Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa được biên soạn với các nội dung cách tiếp cận thu nhập chi tiêu để xác định sản lượng cân bằng của nền kinh tế; chính sách tài khóa.
Trang 1Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
BÀI 3 TỔNG CẦU VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 Giáo trình Kinh tế học_Tập II NXB Kinh tế Quốc dân 2012
Chủ biên: PGS.TS Vũ Kim Dũng và PGS.TS Nguyễn Văn Công
2 Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Giáo trình Nguyên lý kinh tế học vĩ mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012
3 Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Bài tập Nguyên lý kinh tế vĩ
mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012
Bài này sẽ nghiên cứu tổng cầu: các thành tố của tổng cầu, các nhân tố quyết định sự biến động của tổng cầu và vai trò của tổng cầu trong việc quyết định mức sản lượng của nền kinh tế
Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Cách tiếp cận thu nhập chi tiêu để xác định sản lượng cân bằng của nền kinh tế
Chính sách tài khóa
Mục tiêu
Giúp học viên hiểu được các nhân tố quyết định sự biến động của tổng cầu và vai trò của tổng cầu trong việc quyết định mức sản lượng của nền kinh tế trong điều kiện khi nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa được sử dụng
Giúp học viên thông qua cách tiếp cận thu nhập – chi tiêu, một dạng rất đơn giản của
mô hình Keynes
Trang 2Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
“Mô hình Keynes và chính sách tài khóa”
Kết luận chủ yếu rút ra từ bài 2 là những biến động kinh tế vĩ mô
trong ngắn hạn bắt nguồn từ sự dịch chuyển của các đường tổng
cầu và tổng cung Trong đó có minh chứng về ảnh hưởng bất lợi
từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam vào năm 2009 Mà một trong những nguyên nhân là do
các bạn hàng chủ lực của Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái kinh
tế và họ giảm nhu cầu mua hàng hóa của Việt Nam Chính điều này
đã làm cho tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam giảm và
làm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bị sụt giảm mạnh Để chống lại sự suy giảm kinh tế, năm 2009 Chính phủ Việt Nam đã thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô Trong đó có gói kích cầu thông qua việc thực thi chính sách tài khóa mở rộng bằng việc tăng chi tiêu chính phủ và giảm thuế
Một trong những quan tâm của nhiều nhà hoạch định chính sách và các nhà kinh tế đó là hiệu quả của chính sách tài khóa này như thế nào? Liều lượng can thiệp vào nền kinh tế có đủ không
và nên kích thích vào khu vực nào? Ngành nào? Nếu chính phủ tăng chi tiêu 1 đồng hay giảm thuế 1 đồng thì sản lượng cân bằng của nền kinh tế sẽ thay đổi bao nhiêu? Và thách thức trong việc thực thi chính sách tài khóa mở rộng là gì? Để trả lời được câu hỏi này đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt được mô hình giao điểm Keynes hay còn gọi là cách tiếp cận thu nhập – chi tiêu Qua
mô hình này chúng ta sẽ tính được hiệu ứng khuếch đại trong 1 đồng tăng chi tiêu của chính phủ hay 1 đồng giảm thuế Theo mô hình giao điểm Keynes thì khi chính phủ tăng chi tiêu 1 đồng
hoặc giảm thuế 1 đồng thì sản lượng của nền kinh tế sẽ tăng gấp m lần Hiệu quả của chính sách tài khóa lớn hay nhỏ một phần phụ thuộc vào độ lớn của số nhân chi tiền Bên cạnh, những tác
động tích cực của chính sách tài khóa mở rộng, thì chính phủ cũng sẽ đối mặt với nguy cơ cán cân ngân sách của chính phủ bị thâm hụt nhiều hơn, nợ công gia tăng
1 Vai trò của tổng cầu trong việc quyết định mức sản lượng cân bằng của nền
kinh tế như thế nào?
2 Chính sách tài khóa, và ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến cán cân ngân
sách của chính phủ như thế nào?
Trang 3Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa Trong bài này, sử dụng cách tiếp cận thu nhập – chi tiêu để xác định mức sản lượng cân bằng khi nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa được sử dụng Đây là một dạng đơn giản của mô hình Keynes Trong mô hình đơn giản này chúng ta sẽ bỏ qua một số vấn đề phức tạp liên quan đến tác động của tiền tệ và lãi suất và cũng bỏ qua những tác động do việc giá cả, tiền lương danh nghĩa và tỷ giá thay đổi
3.1 Cách tiếp cận thu nhập chi tiêu
Việc xác định thu nhập cân bằng trên cơ sở liên kết thu nhập (sản lượng) với tổng chi
tiêu được gọi là cách tiếp cận thu nhập - chi tiêu hay mô hình giao điểm Keynes
Tổng chi tiêu (Aggregate Expenditure - AE) đề cập đến lượng hàng hóa và dịch vụ
được sản xuất trong nước mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua (lượng tổng chi tiêu) tại mỗi mức sản lượng hay thu nhập quốc dân – tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế
Công cụ để xác định mức sản lượng cân bằng khi chỉ tính đến ràng buộc về phía cầu
hay nói cách khác khi nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa được sử dụng là đường
tổng chi tiêu (Aggregate Expenditure - AE)
Đồng nhất thức thu nhập - sản lượng: GDP Thu nhập quốc dân Y
Đường tổng chi tiêu phản ánh tổng chi tiêu tại mỗi mức thu nhập quốc dân
Đường tổng chi tiêu phản ánh mức chi tiêu tại mỗi mức sản lượng quốc dân
Tại trạng thái cân bằng: AE = GDP = Y
Hàng tồn kho theo kế hoạch và hàng tồn kho ngoài kế hoạch
Hàng tồn kho theo kế hoạch: các doanh nghiệp chủ động giữ một số hàng trong
kho bởi vì điều này đảm bảo cho việc kinh doanh có hiệu quả hơn
Hàng tồn kho ngoài kế hoạch (UI: Unplanned Inventory) là số hàng hoá mà các
doanh nghiệp sản xuất ra nhưng không bán được
3.1.1 Mô hình xác định sản lượng trong nền kinh tế giản đơn
Hàm tiêu dùng: phản ánh mối quan hệ dương giữa tiêu dùng và thu nhập khả dụng
Điều này hàm ý rằng khi thu nhập tăng thì tiêu dùng của hộ gia đình tăng
Hình 3.1 Đồ thị hàm Tiêu dùng của một hộ gia đình điển hình
Trang 4Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
o Trong kinh tế vĩ mô, chúng ta quan tâm đến hàm tổng tiêu dùng, tức mối quan hệ giữa tổng tiêu dùng và tổng thu nhập Tổng tiêu dùng ở đây được hiểu là tổng tiêu dùng của tất cả các hộ gia đình trong nền kinh tế Thước đo thu nhập ở đây chính
là thu nhập khả dụng Yd, tức là phần thu nhập còn lại sau khi các hộ gia đình nộp
thuế Tuy nhiên, tạm thời chúng ta giả thiết là không có chính phủ tham gia trong nền kinh tế, khi đó thu nhập khả dụng bằng thu nhập quốc dân (Yd Y)
o Nếu tiêu dùng của mỗi hộ gia đình điển hình tăng khi thu nhập tăng thì tổng tiêu dùng cũng tăng khi tổng thu nhập của nền kinh tế tăng Mối quan hệ giữa tổng tiêu dùng và thu nhập quốc dân được mô tả như hình 3.2
Hình 3.2 Hàm tiêu dùng của nền kinh tế
o Độ dốc của đường tổng tiêu dùng cho biết tổng tiêu dùng (dọc theo trục tung) tăng thêm bao nhiêu với mỗi đơn vị tổng thu nhập khả dụng (dọc theo trục hoành) tăng thêm Nói một cách khác, độ dốc của hàm tổng tiêu dùng chính là
xu hướng tiêu dùng cận biên
o Hệ số chặn ở hình 3.2 phản ánh phần tiêu dùng không phụ thuộc vào thu nhập
và được gọi là tiêu dùng tự định (autonomous consumption: C) hay còn được gọi là tiêu dùng tối thiểu đó là mức tiêu dùng ngay cả khi thu nhập của hộ gia đình bằng không
o Hàm tiêu dùng: C = C + MPC Yd
o Hàm tiết kiệm: S = -C + MPS Yd
o Điểm vừa đủ là điểm ở đó mức thu nhập vừa đủ trang trải chi tiêu cho tiêu
dùng (Yd = C), và do đó tiết kiệm bằng 0
Hình 3.3 Đường tiêu dùng và đường tiết kiệm
Trang 5Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
Đầu tư biến động rất mạnh trong chu kỳ kinh doanh Nhìn chung, đầu tư giảm ngay trước khi và trong thời kỳ suy thoái và có xu hướng tăng lên vào đầu kỳ tăng trưởng Trong bài này do chúng ta tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa tổng chi tiêu và mức thu nhập quốc dân như được mô tả bởi đường tổng chi tiêu Nên, giả thiết lãi suất được coi là cho trước và mức đầu tư không phụ thuộc vào mức thu nhập hiện tại của nền kinh tế Nó được quyết định bởi dự tính của doanh nghiệp về triển vọng kinh tế tương lai
Hàm tổng chi tiêu: AE = CIMPCY
Xác định sản lượng cân bằng:
AE = CIMPCY
AE = Y
Ye = 1/(1 –MPC) (C I )
m = 1/(1 –MPC) gọi là số nhân chi tiêu
Hình 3.4 Xác định sản lượng cân bằng trong nền kinh tế giản đơn 3.1.2 Mô hình xác định sản lượng trong nền kinh tế đóng
Chính phủ thu thuế (T x ) và thực hiện các khoản chuyển giao thu nhập hay trợ cấp (T r )
nhằm thay đổi thu nhập của các hộ gia đình Chênh lệch giữa thuế và chuyển giao thu nhập được gọi là thuế ròng (T = T x – T r), hay viết tắt là thuế, tức là phần chính phủ thực thu được từ khu vực tư nhân
Chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ của chính phủ (G) trực tiếp là một thành tố của tổng
chi tiêu Nó bao gồm các khoản chi tiêu cho đầu tư như chi tiêu cho các dự án xây dựng đường xá, sân bay và các khoản chi cho tiêu dùng của chính phủ, ví dụ như trả
lương cho các viên chức chính phủ và các trang thiết bị cần thiết để duy trì hoạt động
của bộ máy chính phủ
Thuế có hai ảnh hưởng trong mô hình của chúng ta Thứ nhất, tại mỗi mức thu nhập
quốc dân thuế làm giảm thu nhập khả dụng và do đó làm giảm tiêu dùng Thuế làm
dịch chuyển đường tổng chi tiêu xuống phía dưới Thứ hai, khi mức thu thuế tỷ lệ
thuận với thu nhập, thì số nhân trở nên nhỏ hơn (độ dốc của đường tổng chi tiêu nhỏ hơn) Bởi vì khi tổng thu nhập tăng thêm 1 đơn vị, tiêu dùng tăng ít hơn trong trường hợp không có thuế do một phần thu nhập tăng lên bây giờ được chính phủ thu dưới dạng thuế và thu nhập khả dụng của các hộ gia đình sẽ tăng ít hơn 1 đơn vị
Trang 6Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa Công thức tính sản lượng cân bằng và số nhân chi tiêu:
Giả thiết thuế độc lập với thu nhập quốc dân: T = -T
d
Y = Y - T = -T
Do đó, hàm tổng chi tiêu có thể viết lại như sau:
EA = C + I + G - MPC.T + MPC.Y Tại trạng thái cân bằng, tổng chi tiêu bằng thu nhập:
Y = C + I + G - MPC.T + MPC.Y
Từ đó, chúng ta rút ra công thức tính sản lượng cân bằng như sau:
Và số nhân chi tiêu và số nhân thuế có giá trị là:
T
Giả thiết thuế tỷ lệ thuận với thu nhập quốc dân: T = tY
Yd = Y – T = (1- t)Y
Do đó, hàm tổng chi tiêu có thể viết lại như sau:
AE = C I G + MPC(1 - t)Y Tại trạng thái cân bằng, tổng chi tiêu bằng thu nhập:
Y = C I G + MPC(1 - t)Y
Từ đó, chúng ta rút ra công thức tính sản lượng cân bằng như sau:
C I G Y
Và số nhân chi tiêu có giá trị là:
) (
'
t 1 MPC 1
1 m
3.1.3 Mô hình xác định sản lượng trong nền kinh tế mở
Xuất khẩu ròng của một nước chính là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và
kim ngạch nhập khẩu
NX = X –IM = X-MPM×Y MPM: Xu hướng nhập khẩu cận biên cho chúng ta biết lượng nhập khẩu tăng thêm khi thu nhập tăng thêm một đơn vị
Công thức tính sản lượng cân bằng và số nhân chi tiêu trong trường hợp T=t.Y
Yd = Y – T = (1- t)Y
Do đó, hàm tổng chi tiêu có thể viết lại như sau:
AE = C+I+G+X+[MPC(1-t)-MPM].Y Tại trạng thái cân bằng, tổng chi tiêu bằng thu nhập:
Y= C+I+G+X+[MPC(1-t)-MPM].Y
Trang 7Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
Từ đó, chúng ta rút ra công thức tính sản lượng cân bằng như sau:
1
1- MPC(1- t) + MPM
Và số nhân chi tiêu có giá trị là:
1 m'' =
1- MPC(1- t) + MPM
3.2 Chính sách tài khóa
Chính sách tài khoá là những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô thông qua việc thay đổi chi tiêu chính phủ và thuế Mặc dù chính sách tài khoá có thể ảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, tuy nhiên trong ngắn
hạn, chính sách tài khoá chủ yếu ảnh hưởng đến tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ
3.2.1 Chính sách tài khóa chủ động
Chính sách tài khoá nhằm kích thích tổng cầu và tăng sản lượng cân bằng thông qua
việc tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế được gọi là chính sách tài khoá mở rộng hay chính sách tài khoá lỏng Ngược lại, chính sách tài khoá nhằm cắt giảm tổng cầu
để kiềm chế lạm phát được gọi là chính sách tài khoá thắt chặt
3.2.1.1 Chính sách tài khóa mở rộng
Đối mặt với mức sản lượng thấp hơn mức sản lượng tự nhiên, các nhà hoạch định chính sách có thể giúp nền kinh tế phục hồi trạng thái toàn dụng nguồn lực thông qua việc tăng chi tiêu chính phủ và/hoặc giảm thuế
Hình 3.5 Tác động của chính sách tài khóa mở rộng 3.2.1.2 Chính sách tài khóa thắt chặt
Giả sử ban đầu nền kinh tế có tổng chi tiêu vượt quá năng lực sản xuất hiện có như được minh họa trong hình 3.6 Sự hạn chế về phía cung ngăn cản nền kinh tế mở rộng
và giá cả sẽ tăng tốc Nền kinh tế đang nằm ở phần đường tổng cung rất dốc mà các nhà kinh tế thường coi là trạng thái phát triển quá nóng Phản ứng chính sách cần thiết
là chính phủ nên cắt giảm tổng cầu để kiềm chế lạm phát
Trang 8Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
Hình 3.6 Tác động của chính sách tài khóa thu hẹp 3.2.1.3 Chính sách tài khoá trong điều kiện có sự ràng buộc về ngân sách
Trong những thập kỷ gần đây, khi chính phủ ở nhiều nước có các khoản thâm hụt ngân sách khổng lồ thì việc tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế để kích thích nền kinh tế trong bối cảnh suy thoái thường được xem là ít có tính khả thi về mặt chính trị Theo hiệp định Maastricht các nước thuộc Liên minh châu Âu muốn sử dụng đồng tiền chung thì phải giảm thâm hụt ngân sách của họ xuống 3% so với GDP Đạt mục tiêu này đòi hỏi chính phủ các nước phải cắt giảm chi tiêu hoặc tăng thuế, và do vậy có ít phạm vi hơn cho việc tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để kích thích nền kinh tế
Hình 3.7 Ảnh hưởng của tăng chi tiêu chính phủ và tăng thuế cùng một lượng như nhau
AE(G 1 ,T 0 ) AE(G 1 ,T 1 ) AE(G 0 ,T 0 )
Y
Y 0 Y 1
E1
E0
0 )450
AE
G -MPC.T
Trang 9Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
Để duy trì cán cân ngân sách không thay đổi, muốn tăng chi tiêu chính phủ phải tăng được mức thu thuế một lượng tương ứng Điều gì xảy ra nếu chính phủ bù đắp tăng
chi tiêu bằng cách tăng thuế? Số nhân ngân sách cân bằng phản ánh sự gia tăng của
GDP tạo ra khi cả chi tiêu chính phủ và thuế cùng tăng thêm một đơn vị để giữ cho cán cân ngân sách không thay đổi Việc tăng thuế làm giảm thu nhập khả dụng và do
đó làm giảm tiêu dùng tư nhân Điều này gây lấn át một phần ảnh hưởng mở rộng của việc tăng chi tiêu chính phủ Để thấy được tại sao tăng thuế chỉ lấn án một phần ảnh hưởng mở rộng của tăng chi tiêu, bạn hãy nhớ lại rằng việc giảm thu nhập khả dụng một đơn vị chỉ làm giảm tiêu dùng theo xu hướng tiêu dùng cận biên Ảnh hưởng ròng của việc tăng chi tiêu chính phủ đi kèm với tăng thuế – sau khi số nhân đã phát huy tác dụng – là thu nhập quốc dân tăng một lượng đúng bằng mức tăng chi tiêu chính phủ (chứ không phải là tích của số nhân với lượng chi tiêu gia tăng như đáng lẽ xảy ra
khi thuế không thay đổi) Điều đó có nghĩa là giá trị của số nhân ngân sách cân bằng
đúng bằng 1
Để đơn giản cho việc giải thích tại sao số nhân ngân sách cân bằng lại có giá trị bằng
1 chúng ta sẽ xét một nền kinh tế đóng trong đó mức thu thuế của chính phủ không phụ thuộc vào thu nhập tạo ra trong nền kinh tế Giả thiết rằng chính phủ tăng chi tiêu
1 tỷ đồng được bù đắp bằng việc tăng thuế cũng 1 tỷ đồng Ảnh hưởng ròng của chính sách đó đến sản lượng cân bằng được xác định bằng công thức sau:
Trong đó, ở vế trái biểu thức thứ nhất biểu thị tác động của việc tăng chi tiêu chính phủ 1 tỷ đồng, còn biểu thức thứ hai biểu thị tác động của việc tăng thuế 1 tỷ đồng Như vậy, hiệu ứng ròng của việc chính phủ tăng thuế và tăng chi tiêu cùng 1 tỷ đồng
là sản lượng cân bằng tăng đúng 1 tỷ đồng Hình 3.7 biểu thị kết quả của việc tăng chi tiêu chính phủ và tăng thuế cùng một lượng là G Kết quả là sản lượng tăng lên một lượng tương ứng (G)
3.2.2 Cơ chế tự ổn định
Cơ chế tự ổn định đề cập đến những thay đổi trong ngân sách chính phủ có tác dụng kích thích tổng cầu khi nền kinh tế lâm vào suy thoái và cắt giảm tổng cầu khi nền kinh tế phát triển quá nóng mà không cần bất kỳ sự điều chỉnh nào của các nhà hoạch định chính sách
Cơ chế tự ổn định quan trọng nhất trong các nền kinh tế thị trường hiện đại là hệ
thống thuế Khi nền kinh tế rơi vào một cuộc suy thoái, doanh thu từ thuế của chính phủ sẽ tự động giảm vì hầu hết các loại thuế đều liên quan chặt chẽ với các hoạt động kinh tế
