Bài thảo luận lý nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam Bài thảo luận lý nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam Bài thảo luận lý nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam Bài thảo luận lý nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam Bài thảo luận lý nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam Bài thảo luận lý nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Biển là nơi rất giàu có và đa dạng về tài nguyên, chứa đựng tiềm năng phát triển nền kinh tế và ngành du lịch Tuy lợi ích của biển là thế nhưng vấn đề ô nhiễm biển đảo đang là vấn đề nóng của toàn xã hội Hiện nay Việt Nam đứng thứ tư trên thế giới
về ô nhiễm môi trường biển Việt Nam có tới trên 100 con sông trong đó có hơn 10 con sông đang ở mức độ ô nhiễm nặng Các con sông đều đổ ra biển nên nguy cơ gây
ô nhiễm biển ngày càng tăng, tính chất ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Đây là một vấn đề mang tính cấp thiết vậy nên để hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam và sự quản lý nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo ở Việt Nam thì nhóm em đã chia bài thảo luận làm 3 phần: Phần thứ nhất là cơ sở lý luận về ô nhiễm môi trường biển đảo Phần thứ hai: Thực trạng về ô nhiễm hệ sinh thái biển Phần thứ ba: Thực trạng quản lý nhà nước về vấn đề ô nhiễm môi trường biển Cuối cùng là giải pháp để khắc phục ô nhiễm môi trường biển
Trang 3I Cơ sở lý luận về ô nhiễm môi trường biển đảo
1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường biển đảo:
Ô nhiễm môi trường biển là hiện tượng nước biển bị biến đổi (vật lý và hóa học) theo chiều hướng xấu, không còn giữ được sắc thái tự nhiên của nước biển gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới các chỉ số sinh hóa của nước biển Đồng thời gây hại tới sức khỏe con người cũng như các sinh vật sống trên biển
1.2 Đặc điểm của môi trường biển đảo:
- Đặc điểm của môi trường biển ven bờ:
+ Môi trường biển ven bờ chịu sự tác động từ nhiều cửa sông: phù sa, các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất độc hại khác từ các khu dân cư tập trung; từ các khu công nghiệp và đô thị, từ các khu nuôi trồng thuỷ sản ven biển và từ các vùng sản xuất nông nghiệp theo các cửa sông đổ ra biển
+ Môi trường biển ven bờ chịu sự tác động của nhiều nguồn ô nhiễm trong đó có nguồn ô nhiễm ngoài khơi của các nước có biển liên quan trực tiếp đến Biển Đông Vùng ven biển là nơi phát triển kinh tế năng động và có mật độ, tốc độ phát triển dân
số cao chịu tác động của nước thải sinh hoạt, nước xả thải từ các khu công nghiệp, khu khai thác khoáng sản, cảng biển, vận tải biển,… chưa được xử lý
+ Môi trường biển ven bờ có sự tham gia quản lý của nhiều chủ thể: Hệ thống tài nguyên biển ở vùng bờ đều thuộc hệ thống tài nguyên chia sẻ, không thuộc riêng một ngành nào nên nhiều ngành kinh tế cùng khai thác, sử dụng trên một không gian bờ và đại dương Cụ thể, Công thương khai thác dầu khí, cảng biển; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khai thác thủy hải sản; chưa kể đến hệ thống ngang là các tỉnh có biển, bờ biển, đảo
- Đặc điểm của môi trường biển xa bờ:
+ Môi trường biển xa bờ nguồn cung cấp hóa chất và khoáng sản với trữ lượng
lớn Tổng lượng muối tan chứa trong nước biển là 48 triệu km3, trong đó có muối ăn, iốt và 60 nguyên tố hoá học khác Các loại khoáng sản khai thác chủ yếu từ biển như dầu khí, quặng Fe, Mn, quặng sa khoáng và các loại muối Năng lượng sạch từ biển và đại dương như năng lượng thuỷ triều (than xanh), năng lượng sóng hiện đang được khai thác phục vụ vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều lợi ích khác của con người
Trang 4+ Biển Đông - một trong những con đường giao thương hàng hải quốc tế nhộn nhịp nhất trên thế giới, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Bờ biển mở ra cả
3 hướng Đông, Nam và Tây Nam nên rất thuận lợi cho việc giao lưu thương mại quốc
