Döôùi söï höôùng daãn cuûa giaùo vieân, caùc em ñoïc hieåu vaø caûm nhaän ñöôïc caùi hay, caùi ñeïp veà noäi dung cuõng nhö ngheä thuaät trong baøi vaên, baøi thô, ñoaïn vaên (thaäm chí [r]
Trang 1Phần thứ nhất ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực tiễn cho thấy, dạy học sinh tiếp thu môn Tiếng Việt tốt là vấn đề hết sức khó khăn (đặc biệt là học sinh vùng sâu, vùng xa như huyện Ngọc Hiển) Việc các em phát huy tốt và nâng cao khả năng cảm thụ văn học lại là việc khó khăn hơn nhiều Mặc dù các thầy giáo, cô giáo luôn quan tâm tới nhiệm vụ bồi dưỡng, nâng cao năng lực cảm thụ văn học thông qua giờ Tập đọc Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em đọc hiểu và cảm nhận được cái hay, cái đẹp về nội dung cũng như nghệ thuật trong bài văn, bài thơ, đoạn văn (thậm chí trong một câu văn, một từ ngữ mang giá trị nghệ thuật) trong sách giáo khoa để các em mở mang tri thức, có khả năng cảm thụ văn học, các em có hứng thú khi học Tiếng Việt Từ đó, các em có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Nói thì dễ song thực trạng hiện nay, suốt chiều dài chương trình Tiếng Việt
ở Tiểu học từ lớp Một đến lớp Năm việc dạy cho học sinh cảm thụ văn học và học sinh cảm thụ văn học gặp rất nhiều khó khăn Có thể thấy rõ qua các kì thi học sinh giỏi cấp Tỉnh cuối bậc Tiểu học, đa phần học sinh làm không được hoặc lúng túng không biết làm từ đâu! Do đâu dẫn đến điều đó? Ta có thể lí giải như sau:
1/ Giáo viên:
-Sử dụng phương pháp dạy học không đồng bộ, hiệu quả giờ dạy thấp
-Chưa phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua giờ dạy trên
lớp, hạn chế việc dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”.
-Chưa đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học dẫn đến tiết học nặng nề, gò ép, nhàm chán
-Trong những tiết Tập đọc đa phần giáo viên còn xem nhẹ việc bồi dưỡng nội dung cảm thụ văn học từ đó kìm hãm việc các em thấy được cái hay, cái đẹp của văn học (nhất là những lớp 3; 4 và 5)
-Khi ôn luyện, bồi dưỡng giáo viên chưa định hướng được cách trình bày một bài văn cảm thụ văn học từ đó khi hỏi đến nội dung này hầu hết các em học sinh rất mơ hồ (đặc biệt là học sinh huyện Ngọc Hiển)
2/ Học sinh:
-Trình độ không đồng đều
-Là học sinh vùng khó khăn nên kỹ năng nhận dạng, quy trình thực hiện các bước thực hành còn yếu, lúng túng chưa biết làm cái gì trước, cái gì sau
-Sách vở các thiết bị nghe nhìn còn hạn chế các em ít được tiếp cận để hỗ trợ học tốt môn Tiếng Việt (đặc biệt là Cảm thụ văn học)
Trang 2-Các em có xu hướng lười đọc sách có nội dung mang giá trị nghệ thuật mà các em chỉ thích đọc những chuyện mang giá trị về nội dung cũng như giá trị nghệ thuật không cao từ đó, kìm hãm thói quen đọc hiểu một văn bản hay
-Phần lớn học sinh (kể cả một số giáo viên) không có thói quen sử dụng Từ điển Tiếng Việt…
3/ Gia đình học sinh:
Đa số người dân cò trình độ thấp, phần lớn làm nghề đánh bắt Một số gia đình có hoàn cảnh khó khăn, họ chỉ biết bươn chải mưu sinh chưa quan tâm đến việc học của con cái
4/ Thực trạng:
Năm học 2008 - 2009 nói riêng cũng như năm học trước đó kì thi học sinh giỏi cấp Tỉnh môn Toán luôn đạt nhiều giải và có số lượng giải cao hơn môn Tiếng Việt Một phần là do mảng kiến thức Cảm thụ văn học (phần đạt 03 điểm) các em làm không được
Từ những thực trạng và những khó khăn trên, để trau dồi năng lực Cảm thụ văn học cho học sinh theo mức độ yêu cầu của chương trình Tiểu học hiện hành, đồng thời trực tiếp phục vụ việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi về môn Tiếng Việt (Đặc biệt là học sinh khá giỏi khối 4; 5) Tôi xin
chọn sáng kiến kiến kinh nghiệm “LÀM THẾ NÀO ĐỂ DẠY TỐT- HỌC
TỐT CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH KHÁ GIỎI LỚP 4 - 5 ” để
nhằm khắc phục những khó khăn, trở ngại những hạn chế nêu trên, đồng thời áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy ở Tiểu học (nhất là ôn luyện học sinh kha,ù giỏi khối lớp 4; 5) trong huyện Ngọc Hiển mong các thầy cô giáo trong huyện hưởng ứng, góp ý để sáng kiến của tôi được áp dụng và đưa vào giảng dạy một cách có hiệu quảù
Phần thứ hai
MỘT SỐ YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ RÈN LUYỆN CẢM THỤ VĂN HỌC VÀ
GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT
* Thế nào là cảm thụ văn học?
