1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong luật tố tụng hình sự việt nam

78 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong tố tụng hình sự việt nam
Tác giả Tạ Nhi Còn
Người hướng dẫn Thầy Đinh Văn Đoàn
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 811,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật TTHS năm 2003 khẳng định mọi công dân đều có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản; Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

&

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ từ thầy Đinh Văn Đoàn, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô khoa Luật Hình sự và tất cả các thầy cô trong trường đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài này Gửi lời cảm ơn đến các bạn bè đã góp ý, giúp đỡ chân tình và các tác giả đã có những đề tài nghiên cứu để tác giả tham khảo trong khóa luận Gửi lời cám ơn đến gia đình đã luôn bên cạnh động viên và khích lệ tác giả trong thời gian thực hiện khóa luận Dù đã cố gắng tốt nhất để hoàn thành đề tài, song vì nhiều lý do khác nhau cùng với sự hiểu biết hạn hẹp, cách tiếp cận và khả năng nghiên cứu hạn chế của một sinh viên nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được những

ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các anh chị và các bạn để đề tài thêm hoàn chỉnh Trân trọng!

TP.HCM, ngày 15 tháng 07 năm 2016 Tác giả khóa luận

TẠ NHI CÒN

Trang 3

&

Tác giả khóa luận xin cam đoan rằng khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Bảo vệ

người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

trong TTHS Việt Nam” này là do tự thân thực hiện và không sao chép các công trình

nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin thứ cấp

sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tôi đảm bảo về

tính xác thực và nguyên bản của khóa luận Nếu phát hiện có bất kì gian lận nào, tôi

xin cam đoan chịu trách nhiệm hoàn toàn với kết quả của mình

TP.HCM, ngày 15 tháng 07 năm 2016

Tác giả khóa luận

Trang 4

&

Trang 5

&

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC TỘI PHẠM, NGƯỜI LÀM CHỨNG, BỊ HẠI VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC TRONG TTHS VIỆT NAM 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 7

1.1.1 Khái niệm về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại, người tham gia tố tụng khác 7

1.1.2 Đặc điểm của việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 14

1.1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 16

1.1.4 Cơ sở của việc quy định chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong TTHS Việt Nam 17

1.1.4.1 Cơ sở lý luận 17

1.1.4.2 Cơ sở pháp lý 18

1.1.4.3 Cơ sở thực tiễn 22

1.2 Quy định của Bộ luật TTHS về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 24

1.2.1 Quy định của BLTTHS năm 2003 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 24

1.2.2 Quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 26

1.2.2.1 Người được bảo vệ 26

1.2.2.2 Cơ quan và người có thẩm quyền bảo vệ 28

1.2.2.3 Các biện pháp bảo vệ 29

Trang 6

1.2.2.5 Áp dụng, thay đổi, bổ sung chấm dứt biện pháp bảo vệ 34 1.2.2.6 Hồ sơ bảo vệ 36

Kết chương I 36 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS VỀ BẢO

VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC TỘI PHẠM, NGƯỜI LÀM CHỨNG, BỊ HẠI VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 38 2.1 Thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 38

2.1.1 Những kết quả đạt được trong việc bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị

hại và người tham gia tố tụng khác trong hoạt động TTHS 38

2.1.2 Những hạn chế trong việc áp dụng các quy định của BLTTHS về bảo vệ người

tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 42

2.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc bảo vệ người tố giác, người làm

chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong TTHSVN 47

2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác 53 Kết chương II 66 Kết luận 67

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động tố tụng hình sự được hiểu là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Với mục đích nhằm bảo đảm an ninh và trật tự an toàn

xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và những cá nhân tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự nói riêng Việc bảo vệ quyền của những cá nhân khi tham gia tố tụng hình sự cũng chính là bảo vệ quyền con người – được thừa nhận rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại Do đó, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền của người tham gia tố tụng Quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền – một nhà nước

mà ở đó quyền con người được tôn trọng và bảo vệ

Lĩnh vực tố tụng hình sự - một lĩnh vực mà ở đó quyền con người rất cần được bảo vệ nhưng cũng rất dễ bị xâm phạm Trong quá trình tố tụng hình sự quyền của người tham gia tố tụng nói chung và quyền của người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ có thể bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm vì trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, những thông tin, chứng cứ, tài liệu do người

tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác cung cấp có ý nghĩa

to lớn, góp phần giúp các cơ quan chức năng phát hiện tội phạm và giải quyết đúng đắn vụ án hình sự nên họ là những đối tượng mà tội phạm hoặc thân nhân của tội phạm muốn xâm hại để làm cản trở quá trình đi tìm sự thật vụ án Bộ luật TTHS năm 2003 khẳng định mọi công dân đều có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản; Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật Đây là quy định mang tính nguyên tắc, việc triển khai và thực hiện nguyên tắc này thiếu những quy định cụ thể, Bộ luật TTHS năm 2003 chưa quy định về các biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng tiến hành bảo vệ… Vì vậy, những quy định của pháp luật TTHS năm 2003 về bảo vệ người tố

Trang 8

giác, người làm chứng, bị hại chưa thực sự đi vào đời sống Thực tiễn trên cho thấy việc áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập

Bộ luật TTHS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua ngày 27 11 2015 với những ghi nhận mới mang tính hoàn thiện, khắc phục những hạn chế vướng mắc trong quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác Trong bối cảnh Bộ luật TTHS năm 2015 mới được ban hành chưa có hiệu lực áp dụng trên thực tiễn Tuy nhiên việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích đánh giá các quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong quy định của Bộ luật TTHS năm 2015, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật TTHS về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một nhu cầu mang tính cấp thiết

Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong TTHS Việt Nam” để làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác là một trong những nội dung quan trọng, được quy định thành một chương riêng biệt (chương XXXIV) trong Bộ luật TTHS năm 2015 Liên quan đến chế định này đã nhận được sự quan tâm của công luận và được nhiều học giả tiếp cận nghiên cứu ở các góc độ khác nhau với những định hướng khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu liên quan đến việc bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại như:

Nguyễn Văn Cừ (2006), “Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng,

người bị hại”, Nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu Lập pháp (số 70)

Trang 9

Trần Đình Nhã (2010), “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ người tố giác,

người làm chứng, bị hại trong vụ án hình sự”, Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng

Quốc Hội (số 12)

Phạm Mạnh Hùng (2012), “Vấn đề bảo vệ nhân chứng, người tố giác và

những người tham gia tố tung khác trong các vụ án tham nhũng”, Kiểm sát, Viện

kiểm soát nhân dân tối cao (số 7)

Nguyễn Hải Ninh (2011), “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

nhằm bảo vệ người làm chứng khi tham gia tố tụng”, Luật học, Đại học Luật Hà

Nội (số 12)

Ngô Thị Mỹ Linh (2011), “Bảo đảm quyền của người làm chứng trong tố tụng

hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí

Minh

Nguyễn Quang Hiền (2011), “Bảo vệ quyền con người của bị hại trong tố tụng

hình sự”, Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao (số 13)

Nguyễn Thị Thường (2009), “Bảo vệ người tham gia tố tụng trong hoạt động

xét xử án hình sự”, Luận văn cử nhân, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Võ Thị Kim Oanh, Đinh Văn Đoàn (2015), “Hoàn thiện quy định của bộ luật

tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại”, Khoa học Pháp lý, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (số 08)

