TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trang 1TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH CÁC PHÂN HỆ CƠ BẢN CỦA
CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
A TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc đề tài 3
B THỰC TRẠNG CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 4
Ⅰ Khái niệm cơ cấu xã hội 4
Ⅱ Nội dung phương pháp tiếp cận xã hội học về cơ cấu xã hội 4
Ⅲ Các phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội 8
1 Cơ cấu xã hội - giai cấp 8
2 Cơ cấu xã hội - lao động 15
3 Cơ cấu xã hội - dân số 20
4 Cơ cấu xã hội - dân tộc 30
5 Cơ cấu xã hội - lãnh thổ 35
C KẾT LUẬN CHUNG 44
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cơ cấu xã hội là một trong những vấn đề trung tâm của nghiên cứu xã hội, vì
lẽ đó, hầu như các ngành khoa học xã hội đều nghiên cứu cơ cấu xã hội theo cáchtiếp cận và mục đích của mình Có thể nêu một số ngành khoa học xã hội cơ bảnnghiên cứu cơ cấu xã hội là: triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế học,chính trị học, sử học và xã hội học Các thành tựu nghiên cứu về cơ cấu xã hội trênthế giới thời kỳ cận - hiện đại thường gắn liền với tên tuổi của các nhà triết học, xãhội học như: K Marx, F Enggels, A Comte, M Weber, H Fischer, I Robertson,
…
Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về cơ cấu xã hội, tuy nhiên, cóthể nêu một cách chung nhất, cơ cấu xã hội là kết cấu và dạng thức tổ chức bêntrong của một hệ thống xã hội nhất định, đó là sự thống nhất tương đối bền vữngcủa các nhân tố, các mối quan hệ, các thành phần cơ bản nhất cấu thành hệ thống
xã hội Những phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội tạo nên xã hội loài người Trong
đó bao gồm: cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội lãnh thổ, cơ cấu xã hội dân số,
cơ cấu xã hội dân tộc, cơ cấu xã hội lao động (nghề nghiệp)
Chính từ việc tìm hiểu về phân hệ cơ cấu xã hội mà chúng ta có thể phát hiệnđược những quy luật cơ bản nhất của sự vận hành của xã hội, coi đó như là mộtquá trình phát triển lịch sử - tự nhiên Dựa trên quan điểm hệ thống về cơ cấu xãhội, chúng ta có thể thấy rõ xã hội không phải chỉ là sự tập hợp ngẫu nhiên và cơhọc giữa các cá nhân đơn lẻ mà là một hệ thống xã hội có cơ cấu phức tạp gồmnhiều hệ thống nhỏ thuộc nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá,
… các cấu trúc về giai cấp, dân tộc, gia đình Các bộ phận này tồn tại bên nhaukhông phải theo các phép tính cộng trừ đơn giản mà trên cơ sở của những mốiquan hệ thống nhất và biện chứng
Chính vì thế mà nhóm 6 chúng tôi quyết định cùng nhau tìm hiểu và phân tíchcác phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội ở Việt Nam
Trang 5A TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
- Nghiên cứu phân hệ cơ cấu xã hội giúp ta nhận thức được các đặc trưng của một
xã hội trong từng giai đoạn phát triển lịch sử, qua đó, phân biệt và so sánh sự khácnhau của xã hội này với xã hội khác
- Giúp ta hiểu được các thành phần cơ cấu xã hội, vai trò, chức năng của mỗithành phần đó trong cơ cấu để đảm bảo tính hệ thống của cơ cấu và nghiên cứuđộng lực phát triển xã hội
- Thấy được quan hệ tương tác giữa các thành phần của cơ cấu xã hội, hiểu rõ bảnchất của các quan hệ đó dưới dạng các quy luật xã hội, từ đó giải thích được hành
vi của các cá nhân, các nhóm và toàn bộ xã hội trong những thời gian và khônggian cụ thể
- Giúp ta có cái nhìn tổng quát về xã hội, từ đó có thể hoạch định chiến lược, xâydựng mô hình cơ cấu xã hội tối ưu đảm bảo sự vận hành hiệu quả, thực hiện tốt cácvai trò xã hội theo chiều hướng tiến bộ
- Nghiên cứu cơ cấu xã hội giúp ta có cơ sở khoa học để vạch ra một chính sách xãhội đúng đắn, nhằm phát huy những nhân tố tích cực, điều chỉnh và khắc phụcnhững hiện tượng lệch chuẩn, những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động xã hội
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội
- Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Cơ cấu xã hội là cơ sở cho sự phát triển của các mối quan hệ xã hội và tồntại của các quan hệ xã hội; có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển
Trang 6xã hội từ nhóm xã hội Vì thế, chúng tôi đã phải tìm hiểu và phân tích các phân hệ
cơ bản của cơ cấu xã hội ở Việt Nam để hiểu rõ hơn về thực trạng phân chia cơ cấu
xã hội, đồng thời có thể đưa ra các biện pháp giảm tránh bất bình đẳng xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
- Khái niệm: Là phương pháp sưu tầm, chọn lọc và tìm kiếm những thông tin quantrọng từ tất cả các thông tin, dữ liệu có được Sau đó kiểm tra, làm sạch, chuyểnđổi và mô hình hóa dữ liệu với mục tiêu khám phá thông tin hữu ích, thông báo kếtluận và hỗ trợ ra quyết định
- Ưu điểm: Mang tính ứng dụng cao, có thể áp dụng cho bất kì loại thông tin nào
- Nhược điểm: Việc chọn lọc thông tin và phân tích dữ liệu yêu cầu người có trình
độ kiến thức chuyên sâu
4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Khái niệm: Là phương pháp phải sử dụng các công cụ và phương pháp khoa học
để phân tích các số liệu đã thu thập được nhằm biết được ý nghĩa của số liệu thống
kê và thu được các thông tin cần thiết
- Ưu điểm:
Nhờ có các công cụ xử lý số liệu, có thể kiểm tra, đánh giá độ chính xác của
số liệu
Tiết kiệm thời gian
- Khuyết điểm: Ở bước lấy số liệu, có thể nhầm lẫn, sai sót thì khi dùng công cụ xử
lý số liệu sẽ sai hết về sau
Trang 75 Cấu trúc đề tài
Ngoài các nội dung như mục lục và tài liệu tham khảo thì bài thảo luận gồm
3 chương chính:
● Chương I: Tổng quan nghiên cứu
● Chương II: Thực trạng cơ cấu xã hội ở Việt Nam
● Chương III: Kết luận chung
Trang 8B THỰC TRẠNG CƠ CẤU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Khái niệm cơ cấu xã hội
