CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 20112020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 20112020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 20112020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 20112020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 20112020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 20112020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 20112020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
- -BÀI THẢO LUẬN
MÔN: CHÍNH SÁCH KINH TẾ XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC
VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN
2011-2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030.
Giáo viên giảng dạy : Dương Hoàng Anh
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Lớp HP: 2104TECO2051
Trang 2Hà Nội - 2021
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4Lời mở đầu
Trong thời đại hiện nay, y tế luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng Đối với sự phát
triển của kinh tế, xã hội Ngành y tế không chỉ đảm bảo sức khỏe cho con người lao động,học tập mà còn đảm bảo về chất lượng cuộc sống Thấy được sự quan trọng của y tế, Nhànước đã ban hành nhiều chính sách lớn, những định hướng cụ thể đúng đắn giúp cho nền
y tế nước ta phát triền từ đó bảo đảm mọi người dân, đặc biệt người nghèo, đồng bào dân
tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, người dân vùng khó khăn, vùngsâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm người dễ bị tổn thương được tiếp cận vớidịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng
Chính vì vậy, nhóm 5 đã chọn đề tài: “Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc vànâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030” nhằm giúpmọi người có cái nhìn toàn cảnh và chân thực về việc tổ chức thực thi, những nhành tựuđạt được của chính sách từ đó đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu thựcthi của chính sách
Trang 5Chương I: Cơ sở lý luận
1.1.Khái niệm về Chính sách y tế
Chính sách y tế gồm những quá trình hành động tác động đến một loạt các cơquan, tổ chức, các dịch vụ y tế và việc phân bổ kinh phí của hệ thống y tế Tuy nhiên nókhông chỉ dừng ở mức các dịch vụ y tế mà bao gồm cả các chủ trương đã được thực hiệnhoặc dự kiến thực hiện bởi các tổ chức Nhà nước, tư nhân, tình nguyện nhằm tác độngđến sức khỏe
Chính sách y tế không chỉ là của riêng ngành y tế mà của toàn xã hội, trong đó cáccác cơ sở y tế đóng vai trò chủ đạo và thực hiện cung cấp các dịch vụ y tế Chính sách y
tế là một bộ phận không tách rời của các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước Ví dụ:chính sách hỗ trợ người nghèo trong khám chữa bệnh ( Quyết định 139 của Thủ tướngchính phủ) là một định hướng cho nền y tế công bằng hơn, do Chính phủ ban hành, các
bộ nghành: Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ lao động thương binh và
xã hội cùng các chính quyền cùng cấp phối hợp thực hiện
1.2 Mục tiêu của chính sách y tế
Mục tiêu của mỗi chính sách y tế khác nhau sẽ khác nhau, vì mục tiêu của chínhsách đặt ra nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt, do vậy ứng với mỗi thờiđiểm khác nhau, mỗi vấn đề khác nhau sẽ có những chính sách khác nhau được đề ra đểgiải quyết vấn đề đó Mỗi chính sách y tế sẽ được xây dựng với mục tiêu tổng quát vàmục tiêu cụ thể Mục tiêu tổng quát của chính sách y tế nhằm vào việc tăng cường hiệuquả của hệ thống cung ứng dịch vụ y tế và đảm bảo công bằng, sao cho những cộng đồngnghèo, chậm phát triển nhận được sự ưu tiên nhiều nhất Mục tiêu cụ thể của mỗi chínhsách sẽ khác nhau tùy thuộc vào vấn đề y tế được đưa ra để giải quyết, trong đó các mụctiêu cụ thể phải được nêu rõ ràng, có thể đo lường, ước lượng được sự tiến bộ sau mộtkhoảng thời gian Ví dụ: Giảm tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi từ 64‰ xuống còn 40‰sau 5 năm (không thể nói: cố gắng/ phấn đấu giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi ) Vềchủ trương, mục tiêu chính sách y tế phải phù hợp với đường lối của Đảng Như vậy, khiđặt mục tiêu cần chú trọng tới tình hình thực tiễn, đảm bảo nguồn lực thực thi, có tínhkhả thi, có khả năng duy trì tới tính hợp pháp và theo đúng đường lối Đảng và Nhà nướcthì khả năng sẽ nhận được sự ủng hộ của cộng đồng
1.3.Các yếu tố cơ bản quyết định đến chính sách y tê.
