1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích và đầu tư chứng khoán

116 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn theo Edward và Magee thì:“Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những thay đổi v

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã vận hành được gần 7 năm, nhưng việcđầu tư của các nhà đầu tư cũng như các công ty chứng khoán còn mang nặng cảmtính Việc áp dụng các mô hình phân tích, các phương pháp phân tích còn nhiều hạnchế Điều này tạo ra sự ì trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Vìvậy việc nâng cao hoạt động phân tích là hết sức cần thiết, đặc biệt là tại các tổ chứcchuyên nghiệp như Công ty chứng khoán Hoạt động phân tích kỹ thuật ở thị trườngchứng khoán ở Việt Nam còn khá mới mẻ Hơn nữa thị trường Việt Nam mới cónhững bước đầu phát triển, tâm lý bầy đàn vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới cácquyết định đầu tư và vì vậy ở thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn khá nhiềuđiểm hạn chế Chính điều này làm cho việc áp dụng các biện pháp phân tích chưađược hiệu quả

Tuy nhiên cùng với quá trình phát triển kinh tế, thị trường chứng khoán ViệtNam cũng ngày càng trở nên hoàn thiện hơn Lượng vốn đổ vào thị trường ngàycàng nhiều, các quỹ nước ngoài cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới thị trường ViệtNam Những thay đổi về luật pháp cũng như hình thức hoạt động cũng giúp cho thịtrường ngày càng hoàn thiện Sắp tới trung tâm giao dịch thành phố Hồ Chí Minhcũng chuyển sang hình thức khớp lệnh liên tục Điều này cũng giúp cho việc phântích kỹ thuật được chính xác hơn

Cũng vì những lý do trên nên việc nghiên cứu và sử dụng phân tích kỹ thuậtngày được các quỹ, các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư ngày càng quan tâmhơn

Với sự hoàn thiện của thị trường, phân tích kỹ thuật ngày càng chính xác hơn.Điều này sẽ giúp sức rất nhiều trong việc ra quyết định trong đầu tư chứng khoán Xuất phát từ những lý do trên em quyết định nghiên cứu đề tài

Trang 2

“ÁP DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG PHÂN TÍCH VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN”.

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng cho đề tài là: Phương pháp phân tích

và tổ hợp, phương pháp logic, phương pháp lý thuyết hệ thống.Phân tích kinh tếtrên cơ sở tư duy lý luận và điều tra thực tiễn ở Việt Nam có được dự báo cho tươnglai gần Trừu tượng hoá khoa học và tư duy khách quan trong quá trình nghiên cứu

4 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tàinghiên cứu gồm 3 chương:

CHƯƠNG I: Lý thuyết cơ bản về phân tích kỹ thuật

CHƯƠNG II: Công cụ sử dụng trong phân tích kỹ thuật đối với cổ phiếuCHƯƠNG III: Ứng dụng phân tích kỹ thuật để phân tích cổ phiếu của cáccông ty niêm yếu trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG PHÂN TÍCH VÀ

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.1.Khái niệm và các giả định

1.1.1 Khái niệm

Phân tích kỹ thuật được nghiên cứu và sử dụng bởi rất nhiều nhà kinh tế, mỗingười đều đưa ra cho mình những khái niệm khác nhau:

Nick và Barbara Apostolous định nghĩa Phân tích kỹ thuật là “quá trình dự

báo biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá” Tuy nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tương đương với phân tích cơ bản - là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay hàng hóa bằng cách phân tích các điều kiện kinh tế tài chính cơ bản mỗi công ty, mỗi ngành,…"

Norman Fosback, trong cuốn “Stock Market Logic”:“Nếu như bản chất của phân tích cơ bản là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổ phiếu khi giá trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì Phân tích kỹ thuật lại dựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn toàn Thứ nhất, những ước lượng mang tính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao động giá trong tương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ, phân tích mối quan hệ cung - cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường “

Trong cuốn phân tích kỹ thuật đối với thị trường tài chính, John J Murphy

định nghĩa rằng: Phân tích kỹ thuật nghiên cứu các biến động thị trường, thông qua việc sử dụng các biểu đồ, với mục đích dự báo xu hướng giá trong tương lai

Thuật ngữ biến động thị trường ở đây bao gồm ba nguồn thông tin cơ bản đối với phân tích kỹ thuật – giá, khối lượng và trạng thái mở của thị trường.

Trang 4

Ở đây Murphy quá tập trung vào dự báo Việc dự báo này ám chỉ việc đoánmột mức giá cụ thể tại một thời điểm cụ thể trong tương lai Hầu hết các nhà phântích và người giao dịch đề gặp khó khăn trong việc dự báo tương lai.

Trong cuốn sách giải thích phân tích kỹ thuật, Martin Pring đã định nghĩa phântích kỹ thuật như sau:

Phân tích kỹ thuật xác định được sự thay đổi của xu hướng ngay khi nó bắt đầu và duy trì đầu tư cho đến khi có các dấu hiệu cho thấy xu hướng đã đổi chiều.

Định nghĩa này đứng trên phương diện là một nhà đầu tư, không mang bảnchất học thuật của phân tích kỹ thuật

Tác phẩm các nhân tố cho thành công của hoạt động giao dịch, Robert Rotella– có vẻ giống một người giao dịch hơn là một nhà phân tích – đã đưa ra một địnhnghĩa sâu sắc:

Phân tích kỹ thuật nghiên cứu các hành vi thị trường trong quá khứ để xác định thực trạng và điều kiện của thị trường trong hiện tại

Còn theo Edward và Magee thì:“Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự

ghi nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những thay đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng khoán bất kì hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”

Như vậy Phân tích kỹ thuật được áp dụng như là một khâu trong quá trình đưa

ra quyết định đầu tư hoạt giao dịch trên thị trường tài chính Với yếu tố chú trọngtính thời điểm, phân tích kỹ thuật được dùng chủ yếu để trợ giúp người đầu tư hoặcngười giao dịch nếu họ muốn:

 Xác định thời điểm bắt đầu của một xu hướng giá trên thị trường

 Tiến hành giao dịch tùy theo xu hướng giá đó

Trang 5

 Xác định thời điểm kết thúc của một xu hướng giá trên thị trường

 Thoát khỏi thị trường hoặc tiến hành đổi chiều giao dịch

1.1.2 Các giả định cơ bản của phân tích kỹ thuật

 Giá thị trường không tính đến bất cứ yếu tố nào

Thành viên chịu tác động của thông tin mà học có, kể cả những thông tin đóđược công bố hay là không Họ cũng sẽ hành động tùy theo những thay đổi trong kỳvọng họ đặt vào sự phát triển của thị trường trong tương lai Cuối cùng , tiềm lực tàichính, nhu cầu, nỗi lo sợ, niềm hy vọng cũng ảnh hưởng đến các quyết định muabán của thành viên tham gia thị trường Do vậy, các nhà phân tích kỹ thuật giả địnhrằng giá đã chịu tác động bởi tất cả các nhân tố có ảnh hưởng đến giá, nghĩa là tất cảcác yếu tố ảnh hưởng đến giá kể trên đều được phản ánh trọn vẹn vào mức giá hiệntại, trong pham vi tầm quan trọng của các yếu tố này đối với các thành viên thamgia thị trường cũng như khả năng của họ trong việc phản ứng lại các yếu tố ảnhhưởng đến giá trên thị trường

Trên cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trong cung,cầu Các nhà Phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do gì thì cầuphải vượt cung và thị trường tăng giá Chúng ta cũng đều biết và đồng ý rằng độnglực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúng làm hình thànhlên Bull Market hay Bear Market, còn đồ thị thì không tự nó làm cho thị trườngdịch chuyển lên hay xuống Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hình thị trường mà thôi

 Giá không biến động một cách ngẫu nhiên mà chúng biến động theo xuhướng

Nhiều nhà lý thuyết thuần túy lý luận rằng giá là ngẫu nhiên do đó người takhông thể kiếm lời từ hoạt động nghiên cứu sự vận động của giá Lý luận này dựatrên cơ sở một lý thuyết cho rằng thị trường là “hiệu quả” khi thông tin được tácđộng đến giá ngay lập tức Tuy nhiên, trong khi nhiều thị trường là khá hiệu quả,

Trang 6

đặc biệt là trong ngắn hạn, thì cũng có nhiều thị trường nơi mà giá không phản ứngtức khắc đối với thông tin Theo thời gian thì các thành viên tham gia thị trường đã

có nhiều cách thức nhìn nhận khác Bên cạnh đó, vẫn có nhiều thành viên thị trườngchưa có phản ứng thật sự hợp lý, đi ngược lại các giả định trong mô hình thị trườnghiệu quả