Ⅰ Khái niệm cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội là mối liên hệ vững chắc của các thành tố trong hệ thống xãhội Các cộng đồng xã hội (dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội, ) là những thành tố cơbản Về phần mình, mỗi cộng đồng xã hội lại có cơ cấu phức tạp với những tầnglớp bên trong và những mối liên hệ giữa chúng Một số nhà lý thuyết xã hội cònđưa ra định nghĩa: "Cơ cấu xã hội là mô hình của các mối liên hệ giữa các thànhphần cơ bản trong một hệ thống xã hội Những thành phần này tạo nên bộ khungcho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mốiquan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác Những thành phầnquan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị trí, vai trò, nhóm và các thiết chế, "
Cơ cấu xã hội là một khái niệm rộng không chỉ liên quan tới hành vi xã hội
mà còn là mối tương tác giữa các yếu tố khác nhau của hệ thống xã hội Cơ cấu xãhội cũng bao gồm cả các thiết chế gia đình, dòng họ, tôn giáo, kinh tế, chính trị,văn hóa, hệ thống chuẩn mực giá trị, cũng như hệ thống các vị trí, vai trò xã hội,
Xã hội là một tổ chức phức tạp, đa dạng của các mối liên hệ cá nhân, tổ chức xãhội và xã hội Cơ cấu xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với các quan hệ xãhội Cơ cấu xã hội là nội dung có tính chất bản thể luận của các quan hệ xã hội, là
cơ sở của sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội
Nội dung phương pháp tiếp cận xã hội học về cơ cấu xã hội
Ⅱ Nội dung phương pháp tiếp cận xã hội học về cơ cấu xã hội
Từ quan niệm về cơ cấu xã hội như đã trình bày ở trên, phương pháp tiếpcận, nghiên cứu xã hội học dựa trên cơ sở phương pháp luận chung của xã hội họcvới những nội dung cơ bản sau:
- Cơ cấu xã hội là hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhấtđịnh, là sự thống nhất của 2 mặt: các thành phần xã hội và các liên hệ xã hội
Trang 9- Nghiên cứu cơ cấu xã hội của bất kỳ hệ thống xã hội nào cũng phải đi từviệc phân tích nhóm xã hội với vai trò, vị thế, thiết chế của nó và phân tích mốiquan hệ giữa các nhóm xã hội
- Phân tích cơ cấu xã hội phải đồng thời phân tích mô hình văn hoá có liênquan; làm rõ giá trị, định hướng giá trị, thang giá trị là những yếu tố tạo nên sựthống nhất, ổn định của hệ thống xã hội
- Phân tích cơ cấu xã hội phải xem xét nó ở cả trạng thái tĩnh và trạng tháiđộng để vừa chỉ ra được bức tranh tổng quát về xã hội và sự vận động biến đổi của
xã hội thông qua nghiên cứu cơ động (di động) xã hội của các nhóm người và củatừng con người Cơ động xã hội là một hiện tượng xã hội phổ biến, phản ánh sựdịch chuyển vị trí xã hội của một cá nhân hay một nhóm xã hội trong cơ cấu củamột hệ thống xã hội Cơ cấu xã hội có: cơ động theo chiều dọc và cơ động theochiều ngang
- Nghiên cứu cơ cấu xã hội phải tiến hành phân tích phân hoá giàu nghèo vàphân tầng xã hội Phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội là một hiện tượng phổbiến trong lịch sử xã hội loài người Đây là lát cắt dọc trong phân tích cơ cấu xãhội để ta hiểu được một cách sâu sắc cơ cấu xã hội, sự đa dạng phức tạp của nó; đểlàm rõ hơn tính cơ động xã hội
- Xã hội là một hệ thống đa cấu trúc, chứa đựng trong đó nhiều phân hệ cơcấu khác nhau, cho nên phân tích cơ cấu xã hội phải đi sâu vào các phân hệ của nó,trong đó trọng tâm là phân hệ cơ cấu giai cấp
- Phân tích cơ cấu xã hội của một hệ thống xã hội nhằm phát hiện nhữngkhuyết tật trong cấu trúc của nó, phát hiện những vấn đề xã hội cần giải quyết,phục vụ cho công tác quản lý và kiểm soát xã hội một cách có hiệu quả
Cụ thể nội dung của phương pháp nghiên cứu đối với từng phân hệ cơ cấu xãhội:
- Nghiên cứu cơ cấu xã hội - giai cấp: Khi nghiên cứu cơ cấu xã hội - giai cấp,người ta không chỉ nghiên cứu giai cấp mà còn nghiên cứu cả các tầng lớp, các tậpđoàn người khác nhau của xã hội Trong nghiên cứu, người ta thường tập trung vàoquy mô, kích thước, vị thế, vai trò và tương quan giữa các giai cấp, sự quan hệ và
Trang 10liên minh giữa các giai cấp, các tầng lớp, tập đoàn xã hội với nhau; những biến đổitrong cơ cấu lợi ích, xu hướng biến đổi vị thế, vai trò của các giai cấp, các tầng lớp,tập đoàn xã hội Đồng thời cũng nghiên cứu các giá trị, chuẩn mực, xu hướng, tính
cơ động xã hội, tính tích cực, sở hữu,… của các gia cấp, tầng lớp, qua đó thấy đượckhuôn mẫu, văn hóa, lối sống, xu hướng và mục tiêu của các gia cấp, tầng lớp, tậpđoàn khác nhau
Bên cạnh đó, cũng có những cách tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã hội - giai cấpchỉ tập trung nghiên cứu những tập đoàn người tạo nên những giai cấp cơ bản có ýnghĩa quyết định sự vận động và biến đổi xã hội Trong các nghiên cứu này người
ta tập trung nghiên cứu thực trạng cơ cấu các giai cấp, quy mô giai cấp, vai trò, sứmạng và tương lai của các giai cấp và qua đó chỉ ra giai cấp cơ bản quyết định sựbiến đổi cơ cấu xã hội và phát triển xã hội
- Nghiên cứu cơ cấu xã hội - lao động là tập trung nhận diện thực trạng cơcấu, tỷ trọng các ngành nghề, những đặc trưng, xu hướng và sự tác động qua lại lẫnnhau của các ngành nghề cũng như sự biến đổi, thay đổi ngành nghề của một xãhội nhất định Trong xã hội hiện đại người ta thường tập trung nghiên cứu lựclượng lao động cũng như các ngành nghề cụ thể của lao động công nghiệp, nôngnghiệp, dịch vụ và một số ngành nghề đặc thù khác; đồng thời, người ta cũngnghiên cứu cơ cấu lao động theo giới tính, lứa tuổi, trình độ văn hóa, trình độchuyên môn nghiệp vụ,…
Ngoài ra, người ta cũng tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã hội - lao động dướigóc độ phân tích lực lượng lao động theo lãnh thổ, vùng, miền, khu vực kinh tế xãhội; theo lao động trong các khu vực, thành phần kinh tế khác nhau; theo lao độngtrong khu vực kinh tế kết cấu hay kinh tế phi kết cấu; theo độ tuổi người lao độngcũng như mức độ có việc làm và thất nghiệp của người lao động Điều cơ bản làqua nghiên cứu thực trạng cơ cấu xã hội - lao động là để nhận diện sự biến đổi của