Trang 6Chính sách y tế có thể ở tầm vĩ mô do Chính phủ ban hành và các Bộ chủ trì phốihợp thực hiện hay cũng có thể được ban hành, triển khai ở từng vùng, từng địa phươngkhác nhau Để triển khai các chính sách từ Trung ương xuống địa phương (thường là cấptỉnh), Sở Y tế sẽ tham mưu cho UBND tỉnh để đưa ra các thông tư hướng dẫn y tế cho địaphương Dù bản thân chính sách được xây dựng ở cấp nào thì yếu tố quyết định tới sựhình thành chính sách cũng như nhau Có rất nhiều yếu tố tác động đến quyết định hìnhthành chính sách y tế, và một trong những yếu tố cơ bản đó có thể kể đến như sau:
Các vấn đề sức khỏe
Tại mỗi quốc gia, mỗi địa phương, trong những thời gian khác nhau có những vấn
đề sức khỏe tồn tại ở mức trầm trọng khác nhau Trong đó có những vấn đề từ lịch sử vàcòn kéo dài nhiều năm tới hàng thập kỷ mà việc giải quyết nó gắn chặt với quá trình pháttriển kinh tế - xã hội Chính sách y tế đặt ra mục tiêu cho mình không phải là giải quyếthoàn toàn vấn đề trong một thời gian ngắn mà giảm nhẹ hoặc bảo vệ những đối tượng cónguy cơ cao, đối tượng nghèo, gia đình chính sách Để nhận biết vấn đề sức khỏe cần dựavào gánh nặng bệnh tật trong đó có các số liệu từ thống kê y tế, trong đó chú ý tới 10bệnh mắc với tỷ lệ cao nhất, 10 nguyên nhân gây chết cao nhất, tới các bệnh dịch địaphương Các vấn đề sức khỏe cũng còn dựa trên những dự báo về tình hình sức khỏe –bệnh tật trong cộng đồng ( vì chính sách y tế nhằm giải quyết những vấn đề sức khỏetrong tương lai gần) và phân tích vấn đề sức khỏe cho 3 nhóm bệnh:
+ Các loại bệnh truyền nhiễm, tai biến sản khoa, chết chu sinh và suy dinh dưỡng+ Các loại bệnh không truyền nhiễm
+ Các loại chấn thương, tai nạn
Nguồn lực y tế
Nguồn lực ở đây bao gồm nhân lực, kinh phí (đầu tư y tế quốc gia và địa phương),
cơ sở vật chất (bao gồm cả thuốc) trong thời gian hiện tại và tương lai
Nguồn nhân lực y tế không chỉ ở số lượng mà ở cả trình độ, khả năng điều độngnhân lực Ở nước ta cán bộ Y tế trên dân số khá cao so với những nước có thu nhập thấphơn vài lần Tuy nhiên, trình độ còn hạn chế, ít được đào tạo liên tục và điều kiện làmviệc còn thiếu thốn Mặt khác, lại phân bố không hợp lý do chế độ đãi ngộ chưa thỏađáng và mức sống chênh lệch giữa các vùng Hiện nay, bắt đầu xuất hiện tình trạng “chảy
Trang 7trường có xu hướng muốn làm việc cho các tư nhân nhiều hơn, dẫn tới tình trạng thiếudược sỹ trầm trọng ở một số tỉnh, đặc biệt là tỉnh có nền kinh tế khó khăn Dưới góc độcông bằng, phân bố nhân lực y tế (cả về số lượng và chất lượng) phải giảm thiểu tối đa sựchênh lệch giữa các khu vực nông thôn, thành thị và vùng núi vùng sâu vùng xa
Về nguồn lực tài chính, do vùng nghèo có khả năng thu phí thấp, ngân sách y tếchủ yếu từ Nhà nước vì vậy bình quân chi phí y tế trên đầu dân thấp hơn so với bình quânchung cả nước, vì vậy Nhà nước đã ưu tiên đầu tư cho vùng nghèo bằng cách tăng mứcđầu tư ngân sách trên đầu người cao hẳn, tuy nhiên mức này vẫn chưa đủ xóa đi sự cáchbiệt Ví dụ: bình quân chi cho một giường bệnh tuyến tỉnh ở thành phố lớn lên đến 100triệu đồng tỏng khi đó nhiều tỉnh chỉ đạt 40 đến 50 triệu đồng Để đảm bảo đầu tư có hiệuquả, cân đối mức đầu tư cho các lĩnh vực khác nhau là hết sức quan trọng Tính côngbằng thể hiện trong một chính sách bao gồm công bằng trong cung cấp các dịch vụ y tế
và công bằng trong phân bổ các nguồn lực y tế
Chính sách và các chương trình phát triển tổng thể KT-VH-XH
Các chính sách kinh tế, xã hội của một đất nước tác động mạnh mẽ tới chính sách
