Tuy nhiên, những quy định về phí bảo hiểm tài sản hiện nay vẫn còn rất ít và chưa rõ ràng , dẫn đến việc các doanh nghiệp bảo hiểm lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để tiến hành những h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
TRẦN TÔN CHÂU GIANG
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TÀI SẢN - THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH HỐ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TÀI SẢN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Những kết luận trong luận văn này chƣa từng đƣợc công bố trong các công trình nghiên cứu khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về khóa luận này
Tác giả
Trần Tôn Châu Giang
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNBH: Doanh nghiệp bảo hiểm
KDBH: Kinh doanh bảo hiểm
BLDS: Bộ luật dân sự
HĐBH: Hợp đồng bảo hiểm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Khái quát chung về phí bảo hiểm tài sản và quy định pháp luật của phí bảo hiểm tài sản 5
1.1 Khái quát chung về phí bảo hiểm tài sản
5 1.1.1 Khái niệm phí bảo hiểm 5
1.1.2 Khái niệm phí bảo hiểm tài sản 6
1.1.3 Đặc điểm phí bảo hiểm tài sản tài sản 6
1.1.3.1 Phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm 6
1.1.3.2 Phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố 7
1.1.3.3 Phí bảo hiểm tài sản là sự thỏa thuận giữa DNBH và bên mua bảo hiểm 9
1.1.3.4 Phương pháp tính phí bảo hiểm tài sản rất đa dạng 10
1.1.3.5 Những đặc điểm riêng biệt 12
1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với phí bảo hiểm tài sản15 1.2.1 Xét từ phương diện kinh tế 15
1.2.2 Xét từ phương diện pháp lý 16
1.2.3 Vai trò của phí bảo hiểm tài sản 17
1.2.3.1 Phí bảo hiểm là nguồn vốn chủ yếu của DNBH 17
1.2.3.2 Phí bảo hiểm là cơ sở để tính bồi thường thiệt hại 18
1.3 Khái quát chung về pháp luật của phí bảo hiểm tài sản 19
1.3.1 Khái niệm 19
1.3.2 Nội dung của quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản 19
1.3.2.1 Yếu tố chi phối đến phí bảo hiểm tài sản theo quy định của pháp luật 19
1.3.2.2 Các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến phí bảo hiểm tài sản 24
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm tài sản tại Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí bảo hiểm tài sản31 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về phí bảo hiểm tài sản 31
2.1.1 Một số nội dung quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài sản 31
2.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ bảo hiểm tài sản 31
2.1.1.2 Biểu phí bảo hiểm tài sản 37
2.1.1.3 Phí bảo hiểm tài sản và trách nhiệm bảo hiểm 38
2.1.2 Một số hạn chế về mặt pháp lý 42
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm tài sản 45
2.2.1 Tổng quan thị trường bảo hiểm tài sản trong những năm gần đây 45
2.2.2.1 Hạ phí bảo hiểm tài sản nhằm cạnh tranh không lành mạnh 49
2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng phí bảo hiểm tài sản của các DNBH 51
2.2.2.3 Một số rủi ro về phí bảo hiểm tài sản liên quan đến đại lý bảo hiểm 53
2.2.2.4 Thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm về phí bảo hiểm tài sản 53
2.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí bảo hiểm tài sản 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật là công cụ thiết yếu để Nhà nước thực hiện việc quản lý, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Do đó, cùng với sự phát triển của xã hội thì ngày càng có nhiều mối quan hệ mới phát sinh và đòi hỏi pháp luật phải phát triển để đáp ứng những nhu cầu mới mà thực tế đặt ra Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng, không phải là một lĩnh vực mới xuất hiện trên thế giới nhưng ở Việt Nam, chỉ từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP ngày 18 tháng 12 năm 1993 thì bảo hiểm tài sản mới chính thức được hình thành
Trải qua 20 năm hình thành và phát triển, pháp luật về bảo hiểm tài sản đã và đang thể hiện những vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên, khi so sánh với bề dày phát triển của hệ thống pháp luật trên thế giới thì pháp luật về bảo hiểm tài sản ở Việt Nam vẫn còn khá mới, vì vậy mà những quy định pháp luật về lĩnh vực này vẫn chưa thể kịp thời điều chỉnh những quan hệ mới đang phát sinh từng ngày, đặc biệt là những quy định về phí bảo hiểm tài sản
Phí bảo hiểm tài sản là sợi dây kết nối giữa doanh nghiệp và bên mua bảo hiểm,
là yếu tố thu hút khách hàng đến với bất kỳ gói sản phẩm bảo hiểm tài sản nào của doanh nghiệp bảo hiểm Hơn nữa, nguồn thu từ phí bảo hiểm tài sản còn là nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm Với việc sử dụng hiệu quả mức phí bảo hiểm này
sẽ quyết định đến lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, những quy định về phí bảo hiểm tài sản hiện nay vẫn còn rất ít và chưa rõ ràng , dẫn đến việc các doanh nghiệp bảo hiểm lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để tiến hành những hành
vi vi phạm quy định về pháp luật phí bảo hiểm tài sản, ví dự như: hạ phí bảo hiểm tài sản nhằm cạnh tranh không lành mạnh…Chính những hành vi vi phạm này sẽ làm tổn hại đến quyền lợi của người mua bảo hiểm và gây tổn thất không nhỏ đến tình hình tài chính của quốc gia
Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều tác giả cùng với những công trình, đề tài nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm tài sản, nhưng những vấn đề về phí bảo hiểm tài sản vẫn chưa được các tác giả tìm hiểu một cách cụ thể, chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật về phí bảo hiểm tài sản Trên cơ sở đó, tác giả quyết định chọn đề
tài: “Quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản - Thực trạng và giải pháp” để
làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận nhằm vào hai mục đích nghiên cứu chính:
Trang 8Thứ nhất, nghiên cứu một cách khái quát và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
cơ bản về phí bảo hiểm, đặc biệt là những quy định về phí bảo hiểm
Thứ hai, phân tích những nội dung chủ yếu của pháp luật về phí bảo hiểm tài
sản và thực tiễn áp dụng Từ đó nêu lên một số bất cập giữa những quy định của pháp luật và thực tiễn đời sống Trên cơ sơ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí bảo hiểm tài sản
3 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ khi pháp luật về bảo hiểm tài sản được chính thức hình thành tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các quyển sách cũng như những bài viết liên quan của các tác giả khác viết về lĩnh vực bảo hiểm tài sản Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu:
- “Xây dựng và phát triển pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam”- Luận án tiến sĩ / Nguyễn Thị Thủy; Người hướng dẫn: PTS.TS Mai Hồng Qùy
- “Pháp luật bảo hiểm tài sản Thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện”- Luận văn thạc sĩ / Lý Minh Triết; Người hướng dẫn: PGS.TS Mai Hồng Quỳ
- “Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm” – Khóa luận tốt nghiệp/ Ngô Thị Hiền; Người hướng dẫn: TS.Nguyễn Văn Vân
- “Trục lợi bảo hiểm tài sản và các biện pháp pháp lý chống trục lợi bảo hiểm tài sản” - Khóa luận tốt nghiệp / Nguyễn Thị Nhung; Người hướng dẫn: Trần Phương Bắc
Các tác giả với những công trình, đề tài nghiên cứu của mình đã có những đóng góp đáng ghi nhận về việc tìm hiểu quy định về pháp luật bảo hiểm tài sản Tuy nhiên, phạm vi của những đề tài nghiên cứu này rất rộng, hầu hết đều là tập trung nghiên cứu vào các quy định về bảo hiểm tài sản hoặc là các hành vi vi phạm cụ thể hay những chế định khác về pháp luật bảo hiểm tài sản; mà chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về phí bảo hiểm tài sản
Vậy nên, đề tài : “Quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản - Thực trạng
và giải pháp” mà khóa luận tập trung nghiên cứu là hoàn toàn mới và thật sự cần
thiết trong tình hình hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bám sát mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật về bảo hiểm tài sản và phí bảo hiểm tài sản, khóa luận tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn áp dụng các quy định về phí bảo hiểm tài sản
Trang 93
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu xung quanh những vấn đề liên quan đến phí bảo hiểm tài sản thông qua các quy định hiện hành về bảo hiểm và pháp luật có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, khóa luận đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: nhằm phân tích những quy định cụ thể của pháp luật về phí bảo hiểm, để từ đó khái quát lên khái niệm về phí bảo hiểm tài sản Đồng thời, với việc phân tích những quy định này, tác giả cũng rút ra những đặc điểm của phí bảo hiểm tài sản Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa
ra những bất cập về mặt pháp lý về phí bảo hiểm tài sản dựa trên việc phân tích những quy định pháp luật đã nghiên cứu
Phương pháp so sánh và đánh giá: Trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản, tác giả đã so sánh với những quy định khác liên quan đến các loại phí bảo hiểm còn lại, từ đó có những đánh giá về những nét đặc trưng của phí bảo hiểm tài sản và những loại phí bảo hiểm khác
Phương pháp thống kê: Với phương pháp thống kê những số liệu cụ thể, tác giả khái quát lên thực trạng hoạt động hiện nay của thị trường bảo hiểm tài sản cũng như thực trạng áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm tài sản trên thực tế
6 Ý nghĩa khoa học và phạm vi ứng dụng của đề tài
Với khả năng còn hạn chế của mình, tác giả không thể nghiên cứu mọi mặt toàn diện của vấn đề Tuy nhiên, tác giả hy vọng Khóa luận trước tiên sẽ có những ý nghĩa nhất định cho quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân sau này Và xa hơn thế, những nghiên cứu của tác giả trong Khóa luận này sẽ giúp cho những người quan tâm đến đề tài này trong tương lai, sẽ có sự tìm hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về phí bảo hiểm tài sản, trên cả góc độ lý luận và thực tiễn
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần phụ lục và danh mục tài sản tham khảo, nội dung khóa luận được chia thành hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về phí bảo hiểm tài sản và quy định pháp luật của phí bảo hiểm tài sản
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm tài sản và một số giải phá
Trang 10Chương 1: Khái quát chung về phí bảo hiểm tài sản và quy định pháp luật của phí bảo hiểm tài sản
1.1 Khái quát chung về phí bảo hiểm tài sản
1.1.1 Khái niệm phí bảo hiểm
- Bản chất của phí
Dưới góc độ pháp lý, “Phí hay lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải
trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ”1 Theo đó, phí là một khoản thu dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan, tổ chức đã cung cấp các dịch vụ cho xã hội Cơ sở của việc thu phí là việc chủ thể được nhận phí đã cung cấp cho chủ thể nộp phí một lợi ích nhất định thông qua dịch vụ của mình Do đó, khi một chủ thể cung cấp một sản phẩm, dịch vụ ra thị trường thì chủ thể đó cần phải thu phí nhằm mục đích thu hồi vốn, trang trải những chi phí cho hoạt động đầu tư và quản lý
Phí mang tính chất tự nguyện và đối giá
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về phí bảo hiểm
Chẳng hạn, theo khái niệm được đưa ra trong từ điển Oxford: “Phí bảo hiểm là một số tiền phải trả cho một hợp đồng bảo hiểm.”2
Trong cuốn sách Black’s Law Dictionary thì có định nghĩa rằng: “Phí bảo hiểm
là thanh toán định kỳ cần thiết để giữ hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực”3
Còn theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam: “Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm”
Hoặc theo khái niệm phí bảo hiểm của luật dân sự hiện nay: “Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho bên bảo hiểm”.4
Hay “Phí bảo hiểm là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho công ty bảo hiểm để đổi lấy sự đảm bảo trước các rủi ro chuyển sang cho công ty bảo hiểm”5 Những cách tiếp cận trên đã nêu được đặc trưng nổi bật nhất của phí bảo hiểm:
Là khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho DNBH khi muốn tham gia quan
hệ bảo hiểm Bản chất của phí là tự nguyện và mang tính chất đối giá, vậy nên khi muốn được các DNBH cung cấp cho mình gói dịch vụ bảo hiểm nhằm mục đích san
3 Theo Black's Law Dictionary, 7th edition: “Premium: the periodic payment required to keep an insurance
policy in effect” Cập nhật ngày 29/04/2013
4 Điều 572, khoản 1 của Bộ luật dân sự 2005
Trang 115
sẻ rủi ro của mình cho những người khác thì người mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm theo đúng thỏa thuận mà các bên đã cam kết trong hợp đồng
1.1.2 Khái niệm phí bảo hiểm tài sản
Mặc dù có rất nhiều khái niệm về phí bảo hiểm nhưng vẫn chưa có một khái niệm nào được đưa ra đề cập đến phí bảo hiểm tài sản
Phí bảo hiểm tài sản là một phần của phí bảo hiểm, cũng tương tự như phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự, phí bảo hiểm nhân thọ… Không có một định nghĩa riêng, cụ thể về phí bảo hiểm tài sản, nhưng dựa vào bản chất của phí và đặc trưng của phí bảo
hiểm, có thể kết luận rằng: “Phí bảo hiểm tài sản là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm tài sản phải đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản hay phí bảo hiểm tài sản chính là giá cả của sản phẩm bảo hiểm tài sản”
1.1.3 Đặc điểm phí bảo hiểm tài sản
1.1.3.1 Phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm
Kinh doanh bảo hiểm nói chung và kinh doanh bảo hiểm tài sản nói riêng là một loại ngành nghề dịch vụ cung cấp những gói sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng nhằm mục tiêu sinh lợi, bắt đầu bằng việc doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chấp nhận rủi ro đối với tài sản của người được bảo hiểm, trên cơ sở mức phí bảo hiểm mà khách hàng
đã đóng, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành việc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Như vậy, sản phẩm mà DNBH đem bán là lời hứa, sự cam kết “Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của DNBH đối với bên mua bảo hiểm về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có các sự kiện xảy ra”6
Khi một DNBH cung cấp một sản phẩm ra thị trường thì điều mà thị trường quan tâm, đó là giá cả của sản phẩm Giá cả, “về nghĩa rộng đó là số tiền phải trả cho một hàng hoá, một dịch vụ, hay một tài sản nào đó”7 Để thiết lập nên quan hệ bảo hiểm, DNBH và người mua bảo hiểm phải xác lập nên một hợp đồng, theo đó bên mua sẽ phải đóng phí bảo hiểm và chỉ khi bên mua hoàn thành xong nghĩa vụ đóng phí của
mình thì quan hệ bảo hiểm mới chính thức được xác lập Hay nói cách khác, phí bảo
hiểm chính là giá cả của sản phẩm bảo hiểm
1.1.3.2 Phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Phí bảo hiểm tài sản là giá cả của sản phẩm bảo hiểm, do đó, mỗi DNBH đều có những kế hoạch, mục tiêu cụ thể khi đưa ra những mức giá đối với từng đối tượng tài
6 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2009), Quản trị KDBH, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
7
http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1_c%E1%BA%A3 Cập nhật ngày 02/05/2013
Trang 12sản riêng biệt Vậy nên, phí bảo hiểm tài sản là loại phí chịu nhiều ảnh hưởng từ nhiều
nhân tố khác nhau:
Một là, phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào mục tiêu định phí
Khi đưa ra giá cả của một sản phẩm bảo hiểm nhất định, mỗi DNBH cần phải xem xét một cách đầy đủ các khía cạnh:
- Giá bán kỹ thuật: hay còn gọi là “mức giá hợp lý” nhằm giúp doanh nghiệp hình thành nên quỹ tài chính cho mình và đủ để trang trải cho tất cả các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động: chi phí cho người lao động, chi phí cho việc quảng cáo và phân phối sản phẩm, chi phí để đầu tư phát triển sản phẩm…Và quan trọng là mức giá này phải đảm bảo mang lại được lợi nhuận cho doanh nghiệp Để có thể đưa ra được giá bán kỹ thuật thì DNBH cần phải có chuyên gia định phí, dựa trên tần suất xảy ra
sự kiện bảo hiểm, mức độ tổn thất bình quân, lãi suất đầu tư…
- Giá bán thực tế (giá thương mại): đây là mức giá mà người mua bảo hiểm sẽ phải trả cho DNBH Giá bán này phải đảm bảo được tính cạnh tranh giữa các DNBH trên thị trường bảo hiểm, yêu cầu DNBH vừa thu hút được khách hàng đến những gói sản phẩm của mình vừa giữ được thị phần của mình trong thị trường bảo hiểm
Như vậy, tùy mỗi mục tiêu mà DNBH đặt ra thì việc điều chỉnh phí bảo hiểm tài sản sẽ khác nhau Ví dụ, DNBH đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu thì mức phí sẽ được điều chỉnh sao cho mức lợi nhuận là cao nhất mà không cần quan tâm đến số lượng hợp đồng khai thác hay mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh như những DNBH đặt mục tiêu hướng theo số lượng hợp đồng khai thác…
Hai là, phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào chi phí