nó và tác động của sự biến đổi ấy đến cơ cấu xã hội, đến đời sống xã hội và ngượclại Qua đó có thể dự báo xu hướng vận động và biến đổi của cơ cấu xã hội - laođộng nói riêng và biến đổi cơ cấu xã hội nói chung
Trang 11- Nghiên cứu cơ cấu xã hội - dân số là tập trung nghiên cứu các tham số cơbản như mức sinh, mức tử, biến động cơ cấu dân số cơ học, tự nhiên, di dân, đô thịhóa, tỷ lệ giới tính và cơ cấu độ tuổi, cơ cấu thế hệ Bên cạnh đó, cũng chú ýnghiên cứu sức khỏe sinh sản, đặc trưng văn hóa, tôn giáo, dân tộc, vùng miền củadân số Qua phân tích thực trạng cơ cấu xã hội - dân số ta có thể dự báo được xuhướng vận động và phát triển của dân số của một xã hội ở những giai đoạn lịch sửnhất định; cũng như mức độ ảnh hưởng, sự tác động của biến đổi cơ cấu xã hội -dân số đến sự vận động và phát triển của kinh tế, xã hội, an ninh, văn hóa, tàinguyên, môi trường, Cao hơn nữa đó là sự tác động đến tổng thể chất lượng cuộcsống của con người Điều này có nghĩa là những tác động của sự biến đổi cơ cấu
xã hội - dân số đến tổng thể đời sống xã hội và môi trường và đến lượt nó, nó lạitác động trở lại đối với cơ cấu dân số
- Nghiên cứu cơ cấu xã hội - dân tộc là nghiên cứu thực trạng các dân tộc và
sự khác biệt giữa các dân tộc Cụ thể, nó tập trung nghiên cứu quy mô, tỷ trọng,phân bố và sự biến đổi số lượng, chất lượng, đặc trưng, xu hướng biến đổi của cơcấu xã hội nội bộ mỗi dân tộc cụ thể và sự tương quan giữa chúng với cộng đồngcác dân tộc Bao giờ nghiên cứu biến đổi cơ cấu - xã hội một dân tộc cụ thể cũngđặt nó trong tổng thể các dân tộc của một quốc gia, chính sự biến đổi cơ cấu - dântộc của các dân tộc cụ thể quyết định sự biến đổi cơ cấu - dân tộc của quốc gia đó.Khi nghiên cứu cơ cấu xã hội - dân tộc người ta cũng đặt nó trong mối quan hệkhăng khít với các phân hệ cơ cấu xã hội cơ quan khác của một xã hội nhất định,cũng như với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: chính trị, văn hóa,kinh tế, xã hội, dân số, tôn giáo,…
Nghiên cứu cơ cấu xã hội - dân tộc không chỉ nhằm nhận diện đúng sự biếnđổi của cơ cấu dân tộc trong một xã hội nhất định mà còn tạo cơ sở khoa học choviệc hoạch định chính sách, chiến lược, chủ trương để quy hoạch và phân bổ lại cơcấu dân cư, lực lượng lao động, ngành nghề, việc làm, các nguồn tài nguyên phùhợp với chiến lược phát triển chung; đồng thời cũng phù hợp với những điều kiện
tự nhiên - xã hội từng vùng miền, từng dân tộc cụ thể Cũng từ đó có chiến lượcbảo tồn văn hóa và bản sắc dân tộc, xây dựng tình đoàn kết anh em giữa các dân
Trang 12tộc, tích cực góp phần giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ biên giới quốc gia và
sự toàn vẹn lãnh thổ
- Nghiên cứu cơ cấu cơ cấu xã hội - lãnh thổ là nghiên cứu cơ cấu vùng: địa
lý, kinh tế, văn hóa đồng bằng, trung du, miền núi để thấy được sự khác biệt giữacác vùng miền về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; sự khác biệt về lốisống, mức sống giữa các vùng miền
Các phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội
Ⅲ Các phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội
1 Cơ cấu xã hội - giai cấp
1.1 Khái niệm
Cơ cấu xã hội - giai cấp là hệ thống các giai cấp, tầng lớp trong xã hội và cácmối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội đó Nghiên cứu xã hội giai cấp đượcxem xét ở hai phương diện: Không chỉ xem xét tất cả các tầng lớp, các tập đoàn xãhội khác mà còn hướng vào việc nghiên cứu những giá trị chuẩn mực trong từnggiai cấp, tập đoàn xã hội
1.2 Bức tranh đa chiều
Đất nước thay đổi thì cơ cấu xã hội - giai cấp cũng phải đổi thay Trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp rất đa dạng và có nhiềubiến động, tạo nên nhiều giai cấp và tầng lớp có vị trí khác nhau, bao gồm: giai cấpcông nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, tầng lớp những người sản xuấthàng hóa nhỏ, tiêu chủ, tiểu thương, bộ phận những nhà tư sản Trong các giai cấp,tầng lớp nêu trên, giai cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất và có vị tríkinh tế - xã hội quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế và lãnh đạo xãhội Giai cấp nông dân đông về số lượng và là lực lượng lao động quan trọng nhấttrong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, giai cấp nông dân có xu hướnggiảm dần trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tầng lớp trí thức đại biểucho lao động trí tuệ có trình độ cao, tuy số lượng không nhiều nhưng có vai tròquan trọng vì họ phát triển cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Những
Trang 13người tiểu chủ, tiểu thương,… đã tồn tại lâu dài và có tiềm năng lớn đối với sựphát triển của xã hội Bộ phận những nhà tư sản có khả năng góp phần xây dựngđất nước thông qua việc tạo việc làm cho người lao động, đóng góp vào ngân sáchnhà nước, đào tạo người lao động,… Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơcấu xã hội - giai cấp có xu hướng biến động mạnh trên cơ sở biến động của nhữngđiều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Sự biến động này theo hướng vừa liên minh,vừa đấu tranh và từng bước xóa bỏ sự bất bình đẳng để xích lại gần nhau
1.3 Thực trạng xã hội - giai cấp
a, Quy mô, số lượng các giai cấp xã hội
Từ năm 2013 đến 2020 theo các số liệu từ Tổng cục Thống kê, có thể thấy
cơ cấu xã hội giai cấp, giai tầng, xã hội ở nước ta đã có những biến động đáng
kể, chủ yếu do dịch Covid-19 nên ta thấy rõ sự sụt giảm về số lượng tầng lớp dịch
vụ, họ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 rồi tiếp đến là khu vựccông nghiệp và xây dựng, cuối cùng là giai cấp nông dân Số lượng giai cấp nôngnghiệp đạt 24,4 triệu người (2013), năm 2020 ghi nhận con số là 17,5 triệu người,giảm 39,43% so với năm 2013 Số lượng lao động công nghiệp (lao động củangười công nhân, giai cấp công nhân theo cách nói truyền thống) là 10,82 triệungười (2013), năm 2020 con số đã giảm mạnh là 5,99 triệu người, cụ thể giảm80% Số lượng lao động lao động dịch vụ là 16,75 triệu người (2013) và đángkinh ngạc thay năm 2020 ta chỉ còn 7,04 triệu người Theo Tổng cục Thống kê(Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tầng lớp tri thức chỉ ở mức 111.678 nghìn người(2013), trải qua 7 năm tầng lớp tri thức đã tăng lên về số lượng, đạt 253.517nghìn người (2020) Số lượng tiểu thương 2013 là 18,4 triệu cơ sở, Covid-19 ảnhhưởng nghiêm trọng đến số lượng các giai cấp, nó giáng một đòn nặng nề đến các