Nhìn chung, các công trình này đã đưa ra một số vấn đề lý luận cũng như các giải pháp pháp lý, các giải pháp thực tế và ở mức độ nhất định, giá trị khoa học mà các đề tài mang lại là không thể phủ nhận Tuy nhiên, một số đề tài đã thực hiện trong thời gian đã lâu và chưa đặt trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật TTHS năm 2003 Một số tác giả cũng chỉ nghiên cứu, nhìn nhận một cách riêng biệt mà chưa đặt trong tổng thể chung, chuyên sâu, toàn diện về trường hợp bảo vệ người tố giác tội

phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác Riêng đề tài “Hoàn

thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại” của tác giả Võ Thị Kim Oanh và Đinh Văn

Đoàn đã đặt trong giai đoạn sửa đổi BLTTHS với những kiến nghị hoàn thiện

Trang 10

BLTTHS năm 2003 và những kiến nghị mới trong Dự thảo BLTTHS sửa đổi Chính

vì những kiến nghị của những bài nghiên cứu trên, BLTTHS năm 2015 đã được ban hành và chế định bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia

tố tụng khác được quy định riêng biệt, tuy nhiên với những sửa đổi, bổ sung lần này liên quan đến vấn đề trên còn tồn tại một số hạn chế nhất định

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, lần đầu tiên nội dung, mục tiêu và định hướng này sẽ được tác giả tiếp cận nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ qua đề tài:

“Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong TTHS Việt Nam”

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác cũng như phân tích các quy định của BLTTHS về vấn đề trên Đồng thời đánh giá những bất cập trong thực tiễn

áp dụng các quy định của BLTTHS về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác để từ đó tác giả sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện BLTTHS năm 2015 liên quan đến chế định “Bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác” cũng như nâng cao hiệu quả việc bảo vệ những chủ thể này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Phân tích các vấn đề lý luận về người tố giác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác

Phân tích các quy định của pháp luật về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của BLTTHS về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự về chế định “Bảo

vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác”

Trang 11

Về văn bản pháp luật: Khóa luận tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định của BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2005 về chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, ngoài cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ở mỗi chương tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Chương I, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để lý giải, phân tích những vấn đề lý luận và chế định các quy định của pháp luật Đồng thời, tác giả

sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp phân tích các số liệu, thông tin

có được Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp so sánh giữa các quy định pháp luật có liên quan

Chương II, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh Từ việc tổng hợp những quy định của pháp luật hiện hành, tác giả phân tích để đối chiếu, so sánh với chế định cũ, tìm ra tính bất cập cũng như khả thi trên thực tế của chế định Sau đó tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê để thống kê số liệu từ nguồn tài liệu do một số học giả hoặc cơ quan chuyên môn thực hiện, từ đó

áp dụng phương pháp phân tích để lý giải những số liệu đó Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài này cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản nhất định và các khía cạnh pháp lý cũng như thực tiễn liên quan đến vấn đề bảo vệ người tố giác tội phạm,

Trang 12

người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác Trên cơ sở đó, đưa ra những ý kiến đóng góp với mong muốn hoàn thiện những vướng mắc trong những quy định của Bộ luật TTHS về vấn đề này

Trên tinh thần nghiên cứu một cách nghiêm túc về đề tài này, đề tài có thể dùng làm tài liệu học tập, nghiên cứu cũng như tài liệu tham khảo cho tất cả những đọc giả quan tâm đến vấn đề bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Trang 13

CHƯƠNG I:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC TỘI PHẠM, NGƯỜI LÀM CHỨNG, BỊ HẠI VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC TRONG TTHS VIỆT NAM

1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

1.1.1 Khái niệm về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại, người tham gia tố tụng khác

Người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại theo quy định của BLTTHS,

họ là những người tham gia tố tụng Những người này trước hết là công dân, do đó

họ có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự chính là bảo vệ các quyền con người đã được thừa nhận một cách rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại

Vì vậy, việc nhận thức rõ khái niệm về những chủ thể tham gia tố tụng này sẽ tạo tiền đề cho tác giả làm sáng tỏ khái niệm về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

- Khái niệm về người tố giác tội phạm:

Khái niệm về người tố giác tội phạm chưa được quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng hình sự Vậy hiểu như thế nào là người tố giác tội phạm?

Theo Từ điển Luật học, “tố giác tội phạm” là báo cho cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền biết về hành vi phạm tội của người nào đó [30-tr.578] Khái niệm này

mang tính khái quát cao, với cách giải thích này chúng ta có thể hiểu cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có thể tố giác khi biết về hành vi phạm tội

Tại khoản 1 Điều 144 Bộ luật TTHS năm 2015, tố giác tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền

So sánh với khái niệm trên, quy định của Bộ luật TTHS 2015 xác định rõ chủ thể tố

Trang 14

giác là cá nhân Trong khái niệm trên có dùng từ “tố cáo”, vậy chúng ta hiểu như thế nào về tố cáo? Có điểm gì giống và khác với tố giác?

Nếu chúng ta xét từ “tố cáo” ở vị trí độc lập thì theo từ điển Tiếng Việt: “Tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó… vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi

người biết nhằm lên án, ngăn chặn” [32-tr.1008] Căn cứ Luật tố cáo năm 2011,

quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ

cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của

nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [5]

Chúng ta thấy rằng tố cáo và tố giác về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm Còn tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi có dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự Do đó, có thể nói, khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: Tố cáo là quyền của cá nhân, còn tố giác về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cá nhân Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quyền và nghĩa vụ tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay khi công dân biết về tội phạm Công dân

có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết về một tội phạm đang chuẩn bị hoặc đã được thực hiện Công dân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: "Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu biết mà

không giác tội phạm [3]

Nếu xét trong quan hệ tố tụng hình sự, thì tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được gọi là tố giác tội phạm Và theo quy định của Luật Tố cáo

[5]: “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến

hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự”

Trang 15

Như vậy, tùy theo lĩnh vực pháp luật nội hàm giữa tố cáo và tố giác có thể giống hoặc khác nhau

Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể suy ra người tố giác tội phạm là

cá nhân biết về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm đang được chuẩn

bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện và tố cáo với cơ quan có thẩm quyền về những gì mình biết

- Khái niệm về người làm chứng:

Theo từ điển Luật học, “Người làm chứng” là “người nào biết được những

tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng” [31-tr.343]

Khái niệm này chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệm NLC với điều kiện để trở thành một người làm chứng

Theo Giáo trình Luật TTHS trường Đại học Luật Hà Nội thì NLC được định nghĩa như sau: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo về những sự việc

cần xác minh trong vụ án” [20-tr.145] Đây có thể coi là một định nghĩa khá hoàn

chỉnh về NLC vì đã nêu lên những vấn đề cơ bản về điều kiện để một người trở thành NLC cũng như là nhiệm vụ khai báo của họ khi được triệu tập để tham gia tố tụng Tuy nhiên, việc chỉ nêu cơ quan có thẩm quyền triệu tập NLC chỉ là CQTHTT

là chưa đầy đủ, vì ngoài ra còn có cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng

Theo Giáo trình Luật TTHS trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì NLC được định nghĩa: “Người làm chứng là người biết được tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập tham gia tố

tụng” [22-tr.189] Với quan điểm này thì người làm chứng là người biết về các

thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án, được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng triệu tập họ tham gia vào các hoạt động tố tụng, có thể là tham gia vào các hoạt động điều tra hay tham gia vào quá trình xét xử của Tòa án

Bộ luật TTHS năm 2003 cũng không đưa ra khái niệm rõ ràng về NLC Theo quy định tại khoản 1 Điều 55, “Người làm chứng” là “Người nào biết được những

