Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở mô tả tình trạng co hồi tử cung ở sản phụ sau đẻ tại bệnh viện đa khoa huyện Sốp Cộp từ ngày 01 tháng 05 năm 2020 đến ngày 30 tháng 09 năm 2020
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Thời kỳ hậu sản được tính từ sau khi sản phụ đẻ xong đến khi các cơquan sinh dục (ngoại trừ vú) trở lại bình thường về giải phẫu và sinh lý nhưtrước khi có thai Thời kỳ này có thời gian là 6 tuần
Tuy thời gian ngắn nhưng nếu sản phụ và em bé không được chăm sóccẩn thận có thể gặp rất nhiều các biến chứng, đặc biệt là những tai biến sảnkhoa có thể gây tử vong cho mẹ và sơ sinh như: chảy máu sau đẻ, nhiễmkhuẩn hậu sản, tiền sản giật và sản giật, vỡ tử cung và uốn ván rốn Theothống kê từ Bộ Y tế, năm 2000 - 2001 cả nước vẫn còn 4.361 trường hợpbăng huyết, với 75 trường hợp tử vong, đứng hàng đầu về số lượng và tửvong trong các tai biến Đứng hàng thứ hai trong số các tai biến và tử vong làsản giật và nhiễm khuẩn hậu sản Hàng thứ tư là vỡ tử cung với 148 trườnghợp và 11 tử vong Số tai biến ít hơn cả là uốn ván sơ sinh nhưng số chết lạilên tới gần 50% Các số liệu trên có thể còn thấp hơn số tai biến và tử vongtrong thực tế mà vì nhiều lý do không thống kê được
Trong thời kỳ hậu sản, bộ phận sinh dục có sự thay đổi nhiều nhất là tửcung Nguyên nhân là do khi mang thai, tử cung thay đổi rất nhiều về giảiphẫu và sinh lý, đặc biệt là sự mở rộng của các lớp cơ, niêm mạc và thanhmạc, tử cung biến đổi từ 3-5 ml về thể tích thành 5000ml Vì vậy, ngay sausinh, tử cung sẽ thực hiện các quá trình co rút, co bóp và co hồi để trở về kíchthước ban đầu Mọi sự bất thường trong quá trình co hồi tử cung đều gây ranhững nguy cơ cho bà mẹ như chảy máu, nhiễm khuẩn…
Có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến co hồi tử cung sau đẻ như cácyếu tố về bà mẹ (tuổi bà mẹ, số lần mang thai, số lần đẻ), các yếu tố liên quanđến cuộc đẻ (thời gian chuyển dạ, trong lượng thai…) và đặc biệt là các yếu
tố liên quan đến quá trình chăm sóc và tư vấn sau sinh của Hộ sinh và điềudưỡng (chế độ vận động, cho con bú, xoa tử cung, đi tiểu, tư vấn….) Nếu Hộ
Trang 2sinh chăm sóc và tư vấn cho sản phụ cẩn thận và đầy đủ, sẽ làm giảm các yếu
tố nguy cơ, giúp tử cung co hồi trở về bình thường nhanh hơn và tốt hơn,giảm các nguy cơ sau sinh
Tuy nhiên, các nghiên cứu từ trước đến nay tại Việt Nam cũng như trênthế giới về sự co hồi tử cung và các yếu tố liên quan hầu như không có Vìvậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm có những kết quả cụ thể, cập nhậthơn về sự co hồi tử cung sau sinh cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự cohồi tử cung, giúp cho các Hộ sinh, Điều dưỡng và các Bác sĩ có thêm nhữngbằng chứng trong việc chăm sóc và thực hành lâm sàng tại Bệnh viện và các
cơ sở y tế
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ mô tả tình trạng
co hồi tử cung ở sản phụ sau đẻ tại bệnh viện đa khoa huyện Sốp Cộp từ ngày 01 tháng 05 năm 2020 đến ngày 30 tháng 09 năm 2020” nhằm mục
tiêu:
1 Mô tả tình trạng co hồi tử cung, một số yếu tố liên quan đến sự co hồi
tử cung ở các sản phụ sau đẻ tại Bệnh viện đa khoa huyện sốp cộp năm 2020.