Ta có thể hiểu Cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, đẹp đẽ của văn học được thể hiện trong tác phẩm hay một bộ phận của tác phẩm thậm chí một câu văn, một câu thơ, một từ ngữ có giá trị
I/ NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ CẢM THỤ VĂN HỌC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT:
Trang 3Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học luôn coi nhiệm vụ bồi dưỡng Cảm thụ văn học cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, cô giáo, những bài văn bài thơ hay sẽ đem đến cho các em bao điều lí thú, hấp dẫn Tuy nhiên, muốn trở thành một học sinh có năng lực Cảm thụ văn học, các em phải tự giác, phấn đâùu nhiều mặt dưới sự dẫn dắt của thầy cô, người lớn Thực tế cho thấy những học sinh giỏi ở tiểu
học từ trước tới nay là: những em có say mê, hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ,
chịu khó tích lũy vốn hiểu biết về thực tế và văn học, các em nắm bắt kiến thức
cơ bản về Tiếng Việt phục vụ cho Cảm thụ văn học, kiên trì rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn về Cảm thụ văn học.
Vì vậy, những yêu cầu cơ bản dưới đây cần được mỗi học sinh cũng như mỗi giáo viên cần cố gắng thực hiện tốt
1.Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ :
Có hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ, các em sẽ vượt qua những khó khăn trở ngại, cố gắng luyện tập để cảm thụ văn học tốt và học giỏi môn Tiếng Việt Tập đọc diễn cảm bài văn, bài thơ, đoạn văn, chăm chú quan sát bằng tất cả các giác quan để tìm ra cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống quanh ta Từ đó các em biết dùng từ ngữ đúng và hay Khi nói và viết các em viết rõ ý, thành câu sinh động và gợi cảm…
Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn chính là sự rèn luyện mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó các em đến với văn học một cách tự giác, say mê Đó là yêu cầu không thể thiếu của Cảm thụ văn học
2- Tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học:
Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức ảnh hưởng bởi vốn sống của con người.Vốn sống đó được tích lũy bằng những hiểu biết và cảm xúc của bản thân qua hoạt động và quan sát hằng ngày trong cuộc sống Chính vì các em tập quan sát thường xuyên bằng nhiều giác quan như: mắt nhìn (thị giác), tai nghe ( thính giác), tay sờ hoặc cảm nhận dưới da (xúc giác), mũi ngửi (khứu giác)… là thói quen cần thiết của người học sinh giỏi Quan sát nhiều, kĩ, chẳng những giúp các em viết bài văn hay mà còn tạo điều kiện cho các em cảm nhận được vẻ đẹp của thơ văn một cách tinh tế và sâu sắc
Bên cạnh vốn hiểu biết về cuộc sống thực tế, các em cần phải kết hợp đọc sách nhiều, thường xuyên Hầu hết những em học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học đều chăm đọc sách, đọc đến say mê Mỗi cuốn sách có bao nhiêu điều bổ ích lí thú Nó giúp các em mở rộng tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ, cảm xúc, góp phần khơi dậy khả năng cảm thụ văn học Song muốn đọc sách tốt các em cần có sự hướng dẫn của thầy, cô giáo, người lớn để chọn những cuốn sách hợp lứa tuổi, có ích cho việc học tập Khi đọc giáo viên
Trang 4cần hướng dẫn học sinh phương pháp đọc làm sao để các em thấy cái hay, cái đẹp của tác phẩm (cả về nội dung và nghệ thuật)
3- Nắm vững kiến thức cơ bản về môn Tiếng Việt :
Để trau dồi năng lực cảm thụ văn học ở tiểu học các em cần nắm vững kiến thức đã học ở chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học:
- Có hiểu biết về ngữ âm và chữ viết Tiếng Việt (âm, thanh, chữ ghi âm, dấu thanh, tiếng, các bộ phận của tiếng)