Trang 14giai cấp và khiến họ phục hồi một cách chậm chạp Tuy nhiên ta có thể thấy một
xu hướng mới, xu hướng buôn bán nhỏ lẻ tăng nhẹ vào năm 2002 (19,2 triệungười) Cho đến nay, cả nước đã có hàng trăm ngàn doanh nghiệp, theo số liệubáo cáo mới nhất từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),
số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 10/2020 là 12.205 doanhnghiệp, tăng 18,4% so với tháng liền kề trước đó, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm2019
Tính chung năm 2020, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,4triệu người, giảm 1,3 triệu người so với năm 2019 Trong đó, giai cấp nôngdân là 17,5 triệu người, giảm 7,2%; giai cấp công nhân là 16,5 triệu người,tăng 0,3%; khu vực dịch vụ là 19,4 triệu người, tăng gần 0,1% Chuyển dịchlao động tiếp tục theo xu hướng từ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sảnsang khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực dịch vụ với tỷ trọng laođộng tương ứng trong các khu vực năm 2020 là: 32,8%; 30,9%; 36,3% (năm
2019 tương ứng là: 34,5%; 30,1% và 35,4%)
Kết quả điều tra cho thấy với 53,4 triệu người tại thời điểm 2020 trong
đó giai cấp tư sản chiếm tỷ trọng 25,11% và tầng lớp tri thức có 253.517nghìn người chiếm tỷ trọng 0,5%.Trong khi đó, số lượng giai cấp công nhânđạt 23,06% thì giai cấp tiểu thương đạt tới 26,65% Con số lớn thứ hai làgiai cấp nông dân chiếm 24,68% tỷ trọng
Điều này cho thấy của khu vực dịch vụ ngày càng được thể hiện trong
sự phát triển kinh tế thị trường của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc
tế cao và các ngành dịch vụ sẽ tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế trongnhững năm tiếp theo Xu hướng chung là tỷ trọng lao động trong khu vựcnhà nước tăng nhẹ, khu vực ngoài nhà nước liên tục tăng, lao động nôngnghiệp giảm, lao động công nghiệp giảm
b, Mối quan hệ giữa các tầng lớp xã hội
Chiến tranh đã đi qua đất nước Việt Nam đã và đang trong thời kỳ quá độCNXH, chủ yếu chú trọng vào phát triển kinh tế và con người Nhà nước ta khuyến
Trang 15khích kinh doanh, sản xuất và chú trọng tri thức Trước những cơ hội phát triển donhà nước đem lại, thêm thời điểm hòa bình thuận lợi kinh doanh nên tầng lớpdoanh nhân đang tăng nhanh và mạnh mẽ về số lượng Xã hội tư sản hiện đại, sinh
ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, tuy nhiên ta cũng không thểhoàn toàn xoá bỏ được những đối kháng giai cấp Nó chỉ đem những giai cấp mới,những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế những giaicấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi Tuy nhiên, đặcđiểm của thời đại chúng ta, thời đại của giai cấp tư sản là đã đơn giản hóa nhữngđối kháng giai cấp Xã hội ngày càng chia thành hai phe lớn với nhau, hai giai cấplớn, đôi khi nó hoàn toàn đối lập nhau đôi khi lại bổ trợ cho nhau Và đó là: giaicấp tư sản và giai cấp vô sản Giai cấp tư sản - họ là những người sở hữu tư liệusản xuất và nhân công (giai cấp công nhân) Nên tầng lớp tư sản chi phối tất cả cácgiai cấp và tầng lớp còn lại Đối với công - nông dân, giai cấp tư sản tạo việc làmcho họ, nhưng đồng thời cũng bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, siết giáđất đai và nông sản ở mức thấp nhất để sinh lời Giai cấp công nhân hiện đại chỉ cóthể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu laođộng của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo Những công nhân ấy, buộc phải
tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một với những đồng lương ít ỏi và giá cả laođộng, cũng như giá cả hàng hoá, lại bằng chi phí sản xuất ra nó Với sự thay đổicủa thời đại, hiện đại hóa và công nghiệp hóa, sản xuất chạy bằng sức máy thaybằng sức người Cho nên lao động càng trở nên thiếu hấp dẫn thì tiền công cànghạ
Đối với tầng lớp tiểu thương, họ là những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thươngnghiệp và người trực lợi nhỏ Với một phần vốn ít ỏi của họ không đủ cho phép họquản lý những xí nghiệp, nên họ bị sự cạnh tranh lớn hơn của giai cấp tư bản đánhbại
Với tầng lớp tri thức, đây là đối tượng rất được giai cấp tư sản quan tâm nên
họ khá chú trọng đầu tư Trí thông minh luôn là miếng bánh ngọt được các giai cấp
tư bản tranh giành Họ khá coi trọng tầng lớp này, tuy nhiên lợi nhuận luôn là thứ
mà nhà tư bản quan tâm nên để xứng đáng với giá được trả, tầng lớp tri thức cũngphải bỏ ra một sản phẩm giá trị trước khi bị đào thải
Trang 16c, Sự phát triển, xu hướng biến đổi
Trong những năm gần đây, nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta chuyểnmạnh từ nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá và theo đó cơ cấungành nghề ở nông thôn cũng thay đổi theo chiều hướng tích cực và trở nên đadạng hoá Đó là giảm số lượng và tỷ trọng nhóm hộ nông dân, tăng số lượng và tỷtrọng nhóm công nghiệp và dịch vụ Mặc dù đã đạt được những kết quả rất tíchcực, nhưng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngành, nghề và cơ cấu lao động ở khu vựcnông thôn vẫn còn chậm và còn cách xa so với yêu cầu quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Trong những năm từ 2013-2018, tỷ trọng laođộng hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản mới giảm được 2,92 triệungười, bình quân mỗi năm chỉ giảm được 0,6%
Xu hướng đa dạng hoá sự phát triển của giai cấp công nhân trong các thànhphần kinh tế Giai cấp công nhân nước ta không những phát triển cả về số lượng vàchất lượng, mà còn ngày càng phát triển đa dạng hơn Xu hướng ngày càng tăng về