Thị trường càng “hiệu quả” thì dường như nó càng có những biến động theotừng bước rõ ràng chứ không biến động theo một xu hướng thẳng Nhiều xu hướngthị trường định hình với từng bước biến động và ở một phương diện nào đó đây lànhững xu hướng dễ dàng nhất để tham gia giao dịch Tuy nhiên, thường thì giá sẽdần tự điều chỉnh Có một lý do là nếu một thành viên thị trường có một số thôngtin hay phân tích về một thực tế nào đó không sẵn có trên thị trường, thì người này

sẽ cố gắng mua với giá tốt nhất và không trả hơn mức giá mà người này có thể kiếmlời Chỉ ở những thị trường rất hiệu quả, nơi mà nhiều người theo dõi các thông tinphát ra trên thị trường thì giá mới tự điều chỉnh nhanh Sự tự điều chỉnh nhanh còn

có thể là nhờ việc thông báo thông tin cho tất cả mọi người – như là thông tin vềmột vụ thâu tóm Giá cũng sẽ tự điểu chỉnh dần dần nếu càng nhiều người nắmđược tin và một điều cũng rất quan trọng là mọi người thường có một mức chấpnhận hay kỳ thị rủi ro khác nhau

Những ai đã từng có kinh nghiệm thực tế trên thị trường đều biết rằng tất cảcác thị trường biến động theo xu hướng ít nhất tại một vài thời điểm Giá biến độngtheo xu hướng rất hữu dụng đối với phương pháp phân tích kỹ thuật Xác định sớmmột xu hướng là rất quan trọng nhằm tối đa hóa lợi nhuận thông qua giao dịch theo

xu hướng đã được xác định Ngoài ra, việc xác định sớm sự đổi chiều của một xuhướng là tối quan trọng nhằm thoát khỏi giao dịch với lợi nhuận tối đa hoặc trướckhi có thể bị lỗ

 Lịch sử lặp lại

Một thành viên thị trường đều chịu tác động bởi nỗi lo sợ, lòng tham, hy vọng

Trang 7

và lòng tự tôn Khi đối mặt với những tình huống tương tự nhau tất cả chúng rathường có xu hướng phản ứng theo những cách giống nhau Mặc dù theo thời gianmột vài phản ứng có thể khiến chúng ta rút kinh nghiệm và có được các cách hành

xử khác Thật ngạc nhiên là các thành viên thị trường mới không quan tâm đến phảnứng của thị trường trong quá khứ Các khiếm khuyết tượng tự nhau này vẫn bị từngthế hệ thành viên thị trường liên tục phạm phải Bị tác động bởi các yếu tố tâm lý kểtrên thì ngay cả các thành viên thị trường kinh nghiệm vẫn có thể lặp lại khiếmkhuyết đó

Có một yếu tố khác là mọi thị trường đều thật sự là một tập hợp một đám đôngcùng theo dõi giá, cùng tác động qua lại lẫn nhau và đưa ra quyết định Đàn ông vàđàn bà là động vật cao cấp mang tính xã hội do vậy đều chịu tác động lớn dưới áplực tâm lý tương tự nhau Chúng ta ai cũng đều thấy khó khăn khi quyết định đingược lại ý kiến của số đông Nghiên cứu chỉ ra rằng số đông thường khiến cácthành viên thị trường phản ứng nặng về cảm tính và thiếu thận trọng thay vì đáng ra

họ phải suy nghĩ độc lập khi đưa ra quyết định Điều này đúng với cả những ngườiđược gọi là nhà đầu tư chuyên nghiệp lẫn những nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ

Những khái niệm cơ bản này là sơ sở cho khả năng của các nhà phân tích kỹthuật trong việc theo dõi điều gì đang xảy ra trên đồ thị giá, trong việc giải thích cácnhà giao dịch đã phản ứng lại tình hình của thị trường như thế nào, và xây dựng nênmột dự đoán về xu hướng có thể xẩy ra của thị trường

1.2 So sánh phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản

Thông thường hoạt động phân tích thị trường thường được tiến hành thông qua

2 phương pháp – phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật Cả 2 phương pháp này làhai cách tiếp cận khác nhau đối với quá trình đưa ra quyết định giao dịch hoặc đầu

tư trên thị trường tài chính Quá trình này chính là việc cân nhắc để lựa chọn thịtrường nào và công cụ tài chính nào để tiến hành giao dịch hoặc đầu tư cũng như làviệc đưa ra quyết định về thời điểm tiến hành giao dịch hoặc đầu tư nhằm đạt đượcnhững lợi nhuận lớn nhất

Trang 8

Giá trị nội tại được ước tính bằng cách xem xét các nhân tố ảnh hưởng đếncung và cầu của bất cứ yếu tố nào là cơ sở của công cụ tài chính Đó có thể là mộtcông ty, một hàng hóa, một đơn vị tiền tệ, một lãi suất hoặc một chỉ số của thịtrường Do đó hoạt động phân tích cơ bản nghiên cứu các nguồn gốc của giá hoặccác thay đổi về giá của các công cụ tài chính Hoạt động phân tích cơ bản chỉ chochúng ta thấy chiều hướng thay đổi của giá.

Có một vấn đề đối với hoạt động phân tích cơ bản là hoạt động này được tiếnhành với giả định các thông tin có được là hoàn hảo và được xử lý đúng Nhữngquan sát thực tiễn trên thị trường cho thấy là các giả định như thế không phải khinào cũng đúng, đặc biệt là trong ngắn hạn Tuy nhiên nói chung thì trong dài hạnchiều hướng thay đổi của giá được quy định bởi giá trị nội tại

Trong khi cung và cầu tương tác với nhau thì theo lý thuyết có hai hướng riêng

rẽ liên quan đến các công cụ tài chính được giao dịch Một thị trường cho các tàisản vật chất vốn là cơ sở của một công cụ tài chính và là một thị trường cho bản

Trang 9

thân công cụ tài chính đó Mặc dù giá trên thị trường tài sản vật chất tác động đếngiá của các công cụ tài chính thì vẫn có những khác biệt đáng chú ý – đặc biệt làtrên thị trường cổ phiếu nơi mà quyền kiểm soát các công ty (trong dài hạn) khôngphải là một thị trường sôi động nếu so với hoạt động giao dịch ( trong ngắn hạn) các

cổ phần trong công ty

Phân tích cơ bản có xu hướng nhìn nhận giá của một công cụ tài chính có liênquan trực tiếp tới giá trị nội tại của tài sản là cơ sở quyết định giá trị của công cụ tàichính đó Mặt khác, phân tích kỹ thuật cho rằng có những yếu tố khác ảnh hưởngđến cung cầu của một công cụ tài chính và làm thay đổi cơ bản mối quan hệ phụthuộc lẫn nhau giữa giá của công cụ tài chính và giá trị thực của tài sản là yếu tố cơbản quyết định giá trị của công cụ tài chính đó Do đó, nhà phân tích kỹ thuậtnghiên cứu trực tiếp những thay đổi trong mức cung và cầu của một công cụ tàichính được giao dịch chứ không nghiên cứu gián tiếp thông qua các yếu tố có ảnhhưởng đến cung và cầu của tài sản là cơ sở quyết định giá của công cụ tài chính đó

1.2.3.Sự bổ sung lẫn nhau giữa phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản

Không có sự xung đột tự nhiên nào giữa hai phương pháp phân tích cơ bản vàphân tích kỹ thuật Sở dĩ có một số ý kiến phản đối phương pháp phân tích kỹ thuật

là do những ý kiến này dựa trên giả định sai là hoạt động phân tích kỹ thuật chỉ là

cố gắng đoán giá trong tương lai dựa trên những biến động giá trong quá khứ Đâychính là một hiểu lầm thường gặp khi người ta đánh giá phương pháp phân tích kỹthuật Thật ra mục đích trong việc khảo sát biến động giá là nhằm xác định nhữngthay đổi trong mối cân bằng giữa cung và cầu Hầu hết các đánh giá có liên quan ởđây cơ bản dựa trên cách hiểu về việc làm thế nào các thành viên tham gia thịtrường phản ứng lại tùy theo vị thế của họ trên thị trường Thật ra phân tích kỹ thuậtchỉ sự mở rộng của một phương pháp đã từng được sử dụng trong kinh tế học cổđiển Trên thực tế, một số nhà kinh tế học ngay từ bây giờ đã bắt đầu xem xét hoạtđộng của phân tích kỹ thuật như là một phương pháp theo dõi thị trường trong đó sửdụng phương pháp phân tích hành vi ứng xử của thị trường hơn là phân tích các con

số thông kê đơn thuần

Trang 10

Nhược điểm cơ bản của phân tích cơ bản là thật khó để tính được giá trị nội tạimột cách chính xác Nguyên nhân giải thích nhược điểm này rất phức tạp Hơn nữaphân tích cơ bản còn có một điểm sai là nó đã bỏ qua vai trò của tâm lý trên thịtrường đối với bản thân công cụ tài chính nó đang phân tích, như thế nhược điểmcủa phân tích cơ bản chính là tính thời điểm, đặc biệt là trong ngắn hạn.