y tế Không dựa trên chính sách này, chính sách y tế sẽ không thể khả thi, cũng nhưkhông thể đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội
Luật pháp và các quy chế hành chính hiện hành
Luật pháp và các quy định hành chính là những cơ sở pháp lý cho việc đề ra chínhsách y tế Càng đưa vào luật pháp bao nhiêu, khả năng thực thi chính sách càng nhiều bấynhiêu Nhà nước đã ra các luật bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, luật môi trường, luật laođộng, luật bảo vệ phụ nữ, Do vậy cần nghiên cứu kỹ các bộ luật này trước khi quyếtđịnh chính sách y tế
Ngoài ra, hiện trạng kinh tế - xã hội, đặc điểm địa lý, dân cư, cũng là các yếu tốquan trọng khi xem xét đến vấn đề chính sách y tế
1.4 Đề xuất giải pháp thực hiện các mục tiêu.
Khi đề xuất giải pháp cần dựa trên khả năng đảm bảo các nguồn lực Không có sựcam kết đảm bảo nguồn lực từ phía Nhà nước hoặc từ cộng đồng thì bất cứ giải pháp nàođặt ra cũng sẽ khó hoặc không thực hiện được
Trang 8Những giải pháp có thể ở tầm vĩ mô để bao quát toàn bộ các lĩnh vực, song cũngcần có những giải pháp ở tầm vi mô để giải quyết từng vấn đề rất cụ thể của một lĩnh vực,một địa phương và trong một thời gian xác định Ví dụ, ở tầm vĩ mô người ta đưa ra giảipháp đảm bảo lương cho cán Bộ Y tế nhằm củng cố nguồn nhân lực (qua quyết định58/TTg), song do đặc điểm địa lý, kinh tế khác nhau giữa các vùng, chế độ lương ở miềnnúi phải cao hơn ở miền xuôi để tăng tính hấp dẫn cán bộ lên làm việc ở vùng khó khăn.Thêm vào đó, mỗi tỉnh lại có cách vận dụng Quyết định này không hoàn toàn giống nhau
để đảm bảo trả lương công bằng cho cán Bộ Y tế
Việc đề xuất chiến lược y tế có thể dựa trên những quan điểm khác nhau Quanđiểm đặt yếu tố hiệu quả lên trên nghĩa là bằng mọi cách để có chi phí thấp nhất nhưnglại cải thiện được tình trạng sức khỏe cao nhất (hiệu quả trong chi phí) Chi phí hợp lýnhất để không lãng phí nguồn lực (hiệu quả về kỹ thuật) và sử dụng hợp lý nhất cácnguồn lực y tế vẫn bị hạn chế để mang lại lợi ích nhiều nhất (hiệu quả trong đầu tư, phân
bổ nguồn lực) Cần lưu ý rằng, không bao giờ coi hiệu quả là yếu tố quyết định đầu tư,vìdịch vụ y tế rất đặc biệt, không phải là hàng hoá, không có mua bán, mà điều quan trọng
là tìm giải pháp nào để đạt được mục tiêu công bằng với hiệu quả cao nhất Về quan điểmnày, Ngân hàng thế giới là cơ quan chủ xướng, đề xuất hai tổ hợp dịch vụ:
Tổ hợp dịch vụ y tế công cộng: Gồm tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe họcđường (tẩy giun, dinh dưỡng, giáo dục sức khỏe), tăng cường kiến thức của cộng đồng vềdân số KHHGĐ, tự chữa bệnh hay chỉ dẫn tới nơi khám chữa bệnh và khống chế cácbệnh truyền nhiễm, các chương trình chống hút thuốc lá, uống rượu và nghiện hút, khốngchế các bệnh hoa liễu, AIDS
Tổ hợp lâm sàng gồm: Chăm sóc thai sản, KHHGĐ, quản lý trẻ ốm, điều trị bệnhlao và quản lý các trường hợp bị bệnh lây qua đường tình dục
Cũng nhờ chú trọng tới 2 tổ hợp các dịch vụ trên mà sức khỏe của nhóm dânnghèo cũng được chăm sóc tốt hơn (vì đó là bệnh, các vấn đề gắn liền với nghèo đói).Tuy nhiên ở mỗi nước cần xác định cho mình những chăm sóc thiết yếu phù hợp với nhucầu cụ thể trong các thời điểm và địa phương khác nhau Quan điểm này phần nào phùhợp hơn với hoàn cảnh nước ta, nhất là khi sự biến chuyển về kinh tế đang diễn ra rấtnhanh Chính sách phải vừa đảm bảo quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, vừa
Trang 9phải linh hoạt ứng phó với tình hình biến đổi trong từng giai đoạn thời gian, hoặc sự khácbiệt giữa các vùng địa lý kinh tế khác nhau.