Bản chất của Phí bảo hiểm tài sản như đã phân tích ở mục 1.1, đó chính là việc bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan, tổ chức (DNBH) đã cung ứng dịch vụ bảo hiểm tài sản Tuy nhiên, đặc trưng nổi bật của hoạt động KDBH nói chung và KDBH tài sản nói riêng, đó là việc xác định chi phí để cấu thành nên giá cả sản phẩm là những chi phí dự tính mà không phải là các chi phí thực tế phát sinh Giá của một sản phẩm, dịch vụ nói chung được tạo nên từ tổng tất cả các chi phí, các nghĩa vụ tài chính và phần lợi nhuận doanh nghiệp ước tính phải đạt được trên cơ sở đảm bảo được tính cạnh tranh cũng như nắm giữ được vị trí của doanh nghiệp mình trên thị trường
Với chu trình kinh doanh đảo ngược của mình, các DNBH sẽ tiến hành thu phí bảo hiểm tài sản trước, sau đó mới tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo lời cam kết với khách hàng và tìm kiếm lợi nhuận cho donh nghiệp của mình
Trang 13- Chi phí gián tiếp: là những chi phí không liên quan trực tiếp đến sản phẩm bảo hiểm nào mà gắn liền với hoạt động chung của doanh nghiệp (lương cho nhân viên, thuế TNDN…)
Mỗi DNBH khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều đặt mục tiêu lợi nhuận mà doanh thu của DNBH chủ yếu từ phí bảo hiểm tài sản Việc “dự tính” chi phí phát sinh trong tương lai đòi hỏi các DNBH phải thực hiện một cách nghiêm túc dựa trên những thống kê cụ thể về các số liệu cụ thể trong quá khứ Kinh nghiệm của mỗi DNBH cũng như những tổn thất trong tương lai khác nhau, vậy nên, việc xác định phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc rất nhiều vào việc “dự tính” chi phí của mỗi DNBN
Ba là, phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào các yếu tố tác động từ Nhà nước
Sự can thiệp của Nhà nước có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến giá cả sản phẩm bảo hiểm, cụ thể là bảo hiểm tài sản thông qua những quy định pháp lý mà pháp luật cho phép Nhà nước can thiệp vào hoạt động của DNBH
Ở một số quốc gia, Nhà nước quy định những tỷ lệ phí bảo hiểm mà DNBH bắt buộc phải áp dụng Ở những quốc gia khác thì việc hình thành phí bảo hiểm tài sản sẽ thông qua hoạt động cạnh tranh của thị trường bảo hiểm, từ đó mỗi DNBH sẽ đưa ra một mức giá phù hợp, Nhà nước sẽ không can thiệp quá sâu vào những quy tắc hoạt động của DNBH mà chỉ đưa ra những quy định mang tính chất định hướng nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản
Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 3 Điều 20, Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 quy định chi tiết Luật Kinh doanh bảo hiểm thì: “Đối với các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép chủ động xây dựng và triển khai quy tắc, điều khoản và biểu phí bảo hiểm”
1.1.3.3 Phí bảo hiểm tài sản là sự thỏa thuận giữa DNBH và bên mua bảo hiểm
Hoạt động BHTS ra đời xuất phát từ nhu cầu muốn được bảo vệ quyền lợi tài chính của những chủ thể là chủ sở hữu tài sản hoặc người đang chiếm giữ hợp pháp tài sản Và để được hưởng quyền lợi này, những chủ thể trên cần phải đóng một khoản phí cho DNBH theo đúng như thỏa thuận trong HĐBH Như vậy, tùy theo từng đối tượng tài sản và điều kiện của mình mà mỗi khách hàng sẽ có những yêu cầu về việc đảm bảo quyền lợi tài chính riêng cho loại tài sản đó Mặt khác, cũng tùy thuộc
Trang 14vào mỗi DNBH mà sẽ có những biểu phí bảo hiểm tài sản riêng, căn cứ vào loại tài sản, phương pháp tính phí bảo hiểm tài sản và kinh nghiệm của mỗi DNBH trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của mình
Tuy nhiên, việc thỏa thuận về mức phí bảo hiểm giữa khách hàng và DNBH cần phải lưu ý về việc: tài sản chỉ được bảo hiểm khi xác định được giá trị8, tức là giá trị của những đối tượng bảo hiểm cần phải được tính ra bằng tiền cụ thể Hợp đồng bảo hiểm tài sản căn cứ vào nguyên tắc đền bù tổn thất, khi xảy ra tổn thất trên thực tế nếu như không thể tính toán thiệt hại một cách chính xác thì không thể tiến hành hoạt đồng chi trả hoặc bồi thường bảo hiểm
Mặt khác, khi xác định giá trị của tài sản để đưa ra mức phí bảo hiểm tài sản phù hợp, thì bên mua bảo hiểm cần phải xác định đúng giá trị tài sản tại thời điểm giao kết
HĐBH tài sản Phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào số tiền bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm
và thời hạn bảo hiểm Nên mức phí bảo hiểm tài sản được thỏa thuận giữa các bên sẽ
ảnh hưởng đến số tiền bảo hiểm mà DNBH mà hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Hiện nay, pháp luật không cho phép giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị, là những “hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng”9
Pháp luật tôn trọng sự thiện chí của các bên khi tham gia thỏa thuận các điều kiện trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Tuy nhiên, khi hợp đồng đã được giao kết, các bên chủ thể vẫn có quyền thỏa thuận lại về mức phí bảo hiểm tài sản Trong quá trình
sử dụng tài sản sẽ không thể tránh khỏi những hao tổn hoặc sự thay đổi bất ngờ của những yếu tố rủi ro Do đó, khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro hoặc tăng các rủi ro thì các bên chủ thể có quyền thỏa thuận lại với nhau về mức phí bảo hiểm trong thời gian còn lại của hợp đồng hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản theo đúng quy định của pháp luật bảo hiểm
Như vậy, để đưa ra được mức phí bảo hiểm tài sản quy định cụ thể trong HĐBH tài sản thì giữa khách hàng và DNBH cần phải thỏa thuận với nhau một cách chi tiết,
rõ ràng nhằm thực hiện đúng mục tiêu của hoạt động BHTS là bảo vệ đúng quyền lợi tài chính đối với tài sản của khách hàng Đồng thời, việc thỏa thuận về mức phí bảo hiểm tài sản còn đặt ra yêu cầu đối với DNBH, cần phải đảm bảo doanh thu của DN mình và đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng về việc chi trả bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm đối với những rủi ro về tài sản trong tương lai
8 Tiến sỹ Nguyễn Thị Thủy (2010) Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, nhà xuất bản Đại học quốc gia
Tp.HCM, tr63
Trang 159
1.1.3.4 Phương pháp tính phí bảo hiểm tài sản rất đa dạng
Xuất phát từ sự khác nhau về đôi tượng bảo hiểm mà phương pháp tính phí bảo hiểm tài sản có những đặc trưng khác hơn so với những nghiệp vụ bảo hiểm khác Đối tượng bảo hiểm của hoạt động bảo hiểm tài sản là tài sản của người được
bảo hiểm Theo BLDS 2005, Điều 163: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Xuất phát từ những đối tượng tài sản khác nhau, hiện nay, bảo hiểm
tài sản ở nước ta có những loại hình bảo hiểm sau:
- Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu; BH hàng hóa vận chuyển nội địa;
- Bảo hiểm thân tàu (tàu thủy, tàu hoạt động nội thủy, sông hồ, thuyền đánh cá);
- Bảo hiệm thiệt hại vật chất xe cơ giới;
- Bảo hiểm thân máy bay;
- Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dưng: Bảo hiểm lắp đặt;
- Bảo hiểm tài sản trong vận chuyển dầu, thăm dò khai thác dầu khí;
- Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt;
- Bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi);
- Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Phương pháp tính phí bảo hiểm tài sản
Mặc dù có nhiều sản phẩm bảo hiểm khác nhau, nhưng cơ cấu phí bảo hiểm tài
sản phải có đủ 2 phần: Phí thuần và phụ phí
Công thức tính: P = f + d
Trong đó:
P: Phí bảo hiểm toàn bộ
f: Phí thuần là khoản phí bảo hiểm mà khách hàng phải đóng góp tương đương
với phần tổn thất của họ do DNBH quản lý Khoản phí này còn được gọi là khoản đóng góp cho rủi ro hay khoản đóng góp cân bằng về mặt kỹ thuật giúp DNBH chi trả tiền bảo hiểm khi có các rủi ro xảy ra trên thực tế đối với tài sản được bảo hiểm Phí thuần thường được căn cứ vào các yếu tố: Xác suất rủi ro, cường độ tổn thất, STBH,
thời hạn bảo hiểm…
d: phụ phí_là khoản phí mà bên mua bảo hiểm phải nộp cùng với phí thuần
nhằm giúp DNBH đảm bảo cho các khoản chi trong hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm: chi phí bán hàng, chi phí để đề phòng hạn chế tổn thất, chi hoa hồng, chi quản lý hành
Trang 16chính, chi thuế…10Những khoản chi này luôn có sự thay đổi và rất nhạy cảm vì sự cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm luôn gay gắt
Tuy nhiên, trên thực tế thì công thức tính phí bảo hiểm như sau:
đ = 4.000.000 đ/năm Tỷ lệ phụ phí ( R2) cũng được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm so với tổng tỷ lệ phí ( R) Như vậy, tỷ lệ phí bảo hiểm ở đây là tỷ lệ % so với số tiền bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm và DNBH đã thỏa thuận