Trong khi đó, phương pháp phân tích kỹ thuật lại tập trung tất cả vào tính thờiđiểm – nó tìm mọi cách xác định xem khi nào thì mối cân bằng giữa cung và cầu thayđổi Phương pháp phân tích cơ bản sẽ chỉ cho chúng ta thấy điều gì sẽ ảnh hưởng đếngiá Phương pháp phân tích kỹ thuật lại chỉ cho chúng ta thấy khi nào thì giá bắt đầuthay đổi và khi nào thì sự thay đổi về giá này kết thúc Người đầu tư thận trọng nhậnthấy cả hai phương pháp này có thể bổ sung cho nhau trong quá trình đưa ra quyếtđịnh cũng như kết hợp thành một phương pháp phân tích thống nhất

 Khung thời gian cũng là một nhân tố cần tính đến khi quyết đinh chọnphương pháp phân tích nào Trong khi đồng ý rằng về dài hạn, thị trường được quyđịnh bởi các yếu tố cơ bản thì nhiều nhà phân tích kỹ thuật vẫn cho là trong ngắnhạn, yếu tố tâm lý của các thành viên tham gia thị trường đóng vai trò quan trọnghơn Để đáp ứng được các nhu cầu của thành viên tham gia thị trường trong việc đưa

ra quyết định mua hoặc bán trong ngắn hạn trên thị trường, đặc biệt là trên thị trườngchứng khoán phái sinh có tính bấp bênh cao, thì đối với kiểu giao dịch như vậyphương pháp phân tích kỹ thuật có lẽ thích hợp hơn phương pháp phân tích cơ bản

1.3 Lý thuyết Dow

Lý thuyết Dow được đặt tên theo của Charles Dow, chủ bút đầu tiên của tờthời báo phố Wall và là người sáng tạo ra chỉ số trung bình của thị trường, ngày nayđược biết tới cái tên chỉ số trung bình Dow Jones Lý thuyết Dow mà chúng ta vẫnnghiên cứu ngày nay chính là lý thuyết Dow đã được William Hamilton, người đãthay Dow làm chủ tờ Thời báo phố Wall, phát triển và cuối cùng Robert Rhea đãtổng hợp lại thành một lý thuyết hoàn chỉnh

Trang 11

1.3.1 Những nguyên tắc cơ bản của lý thuyết Dow

a) Trung bình thị trường không phụ thuộc vào bất kỳ yếu tố nào:

Sự giao động giá đóng cửa hàng ngày của chỉ số giá trung bình ngành côngnghiệp và đường sắt Dow Jones chính là chỉ số tổng hợp của tất cả các yếu tố hyvọng, thất vọng và kiến thức của bất kỳ ai biết bất cứ điều gì về các vấn đề tài chính

và vì thế mà ảnh hưởng của những sự kiện sắp đến (không tính đến thiên tai bất khảkháng) luôn luôn được dự báo trước một cách chính xác trong quá trình biến độngcủa chúng Các chỉ số trung bình của thị trường sẽ nhanh chóng đo lường nhữngthảm họa thiên tai như hỏa hoạn và động đất

Chúng ta vẫn luôn bắt gặp quan điểm quan trọng này với tư cách là một giảđịnh cơ bản của tất cả các phương pháp phân tích kỹ thuật Rõ ràng là quan điểmnày tỏ ra đúng không chỉ đối với các chỉ số trung bình của thị trường mà còn đúngvới hoạt động phân tích các cổ phiếu riêng rẽ cũng như bất cứ thị trường tài chínhnào khác

b)Thị trường có ba luồng vận động

Có ba luồng vận động của mức giá trung bình của thị trường, tất cả có thể diễn

ra ngay lập tức và cùng một thời điểm

 Luồng vận động thứ nhất và cũng là quan trọng nhất, là xu hướng chính của thịtrường: xu hướng vận động lên hoặc xuống với biện độ rộng được gọi là thị trường giálên và thị trường giá xuống, và xu hướng này có thể tồn tại trong một vài năm

 Luồng vận động thứ hai, luồng vận động dễ gây hiểu lầm nhất, chính làluồng phản ánh điều chỉnh phụ của thị trường: một đợt giảm giá đáng kể trong mộtthị trường mà xu hướng là lên giá hoặc ngược lại trong một thị trường xuống giá.Thường thì những phản ứng như vậy kéo dài từ ba tuần đến nhiều tháng

 Luồng vận động thứ ba và thường là không quan trọng chính là sự biến độngcủa giá theo ngày

Trang 12

Thị trường giá lên

Thị trường “bò” là thị trường có xu hướng chủ yếu là đi lên có biên độ rộng, bịgián đoạn bời một xu hướng phụ có hướng ngược lại và trung bình thường kéo dàilâu hơn hai tháng Trong suốt quá trình này, giá cổ phiếu đi lên bởi vì nhu cầu muacủa cả người đầu tư lẫn người đầu cơ khi điều kiện kinh doanh phát triển và hoạtđộng đầu cơ trở nên sôi động

Thị trường “gấu” là thị trường có xu hướng chủ yếu là đi xuống có biên độrộng, bị gián đoạn bởi xu hướng phụ đáng kể có xu hướng ngược lại Nguyên nhân

là do những điều kiện kinh doanh khó khăn và xu hướng này kéo dài cho đến khigiá cổ phiếu xuống đến mức thấp nhất

Luồng vận động phụ

Thị trường giá xuống

Trang 13

Luồng vận động phụ

Thị trường giá lên Thị trường giá xuống

Một sự phản ứng phụ của thị trường được hiểu là một sự đi xuống đáng kể củagiá thị trường trên thị trường bò và ngược lại đi lên đáng kể trên thị trường gấu

 Luồng vận động phụ thường xuyên tồn tại từ ba tuần đến nhiều tháng ba

 Trong suốt quá trình diễn ra xu hướng phụ nó khiếp giá lệch từ 33% đến66% so với giá trong xu hướng chính tính đến thời điểm kết thúc lần điều chỉnh giácuối cùng

Những phản ứng điều chỉnh giá của thị trường hay những xu hướng phụ nàythường khiến người ta hiểu lầm là xu hướng chính đã thay đổi, bởi vì rõ ràng là giaiđoạn thứ nhất của thị trường lên giá luôn luôn trùng với một biến động vốn chỉ diễn

ra như một xu hướng phụ trên thị trường xuống giá và xu hướng xuống giá này lạixuất hiện khi thị trường bò đã lên đến đỉnh của nó

Luồng vận động hàng ngày

Theo lý thuyết, dao động giá từng ngày không đóng vai trò quan trọng trongviệc xác định xu hướng của toàn bộ thị trường và cả Dow cho rằng đây là chỉ số cóthể dẫn đến những nhận định sai lầm về thị trường và ông bỏ qua luồng vận độngnày Cần phải nhớ rằng ông chỉ quan tâm đến luồng vận động chính và luồng vận

Trang 14

động phụ của thị trường Nhiều phương pháp phân tích kỹ thuật hiện đại có xuhướng quan tâm đến hoạt động giao dịch trong ngắn hạn và do đó tìm cách phântích các dao động giá theo ngày.

c)Luồng vận động chính có ba giai đoạn phát triển

Trên lý thuyết thì luồng vận động chính có ba giai đoạn phát triển Ba giaiđoạn phát triển này chính là các phản ứng của thị trường mà chúng ta đang tìm hiểuthông qua việc nghiên cứu các đồ thị biểu diễn mức giá trung bình của thị trường.Nhưng không thể xác định chính xác được vì thời điểm khởi đầu và kết thúc củamỗi giai đoạn phát triển luôn giao thoa với nhau Theo lý thuyết ba giai đoạn pháttriển của luồng vận động chủ yếu có thể được biểu diễn dưới dạng đồ thị sau:

Ba giai đoạn phát triểu của xu hướng thị trường “bò”:

 Giai đoạn đầu tiên cho thấy việc người đầu tư lấu lạiniềm tin vào tương lai của thị trường

 Giai đoạn thứ hai là phản ứng của giá khi có thông tin

về việc làm ăn có lăi của các công ty

 Giai đoạn thứ ba là giai đoạn khi hoạt động đầu cơvượt ra khỏi vòng kiểm soát và lạm phát xảy ra – giai đoạn giá cổ phiếu tăng vì cósức kỳ vọng của người đầu tư

Lấy lại tự tin

Trang 15

Ba giai đoạn phát triển của xu hướng thị trường “gấu”:

 Giai đoạn đầu tiên cho thấy việc người đầu tư không có kỳ vọng vào thịtrường do các cổ phiếu được mua với giá bị thổi phồng

 Giai đoạn thứ hai phản ánh hoạt động bán do sự sụt giảm lợi nhuận trongkinh doanh của các công ty

 Giai đoạn thứ ba diễn ra là do người ta không thể bán được các chứng khoán.Dow tìm cách miêu tả hành vi thị trường được phản ánh qua các đồ thị biểudiễn mức giá trung bình của thị trường Ông không coi đồ thị như là một công cụkhông liên quan đến những rì đang diễn ra trên thị trường Các ông quan tâm tới các

đồ thị trên quan điểm chúng chỉ ra việc mức giá trung bình của thị trường đã phảnánh hành vi của các thành viên thị trường như thế nào trong các giai đoạn khác nhaucủa chu kỳ kinh doanh và sử dụng đồ thị để xác định vị trí của họ trong một chu kỳkinh doanh Ngày nay phân tích kỹ thuật không chỉ được xem xét cùng với chu kỳkinh doanh mà còn được xem xét cùng với hoạt động giao dịch trong ngắn hạn Tuynhiên công dụng hiệu quả nhất của phân tích kỹ thuật là khi phân tích kỹ thuật được

sử dụng để nhận diện hành vi của các thành viên thị trường, từ đó người ta có thể đề

ra chiến lược giao dịch

Để xác định giai đoạn đang diễn ra của thị trường, một vài dấu hiệu nhận biết

 Chỉ số giá trên thu nhập trung bình của thị trường

 Mức cổ tức trung bình của thị trường

 Phản ứng của thị trường đối với các tin tức

 Mức độ huy động vốn mới và mức độ phát hành lần đầu ra công chúng

 Xu hướng hiển hiện của thị trường

 Mức độ tham gia của công chúng vào thị trường

 Mức độ quan tâm của các phương tiện truyền thông chính đối với thị

Trang 16

 Số lượng nhân viên môi giới, các hoạt động củng cố hoặc phá sản và mốiquan tâm đối với các khách hàng riêng

 Mức độ hoạt động, tuyển dụng nhân lực, thua lỗ trong kinh doanh

1.3.2 Các hạn chế của lý thuyết Dow

a) Các tín hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra đều chậm so với diễn biến của thị trường.

Những người chỉ trích lý thuyết Dow vì lý thuyết này đưa ra các tín hiệu chậmkhi chỉ ra một thực tế là lý thuyết Dow không phản ánh kịp các đỉnh và đáy thịtrường Những chỉ trích như vậy là không có cơ sở, bởi vì họ đã sai khi cho rằng lýthuyết Dow được xây dựng nhằm xác định đỉnh và đáy của các biến động giá, màđối với thị trường đó là các dấu hiệu dự báo mang tính dẫn đường Lý thuyết Dowkhông bao giờ có ý định trở thành một công cụ cho hoạt động phân tích đầu cơ,ngoài việc chỉ ra xu hướng vận động của thị trường, lý thuyết Dow còn đảm bảotính thận trọng trong mỗi giao dịch cổ phiếu đơn lẻ ở mỗi xu hướng của thị trường

b) Lý thuyết Dow không giúp gì được cho những nhà đầu tư theo các biến động trung gian

Họ là những người đầu tư trong ngắn hạn Lý thuyết Dow hầu như không đưa

ra (nếu có thì chỉ rất ít) những dấu hiệu về sự thay đổi trong các xu thế trung gian.Tuy nhiên nếu có thể có được những dấu hiệu này thì rõ ràng lợi nhuận sẽ cao hơnnhiều so với chỉ đầu tư theo những biến động của xu thế cấp 1 Một số nhà Kinhdoanh chứng khoán đã dựa trên Lý thuyết Dow để đưa ra những nguyên lý phụ ápdụng cho các biến động trung gian Nhưng nhìn chung chưa có một nguyên lý nàoloại này họat động thực sự có hiệu quả Lý thuyết Dow chỉ là một công cụ - mộtchiếc máy để khi ta đưa dữ liệu vào thì nó đưa ra những kết quả về xu thế cấp 1 - xuthế chính của thị trường Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi hầu hết các cổ

Trang 17

phiếu trên thị trường đều vận động theo xu thế đó Lý thuyết Dow không thể chỉ ra,không thể giúp bạn xác định nên mua hay bán loại cổ phiếu nào.

1.4.Các loại biểu đồ

Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rấtnhiều các loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùngmột cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng thenchắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

1.4.1.Biểu đồ dạng đường (Line chart).

Hiện nay nó chủ yếu được sử dụng trên các Thị trường chứng khoán mới đivào hoạt động trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳtheo từng phiên hoặc nhiều lần trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thểđạt được như Thị trường chứng khoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục Ưuđiểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng, lý do chính là vì nó được sử dụng trên tất

cả các Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới từ trước tới nay

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng đường (line chart):

Đồ thị 1.1: Biến động VNIndex (tính đến ngày 18/01/2007)

(Nguồn: bsc.com.vn)

Trang 18

1.4.2.Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng then chắn (Bar chart):

Đồ thị 1.2: Biến động của cổ phiếu General Electric

Trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các chuyênviên phân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính

vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giá chứng khoán.Các kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:

Giá mở cửa.

Giữa các phiên giao dịch trên thị trường, các thành viên thị trường có thời gian

để xem xét điều gì xảy ra trong phiên giao dịch trước đó và phân loại bất kỳ tin tứcnào được phát ra sau khi đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng Công chúng sẽ chỉnhận biết thông tin về giá đóng cửa và họ chỉ có những ứng xử mua bán dựa trênmức giá đóng cửa và bất kỳ tin trức nào họ có được bằng cách đặt lệnh trước khi

mở cửa thị trường Do đó, giá mở cửa có xu hướng phản ánh quan điểm của côngchúng với những gì xảy ra trên thị trường theo cảm tính Các nhà chuyên nghiệpkhông giao dịch tại thời điểm mở cửa nhưng họ cũng có những động thái phản ứngvới mức giá mở cửa của thị trường Giá mở cửa thường ở mức cận trên hoặc cậndưới trong ngày

Giá đóng cửa

Giá đóng cửa là giá được theo dõi nhiều nhất và là giá quan trọng nhất trong

Trang 19

ngày giao dịch Giá này có chiều hướng là giá duy nhất được công chúng quan tâmtheo dõi Đây cũng là giá mà theo đó các nhà chuyên nghiệp kiếm thêm lợi nhuậnhơn là duy trì chúng qua đêm Giá đóng cửa cũng được dùng để đánh giá số dư củacác tài khoản kinh doanh chứng khoán nhằm tính toán lợi nhuận và có chiều hướng

là động lực cho các hệ thống giao dịch Vì vậy giá đóng cửa cho ta thấy mức giá tại

đó mà trận chiến thường nhật giữa người mua và người bán đã được giải quyết

Mức giá cận trên

Giá cận trên phản ánh sức mua tối đa của những người mua trong ngày Ít nhất

nó biểu thị mức giá ngắn hạn tại đó mức cung cao hơn mức cầu và người bán nhiềuhơn người mua Trường hợp ngoại lệ duy nhất ở đây là khi thị trường đóng cửa tạimức giá cận trên – trong trường hợp này, người mua vẫn trong tình trạng chi phốithị trường khi thị trường đóng cửa

Mức giá cận dưới

Giá cận dưới phản ánh mức bán tối đa của người bán trong ngày Ít nhất nóphản ánh ức giá ngắn hạn mà tại đó cầu vượt cung và người mua nhiều hơn ngườibán Trường hợp ngoại lệ duy nhất ở đây là khi thị trường đóng cửa mức giá cậndưới – trong trường hợp này người bán vẫn trong tình trạng chi phối thị trường khithị trường đóng cửa

1.4.3 Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

Ví dụ về dạng biểu đồ dạng ống (Candlestick chart):

Đồ thị 1.3: Biến đông giá của YAHOO, 18/1/2007

Trang 20

(nguồn: http://www.stockcharts.com)Các kí tự mà loại biểu đồ này sử dụng là:

Phần rộng nhất của một “cây nến” gọi là “thân” của nến Phần này mô tả thểhiện khoảng cách giữa giá mở cửa và giá đóng cửa của phiên Nếu giá đóng cửa caohơn giá mở cửa, phần thân có màu xanh, ngược lại sẽ có màu đỏ Phần đường thẳng

“mỏng” phía trên và phía dưới gọi là “bóng” – thể hiện các mức giá cực điểm củaphiên: cao nhất và thấp nhất Rõ ràng những mức giá này có thể nhưng không nhấtthiết phải là giá đóng cửa hay giá mở cừa của phiên Người ta đặt tên nó là biểu đồnến bởi phần thân với phần đường thẳng giá cực điểm cho ta hình ảnh cây nến vàphần bấc để đốt cháy của nó

Với dạng biểu đồ này, giá đóng cửa trùng với giá mở cửa, do đó mà ta sẽ hầu

Trang 21

như không thấy thân nến mà chỉ thấy bấc nến ở đây cũng sẽ có trường hợp giá mởcửa bằng giá đóng cửa và bằng giá thấp nhất hoặc cao nhất trong ngày.

