Để các chủ thể có lợi ích liên quan, đặc biệt là chủ nợ của doanh nghiệp không xảy ra hỗn loạn khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản 2004 đã thiết kế thủ tục phá sản
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu các số liệu, kết quả, thông tin trong luận văn được sử dụng từ các công trình đã được công bố hoặc sử dụng từ các tác giả khác đều được trích dẫn nguồn cụ thể và chính xác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực này
Tác giả luận văn
Phạm Yến Nhi
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NGHỊ CHỦ NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN 6
1.1 Khái quát chung về phá sản và thủ tục phá sản 6
1.1.1 Khái niệm phá sản 6
1.1.2 Thủ tục phá sản 10
1.1.3 Mục tiêu của thủ tục phá sản 18
1.2 Khái quát chung về Hội nghị chủ nợ 20
1.2.1 Khái niệm chủ nợ và phân loại chủ nợ 20
1.2.2 Hội nghị chủ nợ và vai trò của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘI NGHỊ CHỦ NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN 28
2.1 Triệu tập Hội nghị chủ nợ 28
2.1.1 Mục đích triệu tập Hội nghị chủ nợ 28
2.1.2 Thời điểm triệu tập Hội nghị chủ nợ 30
2.1.3 Thành phần được triệu tập 37
2.2 Điều kiện tiến hành Hội nghị chủ nợ 44
2.2.1 Điều kiện để tiến hành Hội nghị chủ nợ một cách hợp lệ 44
2.2.2 Các trường hợp không tiến hành Hội nghị chủ nợ 47
2.2.3 Các trường hợp hoãn Hội nghị chủ nợ 48
2.2.4 Các trường hợp đình chỉ thủ tục phá sản do có chủ thể tham gia Hội nghị chủ nợ vắng mặt 50
2.3 Nội dung Hội nghị chủ nợ 52
2.3.1 Nội dung Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất 52
2.3.2 Nội dung Hội nghị chủ nợ tiếp theo 60
2.4 Thực thi Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ 61
2.4.1 Thực thi Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 61
Trang 5PHÁP LUẬT VỀ HỘI NGHỊ CHỦ NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN 65 3.1 Kiến nghị chung 66
3.1.1 Mở rộng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 66 3.1.2 Quyền nộp đơn của doanh nghiệp khi nhận thấy doanh nghiệp có nguy cơ phá sản 66 3.1.3 Xây dựng thủ tục phá sản rút gọn 67 3.1.4 Tăng cường quyền tự quyết của chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ 67
3.2 Yêu cầu và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Hội
nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản 68
3.2.1 Những yêu cầu nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản 68 3.2.2 Những kiến nghị cụ thể 69
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
Pháp luật là nền tảng để duy trì trật tự xã hội Trong nền kinh tế thị trường, môi trường kinh doanh luôn mang tính cạnh tranh và đào thải cao với những rủi ro luôn tồn tại, pháp luật phá sản chính là nền tảng pháp lý vững chắc để duy trì trật tự
xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng Xét ở tầm vi mô, pháp luật phá sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp phá sản, chủ nợ và người lao động Đối với doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, pháp luật phá sản đem lại những cơ hội thuận lợi để phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc rút lui khỏi thị trường một cách trật tự Đối với chủ nợ của doanh nghiệp, pháp luật phá sản tạo ra cơ chế cho phép
họ lựa chọn giải pháp tốt nhất để có thể bảo toàn nguồn vốn của mình Đối với người lao động trong doanh nghiệp, pháp luật phá sản tạo ra cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Ở tầm vĩ
mô, pháp luật phá sản góp phần thúc đẩy lưu thông vốn cho nền kinh tế thông qua những quy định bảo vệ chủ nợ, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư khi họ góp
từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đã cho ra đời nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, từ đây hình thành nên một môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, trong đó những doanh nghiệp yếu kém hoặc mắc sai lầm sẽ bị loại khỏi thương trường Pháp luật phá sản Việt Nam ra đời như một tất yếu khách quan nhằm duy trì trật tự xã hội, ổn định nền kinh tế trong điều kiện mới này
Luật Phá sản doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 1993 Đây là văn bản đầu tiên có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh về phá sản doanh nghiệp Ra đời trong thời kỳ quá độ khi những nhận thức về thị trường vẫn chưa thực sự sâu sắc, Luật đã bộc lộ nhiều bất cập sau 10 năm áp dụng Luật Phá sản 2004 là bước phát triển và có sự đổi mới quan trọng, phản ánh một cách đầy đủ hơn đời sống kinh
đó, quyền lợi của chủ nợ được bảo vệ tốt hơn, đồng thời những doanh nghiệp thua
lỗ có thêm cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc rút lui khỏi thị trường một cách trật tự nhất
Trang 7Để các chủ thể có lợi ích liên quan, đặc biệt là chủ nợ của doanh nghiệp không xảy ra hỗn loạn khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản
2004 đã thiết kế thủ tục phá sản để giải quyết thỏa đáng quyền lợi của những chủ thể, trong đó, Luật dành hẳn Chương V quy định về Hội nghị chủ nợ, đại diện cho ý chí chung của tất cả các chủ nợ, có quyền quyết định cao nhất những vấn đề liên quan đến lợi ích của chủ nợ
Thực tiễn pháp luật quy định về Hội nghị chủ nợ cho thấy vai trò quan trọng của cơ quan này trong việc ổn định trật tự, xây dựng tiếng nói chung cho những bên liên quan trong việc định đoạt tương lai của doanh nghiệp mắc nợ và giải quyết các vấn đề nợ nần thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp Đây là một thiết chế rất hay hướng đến hài hòa lợi ích giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ, là một trong những khâu quan trọng giúp cho chủ nợ có thể hỗ trợ doanh nghiệp, cùng nhau tái cấu trúc doanh nghiệp và xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, những quy định của Luật Phá sản 2004 về Hội nghị chủ nợ vẫn tồn tại một số bất cập và những điểm chưa hợp lý: quy định về điều kiện hợp lệ để tổ chức Hội nghị chủ nợ còn khá cao; thành phần tham gia và biểu quyết tại Hội nghị chủ nợ chưa phù hợp, phạm vi thẩm quyền quyết định và cơ chế giám sát thi hành những quyết định của Hội nghị chủ nợ còn một số vướng mắc, từ đó làm giảm hiệu lực điều
chỉnh của Luật Phá sản Do đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu “Quy định pháp luật về Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản” làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn
nghiên cứu về những điểm tiến bộ và những bất cập của quy định pháp luật về Hội nghị chủ nợ Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản
Luật Phá sản 2004 ra đời là một bước tiến mới, là kết quả của việc tiếp thu kinh nghiệm tiến bộ của các nước trên thế giới và sự đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của hơn 10 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, đã tạo điều kiện để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể phục hồi, đồng thời rút gọn trình tự giải quyết phá sản trong những trường hợp đặc biệt, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của chủ thể tham gia tố tụng phá sản Tuy nhiên, qua hơn 09 năm áp dụng, Luật Phá sản 2004 cũng đã bộc lộ những bất cập nhất định Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về pháp luật phá sản được thực hiện Trong đó, có những công trình nghiên cứu toàn diện các vấn đề liên quan đến pháp luật phá sản nhưng cũng có những công trình nghiên cứu một hoặc một số khía cạnh nhất định liên quan đến pháp luật phá sản Có thể kể đến những công trình nghiên cứu như:
Trang 8- Công trình nghiên cứu “Pháp luật phá sản của Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ Đây là công trình nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề thuộc nội dung của Luật Phá sản 2004 trên cơ sở so sánh với Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và pháp luật phá sản của một số nước trên thế giới Từ đó làm rõ được bản chất và tính đặc thù của thủ tục phá sản Đồng thời đưa ra những đánh giá, góp ý xây dựng pháp luật phá sản Việt Nam trong chặng đường phát triển sau này Tuy nhiên, đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về Luật Phá sản 2004 sau 01 năm kể từ ngày Luật này được ban hành cho nên chưa xem xét được tính hiệu quả và khả thi của Luật này
sản” của Nguyễn Thị Hồng Vân năm 2008 Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề quản lý và thanh lý tài sản
dân tối cao năm 2010 Công trình nghiên cứu này đã tổng kết, đánh giá những quy định của pháp luật phá sản thông qua thực tiễn 05 năm thi hành Luật Phá sản 2004 và làm rõ thực trạng giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời gian qua, phát hiện những tồn tại, hạn chế của Luật Phá sản 2004 và các văn bản có liên quan Qua đó, đưa ra những kiến nghị nhằm tháo gỡ và nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản
cập và hạn chế” của PGS.TS Bùi Xuân Hải được đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 01 năm 2011 Bài viết của tác giả đi sâu phân tích những bất cập, hạn chế những quy định pháp luật về Hội nghị chủ nợ và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này
hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Trường Nhật Phượng được bảo vệ năm
2004 Luận văn đã khái quát được những nội dung của Luật Phá sản 2004 Trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế bất cập của Luật Phá sản nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật phá sản
Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo, bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề phá sản Những công trình nghiên cứu này, tác giả các bài viết nghiên cứu những quy định pháp luật phá sản ở nhiều góc độ khác nhau Trong đó, quy định về Hội nghị chủ nợ được tác giả các bài viết lấy làm trọng tâm nghiên cứu hoặc chỉ đề cập đến như một nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình Đây là một chế định rất hay và được xem như một công cụ tái cấu trúc hiệu quả nhất giúp doanh
Trang 9nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản Cho nên, nghiên cứu để thấu hiểu được những đặc thù và tính ưu việt của chế định này nhằm phát huy tối đa vai trò của Hội nghị chủ nợ trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản là thật sự cần thiết
Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ vai trò và thẩm quyền của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản
- Tìm ra những vướng mắc của quy định pháp luật làm hạn chế vai trò của
Hội nghị chủ nợ trong thực tiễn áp dụng
- Đưa ra một số kiến nghị phát huy những mặt tích cực của Hội nghị chủ nợ
trong thủ tục phá sản
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát những vấn đề cơ bản về Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản
- Phân tích, đánh giá những điều kiện tiến hành và thông qua Nghị quyết của
Hội nghị chủ nợ; thẩm quyền của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản
- Phân tích những quy định còn bất cập trong thực tiễn áp dụng về Hội nghị
chủ nợ và đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò của Hội nghị chủ
nợ, góp phần vào sự thành công của thủ tục phá sản
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về Hội nghị chủ
nợ trong thủ tục phá sản trên cơ sở tổng quan những vấn đề lý luận, quy định pháp
luật và thực tiễn áp dụng những quy định này Qua đó thấy được những hạn chế, bất
cập và đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của Luật
Phá sản 2004
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp trên cơ sở kế thừa những giá trị khoa học của các đề tài trước đây Từ đó, làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài
Việc thực hiện nghiên cứu này sẽ mang lại những kiến thức và kinh nghiệm vô cùng quý báu cho bản thân tác giả trong việc thấu hiểu và vận dụng Luật Phá sản nói chung và Hội nghị chủ nợ nói riêng Đồng thời, tác giả kỳ vọng nghiên cứu này