số lượng và chất lượng khi trong những năm 2013-2018 tăng 3,68 triệu người
Do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra trong điều kiện cách mạng khoahọc công nghệ và xu thế toàn cầu hoá ở nước ta nên trong những năm qua tầng lớptrí thức ở Việt Nam cũng có sự phát triển đáng kể cả về lượng cũng như về chất.Năm học 2016-2017, tổng số thạc sĩ và tiến sĩ tốt nghiệp là 35.918 Trong đó có1.234 tiến sĩ Đến năm học 2017-2018, số người tốt nghiệp sau đại học tăng lên38.021, trong đó có 1.545 tiến sĩ Số liệu này không tính các trường khối quốc phòng,
an ninh, quốc tế Chất xám vẫn luôn là thứ quan trọng nhất của người Việt Nam
Do đó để thu hút các nhà đầu tư và một mặt khác để vượt lên trên bẫy thu nhậptrung bình, Việt Nam cần phải có những cải tổ đột phá về giáo dục và về đào tạotrường dạy nghề Đặc biệt ta có thể thấy số lượng giai cấp tri thức, tư sản và tiểu tưsản đa số vẫn tăng trong thời gian dịch bệnh do có sức đề đề kháng cao đối với sựthay đổi của thời đại Cụ thể, trong dịch covid trình độ chuyên môn kỹ thuật càngcao, tỷ lệ thiếu việc làm càng thấp Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi năm 2020
Trang 17của lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 2,87%; sơ cấp là 2,25%;trung cấp là 1,58%; cao đẳng là 1,52%; từ đại học trở lên là 1,04%.
Đáng chú ý là sự tăng nhanh số lượng các doanh nghiệp, theo đó là tăng sốlượng các doanh nhân Theo đà phát triển như hiện nay sự lớn mạnh không ngừngcủa tầng lớp doanh nhân cũng như sự đa dạng, phong phú của nó sẽ tạo ra một cụcdiện mới cho nền kinh tế cũng như đặt ra những yêu cầu bức bách hơn đối vớinhững thay đổi trong chính sách, thể chế pháp luật cho phù hợp Đáng chú ý là sựtăng nhanh số lượng các doanh nghiệp, theo đó là tăng số lượng các doanh nhân, Theo đà phát triển như hiện nay, mục tiêu 500.000 doanh nghiệp với cả triệu doanhnhân vào năm 2010 - 2011 như mục tiêu Đại hội Đảng X đặt ra chắc chắn là sẽkhông chỉ đạt tới mà có thể còn vượt xa hơn Sự lớn mạnh không ngừng của tầnglớp doanh nhân cũng như sự đa dạng, phong phú của nó (nguồn gốc xuất thân, tuổitác, các đặc trưng theo giới, trình độ học vấn, quy mô, loại hình, vốn đầu tư hoạtđộng, liên kết tổ chức, vùng miền sản xuất đầu tư, kinh doanh, ) sẽ tạo ra một cụcdiện mới cho nền kinh tế cũng như đặt ra những yêu cầu bức bách hơn đối vớinhững thay đổi trong chính sách, thể chế pháp luật cho phù hợp
d, Vị thế và vai trò đối với đất nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2018 ước tính tăng 7,31% so vớicùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,90%;khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,65% và khu vực dịch vụ tăng 7,61% Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế một phần đóng góp không nhỏcủa các giai cấp và tầng lớp lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xâydựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%.Giai cấp nông dân hay số lượng nông dân tuy giảm về số lượng nhưng chất lượngđạt mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2012 - 2018, khẳng định xu thế công
Trang 18nghiệp hóa, chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, mặt khác giá bán sảnphẩm ổn định cùng với thị trường xuất khẩu được mở rộng là động lực chính thúcđẩy sản xuất của khu vực này
1.4 Kết luận
a, Vai trò chủ đạo
Các giai cấp là cơ cấu quy định, đặc trưng cho sự khác biệt xã hội Là hạtnhân cơ bản, yếu tố cấu thành quan trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước.Mỗi giai cấp đều đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và đổimới đất nước Đặc biệt là các doanh nghiệp đang phát triển mạnh về số lượng lẫnchất lượng Họ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước
Đã và đang giải quyết vấn đề việc làm cho các giai cấp còn lại và đóng góp mộtphần GDP lớn cho đất nước, làm phát triển kinh tế, giúp Việt Nam có vị thế hơntrước các nước tư bản khác Ta cũng không thể phủ nhận sự cố gắng của giai cấpcông nhân trong công cuộc đổi mới đất nước Trong giai đoạn công nghiệp hóahiện đại hóa, giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng đi đầu trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; trở thành chỗ dựavững chắc của Đảng và Nhà nước, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng, củng cốkhối liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, nền tảngcủa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tích cực vào việc xây dựng hệ thốngchính trị vững mạnh Giai cấp công nhân là lực lượng chủ yếu vận hành, sử dụngnhững phương tiện, công cụ sản xuất hiện đại, góp phần đẩy nhanh tốc độ pháttriển của nền kinh tế; tích cực thi đua “Lao động giỏi với năng suất, chất lượng,hiệu quả cao”; bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sảnxuất, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Trongviệc nâng cao tay nghề Tầng lớp tri thức phát triển về số lượng song cũng phát triển
về chất lượng sản phẩm tạo ra Khi ta xem xét nguồn nhân lực chất lượng cao, hay nóiđến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trước hết phải nói đến đội ngũ trí thức
bộ phận quan trọng, họ quyết định chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng phát triểncủa đất nước bằng việc tạo ra tư duy, tư tưởng, họ đã củng cố và phát triển hệ giá trị
Trang 19xã hội tạo nền tảng tinh thần cho xã hội vận động và phát triển Giai cấp nông dânViệt Nam đã có sự phát triển nhất định, bên cạnh những người làm nông chưa hiệuquả thì ta bắt gặp nhiều nông dân làm giàu từ nông sản và đã xuất khẩu thành côngnông sản ra nước ngoài đóng một phần không nhỏ trong GDP, quảng bá hình ảnh đấtnước Việt Nam xinh đẹp ra ngoài nước Và điều quan trọng cuối cùng họ cung cấpnông phẩm cho mọi người để ta nuôi sống cơ thể Đúng vậy, như Đảng ta đã chỉ rõ:
“Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranhtrong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng.”