Chương II: Chính sách về Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030.
2.1.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và tàn tật; khống chế các bệnh truyền nhiễm, các bệnh gây dịch thường gặp và mới nổi, không để dịch lớn xảy ra Hạn chế, tiến tới kiểm soát các yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây nhiễm, các bệnh liên quan đến môi trường, lối sống, hành vi, an toàn vệ sinh thực phẩm, dinh dưỡng, bệnh học đường
- Nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ở tất
cả các tuyến; giảm tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên Phát triển y tế phổ cập,bác sỹ gia đình, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao phủ y tế toàn dân kết hợp vớiphát triển y tế chuyên sâu Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Phát triển
y tế ngoài công lập, tăng cường phối hợp công – tư Hiện đại hóa và phát triển y học cổtruyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại
- Chủ động duy trì mức sinh thấp hợp lý, khống chế tốc độ tăng tỷ số giới tính khisinh, nâng cao chất lượng dân số, đáp ngứ đủ nhu cầu dịch vụ kế hoạch hóa gia đình củangười dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng, tăng cường
Trang 10lồng ghép các yếu tố về dân số vào hoạch định chính sách, kế hoạch phát triẻne kinh tế
-xã hội ở các cấp, các ngành
- Phát triển nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng; tăng cường nhân lực
y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và một sốchuyên khoa; chú trọng phát triển nhân lực y tế có trình độ cao; mở rộng đào tạo điềudưỡng trình độ đại học, cao đẳng, tiến tới đạt cơ cấu hợp lý giữa bác sỹ và điều dưỡng, kỹthuật viên…, bảo đảm cân đối giữa đào tạo và sử dụng nhân lực y tế
- Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính ngành y tế, tăng nhanh đầu tư côngcho y tế, phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, giảm tỷ lệ chi trực tiếp từ hộ gia đình chochăm sóc sức khỏe; sử dụng nguồn tài chính y tế hiệu quả
- Bảo đảm cung ứng đủ thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, máu, chế phẩm máu vàtrang thiết bị y tế có chất lượng với giá cả hợp lý đáp ứng nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnhcủa nhân dân; quản lý, sử dụng thuốc và trang thiết bị hợp lý, an toàn và hiệu quả
- Nâng cao năng lực quản lý và năng lực thực hiên chính sách y tế, đẩy mạnh cảicách hành chính, phát triển hệ thống thông tin y tế đáp ứng nhu cầu đổi mới và phát triểnngành y tế
2.1.1.3 Các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2015 và năm 2020:
Trang 112.1.1.4 Mục tiêu định hướng đến năm 2030
Đến 2030, hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương được hoàn thiện, hiện đại,phù hợp với từng vùng, miền; mạng lưới y tế cơ sở được củng cố vững chắc; y tế chuyênsâu, y tế mũi nhọn đặt ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực Hài hòa giữa y tếcông lập và y tế ngoài công lập, trong đó y tế công lập giữ vai trò nòng cốt; kết hợp tốt y
Trang 12học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc; mọi người dân đều được hưởng các dịch vụchăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng cao Tài chính cho y tế chủ yếu từ ngân sách nhànước và bảo hiểm y tế Mọi người dân được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt
về thể chất và tinh thần, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2.1.2 Nội dung của chính sách
- Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; dịch vụ y tế công là dịch vụ xã hội đặc biệt, không vì mục tiêu lợi nhuân; đầu tư cho y tế là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế Việt Nam theo hướng Công bằng – Hiệu quả
- Phát triển; bảo đảm mọi người dân, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số,trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo và các nhóm người dễ bị tổn thường được tiếp cận với dịch vụchăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng
- Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là bổn phận của mỗi ngườidân, mỗi gia đình và cộng đồng; là trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp ủy Đảng,chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội nghề nghiệp,trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật
- Nhà nước thống nhất quản lý vĩ mô, định hướng phát triển sự nghiệp bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân thông qua hệ thống pháp luật và chính sách;điều tiết, phân bổ nguồn lực; quản lý chất lương dịch vụ và giá dịch vụ y tế
- Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính trong các đơn vị y tế gắn với việcthực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân để nhanh chóng thích ứng với thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa trong các hoạt động của ngành y tế
- Kết hợp hài hòa giữa củng cố mạng lưới y tế cơ sở với phát triển y tế chuyên sâu;giữa phát triển y tế công lập với y tế ngoài công lập; giữa y học hiện đại với y học cổtruyền
2.2 Thực trạng áp dụng chính sách về Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030
2.2.1 Thực trạng
2.2.1.1 Công tác tổ chức, triển khai thực hiện chính sách
Trang 131 Bộ Y tế:
– Đề xuất thành lập Ban Chỉ đạo để tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung của Chiến lược; phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án, bảo đảm phù hợp với các mục tiêu, nội dung, giải pháp của Chiến lược này
– Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương rà soát, thống
kê, đánh giá, sắp xếp danh mục đề án, dự án ưu tiên đầu tư
– Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài chính cho các đơn vị sự nghiệp y tế công lập Xây dựng các chính sách
khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động y tế
– Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các Bộ, ngành liên quan, với Ủy ban nhân dân các tỉnh có biển, đảo để xây dựng Quy hoạch phát triển hệ thống y tế biển đảo
– Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng có liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Chiến lược này; định kỳ hàng năm,
5 năm tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm; báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu nội dung Chiến lược trong trường hợp cần thiết
2 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối, bố trí vốn và hướng dẫn sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước 5 năm và hàng năm để thực hiện các nội dung của Chiến lược
3 Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện cơ chế, chính sách tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập
4 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội:
– Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan xây dựng các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm chính sách y tế cho các đối tượng dễ bị tổn thương (người nghèo, cận nghèo, người già, đối tượng bảo trợ xã hội…)
Trang 14– Chủ trì, phối hợp với Bộ y tế, Bộ Công Thương, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án chăm sóc, bảo vệ sức khỏe công nhân trong các nhà máy, công trường, xí nghiệp, khu công nghiệp.
5 Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì và phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan tổ chức, hoàn thiện mạng lưới đào tạo, nâng cao năng lực, tổ chức bộ máy và biên chế, phát triển nhân lực y tế; kiện toàn hệ thống y tế trường học, bảo đảm cơ
sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác y tế trường học, phối hợp với ngành y tế triển khai các chương trình chăm sóc sức khỏe cho học sinh, sinh viên
6 Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch, giải pháp phát triển bảo hiểm y tế, hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân
7 Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng các nội dung, giải pháp phù hợp
để giải quyết các vấn đề liên quan đến tác hại của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe và bảo vệ môi trường trong hoạt động y tế thuộc lĩnh vực được phân công quản lý
8 Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch hành động, triển khai các giải pháp an toàn giao thông, phòng chống tai nạn thương tích trong phạm vi được phân công quản lý
9 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ CôngThương xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý
10 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quanxây dựng Đề án vận động toàn dân luyện tập thể dục thể thao bảo vệ, nâng cao sức khỏe; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng các chương trình, đề án thể dục thể thao trong trường học nhằm nâng cao tầm vóc, thể lực của người Việt Nam
11 Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế xây dựng kế hoạch tổng thể kết hợp quân dân y bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và bộ đội, góp phần củng cố an ninhquốc phòng tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo
Trang 1512 Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các hoạt động phòng ngừa yếu tố gây nguy cơ có hại đến sức khỏe do lối sống không lành mạnh; phối hợp với Bộ Giao thông vận tải triển khai Luật an toàn giao thông.
