Vì vậy, muốn xác định một hợp đồng nào đó có phải tuân thủ theo những hình thức nhất định hay không chúng ta cần phải tham khảo các quy định của pháp luật chuyên ngành: -Một số hợp đồng
Lý luận chung về hình thức hợp đồng
Khái niệm hình thức hợp đồng
Hợp đồng là một trong những loại giao dịch dân sự có nguồn gốc cổ xưa nhất xuất hiện đồng thời với sự hình thành của xã hội có tổ chức, nó ra đời như một tất yếu lịch sử cùng với sự phát triển của các quan hệ giao thương, trao đổi, mua bán giống nhận định của một tác giả rằng: “Luật hợp đồng là một trong những luật lâu đời nhất, liên quan đến hoạt động giao lưu dân sự, kinh doanh, thương mại” 1 hay
“xuất hiện từ lúc khởi đầu của xã hội có tổ chức” 2 Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể tham gia quan hệ dân sự nhằm đạt được một mục đích nhất định
Tuy nhiên, ý chí của các bên, dưới góc độ triết học là phạm trù thuộc về ý thức, một yếu tố bên trong con người, nên mang nhiều tính chủ quan và không phải trong mọi trường hợp đều có thể nhận biết được Muốn đạt được sự đồng thuận chung, các bên tham gia không còn cách nào khác là phải thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài thông qua một biểu hiện vật chất nhất định mà con người có thể nhận biết được Biểu hiện khách quan đó được hiểu là hình thức của hợp đồng
Về mặt từ ngữ thông thường, hình thức trước hết được hiểu là: “bề ngoài, cái bên ngoài” hay “toàn thể nói chung những gì làm thành mặt bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng biểu hiện nội dung” 3 còn ở góc độ triết học thì hình thức được định nghĩa là: “phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng” 4 Trong nội dung lý luận về hợp đồng, thuật ngữ “hình thức hợp đồng” được sử dụng khá phổ biến, tuy
1,2 Đinh Thị Mai Phương (2005), Thống nhất Luật Hợp đồng ở Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.7
3 Trích theo Chế Mỹ Phương Đài (2015), “Hình thức giao dịch dân sự và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự do không tuân thủ quy định về hình thức theo dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005”, Kỷ yếu hội thảo “Những quy định trong Phần chung của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi”, do khoa Luật Dân sự Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tổ chức ngày 03/4/2015 tại trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 101
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
(Dành cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 85
6 nhiên các văn bản pháp luật dân sự chính thức hiếm khi đưa ra một định nghĩa cụ thể về nó mặc dù ít nhiều đều có những quy định điều chỉnh trực tiếp Điều này hoàn toàn có thể lý giải được, có lẽ theo quan điểm của các nhà lập pháp Việt Nam thì hình thức chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài những thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên; là sự phản ánh nội dung, bản chất bên trong của hợp đồng, yếu tố mà các bên thật sự quan tâm khi tiến hành giao kết Hơn thế nữa, hợp đồng là một chế định mang tính chất dân sự vì vậy quyền tự do thỏa thuận của các bên phải được đảm bảo, tôn trọng theo nguyên tắc tự do hợp đồng trừ một số trường hợp hạn chế ngoại lệ Do đó, các bên có thể tùy nghi lựa chọn bất kỳ hình thức nào phù hợp để phản ánh nội dung của hợp đồng Vì thế, ở một chừng mực nào đó, việc đưa ra định nghĩa về hình thức hợp đồng dường như chỉ cần thiết cho nghiên cứu học thuật hơn là thực tiễn áp dụng pháp luật Mặc dù vậy, vẫn có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa đơn giản về hình thức hợp đồng: “là sự thể hiện ra bên ngoài của thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng” 5 hay “cách thức thể hiện ý chí của các bên trong hợp đồng” 6 Những khái niệm mà các tác giả đưa ra dù ở góc độ nào thì về mặt nội hàm đều tương đương nhau, đều thể hiện được hình thức hợp đồng là phương tiện phản ánh, bày tỏ, công bố nội dung, sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể; dù hình thức thay đổi, phát triển như thế nào cũng chỉ đóng vai trò là chức năng biểu hiện và chịu sự quyết định của nội dung
Không dừng lại ở đó, còn có quan điểm cho rằng: “Hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài nội dung của hợp đồng, gồm tổng hợp những cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng” 7 Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm trên, cách định nghĩa này không những cho thấy được mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của hợp đồng mà còn xác định được tương đối đầy đủ các yếu tố thuộc về hình thức không chỉ gồm cách thức mà còn là thủ tục, phương tiện thể hiện Cách thức ở đây cụ thể là bằng lời nói hay hành vi; thủ tục có thể là công chứng, chứng thực hay đăng ký; xin phép hoặc phương tiện đề cập có thể là bằng văn bản, thậm chí là bằng hình thức hợp đồng điện tử
5 Đỗ Văn Đại (2013), Hình thức bắt buộc của hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam: Những bất cập và hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học, (02), tr 03
6 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 353
7 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB Hồng Đức, Tp Hồ Chí Minh, tr 120.