- Nắm vững vốn kiến thức về từ ngữ đã học (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, tình thái từ hoặc từ đơn, từ ghép, từ láy…)
- Nắm vững kiến thức ngữ pháp Tiếng Việt (câu đơn, câu ghép, các thành tố phụ như định ngữ, bổ ngư,õ trạng ngữ, hô ngữ…)
Ngoài những kiến thức về ngữ âm và chữ viết, Từ ngữ, Ngữ pháp qua giờ Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn ở Tiểu học bước đầu các em làm quen với các khái niệm mới như: hình ảnh, chi tiết bố cục,… Khi tìm hiểu giờ Tập đọc trên lớp các em được giáo viên hướng dẫn một số biện pháp tu từ thuộc chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học như: so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ…
4- Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học:
Rèn luyện để nâng cao năng lực cảm thụ văn học là một trong những nhiệm vụ cần thiết đối với học sinh Tiểu học Có năng lực cảm thụ văn hoc tốt, các em có cảm nhận được nhiều nét đẹp của thơ văn, tâm hồn phong phú, sinh động khi nói viết Tiếng Việt Chính vì lẽ đó, để đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt phần Cảm thụ văn học ở Tiểu học (qua các kì thi học sinh giỏi cấp Tỉnh) ngoài những bài tập luyện từ và câu, tập làm văn, đềø thi còn có một bài cảm thụ văn học (3 điểm) phù hợp với trình độ học sinh Tiểu học (tương tự các câu hỏi giờ tập đọc có nâng cao) Để làm tốt một bài cảm thụ văn học đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh theo các bước sau:
Bước 1:
Đọc kĩ đề bài, nắm chắc yêu cầu bài tập (phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật được ý gì? )
Bước 2 :
Đọc kĩ đoạn thơ, đoạn văn hay đoạn trích được nêu trong bài (dựa vào yêu cầu cụ thể của bài tập để tìm hiểu như: cách dùng từ, đặt câu; cách dùng hình ảnh chi tiết; cách sử dụng biện nghệ thuật như: so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ…)
Bước 3:
-Viết một đoạn văn về cảm thụ văn học (khoảng 5 đến 7 dòng) hướng vào yêu cầu của đề bài Đoạn văn cần trình bày như sau:
-Viết câu mở đoạn để dẫn dắt người đọc hoặc trả lời thẳng vào câu hỏi chính
Trang 5-Tiếp đó, cần nêu rõ các ý theo yêu cầu của nội dung đề bài (nội dung đoạn)
-Kết đoạn là một câu văn ngắn gọn để gói nội dung cảm thụ
* Lưu ý:
Khi giáo viên hướng dẫn học sinh tiểu học viết đoạn văn cảm thụ văn học nên cần định hướng cho học sinh thể hiện một cách hồn nhiên, trong sáng và bộc lộ cảm xúc, cần tránh mắc các lỗi như: lỗi chính tả, dùng từ đặt câu, diễn giải dài dòng về nội dung đoạn thơ đoạn văn hoặc sa đà vào phân tích quá kĩ bằng giọng văn người lớn không phù hợp với lứa tuổi học sinh Tiểu học
II/ MỘT SỐ DẠNG CẢM THỤ VĂN HỌC Ở TIỂU HỌC VÀ MỘT SỐ VÍ
DỤ MINH HỌA – GỢI Ý, HƯỚNG GIẢI
* Dạng I:
Bài tập về tìm hiểu tác dụng của cách dùng từ đặt câu sinh động:
Ví dụ 1:
Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
(Nguyễn Du) Tìm từ láy trong hai câu thơ trên và nêu rõ tác dụng của từ láy đó
Gợi ý giải:
Từ láy lập lòe – phụ âm đầu được lặp lại Từ láy lập lòe có một tiếng láy mang vần âp gợi nét nghĩa một trạng thái không ổn định, lúc mờ lúc tỏ, lúc
mạnh lúc yếu, lúc cao lúc thấp … tương tự các từ láy: mập mờ, lập lờ, thập thò,
lấp ló… Từ láy lập lòe giúp ta thấy rõ hoa lựu đỏ như sắc lửa lúc ẩn lúc hiện,
báo hiệu không khí oi bức của mùa hạ đang tới gần
Ví dụ 2: (Đề thi học sinh giỏi vòng Tỉnh cấp Tiểu học của Sở Giáo dục tỉnh Cà Mau tháng 3 năm 2009)
Đọc đoạn thơ dưới đây có những từ nào là từ láy? Hãy nêu tác dụng gợi tả của từ láy đó
Quýt nhà ai chín đỏ cây,
Hỡi em đi học hây hây má tròn
Trường em mấy tổ trong thôn Ríu ra ríu rít chim non đầu mùa.