13 Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn; xây dựng kế hoạch hành động triển khai chiến lược trong phạm vi tỉnh, thành phố; bố trí đất đai cho phát triển cơ sở y tế công lập và ngoài công lập; cân đối đủ kinh phí đầu tư và kinh phí hoạt động thường xuyên để thực hiện chiến lược Chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể địa phương thực hiện các nhiệm vụ được phân công liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
14 Các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan thông tin đại chúng căn cứ chứcnăng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, đề xuất, tổ chức thựchiện các đề án, dự án phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược Hàngnăm tiến hành tổng kết đánh giá kết quả thực hiện chiến lược, báo cáo Thủ tướng Chínhphủ và gửi Bộ Y tế để tổng hợp
2.2.1.2 Nguồn lực thực hiện chính sách
Điều 3 Bộ trưởng Bộ y tế, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này
Trang 16Công tác dự phòng và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm đã từng bước được triển khai có hiệu quả Từ năm 2011-2014, thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) đã sàng lọc, phát hiện và quản lý điều trị cho khoảng 600.000 người tăng huyết
áp, 236.000 tiền đái tháo đường và đái tháo đường, khoảng 10.000 người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản, trên 10% số xã thực hiện quản lý tăng huyết áp…
Quản lý môi trường y tế được tăng cường, việc xử lý chất thải y tế đã có những tiến bộ, có khoảng 54,4% các bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, tăng 12% so với năm 2010; trên 95% bệnh viện thực hiện phân loại, thu gom rác thải y tế nguy hại hàng ngày… Đã tổ chức tốt việc thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng dùng nước ăn uống, sinh hoạt Đẩy mạnh công tác quản lý sức khỏe môi trường lao động, đánhgiá tác động môi trường và quản lý hóa chất, chế phẩm diệt khuẩn, diệt côn trùng dùng trong gia dụng và y tế Việt Nam đã đạt MDG về tiếp cận nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh, năm 2014 có 92% hộ gia đình sử dụng nước sạch và 79,2% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh
Công tác phòng chống HIV/AIDS cũng đạt được một số kết quả nổi bật như: Tỷ lệnhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng được duy trì dưới 0,3% dân số, trong đó đạt cả 3 tiêu chí (giảm số ca nhiễm mới, số chuyển sang AIDS và số tử vong vì AIDS); giảm số trườnghợp nhiễm mới HIV từ 17.800 ca năm 2010 xuống 10.000 ca năm 2015; số bệnh nhân AIDS từ 8.900 ca năm 2010 xuống còn khoảng 6.500 ca năm 2015; tỷ lệ người nhiễm HIV điều trị ARV tăng từ 57,7% năm 2011 lên 67,6% năm 2015; số người nghiện ma túy được điều trị Methadone tăng từ 12.253 người lên 35.200 người năm 2015
Công tác an toàn thực phẩm được củng cố, công tác phối hợp liên ngành phòng chống mất an toàn, vệ sinh thực phẩm diễn ra thường xuyên, liên tục Cả nước đã tiến hành thanh, kiểm tra 2,6 triệu lượt cơ sở thực phẩm, cơ sở vi phạm chiếm khoảng 20%,
số tiền phạt khoảng 99,6 tỷ đồng, đồng thời công khai tên, địa chỉ cơ sở vi phạm để ngườidân biết Hệ thống tổ chức quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương, hệ thống kiểm nghiệm ATTP đã bước đầu đáp ứng nhu cầu kiểm nghiệm ATTP Công tác tuyên truyền, giáo dục về ATTP được đẩy mạnh
- Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng
5 năm qua, công tác khám chữa bệnh (KCB) cũng có những chuyển biến rõ rệt,
Trang 17bệnh, số người bệnh điều trị nội trú, ngoại trú; số ngày điều trị nội, ngoại trú, số phẫu thuật, thủ thuật năm sau tăng hơn so với năm trước, đạt bình quân 2,34 lượt