b, Tác động
Các giai cấp ngày càng năng động hơn, sáng tạo và chủ động hơn Tuy nhiên,
do giữa các tầng lớp và giai cấp vừa có sự tương đồng, vừa có những khác biệt nhấtđịnh về mặt lợi ích, cho nên mối quan hệ giữa các giai tầng trong xã hội Việt Namhiện nay là mối quan hệ vừa hợp tác và vừa đấu tranh với nhau Tầng lớp tư sản đónggóp phần lớn GDP cả nước, tạo công ăn việc làm cho toàn thể giai cấp Song họ cũngbóc lột sức lao động của giai cấp công nông dân và tri thức Đồng thời nhiều doanhnghiệp đã thải chất thải ra môi trường làm ảnh hưởng đến cảnh quan và không khí.Tầng lớp nông dân dần chuyển sang lao động công nghiệp Giai cấp công nhân lạicàng đông thêm đông, đã đóng một vai trò quan trọng trong lực lượng sản xuất Cónhiều nông dân biết áp dụng công nghệ khoa học vào sản xuất nông sản thu đượcthành công rất đáng nể như phát triển giống mới đem lại năng suất cao, xuất khẩuthành công nông sản ra thế giới và đạt được những con số rất ấn tượng Tầng lớp trithức cũng đáng được tán dương khi đã phát minh ra nhiều sản phẩm mới, thực hiệnhóa công nghiệp - khoa học, đem chúng đi thực vào đời sống Và sẽ còn nhiều phátminh nữa trong tương lai Cùng đó đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo vàtruyền bá tri thức
Trang 202 Cơ cấu xã hội - lao động
2.1 Bức tranh đa chiều
Cơ cấu xã hội - lao động là kết cấu và mối quan hệ xã hội giữa các lựclượng lao động, nghề nghiệp lao động khác nhau trong xã hội
Cơ cấu lao động xã hội thường được thể hiện dưới dạng: cơ cấu lao độngthành thị, nông thôn; cơ cấu lao động chia theo giới tính, độ tuổi; cơ cấu laođộng chia theo tình trạng thất nghiệp, có việc làm của những người trong độtuổi lao động, Khi nghiên cứu cơ cấu xã hội theo tiêu chí này, chúng ta quantâm nhiều đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong một khoảng thời gian,không gian nhất định Có thể thấy, sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nước tahiện nay chủ yếu theo hướng lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn dầnchuyển sang lao động tại khu vực công nghiệp, dịch vụ Sự chuyển dịch cơ cấulao động này gắn liền với quá trình phát triển kinh tế theo định hướng côngnghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta hiện nay Ở một góc độ nào đó, ta thấyrằng cơ cấu xã hội - lao động dường như là tấm gương phản chiếu trình độ pháttriển của xã hội đó
2.2 Thực trạng
a, Nghề nghiệp
Trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước, cùng với sự thay đổicủa nền kinh tế, cơ cấu nghề nghiệp của Việt Nam cũng có những sự biến độngrất rõ nét, cụ thể là:
- Trước đổi mới (trước năm 1986): Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam
là một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp Ở giai đoạn này, nền kinh tếViệt Nam chỉ có nông nghiệp và một số ít công nghiệp, đồng thời khu vực dịch
vụ chưa được chú trọng đẩy mạnh, phát triển Kéo theo đó, các ngành nghềliên quan đến lĩnh vực nông nghiệp cũng xuất hiện nhiều hơn trong xã hộichẳng hạn như nghề bán lương thực, thực phẩm, Đồng thời sự đa dạng trong
Trang 21việc lựa chọn việc làm của người lao động cũng rất hạn chế Vì vậy có thểthấy, số người lao động tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng rấtlớn, còn số lao động tham gia vào khu vực công nghiệp, dịch vụ lại chiếm tỷtrọng rất nhỏ.