Trang 10có thể là một phần đóng góp nhỏ trong việc bổ sung các kiến thức về Hội nghị chủ
nợ, vai trò của Hội nghị chủ nợ cũng như những vấn đề bất cập liên quan đến Hội nghị chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp Đồng thời với việc chỉ
ra những bất cập và đề xuất một số kiến nghị, tác giả mong muốn được góp phần vào việc hoàn thiện Luật Phá sản
Luận văn này được thực hiện sẽ góp phần vào việc bổ sung các kiến thức còn chưa được nghiên cứu sâu về Hội nghị chủ nợ và vai trò của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản Hội nghị chủ nợ là cơ quan đại diện cho chủ nợ, có ý nghĩa trong việc thống nhất quan điểm của các bên có quyền lợi liên quan, qua đó hạn chế tình trạng hỗn loạn không cần thiết, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Phá sản và bảo đảm tính ổn định của nền kinh tế
Đồng thời, những bất cập của Hội nghị chủ nợ trên thực tế áp dụng cũng sẽ được phân tích trong luận văn và có thể được các nhà lập pháp dùng làm cơ sở tham khảo trong việc đánh giá, điều chỉnh các quy định liên quan Ngoài ra, tác giả cũng mong muốn trong khuôn khổ của luận văn này, có thể đề xuất những kiến nghị phù hợp để quá trình thực thi Luật Phá sản nói chung và Hội nghị chủ nợ nói riêng diễn
ra một cách hiệu quả, đóng góp tích cực vào việc đạt được mục tiêu của pháp luật nói chung và Luật Phá sản nói riêng là duy trì trật tự xã hội, ổn định nền kinh tế, tạo
cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể có liên quan đến doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương:
chủ nợ trong thủ tục phá sản
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NGHỊ CHỦ NỢ
Ở Việt Nam, thuật ngữ phá sản được biết đến từ thời kỳ Pháp thuộc Cùng với quá trình thực dân hóa, người Pháp đã mang Bộ luật Thương mại Pháp vào Việt Nam4 Tuy nhiên, thuật ngữ phá sản không được sử dụng phổ biến mà được thay bằng thuật ngữ khánh tận Thuật ngữ này dùng để chỉ tình trạng mất khả năng thanh toán của một thương nhân và xuất hiện đầu tiên tại Điều 180 của Bộ luật Thương mại Trung Kỳ 1942 Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972 được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành đã chấm dứt hiệu lực của Bộ luật thương mại Trung Kỳ
1942 Theo đó, thuật ngữ khánh tận được nêu tại Điều 864 dùng để chỉ tình trạng thương gia ngừng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị Tòa
án tuyên khánh tận5
Sau khi giành được độc lập, nước ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chủ thể kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước Đặc trưng của nền kinh tế này là nguyên tắc Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế, trong đó có hai thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Các doanh nghiệp hoạt động theo kế hoạch và chỉ tiêu bằng nguồn vốn Nhà nước, lãi thì nộp vào ngân sách nhà nước và được Nhà nước hỗ trợ bằng cách khoanh nợ, hoãn nợ, xóa nợ khi doanh nghiệp thua
lỗ để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động hoặc bằng các biện pháp hành chính như sáp nhập, giải thể để chấm dứt hoạt động Trong hoàn cảnh như vậy, không thể có hiện tượng phá sản xảy ra
Đến Đại hội Đảng lần thứ VI, nước ta bắt đầu xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định
Trang 12hướng xã hội chủ nghĩa Từ đây, các chủ thể kinh doanh phải chịu sự điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị… Cho nên, pháp luật phá sản ra đời không phải là sự lựa chọn mà là một nhu cầu tất yếu khách quan
Ngày nay, các quốc gia đã tiếp nhận hiện tượng phá sản như một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường Xu hướng này được mang vào quá trình lập pháp của mỗi quốc gia, nội dung của pháp luật về phá sản đã mang tính nhân văn hơn, thay vì hướng vào chủ nợ và trừng trị con nợ thì pháp luật phá sản ngày nay hướng tới mục tiêu dung hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ, chú trọng đến giải pháp khôi phục doanh nghiệp mắc nợ thông qua những quy định về dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, các biện pháp bảo toàn tài sản, Hội nghị chủ nợ (HNCN), biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và thứ tự thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản
Mặc dù thuật ngữ phá sản được sử dụng rộng rãi nhưng chưa có văn bản pháp luật phá sản nào chính thức giải thích về phá sản ở nước ta Thay vào đó, thuật ngữ
“doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” được sử dụng để chỉ trạng thái làm phát sinh quyền của một số chủ thể nhất định được yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó
Năm 1990, việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được nhắc đến như tình trạng tại một thời điểm, tổng giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp nhỏ hơn tổng giá trị các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp6
Đến năm 1993, Luật Phá sản doanh nghiệp đã xác định “Doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất
khả năng thanh toán nợ đến hạn” (Điều 2 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993) Điều 3
Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp đã cụ thể hóa các dấu hiệu để xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như sau:
6
Điều 2 Luật Công ty năm 1990 quy định “Công ty gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt đông kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là công ty đang lâm vào tình trạng phá sản” và Điều 17 Luật Doanh nghiệp tư nhân năm
1990 quy định “Doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt đông kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản”
Trang 13- Doanh nghiệp kinh doanh bị thua lỗ trong 02 năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong 03 tháng liên tiếp
chính cần thiết như: Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm; có biện pháp xử lý hàng hoá, sản phẩm, vật tư tồn đọng; thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng; thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh
nợ, giảm, xoá nợ; tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải các khoản nợ đến hạn và đầu tư đổi mới công nghệ
thì bị coi là lâm vào tình trạng phá sản
Với những điều kiện được đặt ra như vậy, Luật Phá sản doanh nghiệp đã trở thành rào cản các chủ thể có liên quan không thể sử dụng pháp luật phá sản như một công cụ đòi nợ theo mục tiêu ban đầu mà Luật Phá sản doanh nghiệp đã đề ra Để được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp phải kinh doanh thua lỗ trong 02 năm liên tiếp Có thể nói, kinh doanh thua lỗ là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán ở hầu hết các doanh nghiệp Nhưng không cần đợi tới 02 năm thua lỗ, tài sản của doanh nghiệp có thể không còn gì sau những giao dịch thất bại, hoặc do sự thay đổi của tình hình kinh tế thế giới hoặc do thay đổi của chính sách trong nước có thể trong thời gian ngắn dẫn đến kiệt quệ tài chính doanh nghiệp Một tình huống khác, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ nhưng không liên tiếp 02 năm mà có sự đứt quãng, năm này thua lỗ nhưng năm tiếp theo không lỗ, năm tiếp theo lại thua lỗ Tổng hợp những lần thua lỗ này đã làm cho doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ bằng chính tài sản của mình Thế nhưng, cũng không thể tiến hành phá sản bởi vì không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định
Như vậy, nếu doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện theo quy định thì thủ tục phá sản doanh nghiệp được xem như một biện pháp cuối cùng để xử lý tài sản con nợ hơn là phục hồi doanh nghiệp Khi tiếp cận được thủ tục phá sản thì tình hình tài chính của doanh nghiệp đã kiệt quệ, doanh nghiệp phải giải quyết mâu thuẫn với các chủ nợ và người lao động hơn là tìm cách tái cơ cấu lại doanh nghiệp
để vực dậy hoạt động kinh doanh Lúc này, doanh nghiệp đã ở vào giai đoạn cuối của quá trình sinh tồn Cho nên, những quy định pháp luật về phục hồi doanh nghiệp trong thủ tục phá sản không có giá trị áp dụng trên thực tế
Trang 14Khắc phục những hạn chế đó, Luật Phá sản 2004 đã thể hiện rõ mục tiêu bảo
vệ quyền lợi của chủ nợ, người lao động và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, nhận thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa lợi ích của chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) được phục hồi thì lợi ích của chủ nợ được bảo đảm thanh toán đầy đủ nhất Hơn nữa, tính nhân văn của pháp luật phá sản thể hiện ở chỗ là tạo cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ phục hồi và trở lại thương trường, những nhà lập pháp đã có
sự điều chỉnh phù hợp hơn khi đưa ra dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, theo đó “Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn
khi chủ nợ có yêu cầu” (Điều 3 Luật Phá sản 2004) Như vậy, tương tự pháp luật
phá sản các nước trên thế giới, Luật Phá sản hiện hành xem việc mất khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu là căn cứ cơ bản và duy nhất để xem xét mở thủ tục phá sản doanh nghiệp mà không cần phải quan tâm đến các dấu hiệu khác như Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 quy định Sự tiến bộ của Luật Phá sản
2004 đã tạo điều kiện cho việc áp dụng thủ tục phá sản kịp thời, nâng cao khả năng
Theo Điều 3 Luật Phá sản 2004, một doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Luật Phá sản
2004 không quan tâm doanh nghiệp nợ bao nhiêu, chỉ cần có khoản nợ đến hạn trả
mà doanh nghiệp không trả được cho chủ nợ Khi doanh nghiệp vi phạm cam kết trả
nợ như hai bên đã thỏa thuận trước đó thì được xem là đã lâm vào tình trạng phá sản Nhà làm luật không bắt buộc các chủ nợ phải chứng minh tình trạng tài chính thực tế của doanh nghiệp, bởi tính minh bạch của thông tin tài chính doanh nghiệp
và vấn đề bảo mật thông tin làm cho việc xác định tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp là rất khó thực hiện
Thứ hai, khi chủ nợ có yêu cầu thanh toán nhưng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán Khi nợ đến hạn, doanh nghiệp không có khả năng thanh toán mà
không biết cần số nợ phải thanh toán là bao nhiêu thì được xem là lâm vào tình trạng phá sản Quy định này cho phép các chủ thể có liên quan sớm xác định dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và Nhà nước có sự can thiệp kịp thời đối với doanh nghiệp này Qua đó, cơ hội phục hồi của doanh nghiệp sẽ cao hơn
7
Dương Đăng Huệ (2004), Giới thiệu nội dung Luật Phá sản, Kỷ yếu chương trình tập huấn bồi dưỡng kiến
thức pháp luật, Bộ tư pháp, Bà Rịa – Vũng tàu, tr 90
Trang 15Có thể nói, bất cứ quy định nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định
Bỏ qua những bất cập vừa phân tích, chúng ta đã thấy được sự cố gắng của các nhà lập pháp trong sự điều chỉnh quy định pháp luật để ngày càng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước mà vẫn không lạc nhịp với xu hướng chung của thế giới Tóm lại, căn cứ để xác định một doanh nghiệp có lâm vào tình trạng phá sản hay không là dựa vào khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp mà không cần xác định tài sản thực tế của doanh nghiệp có đủ trả nợ hay không Quy định này
là hợp lý và phù hợp với xu hướng chung của thế giới vì các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan dễ dàng xác định dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để
có biện pháp can thiệp kịp thời, hạn chế đến mức tối đa thiệt hại có thể xảy ra
1.1.2 Thủ tục phá sản
1.1.2.1 Đặc điểm thủ tục phá sản