Tố Hữu
Gợi ý – giải:
- Từ láy trong đoạn thơ: hây hây, ríu ra ríu rít.
- Tác dụng gợi tả:
+ hây hây (má tròn): màu da đỏ phơn phớt trên má, tươi tắn và đầy sức sống
Trang 6+ ríu ra ríu rít: nhiều tiếng chim kêu hay tiếng cười nói trong và cao, vang lên
liên tiếp và vui vẻ
*Dạng II:
Bài tập phát hiện những hình ảnh chi tiết có giá trị gợi tả:
Là toàn bộï đường nét (là điểm nhỏ, ý nhỏ – chi tiết) màu sắc hoặc đặc điểm của người, cảnh vật bên ngoài được ghi lại trong tác phẩm
Ví dụ 1:
Lời ru có gió mùa thu Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
Mẹ- Trần Quốc Minh Theo em hình ảnh nào góp phần nhiều nhất làm nên cái hay của bài thơ?
Vì sao?
Gợi ý – giải:
Hình ảnh ngọn gió trong câu Mẹ là ngọn gió của con suốt đời góp phần
nhiều nhất làm nên cái hay của đoạn thơ trên Hình ảnh đó cho ta thấy người mẹ giống như ngọn gió thổi làm cho con mát, ru cho con ngủ và đưa con vào giấc mơ Ngọn gió ấy thổi cho con mát cả cuộc đời như người mẹ luôn tần tảo làm việc cực nhọc để nuôi con khôn lớn, mong con khôn lớn và hạnh phúc Sự
so sánh đẹp đẽ và sâu sắc đó cho ta thấy thấm thía hơn về tình mẹ con làm cho đoạn thơ hay hơn, ý vị hơn
* Dạng 3: Bài tập về tìm hiểu và vận dụng một số biện pháp tu từ gần gũi
với học sinh Tiểu học.
-So sánh:
Là đối chiếu hai sự vật, hiện tượng cùng có chung dấu hiệu nào đó với nhau Nhằm cho việc diễn đạt sinh động gợi cảm (các dạng bài này chỉ nhằm củng cố những hiểu biết về biện pháp tu từ, không thiên về mục đích luyện tập kĩ năng viết văn)
Ví dụ:
Đầøu trời ngất đỉnh Hà Giang Cà Mau mũi đất mỡ màng phù sa.
Trường Sơn: chí lớn ông cha Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào.
Lê Anh Xuân
Trang 7Hãy nhận xét đoạn thơ trên tác giả so sánh điều gì? Cách so sánh như vậy giúp em hiểu điều gì mới mẻ? Có thể thay thế dấu hai chấm (:) bằng từ ngữ nào để có sự so sánh?