Trang 16

tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng” [1] Quy định

này mang tính chất khái quát: biết được tình tiết liên quan đến vụ án và được triệu tập đến làm chứng

Bộ luật TTHS năm 2015 quy định về NLC tại khoản 1 Điều 66: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ

án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng” [2]

Đây là một quy định có sự thay đổi cơ bản về người làm chứng, đồng thời chúng ta thấy có điểm giống so với một số quan điểm trên là để một người được thừa nhận là người làm chứng trong vụ án hình sự thì có các điều kiện sau:

Thứ nhất, họ là người biết được các tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án (có thể biết trực tiếp hoặc biết gián tiếp) và họ biết được các tình tiết này là một thực tế khách quan, vì vậy họ có thể được triệu tập đến để khai báo Như vậy, người làm chứng có tư cách tố tụng và tham gia từ khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm

Thứ hai, được cơ quan có thẩm quyền triệu tập đến để lấy lời khai theo trình

tự, thủ tục, thẩm quyền của pháp luật tố tụng

Thứ ba, người làm chứng là người có thể khai báo chính xác, khách quan, trung thực tất cả những thông tin mà họ biết về vụ án

Tóm lại, người làm chứng giữ một vai trò quan trọng trong những vụ án hình

sự Việc nhận thức đúng về người làm chứng sẽ có ý nghĩa to lớn trong xác định sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Từ những phân tích nêu trên, theo tác giả, chúng

ta có thể hiểu khái niệm người làm chứng như sau: “Người làm chứng là người biết

được các tình tiết, thông tin liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án hình sự

và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập để lấy lời khai của họ về những sự việc, thông tin, tình tiết cần xác minh, làm rõ trong vụ án hình sự”

- Khái niệm về bị hại

Theo cách hiểu thông thường, người bị hại có thể hiểu là con người cụ thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động

Trang 17

nào khác gây thiệt hại, mất mát, tổn thương cho chính họ Thiệt hại này có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người bị hại là “Người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Người bị hại có thể

là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản

trình của trường Đại học Luật Hà Nội [21-tr.118] khẳng định: “con người cụ thể bị

hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại Thể chất, tinh thần, tài sản của họ là đối tượng của tội phạm” hoặc một số sách chuyên khảo, bình luận Bộ luật TTHS cũng khẳng định: “Người bị hại trong TTHS chỉ có thể là một con người cụ thể, bị hành vi phạm

tội gây thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản” [15-tr.87] Cách hiểu thứ hai –

đây cũng chính là quan điểm của các tác giả, cho rằng người bị hại trong TTHS không chỉ bao gồm cá nhân (thể nhân) mà còn bao gồm tổ chức (pháp nhân) Tiêu biểu cho quan điểm này là PGS.TS Trần Hữu Tráng cho rằng: “nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích khác mà những hậu quả

thiệt hại này là do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra” [28] Các quan điểm khác của

Lê Tiến Châu [36], Lê Nguyên Thanh [40] đều phân tích và khẳng định người bị hại

bao gồm cả cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về uy tín, danh dự, tài sản hoặc các quyền

và lợi ích khác do tội phạm gây ra

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai, vì nếu không công nhận pháp nhân

là người bị hại, đã vi phạm đến nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án Việc phân biệt không công nhận người bị hại là pháp nhân đã khiến cho pháp nhân

Trang 18

không được sử dụng quyền của người bị hại mà phải có đơn mới được tham gia với

tư cách là nguyên đơn dân sự, gây bất bình đẳng giữa người tham gia tố tụng là cá nhân và pháp nhân

Do đó, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 62: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” Sự sửa đổi này đã thay thuật ngữ “người bị hại” thành “bị hại”, theo đó xác định ngoài cá nhân thì cơ quan, tổ chức cũng là đối tượng bị tội phạm xâm hại Đây là một điểm mới cơ bản trong cuộc cải cách lần này, vì trong thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho cá nhân mà còn gây ra cho tổ chức Thiệt hại này có thể là về tài sản, thương hiệu, uy tín trong kinh doanh

Người tham gia tố tụng khác cũng có thể là đối tượng được bảo vệ khi tham gia tố tụng Tuy nhiên, xét về nội dung nghiên cứu, đề tài căn cứ vào quy định tại chương XXXIV Bộ luật TTHS năm 2015, chủ thể được bảo vệ gồm: người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại (điểm d khoản 1 Điều 484) Lần đâu tiên chủ thể này được quy định chính thức là chủ thể được bảo vệ trong Bộ luật TTHS Việt Nam Vậy hiểu như thế nào là “người thân thích”?

- Khái niệm người thân thích của người tham gia tố tụng:

Bộ luật TTHS năm 2015 đã thể hiện sự tiến bộ so với những quy định về người thân thích trong các văn bản trước đó Nếu như Bộ luật TTHS năm 2003 sử dụng thuật ngữ người thân thích nhưng không đưa ra một khái niệm cụ thể thì Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định rõ ràng: “Người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là người có quan hệ với người tham gia

tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột” (điểm e khoản 1 Điều 4) Như vậy, ta có thể hiểu người thân thích của người tố giác tôi phạm, người làm chứng, bị hại là

Trang 19

người có quan hệ với họ gồm vợ, chồng, bố (mẹ) đẻ, bố (mẹ) chồng, bố (mẹ) vợ, bố (mẹ) nuôi, con đẻ, con nuôi; ông (bà) nội, ông (bà) ngoại, anh (chị, em) ruột; cụ nội,

cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cô (cậu) ruột, dì ruột, cháu ruột của họ Với quy định mới này phần nào giúp chúng ta hiểu và xác định chính xác đối tượng được bảo vệ, đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho họ khi tham gia tố tụng

Trong quá trình đi tìm sự thật vụ án, những thông tin, tài liệu do người tố giác, người làm chứng, bị hại cung cấp có vai trò hết sức quan trọng Vậy nên, để thu thập đầy đủ, chính xác các nguồn thông tin từ họ, Nhà nước phải bảo vệ họ tránh khỏi sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại từ người phạm tội hoặc nhân thân người phạm tội

Theo quy định của Hiến pháp 2013 và pháp luật TTHS, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm Chính vì vậy, người tố giác, người làm chứng, bị hại có trách nhiệm tham gia vào quá trình tố tụng, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền vì mục đích đi tìm sự thật khách quan vụ án hình

sự Và ngược lại, người phạm tội luôn luôn với suy nghĩ và mong muốn thoát khỏi

sự răng đe, trừng phạt, giáo dục của pháp luật hình nên trên thực tế người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ bị tội phạm hoặc thân nhân của người phạm tội mua chuộc bằng lợi ích vật chất; đe dọa, khống chế bằng việc lợi dụng những điểm yếu về thể chất, bí mật đời tư hay trả thù, gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản cho người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của

họ dẫn đến trong nhiều vụ án hình sự, người tố giác, người làm chứng, bị hại tỏ ra e ngại, bất hợp tác hoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan có thẩm quyền trong các khâu phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và đó là một trong những nguyên nhân làm một số vụ án không được giải quyết triệt để

Như vậy, bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và những

người tham gia tố tụng khác là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người

tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác khi có căn cứ xác

Trang 20

định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của họ bị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm nhằm mục đích khyến khích và nâng cao vai trò của họ nói riêng và người dân nói chung trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm

1.1.2 Đặc điểm của việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Như vậy, từ khái niệm trên chúng ta có thể nhận thấy, việc bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác bao gồm các đặc điểm sau:

Một là, chủ thể được bảo vệ Trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, một bên

là đại diện của cơ quan mang quyền lực nhà nước và một bên là người tham gia tố tụng với tư cách là cá nhân, tổ chức Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ khác nhau Tuy nhiên, xét vai trò, vị trí mỗi bên, phía người tham gia tố tụng là đối tượng rất dễ

bị tội phạm xâm hại, mà cụ thể là người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của của họ Bởi khi tham gia vào quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác cố gắng thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng việc thực hiện nghĩa vụ này của họ lại phải chịu sự đe dọa xâm hại từ phía người phạm tội Chính vì thế pháp luật tố tụng hình sự quy định những chủ thể trên là đối tượng cần được bảo vệ

Hai là, chủ thể có trách nhiệm bảo vệ Một cơ chế bảo vệ người tố giác, người

làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác được đưa ra thì cũng phải có chủ thể thực thi cơ chế này Đó là những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và những cơ quan nhà nước liên quan) Thực hiện công tác bảo vệ này là cả một quá trình đòi hỏi sự chính xác, nhanh chóng, kịp thời, do

đó yêu cầu cả những cơ quan ở cấp cơ sở cùng nhau phối hợp triển khai công tác này để kiểm tra, giám sát, bảo vệ những đối tượng trên, nhằm bảo vệ tốt nhất những quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi họ tham gia vào quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm và cũng đồng thời bảo đảm quá trình giải quyết vụ án nhanh chóng, hiệu quả

Trang 21

Ba là, các biện pháp bảo vệ Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực thi công tác

bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác áp dụng những biện pháp bảo vệ cụ thể Tùy từng trường hợp, tình huống thực tế, việc xem xét, phân tích, đánh giá những yếu tố có thể ảnh hưởng đến người được bảo vệ

mà áp dụng biện pháp bảo vệ hợp lý, linh hoạt để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ tốt nhất Các biện pháp bảo vệ này được quy định cụ thể trong BLTTHS năm 2015

Bốn là, quyền và lợi ích được bảo vệ Trong pháp luật tố tụng hình sự, người

tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác có khả năng bị tội phạm xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại Và khách thể mà tội phạm muốn tác động đến sẽ liên quan tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của một cá nhân được bảo vệ; hay sẽ liên quan đến tài sản, uy tín, thương hiệu, chất lượng trong kinh doanh của một tổ chức có liên quan nào đó Bảo vệ người tố giác, người làm chứng,

bị hại và người tham gia tố tụng khác chính là bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho họ và đó cũng chính là bảo vệ các quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự

Năm là, mục đích bảo vệ Bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và

người tham gia tố tụng khác là thực thi một số các nguyên nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của pháp luật TTHS trong nhà nước pháp quyền (như: pháp chế, quyền con người, quyền bất khả xâm phạm thân thể…) nhằm mục đích làm cho các quy định của pháp luật TTHS quốc gia phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế Từ đó làm cho quy định của pháp luật TTHS được tuân thủ, chấp hành và

áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như những người có chức vụ của các cơ quan này trong thực tiễn Bên cạnh đó, bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia

tố tụng khác phải nhằm mục đích góp phần tạo nên lòng tin của công dân và sự nghiêm minh của pháp chế, sức mạnh và uy tín của hệ thống tư pháp hình sự, cũng như tính nhân đạo và dân chủ của nhà nước pháp quyền Và một điều quan trọng là nội dung của việc bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia

Trang 22

tố tụng khác không thể đơn giản là chỉ ghi nhận một cách chung chung, trừu tượng

để không thực thi được, mà nhất thiết cần phải được thể hiện một cách cụ thể và rõ ràng thông qua các quy phạm pháp luật tương ứng

1.1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Thực tiễn cho thấy chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng,

bị hại và người thân thích của họ rất quan trọng, cần thiết phải được quy định một cách rõ ràng, cụ thể Mục đích hướng đến của Đảng và Nhà nước là đẩy lùi tội phạm, nhưng nếu người tố giác, người làm chứng, bị hại hay người thân thích của

họ bị trả thù, bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp diễn ra sẽ làm giảm đi mục đích ban đầu Chính vì vậy, việc quy định chi tiết chế định bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ có ý nghĩa to lớn trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm, thể hiện:

Thứ nhất, bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người

tham gia tố tụng khác cũng chính là bảo vệ quyền con người của những chủ thể tham gia tố tụng nói chung Họ sẽ được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền, lợi ích khác Nếu rơi vào trường hợp bị xâm phạm hoặc bị đe dọa xâm phạm đến các quyền kể trên thì chế định này là cơ sở pháp lý chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tổ chức có thẩm quyền; về các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn những mối nguy hiểm có khả năng xảy ra trên thực tế xâm hại hoặc đe dọa xâm hại quyền, lợi ích của họ

Thứ hai, bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và nười thân thích của

họ không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm an toàn cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào quá trình tố tụng mà còn hướng đến góp phần hạn chế hành vi vi phạm pháp luật, tránh được những thiệt hại cho lợi ích nhà nước, xã hội và các cá nhân khác, đảm bảo kỷ cương pháp luật và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự đúng đắn Thông qua việc quy định các biện pháp bảo đảm an toàn cho người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ thì chế định này cũng là công cụ răn đe các đối tượng đang có ý đồ, mục đích xâm phạm

Trang 23

đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ, đồng thời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong việc cản trở, trả thù những chủ thể trên

Thứ ba, khi tham gia vào quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, người tố

giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ luôn ở vị thế bị động, họ khó có thể lường trước được những mối nguy hiểm có thể xảy ra với họ Do đó, việc cụ thể hóa chế định này vào pháp luật tố tụng hình sự thể hiện sự quan tâm, bảo đảm an toàn tuyệt đối từ Nhà nước dành cho họ, đồng thời phản ánh bản chất nhân đạo của Nhà nước Bên cạnh đó, tạo niềm tin và khuyến khích họ nói riêng, toàn dân nói chung chủ động, sẵn sàng tham gia vào quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm

1.1.4 Cơ sở của việc quy định chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong TTHS Việt Nam

1.1.4.1 Cơ sở lý luận

Lịch sử nhân loại đã chứng minh ở mỗi thời đại, mỗi chế độ chính trị, kinh tế,

xã hội nhất định, lòng khao khát tự do, bất khả xâm phạm về thân thể, bình đẳng về công lý và công bằng xã hội luôn là sức mạnh vô tận trong nhu cầu được bảo vệ - một nhu cầu hết sức tự nhiên của con người Quyền con người nói chung và quyền của người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong tố tụng hình sự nói riêng đã được thừa nhận một cách rộng rãi và được xem là giá trị chung của toàn nhân loại

Đảng và nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý về quyền con người, thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng Trong đó văn kiện của Đảng thể hiện đậm nét định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người đó là Nghị quyết số 48-NQ TW ngày 24 05 2005 về chiến lược xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm

2020 đã xác định: “Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công

Trang 24

dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội” [11] Trong nhà

nước pháp quyền, các quyền con người được pháp luật đảm bảo thực hiện và được bảo vệ không bị xâm phạm Ghi nhận và bảo vệ các quyền con người trên thực tế là thể hiện của một nhà nước nhân bản, tiến bộ, dân chủ, văn minh Bảo vệ quyền con người không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành mục tiêu cao nhất trong xây

dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta [29-tr.97]

1.1.4.2 Cơ sở pháp lý

Ở bình diện quốc tế, Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948, Tuyên ngôn về những Nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử đối với nạn nhân của của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực do Liên hợp quốc ban hành ngày

