chưa đề cập đến trường hợp hàng hóa không đảm bảo chất lượng xuất phát từ lỗi của nhiều chủ thể kinh doanh Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp chất lượng hàng hóa không đảm bảo là do sai sót từ nhiều giai đoạn, nhiều khâu khác nhau Giả sử do sai sót trong quá trình sản xuất mà chất lượng hàng hóa không đảm bảo Thêm vào đó, trong quá trình bảo quản người bán hàng lại không bảo quản đúng theo hướng dẫn nên làm cho chất lượng hàng hóa bị giảm sút nghiêm trọng Như vậy, cả người sản xuất và người bán hàng đều có lỗi trong việc làm cho hàng hóa không đảm bảo chất lượng Trong trường hợp này, quan hệ giữa người bán hàng và NTD (người mua) là quan hệ trong hợp đồng và do hợp đồng điều chỉnh Tuy nhiên, NTD hoàn toàn có thể yêu cầu người sản xuất chịu trách nhiệm theo cơ chế BTTH ngoài hợp đồng Như vậy, trong trường hợp này phạm vi trách nhiệm của người sản xuất được xác định như thế nào?
Về vấn đề trên, pháp luật Dân sự có quy định: “Trong trường hợp nhiều người
cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải BTTH theo phần bằng nhau”73 Như vậy, mức độ lỗi chính là căn cứ để xác định chủ thể bồi thường và mức bồi thường Thiệt hại được bồi thường theo nguyên tắc mức độ lỗi tới đâu thì phải chịu trách nhiệm tới đó Tuy nhiên, để xác định chính xác mức độ lỗi và ảnh hưởng của nó tới thiệt hại xảy ra là điều rất khó khăn Vì vậy, trong trường hợp không xác định được thì họ phải bồi thường theo phần bằng nhau Đây là một trong những quy định góp phần nâng cao trách nhiệm của những chủ thể
có nghĩa vụ và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của NTD
Luật CLSPHH quy định chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa không phải bồi thường khi thiệt hại xảy ra do lỗi của NTD Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp thiệt hại xảy ra không hoàn toàn do lỗi của NTD mà vẫn có phần lỗi của chủ thể sản xuất, kinh doanh Trường hợp này Luật cũng không có quy định cụ thể
Theo quy định của BLDS thì: “Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây
thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường”74 Như vậy, nếu như NTD có lỗi trong
72 Điểm c Khoản 1 Điều 13 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
73
Điều 616 Bộ luật Dân sự 2005
74 Điều 617 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 30việc làm cho hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì NTD cũng phải chịu trách nhiệm về phần lỗi của mình và người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường với phần lỗi tương ứng
Trong pháp luật về Chất lượng hàng hóa và pháp luật về BVQLNTD không quy định về trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi của nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh và cũng không quy định trường hợp thiệt hại có phần lỗi của NTD Việc áp dụng được thực hiện theo những quy định chung trong BLDS Điều này có thể tạo nên sự hiểu nhầm và áp dụng không đúng trên thực tế
Tóm lại, theo quy định của BLDS và Luật CLSPHH thì trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD phát sinh khi có đầy đủ bốn căn cứ là: có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả và có lỗi Theo Luật BVQLNTD, trách nhiệm BTTH khi hàng hóa có khuyết tật thì không cần xét tới yếu tố lỗi Tức là, chỉ cần đáp ứng ba căn cứ còn lại thì chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa phải BTTH cho NTD ngay
cả trường hợp họ không biết hoặc không có lỗi Cũng theo Luật này, NTD khi khiếu kiện yêu cầu BTTH thì không cần chứng minh lỗi của chủ thể sản xuất, kinh doanh Nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi được chuyển giao cho chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa
1.3 Chủ thể chịu trách nhiệm và những trường hợp không phải BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD
1.3.1 Chủ thể chịu trách nhiệm BTTH
Theo BLDS thì chủ thể có nghĩa vụ BTTH là “Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác
sản xuất, kinh doanh”75 Tuy nhiên, Luật này đã không định nghĩa những chủ thể
trên bao gồm những đối tượng nào Đến Luật CLSPHH thì quy định này được thể