Các loại hình thức của hợp đồng theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2005
Như vậy, hình thức hợp đồng là khái niệm dùng để chỉ cách thức, thủ tục phương tiện bày tỏ ra bên ngoài sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên trong nội dung hợp đồng Dựa vào mục đích, đối tượng, bản chất của từng loại hợp đồng cụ thể thì sẽ có những hình thức khác nhau tương ứng Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành thì hình thức hợp đồng có thể bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể; đặc biệt là bằng hình thức hợp đồng điện tử Các hình thức hợp đồng này sẽ được tác giả phân tích cụ thể trong phần nội dung tiếp theo ngay sau đây
1.2 Các loại hình thức của hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm
Bộ luật Dân sự (viết tắt là BLDS) năm 2005 ghi nhận chế định hợp đồng tại mục 7 Chương XVII Phần Thứ Ba Trong đó, các quy định trực tiếp điều chỉnh vấn đề hình thức hợp đồng nói chung được thể hiện trong một điều luật duy nhất là Điều
401 Sự quy định như vậy nhìn chung là khá khiêm tốn Tuy nhiên, khi xem xét toàn diện BLDS 2005 ta nhận thấy, khi áp dụng quy phạm về hình thức hợp đồng ta có thể viện dẫn các quy định tại khoản 2 Điều 122, Điều 124, Điều 134, Điều 137 bởi hợp đồng được xem là một loại giao dịch dân sự 8 thế nên các quy định về hình thức của giao dịch dân sự cũng có thể được áp dụng để điều chỉnh hình thức của hợp đồng
Trên cơ sở đó, khi phân tích những quy định liên quan về các loại hình thức hợp đồng, cụ thể Điều 124 và Điều 401 BLDS 2005 dễ dàng nhận thấy pháp luật ghi nhận các loại hình thức sau đây: hợp đồng bằng lời nói, hợp đồng bằng hành vi cụ thể, hợp đồng bằng văn bản không có công chứng hoặc chứng thực, hợp đồng bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực; phải đăng ký hoặc xin phép Bên cạnh đó, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay thì hình thức hợp đồng điện tử cũng cần được chú trọng nghiên cứu với tư cách là một dạng đặc biệt của hợp đồng bằng văn bản Sau đây, ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng loại hình thức hợp đồng nói trên
1.2.1 Hình thức hợp đồng bằng lời nói
Hợp đồng bằng lời nói được hiểu là những hợp đồng mà các bên chủ thể tham gia sử dụng ngôn ngữ nói để giao kết; trong khoa học pháp lý, hợp đồng bằng lời nói còn được gọi là hợp đồng miệng
8 Điều 121 BLDS 2005: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Hợp đồng bằng lời nói là hình thức đầu tiên để biểu hiện sự thống nhất ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng khi mà xã hội chưa có sự tồn tại của chữ viết, thời kì đó để có thể trao đổi hàng hóa thì con người chỉ có thể sử dụng một phương tiện giao kết duy nhất là ngôn ngữ nói Theo tiến trình lịch sử, sự ra đời và phát triển của các kiểu hình thức hợp đồng mới không làm mất đi vai trò và giá trị của hợp đồng bằng lời nói Ở Việt Nam, trong thời kì xã hội phong kiến; cụ thể, dưới triều đại nhà Lê (năm 1428 đến năm 1788) dù không được ghi nhận rõ ràng trong các văn bản pháp luật của triều đình, đặc biệt là Bộ luật Hồng Đức nhưng đối với những khế ước mà đối tượng giao dịch có giá trị thấp, dễ thực hiện hoặc ít quan trọng, ví dụ: mua bán lương thực, thực phẩm với số lượng ít hoặc vay một khoản tiền nhỏ trong thời gian ngắn thì về nguyên tắc các bên không cần lập thành văn bản mà có thể giao kết hợp đồng miệng 9 Một minh chứng khác, trong giai đoạn trị vì của nhà Nguyễn, Bộ luật Gia Long (còn gọi là Hoàng Việt luật lệ) cũng không có bất cứ một quy định nào về vấn đề hình thức hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế, trừ một số trường hợp các bên tham gia phải lập hợp đồng thành văn bản thì họ hoàn toàn có thể tùy ý lựa chọn hình thức hợp đồng miệng
Qua thời gian, hình thức hợp đồng bằng lời nói đã được ghi nhận rõ ràng hơn trong các văn bản pháp luật dân sự quan trọng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là BLDS 1995 và BLDS 2005; cụ thể theo quy định của BLDS 2005 thì:
“Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định” 10 Như vậy, các bên có thể lựa chọn hình thức hợp đồng bằng lời nói trong mọi trường hợp khi pháp luật không quy định hợp đồng phải tuân thủ theo một hình thức nhất định Việc bày tỏ ý chí của các bên chủ thể bằng lời nói có thể được thực hiện một cách trực tiếp (gặp mặt giao kết) hoặc gián tiếp (qua điện thoại)
