1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đề xuất tháo gỡ khó khăn và phát triển các doanh nghiệp quảng cáo.DOC

23 366 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Đề Xuất Tháo Gỡ Khó Khăn Và Phát Triển Các Doanh Nghiệp Quảng Cáo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 237,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số đề xuất tháo gỡ khó khăn và phát triển các doanh nghiệp quảng cáo

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

PHẦN 1.Thực trạng các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam 3

1.1 Sơ qua về lịch sử phát triển ngành quản cáo ở Việt Nam 3

1.2 Những vấn đề của các Doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam 3

1.2.1 Thị phần của các doanh nghiệp quảng cáo Việt nam 3

1.2.2 Môi trường pháp lý và quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo 4

1.2.2.1 Tình hình chung về quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo 5

1.2.2.2 Chính sách bảo hộ và khống chế mức quảng cáo 6

1.2.3 Sự yếu kém của các doanh nghiệp quảng cáo trong nước 7

1.2.3.1 Chưa có chiến lược kinh doanh lâu dài 7

1.2.3.2 Năng lực yếu kém 8

1.2.4 Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu 9

1.2.5 Cạnh tranh không lành mạnh 10

PHẦN II Cơ hội và nguy cơ của các doanh nghiệo quảng cáo Việt nam trong môi trường hội nhập WTO 11

2.1.Cơ hội đối với các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam 11

2.1.1.Thị trường quảng cáo mở rộng 11

2.1.2 Cơ hội tiếp nhận nguồn vốn đầu tư, học tập kinh nghiệm công nghệ tiên tiến 12

2.2.Những thách thức đối với các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam 13

2.2.1.Cạnh tranh khốc liệt hơn 13

2.2.2 Các chính sách bảo hộ dần dỡ bỏ 14

PHẦN III Một số đề xuất tháo gỡ khó khăn và phát triển các doanh nghiệp quảng cáo 16

3.1.Về phía nhà nước 16

3.2 Về phía các doanh nghiệp quảng cáo 18

Kết luận 20

Tài liệu tham khảo 22

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày 7/5/2006 Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổchức thương mại thế giới (WTO).Với việc gia nhập WTO,tổ chức thành cônghội nghị APEC(tháng 11/2006) và những quan điểm, đường lối cùng sự cố gắngcủa chúng ta trong suốt thời gian qua đã tạo nên một hình ảnh VIệt nam mớitrong con mắt bạn bè quốc tế Đó là hình ảnh của hội nhập.Việc hội nhập sâu vàrộng hơn vào nền kinh tế thế giới đã có tác động lớn làm thay đổi môi trườngkinh doanh Ở đó,có nhiều cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng nhiều nguy cơđòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm cách vượt qua.Vấn đề cơ hội,nguy cơ đượcđặt ra cho tất cả các ngành nghề kinh doanh khi Việt nam hội nhập WTO

Nền công nghiệp quảng cáo ở Việt nam còn non yếu và kinh nghiệmnhiều nước Châu Á đi trước cho thấy,khi mở cửa thị trường quảng cáo thì cácdoanh nghiệp quảng cáo trong nước đều rất điêu đứng.Do vậy,cần phải nhìnnhận lại toàn bộ thị trường quảng cáo,tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu của cácdoanh nghiệp quảng cáo trong nước Tiếp theo là phải phân tích các cơ hội,nguy cơ đối với các doanh nghiệp quảng cáo trong “sân chơi” WTO và đưa racác giải pháp.Với mục đích muốn tìm hiểu về thực trạng của ngành quảngcáo,về những cái được và cái mất của ngành trong môi trường hội nhập WTO

em đã chọn đề tài này để phân tích và đưa ra một số đề xuất.Kết cấu của đề ánnhư sau:

Phần 1:Thực trạng của các doanh nghiệp quảng cáo Việt nam

Phần 2:Cơ hội và nguy cơ của các doanh nghiệp quảng cáo Việt namtrong môi trường hội nhập WTO

Phần 3:Một số đề xuất tháo gỡ khó khăn và phát triển các doanh nghiệpquảng cáo

Để hoàn thành tốt đề án,ngoài sự nỗ lực của bản thân.Em xin gửi lời cảm

ơn ThS.Nguyễn Thị Việt Nga đã hướng dẫn,giúp đỡ em trong quá trình thựchiện đề án này