29 11 1985, Công ước chống tham những của Liên hợp quốc, Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử khác tàn bạo, vô nhân đạo hoặc dùng nhục hình năm 1984, cùng hai Công ước quốc tế về quyền con người (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966) ghi nhận những nội dung liên quan đến bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của người bị tố giác, người làm chứng, người bị hại trong tố tụng hình sự nói riêng Các văn bản pháp lý quốc

tế này được xem như khuôn mẫu chung cho các quốc gia trong sự nghiệp bảo vệ quyền con người của mình, là tiếng nói chung cho toàn thể nhân loại trên thế giới

Ở Việt Nam, trải qua các bản Hiến pháp của Việt Nam, nội dung về bảo vệ quyền con người luôn được chú trọng, cụ thể hóa một cách rõ ràng Đặc biệt, Hiến pháp 2013 là một bước đột phá, thể hiện sự tiến bộ trong tư duy pháp lý của một nhà nước pháp quyền Theo đó, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Mọi người có quyền bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật

Trang 25

cá nhân, bí mật gia đình; bí mật thư tín, điện thoại [4] Nhà nước có trách nhiệm

đảm bảo cũng như bảo vệ các quyền đó trên thực tiễn Do đó, hơn bao giờ hết cần phải có những cơ chế bảo vệ thích đáng xuất phát từ chính yêu cầu khách quan của đời sống pháp luật về bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại nói riêng, Việt Nam cần phải nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bảo vệ người

tố giác, người làm chứng, bị hại

Trong pháp luật TTHS, lần đầu tiên Bộ luật TTHS năm 2003 đã bổ sung một nội dung mới, quan trọng, mang tính nguyên tắc là người bị hại, người làm chứng

và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy

định của pháp luật [1] Nội dung của nguyên tắc này không chỉ khẳng định quyền

được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ

mà còn xác định rõ trách nhiệm bảo vệ các quyền và lợi ích của người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án Quy định này đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ các chủ thể này trên thực tiễn

Để cụ thể hơn các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, ngày 26 12 2013,

Bộ Công an được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan đã ban hành Thông tư liên tịch số 13 2013 TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 về bảo vệ tính mạng, sức khỏe

và tài sản của người làm chứng, người tố giác tội phạm, người bị hại trong vụ án hình sự Thông tư đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo vệ những chủ thể trên với quy định về đối tượng được bảo vệ; phạm vi bảo vệ; quyền của người được bảo vệ; nghĩa vụ của người được bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; cơ quan có trách nhiệm bảo vệ; trình

Trang 26

tự, thủ tục quyết định áp dụng và thực hiện các biện pháp bảo vệ; trách nhiệm của các cơ quan; hồ sơ bảo vệ; kinh phí thực hiện và điều khoản thi hành

Bên cạnh các quy định của BLTTHS năm 2003 và văn bản hướng dẫn về bảo

vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại như đã phân tích ở trên thì trong hệ thống pháp luật Việt Nam các quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại còn được quy định rải rác ở một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác như:

Trong lĩnh vực bảo vệ An ninh quốc gia, Luật An ninh quốc gia quy định tại điểm h khoản 1 Điều 24: các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác,

người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia” [6]

Nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật An ninh quốc gia, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 151 2005 NĐ-CP ngày 14 12 2005 về quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó quy định tương đối chi tiết, cụ thể về công tác bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án khác do cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia thụ lý

[12]

Lĩnh vực phòng, chống ma tuý là nơi mà người tố giác, người làm chứng, người bị hại có nguy cơ bị tấn công hoặc bị xâm hại đặc biệt lớn Chính vì vậy, tại điểm e khoản 1 Điều 13 Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 đã quy định: cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý trong Công an nhân dân được “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị

hại trong các vụ án về ma tuý” [7] Ngày 27/11/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị

định số 99 2002 NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của

cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân và

đã dành riêng Chương VII để quy định về bảo vệ người tố giác, người làm chứng,

người bị hại [13] Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số

Trang 27

09/2004/TT-BCA(V19) ngày 16 6 2004 hướng dẫn áp dụng một số biện pháp bảo

vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án về ma tuý [14]

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 chỉ mới đề cập tới trách nhiệm của “Người đứng đầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lí theo thẩm quyền, giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu;

thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu” [8] quy định

tại khoản 2 Điều 65

Ngoài ra, trong Luật Công an nhân dân năm 2005, khi quy định về chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân cũng đã khẳng định: “Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cơ quan,

tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân trong bảo

vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội” [9], theo khoản 1 Điều 13

Trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 cũng quy định việc bảo vệ nạn nhân và người thân thích của nạn nhân Theo quy định tại Điều 29 của luật này thì khi có căn cứ để cho rằng một người bị mua bán thì cơ quan, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 21 của Luật này có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để giải cứu; trường hợp người đó bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản thì áp dụng các biện pháp bảo vệ Đồng thời, tại Điều 30 của Luật Phòng, chống mua bán người cũng quy định các

biện pháp bảo vệ an toàn cho nạn nhân và người thân thích của nạn nhân [10] Đây

là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền bảo vệ nạn nhân và người thân thích của

họ trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người

Như vậy, các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và người thân của họ được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng tựu trung lại là đều xác định quyền được bảo vệ của

họ và nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan Tuy nhiên, hầu hết các quy

Trang 28

định chỉ mới dừng lại ở nguyên tắc, thiếu hướng dẫn cụ thể, nhất là về các biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng tiến hành bảo vệ, kinh phí để bảo vệ; đồng thời, cũng như chưa có quy định trong những trường hợp cụ thể nào thì người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ được bảo vệ…

Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định cụ thể về chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác thành một chương độc lập Trong đó có quy định về đối tượng được bảo vệ, chủ thể có thẩm quyền bảo vệ, các biện pháp bảo vệ cũng như trình tự, thủ tục tiến hành Tuy nhiên, các quy định chỉ mới dừng lại ở quy định chung, chưa cụ thể, rõ ràng, một số vấn đề

bị bỏ ngõ, bất cập Điều này dẫn đến tính khả thi trên thực tế bị hạn chế, không hiệu quả

Tóm lại, để bảo vệ quyền con người trong TTHS được hoàn thiện chúng ta cần quan tâm đến vấn đề bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ Làm tốt vấn đề này sẽ góp phần giúp quá trình xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời bảo vệ mục tiêu xây dựng nhà nước ta, đó là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1.1.4.3 Cơ sở thực tiễn

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các thông tin, tình tiết, tài liệu, đồ vật

do người tố giác, người làm chứng, bị hại cung cấp có giá trị rất quan trọng đối với việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án Đồng thời, theo quy định của pháp luật, họ có trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an toàn xã hội nên họ có nghĩa vụ tham gia tố tụng để cộng tác, phối hợp, giúp đỡ cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án

Từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực cho đến nay, những quy định về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình sự không những chưa được hướng dẫn chi tiết, mà trên thực tế vẫn chưa được triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, mặc dù trong thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự đã xuất hiện rất