2 Đưa ra một số giải pháp trong chăm sóc sau sinh thường phù hợp
hơn.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 NHỮNG THAY ĐỔI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ SAU ĐẺ
1.1.1 Đại cương về thời kỳ hậu sản
Trong thời kỳ người phụ nữ có thai, các cơ quan sinh dục và vú cónhững thay đổi để đáp ứng nhu cầu mang thai Sau khi đẻ, ngoại trừ vú vẫnphát triển để tiếp tục tiết sữa, các cơ quan sinh dục khác dần dần trở lại bìnhthường về giải phẫu và sinh lý như trước khi có thai Thời kỳ đó gọi là thời kỳsau đẻ, dài 6 tuần
Hình 1.1: Sản phụ và sơ sinh sau đẻ [8]
1.1.2 Các thay đổi trong thời kỳ hậu sản
1.1.2.1 Thay đổi ở tử cung (TC)
* Thay đổi ở thân tử cung
Ngay sau khi sổ rau, TC co chặt lại thành một khối chắc, đáy TC ởngay dưới rốn Trọng lượng TC lúc đó nặng khoảng 1.000g, sau 1 tuần, TCcòn nặng khoảng 500g, cuối tuần thứ 2 còn khoảng 300g, các ngày sau đó TCnặng 100g, đến cuối thời kỳ hậu sản, TC trở về trọng lượng bình thường nhưkhi chưa có thai (50-60g)
TC có nhiều thay đổi nhất Trên lâm sàng, có 3 hiện tượng:
Trang 4* Sự co cứng: sau sổ rau, TC co cứng lại để thực hiện tắc mạch sinh lý Trên
lâm sàng TC co lại thành một khối chắc, gọi là khối an toàn của TC, tồn tạivài giờ sau đẻ
* Sự co bóp: trong những ngày đầu sau đẻ, TC có những cơn co bóp để tống
sản dịch ra ngoài Thỉnh thoảng sản phụ có những cơn đau, sau mỗi cơn đau,sản phụ lại thấy có ít máu cục và sản dịch chảy ra ngoài qua âm đạo Các cơnđau này thường gặp ở người con rạ nhiều hơn so với người đẻ con so
* Sự co hồi tử cung: ngay sau khi đẻ, đáy TC ở trên khớp vệ khoảng 13-15
cm, các ngày sau đó, đáy TC thấp dần xuống trung bình mỗi ngày co hồi được1cm, riêng ngày đầu tiên co nhanh hơn, có thể co được 2-3 cm Sau 2 tuần lễ,không sờ thấy đáy TC trên khớp vệ nữa TC trở lại trạng thái bình thường vềkích thước, trọng lượng và vị trí như khi chưa có thai trong vòng 06 tuần lễsau đẻ
Hình 1.2 Tử cung không có thai.[5]
Trang 5
Hình 1.3 Tử cung sau đẻ [5] Hình 1.4 Tử cung vào ngày thứ 6 [5]
* Thay đổi ở lớp cơ tử cung
Sau đẻ, lớp cơ TC dầy 4-5 cm Thành trước và thành sau co chặt sátvào nhau, các mạch máu bị bóp nghẹt do cơ TC co cứng nên khi cắt lớp cơ
TC sau đẻ thấy có biểu hiện thiếu máu, nhợt màu khác với cơ TC khi có thai
có màu tím do tăng sinh các mạch máu
Lớp cơ TC mỏng dần đi do các sợi cơ nhỏ đi và ngắn lại, một số sợi cơthoái hoá mỡ và tiêu đi Các mạch máu cũng co lại do sự co hồi của lớp cơđan
Hình 1.5 Sự thay đổi của cơ tử cung [5]
2.1.2.1 Thay đổi ở đoạn dưới tử cung và cổ tử cung
Đoạn dưới TC sau đẻ co gập lại như một đàn xếp, dần dần ngắn lại và đến ngày thứ 4 sau đẻ thì đoạn dưới hình thành trở lại eo TC
Sau khi đẻ, đoạn dưới và cổ TC giãn mỏng và xẹp lại Mép ngoài cổ tử
Trang 6cung (CTC) (tương ứng với lỗ ngoài CTC) thường bị rách sang 2 bên CTC cũng co nhỏ lại và ngắn dần Lỗ trong CTC đóng vào ngày thứ 5 đến ngày thứ