Gợi ý giải:
+ So sánh (núi) “Trường Sơn” với “chí lớn ông cha”; (sông) “Cửu Long”
với “lòng mẹ bao la sóng trào”
+ So sánh như vậy giúp ta cảm nhận được: sự to lớn, hùng vĩ đáng tự hào chí khí hào hùng của ông cha như dãy Trường Sơn: vẻ đẹp chứa chan tình yêu thương của lòng mẹ như dòng sông Cửu Long
+ Có thể thay thế dấu hai chấm (:) bằng một các từ ngữ sau: như, giống, tựa, tựa hồ, tựa như, giống như, như là…
-Nhân hóa:
Là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những đặc điểm mang tính cách con người, làm cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn
Ví dụ 1: (đề thi học sinh giỏi vòng Tỉnh cấp Tiểu học Sở Giáo dục Cà
Mau tháng 3 năm 2009)
Trong bài: Ngày em vào Đội – Xuân Quỳnh viết:
“Chị đã qua tuổi Đoàn
Em hôm nay vào Đội Màu khăn đỏ dắt em Bước qua thời thơ dại”
Tác giả muốn nói gì khi viết:
“Màu khăn đỏ dắt em
Bước qua thời thơ dại”
Gợi ý – giải:
Tác giả đã sử dụng phép nhân hoá khi viết:
“Màu khăn đỏ dắt em
Bước qua thời thơ dại”.
Là đội viên Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí minh, chúng ta mang trên vai chiếc khăn quàng đỏ Màu đỏ của khăn là niềm tin, là lí tưởng, là lời tuyên thệ của mỗi đội viên khi vinh dự được đứng vào hàng ngũ của đội “Vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, vì lí tưởng của Bác Hồ vĩ đại, sẵn sàng!”
Nhà thơ – Người chị còn muốn nói với em một điều lớn hơn thế nữa Đó chính là, màu đỏ của ước mơ, của lí tưởng ấy là ngọn lửa không bao giờ tắt, nó được thắp lên từ trái tim của nhiều thế hệ nối tiếp nhau
Ví dụ 2:
Trong đoạn văn dưới đây, sự vật nào đã được nhân hóa? Những từ nào giúp em nhận ra điều đó? Biện pháp nhân hóa đã góp phần nhấn mạnh điều gì?
Trang 8…Mưa phùn xuân xôn xao, phơi phới Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi
mà như nhảy nhót Hạt nó tiếp hạt kia đậu xuống cây ổi còng mọc lả xuống mặt
ao Mùa đông xám xỉn và khô héo đã qua Mặt đất đã kiệt sức bừng thức dậy, âu yếm đón lấy những giọt mưa ấm áp, trong lành Đất trở lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây cỏ Mưa mùa xuân đã mang lại cho chúng cái sức sống
ứ đầy, tràn trên các nhánh lá, mầm non Và, cây trả nghĩa cho mưa bằng cả mùa hoa thơm quả ngọt…
Nguyễn Thị Như Trang
Gợi ý – giải:
Sự vật được nhân hóa: Mặt đất.
+ Từ ngữ giúp ta nhận ra điều đó: Kiệt sức, bừng thức dậy, âu yếm đón,
cần mẫn, trả nghĩa.
+ Biện pháp nhân hóa đã góp phần nhấn mạnh giá trị to lớn và đẹp đẽ của những cơn mưa mùa xuân đầy sức sống
- Điệp ngữ:
Là sự nhắc đi nhắc lại một từ ngữ nhằm nhấn mạnh một ý nào đó, làm
cho nó nổi bất và hấp dẫn người đọc.
Ví dụ:
Tìm điệp ngữ trong câu thơ sau và cho biết những điệp ngữ đó nhấn mạnh tình cảm gì của tác giả?
Bốn ngàn năm dựng cơ đồ Ngàn năm từ thuở ấu thơ loài người.
Ơi Việt Nam! Việt Nam ơi!
Việt Nam ta gọi tên người thiết tha.
Lê Anh Xuân
Gợi ý – giải:
Từ Việt Nam – tên gọi của đất nước được nhắc lại ba lần (điệp ngữ) nhằm nhấn mạnh tình cảm thiết tha gắn bó và yêu thương đất nước
- Đảo ngữ:
Là sự thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường của câu nhằm nhấn mạnh và làm nổi bật ý cần diễn đạt
Ví dụ:
Đọc đoạn thơ sau:
Chất trong vị ngọt mùi hương
Lặng thầm thay những con đường ong bay
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Men trời đất đủ làm thay đất trời.
Nguyễn Đức mậu
Trang 9Haõy cho bieât:
a/ Caùch dieên ñát (traôt töï thaønh phaăn trong cađu) cụa doøng thô thöù hai vaø doøng thô thöù tö coù gì khaùc nhau?
b/ Doøng thô coù söû dúng bieôn phaùp ñạo ngöõ ñaõ goùp phaăn nhaân mánh yù nghóa
gì ñép ñeõ?
Gôïi yù – giại:
a/ Khaùc nhau: Doøng thô thöù hai (Laịng thaăm theo nhöõng con ñöôøng ong bay) dieên ñát theo ñạo vò ngöõ leđn tröôùc; doøng thô thöù tö (men trôøi ñaât ñụ laøm say ñaât
trôøi) dieên ñát theo traôt töï bình thöôøng cụa caùc boô phaôn chính trong cađu (CN –
VN)
b/ Doøng thô coù söû dúng bieôn phaùp ñạo ngöõ goùp phaăn nhaân mánh yù nghóa ñép ñeõ; söï lao ñoông laịng thaăm cụa baăy ong thaôt ñaùng khađm phúc
* Dáng 4: Baøi taôp cạm thú vaín hóc qua moôt ñoán vaín ngaĩn:
Laø ñoán vaín töø 5 ñeẫn 7 doøng nhaỉm höôùng vaøo yeđu caău cụa ñeă baøi Keât caâu bao goăm :
+ Cađu môû ñoán
+ Cađu thađn ñoán
+ Cađu keât ñoán
Ví dú:
Em haõy ñóc ñoán thô döôùi ñađy roăi dieên ñát baỉng vaín xuođi:
Hát gáo laøng ta Coù baõo thaùng bạy Coù möa thaùng ba Giót moă hođi sa
Nhöõng tröa thaùng saùu Nöôùc nhö ai naâu Cheât cạ caù côø
Cua ngoi leđn bôø Mé em xuoâng caây.
Traăn Ñaíng Khoa
Gôïi yù giại:
Hát gáo nuođi soâng chuùng ta haỉng ngaøy, laø söï keât tinh cođng söùc ngöôøi lao ñoông Ñeơ coù ñöôïc hát gáo, ngöôøi nođng dađn phại vöôït qua bieât bao khoù khaín thöû thaùch cụa thieđn nhieđn, thôøi tieât khaĩc nghieôt.ngöôøi lao ñoông khođng quạn
khoù khaín vaât vạ “baõo thaùng bạy”, “möa thaùng ba”, “naĩng thaùng saùu”.Hó vaên
gieo hát gioâng cho muøa sau
Phaăn thöù ba
Trang 10KẾT QUẢ VÀ TÁC DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
Sau thời gian tôi áp dụng và trải nghiệm, đổi mới các biện pháp đã nêu trên, chất lượng môn Tiếng Việt (phần Cảm thụ văn học) của lớp 5C do tôi giảng dạy đã có nhiều chuyển biến rõ rệt Đặc biệt là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp Tỉnh môn Tiếng Việt cho khối lớp 5 được nhà trường phân công đã có nhiều chuyển biến rõ rệt ( đặc biệt trường đã có 01 học sinh giỏi môn Tiếng Việt / 02 em của toàn huyện Ngọc Hiển năm 2008), năm 2009 tuy chỉ 01có học sinh đạt giải Khuyến khích học sinh giỏi cấp Tỉnh (do thi 2 môn) nhưng nhìn chung các bài tập dạng Cảm thụ văn học các em đều làm tốt (điều mà từ trước tới nay học sinh trường Tiểu học 2 Tân Ân chưa đạt được) Riêng lớp 5C do tôi phụ trách những học sinh trước đây còn mơ hồ khi nói đến cảm thụ văn học, nhưng khi áp dụng biện pháp này vào giảng dạy các em đã nắm vững một cách có hệ thống Phần lớn học sinh có hào hứng khi nói đến lĩnh vực này Điều đáng mừng là các em ham đọc sách để tìm hiểu vẻ đẹp của văn học Nhiều học sinh trước đây lười học Tiếng Việt nay đã thành học sinh khá giỏi
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ giúp tôi dạy môn Tiếng Việt (phần Cảm thụ văn học) đạt hiệu quả góp phần làm đẹp thêm vốn ngôn ngữ phong phú của kho tàng văn học Từ đó, trau dồi vốn kiến thức Tiếng Việt cho các
em làm cho các em thêm yêu, thêm say mê văn học góp phần vào việc hiện thực hóa sự nghiệp giáo dục của huyện nhà Tuy nhiên sáng kiến không thể tránh được một số sai sót, mong sự đóng góp của Hội đồng Khoa học các cấp và bạn bè, đồng nghiệp
Người viết
Phan Văn Sơn