Trang 29

nhiều tình huống cần phải áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và người thân thích của họ Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của TS Đinh Thị Mai ghi nhận: Trong 91 hồ sơ vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và 312 bản án sơ thẩm hình sự, tác giả không hề thấy có bất

cứ quyết định tố tụng, văn bản tố tụng, hay bất cứ bút lục hồ sơ nào phản ánh về việc người bị hại được cơ quan có thẩm quyền bảo vệ, ngoại trừ 01 trường hợp duy nhất là hồ sơ vụ án số 1822 2009 HSST ngày 17 9 2009 của Tòa án nhân dân Tp.HCM Trong vụ án này người bị hại đồng thời là bị cáo đang bị tạm giam trong trại giam, bị cố ý gây thương tích, đã được ban quản lý trại giam áp dụng biện pháp cách ly phòng giam và sau đó cho xét xử sớm nhằm thiết thực bảo vệ tính mạng của

người bị hại [24-tr.206] Chỉ có một quyết định bảo vệ trong tổng số 91 hồ sơ vụ án

hình sự Con số này thể hiện sự hạn chế từ phía cơ quan thực thi pháp luật trong công tác bảo vệ người làm chứng, người bị hại

Một thực tế khác, đó là liên quan đến số lượng người làm chứng, người bị hại tham gia vào các giai đoạn của quá trình tố tụng cũng là vấn đề cần phải xem xét Cũng theo một kết quả nghiên cứu của TS Đinh Thị Mai liên quan đến người bị hại thì hầu hết người bị hại có mặt khi có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để phục vụ điều tra nhưng tỷ lệ người bị hại có mặt để tham gia phiên tòa lại thấp, trong các trường hợp được nghiên cứu, chỉ có 25,83% người bị hại tham gia phiên tòa Mặc dù khoản 4 Điều 51 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định chung: Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, không phân biệt nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát là quan trọng hơn giấy triệu tập của Tòa án Tuy nhiên, trên thực

tế người bị hại chỉ thực hiện nghĩa vụ có mặt khi có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát trong giai đoạn đầu của tố tụng (giai đoạn khởi tố, điều tra) Theo kết quả thống kê của TS Đinh Thị Mai, tỷ lệ này có khi đạt đến 90% Đến giai đoạn truy tố và xét xử, tỷ lệ người bị hại có mặt theo giấy triệu tập giảm dần (theo thống kê chỉ có 25,83% người bị hại có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để

tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm) [24-tr.222] Nội dung này cho chúng ta thấy rõ

Trang 30

sự thiếu hợp tác từ phía người tố giác, người làm chứng, người bị hại với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự Nguyên nhân của sự hạn chế này có thể xuất phát từ nhận thức pháp luật của người làm chứng, người bị hại; cách thức và thái độ làm việc của người tiến hành tố tụng, quan trọng nhất đó là những mối nguy hiểm từ phía người phạm tội và họ lo sợ bị đe dọa, trả thù

Trên thực tế đã xảy ra những trường hợp họ và người thân của họ bị tội phạm xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản;

và cả những trường hợp có sự đối xử không khách quan từ phía người tiến hành tố tụng Những hạn chế này tác giả sẽ phân tích từng trường hợp cụ thể ở phần “Thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác”

Như chúng ta đã biết, bị hại là chủ thể bị tội phạm xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp; người làm chứng, người tố giác cũng là những chủ thể đang rơi vào mục tiêu xâm hại tiếp theo từ phía người phạm tội hoặc một bên thứ ba nào đó Khi tất

cả họ tham gia vào quá trình đấu tranh với tội phạm, những thông tin, tài liệu mà họ

có thể cung cấp nắm giữ một vai trò quyết định đến phán quyết cuối cùng của Tòa Với vai trò, vị trí và sự quan trọng của người tố giác, người làm chứng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đặt trong xã hội hiện nay, khi mà tình hình tội phạm ngày một gia tăng cả về số lượng lẫn thủ đoạn tinh vi thì hơn bao giờ hết cần có một

cơ chế để bảo vệ họ, giúp họ không bị khống chế, đe dọa, trả thù để họ có thái độ hợp tác tích cực, khai báo khách quan, trung thực và chính xác với các cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự

1.2 Quy định của Bộ luật TTHS về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

1.2.1 Quy định của BLTTHS năm 2003 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Pháp luật tố tụng hình sự quy định tố giác tội phạm là nghĩa vụ của công dân trong đấu tranh, phòng ngừa chống tội phạm, cũng là nghĩa vụ của người tố giác (Điều 25 BLTTHS năm 2003); đối với người làm chứng tham gia tố tụng và khai

Trang 31

báo là nghĩa vụ của họ Theo quy định tại Điều 55 BLTTHS năm 2003 thì người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị dẫn giải, người làm chứng có nghĩa vụ phải khai báo trung thực những thông tin mình biết để giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án; Người bị hại cũng

có nghĩa vụ tham gia tố tụng và khai báo để giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự (Điều 51 BLTTHS năm 2003) Như vậy, người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại họ có trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, họ có nghĩa vụ tham gia tố tụng để phối hợp, giúp đỡ cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án

Bộ luật TTHS năm 2003 quy định công dân có quyền được pháp luật bảo hộ

về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản Mọi hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đều bị xử lý theo pháp luật Đồng thời, BLTTHS

năm 2003 đã quy định nguyên tắc tại Điều 7: “Người bị hại, người làm chứng và

người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” Đây là nguyên tắc chi phối, định hướng toàn bộ quá trình xây

dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng chế định bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ Nội dung của nguyên tắc này không chỉ khẳng định quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người bị hại, người làm chứng và người tham gia

tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà còn xác định rõ trách nhiệm bảo

vệ các quyền và lợi ích của người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án Trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự khi tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và các quyền lợi, ích hợp pháp khác của người bị hại, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác bị xâm hại hoặc đe doạ xâm hại thì các CQTHTT phải kịp thời quyết định áp

Trang 32

dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ họ, loại trừ nguy cơ đe dọa và xử lý các hành

vi xâm hại đến các quyền và lợi ích đó

Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa đối với người làm chứng Tại khoản 3

Điều 55 BLTTHS năm 2003 quy định người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan

triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng Đồng thời tại khoản 5 Điều

211 BLTTHS năm 2003 quy định trong trường hợp cần thiết phải đảm bảo an toàn

cho người làm chứng và người thân thích của họ, Hội đồng xét xử phải quyết định

áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy định của pháp luật Nguyên tắc này cũng được

cụ thể hoá đối với người tố giác tội phạm tại Điều 103 khoản 3 BLTTHS năm 2003

quy định Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố

giác tội phạm

Bộ luật TTHS năm 2003 đã có những thay đổi, bổ sung tích cực nhưng những thay đổi, bổ sung này chưa kèm theo những bảo đảm và chưa được cụ thể hóa nên tính hiện thực trong thực tiễn chưa cao, cụ thể: căn cứ áp dụng, đối tượng được bảo

vệ, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, các biện pháp bảo vệ, trình tự thủ tục áp dụng như thế nào là những vấn đề còn bỏ ngõ cần được quy định, hướng dẫn cụ thể

Trong quá trình tham gia tố tụng người tố giác, người làm chứng, người bị hại

có thể trở thành đối tượng tấn công của người phạm tội, họ có nguy cơ cao bị xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp Vì vậy, BLTTHS cần phải quy định đầy đủ, chặt chẽ việc bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại và người thân thích của họ để họ có thể thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng, góp phần giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án

1.2.2 Quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

1.2.2.1 Người được bảo vệ

Trang 33

Theo quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật TTHS năm 2015, người được bảo

vệ (hay còn gọi là đối tượng bảo vệ) gồm có: Người tố giác tội phạm; Người làm chứng; Bị hại; Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại

Như vậy, chúng ta có thể chia thành hai nhóm người được bảo vệ như sau: Nhóm thứ nhất: là người tố giác, người làm chứng và bị hại

Nhóm thứ hai: là người thân thích của người tố giác, người làm chứng, bị hại nói trên