Trang 3

PHẦN 1.Thực trạng các doanh nghiệp quảng cáo

Việt Nam

1.1 Sơ qua về lịch sử phát triển ngành quản cáo ở Việt Nam

Quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp người - người mà ngườimuốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng đểđưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận tin

Ở nước ta vào thời thực dân Pháp đô hộ đã có quảng cáo nhưng chưa rộngrãi Trước năm 1975, quảng cáo đã phổ biến tại miền Nam Sau khi giành đượcđộc lập, thống nhất hai miền, nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn, ngànhquảng cáo không có cơ hội phát triển Từ năm 1986, nước ta chuyển sang nềnkinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, quảng cáo bắtđầu phát triển trở lại Sau khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam năm

1994, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu ồ ạt vào Việt Nam tạo nên sự bùng nổcủa quảng cáo

1.2 Những vấn đề của các Doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam1.2.1 Thị phần của các doanh nghiệp quảng cáo Việt nam

Nền kinh tế nước ta trong những năm qua đạt được tốc độ tăng trưởngcao, tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP giai đoạn 2001 – 2005 là 7,5%/năm.Mức tăng trưởng kinh tế cao hang năm môi trường kinh doanh từng bước đượccải thiện đã tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều doanh nghiệp quảng cáo vànhiều doanh nghiệp ở các lĩnh vực kinh doanh khác Nhiều doanh nghiệp ra đờitiếp cận phương thức kinh doanh hiện đại đã đẩy mạnh các hoạt động xây dựngthương hiệu, marketing tạo ra sự phát triển bùng nổ của hoạt động quảng cáo.Sau cấm vận thị trường quảng cáo nhanh chóng bùng nổ khi các tập đoàn lớncủa nước ngoài như Unilever, Colgate, Cococla, Pepsi… vào Việt Nam Theobước các tập đoàn này các tập đoàn quảng cáo lớn trên thế giới đã nhanh chóngthâm nhập Việt Nam ngay từ buổi đầu, trong số đó có J W.Thomson, Densu,

Trang 4

Sattchi & Sattchi, Mc Cann…Bằng sức mạnh tài chính và uy tín đã chiếm lĩnhhơn 40 % thị trường quảng cáo Việt Nam.

Hiện nay nói đến thị trường quản cáo trong nước đó là sự yếu thế của cácdoanh nghiệp trong nước trước sự lấn lướt của các hãng quảng cáo ngoại Theohiệp hội quảng cáo Việt Nam, toàn bộ khoảng 3000 doanh nghiệp trong nướcchỉ chiếm 20% thị phần quảng cáo trong khi 80 % còn lại được nắm giữ bởikhoảng 30 công ty nước ngoài Các công ty có tầm cỡ nhất Việt Nam hiện nay làĐất Việt, GoldSun, Vinaxad, D&D, Trẻ, Kim Minh, Việt Mỹ, Sài Gòn, SaoMai… là những công ty có uy tns làm ăn chuyên nghiệp và có thị phần lớn nhất

so với các doanh nghiệp trong nước Nhưng như doanh nghiệp Đất Việt doanhthu năm 2005 khoảng 200 tỷ đồng so với tổng doanh thu toàn ngành quảng cáo

5000 tỷ đồng chỉ chiếm 4% Nếu đem so với J W Thomson chiếm đến 40% thịphần thì sẽ thấy rõ sự yếu thế của các doanh nghiệp quảng cáo trong nước Rấtkhổ cho doanh nghiệp là có sự mâu thuẫn chồng chéo giữa các quy định vềquảng cáo Chính phủ giao cho bộ thương mại nắm hoạt động quảng cáo về mặtquản lý Nhà nước và trong Luật thương mại cũng có đièu khoản quy định vềhoạt động quảng cáo Tuy nhiên bộ văn hoá thông tin lại có thêm pháp lệnhquảng cáo hướng dẫn hoạt động doanh nghiệp Đó là chưa kể đến một rừng vănbản dưới luật và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến hoạt động này Bởisuy cho cùng ngành nào, lĩnh vực nào cũng cần quảng cáo

Công tác quản lý ở cấp địa phương còn yếu kém thậm chí có nơi coiquảng cáo như một loại hình tiêu cực nên trong quản lý đã nặng về soi xétkhuyết điểm và chưa nhận thấy những đóng góp của ngành đối với việc quảng

bá thương hiệu và hình ảnh nền kinh tế Việt Nam ra thị trường điều này phải kểđến Quyết đinh 1080/2004 quy định hạn chế quảng cáo ngoài trời cảu thành phố