- Sau đổi mới (từ 1986 đến nay): Nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã bóchặt sự phát triển của Việt Nam với rất nhiều tồn đọng, hạn chế chẳng hạnnhư: lạm phát tăng cao, sản xuất trì trệ, khủng hoảng kinh tế,… Chính vì vậy,nhà nước đã quyết định đổi mới, cải cách nền kinh tế Chuyển từ nền kinh tếtập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với chủtrương công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Cùng với đó là sự chuyển dịchcủa nền kinh tế, từ một nền kinh tế với khu vực nông nghiệp là chủ yếu chuyểnsang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ là chủ yếu Từ đó chúng ta cũng thấyđược sự thay đổi rõ nét trong cơ cấu nghề nghiệp Nhiều ngành nghề mới cónăng suất cao đã xuất hiện, nâng cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao độnglên cao hơn hẳn so với thời kỳ trước Các ngành nghề liên quan đến lĩnh vựccông nghiệp dịch vụ cũng được người lao động quan tâm, nhà nước chú trọngđầu tư, phát triển hơn Vì vậy mà tỷ lệ người lao động tham gia vào khu vựccông nghiệp, dịch vụ giai đoạn này đã tăng cao, chiếm tỷ trọng lớn hơn so với
số người lao động tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp Có thể thấy sự thay đổicủa nền kinh tế dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu nghề nghiệp , từ đó cơ cấu xãhội - lao động cũng có sự biến đổi
Trang 22b, Cơ cấu lao động
Cơ cấu xã hội - lao động có thể được chia theo giới tính, độ tuổi, trình độ họcvấn, trình độ đào tạo, Cụ thể là:
Thông qua biểu đồ chúng ta có thể thấy rằng lực lượng lao động chủ yếu lànam giới Năm 2017, lực lượng lao động là nam giới chiếm 52%, năm 2018 chiếm52,2%, năm 2019 chiếm 52,7% Có thể thấy, trong giai đoạn từ 2017-2019 laođộng là nam giới có xu hướng tăng, ngược lại lao động là nữ giới lại có xu hướnggiảm Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2017-2019 chúng ta đã thấy được sự thay đổitrong cơ cấu xã hội - lao động thông qua việc phân chia lực lượng lao động theogiới tính
Bảng 1 Cơ cấu xã hội - lao động theo độ tuổi (đơn vị:%)
Trang 232018 100 12.8 60.2 27
Bảng 1 cho thấy phần lớn lực lượng lao động trong độ tuổi từ 25 - 49 Cụ thể,năm 2017 lực lượng lao động trong độ tuổi 15 - 24 là 13,9% và đã giảm xuống12,8% trong năm 2018 và 2019 Ngược lại, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 25 -
49 lại có xu hướng tăng từ 59,4% vào năm 2017 đã tăng lên 61,5% vào năm 2019.Nhìn chung trong giai đoạn này lực lượng lao động trong độ tuổi từ 25 - 49 chiếm tỷtrọng cao nhất, theo sau đó là độ tuổi từ 50 trở lên và cuối cùng là nhóm có độ tuổi
từ 15-24
Bảng 2 Cơ cấu xã hội - lao động theo trình độ đào tạo.
Theo số liệu từ Tổng cục thống kê thì năm 2016 tỷ lệ lao động đang làm việctrong nền kinh tế đã qua đào tạo là 20,9% Năm 2017 là 21,6%, tăng 0,7% so vớinăm 2016 Và tiếp tục tăng trong năm 2018, năm 2018 tỷ lệ này là 22% Đến năm
2019, tỷ lệ này đã tăng lên đến 22,8% Nhìn chung trong những năm trở lại đây, tỷ
lệ lao động đã qua đào tạo có xu hướng tăng, dự đoán rằng tỷ lệ này sẽ tiếp tụctăng trong tương lai
c, Lực lượng lao động
Trong xã hội học khi nghiên cứu cơ cấu xã hội - lao động, chúng ta có thểchia lực lượng lao động theo lãnh thổ, khu vực kinh tế Hiện nay, lực lượng laođộng vẫn tập trung đông nhất ở khu vực đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là khuvực Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long Đây
là các khu vực có diện tích đất rộng, tập trung nhiều thành phố lớn, khu đô thị
Trang 24và nhiều khu công nghiệp, thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh nên thu hútđông đảo lao động tập trung ở những khu vực này Nếu chia lực lượng laođộng theo hai khu vực thành thị và nông thôn thì chúng ta cũng thấy được một
sự chênh lệch lớn trong cơ cấu lao động giữa hai khu vực này Nhìn chung, lựclượng lao động nước ta tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, chiếm khoảng70% Con số này có xu hướng giảm qua các năm nhưng về cơ bản vẫn ở mứccao Tuy lực lượng lao động tập trung nhiều ở khu vực nông thôn nhưng phầnlớn trong số này lại chưa qua đào tạo, đây được coi là một trở ngại lớn khi giảiquyết các vấn đề liên quan đến lao động, việc làm
d, Tỷ lệ lao động có việc, tỷ lệ thất nghiệp
- Lao động có việc làm
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2019 ước tính là 54,7 triệungười, tăng 416 nghìn người so với năm 2018 (trong đó khu vực thành thị đạt18,1 triệu người, chiếm 33,1%) Bước sang năm 2020, lao động từ 15 tuổi trởlên có việc làm trong quý 4 năm 2020 là gần 54 triệu người, giảm so với năm
2019, đó là bởi sự tác động mạnh mẽ của dịch Covid-19
- Lao động thất nghiệp
Nhìn chung, trong vài năm trở lại đây tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam có
xu hướng giảm Năm 2017 tỷ lệ thất nghiệp là 2,24%, giảm 0,06% so với năm
2016 Năm 2018 tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 2,19%, và trong năm 2019 tỷ lệnày đã giảm 0,02%, còn 2,17% Nhưng dưới những tác động mạnh mẽ của đạidịch Covid-19, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam đã tăng 0,31%, đạt mức 2,48%trong năm 2020 Có thể thấy Việt Nam vẫn đang kiểm soát tốt tình hình laođộng việc làm của cả nước trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh
2.3 Kết luận
Nhìn chung, cơ cấu xã hội - lao động có thể được coi là một thước đotrình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam Thông qua việc phân tích các
Trang 25khía cạnh khác nhau của cơ cấu xã hội - lao động, chúng ta thấy rằng phần lớnlao động của nước ta là nam giới có độ tuổi từ 25 - 49 Đồng thời, số lượng laođộng đã qua đào tạo ngày một tăng lên, tỷ lệ người thất nghiệp nhìn chung có
xu hướng giảm qua các năm Bên cạnh đó, sự phân bố lực lượng lao động cũng