Phá sản là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường Dưới góc độ quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, Nhà nước tất yếu phải thiết kế thủ tục giải quyết mối quan hệ xã hội này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể có liên quan, đồng thời làm lành mạnh môi trường kinh doanh, ổn định trật tự xã hội Tuy nhiên, quan hệ pháp luật phá sản liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau và có thể gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng Cho nên, nhà làm luật xây dựng một thủ tục giải quyết đặc biệt điều chỉnh nhóm quan hệ này, tính đặc biệt của thủ tục phá sản thể hiện ở những điểm sau:
- Là công cụ đòi nợ mang tính tập thể
Khi quyền và lợi ích bị xâm phạm, chủ nợ có quyền lựa chọn biện pháp pháp
lý cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Khi doanh nghiệp không trả nợ đến hạn, chủ nợ có quyền kiện đòi theo thủ tục tố tụng dân sự Tuy nhiên, phần lớn tài sản doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không đủ để thanh toán nợ đầy đủ cho tất cả các chủ nợ và không bảo đảm được quyền lợi chủ nợ một cách công bằng
và thỏa đáng Chủ nợ có thể dùng mọi biện pháp hợp pháp lẫn bất hợp pháp để tài sản đó thuộc về mình
Nhằm thiết lập trật tự và bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan, pháp luật phá sản ra đời để đảm bảo công bằng cho các chủ nợ, quyền lợi của người lao động, đồng thời tránh được sự tẩu tán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ
Để thực hiện quyền đòi nợ của mình, pháp luật cho phép chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp để thanh toán nợ Tuy nhiên, việc giải quyết yêu cầu này không tiến hành riêng lẻ cho từng chủ nợ, tất cả các khoản nợ
Trang 16đều được giải quyết trong một thủ tục chung – thủ tục phá sản Những chủ nợ không nộp đơn yêu cầu vẫn được giải quyết như những chủ nợ khác, ngay cả những khoản nợ chưa đến hạn vẫn được thanh toán như những khoản nợ khác khi tiến hành thanh lý tài sản doanh nghiệp (Điều 34 Luật Phá sản 2004) Cho nên, mỗi chủ
nợ không thể là một nguyên đơn độc lập mà tất cả các chủ nợ được tập hợp lại thành một chủ thể thống nhất là HNCN HNCN sẽ đại diện cho tất cả các chủ nợ để tham gia vào quá trình giải quyết phá sản
- Công cụ điều hòa lợi ích giữa các bên có liên quan
Thủ tục phá sản được coi là thủ tục đòi nợ đặc biệt, khác với thủ tục đòi nợ thông thường chỉ nhằm thanh toán nợ cho chủ nợ đối với những khoản nợ đến hạn phải trả theo đúng cam kết Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường mà rủi ro luôn
ẩn chứa trong từng hoạt động kinh doanh, để khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vào nền kinh tế, pháp luật phá sản đã tạo ra cơ chế pháp lý để xử lý nợ, đồng thời vẫn giúp con nợ vượt qua tình trạng khó khăn về tài chính, trở lại hoạt động bình thường Đối với những con nợ không có khả năng phục hồi, pháp luật cũng tạo điều kiện thuận lợi để thanh lý tài sản và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian sớm nhất nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại do doanh nghiệp phá sản mang lại
Một mặt, thủ tục phá sản cung cấp cho chủ nợ một công cụ đòi nợ ngoài thủ tục đòi nợ dân sự Thủ tục phá sản không phải là biện pháp tối ưu để bảo đảm quyền lợi của từng chủ nợ một cách tốt nhất do số nợ có thể sẽ không được thanh toán đầy
đủ Tuy nhiên, pháp luật ra đời nhằm thiết lập trật tự xã hội Không nằm ngoài mục tiêu chung đó, pháp luật phá sản ra đời trước tiên và chủ yếu để bảo vệ cho tất cả chủ nợ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Thông qua HNCN, pháp luật phá sản đã tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình khi quyền này có nguy cơ bị xâm phạm, bảo vệ một cách công bằng, thỏa đáng cho các chủ nợ cũng như các chủ thể có lợi ích liên quan nhằm khuyến khích các chủ thể mạnh dạn đầu tư, tăng nguồn vốn cho nền kinh tế
Mặt khác, thủ tục phá sản đã cân bằng lợi ích giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ bên cạnh bảo vệ lợi ích của các chủ nợ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thông qua quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; quyền cử người đại diện tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản (QLTLTS); quyền tham gia HNCN và biểu quyết những vấn đề quan trọng liên quan đến lợi ích của mình; quyền khiếu nại quyết định của Tòa án; thông qua các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để mở rộng khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ Tuy
Trang 17nhiên, nhà làm luật nhận ra rằng, hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro và luôn được khuyến khích, cho nên pháp luật phá sản đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái tổ chức hoạt động kinh doanh, khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán thông qua biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp trở về hoạt động bình thường, tiếp tục tạo ra của cải, vật chất cho bản thân doanh nghiệp và cho toàn xã hội, hạn chế những thiệt hại do phá sản mang lại Tóm lại, pháp luật phá sản có vai trò rất lớn để nền kinh tế vận hành trôi chảy Cho nên, việc thiết kế pháp luật phá sản đòi hỏi phải có sự cân bằng lợi ích giữa chủ
nợ và con nợ Nếu pháp luật phá sản chỉ được thiết kế để bảo vệ lợi ích chủ nợ sẽ dẫn đến triệt tiêu sự sáng tạo và mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mới, mang tính mạo hiểm, đồng thời làm giảm đi tính chia sẻ rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngược lại, nếu pháp luật phá sản chỉ bảo vệ doanh nghiệp mắc nợ sẽ làm dập tắt thị trường tín dụng, không chủ nợ nào mạnh dạn cho vay khi không có cơ chế pháp lý bảo vệ họ, người cho vay sẽ không có động cơ để cho vay Vì lẽ đó mà pháp luật phá sản của hầu hết các quốc gia trên thế giới luôn cân bằng giữa lợi ích của chủ nợ, con nợ và những chủ thể có liên quan để các nhóm lợi ích trong quan hệ pháp luật phá sản luôn được hài hòa
- Trên thực tế ở Việt Nam, kết quả thường dẫn đến chấm dứt tồn tại doanh nghiệp
Tình trạng mất khả năng thanh toán đã thể hiện phần nào sự nguy kịch về tài chính của doanh nghiệp Về lý thuyết, khả năng hồi phục của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thông qua biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh là có thể Nhưng trên thực tế, có rất ít doanh nghiệp được trở lại hoạt động bình thường khi đã
áp dụng thủ tục phá sản Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý e ngại áp dụng thủ tục phá sản bởi chính doanh nghiệp mắc nợ và cả chủ nợ của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp mắc nợ, khi rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
nợ đến hạn, họ sẽ tìm cách thương lượng hoặc hoãn nợ với chủ nợ của mình Hơn nữa, việc chứng minh không vi phạm các chế độ tài chính của doanh nghiệp là rất khó Cho nên, được hưởng những lợi ích do thủ tục phá sản mang lại như doanh nghiệp được phục hồi để làm lại từ đầu là rất khó Ngược lại, họ phải đối mặt với những vi phạm của mình trước pháp luật như không tuân thủ chế độ kế toán chứng
từ, thậm chí những người quản lý doanh nghiệp cấp cao nhất hay chủ doanh nghiệp
có thể bị cấm thành lập doanh nghiệp mới trong thời hạn từ 01 đến 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có hiệu lực pháp luật
Đối với chủ nợ, đòi nợ bằng thủ tục phá sản là sự lựa chọn sau cùng Trước hết, chủ nợ sẽ sử dụng phương pháp thương lượng, hòa giải hoặc sử dụng uy tín để
Trang 18tạo sức ép cho doanh nghiệp nhanh chóng trả nợ Chủ nợ có thể kiện đòi theo thủ tục tố tụng dân sự để đòi nợ Bởi vì, thủ tục phá sản được xem là thủ tục đòi nợ tập thể, khi doanh nghiệp áp dụng thủ tục phá sản thì tài sản của doanh nghiệp được đem chia sẻ cho tất cả các chủ nợ theo tỷ lệ tương ứng, tài sản mà mình nhận về có thể bằng không
Chính vì những lý do trên mà những chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã trì hoãn khởi động thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản Điều này làm cho cơ hội phục hồi của doanh nghiệp rất thấp, khi thủ tục phá sản được áp dụng thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng nguy kịch thật sự Việc còn lại của thủ tục phá sản chỉ là thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản doanh nghiệp Vì vậy, kết quả của thủ tục phá sản thường dẫn đến sự chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp
1.1.2.2 Các bước của thủ tục phá sản
a Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
Khi nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, các chủ thể bao gồm: chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động, doanh nghiệp mắc nợ, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp8
Thứ nhất, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần
Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 cũng như Luật Phá sản hiện hành dành quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, quyền lợi của chủ nợ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng Cho nên, pháp luật phá sản đã cung cấp công cụ đòi nợ cho các chủ nợ này Tuy nhiên, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không thuộc về chủ nợ có bảo đảm vì xuất phát từ quan điểm cho rằng, quyền đòi nợ của các chủ nợ có bảo đảm được ưu tiên thanh toán bằng tài sản bảo đảm của doanh nghiệp
Thứ hai, người lao động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Luật Phá sản 2004 cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp không trả được lương và các khoản nợ khác mà không cần phải 03 tháng liên tiếp không trả lương như Luật Phá sản doanh nghiệp
8
Đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, nộp đơn yêu cầu mở thủ tục là nghĩa vụ của doanh nghiệp
Trang 191993 Tuy nhiên, người lao động không được trực tiếp nộp đơn mà phải cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn (Điều 14 Luật Phá sản 2004)
Thứ ba, doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là nghĩa vụ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Hơn ai hết, doanh nghiệp tự nhận biết được tình hình tài chính cũng như khả năng thanh toán trong nội bộ doanh nghiệp mình Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp doanh nghiệp phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp (Điều 15 Luật Phá sản 2004) Đây là nghĩa vụ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Đối với công ty hợp danh, các thành viên hợp danh đều
có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty (Khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2005) Do đó, Luật Doanh nghiệp không bắt buộc trong Điều lệ công ty hợp danh phải ghi rõ người đại diện theo pháp luật như công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (Khoản 8 Điều
22 Luật Doanh nghiệp 2005) Điều này đặt ra vấn đề, thành viên hợp danh nào có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản? Trách nhiệm nộp đơn rất khó xác định thuộc về thành viên hợp danh nào khi chậm nộp đơn gây thiệt hại cho các chủ thể có liên quan Tuy nhiên, Luật Phá sản 2004 chưa quy định cụ thể khi công ty lâm vào tình trạng phá sản thì thành viên hợp danh nào có nghĩa vụ nộp đơn sẽ gây lúng túng trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản
Thứ tư, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ đông hoặc nhóm cổ đông công
ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh cũng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Đây là điểm mới của Luật Phá sản 2004 so với Luật Phá sản doanh nghiệp
1993 Xuất phát từ quan điểm tiến bộ trong quản trị doanh nghiệp, cần phải có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người quản lý phần vốn chủ sở hữu Bởi vì, người có vốn chưa hẳn quản lý giỏi và ngược lại Tuy nhiên, chính vì người quản lý và điều hành tại doanh nghiệp không phải là chủ sở hữu nguồn vốn đó nên rất dễ dẫn đến hoạt động tư lợi làm ảnh hưởng đến lợi ích của chủ sở hữu Chính vì vậy, pháp luật cho phép chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước và cổ đông công ty cổ phần được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản (Điều 15 và Điều 16 Luật Phá sản 2004)