tế và hội nhập kinh tế biển Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, bờ biển nước ta có 10 điểm có thể xây dựng cảng biển nước sâu và nhiều điểm cảng trung bình với tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển đạt 50 triệu tấn/năm Đến nay, Việt Nam
đã ký hiệp định hàng hải thương mại với 26 quốc gia Việt Nam đã phát triển được 30 cảng biển với 166 bến cảng, 350 cầu cảng với tổng chiều dài khoảng 45.000m; xây dựng 18 khu kinh tế ven biển… Mặt khác, vùng biển rộng lớn với nhiều đảo cũng là không gian trọng yếu để bảo đảm an ninh-quốc phòng
+ Vùng biển xa bờ không chỉ là nơi cung cấp không gian sống cho các loài mà còn cung cấp thực phẩm, hàng hóa, nguyên nhiên liệu và các dịch vụ cho con người nói chung và cho cộng đồng ven biển nói riêng
+ Vùng biển xa bờ điều hòa môi trường, bồi tích sông, dòng dinh dưỡng từ lục địa đưa ra, cũng như điều hòa thời tiết, khí hậu Các hệ sinh thái bờ có thể giảm thiểu tác động của năng lượng sóng đến bờ biển (kể cả sóng thần) và bảo vệ bờ biển khỏi bị xói lở Nơi giàu có và sản xuất ra các chất dinh dưỡng cần cho nhiều loài sinh vật và duy trì cơ sở đa dạng sinh học cao cho phát triển thủy sản bền vững và sinh kế cho cộng đồng địa phương ven biển (khoảng 80% tiền thu được từ thủy sản)
1.3 Quản lý nhà nước về môi trường biển đảo:
+ Trải qua nhiều lần quy hoạch, bổ sung quy chế quản lý, đến ngày 26/5/2010, tại Quyết định 742/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam với danh mục 16 khu bảo tồn biển Đến nay, cả nước đã thành lập và đưa vào hoạt động được mạng lưới 10 trong tổng số 16 Khu bảo tồn biển tại Việt Nam gồm: Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc
Việc Chính phủ ưu tiên và chú trọng phát triển các bảo tồn thiên nhiên biển nhằm duy trì được sự phát triển đa dạng của hệ sinh thái biển đồng thời thúc đẩy phát triển kinh
tế biển
+ Phương thức quản lý: Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo phương thức quản lý tổng hợp
Trang 5• Cơ quan quản lý khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển theo ngành.Đối với
việc quản lý khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển theo ngành, mỗi lĩnh vực được quản lý bởi một bộ máy quản lý theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương được quy định trong pháp luật chuyên ngành của lĩnh vực đó - Ở Trung ương, các bộ tham gia quản lý khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và thủy sản, Cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản và dầu khí, Cơ quan quản lý nhà nước về giao thông vận tải biển, Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch biển,Cơ quan quản lý nhà nước về ngoại giao và biên giới lãnh thổ quốc gia, Cơ quan quản lý nhà nước về quốc phòng trên biển
+ Điều 73, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 quy định về
cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý nhà nước : “1 Chính phủ thống nhất quản
lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên
và bảo vệ môi trường biển và hải đảo”
Như vậy, theo quy định trên thì Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan được giao vai trò điều phối quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo Ở 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển, Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý tổng hợp về biển và hải đảo Sở Tài nguyên và Môi trường có các phòng/chi cục biển, hải đảo trực thuộc
II Thực trạng về sự ô nhiễm hệ sinh thái biển
2.1 Thực trạng ô nhiễm hệ sinh thái môi trường biển
2.1.1 Thực trạng ô nhiễm hệ sinh thái biển ven bờ
+ Trong số các nguồn thải ra biển, có thể “điểm danh” đầu tiên là nguồn thải từ hoạt động dân cư ven biển Hoạt động dân cư ven biển phát sinh nhiều loại chất thải ra môi trường và thải đổ vào biển qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch Lượng chất thải này tăng mạnh nhất ở các đô thị ven biển, nơi tập trung các hoạt động phát triển kinh tế xã hội và thu hút dân lao động từ các tỉnh thành của các vùng ven biển
+ Các tỉnh ven biển có hơn 30 nghìn cơ sở nuôi trồng thủy sản bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài, công ty trách