có những thay đổi nhất định Ban đầu lao động tập trung chủ yếu ở khu vựcnông, lâm nghiệp và thủy sản nhưng sau đó lực lượng lao động lại tập trungchủ yếu tại khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Kéo theo đó là sự thayđổi trong cơ cấu nền kinh tế, sự chênh lệch giữa các ngành nghề trong xã hội.Những ngành nghề liên quan đến khu vực công nghiệp, dịch vụ được người laođộng ưu tiên lựa chọn hơn so với những ngành nghề trong khu vực nông, lâmnghiệp và thủy sản Còn đối với nền kinh tế, sự thay đổi đó được thể hiệnthông qua sự dịch chuyển từ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang khuvực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, đúng với chủ trương công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước đã được đề ra Tất cả những thay đổi đó dẫn đến sự thayđổi trong cơ cấu xã hội để phù hợp với những định hướng chiến lược đã đề ranhằm xây dựng và phát triển đất nước
3 Cơ cấu xã hội - dân số
3.1 Bức tranh đa chiều
Cơ cấu xã hội - dân số là kết cấu và mối liên hệ xã hội trong thực tại của táisản xuất nhân khẩu (mức sinh, mức tử), của tỷ lệ giữa các mức tuổi, của chỉ số giớitính, của mật độ dân số, của biến động dân cư (di dân), của quy mô gia đình vàquan hệ thế hệ (tộc họ)
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân một nước hay một vùng thành cácnhóm, các bộ phận theo một tiêu thức đặc trưng nhất định Nó được hình thànhdưới tác động của sự thay đổi mức sinh, mức tử và sự di dân
Cơ cấu dân số Việt Nam được nghiên cứu kết hợp theo hai hướng:
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi
Trang 26- Cơ cấu dân số theo giới tính
3.2 Những vấn đề cơ bản của dân số (số liệu năm 2019)
- Tổng số dân:
Tổng số dân của Việt Nam là 96.208.984 người (tính đến thời điểm thốngkê), trong đó, dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%) và dân số nữ là48.327.923 người (chiếm 50,2%) Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trongkhu vực Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-li-pin) và thứ 15 trên thế giới.Sau 10 năm, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người Tỷ lệ tăngdân số bình quân năm giai đoạn 2009 - 2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so vớigiai đoạn 1999 -2009 (1,18%/năm)
Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với22,5 triệu người, chiếm 23,4% tổng dân số cả nước Tây Nguyên là nơi có ítdân cư sinh sống nhất với 5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước Giaiđoạn 2009 - 2019, Đông Nam Bộ có tỷ lệ tăng dân số bình quân cao nhất cảnước, 2,37%/năm; Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ tăng dân số bình quânthấp nhất, 0,05%/năm
- Quy mô hộ:
Tổng số hộ dân cư trên cả nước là 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ
so với cùng thời điểm năm 2009 Bình quân mỗi hộ có 3,6 người/hộ, thấp hơn0,2 người/hộ so với năm 2009 Trong giai đoạn 2009 - 201 9, tỷ lệ tăng bìnhquân số hộ dân cư là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn
1999 - 2009 và là giai đoạn có tỷ lệ tăng số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40năm qua
- Mật độ dân số:
Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy, mật độ dân số của Việt Nam là 290người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009 Với kết quả này, Việt Nam là
Trang 27quốc gia có mật độ dân số đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, sau pin (363 người/km2) và Xin-ga-po (8.292 người/km2).
Phi-li-Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có mật độ dân số caonhất toàn quốc, tương ứng là 1.060 người/km2 và 757 người/km2 Đây lànhững vùng bao gồm hai địa phương đông dân nhất cả nước, trong đó Hà Nộithuộc vùng Đồng bằng sông Hồng với mật độ dân số là 2.398 người/km2 vàthành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng Đông Nam Bộ với mật độ dân số là 4.363người/km2
Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng có mật độ dân
số thấp nhất, tương ứng là 132 người/km2 và 107 người/km2 Thành phố HồChí Minh có mật độ dân số cao nhất, cao hơn gần 86 lần so với tỉnh Lai Châu(có mật độ dân số là 51 người/km2), là địa phương có mật độ dân số thấp nhất
từ 80 tuổi trở lên (48,6 nam/100 nữ) Tỷ số giới tính gần như cân bằng ở nhóm
45 49 tuổi (100,2 nam/100 nữ) và bắt đầu giảm xuống dưới 100 ở nhóm 50
Trang 28Trong vòng 30 năm qua, mức sinh của Việt Nam đã giảm gần một nửa:tổng tỷ suất sinh (TFR) giảm từ 3,80 con/phụ nữ vào năm 1989 xuống còn 2,09con/phụ nữ vào năm 2019 Việt Nam vẫn duy trì mức sinh ổn định ở mức thaythế trong hơn một thập kỷ qua, xu hướng sinh hai con vẫn là phổ biến
Hiện nay, mức sinh của khu vực nông thôn cao hơn của khu vực thành thị
và cao hơn mức sinh thay thế, TFR tương ứng là 2,26 con/phụ nữ và 1,83 con/phụ nữ Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là các vùng có mứcsinh cao nhất cả nước, với TFR mỗi vùng là 2,43 con/phụ nữ Đông Nam Bộ
và Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có mức sinh thấp nhất cả nước, TFRtương ứng là 1,56 con/phụ nữ và 1,8 con/phụ nữ
Năm 2019, trong số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh HàTĩnh có mức sinh cao nhất (2,83 con/phụ nữ), cao hơn gấp hai lần so với địaphương có mức sinh thấp nhất là Thành phố Hồ Chí Minh (1,39 con/phụ nữ).Trong vòng 10 năm qua, toàn quốc có 29 tỉnh ghi nhận mức sinh giảm và 33tỉnh ghi nhận mức sinh tăng, Sóc Trăng là địa phương duy nhất có mức sinhkhông thay đổi
Trong số các dân tộc có quy mô dân số trên 1 triệu người (Kinh, Tày, Thái,Khmer, Mường, Mông, Nùng), dân tộc Mông có mức sinh cao nhất Trải qua bathập kỷ, mức sinh của các dân tộc này đều giảm, trong đó dân tộc Mông có mứcsinh giảm nhiều nhất (năm 1989: 9,30 con/phụ nữ; năm 2009: 4,96 con/phụ nữ;năm 2019: 3,59 con/phụ nữ) Hiện nay, chênh lệch về mức sinh giữa các nhómdân tộc đang có xu hướng thu hẹp dần
Năm 2019, phụ nữ di cư có mức sinh thấp hơn phụ nữ không di cư vớiTFR tương ứng là 1,54 con/phụ nữ so với 2,13 con/phụ nữ; phụ nữ có trình độhọc vấn càng cao thì mức sinh càng thấp, TFR của nhóm phụ nữ có trình độ trêntrung học phổ thông là thấp nhất (1,98 con/phụ nữ) và của nhóm có trình độdưới tiểu học là cao nhất (2,35 con/phụ nữ); phụ nữ sống trong các hộ nghèonhất có mức sinh cao nhất trong 5 nhóm mức sống (2,4 con/phụ nữ), phụ nữsống trong các hộ giàu nhất có mức sinh thấp nhất (2 con/phụ nữ)