1.5 Xu thế, Đường xu thế, Kênh

Xu thế gồm có cả xu thế giá tăng và xu thế giá giảm Xu thế giá tăng gồm liêntiếp những đỉnh giá cao dần và đáy giá cao dần (đỉnh trước cao hơn đỉnh sau và đáytrước cao hơn đáy sau) Một xu thế giá tăng sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khixuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó Ngược lại xu thế giá giảm cũng sẽđược coi là vẫn đang tiếp diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnhtrước nó

1.5.1 Đường xu thế

Xu thế giá tăng và xu thế giá giảm cũng được nghiên cứu dưới dạng các đường

xu thế Với xu thế giá tăng ta có đường xu thế giá tăng, đây là đường nối các điểmđáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường nối các đỉnh thấp dần Đường xuthế có thể kéo dài thậm chí nhiều năm Qui trình vẽ một đường xu thế khá đơn giảnnhưng cũng rất dễ nhầm Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sựxuất hiện một xu thế giá Khi muốn vẽ một xu thế giá tăng ta phải có ít nhất hai điểmđáy mà đáy sau cao hơn đáy trước Tất nhiên điều kiện cần và đủ để có thể vẽ đượcmột đường thẳng là phải có hai điểm, tuy nhiên người ta thường đợi cho đến khi xuấthiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế đi qua cả 3 đáy (một cáchtương đối) Điều này có nghĩa là đường xu thế có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ

đi sát, nhìn chung như thế là đạt yêu cầu Nhưng một đường xu thế đi qua cả đáy baogiờ cũng được coi là một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao

Khi một đường xu thế đã được xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất

Trang 22

hữu ích bởi tính chính xác ấy đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định củagiá Với xu thế giá tăng, sau mỗi đợt tăng biến động điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giáxuống sát hoặc đến đúng đường xu thế những sẽ không xuống thấp hơn nếu xu thếthị trường vẫn đang ổn định Đường xu thế lúc này là biên thấp nhất của dao độnggiá Tương tự, với thị trường đang có xu thế giá giảm thì đường xu thế sẽ là biêncao nhất cho mọi dao động giá Như thế, các đường xu thế chính xác của thị trường

sẽ là các biên dao động cơ sở để xác định mức giá mua và bán tối đa và tối thiểuhợp lý

Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm hoặc xuống dướiđường xu thế giá tăng thì đây là dấu hiệu, có thể nói là sớm nhất, cho sự thay đổitrong xu thế thị trường

1.5.2.Kênh

Kênh là khoảng giao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải

đó gọi là kênh Dải dao động đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu thế

và đường kênh (channel line), hai đường này song song với nhau Vấn đề là làm sao

có thể xác định được hai đường này

Sau khi đã xác định được đường xu thế như trên, giả sử với xu thế giá tăng, ta

vẽ đường kênh là một đường song song với đường xu thế và đi qua đỉnh giá rõ nhấtđầu tiên Nếu ở lần tăng giá tiếp theo giá tăng đến gần hoặc chạm vào đường kênhrồi lại giảm xuống đến gần đường xu thế thì khả năng có thể tồn tại một kênh daođộng của giá Với xu thế giá giảm việc vẽ và xác định kênh là hoàn toàn tương tự,tất nhiên là theo hướng ngược lại

Trang 23

Mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại xuống đếnđường xu thế là một lần kênh được kiểm tra thành công Kênh tồn tại càng lâu vớicàng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ tin cậy của nó càng lớn Kênh

có thể sử dụng cho kiếm lời trong ngắn hạn và thậm chí một số nhà đầu tư táo bạocòn sử dụng đường kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng với xu thế thịtrường nhằm tìm kiếm những khoản lợi lớn hơn cho dù giao dịch ngược hướng thịtrường có thể là một chiến thuật nguy hiểm và phải trả giá đắt

Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu thế thì có thể gây ra

sự đảo chiều của xu thế thị trường, nhưng nếu đường kênh bị chuyển động của giáphá vỡ (khi giá vượt ra ngoài đường kênh) thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây

là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại, thậm chí một số nhà đầu tưtin tưởng rằng việc giá chuyển động làm mất đi đường kênh sẽ xác nhận cho một xuthế ổn định trong thời gian dài và là cơ hội cho những nhà đầu tư thực hiện nhữnghợp đồng dài hạn

Ngược lại, khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quásớm thì đây lại là dấu hiệu dự báo sớm sự suy giảm của xu thế hiện tại và là dấuhiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu thế

Trang 24

Nói chung việc chuyển động của giá không thể đạt đến sát một trong haiđường biên của kênh có thể là một dấu hiệu sớm cho thấy xu thế giá có thể thay đổi

và khả năng chuyển động của giá có khả năng sẽ phá vỡ đường biên còn lại củakênh Với xu thế giá tăng, có thể có hai trường hợp (trong các hình vẽ ở hai trườnghợp này ta giả định ban đầu kênh đang có xu thế hướng lên- xu thế tăng giá, hoàntoàn tương tự nếu muốn xem xét đối với xu thế giá giảm)

Nếu chuyển động của giá vượt qua đường kênh một khoảng lớn thì đây là dấuhiệu cho thấy xu thế lên giá đang mạnh lên, thường ta sẽ phải vẽ một đường xu thếmới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với đường kênh mới Thực tế chothấy đường xu thế mới này hoạt động tốt hơn đường cũ

Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu thếthì điều này chỉ ra rằng xu thế thị trường đổi ch iều thành xu thế giá giảm Hai đỉnhmới xuất hiện (đỉnh 5 và 7) sẽ là cơ sở để vẽ đường xu thế giá giảm, tương tự ta sẽ

vẽ đường kênh song song đường xu thế và đi qua đáy 4 Chú ý là ở đây có sự đổivai trò đường xu thế ban đầu trở thành đường kênh và ngược lại

Trang 25

Ngoài ra kênh và các đường kênh còn mang một ý nghĩa khác: Khi giá chuyểnđộng phá vỡ xu thế hiện tại - xuất hiện ‘breakout’ từ kênh hiện tại, giá thường sẽchuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh đó

Như thế, để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đốichính xác bằng cách đo độ rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng từđiểm giá vượt ra ngoài kênh (Tuy nhiên cần luôn luôn lưu ý rằng trong hai đườngbiên của kênh thì đường xu thế luôn có vai trò quan trọng và đáng tin cậy hơn,đường kênh chỉ là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ đường xu thế)

1.6 Mức hoàn lại - Khung giao dịch - Hỗ trợ và Kháng cự

1.6.1 Mức hoàn lại

Trong bất kì một đồ thị nào ta đều thấy sau một giai đoạn giá chuyển độngtheo xu thế của thị trường thì giá sẽ hoàn lại một chút trước khi quay trở lại chuyểnđộng theo xu thế cũ Những chuyển động ngược xu thế này thường có độ lớn ở vàonhững khoản có thể dự đoán được và được gọi là mức hoàn lại Mức hoàn lại trungbình thường gặp nhất là 50% Bên cạnh đó còn có các mức hoàn lại thường thấykhác đó là các mức 1/3 và 2/3 Nói cách khác, nếu chia một xu thế giá thành baphần thì nói mức hoàn lại thấp nhất là 33% và cao nhất là 66% có nghĩa là ở giaiđoạn điều chỉnh của xu thế đó giá sẽ hoàn lại ít nhất 1/3 mức tăng (hay giảm) mà nóđạt được trong xu thế trước đó và mức hoàn lại đó không vượt quá 2/3 mức tăng(hay giảm) trước đó đạt được Nếu mức hoàn lại cao hơn thì khả năng sẽ xảy ra sự

Trang 26

đảo chiều thị trường tức là giá sẽ chuyển động theo xu thế đảo ngược xu thế trước

mà không quay lại chuyển động theo xu thế đó

1.6.2 Khung Giao Dịch

Thị trường có thể ở một trong 3 xu thế là xu thế tăng, xu thế giảm và xu thếdao động ngang Nhiều người cho rằng thị trường chỉ có thể tăng hoặc giảm, nhưngthực tế có đến 1/3 thời gian giá chuyển động theo một hình mẫu dạng ‘phẳng’ nằmngang gọi là khung giao dịch Khung giao dịch là một dải nằm ngang trên đồ thịtrong đó bao gồm các dao động của giá trong một giai đoạn dài Nói chung hầu hếtcác biến động của thị trường sẽ diễn ra bên trong khung giao dịch Tuy nhiên khi thịtrường có biến động dạng khung giao dịch thì lại rất khó kiếm được lợi nhuận.Khung giao dịch phản ánh thời kỳ mà áp lực cung cầu là tương đối cân bằng và giáduy trì ở mức cân bằng thị trường Đôi khi người ta còn gọi thời kỳ mà giá biếnđộng theo khung giao dịch là thời kỳ không có xu thế thị trường Hầu hết các công

cụ kinh tế đều được tạo ra để có thể áp dụng vào các thị trường có xu thế tăng hoặcgiảm rõ rệt còn khi thị trường ở dạng không có xu thế rõ rệt thì các công cụ nàynhìn chung hoạt động kém hiệu quả, thậm chí là không thể áp dụng Đây cũng chính

là thời kỳ gây khó chịu nhất cho những người đi theo phân tích kỹ thuật và gây ranhiều lỗ nhất Trong những tình huống ấy nhà đầu tư luôn phải đối mặt với mộttrong ba quyết định là mua, bán hay đứng ngoài không tham gia vào thị trường vàthông thường thì quyết định không tham gia vào thị trường luôn là quyết định sángsuốt nhất

Thực tế cũng có một số phương pháp có thể áp dụng để kiếm lời khi thị trườngxuất hiện dạng khung giao dịch, chẳng hạn như sử dụng các chỉ số dao động thịtrường (Oscillators) mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau Nhìn chung rất khó có thể dựđoán sự xuất hiện trong tương lai của mô hình khung giao dịch Mô hình này cũng

có thể kéo dài trong nhiều tháng, một năm hay nhiều năm Cũng giống như kênh,khung giao dịch cũng có các đường biên bên trên và bên dưới, đây chính là cácđường kháng cự và hỗ trợ của khung Những “sự phá vỡ” (break out) ra ngoài

Trang 27

khung có thể là các dấu hiệu quan trọng để tiến hành các giao dịch Tuy nhiên cũngcần lưu ý bởi giá cũng thường dao động vượt ra ngoài khung nhưng chỉ với mộtlượng nhỏ, sau đó quay trở lại bên trong khung Đôi khi nguyên nhân của hiệntượng này là do những lệnh dừng mà nhà đầu tư đã đặt và những lệnh này tác độngđến những vùng giá nằm ngoài khung Khi những lệnh này kết thúc thì giá sẽ trở lạidao động bên trong khung giao dịch nếu không có những lý do liên quan đến nhữngyếu tố tài chính cơ bản hay có sự xuất hiện khối lượng giao dịch lớn duy trì sự vượt

ra ấy Nhìn chung nhà đầu tư không nên đi theo ngay những “breakout” mới xuấthiện mà nên chờ thêm một dao động tiếp theo xác nhận “breakout” này cho dù điềunày có thể làm chậm lại một chút nhưng sẽ tránh được rất nhiều dấu hiệu sai vàtránh được những khoản lỗ

1.6.3 Hỗ trợ và kháng cự

Việc nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng cự là một trong những vấn đề kháquan trọng đối với Phân tích kỹ thuật Nó cho phép người nghiên cứu có thêmnhững cơ sở mới trong việc chọn các loại cổ phiếu để mua hay bán, trong dự đoáncác biến động tiềm năng, trong việc chỉ ra những thời điểm mà thị trường có thể gây

ra rắc rối cho nhà đầu tư Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm đã xâydựng cho họ một “hệ thống đầu tư” riêng dựa hầu hết vào những nguyên lý về mứckháng cự và hỗ trợ Việc nghiên cứu về mức kháng cự và hỗ trợ một cách đầy đủcần rất nhiều thời gian và cần thêm nhiều yếu tố khác, người viết chỉ xin đưa ra một

số khía cạnh cơ bản nhất với mục đích đưa ra cơ sở lý thuyết cơ bản nhất về kháiniệm quan trọng này của Phân tích kỹ thuật

Trang 28

Mức kháng cự và hỗ trợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phântích các hình mẫu kỹ thuật Những kiến thức cơ bản về mức kháng cự và hỗ trợ sẽgiúp người nghiên cứu dễ dàng hiểu bản chất và các ứng dụng của các hình mẫu đó.Mức hỗ trợ thường được dùng khá thông dụng Trên thị trường phố Wall, bạn

có thể nghe thấy việc một nhóm nhà đầu tư luôn sẵn sàng hỗ trợ thị trường bằngcách mua tất cả các chứng khoán chào bán nếu giá giảm 5 điểm Vậy mức hỗ trợ làgì? Ta có thể định nghĩa mức hỗ trợ là việc mua thực tế hay khả năng mua với khốilượng đủ để làm ngưng lại xu thế giảm của giá trong một thời kỳ đáng kể (tương đốidài) Mức kháng cự lại ngược lại với mức hỗ trợ: đó là việc bán, trong thực tế haytiềm năng, một khối lượng đủ để thoả mãn tất cả các mức chào mua, do đó, làm giángừng không tăng nữa trong một khoảng thời gian nhất định Như thế mức kháng

cự và hỗ trợ là gần giống theo thứ tự với khối lượng cầu và khối lượng cung Mức

hỗ trợ là mức giá ở đó mức cầu cho một cổ phiếu là đủ để, ít nhất là, làm dừng xuthế giảm giá của thị trường và cũng có thể đổi chiều xu thế đó, tức là làm xu thế giá

đi xuống quay ngược đi lên Từ đó ta có định nghĩa về mức kháng cự, đó là mức giá

mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng nữa và có thể chuyển độngngược lại đi xuống Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhấtđịnh Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoảng kháng cự thểhiện sự tập trung của cung Như vậy với một hình mẫu giá nhất định, chẳng hạn taxét với hình mẫu dạng hình chữ nhật (mô hình này phản ánh giai đoạn thị trườnggồm rất nhiều những dao động nhỏ của giá theo hướng ngang đồ thị chứ khônghướng lên hay hướng xuống rõ rệt, hai đường nối các đỉnh và các đáy của thị trườngtrong giai đoạn này gần như song song, không cần thiết phải song song 100% nhưng

độ lệch phải rất nhỏ, hay có thể nói là một dạng của khung giao dịch), đường nốicác đỉnh có thể coi là mức kháng cự, còn đường nối các đáy được coi là mức hỗ trợ.Nhìn chung trong giai đoạn hai mức này còn phát huy hiệu lực thì giá sẽ khôngvượt quá mức kháng cự và không xuống dưới mức hỗ trợ Nhưng với tư cách mộtnhà đầu tư ta sẽ quan tâm hơn đến việc xác định tại sao và yếu tố nào làm xuất hiện

Trang 29

các mức kháng cự và hỗ trợ ở một mức giá nhất định Các chuyên gia còn tập trungnghiên cứu thời điểm giá lên đạt đến mức kháng cự và khi nào giá xuống đến mức

hỗ trợ

Cơ sở của những dự đoán này cũng là những dữ liệu cơ bản hình thành nên lýthuyết về hỗ trợ và kháng cự, đó là khi giá trị giao dịch có xu hướng bị tập trung tạimột số mức giá có khối lượng các cổ phiếu được giao dịch lớn Điều đáng chú ý làtại bất kì mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường đều trở thànhđiểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có

xu hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và hoàn toàn mang tính tự nhiên Có một thực

tế quan trọng mà nhiều khi một số người quan sát và phân tích biểu đồ một cáchngẫu nhiên không nhận ra đó là: những mức giá đó đang dần dần chuyển vai trò từ

hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại từ kháng cự thành hỗ trợ Nếu như biến độngcủa giá vượt qua một đỉnh giá đã được hình thành trước đó thì đỉnh này sẽ đóng vaitrò là khoảng đáy của xu thế giảm giá (điều chỉnh) sẽ xuất hiện sau xu thế tăng hiệntại và một đáy sau khi đã bị giá vượt xuống dưới sẽ trở thành khoảng đỉnh của xuthế tăng sẽ xuất hiện ngay sau đó

1.7.Các hình mẫu trong phân tích kỹ thuật

1.7.1 Các hình mẫu kỹ thuật đảo chiều xu hướng thị trường

e) Double bottom (Mô hình hai đáy)

Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng

Trang 30

một đồ thị Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá tăng vượt qua điểm bắt đầu hìnhthành đáy thứ hai (tức là vượt qua đường Neckline sau khi đã chạm đến đáy thứhai) Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng giá,

nó mang tính đảo chiều Có điều là mô hình này tương đối dễ nhận ra nên cũng rất

dễ nhầm do đó nhà đầu tư nên cẩn thận khi quyết định tham gia trong thời kỳ này.Thực tế thống kê cho thấy nếu nhà đầu tư nóng vội tham gia ngay từ đầu thì xácxuất thất bại là 64% còn nếu họ cố gắng đợi đến khi xuất hiện "breakout" (đảochiều) thật sự thì xác xuất thất bại chỉ còn 3%

Để có thể nhận diện chính xác mô hình, nhà đầu tư nên chú ý đến một số vấn đề:đáy thứ hai không nên xuống vượt quá đáy thứ nhất; khoảng thời gian giữa hai đáycũng là một dấu hiệu quan trọng-thời gian càng dài thì độ chính xác càng cao-ít nhấtphải là một tháng và có thể kéo dài nhiều tháng

Trong mô hình hai đáy khi hình thành đáy thứ nhất khối lượng giao dịchtăng, khi hình thành đáy thứ hai thì khối lượng giảm đi và khối lượng giao dịch

tăng lên khi

b) Double top (Mô hình hai đỉnh)

Mô hình hai đỉnh hình thành khi đường biểu diễn sự biến động của giá chứngkhoán hình thành hai đỉnh trên biểu đồ Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá chứngkhoán rơi xuống dưới mức sàn đáy (điểm dưới cùng của đáy) của toàn mô hình

Mô hình hai dỉnh là mô hình thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng giá chứngkhoán – nó đánh dấu quá trình chuẩn bị cho xu hướng đi xuống của xu hướng tăng

Trang 31

giá trong hiện tại (nó báo hiệu cho một thị trường giảm giá) Vì đây là mô hình rấthay thường gặp và rất dễ nhận ra nên khi nhận định về thị trường chúng ta nên xemxét một cách cẩn thận Bolkowski ước tính mức thất bại của mô hình này là 65%nếu nhà đầu tư đợi đến mức đột biến giá (Breakout) mới tiến hành giao dịch thì mứcrủi ro giảm xuống còn 17%.

Trong mô hình hai đỉnh khi hình thành đỉnh thứ nhất khối lượng giao dịchtăng, khi hình thành đỉnh thứ hai thì khối lượng giảm đi và khối lượng giao dịchtăng lên khi thị trường đi qua mức giá nằm giữa hai đỉnh đó

c) Falling wedge (Mô hình cái nêm hướng xuống):

Mô hình Falling wedge là một hình mẫu kỹ thuật dạng bullish (chỉ báo thịtrường tăng giá), mô hình bắt đầu thì biên khoảng cách giữa hai đường xu thế rộngsau đó độ rộng giảm dần khi giá chứng khoán giảm Sự biến động của giá hìnhthành một hình chóp nón hướng xuống dưới do các đỉnh và đáy dần hội tụ Hìnhmẫu kỹ thuật Falling wedge trượt hướng xuống phía dưới và có dấu hiệu bullish(chỉ báo thị trường tăng giá), tuy nhiên dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá)này sẽ không thể được nhận ra cho đến khi có "breakout" (đảo chiều xu thế) khỏiđường kháng cự Khi mô hình mang tính tiếp tục xu thế của thị trường, thì Fallingwedge vẫn sẽ hướng xuống dưới và xu hướng này ngược với xu thế của thị trườnghiện tại Khi nó mang đảo ngược với xu thế của thị trường, thì Falling wedge hướngtrượt xuống dưới cùng với xu thế của thị trường Nhưng cho dù Falling wedge thuộcloại nào thì nó vẫn là hình mẫu kỹ thuật báo hiệu sự tăng giá!

Trang 32

d) Head and shoulders top (hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai)

Đỉnh đầu vai là một hình mẫu kỹ thuật hết sức phổ biến đối với những nhà đầu

tư vì nó là một hình mẫu kỹ thuật đáng tin cậy nhất trong tất cả những hình mẫu kỹthuật được trình bày trong đề tài nghiên cứu này, đồng thời nó cũng thường đượcnhận ra một cách dễ dàng Những nhà phân tích kỹ thuật ít kinh nghiệm thường mắclỗi đối với hình mẫu kỹ thuật này vì họ nhận thấy nó xuất hiện khá phổ biến trên biểu

đồ Những nhà phân tích kỹ thuật chuyên nghiệp thường nhận biết hình mẫu kỹ thuậtnày thông qua những biến cố thực sự Đỉnh đầu vai là loại hình mẫu kỹ thuật đảongược xu thế của thị trường Nó là dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự đảo chiều của xuthế biến động giá chứng khoán từ xu thế tăng giá chuyển thành xu thế giảm giá.Hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai thực ra là sự mô phỏng theo hình dáng đầu vàhai vai của con người, hình mẫu gồm ba đỉnh cao nhọn được tạo bởi ba điểm khôiphục - tăng giá trở lại sau khi giá giảm trong sự biến động của giá chứng khoán.Đỉnh đầu tiên – vai trái – xuấn hiện khi giá chứng khoán tăng đạt tới đỉnh của nó vàsau đó giảm xuống Đỉnh thứ hai – cái đầu- xảy ra khi giá chứng khoán tăng lên đếnmột đỉnh cao mới cao hơn đỉnh của vai trái rồi sau đó lại giảm xuống Đỉnh thứ ba –vai phải – xuất hiện khi giá chứng khoán tăng một lần nữa nhưng không cao bằngđỉnh thứ hai, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được đỉnh của nó Đỉnh của hai “vai”chắc chắn sẽ thấp hơn đỉnh của “đầu” Trong mô hình phân tích cổ điển thì hai đỉnhcủa hai vai phải cân bằng với nhau nhưng điều quan trọng nhất quyết định của môhình này đó chính là đường nối hai đáy của hai vai gọi là đường “vòng cổ” –

Trang 33

neckline – mô hình sẽ bị phá vỡ khi đường vòng cổ bị xuyên chéo bởi giá chứngkhoán và giá chứng khoán tiếp tục giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline –các chuyên viên Phân tích kỹ thuật cho rằng mô hình không được khẳng định làđúng cho tới khi giá chứng khoán giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline.

Những dấu hiệu về khối lượng giao dịch

 Khối lượng giao dịch ngày càng lớn trong suốt quá trình hình thành đỉnhđầu tiên

 Khối lượng giao dịch thu hẹp vào thời điểm thị trường điều chỉnh giáxuống mức thấp hơn sau đỉnh đầu tiên

 Khối lượng giao dịch mở rộng trong quá trình hình thành đỉnh cao nhất,nhưng thường không lớn bằng khối lượng giao dịch khi thị trường tiếnđến “vai trái” trước đó

 Khối lượng giao dịch thu hẹp khi thị trường lại điều chỉnh xuống mức giáthấp hơn sau khi đã lên đến đỉnh “đầu”

 Khối lượng giao dịch trong quá trình hình thành đỉnh thấp hơn tiếp theo

đó giảm nhẹ và ít hơn khối lượng giao dịch tại đỉnh “đầu”

e) Triple bottom (hình mẫu kỹ thuật ba đáy)

Mô hình ba đáy được hình thành bởi ba đáy phụ riêng biệt với mức xấp xỉ

Trang 34

bằng nhau Mô hình ba đáy được xem như là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầuvai ngược, mô hình ba đáy là hình mẫu dạng đảo ngược xu thế biến động của thịtrường Thứ duy nhất để phân biệt giữa mô hình ba đáy và mô hình đỉnh đầu vaingược đó chính là đỉnh - “đầu” – nằm giữa hai “vai” Mô hình ba đáy biểu diễn xuthế giảm xút trong quá trình nó trở thành một xu thế tăng giá như vậy nó chỉ cònhợp lệ khi nó vẫn trong quá trình giảm xút so với hai đỉnh ở giữa hay là nó chưa đixuyên chéo qua đường vòng cổ – neckline – vượt qua mức kháng cự của mô hình.Bởi vì hình mẫu kỹ thuật này rất dễ nhầm lẫn với nhiều hình mẫu kỹ thuật khác chonên các chuyên viên phân tích khuyên rằng để ứng dụng mô hình này một cách cóhiệu quả cao nhất trong quá trình đầu tư, chúng ta nên chờ đợi một dấu hiệu

"breakout" một cách rõ ràng thông qua sự xuyên chéo của đường biểu diễn giáchứng khoán với đường kháng cự của mô hình – neckline – trước khi nhận định đây

có phải thực sự là hình mẫu kỹ thuật dạng “ba đáy” hay không

Dấu hiệu về khối lượng giao dịch

 Khối lượng giao dịch trong quá trình hình thành đáy thứ 2 tăng ít hơn khốilượng giao dịch tại đáy thứ nhất

 Khối lượng giao dịch trong quá trình hình thành đáy thứ ba tăng ít hơn khốilượng giao dịch của đáy thứ hai

 Khối lượng giao dịch tăng vào thời điểm thị trường đi qua mức cận dưới của

f) Triple top (hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh)

Trang 35

Mô hình ba đỉnh được xem là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai.Tương tự như mô hình “ba đáy” thứ duy nhất để phân biệt một cách rõ ràng giữa

mô hình này với mô hình đỉnh đầu vai đó chính là đỉnh “đầu” nằm giữa hai “vai”,trong mô hình “ba đỉnh” thì ba đỉnh xấp xỉ cao bằng nhau, nhưng trong mô hình

“đỉnh đầu vai” thì hoàn toàn khác, đỉnh đầu cao hơn hẳn so với hai vai hai bên Nhưhình minh hoạ ở bên dưới thì mô hình “ba đỉnh” được hình thành từ ba đỉnh sắcnhọn, cả ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau Một đỉnh trong bộ ba xuất hiện khi giáchứng khoán đang ở trong giai đoạn tăng giá, sự tăng giá lên tới mức kháng cự của

mô hình sau đó giá chứng khoán giảm xuống mức hỗ trợ của mô hình, sau đó xuấthiện sự tăng giá trở lại nhưng chỉ đạt đến mức kháng cự ngang bằng với mức kháng

cự của mô hình và lại giảm xuống, sự tăng giá trở lại mức kháng cự thứ ba trước khigiá chứng khoán bị giảm một cách nhanh chóng xuống dưới mức hỗ trợ của môhình Hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh là một hình mẫu dạng đảo chiều của thị trường nóđánh dấu một thời kỳ chuyển tiếp giữa một xu thế tăng giá và một xu thế giảm giá.Điều kiện đầu tiên của mô hình đó là phải được bắt đầu băng một xu thế tăng giá.Các chuyên viên phân tích khuyên rằng nhà đầu tư nên đợi sự xuất hiện của sựxuyên chéo giữa đường biểu diễn giá chứng khoán với đường hỗ trợ của mô hình –neckline – một cách rõ ràng nếu giá chứng khoán không giảm mạnh sau sự xuấthiện đỉnh thứ ba thì đó không phải là mô hình “ba đỉnh” Đôi khi trong thực tế môhình “ba đỉnh” không thực sự xảy ra một cách hoàn hảo ví dụ như ít khi ba đỉnh có

độ cao xấp xỉ bằng nhau, mà sự bằng nhau chỉ mang tính chất có sự sai lệch có thểchấp nhận được

Trang 36

Dấu hiệu về khối lượng giao dịch

 Khối lượng giao dịch trong quá trình hình thành đỉnh thứ 2 tăng ít hơn khốilượng giao dịch tại đỉnh thứ nhất

 Khối lượng giao dịch trong quá trình hình thành đỉnh thứ ba tăng ít hơn khốilượng giao dịch của đỉnh thứ hai