Và tùy thuộc vào mỗi nghiệp vụ bảo hiểm tài sản cũng như căn cứ vào đối tượng hàng hóa riêng biệt mà công thức tính phí bảo hiểm này cũng thay đổi theo
Lấy ví dụ về bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Đối tượng tài sản được bảo hiểm ở đây thường được phân loại thành: hàng khô, hàng rời, hàng đông lạnh…Mỗi loại hàng thì lại có những đặc điểm, phương thức sắp xếp hàng hóa và chịu ảnh hưởng rủi ro từ những yếu tố khác nhau Do đó, việc tính phí bảo hiểm cũng sẽ khác nhau đối với từng loại hàng
Đối với nghiệp vụ bảo hiểm này, phí bảo hiểm tài được xác định:
10
Xem thêm Xem thêm Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Giáo trình bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế
quốc dân
Trang 171.1.3.5 Những đặc điểm riêng biệt
Bên cạnh những đặc điểm chung giữa phí bảo hiểm tài sản và các loại phí bảo hiểm như đã phân tích ở trên, phí bảo hiểm tài sản vẫn có những đặc trưng của riêng
nó
- Cơ sở tính phí bảo hiểm
Đặc trưng nổi bật nhất của phí bảo hiểm tài sản so với các loại bảo hiểm khác
được thể hiện ở nội dung này
Nếu như bảo hiểm nhân thọ có đối tượng bảo hiểm liên quan đến tuổi thọ, tính mạng và sức khỏe con người, do đó cơ sở tính phí bảo hiểm nhân thọ căn cứ vào tuổi của người được bảo hiểm Hay như bảo hiểm trách nhiệm dân sự, đối tượng được bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba Trách nhiệm này phát sinh khi người mua bảo hiểm có lỗi gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì đây là bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự được thực hiện theo biểu phí tối thiểu ban hành kèm theo Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính12
Có thể nhận thấy rằng, bởi vì đối tượng được bảo hiểm ở hai loại bảo hiểm này liên quan đến yếu tố con người và trách nhiệm dân sự nên không thể xác định được giá trị bảo hiểm một cách rõ ràng Bởi lẽ, giá trị con người là vô giá, không thể xác định được chính xác và trên thực tế là không thể bù đắp nổi; còn trách nhiệm dân sự của chủ thể bảo hiểm đối với bên thứ ba lại phải căn cứ vào những tổn thất xảy ra trong tương lai mà chưa thể nào có thể xác định trước một cách cụ thể được Cho nên, việc đưa ra mức phí bảo hiểm đối với hai loại hình bảo hiểm này chủ yếu căn cứ vào năng lực dự liệu và kinh nghiệm của các DNBH cũng như quy định cụ thể của pháp luật Lấy ví dụ về việc định phí bảo hiểm nhân thọ, thì việc định giá phí bảo hiểm sẽ phức tạp hơn Bởi vì ngoài những chi phí mà DNBH đã đầu tư để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng: chi phí khai thác, chi phí sản xuất dịch vụ… thì phí bảo hiểm nhân thọ còn phải phụ thuộc vào độ tuổi của người được bảo hiểm, tuổi thọ bình quân của con người… Trong khi định giá phí bảo hiểm nhân thọ, có rất nhiều yếu tố phải giả định như: tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong… và khi tính phí bảo hiểm, cần phải áp dụng các giả
Trang 18định này đối với độ tuổi của người tham gia bảo hiểm, quá trình này tương đối phức tạp; còn đối với phí bảo hiểm tài sản, việc hoạch định chi phí mặc dù vẫn là giả định, nhưng hầu hết những chi phí đó đều là những con số rõ ràng, là kết quả của việc tổng kết kinh nghiệm cũng như năng lực của DNBH có nghiệp vụ bảo hiểm tài sản
Tuy nhiên, đối với bảo hiểm tài sản, thì để có thể đưa ra được mức phí bảo hiểm tài sản phù hợp mức độ rủi ro, hay nói cách khác là để có thể tuân thủ nguyên tắc định phí bảo hiểm tài sản trên cơ sở giá trị các rủi ro nhằm đảm bảo sự công bằng trong hoạt động bảo hiểm; rủi ro xảy ra càng lớn thì phí bảo hiểm càng cao và giá trị tài sản càng lớn thì mức bồi thường hay chi trả bảo hiểm càng tăng theo; thì khi đưa ra mức phí bảo hiểm tài sản, cần phải xác định cụ thể giá trị của đối tượng được bảo hiểm, nói đúng hơn là xác định rõ ràng giá trị của tài sản là đối tượng được bảo hiểm trong quan
hệ bảo hiểm tài sản
Vì tài sản được bảo hiểm rất đa dạng nên khi ký kết một hợp đồng bảo hiểm tài sản, cả DNBH và bên mua bảo hiểm cần phải xác định rõ ràng giá trị tài sản mà mình
sẽ bảo hiểm và được bảo hiểm Mục đích của bảo hiểm tài sản là chuyển giao rủi ro từ bên mua bảo hiểm sang DNBH, khi có rủi ro xảy ra, DNBH sẽ là chủ thể bồi thường cho những tổn thất về quyền lợi tài chính về tài sản cho chủ sở hữu Để tiến hành bồi thường hay chi trả bảo hiểm, DNBH sẽ phải căn cứ một phần vào mức phí bảo hiểm
mà bên mua bảo hiểm đã đóng Mà mức phí bảo hiểm này phụ thuộc rất nhiều vào số tiền bảo hiểm (là số tiền mà bên mua bảo hiểm muốn mua cho tài sản của mình căn cứ vào giá trị tài sản) Pháp luật bảo hiểm tài sản cấm giao kết những hợp đồng bảo hiểm trên giá trị, tức là những hợp đồng mà số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị thị trường của tài sản Đây là đặc trưng mà những hợp đồng bảo hiểm khác không có, vì những đối tượng của các loại hợp đồng bảo hiểm khác không thể xác định được giá trị một cách
cụ thể
Như vậy, với đối tượng bảo hiểm là tài sản nên để tính phí bảo hiểm tài sản, các DNBH sẽ căn cứ vào giá trị của tài sản để có thể tính toán một mức phí phù hợp nhất với tiêu chí của cả hai bên
- Khả năng tự định phí bảo hiểm của DNBH
Mặc dù theo quy định của pháp luật, phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; tuy nhiên sự tự do định phí bảo hiểm trong mỗi loại bảo hiểm là khác nhau mà trong đó, phí bảo hiểm tài sản là loại phí được pháp luật tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đề cao năng lực tự định phí của các DNBH
Đối với bảo hiểm nhân thọ, những mức phí bảo hiểm đưa ra phải tuân theo quy tắc, biểu phí được Bộ Tài chính phê chuẩn Hơn nữa, đối với loại bảo hiểm này, Vì tính chất phức tạp trong việc tính phí bảo hiểm mà trong tập điều khoản của hợp
Trang 1913
đồng bảo hiểm nhân thọ, thường là các tập điều khoản mẫu do bên DNBH đưa ra nên
số tiền bảo hiểm sẽ do bên tham gia bảo hiểm lựa chọn theo các mức có sẵn Do đó, mặc dù DNBH có quyền chủ động trong việc đưa ra mức phí để khách hàng lựa chọn nhưng những mức phí này phải tuân theo những biểu phí mà Bộ Tài chính đã phê chuẩn
Hoặc trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, việc đưa ra mức phí tối thiểu phải căn
cứ vào biểu phí do Bộ tài chính ban hành Tuy nhiên, pháp luật vẫn cho phép hai bên
có quyền thỏa thuận với mức phí cao hơn Nhưng nếu nhìn nhận tổng quan, sự tự định phí của DNBH ở đây vẫn bị hạn chế
Khác với hai loại hình bảo hiểm trên, phí bảo hiểm trong quan hệ bảo hiểm tài sản được “tự do” hơn Theo pháp luật bảo hiểm, DNBH kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm tài sản được phép chủ động xây dựng biểu phí bảo hiểm sao cho đáp ứng điều kiện: phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo khả năng thanh toán của DNBH và phải tương ứng với điều kiện, trách nhiệm bảo hiểm ( thỏa mãn nguyên tắc định phí bảo hiểm)
Như vậy, về nguyên tắc, việc định phí bảo hiểm tài sản chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của các DNBH trong việc tính toán các chi phí để đưa ra biểu phí mà không
bị Nhà nước hạn chế mức tối thiểu hay tối đa Bên mua bảo hiểm thỏa thuận với DNBH một tỷ lệ phí thích hợp phù hợp với số tiền mà DNBH cho rằng nó “xứng đáng” với giá trị tài sản của mình
1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với phí bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng là một hoạt động tương hỗ được hợp bởi sự tiết kiệm của nhiều cá nhân, tổ chức nhằm bù đắp tổn thất, những hậu quả thiệt hại mà chủ sở hữu tài sản phải gánh chịu do những rủi ro gây ra Khi xảy ra thiệt hại trên thực tế, một cá nhân không thể gánh chịu hoàn toàn những thiệt hại về quyền lợi tài chính nhưng nếu cả cộng đồng chung tay góp sức, cùng “lấy sự đóng góp của số đông để bù đắp cho những bất hạnh của số ít”13 thì việc giải quyết thiệt hại hoàn toàn là điều có thể Tuy nhiên, để có thể cùng nhau chia sẻ rủi ro thì buộc các cá nhân, tổ chức phải tự nguyện đóng góp, hay nói cách khác là phải tự nguyện đóng phí bảo hiểm Phí bảo hiểm chính là sợi dây kết nối, tạo nên mối liên hệ giữa DNBH và khách hàng, cũng là sợi dây gắn kết giữa cộng đồng và một cá nhân cụ thể
1.2.1 Xét từ phương diện kinh tế
Như đã phân tích về bản chất của “phí”, phí bảo hiểm tài sản thực chất là khoản thu dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các DNBH đã cung cấp các dịch vụ bảo
13
Tiến sỹ Nguyễn Thị Thủy, tldd, tr17
Trang 20hiểm cho xã hội Khi quyết định tham gia vào thị trường bảo hiểm tài sản, mỗi DNBH đều đặt tiêu chí lợi nhuận lên hàng đầu, tùy thuộc vào điều kiện của mỗi DNBH mà sẽ
có những chiến lược cụ thể: đa dạng hóa sản phẩm, quảng cáo đến người tiêu dùng,
mở rộng phạm vi phân phối sản phẩm…Như vậy để hoàn thành được mục tiêu này, DNBH sẽ phải bỏ ra những khoản phí nhất định nhằm hiện thực hóa những chiến lược trên Được thành lập ra để kinh doanh, DNBH không phải là những nhà từ thiện tự mình chi trả hết những hoạt động của công ty chỉ nhằm mục đích đơn thuần là đưa đến những gói sản phẩm bảo hiểm miễn phí cho khách hàng, mà chính những khách hàng có nhu cầu muốn tìm đến những gói sản phẩm đó phải đóng những khoản phí cho DNBH Khoản phí này, vừa để bù đắp những chi phí mà DNBH đã bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, vừa để mang lại lợi nhuận cho DNBH
Đối với những doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng khác, thì chu trình cung cấp sản phẩm ra thị trường như sau: doanh nghiệp xác định một cách tất cả những chi phí trong hoạt động kinh doanh, trên cơ sở đó tiến hành ấn định giá bán sản phẩm sao cho tổng thu nhập có được lớn hơn hoặc tối thiểu là bằng với những chi phí
đã bỏ ra nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên đối với những DNBH, đặc trưng nổi bật của những doanh nghiệp này đó chính là chu trình kinh doanh đảo ngược, có nghĩa là doanh thu có trước và chi phí phát sinh sau Doanh thu của DNBH chủ yếu từ phí bảo hiểm Khi thu phí từ khách hàng, DNBH sẽ phải thành lập những quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, một loại quỹ đặc trưng của các công ty bảo hiểm nhằm đảm bảo trách nhiệm của DNBH trước những cam kết với khách hàng Tức là, DNBH sẽ thu phí của khách hàng trước và sẽ chi trả cho khách hàng khi xảy ra tổn thất từ rủi ro được bảo hiểm phát sinh Như vậy, chi phí mà DNBH bỏ ra không chỉ là những chi phí phát sinh trong quá trình cung cấp gói sản phẩm bảo hiểm đến khách hàng, mà còn có những chi phí “dự tính” phát sinh trong tương lai nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng, như khoản bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho khách hàng… Do đó, việc cân đối giữa thu phí bảo hiểm của khách hàng và những khoản chi phí phát sinh trong tương lai chính là điều kiện mà các DNBH cần phải đáp ứng
để có thể mang lại lợi nhuận cho công ty của mình
Như vậy, việc thu phí bảo hiểm của khách hàng là cần thiết Đó vừa là khoản thu nhằm bù đắp những khoản chi phí mà DNBH đã bỏ ra khi cung cấp dịch vụ đến khách hàng, vừa là nguồn thu bảo đảm lợi nhuận cho DNBH khi tiến hành hoạt động kinh doanh
1.2.2 Về phương diện pháp lý
Quan hệ giữa DNBH và người mua bảo hiểm tài sản được hình thành thông qua
hợp đồng bảo hiểm tài sản, đây là một loại giao dịch dân sự “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
Trang 2115
quyền, nghĩa vụ dân sự”14 Mục đích của giao dịch dân sự là lời ích hợp pháp mà các
bên chủ thể muốn đạt được khi tham gia giao dịch Hay nói cách khác, mục đích của giao dịch chính là hậu quả pháp lý sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch Những mục đích này thường mang tính chất pháp lý
Như vậy, khi giao dịch dân sự được hình thành, giữa các bên chủ thể sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ với nhau Theo đó, trong quan hệ bảo hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên bảo hiểm sẽ nhận được một khoản phí, còn bên được bảo hiểm nhận được một lời cam kết bảo đảm được nhận tiền bồi thường hoặc tiền bảo hiểm khi có sự kiện xảy ra theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng Như vậy, việc đóng phí bảo hiểm là nghĩa vụ của người mua bảo hiểm và việc nhận phí bảo hiểm là quyền của DNBH khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm
Cụ thể, khi muốn được bảo vệ quyền lợi tài chính đối với những tài sản mà mình là chủ sở hữu hoặc là người đang chiếm hữu và sử dụng hợp pháp tài sản đó, người mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm như là một khoản phí yêu cầu việc được chia sẻ những rủi ro phát sinh từ tương lai đối với những tài sản của mình từ cộng đồng và DNBH chính là bên trung gian đưa nguồn tài chính được đóng góp từ cộng đồng đến với những chủ thể gặp phải rủi ro về tài sản Riêng với DNBH, việc nhận phí bảo hiểm là quyền lợi của những doanh nghiệp này Khi doanh nghiệp cung cấp một sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho những nhu cầu của xã hội thì những doanh nghiệp
có quyền được thu phí nhằm bù đắp những tổn thất phát sinh trong quá trình đưa những dịch vụ đến tay người tiêu dùng Đối với DNBH, họ đã phải bỏ ra những chi phí từ khi tung sản phẩm ra thị trường đến khi hoàn tất nghĩa vụ mà họ đã cam kết với khách hàng bảo hiểm là đảm bảo việc chi trả tiền bảo hiểm hay tiền bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Như vậy, cần phải quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong những trường hợp cụ thể nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của khách hàng, đồng thời đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của DNBH
1.2.3 Vai trò của phí bảo hiểm tài sản
1.2.3.1 Phí bảo hiểm là nguồn vốn chủ yếu của DNBH
“Vốn” của doanh nghiệp thực tế chính là vốn kinh doanh của doanh nghiệp, là giá trị được biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp phục
vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận15
14 Điều 121 BLDS 2005
15 Xem thêm Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh (2009), Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia TP HCM, TP.HCM, tr46
Trang 22Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên bảo hiểm nhận được một khoản phí, còn bên được bảo hiểm nhận được một lời cam kết trả tiền bảo hiểm hay bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng Phí bảo hiểm tài sản chính là một nguồn vốn của DNBH Hay chính xác hơn, đó là nguồn vốn vay mà người mua bảo hiểm chính là “chủ nợ” Tuy nhiên, bên mua bảo hiểm lại
“không có khả năng kiểm tra độ tin cậy (về tài chính) của người vay (DNBH)16
Do
đó, với việc đóng phí của khách hàng, DNBH phải trích lập Dự phòng bảo hiểm nghiệp vụ nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định được trước và phát sinh từ các hợp đồng đã giao kết17 Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản, thì thời hạn của hợp đồng thường không quá một năm Thời hạn này ngắn hơn rất nhiều so với thời hạn của hợp đồng bảo hiểm khác(Ví dụ: thời hạn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tối thiểu là 5 năm) Vậy nên đây là một loại nợ ngắn hạn Tuy nhiên, đối với hoạt động bảo hiểm, từ khi DNBH tiến hành thu phí bảo hiểm tài sản đến khi trả tiền bồi thường hoặc tiền bảo hiểm sẽ cách một khoảng thời gian Và trong thời gian này, khoản phí thu được sẽ là nguồn vốn nhàn rỗi DNBH không cần phải dùng đến những nguồn vốn vay khác mà DNBH sẽ sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi từ quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được sử dụng nguồn vốn đó để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh khác nhưng vẫn phải bảo đảm trách nhiệm của mình trước những cam kết với khách hàng
Các hợp đồng bảo hiểm tài sản thường có thời hạn ngắn, thường chỉ kéo dài từ một năm trở xuống, có nhiều nghiệp vụ bảo hiểm tài sản thời hạn bảo hiểm chỉ tính bằng giờ như: bảo hiểm hàng hóa vận chuyển… Do đó, nguồn vốn của DNBH có được từ nguồn phí bảo hiểm tài sản của bên mua bảo hiểm có thể được xem là những khoản nợ ngắn hạn Vì hợp đồng bảo hiểm có thể được ký kết vào bất cứ thời điềm nào trong năm, thời hạn bảo hiểm mỗi loại hợp đồng bảo hiểm tài sản lại ngắn và còn tùy thuộc vào mỗi loại tài sản, hơn nữa khả năng xảy ra rủi ro là không thể lường trước được nên việc bồi thường của DNBH cần phải kịp thời nhằm chia sẻ rủi ro với với khách hàng Do đó, DNBH cần phải sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn này đầu tư một cách có hiệu quả vừa đảm bảo đầu tư sinh lợi, vừa đảm bảo thực hiện được cam kết với khách hàng một cách hiệu quả nhất
1.2.3.2 Phí bảo hiểm là cơ sở để tính bồi thường thiệt hại
Một trong những nguyên tắc hoạt động của kinh doanh bảo hiểm là nguyên tắc bồi thường, DNBH phải chịu trách nhiệm khôi phục lại trạng thái tài chính của người mua bảo hiểm khi tổn thất chưa xảy ra và người mua bảo hiểm cũng chỉ được hưởng mức bồi thường không vượt quá giá trị tổn thất thực tế hoặc là quyền lợi về bảo hiểm
mà họ xứng đáng được nhận Mục đích khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản của
16 Nguyễn Văn Thành (3/2009), « Bảo vệ người tham gia bảo hiểm », Tạp chí Nhà quản lý, (69)
Trang 2317
