1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở việt nam

92 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở việt nam
Tác giả Nguyễn Thị Thuận
Người hướng dẫn Th.S Lê Việt Sơn
Trường học Trường Đại Học Luật TP.HCM
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, Luật TTHC đã có những quy định mới về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính tại TAND được mở rộng; nhưng quy định trình tự, thủ tục giải quyết VAHC cũng có những sửa đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -*** -

NGUYỄN THỊ THUẬN MSSV: 1155040195

THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA: 2011 – 2015

GVHD: Th.S LÊ VIỆT SƠN Giảng viên Khoa Luật Hành Chính – Nhà nước

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM 1 1.1 Khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng

hành chính ở Việt Nam 1

1.1.1 Khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 1

1.1.2 Khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 3

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 7

1.2.1 Cơ sở lý luận của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 7

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 11

1.3 Ý nghĩa của thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân theo pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam 14

1.3.1 Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện 14

1.3.2 Đối với hoạt động tố tụng 15

1.3.2 Đối với hoạt động quản lý nhà nước 16

1.4 Những quy định chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 18

1.4.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân theo loại việc bị khiếu kiện 18 1.4.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM 39

Trang 3

hành chính ở Việt Nam 39

2.1.1 Thực trạng về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam loại việc bị khiếu kiện 41 2.1.2 Thực trạng về thẩm quyền xét xử sơ thẩm hành chính của Tòa án nhân dân trong

tố tụng hành chính ở Việt Nam theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ 45

2.2 Một số bất cập về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 48

2.2.1 Một số bất cập về mặt pháp lý trong quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa

án nhân dân 48 2.2.2 Một số bất cập về thực tiễn trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính 61

2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam 63

2.2.1 Kiến nghị về mặt pháp lý 64 2.2.2 Kiến nghị về mặt thực tiễn 73

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

UBND: Ủy ban nhân dân

Luật Tổ chức TAND: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với chủ trương và chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động trong quan hệ với các nước trên thế giới, cùng với việc trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế và đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo ra rất nhiều cơ hội để Việt Nam có điều kiện để giao lưu, học hỏi, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị của đất nước Tuy nhiên, thách thức mà nước ta phải đối mặt cũng khá nhiều, trong đó, có yêu cầu đăt ra là Việt Nam phải nhanh chóng tiến hành cải cách nền tư pháp sao cho phù hợp với đất nước, với xu thế, thời đại và phù hợp với những cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia Trên cơ sở đó, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp trong thời đại hiện nay Trước những yêu cầu đó, ngày 24 tháng 11 năm 2010 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII thông qua Luật tố tụng hành chính và chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2011 (sau đây gọi tắt là Luật TTHC) để thay thế cho Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2008 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh TTGQVAHC) Luật TTHC được ban hành dựa trên tinh thần và vai trò

mà Pháp lệnh TTGQVAHC đã đem lại trong thực tiễn, cũng như những đóng góp của Tòa án nhân dân (TAND) trong việc xét xử vụ án hành chính (VAHC), đồng thời cũng khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết trong Pháp lệnh để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và tiến bộ Theo đó, Luật TTHC đã có những quy định mới về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính tại TAND được mở rộng; nhưng quy định trình tự, thủ tục giải quyết VAHC cũng có những sửa đổi, bổ sung quan trọng theo hướng bỏ những thủ tục rờm rà, phức tạp… đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và toàn diện hơn để quá trình xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo tố tụng hành chính (TTHC) được nhanh chóng, chính xác và làm cơ sở để TAND giải quyết các khiếu kiện hành chính có hiệu quả, góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào công cuộc cải cách từ pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phù hợp với những cam kết quốc tế của Việt Nam

Trang 6

sơ thẩm của TAND cho thấy, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, nhiều quy định chưa rõ ràng trong việc xác định loại việc thuộc thẩm quyền xét xử

sơ thẩm của TAND, nhiều quy định chưa được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng dẫn đến có những cách hiểu và vận dụng khác nhau trong quá trình giải quyết VAHC cụ thể, các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của từng cấp Tòa án, cũng như các dấu hiệu để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ chưa thực sự hợp lý Bên cạnh đó là những quy định của các luật chuyên ngành có liên quan trong quá trình xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND với Luật TTHC còn chưa thống nhất, mâu thuẫn và còn chồng chéo lẫn nhau, cơ chế để bảo vệ thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC chưa phát huy được vai trò của TAND trong công tác xét xử, giải quyết VAHC

Nhận thức được vai trò của “xét xử sơ thẩm” trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và VAHC nói riêng, cũng như tầm quan trọng của việc xác định thẩm quyền xét xử

sơ thẩm của TAND trong quá trình giải quyết VAHC, cho nên chúng tôi muốn nghiên cứu sâu hơn những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cũng như những quy định trong pháp luật TTHC để có những cái nhìn tổng quan về nhưng

ưu điểm cũng như các khiếm khuyết cần làm rõ của pháp luật TTHC khi áp dụng vào thực tiễn Việc đi phân tích sâu về pháp luật và thực tiễn công tác xét xử để từ đó chúng tôi có cơ

sở cho việc đưa ra những giải pháp nhằm mang tính mới mẻ, cấp bách để hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật TTHC về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND Chính vì vậy mà tác giả đã chọn đề tài “thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của nhân luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử hành chính của TAND được quan tâm từ những năm đầu khi nền tài phán hành chính bắt đầu được thiết lập, bởi vì đây là một nội dung thể hiện sự tiến bộ của pháp luật, đề cao quyền con người, quyền công dân, phát triển và cải cách nền tư pháp Việt Nam, góp phần vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là kể từ khi Luật TTHC được ban hành đã có những quy định mở rộng thẩm quyền xét xử hành chính cho TAND so với trước kia, có những đối tượng mởi mẻ, chuyên sâu hơn Như vậy, là tính đến nay khoảng thời gian gần 19 kể từ khi giao thẩm quyền

Trang 7

nghiên cứu khoa học, kỷ yếu nghiên cứu, bàn luận có nội dung liên quan đến thẩm quyền xét xử hành chính của TAND Nhưng, đáng chú ý nhất là trong những năm gần đây sau khi Luật TTHC có hiệu lực thì hành thì ngày càng nhiều bài viết đăng trên các báo, các Tạp chí, nhiều hội thảo, các công trình nghiên cứu viết về các vấn đề có liên quan đến thẩm quyền

xét xử của TAND, phải kể đến như: “Hoàn thiện các quy định về khiếu kiện danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân” đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 2013; “Xác định hành vi hành chính – đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính” đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp năm 2013; “Bàn về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân theo loại việc bị khiếu kiện” đăng trên Tạp chí khoa học pháp lý năm 2012 của tác giả Lê Việt Sơn Hay như “Xác định đối tượng khởi kiện VAHC trong lĩnh vực cạnh tranh” của tác giả Dương Hoán đăng trên Tạp chí khoa học pháp lý năm 2011 “Bàn về đối tượng khởi kiện vụ án hành chính”, của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến đăng trên Tạp chí Nghề luật năm 2011 “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính Sự kế thừa, phát triển và những nội dung cần tiếp tục được hoàn thiện” Tạp chí Luật học năm 2011 của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng… Ngoài ra, còn

có các luận văn cử nhân, thạc sỹ, các bài tham luận, các hội thảo được tổ chức khá nhiều

để nghiên cứu về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND như: “Một số bình luận đối với Luật Tố tụng hành chính năm 2010”, của tác giả Nguyễn Cảnh Hợp đăng trong kỷ

yếu tọa đàm khoa học Pháp luật về giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam, Trường

Đại học Luật TP Hồ Chí Minh “Những sai sót phổ biến và những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết vụ án hành chính”, Tham luận tại hội nghị triển khai công tác Tòa

án năm 2014 của Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao “Bảo đảm pháp lý về quyền khởi kiện vụ án hành chính ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hoàng Yến tại Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh”, Luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Yến Mai tại Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh “Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân”, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật của Nguyễn Mai Linh tại trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Trang 8

những phân tích, so sánh, bình luận về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND trong quy định của Luật TTHC và Pháp lệnh TTGQVAHC trước đây Trên cơ sở đó, các tác giả cũng dẫn dắt, chứng minh từ thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong quy định của pháp luật, để từ đó có những kiến nghị nhằm

hoàn thiện hơn về quy định thẩm quyền xét xử hành chính của TAND

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam Phần lớn, các tác giả

là đi nghiên cứu về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND nói chung hoặc là nghiên cứu chủ yếu về thẩm quyền theo loại việc bị khiếu kiện của TAND hiện nay Mặc dù tác giả Nguyễn Mạnh Hùng cũng có một bài viết liên quan đến thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC của TAND, nhưng nội dung bài viết chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND đối với QĐHC, HVHC Trên cơ sở các bài viết, các công trình nghiên cứu của tác giả về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND, đề tài này sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứ thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm, và khiếm khuyết còn tồn tại trong quy định của pháp luật, chỉ dẫn những vụ việc thực tiễn để chứng minh Từ đó, đưa ra những giải pháp cả về lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn nhằm hướng đến mục đích cuối cùng là hoàn thiện những quy định của pháp luật

TTHC về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận liên quan đến thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam, cùng với đó là dựa trên cơ sở quy định của pháp luật TTHC về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND để tiến hành phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC Thông qua việc nghiên cứu đề tài mục đích chúng tôi muốn hướng tới là:

Thứ nhất, làm rõ những vấn đề về lý luận liên quan đến khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC để làm tiền đề cho quá trình nghiên cứu những quy định của pháp luật về xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC

ở Việt Nam

Trang 9

thẩm của TAND dựa trên quy định về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án trong Luật TTHC, nhằm mục đích để khẳng định vai trò của TAND trong quá trình giải quyết VAHC, đồng thời tìm ra những ưu và nhược điểm của pháp luật

Thứ ba, đưa ra những số liệu từ công tác xét xử VAHC của TAND và trên cơ sở của việc phân tích quy định của pháp luật, đưa ra những bất cập về mặt pháp lý và thực tiễn để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện thẩm quyền xét xử hành chính của TAND nói chung và thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC nói riêng

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu về thẩm quyền xét xử

sơ thẩm của TAND dựa trên các quy định về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND tại Điều 28, Điều 29, Điều 30 Luật TTHC và các Điều luật khác có liên quan và các văn bản hướng dẫn như Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao và Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP Trước hết, chúng tôi nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND để xác định vai trò của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC, và tập trung nghiên cứu dựa theo ba căn cứ sau đây: (1) thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo loại việc bị khiếu kiện trong TTHC; (2) thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo cấp Tòa án trong TTHC; (3) thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo lãnh thổ trong TTHC Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích những điểm còn bất cập của pháp luật về vấn

đề liên quan đến quy định này, tác giả đã có những đề xuất về mặt pháp lý và thực tiễn nhằm hoàn thiện chế định của pháp luật TTHC về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND

5 Ý nghĩa nghiên cứu

Với mục đích và đối tượng nghiên cứu của đề tài, thì đây được xem là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam là nguồn tài liệu tham khảo cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHC về xác định thẩm quyền xét xử của TAND Bên cạnh đó, chúng tôi mong muốn những kiến thức được trình bày trong nội dung của đề tài sẽ là cơ sở trong công tác

Trang 10

tâm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC

6 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lê-nin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong quá trình cải cách nền tư pháp Việt Nam và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong đó, phạm vi nội dung khóa luận, chúng tôi sử dụng chủ yếu là các phương pháp như: phân tích, so sánh đối chiếu, chứng minh, bình luận, thống kê, diễn dịch, quy nộp

để làm rõ những vấn đề về lý luận cũng như các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC và trên cơ sở đó có những giải pháp mang tính thực tiễn, thiết thực và cấp bách trong việc hoàn thiện về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC

Ngoài nội dung chính được trình bày trong hai chương nêu trên, thì khóa luận còn

có những phần sau: mục lục, danh mục từ viết tắt, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 11

Đề tài “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam” đã nghiên cứu một cách tổng quan về những cơ sở mang tính lý luận cũng như cở sở pháp lý và thực tiễn về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND Trên cơ sơ đó,

có thể đi đến một số kết luận sau:

Thứ nhất, làm rõ các khái niệm có liên quan đến thẩm quyền xét xử sơ thẩm của

TAND trong TTHC ở Việt Nam, cụ thể là khái niệm về xét xử sơ thẩm trong tố tụng nói chung, và khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm dựa trên những phân tích về thẩm quyền xét xử hành chính để trên cơ sở đó có cái nhìn chung nhất về xét xử sơ thẩm trong TTHC Đặc biệt làm bật lên vai trò của các quy định trong TTHC về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND là đúng với tinh thần cũng như quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND đó là TAND phải đảm bảo nguyên tắc“hai cấp xét xử” khi giải quyết vụ án

Thứ hai, chỉ ra những ý nghĩa của quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của

TAND trong TTHC, cụ thể là đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức đi khởi kiện thì sẽ đảm bảo được quyền khởi kiện VAHC của họ, giúp quá trình khởi kiện được tiến hành đúng quy định, đúng Tòa án đảm bảo về mặt thời hiệu cũng như tiết kiệm được chi phí, thời gian trong quá trình khởi kiện VAHC Đối với Tòa án sẽ giúp việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND đối với vụ việc cụ thể đó được nhanh chóng, đảm bảo về mặt trình tự, thủ tục tố tụng, và với cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thì thông qua xét xử sơ thẩm của TAND đã tạo cơ chế để “kiểm tra” giữa các

cơ quan trong bộ máy nhà nước và là cơ hội để những người có thẩm quyền và cơ quan nhà nước sửa chữa những sai sót, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Thứ ba, phân tích những quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm

của TAND trong TTHC dựa vào ba căn cứ đó là thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo loại việc bị khiếu kiện, thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo cấp Tòa án, thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ Trên cơ sở đó, trả lời cho các câu hỏi là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó theo thủ tục TTHC hay không? Tòa án cấp nào sẽ giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trong hai Tòa án có thẩm quyền là TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện? Và cuối cùng là Tòa án cụ thể nào trong số Tòa án cùng cấp sẽ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ việc đó Quá trình phân tích, các căn cứ xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm

Trang 12

buộc Tòa án phải thực hiện, không được bỏ qua bất kỳ căn cứ nào khi tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án và cũng yêu cầu Tòa án phải thực hiện theo đúng trình tự của từng căn

cứ trên khi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC

Thứ tư, đưa ra những số liệu về thực tiễn công tác xét xử VAHC của TAND hiện

và phân tích những khía cạnh còn vướng mắc trong quy định của pháp luật TTHC về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND, để có những kiến nghị về mặt pháp lý mang tính mới mẻ, cần thiết và cấp bách để hoàn thiện về xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC để hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Tòa án khi xét xử VAHC theo thủ tục sơ thẩm, bảo đảm được quyền lợi của Tòa án, các bên đương sự, bảo vệ Nhà nước và pháp luật Và xa hơn đó là hướng đến thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần vào công cuộc cải cách

tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ năm, chúng tôi đưa ra một số giải pháp mang tính thiết thực, phù hợp với tình

hình xã hội Việt Nam, cụ thể như tuyên truyền, giáo dục, nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân, và đặc biệt là cần có những chính sách đầu tư cho hệ thống TAND ở nước

ta, đảm bảo về cơ sở vật chất cho Tòa án, cũng như các Thẩm phán, cán bộ Tòa án để quá trình xét xử VAHC được nâng cao hơn nữa

Suy cho cùng thì việc nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC là mong muốn những kiến nghị sẽ góp phần vào việc hoàn thiện các quy định trong TTHC về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND nói chung và thẩm quyền xét

xử sơ thẩm của TAND nói riêng trong TTHC ở Việt Nam

Trang 13

I Văn bản pháp luật

1 Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2 Luật Tố tụng hành chính số 64/2010-QH12, ngày 24/11/2010

3 Luật Khiếu nại số 02/2011-QH13, ngày 11/11/2011

4 Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008-QH12, ngày 13/11/2008

5 Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003-QH11 năm 2003, ngày 26/11/2003

6 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân sửa đổi bổ sung số 63/2010-QH12, ngày 24/11/2010

7 Luật Cạnh tranh số 27/2004-QH11, ngày 03/12/2004

8 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 số 24/2004-QH11, ngày 15/6/2004

9 Bộ Luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung số 65/2011-QH12, ngày 29/03/2011

10 Bộ Luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11, ngày 10/12/2003

11 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13, ngày 24/11/20014

12 Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cái cách tư pháp đến năm

15 Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính số 49/1996/PL-UBTVQH9 ngày 21/5/1996, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 10/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25/12/1998 và Pháp lệnh số 29/2006/PL-UBTVQH11 ngày 05/4/2006

16 Báo cáo tổng kết thực tiễn 12 năm hoạt động giải quyết các vụ án hành chính của ngành Tòa án nhân dân số 210/TANDTC, ngày 18/11/2009

17 Báo cáo tổng kết công tác xét xử năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm

2011 của ngành Tòa án nhân dân số 01/BC-TA, ngày 04/01/2011

Trang 14

2012 của ngành Tòa án nhân dân

19 Báo cáo tổng kết công tác xét xử năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm

2013 của ngành Tòa án nhân dân số 05/BC-TA, ngày 18/01/2013

20 Báo cáo rút kinh nghiệm xét xử án hành chính 06 tháng đầu năm thi đua 2013, cụm thi đua số IV của Tòa hành chính – Tòa án nhân dân tối cao, ngày 05/6/2013

21 Thông báo rút kinh nghiệm “về việc xác định đối tượng khởi kiện vụ án hành chính” theo

quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, ngày

11 tháng 9 năm 2014 Số 602/TB-VKSTC-VPT1

II Giáo trình, sách tham khảo

22 Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội

23 Từ điển Tiếng Việt phổ thông (2002), Viện ngôn ngữ học, Nxb TP.HCM

24 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb

Công an nhân dân

25 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân

26 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

27 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2002), Tập bài giảng Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

28 Trường Đào tạo các chức danh Tư pháp (2001), Giáo trình kỹ năng giải quyết các vụ án hành chính, (tập 1, phần chuyên đề), Nxb Công an Nhân dân

29 Nguyễn Thanh Bình (2004), Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án, Nxb

Trang 15

Tố tụng hình sự, Bộ Luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính”, Tạp chí Tòa án nhân dân năm 2015, số (05)

33 Trần Văn Độ (2012), “Một số vấn đề về thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính

trong quân đội”, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 5/2012 (số 09)

34 Vũ Thị Hòa (2011), “Đối tượng khởi kiện và thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo Luật Tố

tụng hành chính năm 2010”, Tạp chí Nghề luật năm 2014, số (04)

35 Dương Hoán (2011), “Xác định đối tượng khởi kiện VAHC trong lĩnh vực cạnh tranh”, Tạp chí khoa học pháp lý số năm 2011 (số 06)

36 Hoàng Quốc Hồng (2013), “Quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định

của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành”, Tạp chí Luật học năm 2013 (số 01)

37 Nguyễn Mạnh Hùng (2011), “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo Luật

Tố tụng hành chính Sự kế thừa, phát triển và những nội dung cần tiếp tục được hoàn

thiện”, Tạp chí Luật học năm 2011 (số 09)

38 Nguyễn Thị Thương Huyền (2001), “Bàn về thẩm quyền của Tòa Hành chính”, Tạp chí Khoa học pháp lý năm 2001 (số 03)

39 Lê Thị Minh Loan, Lý Hán Sơn (2012), “Giải quyết khiếu kiện hành chính tại Tòa án và

những giải pháp nâng cao hiệu quả”, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 11/2012 (số 21)

40 Phương Loan, Dương Hằng (2012), “Thành phố Hồ Chí Minh: Án hành chính tăng đột biến”, Báo Pháp luật phát hành ngày 11/1/2012

41 Đinh Văn Sơn (2015), “Một số bất cập của Luật tố tụng hành chính”, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 3/2015 (số 05)

42 Lê Việt Sơn (2011), “Những điểm mới về thẩm quyền khiếu kiện hành chính của Tòa án

nhân dân theo Luật tố tụng hành chính”, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 7/2011 (số 13)

43 Lê Việt Sơn (2012), “Bàn về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân theo

loại việc bị khiếu kiện”, Tạp chí khoa học pháp lý năm 2012 (số 06)

44 Lê Việt Sơn (2013), “Hoàn thiện các quy định về khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi

việc thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10(306)

Trang 16

hành chính”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp tháng 8/2013 (số 05)

46 Lê Việt Sơn (2014), “Hoàn thiện các quy định về khiếu kiện danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân

dân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp năm 2014 (số 12)

47 Nguyễn Cửu Việt (2013), “Phạm vi các loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp tháng 01+02/2013 (số 02+03)

48 Đỗ Thị Hải Yến (2014), “Hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân

dân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp năm 2014 (số 07)

49 Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến (2011), “Bàn về đối tượng khởi kiện vụ án hành chính”,

Tạp chí Nghề luật năm 2011, (số 04)

50 Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến (2012), “Quyết định hành chính – Đối tượng khởi kiện vụ

án hành chính”, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 01/2012 (số 02)

III Luận văn thạc sĩ, luận văn cử nhân, đề tài nghiên cứu khoa học

51 Phạm Thị Yến Mai (2013), “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh”, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

52 Nguyễn Hoàng Yến (2011), “Bảo đảm pháp lý về quyền khởi kiện vụ án hành chính ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

53 Vũ Thị Nga (2013), “Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân theo loại việc bị khiếu kiện”, Khóa luận cử nhân Luật trường Đại học Luật TP.Hồ Chí

Minh

54 Phạm Linh Ngân (2013), “Quyết định kỷ luật buộc thôi việc - đối tượng khởi kiện trong

vụ án hành chính”, Khóa luận cử nhân Luật trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

55 Nguyễn Mai Linh (2012), Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân, Khóa

luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

IV Các bài báo mạng và tài liệu khác

56 Lê Thọ Bình (2004), Tòa án tỉnh có thể xử được Chủ tịch tỉnh, nguồn: Việt Báo:

http://vietbao.vn/Xa-hoi/Toa-an-tinh-co-the-xu-duoc-Chu-tich-tinh/20052994/157/,

(truy cập ngày 15/05/2015)

Trang 17

vực thuế; http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/118; (truy cập ngày 15/6/2015)

58 Nguyễn Hồng Hà (2014), Bị bác đơn tranh chấp đất, kiện quyết định nào?, nguồn: trích

http://phapluattp.vn/phap-luat/bi-bac-don-tranh-chap-dat-kien-quyet-dinh-nao-445155.html, (truy cập ngày 25/5/2015)

59 Ngọc Hà (2015), Tòa án cấp huyện không “xử” được chủ tịch huyện, nguồn: Báo Pháp

http://vov.vn/phap-luat/toa-cap-huyen-khong-duoc-xu-chu-tich-ubnd-huyen-394357.vov, (truy cập ngày 15/05/2015)

60 Ngọc Mỹ (2015), Kinh nghiệm giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân TP Hồ

04/06/2015)

61 Phóng viên Nội chính (2013), Khởi kiện, xét xử án hành chính còn lăm gian truân,

http://baoquangngai.vn/channel/2034/201311/khoi-kien-xet-xu-an-hanh-chinh-con-lam-gian-truan-2275763/, (truy cập ngày 05/5/2015)

62 Lê Minh Toàn (2015), “Khởi kiện hành chính: những rào cản khó vượt”, nguồn: Báo

http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/khoi-kien-hanh-chinh-nhung-rao-can-kho-vuot-114800.html, (truy cập ngày 29/6/2015)

63 Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao (2012), Một số bài học rút ra từ việc giải quyết các vụ án hành chính, Tham luận tại Hội nghị triển khai công tác năm 2013 của ngành Tòa án nhân dân

64 Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao (2014), Những sai sót phổ biến và những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết vụ án hành chính, Tham luận tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2014

65 Tòa án nhân dân tối cao (2015), Tờ trình về dự án luật tố tụng hành chính (sửa đổi), Dự thảo số 3

66 Dương Hoán (2010), “Hoạt động xét xử các loại viêc hành chính trong hệ thống Tòa án của Việt Nam qua thực tiễn TP Hồ Chí Minh”, Tham luận tại Hội thảo khoa học Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế Việt Nam hiện nay

Trang 18

2010”, Kỷ yếu tọa đàm khoa học Pháp luật về giải quyết tranh chấp hành chính ở Việt Nam, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

68 Nguyễn Cảnh Hợp (2010), “Tổ chức hệ thống tài phán hành chính ở Việt Nam: thực trạng và các phương án đổi mới”, tham luận tại Hội thảo khoa học Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế Việt Nam hiện nay

69 Trương Đắc Linh (2010), “Các cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam hiện nay: khả năng và sự lựa chọn”, Tham luận tại Hội thảo khoa học Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế Việt Nam hiện nay

Trang 19

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Xét xử sơ thẩm trong tố tụng nói chung và TTHC nói riêng được xem là một trong những giai đoạn rất quan trọng, là cấp xét xử đầu tiên bắt buộc khi Tòa án tiến hành xem xét, thụ lý và giải quyết vụ án Điều này đã được khẳng định tại Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gọi tắt là Hiến pháp 2013) có quy định TAND trong quá trình xét xử phải đảm bảo thực hiện hai cấp xét xử đó là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp 2013 tại Điều 6 Luật Tổ chức TAND năm 2014 có quy định:

“bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm” và Điều 19 Luật TTHC về “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” Như vậy, việc tìm hiểu về khái niệm “xét xử sơ thẩm” trong

pháp luật TTHC của Việt Nam nhằm để khái quát được bản chất, vai trò của xét xử

sơ thẩm và làm cơ sở để nghiên cứu thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong

TTHC ở Việt Nam

Theo Từ điển Luật học “xét xử” là “hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm

vụ của Tòa án Các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử Mọi bản án do các tòa án tuyên phải qua xét xử”1; xét xử

còn được phân theo cấp độ xét xử gồm có: “xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử

sơ thẩm đồng thời chung thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm”; hay theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông thì: “xét xử” là “xem xét và xử các

vụ án”2 Trong khi đó, khái niệm “sơ thẩm” được Từ điển Tiếng Việt phổ thông

học thì cho rằng “sơ thẩm” là “lần đầu tiên đưa một vụ án ra xét xử tại một Tòa án

có thẩm quyền”4 Mặc dù, Từ điển không đưa ra một khái niệm cụ thể về xét xử sơ thẩm mà đưa ra từng khái niệm riêng biệt về “xét xử”, “sơ thẩm” nhưng khi gắn kết

từng khái niệm trên có thể hiểu: xét xử sơ thẩm là hoạt động của Tòa án cấp thấp

1 Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội, tr.576

2 Từ điển Tiếng Việt phổ thông (2002), Viện ngôn ngữ học, Nxb TP.HCM, tr.1057

3 Từ điển Tiếng Việt phổ thông (2002), Viện Ngôn ngữ học, Nxb TP.HCM, tr.796

4 Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển bách Khoa Hà Nội, tr.434

Trang 20

nhất lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử hoặc “Tòa án xét xử sơ thẩm là Tòa án cấp thấp nhất” Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách ghép các khái niệm riêng biệt thông qua

từ điển này sẽ không chính xác, gây ra cách hiểu sai về cấp tổ chức Tòa án ở nước

ta hiện nay Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức TAND thì TAND được

tổ chức theo 4 cấp: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện Trong đó, Tòa án xét xử theo thủ tục sơ thẩm được giao về cho Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh Chính vì thế cần có một khái niệm rõ ràng và chính xác hơn về xét xử sơ thẩm

Giáo trình Luật TTHC Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái

niệm: “Xét xử sơ thẩm là hoạt động xét xử ở cấp Tòa thứ nhất do tòa án có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật”5 Với cách đưa ra khái niệm này đã phần nào khắc phục được những nhược điểm của khái niệm được suy ra bằng cách ghép nối các từ ngữ thông qua Từ điển Theo khái niệm của Giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội có thể hiểu khái quát về xét xử sơ thẩm mang những đặc điểm sau:

thứ nhất, là “hoạt động xét xử ở Tòa án cấp thứ nhất” Tòa án cấp thứ nhất được

hiểu là Tòa án đầu tiên thực hiện quyền xét xử đó có thể là Tòa án cấp huyện hoặc cũng có thể là Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét, thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm điều này là hoàn toàn phù hợp với cách tổ chức hệ thống TAND

hiện nay; thứ hai, là hoạt động thuộc thẩm quyền của Tòa án, trong hệ thống tổ

chức bộ máy nhà nước thì Tòa án là cơ quan duy nhất được trao quyền và thực hiện quyền xét xử, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, chỉ có Tòa án mới có quyền đưa ra các bản án, quyết định để giải quyết vụ án và việc thực hiện thẩm quyền này của Tòa án phải tuân thủ đúng trình

tự, thủ tục và phạm vi quyền hạn mà pháp luật quy định Bên cạnh đó thì theo Giáo trình Luật TTHC Việt Nam của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh có

đưa ra khái niệm như sau: “xét xử sơ thẩm được hiểu là thủ tục xét xử sơ thẩm trong trường hợp Tòa án có thẩm quyền lần đầu tiên sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử” 6 Trên cơ sở khái niệm này, xét xử sơ thẩm được tiếp cận trên hai nội dung

sau: thứ nhất, là thủ tục lần đầu tiên đưa vụ án ra xem xét tại Tòa án có thẩm quyền; thứ hai, giai đoạn được tiến hành ngay sau các giai đoạn khởi kiện, thụ lý và có

5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr.310

6 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức

– Hội Luật gia Việt Nam, tr.290

Trang 21

quyết định đưa vụ án ra xét xử Điều này, nhằm giúp khẳng định “xét xử sơ thẩm” cần được hiểu là một cấp xét xử lần đầu tiên đưa vụ án ra giải quyết tại phiên tòa và

là thủ tục bắt buộc theo đúng trình tự TTHC để giải quyết vụ án và nhằm giúp phân biệt với xét xử sơ thẩm được tiến hành sau khi bản án, quyết định sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm hủy và giao cho Tòa án cấp

sơ thẩm xét xử lại Như vậy, chúng tôi nhận thấy quan điểm giáo trình của hai trường trên điều đã chỉ ra rằng xét xử sơ thẩm là hoạt động của Tòa án có thẩm quyền và cũng là cấp xét xử lần đầu tiên trong quá trình đưa vụ án ra Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Tuy nhiên, thì cả hai quan điểm của Giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đều chưa làm rõ cụm

từ “xét xử” khi lặp lại xét xử sơ thẩm là “hoạt động xét xử của Tòa án” Trên cơ sở phân tích và nghiên cứu các quan điểm khác nhau về “xét xử sơ thẩm” chúng tôi xin

đưa ra khái niệm như sau: “Xét xử sơ thẩm là việc lần đầu tiên Tòa án có thẩm quyền đưa vụ án ra xem xét và giải quyết tại phiên tòa sơ thẩm theo trình tự, thủ tục luật định”

Tựu chung lại, xét xử sơ thẩm là một giai đoạn hết sức quan trọng trong quá trình xét xử vụ án nói chung và xét xử VAHC nói riêng Việc đảm bảo xét sử sơ thẩm không chỉ nhằm thực thi pháp luật trên thực tế mà thông qua đó còn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, thể hiện vai trò của Tòa án trong lĩnh vực Tư pháp và bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật Do đó, việc đưa ra khái niệm xét xử sơ thẩm không chỉ giúp xác định được tính chất, vị trí, vai trò của Tòa án khi đưa vụ án ra xét xử cũng như tính pháp lý của các bản án, quyết định của Tòa án mà còn giúp xác định được đúng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để có những trình

tự, thủ tục đúng quy định pháp luật nhằm hạn chế xét xử không đúng thẩm quyền, sai thủ tục dẫn đến hủy án gây oan sai, tốn công sức, tiền bạc của Nhà nước cũng như của người dân

1.1.2 Khái niệm về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Khi tiếp cận về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC, chúng tôi nhận thấy hiện nay không có một quy định riêng về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND mà Luật TTHC chỉ quy định chung về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án tại Điều 28, Điều 29, Điều 30 Do vậy, trước khi đưa ra khái niệm về thẩm

Trang 22

quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam, chúng tôi sẽ tiếp cận trên cơ sở quy định về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND Tuy nhiên, đây là một vấn đề hết sức phức tạp, pháp luật TTHC lại không có một hướng dẫn rõ ràng,

mà chỉ là sự quy định một cách chung nhất về thẩm quyền xét xử của Tòa án được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau như: thẩm quyền về phạm vi quyền thụ lý, xét xử của TAND và cả thẩm quyền bao gồm quyền hạn của Tòa án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết VAHC Vì thế mà hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra để định nghĩa về thẩm quyền xét xử hành chính Cụ thể:

Quan điểm thứ nhất: “thẩm quyền xét xử hành chính là phạm vi thực hiện quyền lực nhà nước cuả tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp giữa một bên là công dân, tổ chức và bên kia là cơ quan công quyền, theo thủ tục TTHC nhằm bảo đảm và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” 7 Quan điểm này được xem xét cơ sở quyền hạn của Tòa án và cả nhiệm

vụ, trách nhiệm của tòa hành chính trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, nhấn mạnh mục đích xét xử hành chính của TAND là xem xét và phán quyết tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC phải bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Quan điểm thứ hai: “Thẩm quyền xét xử hành chính là phạm vi quyền của Tòa

án trong việc thụ lý và giải quyết các VAHC” 8 Hình thức tồn tại của thẩm quyền là phạm vi quyền cụ thể được pháp luật TTHC quy định đối với Tòa án trong quá trình thụ lý và giải quyết VAHC Thẩm quyền xét xử hành chính bao gồm: (1) thẩm quyền theo loại việc bị khiếu kiện; (2) thẩm quyền theo cấp Tòa án; (3) thẩm quyền

Nguyên nhân của sự khác nhau trong việc đưa ra các quan điểm về thẩm quyền xét xử hành chính là do xuất phát từ cách tiếp cận của từng học giả, nhà nghiên cứu Hiện nay, thẩm quyền xét xử hành chính của TAND được hiểu theo hai cách sau: thứ nhất, theo nghĩa rộng thì thẩm quyền xét xử của Tòa án là bao gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi, quyền hạn của Tòa án trong việc giải quyết vụ án; thứ hai, theo

7 Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr.94

8 Đại học Luật thành phố Hồ Chính Minh (2012), Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb Hồng

Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.86

9 Nguyễn Thị Thương Huyền (chủ biên), “Luật Tố tụng hành chính Việt Nam – Những nội dung cơ bản, câu hỏi và tình huống”, Nxb Lao động, tr.18

Trang 23

nghĩa hẹp thẩm quyền xét xử hành chính của TAND là phạm vi quyền của Tòa án khi tiến hành giải quyết vụ án Đối với quan điểm thứ nhất, các nhà học giả khi nghiên cứu về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án đã tiếp cận ở nghĩa rộng còn ngược lại, ở quan điểm thứ hai thì được tiếp theo nghĩa hẹp do vậy khi đưa ra khái niệm về vấn đề này lại có sự khác nhau Nhưng, qua nghiên cứu thì hiện nay quan điểm về xét xử hành chính được nhiều sách, giáo trình cũng như nhiều học giả đồng tình nhất kể cả trong Luật Hình sự, Luật Dân sự đó là thẩm quyền xét xử của Tòa án cần được hiểu theo nghĩa hẹp đó là phạm vi quyền của Tòa án khi tiến hành giải quyết VAHC

Đồng tình với quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc xác định thẩm quyền xét xử hành chính là nhằm phân biệt với quyền hạn của Tòa án trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và phân biệt với quyền hạn của Hội đồng xét xử khi xét xử đưa ra phán quyết, quyết định giải quyết VAHC Bên cạnh đó, thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án còn thể hiện ở phạm vi quyền của Tòa án chỉ được thụ lý giải quyết VAHC khi có đơn khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và trả lời câu hỏi Tòa án nào sẽ có thẩm quyền xét xử vụ án đó theo trình tự, thủ tục luật định, vì không phải mọi Tòa án đều có thẩm quyền giải quyết mọi vụ việc theo thủ tục TTHC hoặc không phải Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử hành chính giống nhau Ví dụ như: các quyết định mang tính quy phạm thì không thuộc đối tượng khởi kiện do đó Tòa án không có thẩm quyền thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện hay các QĐHC, HVHC của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thì Tòa án cấp huyện không được quyền thụ lý giải quyết…

Tóm lại, việc đi phân tích và trình bày về xét xử sơ thẩm và thẩm quyền xét xử hành chính nhằm để làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam

Như đã trình bày, hiện nay chỉ có TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện là được quyền xét xử sơ thẩm VAHC; điều đó có nghĩa là khi cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện của mình thì chỉ có thể kiện ở TAND cấp huyện hoặc Tòa hành chính TAND cấp tỉnh để yêu cầu Tòa án giải quyết Vậy câu hỏi đặt ra là khi nào người dân kiện tại TAND cấp huyện, khi nào kiện tại TAND cấp tỉnh, có phải vụ việc nào cũng được Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục TTHC hay không, liệu rằng khi tiến hành khởi kiện VAHC người khởi kiện có quyền lựa chọn

Trang 24

Tòa án cùng cấp để giải quyết không… Việc đi trả lời những câu hỏi này chính là quá trình đi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam Trên cơ sở đó, pháp luật TTHC cũng đặt ra yêu cầu là khi giải quyết một vụ

án Tòa án cần phải thực hiện từng bước một, trường hợp không tuân thủ quy định trên thì vụ án đó được xem là không thực hiện đúng trình tự, thủ tục luật định và kết quả của bản án đó không được công nhận có thể bị hủy, bị sửa… Do đó, để thực hiện chính xác từng bước khi tiến hành khởi kiện cũng như thụ lý vụ án, người khởi kiện và Tòa án cần phải dựa vào các căn cứ để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục TTHC Tương tự, như thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án, thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC cũng có thể được

hiểu theo hai cách như sau: thứ nhất, thẩm quyền về hình thức là quyền xét xử và phạm vi xét xử sơ thẩm VAHC của Tòa án (giới hạn xét xử); thứ hai, thẩm quyền

về nội dung là quyền hạn giải quyết, quyết định những vấn đề được xem xét khi xét

xử sơ thẩm VAHC Việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam có thể được tiến hành theo cách thứ nhất, hoặc cách thứ hai, dù

là cách nào cũng không sai, tùy vào quan điểm và nội dung cũng như đối tượng nghiên cứu mà có những cách tiếp cận để làm rõ vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên, khi nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND người ta thường nghiên cứu

về hình thức; tức là phải xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án đối với vụ việc xảy ra, thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa Tòa án cùng cấp với nhau, thẩm quyền xét xử vụ án của Tòa án cụ thể hay còn gọi là thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ Còn đối với thẩm quyền về nội dung, thì lại ít được đề cập đến, bởi lẽ thẩm quyền về nội dung còn có thể hiểu là quyền hạn mà Tòa án có được trong quá trình giải quyết VAHC theo thủ tục sơ thẩm mà chính xác là quyền hạn cụ thể của Thẩm phán, của Chánh án Tòa án, thẩm quyền của Hội đồng xét xử,

Từ các lý lẽ đó, chúng tôi đưa ra khái niệm về thẩm quyền xét xử hành chính

của Tòa án như sau: “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo pháp luật TTHC

là phạm vi quyền của Tòa án trong việc thụ lý, giải quyết VAHC theo thủ tục sơ thẩm”

Như vậy, khi xem xét về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam chúng ta cũng cần phân biệt rõ hai cụm từ sau để tránh trường hợp đồng nhất một cách không chính xác giữa hai khái niệm thẩm quyền xét xử và quyền hạn

Trang 25

xét xử của Tòa án: một là, “thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo pháp luật tố tụng hành chính” và hai là “quyền hạn giải quyết VAHC của Tòa án cấp sơ thẩm”

Đối với thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo pháp luật TTHC đặt ra yêu cầu phải xác định xem Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ việc đó hay không, và nếu có thì

sẽ là Tòa án cấp tỉnh, hay cấp huyện có thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ việc đó Còn đối với quyền hạn giải quyết VAHC của Tòa án cấp sơ thẩm là thẩm quyền giải quyết, đưa ra những phán quyết, quyết định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn thụ lý và giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Do vậy, khi nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam chúng tôi chỉ tìm hiểu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo loại việc

bị khiếu kiện, theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích, trình bày những đặc điểm về mặt pháp lý và thực tiễn xét xử VAHC của TAND để xem xét những ưu và khuyết từ quy định của luật và thực tiễn thực hiện việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Khi nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy rằng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn là những căn cứ quan trọng nhằm giải quyết cho những câu hỏi đặt ra xoay quanh vấn đề này Ví dụ: dựa vào cơ sở lý luận sẽ giúp cho chúng ta trả lời những câu hỏi như căn cứ vào đâu

mà các nhà lập pháp lại quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND về các

vụ việc tranh chấp giữa một bên là cơ quan nhà nước, một bên là người dân hay cơ

sở nào pháp luật lại có những quy định này, pháp luật quy định này có cần thiết với thực tiễn hay không? Hoặc đối với cơ sở thực tiễn sẽ giúp trả lời thực tiễn có cần như quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND hay không?

Và từ những nhu cầu của thực tiễn các nhà lập pháp cần có những quy định như thế nào để giải quyết và đáp ứng yêu cầu của xã hội… Chính sự gắn bó chặt chẽ giữa

cơ sơ lý luận và cơ sơ thực tiễn, do vậy khi nghiên cứu về vấn này để bắt buộc chúng ta phải nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn để từ đó

có sự đánh giá chính xác được vai trò, vị trí và tính chất quan trọng của thẩm quyền

xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam

Trang 26

1.2.1 Cơ sở lý luận của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Thứ nhất, Tòa án khi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải bảo vệ và bảo đảm được các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước

Theo Khoản 2 Điều 106 Hiến pháp 2013 có quy định: “TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Xuất phát từ những quy định của Hiến pháp, pháp luật TTHC cũng có

những quy định về trình tự, thủ tục để yêu cầu Tòa án khi xác định thẩm quyền xét

xử sơ thẩm và quá trình xét xử sơ thẩm VAHC phải tuân thủ theo từ đó đưa ra những quyết định hợp pháp buộc các bên tham đương sự trong VAHC phải chấp hành Trong đó, yêu cầu này trở thành một nguyên tắc quan trọng để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC Bởi vì, khi một VAHC mà được đưa

ra xét xử sơ thẩm ở Tòa án thì trước hết sẽ đảm bảo được quyền khởi kiện của người khởi kiện – một trong những quyền mà pháp luật cho phép khi bị các khiếu kiện hành chính của cơ quan nhà nước xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Từ việc đảm bảo quyền khởi kiện, khi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC và giải quyết VAHC thì bắt buộc Tòa án với trách nhiệm, nghĩa vụ của mình phải thực hiện quyền xét xử, quyền tư pháp độc lập, tuân thủ pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân Bên cạnh đó, một khi thẩm quyền xét xử sơ thẩm được xác định một cách chính xác, đúng với quy định của pháp luật thì sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và

từ đó bảo vệ được các nguyên tắc, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta

Thứ hai, bảo đảm tính thống nhất trong quá trình xác định thẩm quyền xét

xử sơ thẩm của Tòa án

Đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật là điều mà bất kì quốc gia nào cũng muốn hướng đến Vì pháp luật có dễ dàng thực hiện, có áp dụng được trong đời sống xã hội, có tồn tại lâu dài hay không chính là nhờ vào sự thống nhất, chặt chẽ của cả một hệ thống pháp luật Ở nước ta, dù đối tượng điều chỉnh, quan hệ pháp luật của từng ngành luật là khác nhau nhưng đều được xây dựng dựa vào bản chất của Nhà nước đó là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” cũng như thực tiễn

Trang 27

đời sống, trình độ của xã hội và những quan hệ quốc tế với các nước trên thế giới Trước những sự vận động không ngừng phát triển của các quan hệ xã hội và nhu cầu của đất nước việc đảm bảo tính thống nhất trong quy định của pháp luật TTHC

về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND càng phải được bảo đảm và ngày càng hoàn thiện hơn Chính vì thế, trong phạm vi thực hiện xác định thẩm quyền xét xử

sơ thẩm của TAND trong TTHC cũng phải bảo đảm được yêu cầu này, điều đó thể hiện qua việc thống nhất khi giải quyết các khiếu kiện hành chính Cụ thể: bất kì một VAHC nào cũng phải được dựa trên ba căn cứ khi xác định thẩm quyền xét xử

sơ thẩm của Tòa án đó là thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo loại việc, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo cấp Tòa án và thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo lãnh thổ để xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND Việc thực hiện xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo pháp luật TTHC được tiến hành một cách chính xác, tuân thủ pháp luật thì sẽ góp phần khẳng định được những quy định của pháp luật đã đi vào thực tế, áp dụng được vào thực tiễn và được xã hội thừa nhận Ngoài ra, tính thống nhất còn thể hiện khi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong TTHC thì không thể một vụ việc lại thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC cụ thể ở hai Tòa án khác nhau, tức là một người khởi kiện lại được hai Tòa án có thể là được thụ lý xét xử sơ thẩm ở Tòa án huyện A, rồi còn được thụ lý xét xử theo thủ tục sơ thẩm bên một huyện B khác làm cho sự không thống nhất khi giải quyết vụ án khi đưa ra phán quyết, cũng như là không thống nhất trong quy định của pháp luật dẫn đến sự áp dụng luật vào thực tiễn thiếu chính xác gây nhiều cách hiểu luật khác nhau Chính vì vậy, khi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án thì cần có cách hiểu về quy định của luật một cách thống nhất chặt chẽ, từ đó có những phán quyết chính xác, hiệu quả, công bằng nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân, bảo vệ pháp luật, và đảm bảo được sự tồn tại bền chặt của pháp luật Đặc biệt, sự thống nhất còn thể hiện qua các quy định của pháp luật về TTHC cũng như quy định của luật chuyên ngành khác có liên quan, trên cơ sở thống nhất của pháp luật về quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC tạo điều kiện cho việc áp dụng luật được chính xác và hiệu quả

Thứ ba, bảo đảm sự vô tư, khách quan của Tòa án trong quá trình xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC

Trang 28

Sự vô tư của Tòa án trong việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC có nghĩa là Tòa án trong quá trình thụ lý, giải quyết VAHC, trước hết phải đảm bảo được sự khách quan, công bằng, và chính xác khi tiến hành xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ việc trên, tránh trường hợp là áp dụng sai quy định của pháp luật, xem xét các vụ việc không đúng thẩm quyền, hoặc là vụ việc đó thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND địa phương khác, nhưng vẫn tiến hành thụ lý, xét xử dẫn đến bản án được tuyên không đúng pháp luật Đồng thời, sự công bằng khách quan thể hiện ở việc không “tránh né” giải quyết VAHC,

có những hướng dẫn người dân lựa chọn Tòa án khác trong trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án… Bên cạnh đó, trong quá trình xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phải độc lập, không bị ràng buộc bất cứ một vấn đề gì tác động từ bên ngoài khi tham gia vào xét xử VAHC và chỉ có tuân thủ pháp luật Bởi lẽ, Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh là hai cơ quan nhân danh nhà nước được xét xử theo thủ tục sơ thẩm VAHC, thực hiện quyền tư pháp, giải quyết các tranh chấp pháp lý giữa một bên là cơ quan công quyền và một bên là người dân Chính vì cách thức tổ chức TAND và tổ chức cơ quan hành chính có mối quan hệ gắn bó với nhau nên dẫn đến hệ quả khi Tòa án tiến hành xác định thẩm quyền xét

xử sơ thẩm của TAND trong TTHC và giải quyết VAHC còn chịu mối quan hệ ràng buộc và thậm chí là bị điều chỉnh bởi cơ quan nhà nước địa phương trong quá trình hoạt động của mình Do đó, mà nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của Tòa án khi xét xử

sơ thẩm những khiếu kiện do chính những cán bộ, cơ quan của địa phương ban hành

là một yêu cầu rất cần thiết và được đặt lên hàng đầu khi tiến hành xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND và giải quyết vụ án Có rất nhiều bản án sơ thẩm của Tòa án các cấp bị hủy, bị sửa khi được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm; hoặc

có thể bị xét xử lại mà nguyên nhân một phần là do sự không vô tư, khách quan của các Thẩm phán khi xét xử Như vậy, đây được xem như một nguyên tắc quan trọng khi hoạt động xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC, đảm bảo sự vô tư, khách quan khi xét xử nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người khởi kiện, khẳng định vai trò của Tòa án đối với xã hội, và góp phần tạo ra một cơ chế nhằm giải quyết, kiểm tra đối với hoạt động quản lý hành chính của cơ quan nhà nước

Thứ tư, bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án khi giải quyết VAHC

Trang 29

Một VAHC khi được giải quyết bằng con đường Tòa án thì có thể trải qua những bước rất quan trọng như: khởi kiện, thụ lý, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm… trong đó, xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên đưa vụ án ra giải quyết thông qua một phiên tòa sơ thẩm Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC tức là khi khởi kiện ra Tòa án và khi thụ lý giải quyết VAHC đó cần xác định khiếu kiện có tranh chấp có phải là đối tượng giải quyết của Tòa án hay không? Và dựa trên cơ sở đối tượng, cũng như nơi cứ trú, nơi làm việc của người khởi kiện xác định Tòa án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án cấp huyện hay Tòa án cấp tỉnh Trên cơ sở đó,Tòa án khi xét xử sơ thẩm VAHC sẽ đưa ra những phán quyết, quyết định cuối cùng nhằm giải quyết VAHC Tuy nhiên cũng cần lưu

ý rằng, phán quyết của Tòa án khi xét xử sơ thẩm VAHC hay nói cách khác là bản

án sơ thẩm không có giá trị chung thẩm ngay lập tức mà phải có thời hạn nhất định, trong thời hạn đó nếu không có kháng cáo, kháng nghị theo quy định thì mới có giá trị pháp lý; trừ một số trường hợp quyết định, bản án sơ thẩm phải thi hành ngay

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Thứ nhất, mục đích của việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC là xem xét vụ việc có thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án hay không

và Tòa án nào sẽ giải quyết vụ án đó, tạo một cơ chế hữu hiệu bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân

Theo Luật Tổ chức TAND thì Tòa hành chính chuyên trách thuộc TAND cấp tỉnh và các Thẩm phán chuyên trách ở TAND cấp huyện được quyền xét xử các VAHC theo thủ tục sơ thẩm, còn đối với TAND cấp cao và TAND tối cao không được xét xử VAHC theo thủ tục sơ thẩm Trên cơ sở đó, pháp luật TTHC quy định

rõ những khiếu kiện nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa cấp huyện và những khiếu kiện hành chính nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa hành chính TAND cấp tỉnh nhằm mục đích phân chia thẩm quyền giữa các cấp Tòa, tránh trường hợp Tòa cấp trên có quá nhiều vụ án trong khi Tòa cấp dưới không có việc

để làm Ngoài ra, nhiệm vụ của Tòa án khi giải quyết VAHC chỉ được xem xét giải quyết những vụ án mà có đối tượng bị khởi kiện là những QĐHC, HVHC trong khuôn khổ pháp luật cho phép, ngoài những đối tượng đó Tòa án không được quyền thụ lý, giải quyết theo thủ tục TTHC nhằm hạn chế sự can thiệp sâu vào hoạt động

Trang 30

của bộ máy hành chính Như vậy, khi xem xét thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC nghĩa là phải xem xét dựa trên căn cứ đối tượng bị khởi kiện có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không (thẩm quyền theo loại việc); Tòa án ở cấp nào có thẩm quyền xét xử sơ thẩm (thẩm quyền theo lãnh thổ và cấp Tòa án) Từ việc xác định đúng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC không chỉ đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử mà còn tạo ra một cơ chế hữu hiệu để người dân thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình

Thứ hai, hiệu quả của thực tiễn xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm thông qua việc xác định đúng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam

Hiện nay, con đường lựa chọn giải quyết khiếu kiện hành chính thông qua hoạt động xét xử của Tòa án ngày càng tăng và được xem là phương tiện hữu hiệu

để người đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trên thực tế từ khi Tòa hành chính được thành lập, số lượng VAHC khởi kiện ở các Tòa án cấp sơ thẩm của cấp huyện và cấp tỉnh tăng lên một cách đáng kể, và Tòa án các cấp thông qua việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm đã thể hiện được vai trò của mình trong quá trình thụ lý, giải quyết VAHC, trên cơ sở đó có những phán xét đúng đắn buộc cơ quan nhà nước phải thực hiện các quyết định, bản án trên thực tế, tạo được niềm tin và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Trong giai đoạn từ đầu năm 2006 đến cuối năm

2009 tổng số vụ án TAND cấp huyện đã thụ lý là 2407 vụ trong đó số vụ án Tòa án

đã giải quyết là 1773 vụ; số vụ án TAND cấp tỉnh đã thụ lý 644 vụ, Tòa án đã giải

chính qua các năm được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết tăng liên tục qua các năm, điều đó cho thấy được vai trò của Tòa án trong quá trình giải quyết VAHC, một trong những thành quả đó là do việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND đúng trình tư, thủ tục để từ đó giải quyết được những tranh chấp trong quan hệ chấp hành – điều hành và việc quy định thẩm quyền xét xử hành chính của TAND nói chung và thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC

nói riêng là điều hết sức cần thiết và thực tiễn

Trang 31

Thứ ba, xuất phát mối quan hệ trong cách thức tổ chức giữa hệ thống TAND có thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC với cơ quan hành chính nhà nước

Ở Việt Nam, Tòa hành chính không được tổ chức một cách độc lập mà được tổ chức trực thuộc nhánh Tòa của TAND và cấp Tòa án trùng với cấp tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước; tức là mỗi địa phương từ cấp huyện trở lên đều có các Thẩm phán chuyên trách có thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC còn Tòa hành chính thuộc TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và phúc thẩm VAHC của Tòa

án sơ thẩm cấp dưới trực tiếp Chính vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm ngoài chịu sự quản

lý của Tòa án cấp trên trực tiếp thì theo cách thức tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay Tòa án cấp sơ thẩm còn có mối quan hệ chặt chẽ với chính cơ quan nhà nước ở địa phương Bên cạnh đó, trong cách thức tổ chức của TAND hiện nay thì Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh có quyền xét xử sơ thẩm VAHC Do vậy, việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC là vấn đề hết sức phức tạp Cùng lúc phải giải quyết Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ việc xảy ra theo thủ tục TTHC hay không, tức là phải phân định thẩm quyền đối với vụ việc trên là theo TTHC hay tố tụng hình sự; tố tụng dân sự….; và tiếp tục là xác định thẩm quyền giải quyết VAHC theo thủ tục sơ thẩm là của Tòa án cấp huyện hay Tòa án cấp tỉnh Sau cùng là căn cứ vào các dấu hiệu như: nơi cư trú người khởi kiện hay nơi ban hành khiếu kiện hành chính hoặc trường hợp dựa vào nơi cư trú mà người khởi kiện không có nơi cư trú thì dựa vào căn cứ nơi ban hành để xác định được chính xác Tòa án cuối cùng có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án cụ thể trên thực tế Có thể thấy, chính từ sự phức tạp trong cách thức tổ chức và mối quan hệ giữa Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm với cơ quan quản lý nhà nước đã tạo sự phức tạp, buộc người khởi kiện cũng như Tòa án cần phải giải quyết chính xác đúng đắn, phù hợp

để vừa có thể giải quyết VAHC một cách hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm thời gian, và quá trình xác định thẩm quyền xét xử của TAND trong TTHC được chính xác, tránh trường hợp một vụ án lại có nhiều Tòa án cùng xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thậm chí là kết quả của bản án sơ thẩm được đưa ra khác nhau giữa các Tòa án, dẫn đến tranh chấp thẩm quyền giữa các Tòa án Với những yêu cầu từ thực tiễn xét xử vụ

án của Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc các nhà lập pháp phải có những cách xử lý phù hợp đúng đắn thông qua quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC ở Việt Nam

Trang 32

Thứ tư, việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC xuất phát từ việc bảo đảm sự thuận lợi cho người dân trong việc khởi kiện

Đảm bảo sự thuận lợi cho người dân trong quá trình khởi kiện VAHC là góp phần đảm bảo được quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật hiện nay Chính vì thế, khi thực hiện xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC, bắt buộc phải dựa vào cả ba căn cứ trên, từ đó không chỉ xác định đúng Tòa án có thẩm quyền, mà còn giải quyết được những nhu cầu của người dân về địa điểm, thời gian, tiền bạc, công sức sao cho hợp lý nhất Theo đó, với cách thức dựa vào nơi cư trú của người khởi kiện để làm sao người khởi kiện kiện các QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước một cách thuận tiện nhất; người khởi kiện có thể bị tác động bởi các khiếu kiện hành chính của một cơ quan nhà nước ở phạm vi địa giới hành chính khác, nhưng có quyền khởi kiện VAHC ra Tòa án ở địa phương mình đang cư trú yêu cầu giải quyết VAHC Sự thuận lợi đó, giúp người khởi kiện không phải tốn công sức duy chuyển đến nơi khác, tiết kiệm được chi phí đi lại trong quá trình thực hiện quyền khởi kiện của mình

1.3 Ý nghĩa của thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Qua những phân tích ở trên có thể thấy việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC có ý nghĩa rất quan trọng đối với những người tham gia tố tụng cũng như có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng và quản lý nhà nước Cụ thể:

1.3.1 Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện

Thứ nhất, giúp cá nhân, cơ quan, tổ chức xác định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo thủ tục TTHC để khởi kiện vụ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Pháp luật TTHC cho phép các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi bị xâm phạm về quyền và lợi ích bởi các khiếu kiện của cơ quan nhà nước đều được yêu cầu Tòa án bảo vệ bằng cách khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền Tuy nhiên, không phải mọi khiếu kiện của cơ quan nhà nước được quy định tại Điều 28 Luật TTHC bao gồm: các QĐHC, HVHC, khiếu kiện danh sách cử tri về bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh điều là loại việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo pháp

Trang 33

luật TTHC Ví dụ như những QĐHC, HVHC mang tính quy phạm hoặc thuộc phạm

vi bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, ngoại giao thì cá nhân, cơ quan, tổ chức không được quyền khởi kiện VAHC Điều này đồng nghĩa với việc khi một cá nhân, cơ quan, tổ chức tiến hành khởi kiện những loại việc không được quyền khởi kiện thì đối tượng đó sẽ không bị phán xét bởi Tòa án theo thủ tục TTHC Vì thế, muốn khởi kiện VAHC trước hết các cá nhân, cơ quan, tổ chức cần phải xem các đối tượng mà mình muốn khởi kiện có phải là loại việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo quy định của pháp luật TTHC hay không để tránh mất thời gian công sức đi khởi kiện mà loại việc không được quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật

Thứ hai, giúp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện đúng Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC

Theo đó, quy định hiện nay thì TAND các cấp địa phương bao gồm TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh đều có thẩm quyền xét xử VAHC Như vậy, với cách thức tổ chức hệ thống Tòa án hiện nay thì vai trò của việc xác định đúng Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC để thực hiện việc giải quyết vụ án là vô cùng phức tạp nhưng rất quan trọng khi tiến hành khởi kiện Bởi lẽ, pháp luật TTHC còn ràng buộc người khởi kiện thông qua thời hiệu khởi kiện, nếu trong trường hợp xác định sai thẩm quyền của Tòa án cấp sơ thẩm thì sẽ gây mất thời gian dẫn đến việc hết thời hiệu khởi kiện và mất quyền khởi kiện Chính vì thế, đảm bảo thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC có vai trò đối với người khởi kiện không chỉ đảm bảo được quyền khởi kiện, đảm bảo quyền lợi của mình mà còn tuân thủ những quy định của pháp luật TTHC

1.3.2 Đối với hoạt động tố tụng

Thứ nhất, là cơ sở để xác định đúng thẩm quyền xét xử của TAND theo thủ

Trang 34

“vi phạm thủ tục tố tụng” dẫn đến các bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm bị hủy

để xét xử lại, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên Đặc biệt, việc tuân thủ đúng căn cứ khi xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo pháp luật TTHC góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí cho hoạt động xét xử, nâng cao chất lượng bản án của Tòa án sơ thẩm, đảm bảo hiệu quả trong quá trình giải quyết VAHC

Thứ hai, là một trong những căn cứ quan trọng khi xem xét, kiểm tra việc

bảo đảm về mặt thủ tục tố tụng

Khi giải quyết các VAHC thì yêu cầu Tòa án phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục luật định và đặc biệt là xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHC thì Tòa án không được phép bỏ qua bất kì căn cứ nào trong ba căn cứ xác định thẩm quyền được nêu ở trên bởi lẽ, đấy là những cơ sở quyết định, là căn cứ quan trọng trong việc Tòa án xác định đúng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC; khi những VAHC được xét xử sơ thẩm không đúng ở Tòa án có thẩm quyền thì những bản án, quyết định sơ thẩm của những vụ án đó sẽ không được công nhận và quyền lợi của người các bên đương sự sẽ không được đảm bảo, tránh trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng dẫn đến hủy án xét xử lại gây mất thời gian, công sức, tiền bạc của Nhà nước và của người dân

1.3.3 Đối với hoạt động quản lý nhà nước

Thứ nhất, đảm bảo tính chính xác chặt chẽ và nâng cao hoạt động quản lý

hành chính Nhà nước

Xuất phát từ đặc trưng của mối quan hệ bất bình đẳng trong hoạt động quản

lý nhà nước, việc thành lập tòa hành chính để xem xét và phán quyết tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước và cán bộ nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện quyền lực công là điều rất quan trọng không chỉ nhằm thực hiện nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước đó là “quyền lực là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm tra giữa các cơ quan lẫn nhau”, mà còn khắc phục những hạn chế, tiêu cực xảy ra trong hoạt động quản lý hành chính Đồng thời, trao cho Tòa hành chính có quyền xét xử các QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước thì bắt buộc các cơ quan cũng như cán bộ có thẩm quyền phải thận trọng với những quyết định, hành vi của mình khi áp dụng pháp luật trên thực tế Từ đó, hoạt động quản lý hành

Trang 35

chính Nhà nước sẽ được nâng cao, đảm bảo sự chặt chẽ thống nhất khi áp dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước

Thứ hai, tạo điều kiện cho người bị kiện sửa chữa sai lầm trong quá trình

thực hiện quyền quản lý nhà nước

Thông qua cơ chế xét xử đối với các khiếu kiện hành chính của cơ quan nhà nước, đặc biệt nhờ công tác xét xử sơ thẩm của TAND thể hiện qua các quyết định, bản án của Tòa án, cơ quan quản lý hành chính sẽ có điều kiện để sửa chữa những sai phạm của mình khi thực hành công vụ, nhìn nhận những khuyết điểm khi áp dụng luật, phát hiện những hạn chế, yếu kém trong công tác quán lý nhà nước và loại bỏ những tiêu cực, những cán bộ quan liêu, tham nhũng, thiếu trách nhiệm, cẩu thả… để hướng tới việc xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, góp phần trong công tác cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, đảm bảo được sự thượng tôn pháp luật, phát huy tinh thần tối thượng của Hiến pháp và pháp luật, buộc Tòa án chỉ tuân thủ pháp luật, độc lập và thực hiện quyền hạn trong thẩm quyền luật định, còn về phía các cơ quan nhà nước và người

có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cũng phải đặt mình dưới pháp luật

Với những ý nghĩa to lớn trong việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC đã đặt ra yêu cầu khi tiến hành xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND đối với từng VAHC cụ thể phải đảm bảo thực hiện một cách chính xác, khách quan Đồng thời khẳng định sự ra đời của Luật TTHC cùng những quy định của pháp luật TTHC về thẩm quyền xét xử của TAND, đặc biệt là những quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm là một bước tiến vượt bậc, quan trọng và vô cùng cần thiết nhằm để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Đặc biệt, quy định này góp phần to lớn vào việc thực hiện “Chiến lược cải cách tư pháp” của Bộ chính trị, tiến tới xây dựng một nền tư pháp vững mạnh, độc lập khi xét xử VAHC, mở rộng thẩm quyền xét xử cho Tòa án, xây dựng một bộ máy nhà nước chặt chẽ, trong sạch và vững mạnh

1.4 Những quy định chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

Theo quy định của pháp luật TTHC hiện nay thì không có điều luật quy định trực tiếp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính mà chỉ có những điều khoản quy định chung về thẩm quyền xét xử của

Trang 36

TAND Tuy nhiên như đã phân tích trong phần trên thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC được hiểu là quyền của TAND trong việc thụ lý và giải quyết các khiếu kiện hành chính theo thủ tục xét xử sơ thẩm Do vậy có thể thấy, quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC cũng được pháp luật TTHC quy định tại các điều khoản về thẩm quyền nói chung của Tòa án Theo quy định tại các điều luật: Điều 28, Điều 29, Điều 30 Luật TTHC thì có thể thấy thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC được tiếp cận dưới ba góc độ như chúng tôi đã đề cập trong phần trên, bao gồm: thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo loại bị khiếu kiện, thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo cấp Tòa án, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo lãnh thổ

1.4.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân theo loại việc bị khiếu kiện

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo loại việc bị khiếu kiện là một trong những căn cứ đầu tiên mà Tòa án cần phải xem xét khi tiến hành thụ lý vụ án

để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm Dựa vào căn cứ này sẽ trả lời cho câu hỏi loại khiếu kiện trong đơn khởi kiện có thuộc thẩm quyền xét xử của TAND theo thủ tục TTHC hay không Theo đó, tại Điều 28 Luật TTHC quy định những loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của TAND theo thủ tục TTHC bao gồm: QĐHC, HVHC; quyết định kỷ luật buộc thôi việc; quyết định giải quyết khiếu nại

về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND…Như vậy, đây cũng chính là những loại việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo thủ tục TTHC Với quy định tại Điều 28 và Điều 3 Luật TTHC hiện nay thì có thể thấy không phải các loại việc được liệt kê trên đều thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo thủ tục TTHC mà chúng phải đáp ứng được nhiều điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật

Trang 37

Một là, đối với QĐHC Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật TTHC quy

định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần với một hoặc một số đối tượng cụ thể” Từ quy định trên có thể thấy

QĐHC thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án phải thỏa mãn những đặc điểm sau: (1) Hình thức của QĐHC được thể hiện dưới dạng văn bản Khẳng định này là

thông qua mệnh đề được giải thích tại Khoản 1 Điều 3 Luật TTHC đó là “Quyết định hành chính là văn bản… quyết định về một vấn đề…” Mặc dù pháp luật

TTHC không quy định cụ thể về các loại văn bản mà cơ quan quản lý hành chính ban hành hay khái niệm như thế nào được xem là văn bản mà QĐHC được thể hiện, nhưng ưu điểm cơ bản của mệnh đề nêu trên là nó được hiểu rằng bất cứ văn bản nào, dù dưới hình thức pháp lý hay không pháp lý (quyết định công văn, kết luận,

thông báo…) nếu “quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể” đều là

tin được phổ biến rộng rãi thì khái niệm “văn bản” cần được hiểu theo nghĩa rộng chứ không nên hiểu theo nghĩa hẹp là theo văn bản giấy, theo đó các tập tin điện tử, quyết định gửi qua email, fax, công điện,… hoặc những QĐHC thể hiện dưới hình thức như thông báo, công văn, kết luận do cơ quan hành chính nhà nước ban hành

có chứa đựng nội dung của QĐHC thì vẫn được xem là thể hiện dưới hình thức văn

và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó Với quy định trên có thể thấy chủ thể ban hành QĐHC có phạm vi rất rộng, đây không chỉ là quyết định của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước mà còn là quyết định, hành vi của các cơ quan nhà nước, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan này Theo chúng tôi, việc Luật TTHC quy định như trên là xuất phát từ hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện nay, đó là hoạt động quản lý nhà nước được giao cho nhiều đối tượng khác nhau, được tổ chức với hệ thống từ trung ương đến địa phương, số lượng cán bộ nhà nước chiếm một con số rất lớn, và thực tế

12 Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Tố hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nôi, tr.747

13 Khoản 1 Điều 1 Nghị Quyết 02/2011/NQ-HĐTP, Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính

Trang 38

không chỉ có cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước mới có những sai phạm trong quá trình ban hành ra các QĐHC, HVHC mà các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của các cơ quan khác khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện quyền lực công vẫn có những sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, có những hành vi, những quyết định chưa đúng với quy định gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân Vì vậy, trong các loại việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo thủ tục TTHC thì chủ thể được quyền ban hành QĐHC đối với các khiếu kiện này không chỉ là riêng cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước mà còn thuộc về thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác và người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức khác đó (3) QĐHC đó phải là quyết định mang tính cá biệt Đặc điểm này thể hiện qua QĐHC được quyết định về một vấn đề cụ thể, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể để giải quyết một vấn đề cụ thể trong xã hội, quy định này là để phân biệt với các QĐHC mang tính chủ đạo của cơ quan nhà nước, được ban hành nhằm đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách, nhiệm vụ chung trong hoạt động quản lý hành chính hoặc những quyết định quy phạm mang tính xử sự chung, tác động đến nhiều đối tượng trong xã hội.(4) QĐHC được ban hành trong hoạt động quản lý hành chính Với quy định này có thể thấy pháp luật TTHC đã giới hạn phạm vi lĩnh vực QĐHC thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND, đó là chỉ có các QĐHC được ban hành trong hoạt động quản lý hành chính mới được quyền khởi kiện trong khi đó đối với QĐHC trong các lĩnh vực khác như lập pháp thì không thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND

Từ những phân tích trên thì trong quá trình xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm TAND theo loại việc bị khiếu kiện đối với khiếu kiện QĐHC thì Tòa án cũng như người thực hiện quyền khởi kiện VAHC cần phải xác định đầy đủ các đặc điểm cũng như các vấn đề liên quan đến QĐHC nhằm bảo đảm việc thụ lý giải quyết VAHC được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật

Hai là, đối với HVHC Cùng với QĐHC thì HVHC cũng là đối tượng thuộc

thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC Theo đó, HVHC thuộc thẩm

quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án được định nghĩa: “Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm

Trang 39

quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật 14 Như vậy, không phải hành vi nào cũng được xem là

loại việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo thủ tục TTHC mà hành

vi đó phải có các dấu hiệu sau: Thứ nhất, HVHC là hành vi của cơ quan nhà nước,

cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan tổ chức đó thực hiện Tương tự như chủ thể ban hành QĐHC mà chúng tôi đã phân tích trong phần

trên, chủ thể thực hiện HVHC là rất rộng, không chỉ là cơ quan nhà nước, mà có thể

là cơ quan, tổ chức khác và người trong cơ quan tổ chức đó nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với nhiệm vụ được giao thì cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền khởi kiện đối với những hành vi này Tuy nhiên, đối với chủ thể là cơ quan, tổ chức khác hiện nay pháp luật chưa có sự hướng dẫn cụ thể, do vậy mà quá trình xác định HVHC thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án chưa được giới hạn một cách rõ ràng những hành vi nào là HVHC những hành vi nào không phải là HVHC, vì không xác định được cơ quan, tổ chức khác đó có phải là cơ quan nhà nước hay không, hay những cơ quan, tổ chức khác đó cụ thể là cơ quan nào, HVHC của những cơ quan, tổ chức khác đó có phải là loại việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ

thẩm của TAND theo quy định của Luật TTHC hay không Thứ hai, HVHC đó có thể là hành động hoặc không hành động Đặc điểm này hoàn toàn phù hợp với khái

niệm hành vi trong lý luận pháp luật và thực tiễn về hành vi, biểu hiện ra ngoài là

xuất phát từ quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước khi thực hiện công quyền, theo đó, với phạm vi quyền hạn được giao các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền phải thực hiện những đúng với những công việc, nhiệm vụ Ngược lại với những quy định không cho phép cơ quan nhà nước thực hiện, nhưng vẫn thực hiện gây ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì họ có quyền khiếu kiện để bảo vệ mình Quy định này là hoàn toàn có cơ sở và hợp lý đối với nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan nhà nước được quy định rõ ở quy định của

pháp luật chuyên ngành Thứ ba, phạm vi thực hiện HVHC là nhiệm vụ, công vụ được giao Có thể khẳng định một điều rằng, không phải hành vi nào của cơ quan

nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức này thực hiện đều là HVHC thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND

14 Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2010

15 Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.752

Trang 40

trong TTHC mà chỉ có những hành vi thực hiện nhằm mục đích công vụ, thực hiện công việc quản lý nhà nước mới là HVHC thuộc loại việc giải quyết của Toà án Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học công vụ là “hoạt động mang tính nhà nước vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân Công vụ nhà nước mang tính tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc, theo trật tự có tính thứ bậc chặt chẽ, chính quy và liên tục, được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước Công vụ chủ yếu do cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước thực hiện” Ngoài ra công vụ còn được hiểu là “một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước (gắn với nhà nước hoặc nhân danh nhà nước) do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội” Theo các khái niệm trên phạm vi để xác định HVHC thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo thủ tục TTHC là hành vi trong phạm vi nhiệm vụ, công vụ được giao, các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đó là thực hiện hành vi được giao ngược lại nếu cơ quan đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì đó là không phải là HVHC thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo quy định của pháp luật TTHC Điều này có nghĩa là đối với hành vi do

cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức khác và người có thẩm quyền trong cơ quan tổ chức đó thực hiện nhưng không liên quan đến việc thực hiện hay không thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao thì không phải là đối tượng khởi kiện trong VAHC Tuy nhiên, đối với các hành vi công vụ của cơ quan nhà nước hay người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước nhằm thực hiện thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp

và tư pháp thì không được coi là HVHC thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND trong TTHC

Như vậy, QĐHC, HVHC phải thỏa mãn đầy đủ các đặc điểm như đã phân tích trong phần trên mới thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND theo thủ tục TTHC Cùng với những đặc điểm riêng đã nêu thì ngoài ra QĐHC, HVHC còn đảm bảo đủ hai đặc điểm chung đó là: phải không liên quan đến bí mật nhà nước trong

ba lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ ban hành

và không phải là QĐHC, HVHC mang tính nội bộ của cơ quan

- Đối với, QĐHC, HVHC không thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w