Trang 6nhiệm hữu hạn và các doanh nghiệp tư nhân Nhiều địa phương thực hiện nuôi trồng tại các vùng cửa sông, cửa biển gây suy thoái hoặc giảm diện tích các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng triều Ngoài ra, việc sử dụng các hoá chất độc hại vào việc đánh bắt hải sản cũng làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm
+ Chất thải và nước thải sinh hoạt từ các dịch vụ du lịch, cụ thể là từ hoạt động của du khách là nguyên nhân trực tiếp làm ô nhiễm nguồn nước mặt ở các khu vực gần các khách sạn, nhà nghỉ, dịch vụ du lịch Ngoài ra, việc khai thác nước phục vụ nhu cầu du lịch vượt quá khả năng đáp ứng nguồn nước cũng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước
2.1.2 Thực trạng ô nhiễm hệ sinh thái biển xa bờ
+ Ngành khai khoáng gây nhiều yếu tố ảnh hưởng đến môi trường Nước thải ở các mỏ than có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn thủy sinh, suy giảm chất lượng nước Lượng chất thải rắn trong quá trình khai thác than khoảng 150 triệu m3/năm
+ Khả năng gây ô nhiễm từ hoạt động hàng hải rất lớn, đặc biệt là ô nhiễm do khí thải và nước thải từ các phương tiện vận tải Nước thải thường phát sinh từ tàu biển và phương tiện hàng hải, nhà máy đóng mới và sửa chữa tàu biển, cảng biển, bãi và kho chứa hàng Trong đó, nước thải công nghiệp tàu biển thường chứa hàm lượng cao dầu khoáng, hóa chất tẩy rửa và kim loại nặng đe dọa nghiêm trọng chất lượng nước biển khu vực tiếp nhận nước thải Tại cụm cảng Hải Phòng – Quảng Ninh, những năm gần đây mỗi tháng có khoảng 400 tàu xuất ngoại, lượng nước ballast từ tàu biển cần thanh thải ước tính khoảng 430.000 – 710.000m3
+ Đáng quan ngại là tình trạng ô nhiễm biển do dầu có xu hướng gia tăng, phức tạp hơn, số lượng tàu thuyền gắn máy loại nhỏ, công suất thấp, cũ kỹ và lạc hậu tăng nhanh nên khả năng thải dầu vào môi trường biển nhiều hơn Các tàu nhỏ chạy bằng xăng dầu đã thải ra biển khoảng 70% lượng dầu thải Hơn nữa, hoạt động của tàu thương mại trên tuyến hàng hải quốc tế cũng thải vào biển Việt Nam một lượng lớn dầu rò rỉ, dầu thải và chất thải sinh hoạt mà đến nay chưa thể thống kê đầy đủ
+ Một trong những nguyên nhân quan trọng của ô nhiễm biển, đó là do ô nhiễm các dòng sông từ đất liền Tất cả các con sông đều đổ ra biển, kéo theo đó là nguồn ô nhiễm từ đất liền mang ra như chất thải công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề, nước thải chưa xử lý, hóa chất, thuốc trừ sâu, rác, phế thải vật liệu xây dựng…, nên nguy cơ
Trang 7gây ô nhiễm và suy thoái môi trường biển không ngừng gia tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sinh thái và nhiều mặt của đời sống xã hội Báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, hàng năm các con sông thải ra biển 880 km3 nước và 270 - 300 triệu tấn phù sa, kéo theo nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển như: các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất độc hại từ các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp và đô thị, các khu nuôi trồng thủy sản ven biển và các vùng sản xuất nông nghiệp Những loại rác không phân hủy được trôi nổi ven biển, lắng xuống đáy biển, rác phân hủy được sẽ hòa tan và lan truyền trong toàn khối nước biển
2.2 Nguyên nhân dẫn tới thực trạng về ô nhiễm môi trường biển đảo
2.2.1 Nguyên nhân dẫn tới thực trạng về ô nhiễm môi trường biển ven bờ
+ Mật độ dân cư tại các vùng biển ven bờ liên tục gia tăng dẫn đến sức ép rất lớn tới môi trường ven biển
+ Lượng rác thải mà con người sinh sống thải ra môi trường ngày một cao, các hoạt động sinh hoạt, sản xuất , du lịch thải ra môi trường một lượng lớn rác thải nhựa nilon, các chất hóa học hữu cơ,vv…
+ Nước thải công nghiệp từ hoạt động hàng hải, chất thải chứa kim loại nặng từ hoạt động đóng tàu thải ra môi trường hàng hải và ngành công nghiệp đóng tàu
+ Các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, thuốc kháng sinh bảo vệ thủy sản, thức ăn chăn nuôi
+ Trong hoạt động du lịch, hoạt động con người nhằm khai thác các điểm du lịch