người mua bảo hiểm là được bảo vệ quyền lợi tài chính đối với tài sản của mình đối với những rủi ro trong tương lai mà không nhằm mục đích hưởng lợi Do đó, việc được hưởng bồi thường của người mua bảo hiểm không được vượt quá những quyền lợi mà các bên đã thỏa thuận với nhau trong hợp đồng
Cơ sở để tính bồi thường trong bảo hiểm tài sản thường dựa trên: mức phí bảo
hiểm, hình thức bảo hiểm và thiệt hại thực tế do rủi ro gây ra
Khi một khách hàng xác lập quan hệ bảo hiểm với DNBH thông qua phí bảo hiểm tài sản, khách hàng đó đã nhận thức giá trị tài sản của mình và yêu cầu được bảo hiểm về quyền lợi tài chính về tài sản đó thông qua những thỏa thuận trong HĐBH tài sản Phí bảo hiểm tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể, đối với khách hàng,
đó là sự định giá về quyền lợi tài chính đối với tài sản của họ Trong cuộc sống, vì không thể tránh được những rủi ro xảy ra đối với tài sản của mình, những khách hàng này luôn tìm đến một DNBH yêu cầu việc bảo hiểm cho tài sản của họ Khi nhận thức được giá trị đối với tài sản mà mình đang sở hữu, khách hàng sẽ đưa ra một mức phí coi như là mức giá họ định ra đối với những quyền lợi mà họ đáng được hưởng nếu như không gặp phải những rủi ro bất ngờ Trên cơ sở đó, DNBH sẽ căn cứ vào mức phí bảo hiểm mà mình đã thỏa thuận với khách hàng dựa trên yêu cầu của họ cũng như những mức phí mà doanh nghiệp mình đã dự liệu, sẽ tiến hành chi trả bồi thường cho khách hàng nếu như có rủi ro thực tế xảy ra Vì khách hàng đã tự “đánh giá” về quyền lợi tài chính đối với tài sản của mình, nếu có thiệt hại xảy ra, họ sẽ chỉ được nhận những gì tương đương với quyền lợi mà họ nghĩ mình đáng được hưởng mà không thể đòi hỏi vượt quá những quyền lợi đó, nên việc bồi thường bảo hiểm phải căn cứ vào mức phí bảo hiểm mà hai bên đã thỏa thuận
1.3 Khái quát chung về pháp luật của phí bảo hiểm tài sản
1.3.1 Khái niệm
Phí bảo hiểm tài sản là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm tài sản phải đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Như vậy quan hệ về phí bảo hiểm tài sản chủ yếu phát sinh giữa DNBH và bên mua bảo hiểm Trong hệ thống các công cụ bảo vệ mối quan hệ này thì việc ban
hành và thực hiện pháp luật về phí bảo hiểm tài sản là hữu hiệu nhất Theo đó, “pháp luật về phí bảo hiểm tài sản được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh
về vai trò của phí bảo hiểm; nghĩa vụ và quyền lợi của các bên liên quan đến phí bảo hiểm tài sản trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản”
Trang 241.3.2 Nội dung của quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản
1.3.2.1 Yếu tố chi phối đến phí bảo hiểm tài sản theo quy định của pháp luật a) Giá trị tài sản
Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, có một nguyên tắc quan trọng mà các bên khi
tham gia quan hệ này cần phải tuân thủ, đó là nguyên tắc định phí tài sản Nguyên tắc này được hiểu là bảo hiểm phải dựa trên cơ sở các rủi ro, nhằm đảm bảo sự công bằng trong hoạt động bảo hiểm mà các rủi ro phải đương với mức phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm phải đóng Nghĩa là, rủi ro xảy ra càng lớn, sự tổn thất xảy ra trong tương lai càng cao thì mức phí bảo hiểm tài sản cũng phải tăng lên tương ứng Như vậy, việc dự liệu trước những tổn thất trong tương lai rất quan trọng Để có thể giảm thiểu tốt nhất mức bồi thường thì DNBH cần phải đưa ra mức phí bảo hiểm tài sản phù hợp nhất với tài sản là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm Trong đó có một yếu tố luôn luôn được hai bên chủ thể quan tâm đến: Giá trị tài sản được bảo hiểm
Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, đối tượng được bảo hiểm là tài sản nhưng khách thể của hợp đồng bảo hiểm tài sản mà hai bên muốn giao kết chính là lợi ích kinh tế
đã có sẵn của đối tượng bảo hiểm hay còn gọi là lợi ích bảo hiểm Vậy, mục đích chính khi người đề nghị bảo hiểm muốn giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản với DNBH là nhằm bảo vệ quyền lợi tài chính về tài sản của mình Tức là, muốn bảo vệ giá trị tài sản mà những chủ thể đó đáng được hưởng nếu như không có những rủi ro trong tương lai Như vậy, giá trị tài sản được bảo hiểm ở đây cần phải đáp ứng những điều kiện như thế nào để được xem là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản hay là
cơ sở để tính phí bảo hiểm tài sản?
- Quyền sở hữu tài sản
Quan hệ bảo hiểm tài sản hướng đến đối tượng là tài sản mà những quan hệ về tài sản luôn xuất phát từ những quan hệ sở hữu Quan hệ sở hữu là tiền đề, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ khác Như vậy, để trở thành đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản, cần phải xác định vấn đề tài sản được đề nghị bảo hiểm thuộc sở hữu của ai? Hay nói cách khác, bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi như thế nào đối với tài sản được bảo hiểm?
Theo quy định của pháp luật dân sự, với tư cách là chủ sở hữu tài sản, chủ thể đó
sẽ có đầy đủ quyền năng đối với tài sản của mình: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt Như vậy, khi là chủ sở hữu tài sản, chủ thể hoàn toàn có quyền đề nghị DNBH bảo vệ tài sản của mình thông qua việc bảo hiểm cho quyền lợi tài chính
về tài sản cho chủ sở hữu
Tuy nhiên, không chỉ có riêng chủ sở hữu mới có quyền năng trên Khi tạo ra tài sản, chủ sở hữu luôn tìm mọi cách để tài sản của mình phát huy tốt nhất giá trị của nó Vậy nên trong rất nhiều trường hợp, chủ sở hữu có thể chuyển một số quyền sở hữu
Trang 2519
của mình cho các chủ thể khác thông qua chuyển quyền chiếm hữu và quyền sử dụng tài sản Những hình thức chuyển quyền này được quy định khá cụ thể trong pháp luật dân sự: cho thuê, cho mượn Khi được chủ sở hữu chuyển quyền, những chủ thể được hưởng quyền có nghĩa vụ phải bảo quản tài sản cho chủ sở hữu Để có thể đảm bảo tốt nhất sự an toàn cho tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của mình, những chủ thể được hưởng quyền có thể đề nghị mua bảo hiểm tài sản nếu được sự ủy quyền của chính chủ sở hữu Bởi lẽ, khi chuyển giao quyền chiếm hữu hay quyền sử dụng thì việc định đoạt tài sản vẫn thuộc quyền năng của chủ sở hữu ban đầu Như vậy, khi được sự ủy quyền của chủ sở hữu, những chủ thể nhận quyền có thể trở thành người mua bảo hiểm hay sẽ là chủ thể đóng phí bảo hiểm
- Giá trị tài sản
Bảo hiểm tài sản ra đời xuất phát từ nhu cầu muốn chia sẻ tổn thất của những người mua bảo hiểm tài sản Theo đó, khi có tổn thất xảy ra trên thực tế, DNBH sẽ phải chi trả hoặc bồi thường bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm tài sản Như vậy, với những thiệt hại mà đáng lý ra, người mua bảo hiểm phải là người gánh chịu thì khi tham gia quan hệ bảo hiểm tài sản, DNBH sẽ trở thành chủ thể chi trả cho những tổn thất trên Tuy nhiên, việc xác định tổn thất thực tế để DNBH tiến hành chi trả, bồi thường sẽ rất khó khăn nếu như ngay từ đầu không xác định cụ thể giá trị của tài sản được bảo hiểm
Khách thể của hợp đồng bảo hiểm tài sản là lợi ích kinh tế của tài sản Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, những lợi ích kinh tế này phải là những lợi ích kinh tế hợp pháp, tức là những lợi ích đã được pháp luật thừa nhận Và đặc biệt, bên mua bảo hiểm phải chứng minh được tổn thất của tài sản phải có những ảnh hưởng đối với người được bảo hiểm thì người mua bảo hiểm mới được phép mua bảo hiểm cho tài sản đó18 Vậy nên khi xác định giá trị tài sản, người mua bảo hiểm và DNBH cần phải lưu ý đến những vấn đề trên để có thể giao kết hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật
Bảo hiểm tài sản là nhu cầu của người đề nghị được bảo hiểm tài sản, tuy nhiên việc xác định giá trị tài sản còn tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên Việc thẩm định giá trị tài sản cần phải đảm bảo rằng: vừa bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo hiểm vừa đảm bảo nguồn doanh thu cho DNBH
Trong bảo hiểm con người, đối tượng bảo hiểm là sức khỏe, tính mạng của con người; đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba Những đối tượng này không thể định giá một cách cụ thể
vì liên quan đến con người và những đối tượng được hình thành trong tương lai mà không phải là ngay tại thời điểm giao kết hợp đồng Khác với bảo hiểm con người và
18
Tiến sỹ Nguyễn Thị Thủy, tldd, tr65
Trang 26bảo hiểm trách nhiệm dân sự, quyền lợi bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản cần phải được định giá một cách cụ thể Đây là đặc trưng của bảo hiểm tài sản so với các loại bảo hiểm khác.)
b) Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự không chắc chắn
Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy
ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra19 Như vậy, việc xác định như thế nào là rủi ro về tài sản để được bảo hiểm là rất quan trọng đối với pháp luật bảo hiểm tài sản
Rủi ro là yếu tố đầu tiên khi đề cập đến bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng Rủi ro là điểm nút của quan hệ bảo hiểm tài sản nhưng lại không phải là yếu
tố được định hình rõ ràng mà chỉ có thể suy đoán một cách gián tiếp
Rủi ro là sự không chắc chắn mà đó sự nghi ngờ những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Và đối với việc những rủi ro này xuất hiện sẽ gây ra tổn thất hoặc hậu quả mà nó gây ra sẽ rất nghiêm trọng đối với tài sản của con người
Những rủi ro có thể tồn tại hiện nay chủ yếu là những rủi ro từ thiên nhiên, từ những biến động của khoa học công nghệ hoặc là do môi trường xã hội gây ra Những rủi ro này diễn ra một cách khách quan mà ý chí của con người không thể kiểm soát được Con người chỉ có thể can thiệp nhằm ngăn chặn những tổn thất do rủi ro gây ra
Có nhiều biện pháp đối phó với rủi ro có thể lựa chọn:
- Né tránh rủi ro: là biện pháp tránh khả năng làm xuất hiện rủi ro tức là tránh
né nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro Tuy nhiên, biện pháp này không được lựa chọn nhiều trên thực tế vì tránh được rủi ro này thì vẫn có rủi ro khác có khả năng xảy ra Ví dụ, nếu không dùng xe máy để lưu thông vì sợ tai nạn giao thông đường bộ mà chuyển sang đi tàu hỏa thì vẫn có khả năng xảy ra tai nạn đường sắt…
- Ngăn chặn rủi ro: tìm biện pháp ngăn chặn hoặc giảm bớt số lần xuất hiện rủi ro và mức độ thiệt hại do rủi ro gây nên Nhưng khả năng của con người
là có hạn nên không thể ngăn chặn hết mọi rủi ro Ví dụ con người có thể xây dựng đê điều để tránh lũ nhưng lũ lụt vẫn có thể diễn ra…
Trang 27
21
- Chấp nhận rủi ro: sẵn sàng đối diện với rủi ro bằng những cách của riêng mình Tuy nhiên, hình thức này chỉ áp dụng đối với những rủi ro có tần suất thấp và thiệt hại ít nghiêm trọng mà thôi
- Chuyển giao rủi ro: chuyển giao thiệt hại về tài chính của các rủi ro sang cho người khác.Với việc đóng một khoản phí từ ban đầu nhưng sẽ tránh được những thiệt hại tài chính trong tương lai Chuyển giao rủi ro hay còn gọi là bảo hiểm
Theo pháp luật bảo hiểm tài sản, đối tượng được bảo hiểm là tài sản nhưng mục đích chính khi người mua bảo hiểm muốn tham gia vào quan hệ này, đó là được chuyển giao rủi ro về quyền lợi tài chính của tài sản nếu có những tổn thất trong tương lai sang cho DNBH Vậy nên, trước khi xác lập quan hệ này bằng việc giao kết hợp đồng, người mua bảo hiểm cần phải đảm bảo những quyền lợi về tài sản của chính mình và cần phải lưu ý đến khả năng rủi ro xảy ra đối với tài sản mà mình mua bảo hiểm Những khả năng này phải đến từ những nguyên nhân khách quan và hoàn toàn ngẫu nhiên thì mới được xem là rủi ro Đồng thời, đối với DNBH, cần phải biết nhận diện, đánh giá và lựa chọn những rủi ro mà DNBH mình có thể bảo hiểm để có thể tiến hành kinh doanh một cách thuận lợi nhất, đảm bảo được niềm tin và sự tín nhiệm ở khách hàng
Như vậy, rủi ro là cơ sở hình thành nên bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng Đây là khái niệm cơ bản và quan trọng nhất của quan hệ bảo hiểm “Không
có rủi ro thì không có bảo hiểm”20 chính là nguyên lý hàng đầu của ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng hiện nay
- Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
Quan hệ hợp đồng bảo hiểm là một dạng của quan hệ hợp đồng dân sự, có nghĩa
là các bên sẽ bị ràng buộc lẫn nhau bằng những quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể trong hợp đồng Do đó, nếu các bên không thực hiện đúng với những cam kết được quy định trong hợp đồng thì sẽ phải chịu trách nhiệm với bên kia
Theo quy định của pháp luật dân sự, hợp đồng dân sự có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể Tuy nhiên, tùy mỗi loại hợp đồng cụ thể mà thời điểm phát sinh sẽ khác nhau Cụ thể, đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản, trách nhiệm bảo hiểm của DNBH phát sinh khi có
đủ hai điều kiện:
- HĐBH đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng DNBH đã chấp nhận bảo hiểm
20
Xem “Lý thuyết cơ bản về bảo hiểm” của Nguyễn Tiến, tài liệu lưu hành nội bộ của Bảo Minh
Trang 28- Bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm tài sản cho DNBH hoặc có thỏa thuận về việc nợ phí bảo hiểm đã được thỏa thuận trong hợp đồng giữa bên mua bảo hiểm và DNBH
Như vậy, nếu giao kết HĐBH tài sản là điều kiện cần để làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH thì việc đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm là điều kiện đủ để trách nhiệm bảo hiểm phát sinh trên thực tế Như đã phân tích ở trên, việc đóng phí bảo hiểm tài sản là quyền và nghĩa vụ của các bên DNBH được thành lập với mục đích kinh doanh Khi một DNBH đã đầu tư các hoạt động cần thiết để tạo ra một sản phẩm và đưa sản phẩm đó đến tay người dùng thì sẽ lợi nhuận sẽ là mục tiêu
mà DNBH hướng tới Phí bảo hiểm tài sản là giá cả của sản phẩm Đó là khoản thu dùng để bù đắp cho những khoản chi đã đầu tư vào sản phẩm và cũng là nguồn thu để hình thành nên quỹ tài chính của DNBH để có thể đảm bảo cho việc bồi thường hay chi trả bảo hiểm Muốn phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH thì đầu tiên người mua bảo hiểm cần phải hoàn thành nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm
Mặt khác, vì quan hệ bảo hiểm tài sản là một loại quan hệ dân sự Do đó, pháp luật sẽ tôn trọng ý chí định đoạt của các bên chủ thể Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm tài sản, người mua bảo hiểm tài sản và DNBH có thể có thỏa thuận khác về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm Điều đó có nghĩa là, về nguyên tắc, trách nhiệm bảo hiểm của DNBH phát sinh khi người mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm tài sản cho DNBH Tuy nhiên, nếu giữa hai bên có thỏa thuận khác về việc đóng phí bảo phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm thì trách nhiệm bảo hiểm của DNBH sẽ phát sinh theo thỏa thuận này Hiện nay, những thỏa thuận này thường tồn tại dưới hình thức DNBH cho bên mua bảo hiểm nợ phí Trong trường hợp này, trách nhiệm bảo hiểm sẽ phát sinh sau khi hợp đồng được giao kết hoặc khi có bằng chứng DNBH đã chấp nhận bảo hiểm mà không cần tới điều kiện đóng phí bảo hiểm của người mua bảo
hiểm
1.5.2.1 Các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến phí bảo hiểm tài
sản
a) Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về phí bảo hiểm tài sản
Hiện nay, trong pháp luật bảo hiểm tài sản thì các chủ thể tham gia quan hệ này bao gồm: DNBH, bên mua bảo hiểm, người có liên quan trong hợp đồng bảo hiểm và người hỗ trợ trong hợp đồng bảo hiểm như: đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Tuy nhiên, ở đây, tác giả chỉ xin phép phân tích hai chủ thể quan trọng nhất
trong quan hệ về phí bảo hiểm tài sản: DNBH và bên mua bảo hiểm
- Đối với DNBH
Theo quy định của pháp luật bảo hiểm thì DNBH là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật kinh doanh bảo hiểm và các
Trang 2923
quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm21 Như vậy, DNBH là chủ thể được thành lập nhằm mục đích kinh doanh Đây là chủ thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm tài sản, là chủ thể có quyền lợi được thu phí bảo hiểm khi
kí kết hợp đồng bảo hiểm và phải có trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm theo sự thỏa thuận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Hiện nay có các loại hình DNBH:
● Công ty cổ phần bảo hiểm;
● Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm;
● Hợp tác xã bảo hiểm;
● Tổ chức bảo hiểm tương hỗ.22
- Bên mua bảo hiểm
Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản với
DNBH và đóng phí bảo hiểm tài sản Như vậy, bên mua bảo hiểm chính là người yêu cầu được bảo hiểm và là chủ thể phải nộp phí bảo hiểm khi ký hợp đồng bảo hiểm với DNBH
Bên mua bảo hiểm thường bao gồm: Cá nhân và pháp nhân
Đối với cá nhân: có năng lực hành vi dân sự, có mối quan hệ với tài sản được
bảo hiểm, có sự thỏa thuận về nộp phí bảo hiểm
Đối với pháp nhân: phải là pháp nhân đầy đủ theo quy định của pháp luật dân sự
và phải có thỏa thuận về phí bảo hiểm tài sản trong hợp đồng
b) Các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể liên quan đến phí bảo hiểm tài sản
Phí bảo hiểm tài sản là mối liên kết quan trọng để giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản Xuất phát từ tầm quan trọng của phí bảo hiểm tài sản trên phương diện pháp lý, pháp luật bảo hiểm tài sản cần có những quy định cụ thể để ràng buộc trách nhiệm người mua bảo hiểm và DNBH Tuy nhiên, để bám sát nội dung của đề tài, tác giả chỉ trình bày những quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất liên quan đến phí bảo hiểm tài sản giữa các bên chủ thể