Đối với thành viên hợp danh trong công ty hợp danh, khi nhận thấy công ty lâm vào tình trạng phá sản, thành viên này có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
Trang 20phá sản đối với công ty hợp danh đó (Điều 17 Luật Phá sản 2004) Quy định này xuất phát từ quan điểm cho rằng thành viên hợp danh có chế độ trách nhiệm đặc biệt hơn so với thành viên của các loại hình doanh nghiệp khác, trách nhiệm của họ không chỉ giới hạn trong phần vốn góp vào doanh nghiệp mà kể cả tài sản riêng của mình Cho nên, thông qua việc nộp đơn, họ có quyền chủ động lựa chọn biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình trước nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Tòa án cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đó Sau khi thụ lý đơn, Chánh án
sẽ phân công từ một đến ba thẩm phán phụ trách giải quyết việc phá sản Sau khi được phân công, thẩm phán hoặc tổ thẩm phán sẽ thông báo và yêu cầu doanh nghiệp và người nộp đơn cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Trên cơ sở xem xét tài liệu, chứng cứ, Thẩm phán/Tổ Thẩm phán quyết định
mở hoặc không mở thủ tục phá sản
Sau khi xem xét tài liệu của người nộp đơn cung cấp và ý kiến phản hồi của doanh nghiệp, Thẩm phán xét thấy có đủ căn cứ xác định doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản, Thẩm phán/Tổ Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản sẽ được gửi cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát Nhân dân cùng cấp, đăng báo địa phương, báo trung ương trong 03 số liên tiếp và phải được thông báo cho các chủ nợ và những người mắc nợ doanh nghiệp
Trong thời hạn 30 ngày sau khi nhận được bảng kê chi tiết tài sản doanh nghiệp và danh sách chủ nợ, người mắc nợ doanh nghiệp, Thẩm phán/Tổ Thẩm phán phải triệu tập HNCN lần thứ nhất Giấy triệu tập HNCN phải được gửi cho người có quyền tham gia HNCN và người có nghĩa vụ tham gia HNCN Trong thời hạn 15 ngày, Thẩm phán/tổ Thẩm phán phải tập hợp tất cả các tài liệu có liên quan
để lập chương trình và nội dung Hội nghị Thời gian này tương đối ngắn để Thẩm phán/Tổ Thẩm phán phải tổng hợp, đánh giá và chọn lọc thông tin và chứng cứ do các bên cung cấp Cũng trong khoảng thời gian 15 ngày này, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải xây dựng kế hoạch, phương án tổ chức lại hoạt động kinh doanh và kế hoạch thanh toán nợ cho doanh nghiệp để trình bày trong cuộc họp HNCN
Tại HNCN lần đầu tiên được triệu tập, Tổ trưởng Tổ QLTLTS sẽ thông báo tình hình kinh doanh và thực trạng tài chính của doanh nghiệp; kết quả kiểm kê tài sản; danh sách chủ nợ và người mắc nợ doanh nghiệp Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp sẽ trình bày ý kiến về nội dung Tổ QLTLTS đã thông báo tại Hội nghị, đề
Trang 21xuất phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn thanh toán nợ Sau đó, Hội nghị sẽ thảo luận những vấn đề Tổ trưởng Tổ QLTLTS
và đại diện hợp pháp doanh nghiệp trình bày để đi đến thống nhất chung và lựa chọn phương án tối ưu cho “bài toán” mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp Đây là cơ sở để HNCN thông qua Nghị quyết khi quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại Hội nghị đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên thông qua Nghị quyết9 Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được Nghị quyết của HNCN lần thứ nhất, doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nộp cho Tòa án Sau khi nhận được phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không có yêu cầu doanh nghiệp (hoặc chủ
thể khác xây dựng phương án phục hồi này) sửa đổi bổ sung phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh thì trong thời hạn 15 ngày, Thẩm phán ra quyết định đưa phương án phục hồi ra HNCN xem xét, quyết định và trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định đưa phương án phục hồi hoạt động kinh doanh ra HNCN, Thẩm phán phải triệu tập HNCN xem xét và thảo luận thông qua
Tại HNCN lần tiếp theo, phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được HNCN xem xét và thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên thông qua Đây là cơ sở để doanh nghiệp áp dụng bước tiếp theo đó là phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Đây là tiền đề vô cùng quan trọng cho bước phục hồi hoạt động kinh doanh Nếu như phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được thực hiện thành công sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các bên có liên quan, người lao động sẽ không mất việc làm, doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng nợ nần trở lại hoạt động bình thường, tiếp tục hoạt động kinh doanh tạo ra của cải cho mình và xã hội, các chủ nợ có cơ hội được thanh toán đầy đủ số nợ của mình
b Phục hồi hoạt động kinh doanh
Sau khi Thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết của HNCN về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tiến hành triển khai các nội dung của phương án Thời hạn tối đa để doanh nghiệp phục hồi là 03 năm Trong giai đoạn này, doanh nghiệp được trở về hoạt động bình thường, không còn
9
Điều 64, 65 Luật Phá sản 2004
Trang 22chịu sự kiểm tra, giám sát của Thẩm phán và Tổ QLTLTS10, chủ nợ là người có nghĩa vụ giám sát việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc giám sát của chủ nợ trong giai đoạn này là rất quan trọng và cần thiết Thông qua hoạt động giám sát, chủ nợ là người đồng hành cùng doanh nghiệp mắc nợ thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc và có biện pháp áp dụng phù hợp trong quá trình áp
hành quy định pháp luật và nghiêm túc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh như đã cam kết của doanh nghiệp mắc nợ Tuy nhiên, Luật Phá sản
2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định nào hướng dẫn thực hiện vấn đề này Chủ nợ thực hiện việc giám sát như thế nào, thông qua cơ chế nào luật chưa quy định cụ thể đã gây lúng túng cho Thẩm phán khi hướng dẫn thực hiện quy định pháp luật trong quá trình tiến hành giải quyết phá sản cho doanh nghiệp
c Thanh lý tài sản, các khoản nợ
Mở đầu thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, Thẩm phán ra quyết định
mở thủ tục thanh lý tài sản Nếu không có khiếu nại, kháng nghị, Quyết định này sẽ được thi hành Tài sản của doanh nghiệp được tiến hành phân chia theo thứ tự được quy định tại Điều 35, 36 và 37 Luật Phá sản 2004
d Tuyên bố phá sản
Thẩm phán sẽ ra quyết định tuyên bố phá sản trong các trường hợp sau:
sản
Các bước trong trình tự thủ tục phá sản có mối liên hệ với nhau Tuy nhiên, giữa các bước trong thủ tục phá sản có sự độc lập tương đối Điều đó đã tạo nên tính linh hoạt trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhanh chóng chấm dứt sự tồn tại khi đã không còn khả năng phục hồi, tiết kiệm chi phí và thời gian giải quyết vụ phá sản
Trang 23để doanh nghiệp ổn định tình hình tài chính và tìm kiếm giải pháp để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán như: Tìm và loại bỏ những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp; tích cực đòi các khoản nợ của doanh nghiệp; cắt giảm những khoản chi tiêu không hợp lý; ngưng đầu tư vào những dự án kém hiệu quả Bên cạnh đó, phát huy những thế mạnh của doanh nghiệp, khắc phục những mặt hạn chế của doanh nghiệp Chẳng hạn, khi có sự thay đổi về chính sách vĩ mô làm cho mặt hàng kinh doanh không còn phù hợp và hiệu quả, doanh nghiệp có thể chuyển sang ngành nghề khác phù hợp với nhu cầu thị trường, đồng thời phát huy được thế mạnh của chính bản thân doanh nghiệp để hướng đến mục tiêu lớn nhất của thủ tục phá sản là thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và trở lại hoạt động bình thường Ví dụ: Do đầu tư dàn trải và không kiểm soát được nguồn vốn nên Công ty Mai Linh không thanh toán được nợ lãi và nợ gốc đến hạn cho người cho vay Hiện nay, do thu hồi vốn ở một số lĩnh vực hoạt động kém hiệu quả dẫn đến nợ rất nhiều chủ nợ Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp đã đứng ra trấn an, giải trình với các chủ nợ, đồng thời đưa ra phương hướng khắc phục như bán bớt tài sản, thanh lý bất động sản, trạm dừng chân và ô tô và tái cấu trúc lại công ty12
Mặt khác, nếu như phương án phục hồi không được áp dụng hoặc áp dụng không thành công thì ít nhất những quy định pháp luật về thủ tục phá sản cũng đã điều hòa được mâu thuẫn giữa các chủ thể, đưa vụ phá sản doanh nghiệp vào vòng trật tự Suy cho cùng, thủ tục phá sản bao gồm hai thủ tục cơ bản là phục hồi hoạt động kinh doanh và thanh lý tài sản để thanh toán nợ Nếu như phục hồi không thành công, pháp luật phá sản đã thiết kế thủ tục thanh lý tài sản để thanh toán nợ cho chủ nợ và người lao động, thứ tự ưu tiên thanh toán để bảo đảm công bằng và thỏa đáng cho các chủ thể tham gia thủ tục phá sản
12
http://www.thesaigontimes.vn/Home/Tai-chinh/Chung-khoan/89242/
Trang 24Có thể nói, tính khả thi của Luật Phá sản tỷ lệ thuận với thời gian để giải quyết một vụ phá sản, các chi phí và giá trị tài sản có thể thu hồi Để Luật Phá sản thật sự
là công cụ đòi nợ tập thể cho các chủ nợ ưu tiên lựa chọn, trước hết cần phải đơn giản hóa và rút ngắn thời gian xử lý Vì vậy, Luật Phá sản đã thiết kế một thủ tục giải quyết đối với những trường hợp đặc biệt khi doanh nghiệp không còn khả năng phục hồi nhằm giúp doanh nghiệp sớm rút lui khỏi thị trường, tiết kiệm được thời gian, chi phí và tránh gây thiệt hại cho những chủ thể có liên quan13
1.1.3.2 Bảo toàn tối đa giá trị tài sản của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có thể dùng tài sản của chính doanh nghiệp, cũng có thể sử dụng tài sản vay mượn để tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời
và lợi nhuận doanh nghiệp hưởng, lỗ doanh nghiệp chịu Tuy nhiên, những chủ nợ
mà doanh nghiệp chiếm dụng vốn thì không phải vậy Họ không được lợi từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cho nên, họ không có lý do gì phải chịu lỗ cùng doanh nghiệp Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ nợ pháp luật phá sản đã đưa ra quy định về những hành vi cấm, hạn chế doanh nghiệp thực hiện, tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, bên cạnh đó Thẩm phán có quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Cơ chế quản lý và kiểm tra, giám sát tài sản và hoạt động của doanh nghiệp nhằm bảo toàn khối tài sản của doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp tuân thủ Nghị quyết của HNCN, quyết định của Thẩm phán và những quy định pháp luật
Pháp luật phá sản như một công cụ để bảo vệ lợi ích của các bên có liên quan
từ hoạt động kiếm lời của doanh nghiệp, hạn chế hành vi tẩu tán và làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
1.1.3.3 Bảo đảm công bằng và bình đẳng cho các chủ thể
Kinh doanh luôn mang trong mình yếu tố rủi ro Doanh nghiệp tham gia thị trường ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận còn đóng góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân Hàng năm, doanh nghiệp đóng góp một khoản tiền khổng lồ vào ngân sách nhà nước, giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra giá trị thặng dư cho
xã hội Chính vì những đóng góp đó mà doanh nghiệp cũng cần phải được chia sẻ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình Thông qua thủ tục phá sản, pháp luật cho phép doanh nghiệp rút khỏi thị trường và làm lại từ đầu nếu như thua lỗ do những nguyên nhân khách quan tác động Những rủi ro này được chia sẻ cho các
13
Phan Thị Bích Nguyệt (2008), “Nợ và vấn đề phá sản của các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Phát triển
Kinh tế, (212).
Trang 25chủ nợ của doanh nghiệp theo thứ tự ưu tiên thanh toán và tỷ lệ nợ của từng chủ nợ Bởi vì, ngoài doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thì hợp tác xã và các loại hình doanh nghiệp còn lại chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong giới hạn khối tài sản của doanh nghiệp Như vậy, không phải tất cả các chủ nợ đều chắc chắn được thanh toán đầy đủ các khoản nợ của mình Cho nên, thủ tục phá sản – thủ tục thanh toán nợ tập thể đã thay thế cho thủ tục đòi nợ riêng
lẻ của từng chủ nợ khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để bảo đảm sự công bằng cho tất cả các chủ nợ Điều đó có nghĩa là những chủ nợ có cùng điều kiện như nhau thì quyền lợi sẽ được giải quyết như nhau và được thể hiện thông qua các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ nợ, thứ tự ưu tiên thanh toán trong thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp
1.1.3.4 Góp phần làm trong sạch môi trường kinh doanh
Một mặt, pháp luật phá sản cảnh báo các doanh nghiệp phải có sự thận trọng cần thiết trong kinh doanh Có thể nói, pháp luật phá sản như một công cụ răn đe, nhắc nhở doanh nghiệp có sự cẩn trọng cần thiết khi đầu tư vào những lĩnh vực mạo hiểm, sử dụng đòn bẩy nợ hợp lý, hiệu quả Bên cạnh đó doanh nghiệp phải luôn không ngừng phát triển, tạo lợi thế cạnh tranh bằng sự khác biệt thì mới có thể chịu được sự đào thải khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường
Mặt khác, phá sản nhằm loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, không đủ sức
nhiên, nền kinh tế thị trường sẽ chọn lọc và giữ lại những doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, tạo môi trường kinh doanh an toàn, bình đẳng, hiệu quả, thu hút đầu tư, góp phần phát triển kinh tế đất nước
1.2 Khái quát chung về Hội nghị chủ nợ
1.2.1 Khái niệm chủ nợ và phân loại chủ nợ
Trang 26hạn một thành viên mua bán nợ Việt Nam có nêu khái niệm về chủ nợ: chủ nợ là các tổ chức, cá nhân có nợ phải thu
Theo Điều 3 Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ, nợ là nghĩa vụ của tổ chức kinh tế, cá nhân này phải trả tài sản cho tổ chức kinh tế, cá nhân khác Chủ nợ là tổ chức kinh tế, cá nhân có quyền đòi nợ
Như vậy, chủ nợ là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào đồng ý cho cá nhân, tổ chức khác vay một lượng tài sản nhất định Các khoản vay này có thể nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh
Khác với nợ trong giao lưu dân sự, nợ theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam tương đối hẹp Một số nước trên thế giới như Thái Lan, Singapore, Mỹ, Luật Phá sản được áp dụng cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức Tuy nhiên, đối tượng áp dụng của Luật Phá sản Việt Nam là những tổ chức được coi là doanh nghiệp và hợp tác xã Sự hạn chế về chủ thể áp dụng kéo theo mục đích của các khoản nợ này nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh
Các khoản nợ có thể được hình thành từ nhiều giao dịch khác nhau Có thể là giao dịch mua bán tài sản, thuê mướn tài sản, vay tài sản hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các nghĩa vụ thuế với cơ quan Nhà nước Ví dụ, trong hợp đồng mua bán, doanh nghiệp thực hiện phương thức thanh toán chậm Trong trường hợp doanh nghiệp không thanh toán thì phần chậm trả đó (không phải là các khoản vay) trở thành nợ phải trả của doanh nghiệp Như vậy, nguồn gốc hình thành mối quan hệ này không dừng lại ở việc vay mượn giữa doanh nghiệp với các chủ nợ
mà còn có thể hình thành từ những nguồn như: Các hợp đồng vay tài sản mà doanh nghiệp là bên vay Bên cho vay trở thành chủ nợ của doanh nghiệp; Hợp đồng mua bán tài sản mà doanh nghiệp là bên mua thì bên bán sẽ trở thành chủ nợ của doanh nghiệp đối với khoản tiền hàng chưa thanh toán; Thuê mướn tài sản mà doanh nghiệp là bên thuê tài sản; Người bảo lãnh sau khi trả nợ thay cho doanh nghiệp; Thuế và các khoản khác mà doanh nghiệp phải nộp Nhà nước, khi đó cơ quan nhà nước trở thành chủ nợ của doanh nghiệp; Người lao động trở thành chủ nợ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp không trả lương cho họ; Các khoản phải trả khác như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tóm lại, chủ nợ trong thủ tục phá sản có thể được hiểu là những cá nhân, tổ chức mà các doanh nghiệp có nghĩa vụ trả tiền (hoặc tài sản trị giá được bằng tiền) Theo cách hiểu này thì chủ nợ ở đây, ngoài những chủ nợ hình thành trong hoạt
Trang 27động kinh doanh còn có các chủ nợ đặc biệt khác như người lao động mà doanh nghiệp nợ lương, Nhà nước mà doanh nghiệp nợ thuế
Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và Luật Phá sản 2004 không có định nghĩa về chủ nợ mà chỉ phân loại chủ nợ dựa vào tài sản bảo đảm Đây là tiêu chí duy nhất để phân loại chủ nợ của hai đạo luật này Khi xây dựng Luật Phá sản, bên cạnh mong muốn doanh nghiệp được phục hồi, nhà lập pháp hướng tới bảo vệ tối đa khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ Chính vì lý do này mà chủ nợ được phân loại dựa vào giá trị tài sản bảo đảm so với khoản nợ mà họ đang sở hữu Lúc này, chính tài sản bảo đảm là công cụ bảo vệ chủ nợ một cách tốt nhất Ít nhất, họ được chắc chắn thanh toán bằng chính tài sản bảo đảm này Đây là lợi ích mà chủ nợ thật sự nhìn thấy được so với khả năng phục hồi của con nợ Có thể nói, tài sản bảo đảm lúc này là cái hiện hữu và an toàn nhất đối với các chủ nợ
1.2.1.2 Phân loại chủ nợ
Việc phân loại chủ nợ vô cùng quan trọng vì có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của từng loại chủ nợ Mỗi chủ nợ có quyền và nghĩa vụ khác nhau Không phải chủ nợ nào cũng có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản doanh nghiệp cũng như quyền biểu quyết tại HNCN Cho nên, tiêu chí để nhà làm luật lựa chọn phân loại chủ nợ là căn cứ vào giá trị tài sản bảo đảm, theo đó:
- Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc người thứ ba Có nghĩa là, khi một chủ thể bất kỳ thiết lập giao dịch với doanh nghiệp có phát sinh nghĩa vụ thanh toán mà nghĩa vụ này được bảo đảm thực hiện bằng tài sản của doanh nghiệp thì chủ nợ này được coi là chủ nợ có bảo đảm Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài
Về giá trị tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm của doanh nghiệp phải có giá trị bằng hoặc lớn hơn giá trị nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thanh toán Tuy nhiên, giá trị tài sản bảo đảm sẽ thay đổi ở những thời điểm khác nhau Đây là ranh giới để xác định tư cách chủ nợ Cho nên, khi xác định chủ thể là chủ nợ có bảo đảm hay bảo đảm một phần cũng cần thống nhất thời điểm xác định giá trị tài sản để không ảnh hưởng đến tư cách cũng như quyền lợi của chủ nợ
Tuy nhiên, nếu gọi là chủ nợ có bảo đảm có thể tạo ra sự nhầm lẫn đây là tên gọi chung cho chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm toàn bộ Chủ nợ
16
Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012
Trang 28có bảo đảm một phần cũng là chủ nợ có bảo đảm Cho nên, tên gọi chủ nợ cần rõ ràng, thay vì gọi là chủ nợ có bảo đảm bằng chủ nợ có bảo đảm toàn bộ thì sẽ đầy
đủ và rõ nghĩa hơn
sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó
tài sản của doanh nghiệp hoặc người thứ ba
Liên quan đến vấn đề này, Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định
163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm căn cứ vào phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm để phân loại thành bảo đảm một phần và bảo đảm toàn bộ Theo đó, chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có một phần nghĩa vụ được bảo đảm Tiêu chí phân loại theo tinh thần của Bộ luật Dân sự đã thể hiện sự
ưu việt so với tiêu chí phân loại của Luật Phá sản 2004 Lựa chọn giá trị tài sản bảo đảm làm tiêu chí đã gặp hạn chế trong thực tiễn áp dụng Bởi vì, nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp sẽ tồn tại cho đến khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục thanh lý và tuyên
bố phá sản Bên cạnh đó, quá trình giải quyết phá sản khá dài, đặc biệt, có những vụ
đó, giá trị tài sản của doanh nghiệp đã giảm đi rất nhiều so với ban đầu Điều này đã biến những chủ nợ có bảo đảm thực tế trở thành những chủ nợ có bảo đảm một phần
Ngoài ra, căn cứ vào thời điểm phát sinh nghĩa vụ, có chủ nợ trước thời điểm
mở thủ tục phá sản và chủ nợ sau thời điểm mở thủ tục phá sản Địa vị pháp lý của hai loại chủ nợ này cũng sẽ khác nhau Nếu gửi giấy đòi nợ đúng hạn, chủ nợ được hình thành trước thời điểm mở thủ tục phá sản sẽ có tên trong danh sách chủ nợ và được quyền tham gia HNCN Những chủ nợ được hình thành sau thời điểm lập xong danh sách chủ nợ thì không được quyền tham gia HNCN, đồng nghĩa với việc không được tham gia biểu quyết hay can thiệp vào vận mệnh của doanh nghiệp Mặc dù mục tiêu của pháp luật phá sản hướng tới phục hồi doanh nghiệp, tuy nhiên mục tiêu này chưa có những quy định kèm theo nhằm khuyến khích chủ nợ mới thiết lập giao dịch với doanh nghiệp Điều này đã cản trở doanh nghiệp tiếp tục hoạt động kinh doanh và tìm kiếm cơ hội phục hồi từ những giao dịch mới này Chính
17
Theo hồ sơ thụ lý số 01/PSDN – KTST ngày 02/2/2004 về “V/v yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty Lương thực An Giang” của Tòa án Nhân dân tỉnh An Giang
Trang 29những chủ nợ mới này là những chủ thể tích cực giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn thua lỗ, trở về hòa nhập với thị trường
1.2.2 Hội nghị chủ nợ và vai trò của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản
1.2.2.1 Khái niệm Hội nghị chủ nợ
Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, rất hiếm khi tài sản của doanh nghiệp còn đủ để thanh toán đầy đủ các khoản nợ và người chịu thiệt thòi nhiều nhất chính là các chủ nợ, đặc biệt là các chủ nợ có khoản nợ không có bảo đảm Nếu không được pháp luật phá sản bảo vệ, các chủ nợ có thể tiến hành cuộc chạy đua để trở thành người đầu tiên tịch thu tài sản của doanh nghiệp Điều hết sức quan trọng là phải đảm bảo sự công bằng và bảo vệ một cách tốt nhất lợi ích chính đáng cho tất cả các chủ nợ Trong thủ tục đòi nợ tập thể này, không bất kỳ chủ nợ nào được giải quyết nợ riêng lẻ, tất cả các chủ nợ đều phải được xem xét trong cùng một thủ tục Tài sản còn lại sẽ chia cho các chủ nợ theo tỉ lệ tương ứng với số nợ và loại
nợ của từng chủ nợ Nói cách khác, tư cách chủ thể của chủ nợ trong thủ tục phá sản không độc lập, riêng lẻ mà phải thông qua một cơ quan là HNCN Đây là cơ quan đại diện cho tất cả các chủ nợ trong suốt quá trình giải quyết phá sản
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, hội nghị là cuộc họp có tổ chức để bàn bạc công việc Hội nghị là một hình thức của họp nhưng với quy mô lớn hơn18 Theo cách hiểu thông thường, hội nghị là họp lại để bàn bạc và thống nhất ban hành nghị quyết, chương trình hành động mang tính chất quan trọng với quy mô lớn của một
tổ chức nhất định Tùy vào mục tiêu mà Hội nghị sẽ lựa chọn chủ đề bàn bạc, thảo luận và đưa ra ý kiến thống nhất Những quyết định do Hội nghị đưa ra có giá trị ràng buộc đối với những chủ thể có liên quan
HNCN được hiểu là tập hợp các chủ nợ lại để bàn bạc và thống nhất một hoặc một số vấn đề và đưa ra chương trình hành động tiếp theo cho doanh nghiệp mắc
nợ Những quyết định được đưa ra trong HNCN không những có giá trị đối với chủ
nợ mà còn có giá trị áp dụng đối với doanh nghiệp mắc nợ và tất cả những chủ thể
có liên quan trong thủ tục phá sản
Dưới góc độ pháp lý, HNCN là cơ quan tập hợp tất cả các chủ nợ, là một tập thể đại diện cho tất cả các chủ nợ và thể hiện ý chí chung của các chủ nợ HNCN có quyền quyết định vận mệnh của doanh nghiệp thông qua những quyết định của mình trong từng giai đoạn khác nhau Trong giai đoạn nộp đơn yêu cầu và mở thủ
18
Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 738
Trang 30tục phá sản, HNCN có quyền quyết định thông qua các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để doanh nghiệp làm cơ sở xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trình HNCN tiếp theo xem xét và thông qua, việc
có áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hay không do HNCN quyết định Như vậy, HNCN là cơ quan đại diện cho tập thể các chủ nợ của doanh nghiệp mắc
nợ để thực hiện quyền của các chủ nợ trong thủ tục phá sản, là nơi thể hiện ý chí tập trung và thống nhất của tất cả các chủ nợ và khi cần thiết lấy ý kiến, tập thể này làm việc thông qua các cuộc họp
HNCN sẽ được Thẩm phán triệu tập trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Thẩm phán nhận được danh sách chủ nợ và bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp mắc
nợ Đây là cuộc họp đầu tiên kể từ khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án Dưới sự chủ trì của Thẩm phán, Hội nghị sẽ bàn bạc và quyết định những giải pháp tiếp theo cho doanh nghiệp mắc nợ Phục hồi hay thanh lý tài sản doanh nghiệp sẽ được trả lời tại HNCN lần thứ nhất này Những lần tiếp theo HNCN được triệu tập theo đề nghị của chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không
có bảo đảm hoặc Tổ QLTLTS
Như vậy, HNCN là nơi mà các chủ nợ có thể thể hiện ý chí tập thể một cách tập trung và thống nhất để can thiệp vào vận mệnh của doanh nghiệp Doanh nghiệp
có được áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hay tiến hành thủ tục thanh
lý tài sản và tuyên bố phá sản doanh nghiệp sẽ do HNCN quyết định
1.2.2.2 Vai trò của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản
- Đại diện cho tiếng nói chung của các chủ nợ
Trong thủ tục phá sản, mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là vấn đề trọng tâm cần được giải quyết Cho nên, HNCN là nơi để các bên trao đổi bàn bạc và tìm ra nguyên nhân để giải quyết mâu thuẫn này Từ đó đưa ra giải pháp hiệu quả nhất để doanh nghiệp lẫn chủ nợ đều cùng có lợi Khi lợi ích được cân bằng thì mâu thuẫn
sẽ không còn tồn tại Tại HNCN, các bên có cơ hội trao đổi bàn bạc và đi đến thống nhất tiếp tục phục hồi doanh nghiệp hay không Các biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp, kế hoạch hoãn nợ, xóa nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ và các biện pháp khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng như những cam kết về thời hạn
và phương thức thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp sẽ được bàn bạc và thống nhất tại HNCN
- Góp phần vào sự thành công của thủ tục phá sản thông qua việc hỗ trợ xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
Trang 31Doanh nghiệp được phục hồi có tác động tích cực về kinh tế, chính trị, xã hội
và chính bản thân những chủ nợ, doanh nghiệp và người lao động Đối với doanh nghiệp được trở lại hoạt động bình thường sau khi áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh thành công được xem như là một kỳ tích làm hồi sinh doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp “chết đi sống lại” Chủ nợ thì được trả đầy đủ các khoản nợ, người lao động không mất việc làm, hạn chế những tác động xấu do thất nghiệp gây ra như tình hình tội phạm gia tăng, sức mua giảm, các chi phí an sinh, trợ cấp xã hội sẽ tăng và thất nghiệp làm suy yếu xã hội về vật chất lẫn tinh thần Ngoài ra, khi doanh nghiệp mạnh khỏe tức là nền kinh tế cũng đang khỏe mạnh để phát triển Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, việc phá sản và chấm dứt hoạt động sẽ kéo theo phá sản những doanh nghiệp khác, đó là những doanh nghiệp đối tác, khách hàng, nhà cung cấp Cho nên, doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển
- Bảo đảm quyền lợi của các chủ nợ một cách công bằng, minh bạch
Pháp luật phá sản ra đời nhằm bảo vệ lợi ích cho các chủ nợ của doanh nghiệp phá sản Khi doanh nghiệp không trả được nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp này để thanh toán nợ cho mình Rõ ràng Luật Phá sản nhằm mục đích chủ yếu và trước tiên là bảo vệ lợi ích cho các chủ nợ
Khi có quyết định mở thủ tục phá sản, mọi khoản nợ cho dù đến hạn hay chưa đến hạn đều không được giải quyết riêng lẻ mà cùng được giải quyết trong một thủ tục chung là thủ tục phá sản Bởi vì, nếu được giải quyết riêng lẻ sẽ dẫn đến có một
số chủ nợ nhận đủ số nợ của mình, còn số chủ nợ còn lại thì nhận không đủ, thậm chí không nhận được gì do tài sản của doanh nghiệp không còn Để đảm bảo công bằng cho các chủ nợ của doanh nghiệp mắc nợ, Luật Phá sản 2004 đã đưa ra những quy định về: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ; tham gia giải quyết thủ tục phá sản thông qua HNCN và Tổ quản lý thanh lý tài sản; thứ tự phân chia tài sản trong thủ tục thanh lý tài sản Đây là những công cụ để các chủ nợ có quyền can thiệp ngang nhau vào quá trình giải quyết thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp Qua đó, quyền và lợi ích của họ được bảo vệ một cách công bằng và thỏa đáng
- Có ý nghĩa gián tiếp trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh
Hoạt động đầu tư luôn chứa đựng rủi ro Để thu được khoản lợi nhuận thì nhà đầu tư luôn phải chấp nhận những rủi ro nhất định Khi xảy ra tổn thất, nhà đầu tư mong muốn quyền lợi mình được bảo vệ một cách tốt nhất Pháp luật là công cụ bảo
Trang 32vệ quyền lợi của họ tốt nhất trong lúc này, pháp luật phá sản với những quy định về trình tự thủ tục tiến hành phá sản doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật này đã đảm bảo được sự công bằng và thỏa đáng về quyền lợi của các chủ nợ, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư mạnh dạn tham gia vào hoạt động đầu tư, tạo tính lưu thông vốn trong nền kinh tế
Tiểu kết chương 1
Phá sản là một hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường Pháp luật phá sản
ra đời có vai trò rất quan trọng, là một trong những yếu tố bảo đảm cho nền kinh tế được vận hành trôi chảy
Qua phần khái quát chung về thủ tục phá sản và Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản, Chương 1 đã thể hiện được những vấn đề cơ bản về phá sản và thủ tục phá sản; Hội nghị chủ nợ và vai trò của Hội nghị chủ nợ trong thủ tục phá sản
Mục tiêu chung của thủ tục phá sản là điều hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phá sản; thủ tục phá sản được sử dụng như một công cụ nhằm bảo toàn tối đa giá trị tài sản của doanh nghiệp, bảo đảm công bằng và bình đẳng cho các chủ thể, đồng thời góp phần làm trong sạch môi trường kinh doanh Hội nghị chủ nợ là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng bảo đảm cho thủ tục phá sản đạt được mục tiêu chung đó
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘI NGHỊ CHỦ NỢ
TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN
2.1 Triệu tập Hội nghị chủ nợ
2.1.1 Mục đích triệu tập Hội nghị chủ nợ
2.1.1.1 Bảo đảm công bằng cho các chủ nợ và người lao động
Khi doanh nghiệp phá sản, người chịu ảnh hưởng nhiều nhất là chủ nợ và người lao động Cho nên, trong quá trình giải quyết phá sản, thông qua HNCN, pháp luật quy định cho chủ nợ, người lao động có quyền tham gia họp và biểu quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình tại HNCN Tuy nhiên, để đảm bảo sự công bằng giữa các chủ thể khi tham gia vào thủ tục phá sản, pháp luật không đồng nhất tất cả các chủ nợ mà có sự phân biệt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể có địa
vị pháp lý khác nhau Cùng là chủ nợ của doanh nghiệp nhưng chỉ có chủ nợ không
có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền biểu quyết Đối với chủ nợ có bảo đảm, họ có quyền tham gia mà không có quyền biểu quyết tại HNCN Sở dĩ pháp luật quy định như vậy vì quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm được bảo vệ bằng chính tài sản bảo đảm của doanh nghiệp Đối với người lao động, khi doanh nghiệp phá sản, họ mất đi việc làm và có thể rơi vào tình trạng thất nghiệp, chính vì vậy họ được quyền tham gia HNCN để thảo luận và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của HNCN Đối với người bảo lãnh, họ sẽ được tham gia và biểu quyết tại HNCN sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp
Những chủ nợ không phải là người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhưng việc tiến hành thủ tục phá sản doanh nghiệp có ảnh hưởng đến lợi ích của họ Cho nên, họ đều được tham gia thủ tục phá sản thông qua HNCN Để được tham gia và thực hiện quyền của mình, những chủ thể này phải gửi giấy tờ, tài liệu cho Tòa án
để chứng minh tư cách của mình Tổ QLTLTS sẽ xem xét và xác định tư cách cho những chủ thể này khi tham gia HNCN
Như vậy, HNCN đã tạo điều kiện để các chủ thể tham gia thủ tục phá sản và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bảo đảm được sự công bằng và thỏa đáng giữa các chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau
2.1.1.2 Bảo đảm quyền tự quyết cho các chủ thể có lợi ích liên quan
Trong giao lưu dân sự, các bên thiết lập các giao dịch trên tinh thần tự nguyện
và cùng nhau thỏa thuận Khi các bên vi phạm cam kết, thông qua đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét và phán quyết dựa
Trang 34trên những căn cứ các bên cung cấp theo quy định pháp luật Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, tức là doanh nghiệp vi phạm cam kết trả nợ đúng hạn với các chủ nợ Do đó, thủ tục phá sản cũng chỉ được bắt đầu khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ Ngoại trừ bản thân doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đối với các chủ thể còn lại, đặc biệt
là các chủ nợ thì việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là quyền của họ Tuy nhiên, thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ đặc biệt và kéo theo những tác động tích cực lẫn tiêu cực cho những chủ thể có liên quan và cho xã hội Cho nên, ngoài những người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, lợi ích của những chủ nợ không nộp đơn, người bảo lãnh, người lao động của doanh nghiệp cũng được được giải quyết trong thủ tục phá sản Thông qua HNCN, những chủ thể này sẽ quyết định tiến trình của thủ tục phá sản Đặc biệt, quyết định liên quan đến vận mệnh của doanh nghiệp là cho phép doanh nghiệp tiếp tục hoạt động để phục hồi hoạt động kinh doanh hay tiến hành thanh lý tài sản doanh nghiệp để trả nợ sẽ thuộc về HNCN Với những quy định về quyền tham gia bàn bạc, thảo luận và biểu quyết, chủ nợ và người lao động đã thực hiện quyền tự định đoạt của mình tương ứng với
số nợ không có bảo đảm mà doanh nghiệp đã nợ mình
Như vậy, trước tiên là quyền lựa chọn có nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay không để khởi động thủ tục phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp, tiếp đó là quyền tham gia quyết định số phận của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật phá sản đã tạo ra một cơ chế pháp lý để các chủ thể thực hiện quyền tự quyết của mình nhưng vẫn bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể có liên quan
2.1.1.3 Tăng cường khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Mục tiêu hướng đến của thủ tục phá sản không phải làm cho số lượng doanh nghiệp phá sản gia tăng mà là giảm bớt số lượng doanh nghiệp phá sản thông qua thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thành công Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh có được áp dụng đối với doanh nghiệp mắc nợ hay không phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ Trên cơ sở phương án phục hồi hoạt động kinh doanh do doanh nghiệp xây dựng, HNCN xem xét và thông qua hoặc không thông qua phương án phục hồi Nếu HNCN thông qua, phương án phục hồi sẽ được doanh nghiệp triển khai áp dụng Tuy nhiên, khả năng phục hồi của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Tình hình tài chính hiện có và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp; tính khả thi của phương án phục hồi và quá trình triển khai áp dụng phương án phục hồi của doanh nghiệp Trong đó, chủ nợ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và triển khai áp dụng phương án phục hồi Chủ nợ
Trang 35thông qua các cuộc họp HNCN sẽ can thiệp vào việc xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, cùng bàn bạc và thống nhất xây dựng phương án phục hồi sao cho phương án vừa cân bằng được lợi ích của các bên, vừa phù hợp với tình trạng thực tế của doanh nghiệp mắc nợ Đặc biệt, trong giai đoạn áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, Tổ QLTLTS giải thể, chủ nợ sẽ là người kiểm tra, giám sát mọi hoạt của doanh nghiệp mắc nợ, bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, Quyết định của Thẩm phán và Nghị quyết đã được HNCN thông qua để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến gần đến đích phục hồi
2.1.2 Thời điểm triệu tập Hội nghị chủ nợ
2.1.2.1 Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất
HNCN lần thứ nhất được triệu tập trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối
cùng kết thúc hai sự kiện sau:
a Doanh nghiệp đã hoàn thành việc kiểm kê tài sản
Để hạn chế doanh nghiệp tẩu tán tài sản, đồng thời tạo cơ sở để HNCN xem xét, đánh giá khả năng phục hồi của doanh nghiệp, việc kiểm kê và xác định giá trị thực tài sản còn lại của doanh nghiệp cần được tiến hành nhanh chóng và chính xác Việc kiểm kê tài sản được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản Thời gian kiểm kê có thể được gia hạn nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày (Điều 50 Luật Phá sản 2004) Công việc này được giao cho chính doanh nghiệp mắc nợ thực hiện Bởi vì, hơn ai hết, những người quản lý doanh nghiệp biết rõ tài sản của doanh nghiệp, giá trị sử dụng cũng như địa điểm cụ thể của từng loại tài sản Tuy nhiên, việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp trên thực tế rất dễ bị doanh nghiệp lợi dụng để tẩu tán tài sản Đặc biệt, đối với những công ty gia đình, chế độ kế toán không chặt chẽ, sổ sách kế toán không phản ánh đúng thực tế tài sản doanh nghiệp dẫn đến kết quả kiểm kê tài sản của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự trung thực của doanh nghiệp Khoản 3 Điều 50 Luật Phá sản 2004 có quy định, Tổ QLTLTS có quyền kiểm tra, đánh giá một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản theo kết quả kiểm kê của doanh nghiệp, quy định này chỉ mang tính kiểm tra lại giá trị của tài sản do doanh nghiệp định giá mà không thể xác định được toàn bộ khối tài sản thực tế của doanh nghiệp Trong khi
đó, chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ kiểm kê tài sản chỉ là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng (Điều 13 Nghị định số 10/2009/NĐ-CP ngày 06/02/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản) Với mức phạt tối đa là 1.000.000
Trang 36đồng chưa đủ mang tính răn đe đối với những doanh nghiệp cố ý vi phạm Nếu như không có cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm kê tài sản của doanh nghiệp sẽ dẫn đến doanh nghiệp không trung thực và kê khai không đầy đủ những tài sản thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của chủ nợ, bởi vì, khối tài sản này đảm bảo cho khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp Cho nên, pháp luật phá sản cần có những quy định nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm kê tài sản của doanh nghiệp để bảo đảm tính tuân thủ quy định pháp luật của doanh nghiệp, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ nợ và các chủ thể có lợi ích liên quan
Một vướng mắc cần được xem xét vì có ảnh hưởng đến quá trình tiến hành kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, đó là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lâm vào tình trạng phá sản, người đại diện theo pháp luật đã bỏ về nước hoặc trường hợp người đại diện doanh nghiệp trốn ra nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ai sẽ là người cung cấp thông tin, tài liệu và chịu trách nhiệm về phần kiểm kê tài sản của doanh nghiệp Ví dụ như trường hợp Doanh nghiệp tư nhân Quỳnh Dương ở Thái Nguyên, chủ doanh nghiệp
và vợ là thủ quỹ đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự Do công tác kê biên tài sản của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không thống nhất dẫn đến tài sản doanh nghiệp bị thất thoát và tẩu tán gần hết, một số tài sản có giá trị lớn bị ép bán với giá thấp so với giá thị trường Điều này gây thiệt hại rất lớn đến các chủ nợ của doanh
bỏ trốn, đồng thời có những biện pháp ngăn chặn kịp thời đối với những trường hợp
có nguy cơ bỏ trốn Khoản 5 Điều 55 Luật Phá sản 2004 có quy định cấm hoặc buộc doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân, tổ chức có liên quan thực hiện một số hành vi nhất định Dựa theo quy định này, Thẩm phán có quyền quyết định cấm cá nhân xuất cảnh hoặc di chuyển khỏi nơi cư trú Tuy nhiên, rất khó xác định được mục đích bỏ trốn để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này vì có thể họ giải thích do nhu cầu công tác nên họ phải di chuyển Mặt khác, khi cấm xuất cảnh hoặc di chuyển khỏi nơi cư trú phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra nên Thẩm phán rất ngại khi áp dụng biện pháp này20
Trong trường hợp nêu trên, để chuẩn bị tổ chức HNCN, ai sẽ là người cung cấp tài liệu về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như giải trình
19
http://www.khoinghiep.org.vn/ShowNews.aspx?lang=vn&cat=014&nid=6507
20
Nguyễn Thanh Khoa (2011), “Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và người lao động trong thủ tục phá sản theo
quy định của Luật Phá sản 2004”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr 48
Trang 37những nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, các giải pháp
đã được doanh nghiệp áp dụng hoặc dự kiến áp dụng nhằm khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tình hình tài chính cũng như tài sản còn lại của doanh nghiệp… Điều này đã gây trở ngại rất lớn để có thể lập bảng kê chi tiết tài sản còn lại của doanh nghiệp cũng như việc cử người tham gia Tổ QLTLTS, làm ảnh hưởng đến tiến độ chung của thủ tục phá sản