khám/người/năm; số giường bệnh/vạn dân tăng từ 21,5 giường năm 2011 lên 24 giường năm 2015 (nếu tính số giường bệnh thực kê thì tăng từ 24,7 lên 31,4 giường bệnh/vạn dân), thu hẹp dần khoảng cách của các chỉ số về tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ y tế giữa các vùng miền Nhờ quyết liệt thực hiện cải cách, đổi mới quy trình khám bệnh tại Khoa Khám bệnh ở tất cả các bệnh viện, quy trình khám bệnh đã giảm từ 12-14 bước xuống còn 4-8 bước tùy theo loại hình khám bệnh, so với năm 2012 thời gian khám bệnh giảm trung bình 48,5 phút/lượt khám, tiết kiệm được khoảng 27,2 triệu ngày công lao
động/năm, góp phần nâng cao chất lượng KCB, mang lại sự hài lòng cho người bệnh… Hoạt động hiệu quả của mô hình bệnh viện vệ tinh (BVVT) giúp giảm tỷ lệ chuyển tuyến đạt từ 65 đến 100% số ca chuyển tuyến ở những chuyên khoa thực hiện chuyển giao kỹ thuật ở các BVVT… Kỷ cương trong các cơ sở KCB đã được chấn chỉnh và kiểm soát thông qua việc phát huy hiệu quả Đường dây nóng ngành Y tế theo 3 cấp
Cùng với sự phát triển của y học hiện đại, hệ thống các cơ sở y học cổ truyền (YHCT) đã được hình thành và phát triển ở tất cả các tuyến, với 61 bệnh viện YHCT, 90
% các bệnh viện y học hiện đại có khoa, tổ YHCT, 74,3% các trạm y tế có bộ phận KCB bằng YHCT Tỷ lệ KCB bằng YHCT so với tổng KCB chung của từng tuyến đã có bước cải thiện đáng kể, cụ thể: tuyến tỉnh là 8,8%; tuyến huyện 9,1% và tuyến xã là 24,6% Chất lượng KCB bằng YHCT, kết hợp YHCT với y học hiện đại từng bước được nâng cao nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp: cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư; từng bước chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật; tăng cường chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật…
- Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em
Công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHĐ) là vấn đề chiến lược, quan trọng, là nhiệm vụ lớn của ngành Y tế Do đó, nhiều năm qua Bộ Y tế chú trọng đến công tác DS-KHHGĐ Hoạt động truyền thông thay đổi hành vi về DS-KHHGĐ được thực hiện đồng bộ trên phương tiện thông tin đại chúng và trực tiếp tại cộng đồng với nhiều nội dung mới, hình thức phong phú và đa dạng Giai đoạn 2012 -2015 chỉ tăng 0,18 điểm
%/năm (từ 111,9 bé trai lên 112,8 bé trai /100 bé gái) so với giai đoạn 2009-2011 tăng 0,7điểm %/năm Dịch vụ KHHGĐ được đưa đến với người dân của 5.700 xã có vùng mức sinh cao, vùng khó khăn Đã phân phối, cung cấp đầy đủ, kịp thời các phương tiện tránh thai (PTTT) theo đúng nhu cầu của 63 tỉnh, TP Tốc độ tăng dân số được khống chế ở
Trang 18khoảng 1,05 %/năm, quy mô dân số năm 2015 đạt 91,7 triệu người, đạt mục tiêu đề ra (<
93 triệu người), mô hình gia đình ít con ngày càng được chấp nhận rộng rãi
5 năm qua, ngành Y tế đã tích cực đẩy mạnh công tác giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi, nâng cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam Các chỉ tiêu CSSK bà mẹ - trẻ
em được cải thiện so với năm 2011: tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai ≥ 3 lần trong 3 thời
kỳ đạt trên 90%; tỷ lệ phụ nữ đẻ được tiêm 2 mũi vắc xin phòng uốn ván là 95,7%; tỷ lệ phụ nữ đẻ do cán bộ được đào tạo hỗ trợ là 98%; tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc tuần đầu sau sinh là 81%; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân đã giảm từ 17,5% vào năm 2010 xuống còn 24,2% năm 2015 Việt Nam đạt MDG về giảm tử vong mẹ xuống 58,5/100.000 trẻ đẻ sống, giảm tử vong trẻ em dưới 1 tuổi xuống còn 14,7‰
- Nhân lực y tế và khoa học công nghệ
Số lượng các loại hình nhân lực y tế tăng đáng kể qua các năm, số bác sĩ trên vạn dân tăng từ 7,2% năm lên khoảng 8,0 năm 2015, số dược sĩ đại học trên vạn dân tăng từ 1,76 năm 2010 lên khoảng 2,2 năm 2015 Để giải quyết thiếu hụt nhân lực y tế trong một số lĩnh vực và ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, một số chính sách, dự án đã được ban hành và triển khai thực hiện như: Đề án khuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực y tế các chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y, giải phẫu bệnh giai đoạn 2013-2020, Dự án thí điểm bác sĩ trẻ tình nguyện, Thông tư quy định tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn bản
Đến năm 2015, Việt Nam đã làm chủ được công nghệ sản xuất vắc xin, tự nghiên cứu sản xuất được 10/11 loại vắc xin cho chương trình TCMR, là một trong 39 nước có thế mạnh trong sản xuất vắc xin trên thế giới Hệ thống quản lý quốc gia về vắc xin (NRA) đã được WHO công nhân đạt tiêu chuẩn
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực y tế nhiều bệnh viện đã phát triển các kỹ thuật cao ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới, như ghép tế bàogốc, ghép tim và các bộ phận cơ thể người Ngoài ra, ngành Y tế cũng đã nghiên cứu phục vụ bảo tồn, khai thác bền vững nguồn gen dược liệu quý hiếm với gần 4.000 loại, khai thác lợi thế dược liệu, sản xuất thuốc từ dược liệu có hiệu quả điều trị cao thay thế thuốc nhập khẩu, bước đầu xuất khẩu đạt giá trị cao với trên 300 dược liệu
Trang 19 Giai đoạn đến năm 2020
- Công tác dự phòng, nâng cao sức khỏe nhân dân: bộ y tế đã trình ban hành và triển khai Quyết định số 41/QĐ-ttg ngày 08/01/2019 phê duyệt Đề án “Bảo đảm dinh dưỡng hợp lý
và tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên để nâng cao sức khỏe, dự phòng bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản giai đoạn 2018 - 2025” Tiếp tục thực hiện Chương trình sức khỏe Việt Nam theo Quyết định số 1092/QĐ-ttg ngày 02/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ, tăng cường các hoạt động vận động thể lực, nâng cao sức khoẻ Tích cực truyền thông phòng chống các yếu tố nguy cơ có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu bia, chế độ dinh dưỡng không hợp lý… Đẩy mạnh hoạt động cung ứng dịch vụ tầm soát, phát hiện sớm các bệnh không lây nhiễm như ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh bẩm sinh di truyền Xây dựng Đề án chăm sóc dinh dưỡng cho người cao tuổi và Đề án bữa ăn học đường Số mắc, tử vong của các bệnh dịch nguy hiểm như lao, phong, sốt rét, HIV/AIDS giảm Bảo vệ thành quả thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh, duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ > 90% cho trẻ
em dưới 1 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Công tác kết hợp quân dân yđược triển khai sâu rộng trên toàn quốc Chủ động và quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh (đặc biệt là sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng), nâng cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền cơ sở, huy động sự tham gia của các ban, ngành đoàn thể trong công tác phòng, chống dịch, tập trung vào các hoạt động giám sát, truyền thông, quản lý
và kịp thời xử lý triệt để các ổ dịch mới phát sinh, không để bùng phát, lan rộng Thực hiện các giải pháp tăng số ngày tiêm chủng tại trạm y tế xã, triển khai tiêm chủng lưu động
- Phòng, chống HIV/AIDS: số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 210.051 người, số bệnh nhân AIDS hiện tại là 97.015 người, số người nhiễm HIV tử vong 98.512 trường hợp Toàn quốc đã có 330 cơ sở điều trị methadone tại 63 tỉnh, TP với 52.089 bệnh nhân Triển khai đánh giá Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và xây dựng Chiến lược quốc gia kết thúc dịch AIDS vào năm
2030, dự kiến trình Chính phủ phê duyệt trong Quý IV năm 2020 Đánh giá 10 năm triển khai chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone; triển khai điều trị Buprenorphine giai đoạn I tại các tỉnh: Điện Biên, Nghệ An, Sơn La, Thanh Hoá Phối hợp với Bộ Công an về việc mở mới 10 trại giam tham gia điều trị ARV trong năm 2019 và tất cả các trại giam còn lại triển khai điều trị ARV chính thức vào năm 2020