hiện rõ ràng hơn Theo đó, quản lý chất lượng hàng hóa là trách nhiệm của “người
sản xuất, kinh doanh”76 Chủ thể này là “tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc
sản xuất (sau đây gọi là người sản xuất), nhập khẩu (sau đây gọi là người nhập khẩu), xuất khẩu (sau đây gọi là người xuất khẩu), bán hàng, cung cấp dịch vụ (sau đây gọi là người bán hàng)”77
Tuy nhiên, với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh trong quan hệ tiêu dùng trong nước thì chủ thể này chỉ bao gồm: người sản xuất, người nhập khẩu (các chủ thể không trực tiếp mua bán với NTD và giữa
họ với NTD không tồn tại hợp đồng), người bán hàng (nếu như thiệt hại xảy ra không liên quan đến thỏa thuận trong hợp đồng hoặc thiệt hại xảy ra với NTD cuối
cùng không có quan hệ hợp đồng với người bán hàng)
75 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2005
76
Khoản 2 Điều 5 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
77 Khoản 6 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
Trang 31Luật BVQLNTD cũng quy định về chủ thể phải BTTH trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật, đó là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa Chủ thể này bao
gồm: “tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa; tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa;
tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho NTD trong trường hợp không xác định được tổ chức, cá nhân có trách nhiệm BTTH”78
Nhƣ vậy, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà tồn tại chủ thể có nghĩa vụ
BTTH khác nhau Đó có thể là người sản xuất; người nhập khẩu; người gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và người bán hàng
1.3.2 Những trường hợp không phải BTTH
Trên thực tế tồn tại nhiều trường hợp có thiệt hại phát sinh do hàng hóa không đảm bảo chất lượng nhưng chủ thể kinh doanh không phải BTTH Theo đó, Trong Luật CLSPHH có quy định các trường hợp loại trừ trách nhiệm, cụ thể:
“Người sản xuất, người nhập khẩu không phải bồi thường trong các trường hợp sau đây: người bán hàng bán hàng hoá đã hết hạn sử dụng; NTD sử dụng hàng hóa đã hết hạn sử dụng; đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện; đã thông báo thu hồi hàng hoá có khuyết tật đến người bán hàng, NTD trước thời điểm hàng hoá gây thiệt hại; sản phẩm, hàng hoá có khuyết tật do tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trình độ khoa học, công nghệ của thế giới chưa đủ
để phát hiện khả năng gây mất an toàn của sản phẩm tính đến thời điểm hàng hoá gây thiệt hại; thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng; Thiệt hại phát sinh do lỗi của người mua, NTD”79
Với quy định này, khi rơi vào những trường hợp đã được liệt kê trên đây thì người sản xuất, người nhập khẩu không phải BTTH Đó là trường hợp người sản xuất, người nhập khẩu không có lỗi mà lỗi thuộc về NTD hoặc người bán hàng, bao gồm: người bán hàng bán hàng hoá đã hết hạn sử dụng, NTD sử dụng hàng hóa đã hết hạn sử dụng, thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng, thiệt hại phát sinh do lỗi của người mua, NTD Đó cũng có thể là trường hợp thiệt hại xảy ra do hoàn cảnh khách quan, mà cụ thể là trường hợp sản phẩm, hàng hoá có khuyết tật do tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trường hợp có lỗi nhưng yếu tố lỗi được loại trừ bởi nó nằm ngoài khả năng của người sản xuất thì trách nhiệm bồi thường cũng không đặt ra Đó là trường hợp trình độ khoa học, công nghệ của thế giới chưa đủ để phát hiện khả năng gây mất an toàn của sản
78
Khoản 2 Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
79 Khoản 1 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
Trang 32phẩm tính đến thời điểm hàng hoá gây thiệt hại Trường hợp đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện và trường hợp đã thông báo thu hồi hàng hoá có khuyết tật đến người bán hàng, NTD trước thời điểm hàng hoá gây thiệt hại cũng nằm trong giới hạn loại trừ trách nhiệm này
Cùng với đó, Luật CLSPHH cũng quy định:
“Người bán hàng không phải bồi thường cho người mua, NTD trong các trường hợp sau đây: NTD sử dụng hàng hoá đã hết hạn sử dụng; đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện; đã thông báo hàng hoá có khuyết tật đến người mua, NTD nhưng người mua, NTD vẫn mua, sử dụng hàng hoá đó; hàng hoá có khuyết tật do người sản xuất, người nhập khẩu tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền; trình độ khoa học, công nghệ của thế giới chưa đủ để phát hiện khả năng gây mất an toàn của hàng hóa tính đến thời điểm hàng hoá gây thiệt hại; thiệt hại phát sinh do lỗi của người mua, NTD”80
Cũng giống như người sản xuất, người nhập khẩu thì Luật này cũng quy định các trường hợp mà người bán hàng không phải bồi thường dù cho có thiệt hại xảy ra
do hàng hóa không đảm bảo chất lượng Đó là trường hợp người bán hàng không có lỗi, cụ thể là: NTD sử dụng hàng hoá đã hết hạn sử dụng; đã thông báo hàng hoá có khuyết tật đến người mua, NTD nhưng người mua, NTD vẫn mua, sử dụng hàng hoá đó; thiệt hại phát sinh do lỗi của người mua, NTD Trường hợp thiệt hại xảy ra
do hoàn cảnh khách quan, cụ thể là hàng hoá có khuyết tật do người sản xuất, người nhập khẩu tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nó còn bao gồm trường hợp người bán hàng có lỗi nhưng được loại trừ trách nhiệm Đó là trường hợp trình độ khoa học, công nghệ của thế giới chưa đủ để phát hiện khả năng gây mất an toàn của hàng hóa tính đến thời điểm hàng hoá gây thiệt hại Trường hợp đã hết thời hạn khiếu nại, khởi kiện cũng được quy định để loại trừ trách nhiệm BTTH cho người bán hàng
Luật BVQLNTD cũng quy định trường hợp miễn trách nhiệm khi hàng hóa có
khuyết tật Đó là trường hợp “khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với
trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho NTD”81 Như vậy, nếu rơi vào một trong các trường hợp trên đây thì các chủ thể có nghĩa vụ BTTH cũng không phải bồi thường
Nhƣ vậy, không phải trong mọi trường hợp thiệt hại xảy ra xuất phát từ vấn đề
chất lượng hàng hóa thì chủ thể sản xuất, kinh doanh đều phải bồi thường Nếu rơi vào những trường hợp các chủ thể này không có lỗi mà lỗi thuộc về người bán hàng, NTD; trường hợp xảy ra do tình huống khách quan; trường hợp được loại trừ
80
Khoản 1 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
81 Điều 24 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Trang 33yếu tố lỗi và trường hợp hết thời hiệu khiếu kiện thì không phát sinh trách nhiệm BTTH
1.4 Nguyên tắc BTTH
Một trong những nguyên tắc quan trọng của việc BTTH ngoài hợp đồng đó là
“Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”82 Theo hướng dẫn của Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP thì khi thực hiện bồi thường cần tôn trọng thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái với pháp luật, đạo đức xã hội
Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thiệt hại phải được bồi
thường toàn bộ Điều đó có nghĩa là “khi có yêu cầu giải quyết BTTH do tài sản,
sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của BLDS quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó”83
Bồi thường kịp thời được hiểu là phải bồi thường trong thời gian sớm nhất có thể để bù đắp, mau chóng khắc phục thiệt hại, khôi phục lại tình trạng ban đầu, giúp cho người bị thiệt hại có thể nhanh chóng ổn định đời sống
“Bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra là nguyên tắc công bằng, phù hợp để khắc phục tình trạng tài sản bị thiệt hại một cách tốt nhất Bồi thường kịp thời có ý nghĩa rất to lớn với nạn nhân trong việc cứu chữa, hạn chế thiệt hại, đặc biệt đối với những nạn nhân mà các chi phí cứu chữa vượt quá khả năng chi trả của họ”84
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD là một trách nhiệm dân sự Vì vậy, nó cũng tuân theo những nguyên tắc BTTH được pháp luật Dân sự quy định Đó là các nguyên tắc về hình thức bồi thường, trường hợp được giảm mức bồi thường, và nguyên tắc xác định mức bồi thường phù hợp
“Hình thức của bồi thường có thể bằng tiền, hiện vật, hoặc thực hiện một công
việc nào đó Phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”85 Đối với trường hợp BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì đa số là bồi thường bằng tiền Vì những thiệt hại mà
Trang 34NTD phải gánh chịu về tài sản, tính mạng, sức khỏe… được tính trên những chi phí
mà họ đã bỏ ra để nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu Vì vậy, bồi thường bằng tiền là biện pháp hợp lý và đảm bảo nhất Ngoài ra còn kết hợp với bồi thường bằng hiện vật, tức là bồi thường hàng hóa bị hư hỏng bằng một hàng hóa khác đảm bảo chất lượng Việc bồi thường được tiến hành một lần hay nhiều lần phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên
Một trong những nguyên tắc có lợi cho chủ thể vi phạm, đó chính là “người
gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại là quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”86 Chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa có tiềm lực kinh tế mạnh và việc bồi thường cho một vài đối tượng bị thiệt hại sẽ không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động kinh doanh bình thường của họ Tuy nhiên, nếu thiệt hại xảy ra trên diện rộng thì thiệt hại có thể là rất lớn Trong hoàn cảnh đó, các nhà sản xuất, kinh doanh sẽ khó có thể bồi thường được cho tất cả NTD bị thiệt hại và họ có thể căn cứ vào nguyên tắc này để xét giảm mức bồi thường, nếu như thiệt hại trên xảy ra do lỗi vô ý
“Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường cho phù hợp”87 Đây là một trong những nguyên tắc giúp bảo vệ tối đa quyền lợi của NTD Khi mà điều kiện kinh tế, xã hội không ngừng phát triển thì giá trị mà chúng ta phải bỏ ra để thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của cá nhân cũng tăng lên Thêm vào đó, những chi phí để khắc phục thiệt hại ở những thời điểm khác nhau cũng không giống nhau Vì vậy, tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh khác nhau mà mức bồi thường có thể được tăng hoặc giảm
Như vậy, khi phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không
đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD thì chủ thể kinh doanh phải bồi thường kịp thời và toàn bộ thiệt hại cho NTD
1.5 Các phương thức áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa
không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD
Các phương thức áp dụng trách nhiệm BTTH thực chất là các phương thức
giải quyết tranh chấp “Theo hiểu biết chung, giải quyết tranh chấp giữa NTD và tổ
chức, cá nhân kinh doanh là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lại sự cân bằng
86
Khoản 2 Điều 605 Bộ luật Dân sự 2005
87 Khoản 3 Điều 605 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 35về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được”88 Luật BVQLNTD quy định các phương thức để giải quyết tranh chấp giữa NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh hàng hóa bao gồm: “Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài, Tòa án”89
1.5.1 Thương lượng
Để khuyến khích NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa có thể tự giải quyết với nhau thì Luật BVQLNTD đã quy định thêm một cơ chế giải quyết tranh chấp mới Đó là giải quyết bằng con đường thương lượng, là một quy định mới so với pháp lệnh BVQLNTD Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và NTD mà không cần đến vai trò của người thứ ba Đặc điểm cơ bản của phương thức thương lượng là các bên trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng
Theo quy định của luật này thì “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với NTD trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu”90
Ưu điểm của phương pháp
này là đơn giản, không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý, ít tốn kém và giữ được các bí mật kinh doanh Pháp luật mở rộng tối đa quyền tự định đoạt của các bên, chỉ
đưa ra hạn chế: “Không được thương lượng, hòa giải trong trường hợp tranh chấp
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều NTD, lợi ích công cộng”91 Tuy nhiên, pháp luật hiện nay không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản thương lượng
1.5.2 Hòa giải
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên để tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hòa Hòa giải bao gồm hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng Hòa giải trong tố tụng được hiểu là một một bước, một giai đoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án hay Trọng tài Khi các đương sự đạt được sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì Tòa án hay Trọng tài sẽ lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận Quyết định này có hiệu lực và được thi hành như một bản án của Tòa án hay một phán quyết của Trọng tài
Khoản 2 Điều 31 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
91 Khoản 2 Điều 30 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
Trang 36Giải quyết tranh chấp giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh bằng hòa giải ngoài tố tụng được Luật BVQLNTD quy định tương đối chi tiết và cụ thể về
quyền lựa chọn phương thức “hòa giải”92, “nguyên tắc thực hiện hòa giải”93, “tổ
chức hòa giải”94, “biên bản hòa giải”95 Về việc thi hành kết quả hòa giải thành,
Luật này cũng quy định: “Trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thì bên
kia có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật”96 Như vậy, pháp luật cũng không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản hòa giải thành
1.5.3 Trọng tài
Tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD là một tranh chấp dân sự Vì chủ thể yêu cầu BTTH trong quan hệ này là NTD, là chủ thể sử dụng hàng hóa nhằm mục đích tiêu dùng chứ không phải nhằm mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, với tranh chấp nói trên thì Trọng tài cũng có thẩm quyền giải quyết Bởi lẽ, nó thỏa mãn điều
kiện “tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động
sự thỏa thuận của các bên Sự thỏa thuận này có thể được xác lập trước khi có tranh chấp hoặc khi đã có tranh chấp xảy ra
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Trọng tài viên Với tư cách giống như người thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Trong cơ chế này có sự kết hợp giữa hai yếu tố là trọng tài và tài phán Trình
tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại Trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Sau khi giải quyết xong thì Trọng tài sẽ ra phán quyết,
đó là “quyết định của Hội đồng Trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp
và chấm dứt Tố tụng Trọng tài”99 Như vậy, Phán quyết Trọng tài có giá trị thi hành bắt buộc với các bên tương tự như bản án của Tòa án
92 Điều 33 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
93 Điều 34 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
94 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
95
Điều 36 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
96 Điều 37 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
97 Khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010
98
Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010
99 Khoản 10 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010
Trang 37Giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài có ưu điểm là nhanh chóng,
bí mật, tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các bên nhưng thường thì chi phí sẽ cao hơn nhiều so với thủ tục khởi kiện tại Tòa án NTD đa phần có vị thế và tiềm lực kinh tế không cao nên việc lựa chọn Trọng tài không phải là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến nhất
1.5.4 Tòa án
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế
Để thực hiện quyền khởi kiện thì NTD phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Theo Luật BVQLNTD thì NTD chỉ phải chứng minh ba căn cứ là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra NTD không cần phải chứng minh
lỗi của chủ thể sản xuất, kinh doanh “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại”100
Về nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, Luật BVQLNTD quy định: “NTD khởi kiện
vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình không phải nộp tạm ứng
án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án”101 Đây là quy định tiến bộ và đã hỗ trợ NTD trong việc thực hiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của mình Bởi lẽ, một trong những nguyên nhân hạn chế quyền khởi kiện của NTD là phải nộp tiền tạm ứng án phí Đây là một quy định hạn chế quyền khởi kiện của NTD Bởi lẽ, NTD thông thường có tiềm lực tài chính không cao Vì vậy, không phải lúc nào họ cũng có đủ khả năng để đóng tiền tạm ứng án phí Nếu như điều kiện án phí không được đáp ứng thì quyền khởi kiện của NTD cũng không được thực hiện Quy định trên đã khắc phục được hạn chế trong pháp lệnh BVQLNTD trước đó
Để được giải quyết thì yêu cầu của NTD phải nằm trong thời hạn quy định
“Thời hiệu khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường do sản phẩm, hàng hoá không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường là 2 năm, kể từ thời điểm các bên được thông báo về thiệt hại với điều kiện thiệt hại xảy
ra trong thời hạn sử dụng của sản phẩm, hàng hoá có ghi hạn sử dụng và 5 năm kể
từ ngày giao hàng đối với sản phẩm, hàng hoá không ghi hạn sử dụng”102 Như vậy, thời hiệu yêu cầu BTTH chia thành hai trường hợp: đối với loại hàng hóa có ghi hạn sử dụng thì thời hiệu khởi kiện phụ thuộc vào thời điểm được thông báo về thiệt hại và bị giới hạn bởi thời hạn sử dụng của hàng hóa Cụ thể, thời hiệu này chỉ
100 Khoản 2 Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
101
Khoản 2 Điều 43 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
102 Khoản 3 Điều 56 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
Trang 38áp dụng cho những thiệt hại xảy ra trong thời hạn sử dụng của hàng hóa đó Đối với hàng hóa không ghi hạn sử dụng thì thời hiệu được đưa ra bằng một con số cố định
là năm năm kể từ ngày giao hàng
Tóm lại, để tạo hiệu quả trong hoạt động giải quyết khiếu kiện của NTD thì
Luật đã đưa ra bốn phương thức giải quyết khác nhau, đó là: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án Mỗi phương pháp có những ưu điểm, nhược điểm riêng
và tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh mà NTD lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp Thông thường khi gặp thiệt hại do hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì NTD sẽ khiếu nại tới chủ thể vi phạm và hai bên sẽ giải quyết với nhau thông qua thương lượng, thỏa thuận Nếu không giải quyết được thì NTD sẽ nhờ sự can thiệp của Trọng tài hoặc khởi kiện ra Tòa án
1.6 Ý nghĩa của việc quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất lƣợng gây thiệt hại cho NTD
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một chế tài dân sự Nó mang nội dung kinh tế Nếu như chế tài hình sự, chế tài hành chính tác động vào nhân thân của người có hành vi vi phạm thì chế tài BTTH này nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, đảm bảo những lợi ích nhất định cho chính người bị xâm phạm là NTD Nó có ý nghĩa vừa áp dụng biện pháp đảm bảo quyền dân sự vừa giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng và bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Bất cứ ai gây thiệt hại đều phải có nghĩa
vụ bồi thường Vì vậy, nó có tác dụng kiềm chế mỗi người trước khi hành động phải suy nghĩ về hành động của mình và về hậu quả có thể xảy ra của hành vi đó
Nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa giữa NTD và người bán hàng được hợp đồng điều chỉnh và do các bên thỏa thuận từ trước Vì vậy, khi tranh chấp xảy
ra thì NTD có thể căn cứ vào hợp đồng để yêu cầu bồi thường Tuy nhiên, có nhiều trường hợp hàng hóa không đảm bảo chất lượng nhưng không do lỗi của người bán hàng và nếu chúng ta vẫn buộc chủ thể này phải chịu trách nhiệm thì sẽ tạo nên sự bất bình đẳng Vì người bán hàng sẽ phải chịu trách nhiệm cho những thiệt hại mà
họ không có lỗi trong khi người có lỗi lại không phải chịu trách nhiệm, đó là sự vô
lý khó chấp nhận
Sự ra đời của Luật BVQLNTD “đã tạo cho NTD những khả năng và cơ hội
thuận lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh của pháp luật quan hệ mua bán (Theo Luật Dân sự) mà một chủ thể dân sự thông thường sẽ không có được”103 “Khả năng và
cơ hội thuận lợi” được tạo nên từ những ngoại lệ về quyền yêu cầu BTTH khi hàng
hóa có khuyết tật không phụ thuộc vào yếu tố lỗi; quy định miễn nghĩa vụ chứng
103
Nguyễn Như Phát (2010), “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (02), tr 29
Trang 39minh lỗi của chủ thể sản xuất, kinh doanh; quy định về giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, quy định miễn tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án… Nó đã
hỗ trợ NTD trong việc thực hiện quyền khiếu kiện của mình để yêu cầu BTTH Việc quy định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng không những có vai trò trong việc BVQLNTD, đa đạng cách thức để NTD có thể lựa chọn nhằm tự bảo vệ mình
mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm của những chủ thể sản xuất, kinh doanh Chính chế định này đã hạn chế sự tùy tiện của những người sản xuất, người nhập khẩu, người gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại đối với hàng hóa mà họ đưa vào thị trường và cũng nâng cao trách nhiệm của người bán hàng với chất lượng của những hàng hóa mà họ cung cấp cho NTD Từ đó, chất lượng hàng hóa cũng tăng lên và NTD sẽ có nhiều cơ hội được tiếp xúc, sử dụng những hàng hóa có chất lượng cao Thị trường hàng hóa trong nước sẽ lành mạnh hơn và lòng tin của NTD vào hàng hóa nội địa cũng sẽ được củng cố
Nhƣ vậy, việc quy định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa
không đảm bảo chất lượng ra đời với những quy định “đặc biệt và ngoại lệ so với
Luật Dân sự truyền thống”104 nhằm bảo vệ tốt hơn cho NTD – bên yếu thế trong quan hệ mua bán Mặt khác, nó cũng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của chủ thể kinh doanh đối với nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa cũng như góp phần vào công cuộc xây dựng niềm tin cho NTD, đặc biệt là niềm tin vào chất lượng của hàng hóa có xuất xứ nội địa
Tóm lại, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do hàng hóa không đảm bảo chất
lượng gây thiệt hại cho NTD là trách nhiệm của chủ thể sản xuất, kinh doanh bao gồm người sản xuất; người nhập khẩu; người gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc
sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và người bán hàng đối với cá nhân mua, sử dụng hàng hóa không nhằm mục đích kinh doanh, kiếm lời Theo BLDS và Luật CLSPHH, để phát sinh trách nhiệm BTTH trong trường hợp này thì phải thỏa mãn đầy đủ bốn cơ
sở là: có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, có lỗi Chủ thể sản xuất, kinh doanh có lỗi làm hàng hóa mà mình cung cấp không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Hàng hóa không đảm bảo chất lượng này là hàng hóa không đảm bảo mức độ các đặc tính đáp ứng tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Tuy nhiên, Luật BVQLNTD quy định về trách nhiệm
104 Nguyễn Thị Thư (2012), “Đặc điểm của quan hệ tiêu dùng và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10), tr 90
Trang 40BTTH khi hàng hóa có khuyết tật đã loại trừ yếu tố lỗi ra khỏi những căn cứ nói trên Trách nhiệm này phát sinh ngay cả khi các chủ thể sản xuất, kinh doanh không biết hoặc không có lỗi Để yêu cầu BTTH khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng, NTD phải chứng minh có hành vi vi phạm, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại đó NTD không cần chứng minh yếu tố lỗi mà nghĩa vụ chứng minh lỗi thuộc về chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa Nếu như thiệt hại xảy ra rơi vào các trường hợp được loại trừ trách nhiệm thì chủ thể này không phải BTTH Thiệt hại đối với NTD phải được bồi thường một cách kịp thời
và toàn bộ NTD có thể lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau như: thương lượng, hòa giải, Trọng tài, Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình Việc quy định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt hại cho NTD đã hỗ trợ và tạo thuận lợi cho NTD khắc phục những yếu thế để có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Cơ chế trên cũng góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các chủ thể sản xuất, kinh doanh
trong việc đảm bảo chất lượng hàng hóa