Điểm mới trong quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 so với Bộ luật TTHS năm 2003 là đã xác định người tố giác là người có địa vị pháp lý trong tố tụng hình

sự với tư cách là người tham gia tố tụng có các quyền và nghĩa vụ rõ ràng Đồng thời, Bộ luật TTHS năm 2015 đã có quy định về người thân thích của người tham gia tố tụng (trong đó có người tố giác, người làm chứng, bị hại) Từ đó, tạo cơ sở áp dụng pháp luật một cách thống nhất, giúp cơ quan có thẩm quyền xác định đúng đối tượng cần được bảo vệ và đó là tiền đề cho thực tiễn bảo vệ đạt hiệu quả

Với quy định mới này, pháp luật tố tụng đã mở rộng phạm vi điều chỉnh cho những chủ thể cần được bảo vệ khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự

Về quyền và nghĩa vụ của những chủ thể trên: Theo khoản 2 Điều 484 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định những đối tượng này có quyền: Đề nghị được bảo vệ; Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; Được biết về việc áp dụng biện pháp bảo vệ; Đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; Được bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ Khi có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc bị đe dọa xâm phạm, các chủ thể này được thực hiện các quyền của mình mà pháp luật quy định để đảm bảo tốt nhất sự an toàn cho chính cá nhân họ Bên cạnh các quyền này, người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ có nghĩa vụ theo khoản 3 Điều 484 Bộ luật TTHS năm 2015: Chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan bảo vệ liên quan đến việc bảo vệ; Giữ bí mật thông tin bảo vệ; Thông báo kịp thời đến cơ quan có trách nhiệm bảo vệ về những vấn đề nghi

Trang 34

vấn trong thời gian được bảo vệ Để việc bảo vệ đạt kết quả tốt nhất, một phần có sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước, phần còn lại chính bản thân đối tượng được bảo vệ phải có sự hợp tác, chấp hành các yêu cầu từ phía cơ quan bảo vệ trong quá trình thực hiện

So với Bộ luật TTHS năm 2003 về chế định bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ, Bộ luật TTHS năm 2015 đã thể hiện sự tiến bộ rõ ràng, qua đó cho chúng ta thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác bảo vệ những chủ thể trên Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 quy định thành một chương riêng (Chương XXXIV) là: “Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác”, trong khi nội dung quy định về đối tượng được bảo vệ chỉ gồm bốn chủ thể trên cho chúng ta thấy giữa tên chương và quy định về đối tượng được bảo vệ không đồng nhất với nhau Như chúng ta đã biết, pháp luật tố tụng quy định có nhiều người tham gia tố tụng, ngoài người làm chứng, người tố giác, bị hại và người thân của họ được bảo vệ thì trên thực tế một

số chủ thể như là người giám định, người phiên dịch, người chứng kiến…, họ tham gia theo nghĩa vụ để hỗ trợ, giúp đỡ CQTHTT nên cũng cần được bảo vệ, vì họ cũng có nguy cơ bị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại Một khi quyền và lợi ích của họ

bị xâm hại, đe dọa xâm hại khi tham gia tố tụng thì bắt buộc phải đưa họ vào phạm

vi đối tượng cần được bảo vệ Bộ luật TTHS năm 2015 sử dụng phương pháp liệt kê

để diễn đạt nội dung tại Điều 484 như trên làm hẹp lại so với quy định ban đầu Do

đó, đây là một quy định chưa phù hợp

1.2.2.2 Cơ quan và người có thẩm quyền bảo vệ

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thầm quyền trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm giải quyết nguồn tin về tội phạm, triệu tập, lấy lời khai người tố giác, người làm chứng, bị hại Trong quá trình tham gia tố tụng, người tố giác, người làm chứng, bị hại có quyền yêu cầu được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi có căn cứ

Trang 35

Theo quy định tại Điều 485 Bộ luật TTHS năm 2015, trường hợp nhận được yêu cầu bảo vệ thì Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra của Quân đội nhân dân có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ Theo đó, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra của Công an nhân dân (Quân đội nhân dân) sẽ là người có thẩm quyền ra quyết định khi vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát, Tòa án cùng cấp (nếu Viện kiểm sát, Tòa án xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ) Ngoài ra, khi cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương để có văn bản đề nghị với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan

An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra

Bộ Quốc phòng ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ

Bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ khi tham gia vào quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm là một yêu cầu hết sức thiết thực Chính vì thế, khi tiếp nhận thông tin, yêu cầu bảo vệ từ phía người được bảo

vệ hoặc từ những chủ thể khác thì những cơ quan có thẩm quyền nêu trên có trách nhiệm xác minh và triển khai thực hiện công tác bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân của họ nếu có căn cứ Bên cạnh đó, các cơ quan có liên quan như: cơ quan quản lý người tố giác, người làm chứng, bị hại tại nơi họ công tác hay UBND địa phương nơi họ cư trú, làm việc cùng phối hợp thực hiện vì công tác bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân của họ là một quá trình phức tạp, do đó cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền

và các cơ quan, tổ chức ở cơ sở - nơi mà gần gũi nhất với họ và gia đình, người thân của họ nhất để bảo đảm công tác bảo vệ được diễn ra nhanh chóng, kịp thời, ngăn chặn, hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra đối với người tố giác, người làm chứng,

bị hại và người thân thích của họ

1.2.2.3 Các biện pháp bảo vệ

Trang 36

Người tố giác, người làm chứng, bị hại góp phần giúp quá trình giải quyết vụ

án hình sự được nhanh chóng, nhưng bên cạnh đó cũng đặt ra rào cản nhất định trong việc duy trì sự hợp tác của họ bởi nỗi lo bị đe dọa, trả thù khi cung cấp những chứng cứ bất lợi đối với người phạm tội Do vậy, việc bảo vệ người làm chứng, người tố giác, bị hại là một nhu cầu rất cần thiết trong các vụ án hình sự thể hiện qua các cách thức, biện pháp bảo vệ cụ thể mà Nhà nước đưa ra

Theo quy định tại Điều 486 BLTTHS năm 2015, khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng những biện pháp để bảo vệ họ Có thể: Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để đảm bảo an toàn cho họ; Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập, thay đổi tung tích,

lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý; Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật

Với quy định như trên, nhận thấy rằng khi áp dụng biện pháp bảo vệ có những trường hợp hoàn toàn thuộc về ý chí, quyết định của cơ quan THTT, và cũng có biện pháp cần có sự đồng ý từ phía người được bảo vệ Đó là biện pháp “Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập, thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ”, vì hệ quả khi áp dụng biện pháp này là luôn ảnh hưởng đến quyền lợi, kết quả làm việc, học tập cho người được bảo vệ Nhưng trong trường hợp những vụ án nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phía cơ quan có thẩm quyền cho rằng chỉ có thể áp dụng biện pháp này, nhưng phía người được bảo

vệ lại không đồng ý, vậy cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết trường hợp này ra sao? Đây có được xem là trường hợp từ chối bảo vệ hay không? Hay tại quy định

Trang 37

“Các biện pháp bảo vệ khác”, vậy những chủ thể thực thi pháp luật sẽ áp dụng “biện pháp bảo vệ khác” là những biện pháp nào?