Hồ Chí Minh đã gây ra “làn sóng phản đối mạnh mẽ từ các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực này

Trang 5

1.2.2 Môi trường pháp lý và quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo

1.2.2.1 Tình hình chung về quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo

Nhìn một cách tổng thể chúng ta chưa có một chiến lược quy hoạch pháttriển quảng cáo cho cả nước Thực tế đã có một số tỉnh thành phốn như Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Dương, Vĩnh Long, Long An, CàMau… có triển khai việc quy hoạch nhưng cũng chưa toàn diện đầy đủ Do vậy

sự lộn xộn tình trạng vi phạm pháp luật trong quảng cáo, đặc biệt là quảng cáongoài trời đang là vấn đề làm đau đầu nhiều nhà quản lý Ngay lợi thế nổi trộicủa các công ty trong nước là xin phép đặt bảng quảng cáo ngoài trời, hoặc treobăng rôn quảng cáo sản phẩm cũng có nhiều khuất tất Chuyện băng rôn quảngcáo dẫm đạp lên nhau, hết hạn giấy phép vẫn không tháo gỡ hiện là chuyệnthường ngày tại các thành phố Mặc dù đã có một hành lang pháp lý tương đối

rõ ràng nhưng tình hình quản lý nhà nước về quảng cáo vẫn còn nhiều yếu kém

Ý thức chấp hành luật pháp của nhiều doanh nghiệp chưa cao nên những viphạm đặt biển quảng cáo ngoài trời không có giấy phép , sai nội dung, kíchthước cho phép hoặc vi phạm về các quy định về cấm sử dụng màu cờ Tổ quốc,tiền Việt Nam … trong quảng cáo vẫn diễn ra nhiều

Cùng với trên 3000 doanh nghiệp quảng cáo là một hệ thống bao gồm trên

80 đài phát thanh, truyền hình, trên 500 cơ quan báo chí, năm 2005 đã đạt doanhthu khoảng 5000 tỷ đồng Tuy nhiên trong nhận thức của nhiều nhà quản lý vàmột bộ phận dân cư chỉ coi quảng cáo là một hoạt động văn hóa mang tính kinh

tế, chưa xem xét như một ngành kinh tế thật sự Do vậy nhận thức về việc quyhoạch, xây dựng chiến lược cho ngành chậm và yếu Mặt khác trong quá trìnhhoạch định tiếng nói vai trò của hiệp hội không được xem xét một cách thoảđáng

Các chính sách quy định của nhà nước về quảng cáo nhiều khe hở, thiếuthay đổi liên tục gây khó khăn cho những nhà đầu tư chân chính, lâu dài Cácquy định thì phức tạp rườm rà muốn treo một tấm biển quảng cáo đúng luật,

Trang 6

doanh nghiệp phải xin phép ít nhất 5 công sở từ văn hoá thông tin, kiến trúc giaothông công chính, xây dựng cho đến Uỷ ban nhân dân quận, huyện Để làm đầy

đủ thủ tục doanh nghiệp phải đi qua nhiều cửa Đâu đó có cải cách hành chínhmột cửa thì phải nhiều chìa Giấy phép có nhiều đến nỗi nhiều khi doanh nghiệpphải cử riêng một số nhân viên lo chuyện “bôi trơn, chạy giấy phép”

1.2.2.2 Chính sách bảo hộ và khống chế mức quảng cáo

Không chỉ các doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo mới bị bó hẹp vìnhững quy định của pháp luật, ngay cả những doanh nghiệp kinh doanh trongcác lĩnh vực khác muốn làm quảng cáo cũng đang gặpkhó khăn Theo quy địnhcủa ngành thuế, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ sẽ đượcquảng cáo tới 30% trong tổng số chi phí hợp lý, còn doanh nghiệp sản xuất, kinhdoanh chỉ từ 7-10%, báo in không được phép in đăng quảng cáo quá 10% diệntích, báo nói, báo hình không được phát song quá 5% thời lượng Đây là điều bấthợp lý vì chính bản than doanh nghiệp không đời nào chi cho quảng cáo quánhiều nếu nó không đem lại hiệu quả Việc đề ra mức trần cho quảng cáo là mộttrong những chíh sách nhằm bảo hộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước cácdoanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hàng ngoại nhập.Doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn ít, chi phí đầu tư cho quảng cáo tiếp thị vừa phảinêu khó có thể phát triển thương hiệu nếu doanh nghiệp vốn lớn được phép “dộibom” quảng cáo, khuyến mãi, tiếp thị

Nhưng mặt khác, ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhận thấy giátrị của thương hiệu trong môi trường cạnh tranh Đã chú trọng nhiều hơn chochiến lược phát triển thương hiệu, đã chấp nhận chi tiêu cho quảng cáo coikhoản tiền đó là mức đầu tư dài hạn Họ sử dụng tiền vào mục đích xây dựngthương hiệu chứ không đơn thuần là chi cho các chương trình khuyến mãi mộtsản phảm nhất định Mức trần đối với chi phí quảng cáo đang trói chân, trói taycác doanh nghiệp Khi họ không được phép quảng cáo như mong muốn, cácdoanh nghiệp kinh doanh quảng cáo muốn nhiều cơ hội kinh doanh, cơ hội mởrông thị tường và phát triển doanh nghiệp

Trang 7

Như vậy, với chính sách khống chế mức quảng cáo, đối với các doanhnghiệp ở các lĩnh vực khác, không làm cho doanh nghiệp phải treo chi phí, tạo

ra nhiều khó khăn khi sử dụng vốn và hoạch định chiến lược phát triển chonhững năm kế tiếp khi muốn tăng chi phí quảng cáo, mà còn gây rất nhiều khókhăn cho doanh nghiệp trong việc hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu.Đối với các doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo chính sách khống chế mứcquảng cáo nhiều khi làm họ không dám ký kết các hợp đồng với khách hàng, đôikhi họ dám thực hiện các hợp đồng thì phải tìm cách lách luật

Hiện nay, Chính phủ vẫn tiếp tục bảo hộ lĩnh vực quảng cáo bằng nhiềubiện pháp hành chính, chẳng hạn như chưa cho phép các công ty quảng cáonước ngoài trực tiếp ký kết hợp đồng tại Việt Nam Mọi hợp đồng với kháchhang phải qua trug gian là các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam, hay công tyliên doanh có chức năng hoạt động quảng cáo Nhờ vậy các doanh nghiệp ViệtNam mới được chia một phần trong các hoạt động quảng cáo của các công tynước ngoài tại Việt Nam Nhưng dù có chính sách bảo hộ như vậy, một thực tếđáng buồn là các doanh nghiệp quảng cáo trong nước chỉ thực hiện những côngđoạn hết sức đơn giản, cụ thể hoặc thuần tuý kinh tế Còn việc hoạch định chiếnlược và sáng tạo ý tưởng là phần mang lại nhiều lợi nhuận nhất đều thuộc vàotay các công ty có yếu tố nước ngoài

Vào cuối năm 2005, uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã đi trướcthời cuộc, khi ra quyết định cho phép công ty J w.Thomson vốn nước ngoàiđược trục tiếp giao dịch, ký hợp đồng với các khách hàng, cơ quan thông tin đạichúng, thực hiện các chương trình tiếp thị, quảng cáo cảu khách hang trên cácphương tiện thong tin đại chúng Điều đó đã tạo ra làn song phản ứng kịch liệt từcác doanh nghiệp quảng cáo trong nước, khiến thủ tướng Phan Văn Khải phảivào cuộc bãi bỏ quyết định đó Như vậy chính sách bảo hộ cảu nhà nước đã tạocho các doanh nghiệp nội địa sức ỳ, không chủ động tự thay đổi, đổi mới đểbước vào cạnh tranh khi Việt Nam đã gia nhập WTO

Trang 8

1.2.3 Sự yếu kém của các doanh nghiệp quảng cáo trong nước.

1.2.3.1 Chưa có chiến lược kinh doanh lâu dài

Đối với các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam, hầu hết chưa họach địnhchiến lược kinh doanh lâu dài, chủ yếu là vẫn khai thác cái có sẵn, chạy theoviệc dễ làm trước mắt mà chưa quan tâm đến viẹc đầu tư, xây dựng cơ sở vậtchất, kỹ thuật …Số lượng các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam có chiến lượckinh doanh, khẳng định được vị thế và thế mạnh của mình trên thị trường như:Đất Việt, GoldSun, Trẻ, D&D, Vinaxad… chưa nhiều, hầu hết các doanh nghiệpcòn lại mới chỉ làm bảng biểu, tổ chức sự kiện hoặc in ấn, thị phần quảng cáochủ yếu là do các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ

1.2.3.2 Năng lực yếu kém

Có một số ít các công ty quảng cáo trong nước thực hiện đày đủ chứcnăng từ tư vấn chiến lược đến thực hiện các chiến lược quảng cáo cho kháchhang Nhiều công ty chỉ đơn thuần thực hiện một chức năng hoặc một lĩnh vựcdịch vụ, như quảng cáo tấm lớn, quảng cáo ngoài trời hoặc thiết kế đồ hoạ, sảnxuất phim quảng cáo truyền hình, tổ chức sự kiện, môi giới tài trợ, quan hệ côngchúng…

Sự đa dạng ấy nhiều lúc làm người ta lầm tưởng về sự trưởng thành củadoanh nghiệp quảng cáo Việt Nam Trong khi đó thực chất phần lớn các doanhnghiệp quảng cáo Việt Nam vẫn chỉ thực thi những công đoạn hết sức cụ thểhoặc thuần tuý kỹ thuật, còn phần mang lại nhiều lợi nhuận nhất là hoạch địnhchiến lược và sang tạo thì nằm gọn trong tay các doanh nghiệp quảng cáo có yếu

tố nước ngoài hoăc của nước ngoài

Các công ty nước ngoài thường hoạch định chiến lược quảng cáo chokhách hang và thuê lại các công ty quảng cáo Việt Nam thực hiện do họ không

đủ các yếu tố về pháp lý để trực tiếp thực hiện Phải nhìn nhận thua ngay trênsân nhà là do năng lực của chúng ta yếu kém Trong ngành quảng cáo, sự sangtạo, lao động chất xám, kỹ năng quản lý được đánh giá rất cao Thế nhưng,nhiều khi chất xám của công ty nội địa lại không được đánh giá cao Ví dụ, đại

lý quảng cáo của Việt Nam Airlines là hãng D’Acy có vị trí tại Hồng Kông Chi

Trang 9

phí mà Việt Nam Airlines trả cho D’Acy để thiết kế một ấn bản quảng cáo trênbáo chí lên đến hang chục ngàn đôla Trong khi đó, kinh phí để làm một phimquảng cáo truyền hình do hang thuê một ekip nội địa thực hiện chỉ tốn trên dướitrăm triệu đồng

Tương tự vậy một công ty quảng cáo nhỏ thì không thể tính công thiết kếmột mẫu quảng cáo báo chí có vài trăm đôla Một nhiếp ảnh gia có tiếng khôngthể tính quá 500 USD cho một tấm ảnh quảng cáo, trong khi một nhà nhiếp ảnhnước ngoài hành nghề tại thành phố Hồ Chí Minh có thể lấy tới vài ngàn đôlamột ngày Cụ thể, để sản xuất một phim quảng cáo dài 30 giây, khách hang nhãnhiệu khoai tây chiên Zonzon trả khoảng 150 triệu đồng, tương ững với 4 lần phátsong trong chương trình giải trí buổi tối trên VTV3 Và chúng ta cũng biết vớinhững đoạn phim quảng cáo bia Tiger với chi phí trên 1 triệu đôla Trong khi ấynhiều phim quảng cáo nội địa chỉ có giá trị vài chục triệu đồng Đó là những dẫnchứng cho thấy nền công nghiệp quảng cáo Việt nam còn quá nhỏ bé và đangthua thiệt trên thị trường Việt Nam

Ngay cả việc sản xuất các phim quảng cáo các công ty có vốn đầu tư nướcngoài dễ dàng bỏ ra 30 nghìn đến 40 nghìn USD thậm chí có thể lên tới 70 đến

80 nghìn USD cho một phim quảng cáo Hầu hết các hợp đồng sản xuất phim cóngân sách từ 30 nghìn USD trở lên đều thuộc vào doanh nghiệp quảng cáo nướcngoài bởi các trang thiết bị của các công ty trong nước lạc hậu và thiếu đồng bộ

Như vậy, do hạn chế về năng lực, thiếu vốn, tài chính, công nghệ, quy

mô, kinh nhgiệm…rất nhiều các công ty quảng cáo Việt Nam chỉ làm gia cônglại cho các công ty quảng cáo có yếu tố nước ngoài hoặc nước ngoài Và phầnlớn Lợi nhuận là rơi vào tay họ

1.2.4 Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu

Quảng cáo là ngành đòi hỏi nhân lực phải có tính sang tạo, phải có kỹthuật cao nhưng trình độ chuyên nghiệp và vấn đề nhân sự đang là vấn đề lớncủa quảng cáo Việt Nam Trong hệ thống đào tạo của chúng ta chưa có một hệthống chính quy đào tạo quảng cáo có bài bản các trường đại học trong nước,thậm chí đến những trường đào tạo lớn như đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, đại

Trang 10

học Kinh tế quốc dân thành phố Hồ Chí Minh cũng đưa vào giảng dạy nghiệp vụquảng cáo song chưa đáp ứng được yêu cầu Một vài trường khác có khoaMarketing, mỗi khoá cũng chỉ đào tạo vài trăm sinh viên Nhiều công ty phảituyển sinh viên tốt nghiệp các ngành ngoại ngữ marketing…để đào tạo lại từđầu Công ty Marcom Việt Nam và một số đơn vị klhác mỗi năm cũng chỉ gópsức dào tạo vầi trăm nhân viên nghiệp vụ sơ cấp Việc phát triển nhân sự do vậyrất chậm chạp Người được tái đào tạo có khi lại bị vượt mất Nhiều người trongnghề khi đã có chút kinh nghiệm thường xem lại lương bổng, số khá thì mởcông ty riêng, số khác tìm cách lọt vào các công ty nước ngoài với chức anhtrưởng phòng hoặc giám đốc các bộ phận với mức lương cao hơn Một lựclượng quá nhỏ bé như vậy làm sao đáp ứng nhu cầu tư vấn hoạch định chiếnlược, xây dựng thương hiệu, thực hiện chương trình quảng cáo cho hang trămnàg doanh nghiệp trong cả nước.

1.2.5 Cạnh tranh không lành mạnh

Chuyện băng rốn quảng cáo dẫm đạp lên nhau hết hạn giấy phép vẫnkhông tháo gỡ hiện là chuyện thường ngày tại các ngã tư thành phố Tình trạngkhách hang của công ty này bị công ty khác chào giá rẻ hơn để dựt mối, chụpdựt xảy ra thường xuyên Cứ thế nhiều công ty lao vào con đường cạnh tranh,chọc gậy bánh xe lẫn nhau, khiến sức lức và vốn đã yếu lại càng yếu hơn

Giữa các công ty quảng cáo Việt Nam sự lien kết, hợp tác để cùng nhauphát triển là không nhiều thực trạng cạnh trạnh không lành mạnh dẫn đến sựgiảm sut một cách đáng sợ về giá cả dịch vụ Việt Nam đã gia nhập WTO, trongkhi đó những việc làm để chuẩn bị cho hội nhập thì chưa nhiều doanh nghiệplàm trừ một vài doanh nghiệp quảng cáo đã sẵn nội lực, chưa công ty nào tínhđến chiến lược và triển khai các giải pháp để sẵn sàngcạnh tranh bình đẳng vớicác công ty quảng cáo nước ngoài Đấy là chưa kể đến gần 2000 doanh nghiệpquảng cáo Việt Nam nhìn chung chưa đủ năng lực để tự đổi mới và nâng caonăng lực cạnh tranh Hàng loạt vấn đề khác như khả năng tiếp cận thong tintrong nướcvà thế giới, khả năng sang tạo, khả năng áp dụng khoa học công nghệđều chưa được đặt ra Doanh nghiệp lung túng, hiệp hội quảng cáo Việt nam còn

Trang 11

lúng túng hơn, cơ quan quản lý nhà nước thì chưa thể với tới nhứng vấn đề cụthể ấy vì vấn đề hoạch định chiến lược phát triển cho toàn ngành quảng cáo Việtnam cũng chỉ mới được nêu lên mà chưa được giải quyết.

Còn trong các doanh nghiệp lien doanh và hợp đồng, hợp tác kinh doanh,phần góp vốn của doanh nghiệp Việt Nam chỉ là nhà xưởng đất đai Mọi hoạtđộng đều do phía nước ngoài chi phối

Ngày đăng: 28/08/2012, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w