Tuy nhiên, thực tiễn đời sống đã chứng minh hình thức hợp đồng bằng lời nói thường chỉ được sử dụng trong các hợp đồng dân sự (theo nghĩa hẹp) đơn giản, phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày; có đối tượng giao dịch giá trị thấp, ít quan trọng hoặc giữa các bên có độ tin cậy cao còn những hợp đồng mang tính chất phức tạp, giá trị lớn như: hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động, thường được giao kết bằng các hình
9 Bộ Tư pháp (2008), Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời kỳ Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 61
9 thức khác; bởi dù hợp đồng bằng lời nói có ưu điểm là giao kết ít tốn kém, nhanh chóng, đơn giản nhưng lại chứa đựng giá trị chứng cứ thấp trong tố tụng khi có tranh chấp phát sinh Do nhược điểm đó nên nếu pháp luật không có quy định hợp đồng phải tuân thủ theo một hình thức nhất định, các bên cũng cần có ý thức hướng đến việc hạn chế, chỉ sử dụng hình thức bằng lời nói trong trường hợp giao kết một số hợp đồng đã phân tích ở trên để tránh tình trạng một bên phủ nhận nội dung thỏa thuận hay “lời nói gió bay” khi có tranh chấp phát sinh trên thực tế
1.2.2 Hình thức hợp đồng bằng văn bản
Hợp đồng bằng văn bản là một trong những kiểu hình thức mang tính chất truyền thống nhằm thể hiện ý chí của các bên tham gia Khác với hợp đồng bằng lời nói, hợp đồng bằng văn bản sử dụng và thể hiện những loại chữ viết, con số, biểu tượng, ký hiệu (gọi chung là ngôn ngữ viết) mà con người có thể đọc, hiểu được để ghi nhận những nội dung đã thỏa thuận giữa các chủ thể và các bên phải ký hoặc điểm chỉ vào văn bản hợp đồng Khi giao kết bằng hình thức này, chủ thể tham gia có thể hoàn toàn yên tâm về vấn đề giá trị chứng cứ bởi tính chất của kiểu hợp đồng này là “giấy trắng mực đen”, “hữu hình” nên khi có tranh chấp phát sinh trên thực tế, các bên hoàn toàn có cơ sở đưa ra những chứng cứ, chứng minh rằng yêu cầu của mình là đúng sự thật
Tương tự như hợp đồng miệng, BLDS 2005 ghi nhận các bên có thể lựa chọn hình thức hợp đồng bằng văn bản tại Điều 401 (giao dịch dân sự bằng văn bản nói chung tại Điều 124) trong trường hợp pháp luật không có quy định hợp đồng (hay giao dịch dân sự nói chung) phải tuân theo một hình thức nhất định Bên cạnh đó, không dừng lại ở việc quy định chung về kiểu hình thức hợp đồng bằng văn bản mà khoa học pháp lý Việt Nam cũng có sự phân loại hợp đồng bằng văn bản thành hai loại riêng biệt: (i) hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực; (ii) hợp đồng bằng văn bản chỉ có sự xác nhận giữa các bên tham gia bằng chữ ký hoặc dấu vân tay (hay còn gọi là điểm chỉ) Việc lựa chọn kiểu hợp đồng nào trong trường hợp nói trên là tùy thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia hợp đồng trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; các bên có thể cân nhắc đến các yếu tố như: giá trị của hợp đồng lớn hay nhỏ; tính chất đối tượng của hợp đồng có quan trọng hay không; thời gian thực hiện hợp đồng dài hay ngắn; sự tin cậy giữa các bên trong hợp đồng hay mức độ phức tạp của các thỏa thuận trong hợp đồng (có nhiều bên tham gia ký kết trong hợp đồng, thỏa thuận chứa nhiều thông tin khoa học mang yếu tố chuyên ngành, …) Sự phân định trong trường hợp này là thể hiện rõ nét của nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên tùy nghi lựa chọn hình thức ưng ý và pháp luật sẽ tạo mọi điều kiện để chủ thể tham gia thực hiện quyền lợi của mình Thật vậy
10 trên thực tế, mặc dù các quy định của BLDS 2005 không đề cập chi tiết, bởi BLDS là luật chung, luật gốc nhưng pháp luật chuyên ngành hiện hành cũng đã ghi nhận vấn đề này trong một số quy định, ví dụ: Luật Công chứng 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015):
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng 11
Ý nghĩa pháp lý về hình thức hợp đồng
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan đều mang một ý nghĩa nhất định Không gì khác, hình thức trong tổng thể của quan hệ hợp đồng cũng có những ảnh hưởng và vai trò riêng Nó không chỉ là phương tiện để các bên bày tỏ ý chí của mình mà còn là yếu tố chi phối đến nhiều phương diện khác thuộc về nội dung của hợp đồng như: hiệu lực; giá trị chứng cứ; các điều khoản bên trong,
… Trong số những phương diện ấy, quan trọng hơn cả đó là hiệu lực và giá trị chứng cứ của hợp đồng
Sau đây, tác giả sẽ đi vào phân tích ý nghĩa của hình thức đối với từng phương diện một bao gồm các nội dung sau: hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; hình thức là tiêu chí để xác định thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng; hình thức hợp đồng mang ý nghĩa chứng cứ trong hoạt động tố tụng; hình thức hợp đồng có ý nghĩa đối kháng với người thứ ba; hình thức hợp đồng có ý nghĩa khi các bên tiến hành sửa đổi hợp đồng
1.3.1 Hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Như đã đề cập trong phần các hình thức hợp đồng cụ thể, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là BLDS 2005 về nguyên tắc cho phép các bên tham gia được quyền tự do thỏa thuận, lựa chọn hình thức hợp đồng Đây là một bước tiến rất lớn nếu so sánh với BLDS 1995, khi tại Điều 131 Bộ luật này ghi nhận hình thức luôn là điều kiện bắt buộc để hợp đồng (giao dịch dân sự nói chung) phát sinh hiệu lực, các bên tham gia không được tự do lựa chọn hình thức giao kết theo ý chí của mình:
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
2- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội; 3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
4- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật Đối với BLDS 2005, theo Khoản 2 Điều 122 BLDS 2005: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”, có thể thấy trong một số trường hợp, pháp luật quy định các bên phải tuân thủ theo những hình thức nhất định và hình thức bắt buộc này là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng để đảm bảo trật tự, lợi ích công cộng và lợi ích hợp pháp của các bên vì đây là những hợp đồng có đối tượng là tài sản giá trị lớn, nhiều điều khoản phức tạp hay liên quan tới những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội
Bên cạnh đó, các quy định về hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thường được ghi nhận trong văn bản pháp luật chuyên ngành và nhà làm luật thường quy định kèm về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Ví dụ: Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2014 đề cập: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”
Hoặc Khoản 1 Điều 148 LSHTT 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009):
“Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp”
Như vậy, sự quyết định của hình thức đến hiệu lực của hợp đồng thể hiện ở việc khi pháp luật ghi nhận hình thức là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng chỉ phát sinh giá trị pháp lý, hiệu lực ràng buộc giữa các bên khi hình thức bắt buộc theo luật định được hoàn tất Do đó, yếu tố tiên quyết hàng đầu là phải tuân thủ những quy định đó nếu các bên chủ thể không muốn phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi Phần nội dung này sẽ được trình bày cụ thể hơn khi tác giả phân tích về vấn đề hợp đồng vi phạm hình thức
1.3.2 Hình thức là tiêu chí để xác định thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng
Về nội hàm của thuật ngữ “hợp đồng”, Điều 388 BLDS 2005 định nghĩa:
“Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
21 chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Tuy nhiên, một câu hỏi quan trọng được đặt ra là khi nào những thỏa thuận này mới phát sinh giá trị pháp lý ràng buộc, theo đó các bên phải thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết nhằm đáp ứng những quyền và lợi ích hợp pháp của bên kia hoặc bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết hoặc pháp luật có quy định Tra cứu nhanh các quy định của BLDS 2005 nhận thấy tồn tại Điều 405 cho phép tìm ra lời giải của vấn đề trên: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Qua quy định trên có thể thấy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có thể là một trong ba loại thời điểm sau: (i) thời điểm giao kết hợp đồng, (ii) thời điểm có hiệu lực do các bên thỏa thuận, (iii) thời điểm có hiệu lực do pháp luật quy định
Thông thường, đối với trường hợp mà pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực, hợp đồng sẽ có giá trị pháp lý tại thời điểm giao kết Vậy muốn biết được khi nào hợp đồng phát sinh hiệu lực, về nguyên tắc phải xác định được thời điểm giao kết giữa các bên và theo Điều 404 BLDS 2005 thì thời điểm này được xác định như sau:
1 Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết
2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết
3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng
4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
Dễ dàng nhận thấy, tại khoản 3 và khoản 4 Điều này, nhà làm luật ghi nhận thời điểm giao kết của hợp đồng dựa trên sự công bố ý chí của các bên, cụ thể là trên cơ sở yếu tố hình thức Đối với các hợp đồng bằng lời nói, thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung thì hợp đồng được xem là đã giao kết Đối với các hợp đồng bằng văn bản thì thời điểm giao kết là khi bên sau cùng ký vào văn bản Trước đây, Khoản 5 Điều 403 BLDS 1995 còn quy định: “Đối với hợp đồng phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm được chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép”, nếu dựa trên quy định này thì công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, xin phép được xem như một loại hình thức độc lập của hợp đồng và khi các bên chủ thể hoàn tất việc xác lập hợp đồng bằng những hình thức này thì đó chính là thời điểm
22 hợp đồng được giao kết Tuy nhiên, nếu căn cứ vào quy định hiện nay tại Điều 404 BLDS 2005, theo đó không còn kế thừa Khoản 5 Điều 403 BLDS 1995 vô hình chung, việc công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, xin phép không được xem là những hình thức riêng biệt của hợp đồng nữa mà chỉ là các thủ tục để Nhà nước có thể kiểm tra tính hợp pháp, xác thực về mặt nội dung trong thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên, vì thế các bên chỉ cần thống nhất các nội dung cam kết và ký vào văn bản hợp đồng thì hợp đồng được xem là đã giao kết Theo cách hiểu này, phải chăng đã có sự mâu thuẫn giữa Điều 404 BLDS 2005 với Điều 401 BLDS 2005, bởi khi quy định chi tiết về các loại hình thức của hợp đồng, Điều 401 dường như đã thừa nhận công chứng, chứng thực hay đăng ký, xin phép là những cách thức thể hiện của hợp đồng Như vậy, phải nhìn nhận công chứng, chứng thực hay đăng ký, xin phép là những hình thức khác nhau của hợp đồng hay chỉ là các thủ tục nhất định dành cho hợp đồng bằng văn bản trong những trường hợp cụ thể Đây là vấn đề hiện nay còn đang tranh cãi Trong trường hợp này, theo ý kiến của tác giả thì công chứng, chứng thực hay đăng ký, xin phép nên được xem là những hình thức riêng biệt của hợp đồng bên cạnh các kiểu hình thức khác như: hợp đồng bằng lời nói hay hợp đồng bằng văn bản và cần thiết phải có quy định về thời điểm giao kết của các loại hình thức này, bởi nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành hiện hành như Luật Nhà ở 2014, Luật Đất đai 2013, … bắt buộc hợp đồng phải có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, xin phép để thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên Cụ thể: Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2014: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng” hay như Điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”; Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp” Vậy nếu không có những điều khoản pháp luật chi tiết áp dụng đối với hợp đồng phải có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, xin phép thì không thể xác định được thời điểm giao kết của những hợp đồng này Bên cạnh đó, khi tìm hiểu quy định liên
23 quan của Dự thảo BLDS (sửa đổi) lấy ý kiến nhân dân, tác giả nhận thấy Điều 415 của Dự thảo về thời điểm giao kết hợp đồng tiếp tục không ghi nhận về thời điểm giao kết của hợp đồng phải công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, xin phép:
1 Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết
2 Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn trả lời giao kết
3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng
Hợp đồng vi phạm hình thức và hậu quả pháp lý của hợp đồng vi phạm hình thức
Không giống như BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 không đặt yếu tố hình thức như là một điều kiện bắt buộc phải tuân thủ để mọi hợp đồng phát sinh hiệu lực Các bên có thể lựa chọn hình thức hợp đồng phù hợp để chứng minh sự thỏa thuận của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Quyền tự do lựa chọn
27 hình thức giao kết cho hợp đồng của các bên chủ thể trong chừng mực nào đó bị pháp luật giới hạn vì những lý do nhất định, trong những trường hợp đó pháp luật quy định hợp đồng phải tuân thủ theo một hình thức nhất định (văn bản thông thường; văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, xin phép) thì các bên tham gia không còn cách nào khác là phải thực hiện theo yêu cầu đó Trường hợp các bên không thực hiện theo yêu cầu về hình thức do pháp luật đặt ra thì hợp đồng đã giao kết được xác định là vi phạm hình thức
Mặc dù vậy, hiện nay, trong bài nghiên cứu của mình, tác giả Lê Minh Hùng theo hướng chi tiết hơn khi cho rằng theo quy định pháp luật Việt Nam thì hợp đồng vi phạm hình thức hợp đồng có thể có hai dạng với những hậu quả pháp lý khác nhau 20 : dạng thứ nhất là vi phạm “hình thức bắt buộc của hợp đồng”; dạng thứ hai là vi phạm “điều kiện về hình thức của hợp đồng”
Theo đó, đối với trường hợp thứ nhất: Pháp luật quy định hợp đồng phải tuân theo một hình thức nhất định nhưng lại không quy định hệ quả pháp lý nào của việc tuân thủ hay không tuân thủ hình thức đó, thì việc không tuân thủ hình thức đó chỉ đơn giản được hiểu là vi phạm hình thức “bắt buộc” của hợp đồng Ví dụ: hợp đồng cầm cố tài sản (Điều 327 BLDS 2005); hợp đồng đặt cọc (Điều 358 BLDS 2005); hợp đồng bảo lãnh (Điều 362 BLDS 2005); hợp đồng thuê nhà ở có thời hạn thuê dưới 06 tháng (Điều 492 BLDS 2005); hợp đồng bảo hiểm (Điều 570 BLDS 2005) hay hợp đồng xây dựng theo Nghị định 48/2010/NĐ-CP Đối với trường hợp thứ hai: Pháp luật không chỉ buộc hợp đồng giữa các bên phải tuân theo một hình thức nhất định mà còn ghi nhận hình thức đó là điều kiện có hiệu lực có của hợp đồng nên chỉ khi các chủ thể hoàn thiện hình thức bắt buộc đó thì hợp đồng mới có hiệu lực để nhằm bảo đảm trật tự công cộng cũng như lợi ích của các chủ thể tham gia Đây là các trường hợp mà hình thức bắt buộc được xem như điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Ví dụ: các hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại phải thực hiện công chứng, chứng thực như là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trừ một số trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở 2014 và thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Hay các hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp
20 Lê Minh Hùng (2011), Hình thức hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành - lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp trường, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 33
28 quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính(Khoản 3 Điều
Vấn đề tiếp theo được đặt ra là hợp đồng vi phạm về hình thức thì phải chịu hậu quả pháp lý gì? Có nghĩa là khi các bên không tuân thủ và thực hiện theo quy định pháp luật về hình thức bắt buộc thì họ phải chịu những tác động bất lợi gì
Tiếp tục tìm hiểu tổng quan, qua quy định của Điều 134 BLDS 2005:
Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu
Và Đoạn 2 Khoản 2 Điều 401 BLDS 2005: “Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”; có thể thấy do hợp đồng được xem là một loại hình giao dịch dân sự nên các quy định chung về giao dịch dân sự cũng có thể được áp dụng cho cả hợp đồng, dẫn đến việc tồn tại hai khái niệm cùng được sử dụng để chỉ tình huống hợp đồng không thực hiện hình thức bắt buộc nhất định do pháp luật đặt ra, đó là: trường hợp các bên không tuân thủ hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (hay giao dịch dân sự nói chung) và trường hợp vi phạm về hình thức Ở đây, về mặt câu chữ thể hiện trong từng điều luật có thể khác nhau, nhưng lại chứa đựng cùng một nội dung mà nhà làm luật muốn phản ánh
Tuy nhiên, cách giải quyết của hai điều khoản này có vẻ không thống nhất với nhau, Điều 134 ghi nhận hợp đồng vi phạm hình thức vẫn có thể bị vô hiệu nếu các bên không khắc phục hình thức trong thời hạn Tòa án ấn định nhưng Đoạn 2 Khoản 2 Điều 401 lại cho phép hợp đồng giữa các bên vẫn có hiệu lực mặc dù không tuân thủ về mặt hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Hiện nay vấn đề này còn gây nhiều tranh cãi nhưng nếu xem Điều 134 BLDS 2005 là một trường hợp pháp luật có quy định khác của Đoạn 2 Khoản 2 Điều 401 BLDS
2005 có thể đưa ra câu trả lời như sau: khi các bên tham gia đã không thực hiện giao kết theo hình thức pháp luật quy định bắt buộc phải tuân thủ để hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng đã xác lập có thể sẽ không có hiệu lực, không được công nhận giá trị pháp lý bởi Tòa án bằng thủ tục tuyên bố vô hiệu Tuy nhiên, thủ tục này sẽ chỉ được tiến hành khi đáp ứng thêm các điều kiện ngoài việc không tuân thủ điều kiện về hình thức như:
+Có yêu cầu của một hoặc các bên chủ thể;
+Tòa án đã buộc các bên phải thực hiện quy định về hình thức trong một thời hạn nhất định mà hết thời hạn đó các bên vẫn không thực hiện;
+Việc yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức phải được thực hiện trong thời hiệu là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập theo Khoản 1 Điều 136 BLDS 2005
Ngoài hậu quả bất lợi không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập thì khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu sẽ dẫn tới một loạt các trách nhiệm về vật chất khác giữa các bên theo Khoản 2 Điều 137 BLDS 2005: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”, cụ thể các trách nhiệm này bao gồm:
+Khôi phục lại tình trạng ban đầu, phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (bằng hiện vật hoặc bằng tiền): loại trách nhiệm này được xây dựng trên cơ sở lý luận: vì hợp đồng (hay giao dịch nói chung) bị vô hiệu nên không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm xác lập nên phải đưa các bên trở lại tình trạng khởi thủy lúc trước khi xác lập giao dịch Nếu các bên có nhận tài sản của nhau thì phải hoàn trả, trường hợp không trả bằng hiện vật được thì hoàn trả bằng tiền Trước đây, Tòa án nhân dân tối cao từng ban hành Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 5 năm 2003 hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định pháp luật để giải quyết các vụ án kinh tế, theo đó tại Điểm b Mục II Nghị quyết này có liệt kê một số trường hợp không thể hoàn trả được tài sản đã nhận bằng hiện vật từ việc thực hiện hợp đồng kinh tế bị vô hiệu như: khi tài sản đã bị mất mát hoặc hư hỏng; khi tài sản đã được đưa vào khai thác, sử dụng Tuy nhiên, hiện nay Nghị quyết nêu trên không còn giá trị sử dụng nữa, trong khi BLDS
2005 thì không có bất kỳ quy định nào hướng dẫn chi tiết về các trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật này
Hình thức hợp đồng theo quy định pháp luật của một số quốc gia và
Trên thế giới hiện nay, tồn tại những hệ thống pháp luật điển hình bao gồm: châu Âu lục địa, Anh- Mỹ và Hồi giáo Tuy nhiên, trong số đó, chỉ có hai hệ thống pháp luật là châu Âu lục địa và Anh – Mỹ phát triển hơn cả về lĩnh vực pháp luật hợp đồng Vì vậy, tác giả sẽ tập trung phân tích những quy định về hình thức hợp đồng của các dòng họ pháp luật này, dù vậy do hạn chế về mặt thời gian nghiên cứu nên tác giả sẽ tập trung phân tích pháp luật về hình thức hợp đồng của một số quốc
31 gia điển hình hoặc là có sức ảnh hưởng lớn tới pháp luật hợp đồng Việt Nam như là: Pháp, Nga và Mỹ
1.5.1 Hình thức hợp đồng theo quy định pháp luật của các nước Pháp, Nga,
Khi tìm hiểu các quy định về hình thức hợp đồng trong pháp luật của các quốc gia Pháp, Nga, Mỹ tác giả sẽ tập trung vào một số vấn đề trọng tâm như: các loại hình thức của hợp đồng trong đó chủ yếu làm rõ trường hợp phải tuân thủ hình thức bắt buộc và cách thức xử lý với hậu quả của hợp đồng vi phạm hình thức
1.5.1.1 Theo pháp luật của Pháp
Trong các văn bản pháp luật của Pháp, đặc biệt là trong Bộ luật Dân sự (hay còn gọi là Bộ luật Napoleon) không ghi nhận hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của hợp đồng, cụ thể Điều 1108 BLDS Pháp ghi nhận bốn tiêu chí để hợp đồng có hiệu lực bao gồm: (i) Các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện; (ii) Các bên giao kết có năng lực giao kết hợp đồng; (iii) Đối tượng của hợp đồng phải xác định; (iv) Căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp Do đó, về mặt nguyên tắc, các bên có quyền tự do lựa chọn bất kỳ hình thức giao kết nào theo ý chí của mình Tinh thần này của BLDS Pháp được thể hiện thông qua hình thức của một số loại hợp đồng cụ thể: “Hợp đồng mua bán có thể được lập dưới hình thức công chứng thư hoặc tư chứng thư” 21 hay “Hợp đồng cho thuê có thể lập thành văn bản hoặc bằng lời nói, trừ trường hợp tài sản thuê tài sản trong nông nghiệp” 22
Ngoài ra, Chương VII Thiên III Quyển thứ ba BLDS Pháp cũng dành nhiều điều luật đề cập về hợp đồng điện tử, một kiểu hình thức đang dần trở nên phổ biến hiện nay
Tuy nhiên, cũng giống như các quốc gia khác, pháp luật Pháp không loại trừ các trường hợp hợp đồng phải tuân thủ theo một hình thức nhất định như: phải lập bằng văn bản; phải công chứng hay phải đăng ký
-Một số hợp đồng phải lập thành văn bản thông thường: hợp đồng dàn xếp (Điều 2044 BLDS Pháp), hợp đồng chuyển nhượng cơ sở kinh doanh (Điều 12 Luật ngày 29/6/1935)
-Một số loại hợp đồng phải thực hiện việc công chứng: hợp đồng tặng cho tài sản (Điều 931 BLDS Pháp), hợp đồng hôn nhân (Điều 1394 BLDS Pháp); hợp
32 đồng thế chấp tài sản (Điều 2127 BLDS Pháp) hay đối với các hợp đồng có đối tượng vượt quá số tiền hoặc giá trị theo quy định của Chính phủ (theo Nghị định 80 -533 ngày 15/7/1980 của Chính phủ Pháp thì số tiền trên là từ 5000 Frăng – đơn vị tiền tệ của Pháp, tuy nhiên từ năm 2002, Pháp đã không còn sử dụng đơn vị tiền tệ này nữa mà chuyển sang sử dụng đồng tiền chung châu Âu - Euro, hiện nay 5000 Frăng Pháp sẽ quy đổi được khoảng 762 Euro 23 )
-Hợp đồng phải đăng ký: hợp đồng cầm cố sản nghiệp thương mại (Điều L142-3 và Điều L142-4 Bộ luật Thương mại Pháp)
Có thể thấy, luật Pháp không đặt ra quá nhiều trường hợp hợp đồng phải tuân thủ hình thức bắt buộc mà chủ yếu tôn trọng quyền tự do lựa chọn của các bên Cùng với đó, cách thức xử lý hợp đồng vi phạm hình thức của luật Pháp không mang tính chất khắc khe và luôn đặt ra vấn đề hạn chế tối đa hậu quả vô hiệu cho hợp đồng, bởi theo tinh thần của luật Pháp, thứ quan trọng, quyết định nhất đó chính là ý chí của các bên còn hình thức chỉ là công cụ thể hiện ý chí đó ra bên ngoài
Vì vậy, khi có sự không tuân thủ hay thiếu sót về mặt hình thức thì pháp luật Pháp tạo điều kiện cho các bên khắc phục, hoàn chỉnh hợp đồng Sự hoàn chỉnh hợp đồng do thiếu sót về mặt hình thức có hiệu lực hồi tố đối với các bên, làm chấm dứt quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do thiếu yếu tố hình thức 24 Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, sự hoàn chỉnh hợp đồng nói trên đòi hỏi phải có những chứng cứ, cơ sở nhất định để chứng minh cho tự tồn tại của những thỏa thuận trong hợp đồng Có những loại hợp đồng, các bên có thể chứng minh bằng mọi phương tiện như là các hợp đồng được coi hành vi thương mại tại Điều 109 Bộ luật Thương mại Pháp:
“Đối với thương nhân, các hành vi thương mại có thể chứng minh bằng mọi cách, trừ khi pháp luật có quy định khác” nhưng cũng có khi pháp luật Pháp chỉ cho phép chứng minh hợp đồng bằng các chứng cứ bằng văn bản, cụ thể: đối với các hợp đồng có giá trị giao dịch từ 5000 Frăng trở lên thì “Không chấp nhận các chứng cứ bằng người làm chứng nhằm chống lại nội dung chứng thư và nội dung ngoài chứng thư hoặc đối với những nội dung được nêu trong khi hoặc sau khi lập chứng thư, dù là đối với số tiền hoặc giá trị ít hơn mức quy định” 25
23 Cập nhật theo tỉ lệ 01 Euro = 6,55957 Frăng (Pháp) theo niêm yết tại địa chỉ trang điện tử: https://www.ecb.europa.eu/euro/exchange/fr/html/index.en.html của Ngân hàng Trung ương Châu Âu – ECB
24 Lê Minh Hùng, tlđd (20), tr 42
Trong trường hợp này, hợp đồng có thể vẫn được công nhận nếu được chứng minh bằng chứng cứ sơ bộ bằng văn bản 26 , đó là “mọi chứng thư bằng văn bản do người bị kiện hoặc người đại diện của người ấy đưa ra để chứng minh tính xác thực của sự việc đã nêu” 27 hay “Lời khai của một bên khi được triệu tập trước Tòa, việc từ chối trả lời hoặc sự vắng mặt tại phiên tòa có thể được thẩm phán coi như tương đương với chứng cứ sơ bộ bằng văn bản” (Luật số 75-596 ngày 9/7/1975)
Qua những phân tích ở trên, dễ dàng nhận thấy, pháp luật Pháp đã có những cách thức xử lý mang tính rõ ràng, mềm dẻo và hướng đến mục tiêu là giúp các bên có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng một cách thiện chí, nhanh chóng, tránh đi hậu quả pháp lý vô hiệu bất lợi Đây cũng là một chi tiết cần được tham khảo khi hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề hình thức hợp đồng
1.5.1.2 Theo pháp luật của Nga
Là một trong những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng từ pháp luật La Mã và mang những đặc điểm của dòng họ pháp luật châu Âu lục địa nên pháp luật Nga cũng xem luật thành văn là nguồn quan trọng nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, cũng như quan hệ hợp đồng nói riêng Và nếu chỉ xét theo thứ tự hiệu lực trong hệ thống pháp luật thành văn trong lĩnh vực dân sự của Nga, thì dễ dàng nhận thấy, BLDS là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất Do đó, khi nghiên cứu các vấn đề về hợp đồng nói chung hay hình thức nói riêng theo pháp luật Nga, sẽ thật thiếu sót nếu không đề cập đến các quy định của BLDS Nga
Tương tự BLDS Việt Nam, BLDS Nga 28 cũng ghi nhận các vấn đề cụ thể trong hình thức hợp đồng lần lượt tại các điều khoản chung về giao dịch dân sự (Chương 9 Tiểu phần 4 Phần 1) và quy định riêng biệt về hợp đồng (Chương 28 Tiều phần 2 Phần 3) Đi vào phân tích chi tiết, có thể nhận thấy, về nguyên tắc, pháp luật dân sự Nga cho phép các bên tự do lựa chọn hình thức hợp đồng: “Giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản (đơn giản hoặc có công chứng)” 29 hay “Hợp đồng có thể được giao kết dưới mọi hình thức, đã được quy định cho giao dịch dân sự, trừ khi pháp luật quy định một hình thức xác định cho những loại hợp
26 Lê Minh Hùng, tlđd (20), tr 42
28 Các quy định của BLDS Nga được tác giả dịch theo phiên bản tiếng Anh đăng trên trang web của tổ chức Sở hữu trí tuệ quốc tế WIPO tại www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru083en.pdf
29 Khoản 1 Điều 158 BLDS Liên Bang Nga