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiểm nguồn nước ven biển
+ Các chất thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nông nghiệp,… chưa qua xử lí
từ các nhà máy, khu đô thị,… sẽ được đổ ra sông, theo dòng chảy ra biển làm ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng
+Vứt rác thải bừa bãi, thiếu văn hóa trong hoạt động du lịch, sinh hoạt tập thể Việc nuôi trồng thủy hải sản ở ven biển, công ty, doanh nghiệp cùng với sự phát triển kinh tế cũng kéo theo tình trạng ô nhiễm nước biển từ các chất thải của hoạt động gây ra
2.2.2 Nguyên nhân dẫn tới thực trạng về ô nhiễm môi trường biển xa bờ
+Các hoạt động khai khoáng, nước thải xử lý khoáng sản thải ra môi trường làm suy giảm chất lượng nước, sự cố như tràn dầu gây nên ô nhiễm nguồn nước biển
Trang 8+Hoạt động con người trong đất liền gây ô nhiễm nước từ các dòng sông, nước sông bị ô nhiễm chảy ra biển là nguyên nhân dẫn đến ô nhiểm môi trường biển xa bờ +Sự gia tăng của các tàu thuyền gắn máy loại nhỏ, không đủ chất lượng lưu thông dẫn tới dầu máy thải bị rò rỉ, sự cố tràn dầu có lẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển nhiều nhất Làm nước biển nhiễm một số chất độc hại, gây ra cái chết hàng loạt cho nhiều sinh vật biển
+Sự khai thác tài nguyên biển trái phép hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường biển Một số người dân thay vì đánh bắt cá bằng lưới thông thường thì họ sử dụng chất nổ để đẩy nhanh quá trình khai thác cá gây suy giảm không gian các hệ sinh thái tự nhiên biển, suy giảm đa dạng sinh học do mất không gian sống và môi trường bị thay đổi; suy giảm nguồn lợi biển và các loài quý hiếm có giá trị kinh tế và bảo tồn cao
+Dùng chất nổ, dùng điện, chất độc để đánh bắt thủy hải sản sẽ khiến các loài sinh vật biển chết hàng loạt Có thể khiến một số loài bị tuyệt chủng Ngoài ra, nếu việc khai thác này không được kiểm soát thì các xác của các sinh vật biển còn xót lại trên biển sẽ bị phân hủy, sẽ gây ô nhiễm cho nước biển
III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VỀ MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
3.1 Thực trạng quản lí nhà nước về ô nhiễm môi trường biển đảo VN
3.1.1 Thực trạng quản lí nhà nước về ô nhiễm môi trường ven bờ
Đề cập đến những nội dung đang ẩn chứa những điểm nghẽn, nút thắt đối với hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ven bờ Nhà nước đang tập trung đi sâu vào vấn đề thể chế, thiết chế, tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường
Thực tiễn quản lý nhà nước đòi hỏi có nên hay không việc cấm hoạt động, di dời
ra khỏi khu vực vùng đệm hoặc cho hoạt động nhưng phải đảm bảo thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường và kèm theo các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt + Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường: Bộ máy là tinh gọn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực; bảo đảm lồng ghép thực hiện các nhiệm vụ về bảo vệ môi trường vào các chương trình, kế hoạch hoạt động thuộc ngành, lĩnh vực Nhiều ngành liên quan đến biển, nhưng chưa có một cơ quan chuyên trách nào có đủ “tầm cao” Đây là một đòi hỏi có sự nghiên cứu làm rõ giữa lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước
Trang 9+ Tổ chức quản lý, xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển ven bờ: Ô nhiễm biển ven bờ nhiều về số lượng, chủng loại và phức tạp về tính chất Các cơ quan quản lý nhà nước phải có các biện pháp, chính sách, cơ chế phù hợp, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành
+ Xây dựng chiến lược, quy hoạch bảo vệ môi trường biển ven bờ Tuy nhiên quy hoạch còn thiếu điều tra, nghiên cứu cơ bản, những điều tra, nghiên cứu hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức phục vụ cho sự phát triển của từng ngành kinh tế đơn lẻ Lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong các quy hoạch ngành chưa đạt yêu cầu, các ngành cơ bản chỉ coi trọng đến hiệu quả kinh tế
+ Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã được kiện toàn Hầu hết các tổng công ty, tập đoàn lớn đều có bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách về môi trường; nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường biển ven bờ khi mà tình trạng phát triển kinh tế “quá nóng”; chưa có một cơ quan có thẩm quyền đủ mạnh để thống nhất điều hành quản lý tổng hợp Số lượng, trình độ cán bộ còn hạn chế; quản lý trên lãnh thổ rộng lớn, đa ngành, đa lĩnh vực; hoạt động còn kiêm nhiệm, năng lực còn thấp, thiếu kiến thức chuyên môn
+ Tổ chức quản lý, xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển ven bờ: Cơ quan quản lí chỉ đạo phối hợp giữa các sở, ban, ngành quản lý nhà nước về phòng chống, xử lý ô nhiễm môi trường: Lập báo cáo quan trắc môi trường; cáo hiện trạng môi trường tỉnh hàng năm; lập và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; ứng phó sự cố tràn dầu; xử lý nước thải, chất thải; xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; khắc phục giảm khai thác lộ thiên, lộ vỉa, đổ thải không đúng quy định; cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại và xử lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh; tăng cường công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm
+ Tuy nhiên nhiều địa phương, ngành chưa có kế hoạch bảo vệ môi trường hàng năm; chưa coi trọng: Lập và thẩm định các báo cáo báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa được coi trọng; buông lỏng quản lý; sự phối hợp giữa cơ quan chuyên ngành và địa phương chưa tốt; thanh, kiểm tra xử lý vi phạm chưa thường xuyên, phát hiện và xử lý thiếu kiên quyết; đề xuất giải pháp quản lý còn yếu, chưa phù hợp với thực tiễn
Trang 10+ Áp dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường biển ven bờ: Ngoài những kết quả đạt được, chưa có sự “định hướng” nghiên cứu khoa học của các cơ quan chuyên ngành quản lý môi trường; thiếu các nghiên cứu khoa học mang tính nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ Đội ngũ các nhà khoa học còn yếu
và thiếu Hợp tác về quốc tế về bảo vệ môi trường biển mang lại hiệu quả Tuy nhiên cần nghiên cứu kỹ về điều kiện thực tiễn để triển khai; nhân rộng dự án, chương trình sau khi kết thúc
3.1.2 Thực trạng quản lý nhà nước về môi trường biển xa bờ
+ Kiểm soát môi trường biển là một trong những phương pháp để bảo vệ môi trường biển hiệu quả nhất Cần có những hoạt động tuần tra, kiểm soát các hoạt động đánh bắt, khai thác trên biển
+ Nghiêm cấm những hành vi sử dụng chất nổ, kích điện hay hóa chất độc hại Những hoạt động này sẽ khiến thủy hải sản bị chết hàng loạt khiến một số loài có khả năng bị tuyệt chủng Cần có những chế tài xử phạt nghiêm khắc với những hành vi cố tình hay không chấp hành luật pháp của nhà nước
Ngoài ra, cần quy hoạch hoạt động đánh bắt thủy hải sản theo các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề… Để tránh tình trạng khai thác tràn lan, không phù hợp và khó quản lí như hiện nay
+ Áp dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường biển ven bờ: Ngoài những kết quả đạt được, chưa có sự “định hướng” nghiên cứu khoa học của các cơ quan chuyên ngành quản lý môi trường; thiếu các nghiên cứu khoa học mang tính nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ Đội ngũ các nhà khoa học còn yếu
và thiếu Hợp tác về quốc tế về bảo vệ môi trường biển mang lại hiệu quả Tuy nhiên cần nghiên cứu kỹ về điều kiện thực tiễn để triển khai; nhân rộng dự án, chương trình sau khi kết thúc
+ Công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc hại trên biển được xác định là một nhiệm vụ quan trọng Phối hợp với Trung tâm Truyền thông tài nguyên và môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp đào tạo và
đã cấp Giấy chứng nhận đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu cho cán bộ và nhân viên làm công tác kinh doanh xăng dầu trong tỉnh và tổ chức hướng dẫn việc lập, xây dựng và thẩm định Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của các
cơ sở kinh doanh xăng, dầu trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định tại Quyết định số