Trên đây là những quy định chung về biện pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác Tuy nhiên, pháp luật TTHS đã

“bỏ quên” trường hợp người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần

Họ được pháp luật TTHS quy định là chủ thể đặc biệt, bởi tâm sinh lý, độ tuổi, khả năng nhận thức của họ còn hạn chế, nên cần có những biện pháp bảo vệ mang tính chất đặc thù để phù hợp với đặc điểm của những chủ thể này

Nhìn tổng quan các biện pháp nêu trên, cho thấy sự quan tâm từ phía Nhà nước đối với người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác Tuy nhiên, đi kèm với từng biện pháp là nội dung và cách thức thực hiện phải được hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn Những quy định trên chưa khái quát được hết những khía cạnh mà thực tế có thể xảy ra trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ cho người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác BLTTH năm

2015 mới được ban hành, vậy nên cần phải có những văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho những quy định này

Rất nhiều các biện pháp được nêu ra trong quy định của pháp luật TTHS Vấn

đề là cách thức áp dụng những biện pháp trên như thế nào cho hiệu quả là điều quan trọng Pháp luật tố tụng quy định “khi có căn cứ…” thì người có thẩm quyền được quyết định biện pháp bảo vệ Chính vì thế, đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có kiến thức pháp luật vững chắc, giàu kinh nghiệm và tầm nhìn bao quát để có thể nghiên cứu, đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện và linh hoạt nhất cho từng trường hợp xảy ra

1.2.2.4 Chủ thế có thẩm quyền đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015, việc cần được bảo vệ hay không, nhiều trường hợp dựa theo ý chí của người được bảo vệ Vậy nên, chúng ta có thể chia ra hai trường hợp sau:

Trường hợp người được bảo vệ có yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ:

Trang 38

Về cơ bản, người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của mình

bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm thì họ có quyền đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra) áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy đinh tại khoản 1 Điều 487 Bộ luật TTHS năm 2015 Đề nghị, yêu cầu này phải được thể hiện dưới hình thức văn bản theo quy định pháp luật, trừ trường hợp khẩn cấp có thể trực tiếp đề nghị hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc sau đó mới thể hiện bằng văn bản, theo khoản 2 Điều này

Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 487 Bộ luật TTHS năm

2015, khi người được bảo vệ gửi đề nghị, yêu cầu đến cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm…), Viện kiểm sát, Tòa án thì những cơ quan này khi nhận được đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ thì có trách nhiệm xem xét, đề nghị Cơ quan điều tra cùng cấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ Trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp cao nhận được đề nghị, yêu cầu bảo vệ thì đề nghị Cơ quan điều tra Bộ Công an xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ Như vậy, về cơ bản, người được bảo vệ (người tố giác, người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ) làm đơn yêu cầu bảo vệ Nhưng tồn tại một hạn chế trong quy định này liên quan đến trường hợp người tố giác, người làm chứng, bị hại

và người tham gia tố tụng khác là người dưới 18 tuổi Bởi vì, những đối tượng này

về tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức còn hạn chế, nên không đủ khả năng và nhận thức để có thể phân tích, đánh giá tình hình thực tế khi

có sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại từ phía người phạm tội Vậy trong trường hợp này ai sẽ là người yêu cầu bảo vệ? Người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác thực hiện yêu cầu bảo vệ thông qua người đại diện hợp pháp của họ, để đảm bảo quyền, lợi ích tốt nhất cho họ Pháp luật TTHS cần quan tâm đến vấn đề này

Trang 39

Trường hợp người được bảo vệ không có yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ: theo quy định tại khoản 3 Điều 485 Bộ luật TTHS năm 2015, trường hợp này nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ thì Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ án hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có văn bản đề nghị với cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ Bộ luật TTHS năm 2015 quy định các cơ quan này có quyền chủ động đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ như trên vì thực tiễn cho thấy, đối tượng cần bảo vệ có thể không biết rõ quyền của mình hoặc biết nhưng không dám đưa ra yêu cầu vì tại thời điểm đó có thể đã bị đe dọa nên không dám đưa ra yêu cầu bảo vệ Nếu như không quy định thẩm quyền cho một số cơ quan tiến hành tố tụng thì rất có thể người cần được bảo vệ sẽ bị xâm hại Do đó, việc mở rộng thẩm quyền đề nghị

áp dụng biện pháp bảo vệ khi xét thấy cần thiết cho các cơ quan tiến hành tố tụng đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Tuy nhiên, pháp luật TTHS đã không mở rộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 145 BLTTHS năm 2015 về “Cơ quan, tổ chức khác”, vì cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, vậy khi “Cơ quan, tổ chức này” này cho rằng có căn cứ xác định người tố giác, người thân của họ bị đe dọa tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác có quyền được đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hay không? Theo tác giả cần bổ sung thêm trường hợp này vào quy định tại Điều 487 BLTTHS năm 2015

Một vấn đề khác là hình thức yêu cầu bảo vệ Về nguyên tắc, yêu cầu hay đề nghị bảo vệ phải được thể hiện dười hình thức văn bản Câu hỏi được đặt ra là: Nếu các chủ thể yêu cầu bảo vệ không đáp ứng điều kiện về đơn yêu cầu thì giải quyết như thế nào? Hoặc là cơ quan có thẩm quyền vẫn chấp nhận xem xét hoặc ngược lại Và chúng ta cũng biết rằng hệ quả đằng sau mỗi từ “hoặc” là cả một vấn đề, đó là: hoặc người làm chứng, người tố giác, bị hại có thể được cơ quan có thẩm quyền

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Báo Pháp luật Tp. Hồ Chí Minh, “Phải ẩn mặt, giấu tên”, ngày 29 8 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải ẩn mặt, giấu tên
25. Tài liệu Hội nghị “Sơ kết việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm và nâng cao chất lượng công tác THQTC, KSXX án hình sự” (2014), Viện kiểm sát nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm và nâng cao chất lượng công tác THQTC, KSXX án hình sự
Tác giả: Tài liệu Hội nghị “Sơ kết việc tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm và nâng cao chất lượng công tác THQTC, KSXX án hình sự”
Năm: 2014
35. Nguyễn Đức Chánh (2007), “Đảm bảo quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự”, Luận văn cử nhân luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
Tác giả: Nguyễn Đức Chánh
Năm: 2007
36. Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 1 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bị hại trong tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2007
39. Nguyễn Thái Phúc (2008), “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 18&20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2008
40. Lê Nguyên Thanh (2005), “Nạn nhân học trong Tội phạm học Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06(31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạn nhân học trong Tội phạm học Việt Nam
Tác giả: Lê Nguyên Thanh
Năm: 2005
41. Trần Đức Tuấn (2016), “Tìm hiều pháp luật nước ngoài về bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí kiểm sát, số 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiều pháp luật nước ngoài về bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự
Tác giả: Trần Đức Tuấn
Năm: 2016
1. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 3. Bộ luật Hình sự năm 2015 Khác
4. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
10. Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 Khác
11. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 Khác
12. Nghị định 151 2005 NĐ-CP ngày 14/12/2005 Khác
13. Nghị định 99 2002 NĐ-CP ngày 27/11/2002 Khác
14. Thông tư số 09 2004 TT-BCA(V19) ngày 16/6/2004. Sách chuyên khảo, Báo cáo, Báo chí Khác
15. Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên) (2009), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 2003 – NXB Chính trị quốc gia, tr.87 Khác
16. Báo cáo tóm tắt công tác của ngành kiểm sát thành phố từ năm 2012 đến năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh Khác
20. Giáo trình Luật TTHS ĐH Luật Hà Nội (2011) – NXB Công an Nhân dân Khác
21. Giáo trình Luật TTHS ĐH Luật Hà Nội (2010) – NXB Tư pháp Khác
22. Giáo trình Luật TTHS ĐH Luật Tp.HCM (2012) – NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Khác
23. Giáo trình triết học Mác Lênin (1997) ĐH Luật Hà Nội – NXB Chính trị Quốc gia Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w