 Khối lượng giao dịch tăng vào thời điểm thị trường đi qua mức cận trên của

1.7.2 Các hình mẫu kỹ thuật củng cố xu hướng thị trường

a) Ascending triangle - Tam giác hướng lên

Mô hình tam giác hướng lên nhìn chung được coi là một dạng mô hình trunggian mang tính củng cố hay báo hiệu sự tiếp tục xu thế hiện tại của thị trường Tuynhiên đôi khi nó cũng mang tính đảo ngược Thường thì mô hình này cần ít hơn batháng để hoàn thiện và khi xuất hiện thường kèm theo sự gia tăng của khối lượnggiao dịch Với mô hình này ta có thể nhận thấy sự hội tụ của hai đường kháng cự và

hỗ trợ thể hiện bằng sự thu hẹp khoảng cách giữa các đỉnh và các đáy của thịtrường, kéo dài hai đường kháng cự và hỗ trợ chúng sẽ cắt nhau ở đỉnh tam giác ởphía phải đồ thị Đường kháng cự nằm ngang và đường hỗ trợ hướng lên cho thấycác mức giá cao có xu thế giữ nguyên còn các mức giá thấp nhất lại có xu thế tăngdần lên, điều này cũng có nghĩa là người mua có động cơ mạnh hơn người bán

“Breakout” (break-out có nghĩa là điểm xuất hiện sự đảo chiều của xu thế thị

Trang 37

trường) sẽ xuất hiện ở khoảng giữa điểm 2/3 và 3/4 chiều ngang của mô hình (tính

từ điểm bắt đầu mô hình đến điểm cắt nhau của hai đường kháng cự và hỗtrợ)."Breakout" phá vỡ đường kháng cự sẽ chứng tỏ mô hình mang tính củng cố cònnếu phá vỡ đường hỗ trợ sẽ chỉ ra rằng mô hình mang tính đảo chiều Có một cách

để ước lượng mức giá mục tiêu thấp nhất mà sự đột phá ra ngoài mô hình này có thểđạt tới là xác định mức giá của điểm giao nhau dự kiến của hai đường kháng cự và

hỗ trợ kéo dài Tiếp đó ta đo chiều cao của mô hình tam giác tức là khoảng cách (đotheo chiều thẳng đứng) giữa điểm cao nhất của đường kháng cự và điểm thấp nhấtcủa đường hỗ trợ, rồi cộng khoảng này vào mức giá của giao điểm vừa đo ở trênnếu là "breakout" hướng lên và sẽ lấy mức giá của giao điểm trừ đi khoảng này nếu

là "breakout" hướng xuống

b) Descending Triangles - tam giác hướng xuống

Mô hình tam giác thường xuất hiện trong thị trường xuống giá và cũng mangtính củng cố (hay duy trì) xu thế hiện tại Thời gian tồn tại của mô hình này làkhoảng 1 đến 3 tháng Hai đường kháng cự và hỗ trợ có xu hướng hội tụ, đườngkháng cự hướng xuống còn đường hỗ trợ nằm ngang

Về điểm xuất hiện "breakout", điểm giá mục tiêu sau "breakout" cũng như mốiquan hệ giữa điểm hội tụ hai đường kháng cự, hỗ trợ và độ dài của mô hình ta có

Trang 38

thể xem ở phần mô hình tam giác hướng lên.

Mô hình này phản ánh tâm lý người mua cho rằng cổ phiếu đang vượt quá giátrị thực của nó và mức giá hợp lý phải thấp hơn do đó mà đường kháng cự đi xuốngtrong khi đường hỗ trợ nằm ngang.Rõ ràng nếu xuất hiện "breakout" thì giá sẽ tiếptục giảm.Điểm khác biệt với mô hình tam giác hướng lên là ở chỗ khối lượng giaodịch sẽ ít dần đi và càng ít khi tiến gần đến điểm hội tụ

c) Symmetrical triangle - hình mẫu kỹ thuật tam giác cân

Nói chung một hình mẫu tam giác được xem xét như là một hình mẫu dạngtiếp tục xu thế của thị trường hoặc là một hình mẫu củng cố của xu thế Tuy nhiên,đôi khi nó đánh dấu một sự đảo ngược của khuynh hướng Nói chung hình mẫu kỹthuật “tam giác cân” được xem xét như là những mẫu trung gian chuyển tiếp của xuthế biến động giá chứng khoán Thông thường nó cần khoảng một tháng để hìnhthành, ít khi nó cần đến ba tháng để hình thành Sự hội tụ của hai đường kháng cự

và hỗ trợ đã mang lại cho chúng ta hình dáng của hình mẫu kỹ thuật “tam giác cân”.Trên thị trường chứng khoán dạng hình mẫu kỹ thuật này khá dễ dàng để nhận biết

nó, ngoài ra hình mẫu kỹ thuật này cũng được các chuyên viên Phân tích dùng nhưmột công cụ đáng tin cậy để giao dịch, nhưng các chuyên viên cũng cảnh báo rằngtín hiệu đáng tin cậy để giao dịch đó là sự xuyên chéo một trong hai đường trendlinebởi đường biểu diễn sự biến động giá chứng khoán một cách rõ ràng

Trang 39

Với các loại mô hình tam giác này, chúng đều có đặc điểm chung về dấu hiệukhối lượng giao dịch Khối lượng giao dịch thường giảm đi trong quá trình hìnhthành các tam giác và tăng lên khi thị trường thoát khỏi hình tam giác Với tam giáccân, dấu hiệu cho thấy hướng đi chắc chắn của thị trường khi thoát khỏi hình tamgiác là khối lượng giao dịch có xu hướng tăng ở các dao động lên hoặc xuống nằmtrong biên độ của tam giác cân này Khi thoát khỏi hình tam giác, thị trường chắcchắn sẽ đi theo hướng dao động nào có khối lượng giao dịch lớn nhất Những daođộng về cuối của mô hình quan trọng hơn những dao động trước đó.

d) Rectangle - hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật

Hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật – Rectangle – là một dạng mô hình tiếp tục

xu thế của thị trường, nó trông giống như trong một kênh giao dịch cho đến cuối

của xu thế biến động giá chứng khoán Hình mẫu kỹ thuật này có thể được nhận biếtmột cách rõ ràng thông qua hai đường nối các đỉnh và các đáy trong xu thế biếnđộng giá chứng khoán đường nối các đỉnh và các đáy của xu thế biến động giáchứng khoán tạo thành đỉnh và đáy của hình chữ nhật Những hình chữ nhật đôi khiđược xem như những khung giao dịch, những khu vực củng cố hoặc bế tắc trong sựbiến động của giá chứng khoán có nhiều sự tương đồng giữa mô hình “hình chữnhật” – Rectangle và mô hình “tam giác cân” - Symmetrical triangle, trong khi cảhai đều là những hình mẫu kỹ thuật tiếp tục khuynh hướng của thị trường, chúngđều mang lại những thông tin khá quan trọng đó là dự báo những đỉnh và đáy của

xu thế Không như với hình mẫu kỹ thuật tam giác cân, hình mẫu kỹ thuật hình chữ

Trang 40

nhật chỉ hoàn thiện cho tới khi "breakout" xuất hiện thỉnh thoảng những tín hiệusớm có thể được nhận biết, nhưng thường thì dấu hiệu "breakout" khó có thể xácđịnh trước một cách sớm và chính xác Rectangle có thể diễn ra trong một vài tuầnhoặc trong vài tháng, thông thường thì hình mẫu này diễn ra trong khoảng ba tuần,trong trường hợp lý tưởng Rectangle có thể diễn ra trong khoảng ba tháng, nóichung những dấu hiệu "breakout" do những Rectangle diễn ra trong thời gian dàithường tin cậy hơn những dấu hiệu "breakout" được mang lại bởi những Rectanglediễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn

e) Flags and Pennants - Mô hình cờ chữ nhật và cờ đuôi nheo

Hình mẫu kỹ thuật Flags & Pennants là những mô hình tiếp tục xu thế của thịtrường trong ngắn hạn, nó đánh dấu một bước củng cố để tiếp tục lấy lại xu thế củathị trường Thông thường trước khi xảy ra những hình mẫu kỹ thuật này thì đượcxác nhận bằng sự tăng hoặc giảm giá mạnh kết hợp với khối lượng giao dịch lớn, nóđánh dấu điểm chính giữa của xu thế biến động giá (thực chất nó là những hình mẫu

kỹ thuật mang tính chất củng cố của xu hướng biến động giá chứng khoán) Đểđược xem xét là một hình mẫu kỹ thuật mang tính tiếp tục xu thế của thị trường nócần được xác nhận bằng một khuynh hướng diễn ra trước đó

Dấu hiệu về khối lượng giao dịch

Mô hình cờ đuôi nheo hướng lên

Mô hình cờ đuôi nheo hướng xuống

Ngày đăng: 21/04/2021, 17:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Văn Nam – PGS.TS Vương Trọng Nghĩa (2002), Giáo trình thị trường chứng khoán, NXB tài chính Khác
2. Ủy ban chứng khoán (2002), Giáo trình phân tích và đầu tư chứng khoán Khác
3. Bùi Chí Dũng (2002) Đầu tư chứng khoán, NXB tài chính Khác
4. PGD.TS Lý Vinh Quang (1998) chứng khoán và phân tích đầu tư chứng khoán, NXB thống kêII. Tiếng Anh Khác
1. Robert D.Edwards and John Magee, Technical analysis of stock trends, Amacom Khác
2. John Murphy, Technical analysis of financial market Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w