8 sau đẻ, ống CTC được tái lập lại như khi chưa có thai Lỗ ngoài CTC đóng lại chậm hơn vào khoảng ngày thứ 12, 13 sau đẻ Tuy nhiên, ống CTC không còn hình trụ nữa mà thường là hình nón, đáy ở dưới vì lỗ ngoài CTC đã bị biến dạng, từ hình tròn trở thành hình dẹt và thường hé mở
Các cân và đặc biệt là cân cơ thẳng to cũng co dần lại nhưng thànhbụng vẫn nhão hơn so với khi chưa có thai, đặc biệt ở những người đẻ nhiềulần, đẻ thai to, đa ối, đa thai
1.1.2.4 Thay đổi ở niêm mạc tử cung
Rau bong ở lớp xốp, khi sổ ra ngoài rau mang theo lớp đặc của ngoạisản mạc Lớp màng rụng nền vẫn còn nguyên vẹn và sẽ phát triển phục hồi lạiniêm mạc tử cung
Ở vùng rau bám: Lớp cơ tử cung ở chỗ rau bám mỏng hơn ở các nơikhác Khi kiểm soát tử cung thấy vùng này lõm vào, sần sùi vì sau khi sổ rau,
tử cung co chặt lại thành khối an toàn các hồ huyết và mạch máu tắc lại, cáchuyết cục phồng lên như những nấm nhỏ Ngay sau khi đẻ, vị trí rau bám cókích thước bằng lòng bàn tay nhưng nó thu nhỏ lại rất nhanh Cuối tuần lễ thứ
2, nó chỉ còn 3 - 4 cm đường kính Sự phục hồi hoàn toàn niêm mạc tử cung ở
vị trí rau bám có thể kéo dài tới 6 tuần lễ Ở vùng màng rau bám, không có tắchuyết như ở vùng rau bám nên sờ thấy nhẵn
Sau đẻ, niêm mạc tử cung sẽ trải qua hai giai đoạn để trở lại có chức phận
Trang 7của niêm mạc tử cung bình thường
Giai đoạn thoái triển: xảy ra trong 14 ngày đầu sau đẻ Trong 2 - 3 ngàyđầu sau đẻ, lớp màng rụng còn lại sẽ biệt hoá thành 2 lớp Lớp bề mặt (cácống tuyến, sản bào ) bị hoại tử và thoát ra ngoài cùng sản dịch Lớp đáy gồmđáy tuyến vẫn còn nguyên vẹn và là nguồn gốc của niêm mạc tử cung mới Giai đoạn phát triển: các tế bào trụ trong đáy các tuyến phát triển và phânbào dưới ảnh hưởng của estrogen và progesteron Sau đẻ 6 tuần, niêm mạc tửcung được phục hồi hoàn toàn và sẽ thực hiện chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên saukhi đẻ nếu như không cho con bú
1.1.2.5 Các thay đổi khác
*Thay đổi ở phần phụ, âm đạo, âm hộ
+ Buồng trứng, vòi trứng, dây chằng tròn, dây chằng rộng dần dần trở lạibình thường về chiều dài, hướng và vị trí
+ Âm hộ và âm đạo bị giãn căng trong khi đẻ cũng co dần lại và 15 ngàysau đẻ sẽ trở lại vị trí bình thường
+ Riêng màng trinh, sau khi đẻ bị rách chỉ còn lại di tích của rìa màngtrinh
* Thay đổi ở hệ tiết niệu
+ Sau khi đẻ, không chỉ thành bàng quang bị phù nề và xung huyết màcòn cả hiện tượng xung huyết ở dưới niêm mạc bàng quang Hơn nữa, bàngquang còn có hiện tượng tăng dung tích và mất nhạy cảm tương đối với áp lựccủa lượng nước tiểu ở trong bàng quang
+ Vì vậy, sau đẻ cần phải theo dõi hiện tượng bí đái, đái sót Tác dụnggây liệt cơ của thuốc mê, đặc biệt là gây tê tuỷ sống, rối loạn chức năng thầnkinh tạm thời của bàng quang là các yếu tố góp phần thêm vào Ứ nước tiểu
và vi khuẩn niệu ở một bàng quang bị chấn thương cộng thêm bể thận và niệuquản bị giãn tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng đường niệu sau
đẻ phát triển Bể thận và niệu quản bị giãn sẽ trở lại trạng thái bình thường
Trang 8sau đẻ từ 2-8 tuần lễ.
* Thay đổi ở vú
Hình 1.6 Thay đổi ở vú sau sinh
+ Vú sau đẻ phát triển nhanh, vú căng lên, to và rắn chắc Núm vú to,dài ra, các tĩnh mạch dưới da vú nổi lên rõ rệt Các tuyến sữa phát triển to lên,nắn thấy rõ ràng, có khi lan tới tận nách Sau đẻ khoảng 2-3 ngày vú tiết rasữa gọi là hiện tượng xuống sữa Cơ chế của hiện tượng xuống sữa là: sau đẻnồng độ estrogen tụt xuống đột ngột, Prolactin được giải phóng và tác độnglên tuyến sữa gây ra sự tiết sữa
+ Sự tiết sữa được duy trì bởi động tác mút đầu vú, nó kích thích thuỳtrước tuyến yên do đó Prolactin được tiết ra liên tục Mặt khác, do tác dụngcủa động tác mút vú, thuỳ sau tuyến yên tiết ra oxytocin làm cạn sữa ở tuyếnbài tiết sữa
1.2 NHỮNG HIỆN TƯỢNG LÂM SÀNG CỦA THỜI KỲ SAU ĐẺ
1.2.1 Sự co hồi tử cung
Trang 9- Có thể theo dõi sự co hồi TC hàng ngày bằng cách đo chiều cao TC,tính từ khớp mu tới đáy TC Sau khi đẻ TC cao khoảng 13-15cm, ở dưới rốn 2khoát ngón tay Mỗi ngày chiều cao TC thu lại 1 cm và đến ngày thứ 12- 13thì không nắn thấy TC trên khớp mu nữa.
- Vì trong TC có nhiều máu cục và sản dịch nên thỉnh thoảng TC cócơn co bóp mạnh để tống máu cục và sản dịch ra ngoài, những cơn co bópmạnh này làm thai phụ thấy đau, nên gọi là cơn đau TC, thường xảy ra trongnhững ngày đầu sau đẻ, mức độ đau ít nhiều tùy theo cảm giác của từngngười, nhưng thường đẻ càng nhiều lần càng đau, vì TC càng cần phải co bópmạnh hơn những lần đẻ trước để đẩy máu cục và sản dịch ra
- Tính chất: trong 3 ngày đầu, sản dịch gồm toàn máu loãng và máu cụcnhỏ nên có màu đỏ sẫm Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 8, sản dịch loãng hơn,chỉ còn là một chất nhầy lẫn ít máu nên có màu lờ lờ máu cá Từ ngày thứ 9trở đi, sản dịch không có máu , chỉ là một dịch trong
- Bình thường, trong sản dịch không bao giờ có mủ Nhưng sau khichảy qua âm đạo, âm hộ, sản dịch mất tính chất vô khuẩn và có thể bị nhiễmcác vi khuẩn gây bệnh như tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn…
- Mùi: sản dịch có mùi tanh nồng, độ pH kiềm Nếu bị nhiễmkhuẩn ,sản dịch sẽ có mùi hôi
- Khối lượng: khối lượng sản dịch thay đổi tuỳ người Trong 10 ngàyđầu, trung bình sản dịch có thể ra tới 1500g, đặc biệt vào ngày thứ nhất vàngày thứ hai ra nhiều,
Trang 10có thể lên đến 1000g Các ngày sau sản dịch ít dần, sau 2 tuần sản dịch sẽ hếthẳn.
- Ở người con so, người cho con bú, sản dịch hết nhanh vì tử cung cohồi nhanh hơn
- Ở người mổ đẻ, sản dịch thường ít hơn so với người đẻ thường
- Nếu sản dịch ra nhiều, kéo dài hoặc đã hết huyết đỏ sẫm, lại ra máutái lại cần phải theo dõi sót rau sau đẻ
- Trên lâm sàng, 3 tuần sau đẻ ở một số sản phụ có thể ra một ít máuqua đường âm đạo, đó là hiện tượng thấy kinh non do niêm mạc tử cung phụchồi sớm [4]
1.2.3 Sự xuống sữa
Ngày đầu sản phụ có sữa non, màu trắng nhạt, có nhiều men tiêu hóa.Sau đẻ 2-3 ngày có sữa thường, đặc hơn và ngọt hơn Ở người con rạ, sữaxuống sớm hơn vào ngày thứ 2- 3 sau đẻ, ở người con so sữa xuống chậmhơn vào ngày thứ 3- 4 sau đẻ Khi xuống sữa, vú căng tức và nóng, cáctuyến sữa phát triển nhiều, phồng to, các tĩnh mạch dưới da vú nổi rõ, có thể
có hiện tượng sốt xuống sữa với các hiện tượng: sốt nhẹ dưới 380C, thờigian không quá nửa ngày, sau khi sữa được tiết ra, các hiện tượng đó sẽmất
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ CO HỒI TỬ CUNG SAU ĐẺ 1.3.1 Số lần đẻ
Người con so tử cung co hồi nhanh hơn ở người con rạ
Nguyên nhân có thể do ở người con so chất lượng cơ tử cung còn tốthơn so với người đã đẻ nhiều lần do vậy tử cung sẽ co hồi tốt hơn
1.3.2 Cách đẻ
Sản phụ đẻ thường tử cung co nhanh hơn người mổ đẻ vì tử cung mổ
đẻ có sẹo mổ làm cho co hồi chậm hơn
1.3.3 Tình trạng nhiễm khuẩn
Trang 11Tử cung bị nhiễm khuẩn sẽ co hồi chậm hơn tử cung không bị nhiễmkhuẩn Trên lâm sàng nếu thấy tử cung co hồi chậm, tử cung còn to và đaucần nghĩ đến nhiễm khuẩn hậu sản.
1.3.4 Xoa bóp tử cung
Thực hiện xoa tử cung bằng cách xoa nhẹ nhàng, liên tục với một bàntay vào phần bụng dưới của người phụ nữ để kích thích tử cung co lại tốt hơn[8],[9] Có thể thực hiện từ trước khi rau sổ để giúp rau sổ nhanh hơn và tửcung co tốt hơn
Hình 1.7 Xoa tử cung giúp tăng co tử cung
1.3.5 Đi tiểu đúng lúc
Sản phụ nên đi tiểu ngay khi có thể (thường là bốn giờ sau sinh) Quátrình sinh nở làm tăng áp lực cho bàng quang, gây niêm mạc xung huyết,giảm sức căng cơ, làm đau cửa âm đạo
Việc không quen đi tiểu trên giường sẽ làm sản phụ bí tiểu, sưng bàngquang, ngăn chặn quá trình tử cung co lại, dẫn đến xuất huyết sau sinh hoặcviêm bàng quang
Trang 12Hình 1.8 Vị trí của bàng quang và tử cung trong tiểu khung
1.3.6 Cho con bú
Theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO), nên cho trẻ bú mẹcàng sớm càng tốt ngay sau khi sinh Từ động tác mút vú của trẻ, một xungđộng thần kinh tác động lên thùy sau tuyến yên kích thích tiết ra Oxytocinlàm co cơ tử cung, giúp tử cung co tốt, tránh xảy ra hiện tượng băng huyết
Hình 1.9 Nuôi con bằng sữa mẹ
1.3.7 Chế độ vận động
Trong 24 giờ đầu cho sản phụ nằm bất động sau đẻ từ 6-8 giờ, sau đónằm nghỉ tại giường, nhưng có thể co duỗi chân tay, trở mình Sau 24 giờ chosản phụ ngồi dậy, đi lại quanh giường Nên tập thể dục nhẹ nhàng để tránh táobón, giúp ăn ngon và làm cho các cơ thành bụng chóng hồi phục trở lại bìnhthường Một tuần lễ sau đẻ có thể làm những việc nhẹ nhàng
Cần tránh lao động nặng, đặc biệt là gánh gồng, mang xách nặng trongthời kỳ hậu sản để khỏi gây ra sa sinh dục
Trang 131.4 CÁC NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI VỀ CO HỒI TỬ CUNG SAU SINH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN.
Negishi H, Kishida T, Yamada H, Hirayama E, Mikuni M, Fujimoto S.(1997) nghiên cứu sự thay đổi kích thước của tử cung ở những người sau đẻđường âm đạo và mổ lấy thai bằng siêu âm tại Hoa Kỳ cho thấy: chiều dài tửcung của những bà mẹ cho trẻ bú mẹ 80% hoặc hơn mỗi ngày là 6,35 ± 0,85
cm nhỏ hơn so với những bà mẹ chotrẻ bú 20% hoặc thấp hơn mỗi ngày là7,03 ± 1,04 cm, ở thời điểm 3 tháng sau sinh Chiều rộng của thân tử cung ởnhững bà mẹ cho trẻ bú từ 80% trở lên là 3,32 ± 0,45 cm, thấp hơn so vớinhững bà mẹ cho trẻ bú từ 20% trở xuống (3,87 ± 0,66 cm)
Heinig MJ, Dewey KG nghiên cứu tại Hoa Kỳ năm 2004 về những ảnhhưởng của việc cho bú đối với cơ thể bà mẹ cho thấy: cho bú có tác dụng tốtvới bà mẹ cả trong thời kỳ hậu sản và giai đoạn sau Cho bú trong thời kỳ hậusản thúc đẩy sự trở lại bình thường nhanh chóng của tử cung liên quan đến tácdụng của Oxytocin Cho bú còn dẫn đến sự trở lại nhanh hơn của trọng lượng
cơ thể sau khi mang thai Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy có mốiliên quan giữa cho bú và giảm béo phì Cho bú cũng ảnh hưởng đến chuyểnhóa Glucid và Lipid Mặc dù hiệu quả lâu dài chưa được biết đến, nhưng cho
bú có thể ngăn ngừa sự phát triển tiếp theo của bệnh tiểu đường và bệnh tim.Cho bú trì hoãn sự trở lại của hiện tượng rụng trứng và giúp bà mẹ tránh thainếu cho bú vô kinh
Sokol ER, Casele H, Haney EI nghiên cứu năm 2004 về siêu âm đánhgiá tình trạng tử cung sau đẻ của những sản phụ sau đẻ đường âm đạo 48 giờtại Chicago, Illinois, USA cho thấy: chiều dài tử cung trung bình là 16.1 +/-1.7 cm chiều rộng tử cung trung bình là 8.7 +/- 1.0 cm
Kramer MS, Dahhou M, Vallerand D, Liston R, Joseph KS (2011)nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ gây chảy máu sau đẻ bằng cách làm mộtnghiên cứu dựa trên hồ sơ bệnh án của 103726 trường hợp đẻ tại bệnh viện
Trang 14cho thấy các yếu tố chính liên quan đến gia tăng chảy máu sau đẻ là: tiền sử
mổ cũ, rau tiền đạo, ngôi ngang, chấn thương tử cung và cổ tử cung, tuổi thaidưới 32 tuần và cân nặng của trẻ >= 4500 gram với OR trung bình là 1,029;95% CI 1,024- 1,034
Tại Việt Nam từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào công bố về chiềucao tử cung sau đẻ thường và đẻ mổ và các yếu tố liên quan đến sự co hồi tửcung sau đẻ
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các sản phụ đẻ tại bệnh viện đa khoa huyện Sốp Cộp, với các tiêu chuẩn:
Đẻ thai đủ tháng
Đẻ đường âm đạo
Sau đẻ ngày thứ nhất
Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Các sản phụ bị các bất thường cần phải nằm điều trị tại bệnh viện như
bế sản dịch, nhiễm trùng hậu sản, tiền sản giật…
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Sản bệnh viện đa khoa huyện Sốp Cộp
Trang 152.1.4 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01/05/2020 - 30/09/2020
2.1.5 Phươngpháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu
2.1.6 Phươn pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chọn tất cả sản phụ sau sinh thường tại khoa sản bệnh viện đa khoahuyện Sốp Cộp, để tiến hành phỏng vấn theo phiếu điều tra thiết kế sẵn
2.1.7 Tiến độ nghiên cứu
- 01/5/2019 đến 30/09/2020: phỏng vấn
- 01/10/2019 đến 03/10/2020: xử lí số liệu
- 03/10/2013 đến 10/10/2020: viết báo cáo
2.1.8 chọn mẫu nghiên cứu
Chọn tất cả các đối tượng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu tại khoa Sảnbệnh viện đa khoa huyện Sốp Cộp trong thời gian nghiên cứu
2.2.Nội dung, các biến số/chỉ số và phương pháp thu thập thông tin
2.2.1 Nội dung, các biến số/chỉ số nghiên cứu
* Các biến về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
-Cảm giác đau của sản phụ khi ấn vào tử cung
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự co hồi tử cung sau đẻ
-Số lần đẻ - Tuổi của sản phụ
-Thời gian chuyển dạ - Cách đẻ
Trang 16-Trọng lượng thai - Chế độ vận động sau đẻ
-Tình trạng cho con bú - Tình trạng bàng quang, tiểu tiện
-Tình trạng xuống sữa - Xoa tử cung sau đẻ
-Tư vấn chăm sóc
2.2.2 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin
* Công cụ thu thập
-Thước dây có chia đến 1mm
-Phiếu nghiên cứu bộ câu hỏi có sẵn
* Phương pháp thu thập thông tin
- Gặp gỡ và phỏng vấn sản phụ theo mẫu phiếu nghiên cứu
+ Sản phụ sau khi được chuyển từ Phòng Đẻ lên khoa Sản, ổn định giường và phòng chăm sóc
+ Thời gian bắt đầu phỏng vấn là khoảng 6 giờ đến 24 giờ sau đẻ
+ Sản phụ được giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và cách tiến hành nghiên cứu
+ Phỏng vấn sản phụ theo mẫu phiếu nếu được sản phụ đồng ý
- Tiến hành đo chiều cao tử cung:
+ Sản phụ đi tiểu trước khi đo
+ Cách đo từ bờ trên khớp vệ đến đáy tử cung, đo theo trục của tử cung+ Đo chiều cao tử cung khi không có cơn co tử cung
2.2.3.Nghiên cứu viên
Bác sỹ, hộ sinh công tác tại khoa ngoại - Sản Bệnh viện đa khoa huyện sốp cộp
2.2.3 Sai số và cách khống chế
Trang 17- Sai số chọn được khống chế bằng các tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng
đã được định nghĩa ở trên
- Sai số phỏng vấn và khám được khống chế bằng các cách:
+ Phiếu nghiên cứu được thiết kế và thử nghiệm trước khi nghiên cứu.+ Nghiên cứu viên giải thích rõ mục đích các câu hỏi
+ Đo chiều cao tử cung đúng kỹ thuật
+ Thăm khám đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật
2.2.4 Xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học
- tính tỷ lệ % đơn thuần
2.2.5 Đạo đức nghiên cứu
- Tất cả các sản phụ tham gia nghiên cứu đều tự nguyện, họ có thể từ chối tham gia nghiên cứu vào bất kỳ lúc nào
- Tất cả các thông tin của sản phụ đều được giữ kín, không tiết lộ cho bất kỳ ai nếu không được sự đồng ý của họ
Trang 18Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Tuổi đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu
Trang 19phụ trong 190 trường hợp nghiên cứu cho thấy là < 20 tuổi có 65 trường hợpchiếm 34 %; độ tuổi 20 – 29 có 98 sản phụ chiếm 52 %, nhóm sản phụ tuổi 30– 39 tuổi có 22 sản phụ chiếm tỷ lệ 11 % và nhóm tuổi trên 40 tuổi có 05 sảnphụ chiếm 03%.
3.1.2 Nghề nghiệp đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Có 10 sản phụ chiếm 5,3% sản phụ trong nhóm nghiên cứu
là cán bộ công chức, công nhân có 20 trường hợp chiếm tỷ lệ 10,5%, lao động
tự do có 66 sản phụ chiếm tỷ lệ 34,7% và làm ruộng có 94 trường hợp chiếm
tỷ lệ cao nhất 49,5 % là
Trang 20Nhận xét: Các sản phụ có học vấn trung học phổ thông 112 trường hợp
chiếm tỷ lệ 59% Trình độ tiểu học là 09 trường hợp chiếm tỷ lệ 4,7 %; caođẳng- đại học là 55 trường hợp chiếm 29 %; và trình độ trung học cơ sở là 14trường hợp chiếm tỷ lệ 7,3%
3.1.4 Số lần mang thai ( số bn mang thai đẻ thường đủ tháng)số lần
Nhận xét: Qua kết quả nghiên cứu cho thấy sinh con lần đầu có 92 sản
phụ chiếm tỷ lệ 48,4%, sinh lần 2 có 81 sản phụ chiếm tỷ lệ 42,6% Tuy nhiêncũng có 6,9% và 2,1% sản phụ đã từng mang thai 3 và 4 lần
Trang 21Nhận xét: Hầu hết các sản phụ trong nhóm nghiên cứu đẻ thường có
185 trường hợp chiếm tỷ lệ 97,4% và có 05 trường hợp để can thiệp chiếm
tỷ lệ 2,6%
3.1.6 Thời gian chuyển dạ
Bảng 3.6 Thời gian chuyển dạ
3.1.7 Trọng lượng thai
Bảng 3.7 Trọng lượng thai
Trang 22>3500 33 17
Nhận xét: Trọng lượng thai trên 3500g có 33 sản phụ chiếm tỷ lệ 17%,
trọng lượn thai 2000 – 3400g có 138 sản phụ chiếm 73% và có 19 trường hợptrọng lượng thai dưới 2000g chiếm tỷ lệ 10%
3.2 THỰC TRẠNG CO HỒI TỬ CUNG SAU ĐẺ
3.2.1 Chiều cao tử cung trên vệ
Biểu đồ 3.1 Chiều cao tử cung trên khớp vệ
Nhận xét: Chiều cao tử cung sau đẻ ngày thứ nhất của nhóm nghiên
cứu có 26 sản phụ cao tử cung 13 – 14 cm chiếm tỷ lệ 15,3%, 74 sản phụ cao
tử cung 15 – 16 cm chiếm tỷ lệ 38,9%, còn cao tử cung 17 – 18 cm có 67 sảnphụ chiếm tỷ lệ 35,3% và nhón có cao tử cung từ 19 cm trở lên có 20 sản phụchiếm tỷ lệ 10,5%
3.2.2 Mật độ tử cung sau đẻ
Bảng 3.8 Mật độ tử cung sau đẻ