Trang 30DNBH được thành lập nhằm mục đích hoạt động kinh doanh loại hình dịch vụ bảo hiểm Với việc đưa ra thị trường nhiều gói dịch vụ bảo hiểm nhằm phục vụ từng đối tượng khách hàng khác nhau, DNBH sẽ có những hoạt động kinh doanh khác nhau nhưng mục tiêu chính của DNBH vẫn là san sẻ bớt tổn thất của người mua bảo hiểm bằng cách sử dụng những nguồn tài chính của chính doanh nghiệp mình Để thiết lập nên nguồn tài chính, ngoài vốn gốc của công ty thì một kênh huy động vốn rất quan trong của DNBH đó chính là thu phí bảo hiểm tài sản từ người mua bảo hiểm
Để đưa được sản phẩm dịch vụ đến tay khách hàng, DNBH đã phải bỏ ra rất nhiều chi phí bao gồm cả chi phí trực tiếp hay gián tiếp từ khâu tạo thành sản phẩm đến khi tiếp thị sản phẩm ra thị trường… Việc thu phí bảo hiểm tài sản chính là điều kiện để DNBH có thể bù đắp hết những chi phí trên
Như vậy, việc nhận phí bảo hiểm tài sản từ người mua bảo hiểm là quyền của DNBH Đó là khoản thu dùng để bù đắp các chi phí đã phát sinh trong hoạt động kinh doanh của DNBH, vừa là nguồn vốn dùng để đảm bảo khả năng tài chính của công ty trong việc thực hiện lời cam kết với khách hàng
- Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên
quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Nguyên tắc trung thực là nguyên tắc ảnh hưởng rất nhiều đến các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Khi tham gia quan hệ này, thì bên mua bảo hiểm là bên nắm rõ nhất những đặc điểm về tài sản của mình cũng như là bên có thể dự đoán được những rủi ro nào là dễ xảy ra nhất đối với tài sản của mình Do đó, DNBH có quyền được cung cấp đầy đủ những thông tin liên quan đến đối tượng tài sản để từ đó đưa ra được mức phí bảo hiểm tài sản phù hợp nhất cũng như có những hoạt động đầu
tư tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của chính doanh nghiệp Nếu có hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng thì hợp đồng sẽ bị
vô hiệu
- Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định của pháp luật
bảo hiểm tài sản
Đối với hoạt động bảo hiểm tài sản, thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng trong những trường hợp sau:
Thứ nhất, khi bên mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật hoặc không
thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin
Thứ hai, khi bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm vì có sự
thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí, dẫn đến tăng các rủi ro
Với mỗi trường hợp cụ thể, tác giả sẽ trình bày rõ hơn ở chương sau
Trang 31● Nghĩa vụ của DNBH
- Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm,
quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
Về nguyên tắc, HĐBH là sự thỏa thuận của các bên nhưng trên thực tế, các HĐBH tài sản đều là hợp đồng do DNBH soạn sẵn, các bên chỉ có thể thỏa thuận một
số điều khoản bổ sung mà thôi Nên việc cần giải thích cặn kẽ các điều khoản của hợp đồng để bên mua bảo hiểm được những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, để từ đó giao kết và thực hiện hợp đồng một cách thuận lợi nhất Hơn nữa, trong hợp đồng bảo hiểm, nếu như có sự mâu thuẫn về giải thích các điều khoản của hợp đồng thì việc giải thích hợp đồng sẽ ưu tiên quyền lợi của bên mua bảo hiểm Như vậy, để đảm bảo cao nhất quyền lợi của mình, DNBH cần phải thực hiện nghĩa vụ trên
- Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm
ngay sau khi giao kết HĐBH
Quy định này là căn cứ để xác định việc ký kết hợp đồng đã được thực hiện trên thực tế hay chưa và là cơ sử pháp lý để các thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình CHỉ khi hợp đồng đã được giao kết hoặc có bằng chứng về việc giao kết hợp đồng thì khi đó quyền và nghĩa vụ mới chính thức được phát sinh Hơn nữa, với việc cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm để làm bằng chứng giao kết thì để có thể làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm là cần phải hoàn thành nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm tài sản của mình Đây là yếu tố rất quan trọng trong việc giao kết HĐBH tài sản
Đối với bên mua bảo hiểm
● Quyền của bên mua bảo hiểm
- Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản
Pháp luật bảo hiểm tài sản trao cho DNBH quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản và cũng trao cho bên mua bảo hiểm những quyền tương
Trang 32ứng nhằm đảm bảo quyền lợi của mình Theo đó, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản trong những trường hợp sau:
Thứ nhất, khi phát hiện DNBH cố ý cung cấp thông tin sai sự thật giao kết hợp
đồng bảo hiểm
Thứ hai, khi bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm vì có sự thay
đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí, dẫn đến tăng các rủi ro
Tác giả sẽ phân tích cụ thể từng trường hợp trong phần sau
- Yêu cầu DNBH giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy
chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm
Như đã trình bày ở phần trên, đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản thì đây là những hợp đồng do DNBH soạn thảo sẵn nên việc thỏa thuận để hình thành nên các điều khoản của hợp đồng là rất hạn chế Do đó bên DNBH cần phải giải thích các điều kiện
và điều khoản bảo hiểm để bên mua bảo hiểm nắm rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, như vậy thì mới đảm bảo được việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm
● Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
- Đóng phí bảo hiểm
Bắt nguồn từ nhu cầu được bảo vệ, được giúp đỡ, được chia sẻ rủi ro khi có tổn thất xảy ra trên thực tế của con người mà bảo hiểm tài sản ra đời Kinh doanh bảo hiểm là một loại hình dịch vụ và DNBH là chủ thể cung cấp dịch vụ Khi đó, người mua bảo hiểm sẽ trở thành khách hàng mua dịch vụ, và việc trả tiền để được nhận dịch vụ là điều kiện tất yếu Trong hoạt động bảo hiểm tài sản thì khoản tiền này được gọi là phí bảo hiểm tài sản
Mặt khác, hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bồi thường, tức là phải trả tiền mới được hưởng quyền lợi Người mua bảo hiểm phải trả tiền bằng cách đóng phí bảo hiểm tài sản thì mới được bồi thường thiệt hại khi có tổn thất thực tế xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm Khi hợp đồng bảo hiểm tài sản đã được ký kết nhưng nếu người tham gia bảo hiểm chưa đóng phí bảo hiểm tài sản thì khi đó, hợp đồng vẫn chưa có hiệu lực hay nói cách khác thì hợp đồng vẫn chưa làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH, trừ một số trường hợp theo thỏa thuận của các bên
Như vậy, đóng phí bảo hiểm vừa là nghĩa vụ, vừa là cơ sở để tạo nên sự an tâm của người mua bảo hiểm khi hoạt động kinh doanh mà không lo lắng đến nguy cơ thiệt hại đối với tài sản của mình
- Kê khai đầy đủ, cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo
yêu cầu của DNBH
Trang 3327
Nếu như DNBH có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thì nghĩa vụ cung cấp thông tin phải được bên mua bảo hiểm tuân thủ Việc yêu cầu kê khai, cung cấp thông tin ở đây chủ yếu là những yêu cầu về đặc điểm, tính chất của đối tượng bảo hiểm Như đã nói
ở phần trên, nguyên tắc trung thực là nguyên tắc chi phối rất nhiều đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản Nếu như bên mua bảo hiểm có hành vi gian dối khi thực hiện nghĩa vụ này thì sẽ dẫn đến sự đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng của DNBH
- Thông báo những trường hợp làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm
trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của DNBH
Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, rủi ro là điểm nút của tất cả mọi vấn đề Có rủi
ro mới phát sinh nhu cầu được bảo hiểm về tài sản và mức rủi ro sẽ phải tương đương với mức phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm phải đóng Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, sẽ phát sinh nhiều yếu tố mới làm tăng rủi ro hoặc là làm phát sinh thêm trách nhiệm bảo hiểm của DNBH mà hai bên không dự liệu trước được trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản Đối với những yếu tố phát sinh này, với việc làm phát sinh thêm trách nhiệm bảo hiểm của DNBH sẽ đồng nghĩa với việc khả năng phải bồi thường hoặc chi trả bảo hiểm của DNBH sẽ tăng theo tương ứng Hơn nữa, việc tăng rủi ro còn là cơ sở để DNBH tính lại phí bảo hiểm trong thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm tài sản Như vậy, với việc cung cấp, kê khai thông tin theo yêu cầu của DNBH; đây không chỉ là nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm nhằm đảm bảo nguyên tắc trung thực mà còn là cơ sở nhằm đảm bảo cho quyền lợi của DNBH
- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của
pháp luật
Nhằm hạn chế tình trạng trục lợi của bên mua bảo hiểm, cố ý không thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm nhận được tiền bảo hiểm trong khi có đủ điều kiện để có thể hạn chế được những tổn thất này; pháp luật đã trao cho DNBH quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất
và bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ này nhằm đảm bảo sự tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản