Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu về tác giả Nguy[r]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BẮC NINH
PHÒNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2019
Bài thi: Ngữ văn Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề (Đề thi có 02 trang)
I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
…Nhưng anh vẫn cần nói cùng em về hoa cỏ
Về những vòm me không ai có thể đốn mất của mình
Về những chiếc chuồng bồ câu màu hồng trên mái ngói
Về tím đỏ ráng chiều,
Về vạt nắng bình minh…
Dẫu hoa đã từ lâu không có mặt trên những bàn ăn đạm bạc
Dẫu bóng mát vòm me chưa che tròn lưng những đứa trẻ con lượm rác ven đường
Dẫu đã xuất hiện quá nhiều kẻ vác súng săn tìm bầy chim thành phố
Và có người lạnh nhạt nhìn nhau nhân danh áo cơm Thì những kẻ mơ mộng còn rất cần đấy chứ
Anh sợ vật giá leo thang nhưng cũng lo vầng trăng không mọc nữa đêm rằm
Hay sợ trăng đã mọc rồi mà đầu anh vẫn cúi Bởi trái tim mình đã thành đá tảng rêu phong Nên anh vẫn muốn nói cùng em về hoa cỏ
Ta xanh xao - nhưng hãy rất con người
Ta phẫn nộ - nhưng chớ thành trái độc
Ai vấp ngã ven đường, không một giọt lệ rơi Không một giọt lệ rơi vì mắt nhìn ráo hoảnh
Vì mắt đã lạnh tanh những dung tục đời thường Nên anh cứ muốn nói hoài về hoa cỏ
Để còn biết giật mình khi chạm một làn hương
(Đỗ Trung Quân)
Câu 1 Chỉ ra một biện pháp nghệ thuật đặc sắc được sử dụng trong đoạn thơ trên
Câu 2 Trong đoạn thơ, các hình ảnh: hoa cỏ, vòm me, chuồng bồ câu, tím đỏ ráng chiều, vạt nắng bình minh có ý nghĩa gì?
Câu 3 Anh/chị có suy nghĩ gì về những hiện tượng cuộc sống mà nhà thơ nhắc tới trong những câu thơ sau?
Dẫu hoa đã từ lâu không có mặt trên những bàn ăn đạm bạc
Dẫu bóng mát vòm me chưa che tròn lưng những đứa trẻ con lượm rác ven đường
Dẫu đã xuất hiện quá nhiều kẻ vác súng săn tìm bầy chim thành phố
Và có người lạnh nhạt nhìn nhau nhân danh áo cơm Câu 4 Anh/Chị hiểu như thế nào về quan điểm của nhà thơ:
Ta xanh xao - nhưng hãy rất con người
Ta phẫn nộ - nhưng chớ thành trái độc Anh/Chị có đồng tình với quan điểm đó không? Vì sao?
Trang 2II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung của phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) với chủ đề: Cuộc sống cần có những phút giây lãng mạn
Câu 2 (5,0 điểm)
Trong cuộc chiến với người lái đò, sông Đà hiện lên:
…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã nghe thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như
là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…
Nhưng khi đã qua những ghềnh thác, dòng sông lại mang vẻ đẹp:
Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô Mùa thu nước sông
Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về…
(Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ Văn 12, Tập 1, tr 187, 191) Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà qua hai đoạn văn trên Từ đó nhận xét những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của nhà văn Nguyễn Tuân
===== Hết =====
Trang 3HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2019
Môn: Ngữ văn (Hướng dẫn chấm có 03 trang)
1 Thí sinh chỉ ra được một trong ba biện pháp nghệ thuật đặc sắc được sử dụng
trong đoạn thơ:
- Điệp cấu trúc: “Về những vòm me , về những chiếc chuồng bồ câu , về tím
đỏ ráng chiều , về vạt nắng bình minh ”; “Dẫu dẫu”; “ta ta”
- Ẩn dụ:
+ Hoa cỏ: Những vẻ đẹp bình dị trong cuộc sống đời thường + Trái tim thành đá tảng rêu phong: con người không còn cảm xúc, sự rung động
+ Trái độc: sự cay độc, nghiệt ngã
- Đối: “Ta xanh xao - nhưng hãy rất con người/Ta phẫn nộ - nhưng chớ thành trái độc”
0.5
2 Các hình ảnh: “hoa cỏ, vòm me, bồ câu, tím đỏ ráng chiều, vạt nắng bình
minh” là những hình ảnh biểu trưng cho vẻ đẹp giản dị của thiên nhiên, cuộc sống đời thường
0.5
3 Thí sinh có thể trình bày quan điểm của bản thân trước những hiện tượng được
nhắc tới trong khổ thơ nhưng cần chỉ ra được:
- Những hiện tượng được nhắc tới thể hiện lối sống của con người trong xã hội hiện đại: con người mải chạy theo những giá trị vật chất mà bỏ quên đi đời sống tinh thần, con người trở nên lạnh lùng, vô cảm trước đồng loại và muôn loài
- Thể hiện thái độ của thí sinh trước lối sống đó (ví dụ: bất bình, đau đớn, muốn đổi thay, nỗi buồn )
1.0
4 - Hai câu thơ: “Ta xanh xao - nhưng hãy rất con người/Ta phẫn nộ - nhưng
chớ thành trái độc” có ý nghĩa thức tỉnh chúng ta, dù cuộc sống có mang lại cho chúng ta quá nhiều mệt mỏi thì hãy luôn sống với tình yêu thương chân thật nhất của mình, và dù cuộc sống còn tồn tại những tiêu cực, bất công cũng không nên đánh mất niềm tin Đừng nhìn cuộc đời bằng cái nhìn độc địa, cay nghiệt, phũ phàng vì cuộc sống vẫn luôn tiềm tàng những điều tốt đẹp, niềm vui bình dị, những vẻ đẹp đời thường
- Thí sinh thể hiện quan điểm riêng (có thể đồng ý/không đồng ý/đồng ý nhưng
bổ sung thêm những trường hợp ngoại lệ) nhưng cần có lập luận chặt chẽ, thuyết phục
1.0
1 Viết một đoạn văn ngắn với chủ đề: Cuộc sống cần có những phút giây
lãng mạn
2.0
a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành
0.25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Sự cần thiết của những phút giây lãng mạn trong cuộc sống
0.25
c Triển khai vấn để nghị luận Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ được suy nghĩ về sự cần thiết của những phút giây lãng mạn trong cuộc sống Có thể theo hướng sau:
- Những phút giây lãng mạn là khi con người mở rộng tâm hồn, gần gũi với thiên nhiên cây cỏ, rung động trước cái đẹp, yêu thi ca nhạc họa, biết ước mơ
1.0
Trang 4và nhạy cảm, tinh tế trước những vẻ đẹp bình dị, đời thường
- Lí giải vì sao cuộc sống lại cần có những phút giây lãng mạn:
+ Làm cho đời sống tâm hồn con người trở nên phong phú hơn
+ Làm cho con người thấy thêm tin yêu cuộc sống, sống lạc quan, sống có ích
hơn
+ Con người sẽ hướng tới cái đẹp, cái thiện tránh xa được cái xấu, cái ác
+ Phê phán những con người sống thờ ơ vô cảm, khép mình, bàng quan trước
đồng loại và cuộc đời
- Liên hệ với bản thân và rút ra bài học
d Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
0.25
e Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận
0.25
a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát
được vấn đề
0.25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Vẻ đẹp của hung bạo và trữ tình củaSông Đà qua hai đoạn văn và những đặc
sắc trong nghệ thuật miêu tả
0.5
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác
lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:
* Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Người lái đò Sông Đà và vấn
đề cần nghị luận: vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của Sông Đà qua hai đoạn văn
0.5
* Khái quát chung về tùy bút Người lái đò Sông Đà
- Giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ của tùy bút Người lái đò Sông Đà
- Khái quát ngắn gọn về giá trị nội dung bài tùy bút
0.25
* Cảm nhận về vẻ đẹp của Sông Đà qua hai đoạn văn:
- Khái quát chung về hình tượng sông Đà trong đoạn trích Người lái đò Sông
Đà Sông Đà dưới quyền năng sáng tạo của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân lấp
lánh hai nét tính cách, hung bạo và trữ tình Khi hung bạo nó là kẻ thù số một
của con người, khi trữ tình sông Đà là một dòng chảy tràn đầy sóng sánh chất
thơ
- Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà trong đoạn văn thứ nhất:
+ Nội dung: Đoạn văn miêu tả âm thanh thác nước, qua đó làm hiện lên vẻ đẹp
hùng vĩ, dữ dội của sông Đà Trong sự liên tưởng độc đáo của Nguyễn Tuân,
âm thanh tự nhiên (tiếng thác) được đổi thành tiếng gầm đau đớn, lồng lộn của
hàng ngàn con trâu mộng da cháy bùng bùng, tác giả đã đem thủy (thác nước)
so sánh với hỏa (rừng lửa); dùng lửa để tả nước, dùng lửa để tả sông, đem
những yếu tố tương khắc trở thành hòa hợp, tương sinh một cách độc đáo, gợi
cảm, nhấn mạnh sức mạnh vẻ đẹp hoang dã, dữ dội của sông Đà
+ Nghệ thuật: câu văn ngắn, nhịp nhanh; nghệ thuật nhân hóa cùng các từ réo
gần, réo to, gằn, chế nhạo, khiêu khích, van xin, oán trách khiến nước thác
vừa như một sinh thể có linh hồn sống động, tâm trạng phong phú, tính cách dữ
dội vừa như một bản hùng ca tráng liệt của đại ngàn
- Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà trong đoạn văn thứ hai:
+ Nội dung: Đoạn văn miêu tả dáng sông và màu nước sông Đà, qua đó tô đậm
vẻ đẹp thơ mộng của con sông Tây Bắc, nhà văn quan sát sông Đà nhiều góc
độ không gian và thời gian, đặc biệt là từ điểm nhìn trên cao Ở điểm nhìn ấy,
tác giả đã hình dung con sông Đà như một người thiếu nữ kiều diễm với áng
tóc trữ tình, duyên dáng, đằm thắm (con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một
1.5
Trang 5áng tóc trữ tình…đốt nương xuân), nước sông Đà thay đổi theo mùa, mùa xuân
dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chin đỏ như da mặt một
người bầm đi vì rượu bữa.Vẻ đẹp của mây trời đã tạo cho sông Đà một vẻ đẹp
riêng không trộn lẫn, những sắc màu gợi cảm, trong lành, đó là màu sắc của
nước, của núi, phù sa, da trời -> nhấn mạnh vẻ đẹp trữ tình, gợi cảm của dòng
sông
+ Nghệ thuật: câu văn dài, nhịp văn chậm rãi, thong thả; ngôn ngữ và hình ảnh
gợi cảm tuôn dài tuôn dài, áng tóc trữ tình, xanh ngọc bích, lừ lừ chín đỏ; nghệ
thuật nhân hóa làm nổi bật vẻ đẹp mểm mại trữ tình, thơ mộng và gợi cảm
của dòng sông
* Điểm giống nhau và khác nhau của hai đoạn văn
- Điểm giống:
+ Nội dung: hai đoạn văn đều nói đến vẻ đẹp của sông Đà, đặc biệt là nước
sông Đà, qua đó làm hiện lên cái tôi độc đáo của Nguyễn Tuân: phóng túng, tài
hoa, uyên bác, trí tưởng tượng mãnh liệt; tiếp cận đối tượng ở phương diện văn
hóa thẩm mỹ, không ưa những gì bằng phẳng, nhợt nhạt
+ Nghệ thuật: ngôn ngữ giàu có, phong phú, khả năng tổ chức câu văn xuôi
giàu giá trị tạo hình, nghệ thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo
- Điểm khác:
+ Nội dung: cả hai đoạn văn cùng tả nước sông Đà nhưng đoạn văn thứ nhất tả
âm thanh đoạn văn thứ hai tả màu nước Vì thế đoạn văn thứ nhất giống như
một bản nhạc, đoạn văn thứ hai giống như một bức họa; đoạn văn thứ nhất tô
đậm vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội; đoạn văn thứ hai tô đậm vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình
+ Nghệ thuật: câu văn (đoạn văn thứ nhất sử dụng câu văn ngắn, nhịp nhanh;
đoạn văn thứ hai câu văn dài, nhịp chậm); ngôn ngữ (đoạn văn thứ nhất ngôn
ngữ thiên về góc cạnh, nhiều động từ; đoạn văn thứ hai thiên về gợi hơn tả,
nhiều tính từ); về giọng điệu (đoạn văn thứ nhất giọng điệu mạnh mẽ, đoạn văn
thứ hai giọng điệu tha thiết, nhẹ nhàng)
1.0
* Nhận xét về những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Tuân
- Nguyễn Tuân có một vốn tri thức phong phú, nhiều mặt về lịch sử, địa lý,
quân sự, điện ảnh…Qua việc miêu tả sông Đà trong tác phẩm nói chung và
trong hai đoạn văn nói riêng, ông đã cung cấp hiểu biết nhiều mặt về dòng sông
này, mang lại những kiến thức lý thú, bổ ích, những góc nhìn đa dạng, nhiều
chiều, những ấn tượng, cảm giác phong phú
- Hai đoạn văn đã góp phần tái hiện vẻ đẹp của hình tượng sông Đà: dòng sông
vừa hung bạo, dữ dội vừa thơ mộng, trữ tình đồng thời bộc lộ tình cảm tha thiết
gắn bó của tác giả với con sông miền Tây Bắc của tổ quốc
- Hai đoạn văn tiêu biểu cho sự độc đáo, tài hoa trong phong cách nghệ thuật
của Nguyễn Tuân.Ông thực sự xứng đáng là người nghệ sĩ của ngôn từ ,thầy
phù thủy trong nghệ thuật hô chữ gọi câu
0.5
d Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
0.25
e Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận
0.25