Một số khoản mục chi tiêu của chính phủ cũng hoạt động như những cơ chế tự ổn
định Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, số người mất việc làm tăng lên, vì thế đơn xin trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm xã hội và các loại hình hỗ trợ thu nhập khác đều tăng lên Sự gia tăng tự động trong chi tiêu của chính phủ sẽ kích thích tổng cầu đúng vào thời điểm tổng cầu không đủ mạnh để duy trì mức sản lượng tiềm năng
Trang 10Bài 3: Tổng cầu và chính sách tài khóa
Cơ chế tự ổn định trong nền kinh tế ở các nước đều không đủ mạnh để loại bỏ hoàn toàn những biến động kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn Tuy nhiên, nếu không có các cơ chế tự ổn định như thế, sản lượng và việc làm trên thực tế chắc hẳn đã dao động mạnh hơn rất nhiều
3.2.3 Chính sách tài khóa và thâm hụt ngân sách chính phủ
3.2.3.1 Chính sách tài khóa và Cán cân ngân sách
Cán cân ngân sách chính phủ thường được coi là một chỉ báo về chính sách tài khóa
Nó được tính bằng chênh lệch giữa tổng thu nhập mà chính phủ nhận được trừ đi tất
cả các khoản mục chi tiêu mà chính phủ thực hiện trong một thời kỳ nhất định Một cách tương đương, nó được tính bằng thuế ròng trừ đi chi tiêu chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ
BB = T x – G – T r = (T x – T r ) – G
hay
BB = T – G
BB = t.Y - G
trong đó: BB là cán cân ngân sách ;
T x là tổng nguồn thu từ thuế ;
T r là chuyển giao thu nhập;
G là chi tiêu chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ;
T là thuế ròng
Khi thu nhập lớn hơn chi tiêu, chính phủ có thặng dư ngân sách Khi chi tiêu chính
phủ lớn hơn thu nhập điều mà thường diễn ra đối với hầu hết các quốc gia trong lịch sử
cận đại, thì chính phủ có thâm hụt ngân sách Khi thu nhập và chi tiêu chính phủ đúng bằng nhau, chính phủ có ngân sách cân bằng
Một thước đo tốt hơn về chính sách tài khóa so với cán cân ngân sách thực tế là tính
toán ngân sách ở mức toàn dụng nhân công, hay còn được gọi là ngân sách cơ cấu và
ký hiệu là BB* Chỉ tiêu này được tính trên cơ sở ước tính về mức chi tiêu và thu thuế
với giả thiết nền kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng Kết quả thu được chỉ phụ thuộc vào sự lựa chọn chính sách tài khóa mà không bị ảnh hưởng bởi những biến động kinh tế trong ngắn hạn
BB* = t.Y* - G
Chênh lệch giữa cán cân ngân sách thực tế và cán cân ngân sách cơ cấu:
BB – BB* = (t.Y – G) –( t.Y* - G) = t.(Y – Y*)
Cán cân ngân sách thực tế và cán cân ngân sách cơ cấu chỉ khác nhau ở khoản thuế ròng Cụ thể, nếu sản lượng ở dưới mức tiềm năng, thì thâm hụt ngân sách thực tế
sẽ lớn hơn thâm hụt ngân sách cơ cấu Ngược lại, nếu sản lượng cao hơn mức tiềm năng, thì thặng dư ngân sách thực tế sẽ lớn hơn thặng dư ngân sách cơ cấu
Chênh lệch giữa cán cân ngân sách thực tế và cán cân ngân sách cơ cấu phản ánh
sự biến động của sản lượng trong ngắn hạn xung quanh mức tiềm năng và thường
được gọi là cán cân ngân sách chu kỳ Những biến động kinh tế ngắn hạn hay chu