Để giải quyết vấn đề này, Luật Phá sản không quy định ai sẽ là người thay thế khi không có người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Luật chỉ quy định, trong trường hợp không có đại diện doanh nghiệp tham gia HNCN thì Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản chỉ định người đại diện doanh nghiệp tham gia HNCN Để tránh trường hợp cử không đúng người đại diện cho doanh nghiệp, người này không nắm rõ về doanh nghiệp, Thẩm phán cần lưu ý chỉ định người am
Luật nên quy định cho Thẩm phán được chỉ định người đại diện doanh nghiệp trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp khi không có người đại diện Người được chỉ định này là người nắm rõ công việc, tình hình hoạt động của doanh nghiệp, người này sẽ cung cấp những thông tin, tài liệu cần thiết để cho việc giải quyết phá sản được liên tục và không ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể có liên quan
b Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã lập xong danh sách chủ nợ
Cơ sở để Tổ QLTLTS lập danh sách chủ nợ của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản là dựa vào giấy đòi nợ của chủ nợ và danh sách chủ nợ do doanh nghiệp cung cấp Trên thực tế, việc cung cấp danh sách chủ nợ của doanh nghiệp có thể không chính xác do doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm trả nợ của mình Cho nên, việc lập danh sách chủ nợ của Tổ QLTLTS phụ thuộc rất lớn vào việc gửi giấy đòi
nợ của chủ nợ Tuy nhiên, quy định về việc gửi giấy đòi nợ còn một số bất cập, ảnh hưởng đến quá trình lập danh sách chủ nợ của Tổ QLTLTS nói riêng và quá trình giải quyết thủ tục phá sản nói chung
Để thực hiện quyền đòi nợ, chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ và những tài liệu chứng minh số nợ của mình về cho Tòa án trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án Trừ trường hợp bất khả kháng hoặc có những trở ngại khách quan, nếu chủ nợ không gửi giấy đòi nợ đến
21
Mục 1 Chương V Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao ngày 28/4/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản
Trang 38Tòa án trong thời hạn nêu trên thì xem như đã từ bỏ quyền đòi nợ (Điều 51 Luật
khi quy định về thời hạn gửi yêu cầu đòi nợ Khi tính thời hạn gửi giấy đòi nợ, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 đã không trừ đi khoảng thời gian mà chủ nợ gặp sự kiện bất khả kháng hoặc những trở ngại khách quan mà họ không thể gửi giấy đòi nợ trong thời hạn luật định (Điều 22 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993)
Cũng quy định về vấn đề này, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 quy định nếu chủ nợ không gửi giấy yêu cầu trong thời gian luật định thì sẽ mất quyền tham gia HNCN, còn Luật Phá sản 2004 quy định nếu không nộp yêu cầu đúng thời hạn thì coi như đã từ bỏ quyền đòi nợ Có thể nói, khắc phục những hạn chế của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 quy định về thời hạn gửi giấy yêu cầu đòi nợ và lập danh sách chủ nợ để chuẩn bị triệu tập HNCN nhưng Luật phá sản 2004 đã tạo ra bất cập mới Nếu chủ nợ không gửi giấy đòi nợ trong thời hạn luật định thì coi như đã từ bỏ quyền đòi nợ chứ không chỉ bị mất quyền tham gia HNCN như Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 quy định
Quy định của hai Luật này kéo theo hai hệ quả pháp lý hoàn toàn khác nhau Nếu như mất đi quyền tham gia HNCN, chủ nợ sẽ không tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình nhưng quyền được thanh toán khoản nợ vẫn được bảo vệ Nếu doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh thành công, khoản nợ sẽ được thanh toán toàn bộ, nếu doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, họ được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với tài sản còn lại của doanh nghiệp (hoặc thanh toán bằng tài sản bảo đảm nếu họ là chủ nợ có bảo đảm) Trường hợp từ
bỏ quyền đòi nợ, tức là những chủ nợ này đã mất đi quyền đòi nợ đối với doanh nghiệp Có thể do công tác nước ngoài hoặc việc tiếp cận thông tin không được hoàn hảo nên họ không biết thông tin doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản dẫn đến những chủ nợ này không gửi giấy đòi nợ đúng hạn và đồng nghĩa với việc họ đương nhiên mất đi quyền đòi nợ hợp pháp của mình Nếu thủ tục phá sản là thủ tục giải quyết nợ tập thể cho các chủ nợ, thì thời hạn để chủ nợ yêu cầu giải quyết nợ được quy định như trên là không hợp lý Đặc biệt là những chủ nợ có khoản nợ chưa đến hạn, họ đang yên tâm chờ ngày đến hạn doanh nghiệp sẽ thanh toán Vì thế, họ không chắc chắn biết được doanh nghiệp có bị mở thủ tục phá sản hay không Họ
Trang 39cũng không thể chủ động biết trước được về thời hạn gửi giấy đòi nợ này Trên thực
tế giải quyết phá sản doanh nghiệp, Thẩm phán cũng sẽ xem xét để giải quyết thỏa đáng quyền lợi chính đáng cho các chủ nợ Nếu có đủ căn cứ chứng minh tư cách chủ nợ, Thẩm phán sẽ xem xét và bổ sung vào danh sách chủ nợ Tuy nhiên, việc làm này của Thẩm phán không đủ cơ sở pháp lý Cho nên, pháp luật phá sản cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để Tòa án có đủ cơ sở pháp lý giải quyết các
vụ việc phá sản trên thực tế, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể
có liên quan
Cùng là quyền đòi nợ, nếu chủ nợ đòi nợ theo thủ tục tố tụng dân sự thì áp dụng thời hiệu khởi kiện Với quy định này, chủ nợ sẽ chủ động xác định được thời điểm bắt đầu thời hiệu và thời hạn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình Trong thủ tục phá sản, các chủ nợ của doanh nghiệp được Tòa án bảo vệ quyền đòi
nợ của mình nếu chủ nợ gửi giấy đòi nợ và các tài liệu chứng minh quyền đòi nợ đúng hạn (Điều 51 Luật Phá sản 2004) (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc những trở ngại khách quan) Trên thực tế, các chủ nợ nếu không phải là người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thông tin doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản thông qua các kênh báo địa phương và báo trung ương trong 03 số liên tiếp theo quy định tại Điều
29 Luật Phá sản 2004 không đủ cơ sở để chắc chắn rằng tất cả những chủ nợ của doanh nghiệp sẽ biết và phải biết về thông tin này Cho nên, luật quy định chỉ trừ thời gian có sự kiện bất khả kháng và những trở ngại khách quan, nếu chủ nợ không gửi giấy yêu cầu trong thời hạn luật định xem từ bỏ quyền đòi nợ là không hợp lý Việc gửi giấy đòi nợ đúng hạn để Thẩm phán sớm xác định được khoản nợ phải thanh toán của doanh nghiệp là căn cứ quan trọng để xác định khả năng trả nợ của doanh nghiệp Đây cũng là cơ sở để HNCN xem xét và đưa ra những quyết định cho doanh nghiệp phục hồi hay tiến hành thanh lý tài sản doanh nghiệp Để đáp ứng mục tiêu này, Luật Phá sản nên có những quy định cụ thể hơn để trong thời hạn quy định (không quá 73 ngày) tất cả các chủ nợ có thể biết và thực hiện quyền của mình Luật Phá sản 2004 không coi người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho doanh nghiệp nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ do nghĩa vụ chưa đến hạn là chủ nợ Bởi vì, theo khoản 3 Điều 62 Luật Phá sản 2004, người bảo lãnh sau khi trả nợ thay cho doanh nghiệp thì sẽ được tham gia HNCN Theo quy định này thì khi chưa thực hiện nghĩa vụ thay cho doanh nghiệp thì người bảo lãnh sẽ không có tên trong danh sách chủ nợ của doanh nghiệp và dĩ nhiên sẽ không được tham gia và biểu quyết tại HNCN
Trang 40Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết hạn gửi giấy đòi nợ, Tổ QLTLTS phải lập xong danh sách chủ nợ và số nợ phải trả Danh sách này được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và trụ sở chính của doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày niêm yết Đây là khoảng thời gian để Tòa án có thể khắc phục được những thiếu sót trong quá trình lập danh sách chủ nợ Nếu có yêu cầu giải quyết khiếu nại của chủ nợ hoặc doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại Nếu việc khiếu nại có căn cứ thì Tòa án sẽ xem xét và quyết định sửa đổi, bổ sung vào danh sách chủ nợ23
Nhằm nâng cao quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, không phải đợi đến khi có đủ hai điều kiện nêu trên thì Thẩm phán mới triệu tập HNCN Luật Phá sản 2004 quy định, trước khi ra quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản, để quyết định của Thẩm phán mang tính khách quan, (có thể việc mất khả năng thanh toán chỉ là tạm thời, chưa đủ cần thiết để bắt đầu thủ tục phá sản), ngoài việc phải nghiên cứu và xem xét hồ sơ một cách cẩn trọng, trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn, đại diện doanh nghiệp và những chủ thể có liên quan để họ trình bày những vấn đề chưa rõ có liên quan đến vụ phá sản để Thẩm phán xem xét, kiểm tra, đánh giá các căn cứ chứng minh doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản (khoản 2 Điều
28 Luật Phá sản 2004) Đây là quy định tiến bộ của Luật Phá sản 2004 so với Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và được xem là cuộc họp mặt đầu tiên giữa các bên trước khi chính thức bắt đầu thủ tục tố tụng phá sản Phiên họp này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có thể dẫn đến quyết định
mở hoặc không mở thủ tục phá sản Điển hình là trường hợp Công ty Cổ phần Thủy sản Bình An Sau khi nhóm chủ nợ cùng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa
án nhân dân thành phố Cần Thơ đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Trước khi ra Quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán đã mở phiên họp với sự tham gia của đại diện doanh nghiệp và các chủ nợ của doanh nghiệp bàn bạc và thảo luận để tìm ra giải pháp phục hồi hoạt động kinh doanh cho Công ty Bình An Mặc dù Công
ty Bình An đang trong tình trạng phá sản nhưng căn cứ vào tình hình tài chính, cơ hội kinh doanh và cơ sở vật chất hiện tại, Công ty Bình An có khả năng phục hồi cao Cho nên, các chủ nợ đã đồng ý hoãn nợ cho Bình An, để Bình An có cơ hội ổn định tình hình tài chính, tiếp tục tiến hành hoạt động kinh doanh Hơn nữa, sự sụp
23
Điều 26 Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản